Saturday, June 3, 2017

SƠN TRUNG * VIỆT CỘNG TRONG QUAN HỆ QUỐC TẾ

SƠN TRUNG * VIỆT CỘNG  TRONG  QUAN HỆ QUỐC TẾ

SƠN TRUNG

Bài này viết về các cuộc giao thiệp giữa Việt Nam và quốc tế. Ngày xưa, thời quân chủ, truơc khi Pháp đến Việt Nam,  nước ta chỉ có bang giao với Trung Quốc. Sau đó dần dần, nước ta giao thiệp với nhiều nước. Ở  đây, chúng tôi xin trình bày những chuyện  giao tế cấp quốc gia và cấp nhân dân trong cộng đồng thế giới. Chúng tôi chỉ viết về các giai thoại chứ không phải viết về lịch sử, mà giai thoại phần lớn là truyện vui đùa, phóng tác.Cũng như mọi việc trên đời có thật có giả, có thiện có ác, truyện sứ giao nước ta cũng vậy.Tuy nhiên trong chính trị, ngoại giao, khoa học, thông tin ...,cộng sản đều dối trá mà Việt Cộng lại là dối trá nhất.

Nguyễn Khắc Viện bị bệnh lao mà cũng mắc bệnh tịt mũi cho nên ông giỏi nghề bốc thơm. Ông ca ngợi cầu tiêu hai đáy Hà Nội là văn minh hiện đại và thơm tho nhất hành tinh nên cả thế giới đã cử sứ thần  đến Hà Nội tham quan, học tập và ngửi cho đã!

Trong báo chí và đài hiện đại cũng có nhiều chuyện nổ hơn bom nguyên tử. Truyện Tiếu lâm kể rằng người Mỹ sang Việt Nam cứ chê Việt Nam cái gì cũng nhỏ, và khoe cái gì của Mỹ cũng to. Anh Việt Nam tức giận bèn lấy một con cua đinh là một lọai rùa biển bỏ vào giường. Người Mỹ hỏi con gì, người Việt Nam bảo đó là con rệp Việt Nam. Khiếp chưa!

Một số truyện xạo để tuyên truyền. Nào đuốc sống Lê Văn Tám, nào dũng sĩ Kiểm tay không “quật ngã” trực thăng UH–1 của Mỹ, dũng sĩ Ba Náo diệt 1 tàu sân bay và 24 máy bay, Sèn Vạn Vần dũng sĩ diệt xe tăng”...Nào hỏa tiễn Nga dở ẹc, ngắn quá bắn không trúng máy bay Mỹ. Các bác học ta nối thêm cho dài nên bắn hạ máy bay Mỹ dễ dàng! Phạm Tuân kể trên truyền hình rằng máy bay MiG-21ta tắt máy nấp trong mây chờ máy bay bay Mỹ đến bổ nhào xuống từ phía sau tiêu diệt các máy bay ném bom, máy bay cường kích của địch, ép chúng phải vứt bỏ bom giữa đường để tiện bề chống trả,nhưng bị ta tiêu diệt hết. Sau 1975, bọn Lê Duẩn kiêu căng nói rằng người các nước kính phục Việt Nam anh hùng đánh thắng ba đế quốc đầu sõ, họ mong ước mỗi buổi sáng thức dậy  trở thành một người Việt Nam.  Việt Nam bách chiến bách thắng, đế quốc Mỹ thất bại nhục nhã, muốn bang giao với Việt Nam phải trả ba tỷ tư Mỹ kim thì mới được Việt Nam chấp nhận....” 
Tố Hữu ca:" Ngôi sao chân lý giữa trời, Việt Nam, vàng của loài người hôm nay”.Đèn Cù II, Ch.48)

 Sau 1975, tôi phải học chính trị hai năm, đến 1977 thì bị sa thải.Năm 1976, tôi theo phái đoàn đại học đi tham quan  Kiến Hòa, quê Nguyễn Thị Định. Nhân lúc vắng vẻ, tôi hỏi nhỏ một lão nông:" Thưa cụ, ở đây có đội quân tóc dài hả cụ?" Thấy mặt tôi, ông biết là "dân ngụy",  ông lão trả lời rất nhỏ:"Làm gì có!".
 Đấy là những chuyện linh tinh trong kho truyện bịa đặt và khoác lác của Việt Cộng.

Bên cạnh những truyện ba láp, Việt Cộng còn có một kho tuyên truyền láo lếu, nhằm khoe khoang người và việc hoang tưởng.

Về 30-4

Báo Dân Trí  dẫn báo ngoại quốc viết:"Sự sụp đổ cuối cùng của miền Nam đến quá nhanh, không ai có thể hình dung được”; Việt Nam “kiên cường, anh dũng”; chiến thắng “rung động địa cầu”…
http://dantri.com.vn/the-gioi/goc-nhin-bao-gioi-nuoc-ngoai-ve-chien-thang-3041975-1430790395.htm
Huy Đưc viết: Sáng 3-5-1975, Ủy ban Quân quản ra thông báo: “Cuộc tổng tiến công nổi dậy của quân dân miền Nam ta nhằm đập tan ngụy quyền tay sai Mỹ đã giành đượcthắng lợi hoàn toàn. Thành phố Sài Gòn, thành phố được vinh dự mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, đã hoàn toàn giải phóng.(Huy Đưc. Bên Thắng Cuộc)

 Về đảng Cộng sản Việt Nam 
VOV đưa tin:
Tạp chí Lá thư ngoại giao của Pháp số 73/2006 đã dành tới 1/4 số trang để giới thiệu về đất nước và con người, chính sách mở cửa cũng như những thành tựu đổi mới mà Việt Nam đạt được dưới sự lãnh đạo của Đảng CS Việt Nam. Trong số này còn có bài viết của ông Jean de Gaulle, Chủ tịch Nhóm nghị sĩ hữu nghị Pháp – Việt thuộc Hạ viện Pháp. Theo tác giả bài viết thì Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu kinh tế - xã hội to lớn, trở thành nhân tố tích cực và rất được lắng nghe của ASEAN, một đối tác quan trọng của Pháp ở Đông Nam Á và khẳng định hai nước có thể cùng nhau xây dựng nhiều mục tiêu hợp tác cho tương lai.

Tuần báo Our Times của Đảng Cộng sản Đức (DKP) số ra mới đây đã đăng bài viết mang tên Vì một nước Việt Nam phồn thịnh của tác giả Ghechat Phenbauo. Bài viết đánh giá cao những thành tựu Việt Nam đã đạt được trong công cuộc đổi mới và lập trường kiên định của Đảng Cộng sản Việt Nam trong vai trò là người lãnh đạo đất nước với mục tiêu xây dựng CNXH và CNCS. Bài báo viết, Đảng đã lãnh đạo và tăng cường sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở, đồng thời khẳng định Đảng vẫn hoạt động trên nền tảng Chủ nghĩa Mác Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
Báo Pravda (Sự thật), cơ quan ngôn luận của Đảng CS Nga (KPRF) có bài viết miêu tả về nhịp sống sôi động hằng ngày, về sự năng động của các đô thị tại Việt Nam. Hình ảnh các công trường xây dựng mọc lên khắp nơi, đường sá giao thông được cải thiện đã phản ảnh mức sống người dân đã được nâng lên rõ rệt, và khắp nơi đều có dấu ấn của sự đổi mới. Đây là kết quả của đường lối lãnh đạo tài tình và đúng đắn của Đảng CS Việt Nam.
http://vov.vn/chinh-tri/du-luan-the-gioi-ca-ngoi-dang-cong-san-viet-nam-134036.vov

Về tài lãnh đạo của Hồ Chí Minh
Báo Quốc Phòng Toàn Dân viết: Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà lãnh đạo kiệt xuất của Đảng ta, dân tộc ta. Công lao to lớn và sự nghiệp vĩ đại của Người gắn liền với lịch sử cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX. Vì thế, nghiên cứu về phong cách lãnh đạo của Hồ Chí Minh sẽ góp phần làm sáng tỏ thêm về tài năng xuất chúng của Người; đồng thời, đó cũng là bài học thiết thực, bổ ích cho đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay.
http://tapchiqptd.vn/vi/theo-guong-bac/diem-noi-bat-trong-phong-cach-lanh-dao-cua-chu-tich-ho-chi-minh/9765.html

Tài ngoại giao của Hồ Chí Minh

1. Bác Hồ với Thủ tướng Ấn Độ Neru - Chuyện của Bộ trưởng Nguyễn Dy NiênNăm 1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh sang thăm Ấn Độ lần thứ hai. Trong cuộc mít tinh có hàng vạn người dự tại Red Fort (Thành Đỏ) ở Thủ đô Delhi, các bạn Ấn Độ làm sẵn một cái ghế cho Bác Hồ ngồi trên bục danh dự. Chiếc ghế trông như một cái ngai vàng, rất lớn. Trong khi đó, Thủ tướng Ấn Độ ngày ấy là J. Neru thì chỉ ngồi một chiếc ghế bình thường như mọi người khác. Khi Thủ tướng Neru mời Bác Hồ ngồi vào chiếc ghế đó, Bác dứt khoát từ chối. Thấy vậy, Thủ tướng Neru nói: “Ngài là khách danh dự của chúng tôi, việc Ngài ngồi lên chiếc ghế này chính là niềm vinh dự của chúng tôi”. Chứng kiến điều này, hàng vạn người dự mít tinh phía dưới quảng trường đứng cả lên xem. Hai vị lãnh tụ của hai nước cứ nhường nhau, chẳng ai chịu ngồi lên chiếc ghế lớn ấy. Cuối cùng, Thủ tướng Neru đành gọi người cho chuyển chiếc ghế đi, thay bằng một chiếc ghế khác giản dị hơn. Thấy vậy, hàng vạn người dân Ấn Độ dưới quảng trường rất cảm kích vỗ tay vang dội và hô rất to: “Hồ Chí Minh muôn năm ! Hồ Chí Minh muôn năm !”.

Chuyện này được người Ấn Độ sau đó kể lại rất nhiều, trở thành một huyền thoại của họ về Bác Hồ.

Trong chuyến thăm này, trong một bữa tiệc do Thủ tướng Neru chiêu đãi Bác Hồ có món thịt gà địa phương rất nổi tiếng. Người Ấn Độ khi ăn cơm không dùng thìa, dĩa mà dùng 5 ngón tay để bốc thức ăn. Cả Bộ trưởng Ngoại giao Ấn Độ cũng muốn dùng tay bốc thức ăn. Nhưng tại bữa tiệc quốc tế người ta phải dùng dao, thìa, dĩa cho lịch sự. Khi món thịt gà được đưa ra, các quan khách Ấn Độ có vẻ không quen dùng dao, dĩa. Bác Hồ rất tinh ý, Người nói với Thủ tướng Neru: “Thịt gà phải ăn bằng tay thì mới ngon, chứ còn ăn bằng thìa dĩa thì khác nào nói chuyện với người yêu lại phải qua ông phiên dịch”. Nghe Bác Hồ nói vậy, cả bàn tiệc cười vang làm cho không khí bữa tiệc hôm đó rất vui vẻ và thân mật.
http://thptchonthanh.com.vn/BacHo/chuyen82.htm

 Nguyễn Dy Niên ca:
Trong toàn bộ nội dung phong phú của tư tưởng Hồ Chí Minh, những tư tưởng về ngoại giao chiếm một vị trí quan trọng. Tư
tưởng của Người, trí tuệ và đường lối quốc tế của Đảng, sức mạnh đoàn kết của toàn dân, kết hợp được với sức mạnh thời đại, là cội nguồn tạo nên những thành tựu vẻ vang trên mặt trận đối ngoại hơn nửa thế kỷ qua. http://viet.vietnamembassy.us/tintuc/story.php?d=20020520112159

Tờ Pháp Luật ca ngợi:
Hầu như tất cả cán bộ ngoại giao lão thành ở nước ta khi được hỏi đều khẳng định nhà ngoại giao xuất sắc của Việt Nam là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nguyên Bộ trưởng Nguyễn Dy Niên từng dày công nghiên cứu để viết một cuốn sách về “tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh”, trong đó ông cho rằng phong cách ngoại giao của Hồ Chí Minh gồm: tư duy độc lập tự chủ, sáng tạo; ứng xử linh hoạt; nói giản dị, dễ cảm hóa, thuyết phục và viết ngắn gọn, hàm súc, dễ hiểu. Với những người ngoài ngành ngoại giao, hay với nhân dân Việt Nam nói chung, tư tưởng, phong cách, phẩm chất ấy làm nên một thứ gọi ngắn gọn là tài ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
(Hồ Chí Minh - nhà ngoại giao lỗi lạc.Chính trị 00:32 20/05/2010)

Tớ AnNinh Thế Giới viết:
Thế giới ca ngợi văn hóa ngoại giao Hồ Chí Minh vì không những Người là một biểu tượng mẫu mực về đạo đức mà phong cách ngoại giao của Người là tấm gương cho lãnh đạo các nước và giới chính khách học tập. Nhà sử học Helen Tourmer đã nhận định: "Hình ảnh của Hồ Chí Minh đã hoàn chỉnh với sự kết hợp đức khôn ngoan của Phật, lòng bác ái của Chúa, triết học của Mác, thiên tài cách mạng của Lênin"...
http://antg.cand.com.vn/Tu-lieu-antg/Phong-cach-ngoai-giao-Ho-Chi-Minh-300388/

Trái lại cũng có nhiều ý kiến chỉ trich đảng Cộng sản Việt Nam:
1.BBC
"Ngày hôm nay nhân dịp 85 năm thành lập của Đảng mình có đôi lời muốn chia sẻ...
"Tám mươi lăm năm là tuổi rất là lớn, một khoảng thời gian khá là dài để chúng ta có thể nhận ra được là Đảng có làm đúng hay không, có tốt cho đất nước hay không.
Hiện giờ trên thế giới cũng chỉ còn năm nước có chế độ cộng sản thôi và đều là những nước nghèo hoặc là những nước độc tài, trong đó có Việt Nam.
"Mình tin rằng có nhiều người, không chỉ là người ngoài [Đảng] không mà ngay cả các đảng viên Cộng sản cũng nhận ra lý tưởng cộng sản không thực hiện được. "Cái chuyện đó đã được lịch sử chứng minh bằng sự sụp đổ của Liên Xô và các nước Đông Âu.
"Hiện giờ trên thế giới cũng chỉ còn năm nước có chế độ cộng sản thôi và đều là những nước nghèo hoặc là những nước độc tài, trong đó có Việt Nam.
 http://www.bbc.com/vietnamese/vietnam/2015/02/150203_party_anniversary_hangout

2. Wikipedia chỉ trich Việt Cộng
Tháng 11 năm 1953, chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở miền Bắc Việt Nam tiến hành cải cách ruộng đất, trong đó, theo Steven Rosefielde, là "nhằm mục đích tiêu diệt kẻ thù giai cấp." [114] Còn theo quan điểm của chính mình, thì Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tiêu diêt tầng lớp "Việt gian" và "địa chủ" hoặc đấu tố trưng thu tư liệu sản xuất của họ, đem chia tất cả (bao gồm ruộng đất và trâu bò, nông cụ) cho các bần nông.
Cuộc cải cách được tiến hành trên sự can thiệp, thúc ép của cố vấn Trung Quốc. Địa chủ được các cán bộ Việt Minh lựa chọn một cách tùy ý rồi đưa ra trước quần chúng để họ đấu tố, phần lớn bị oan sau khi lấy hạn ngạch 4-5 phần trăm [115] tra tấn được sử dụng trên quy mô rộng và rất nhiều, để đến năm 1954 Hồ Chí Minh đã phải can dự và tuyên bố dừng.[115]

Hội nghị Trung ương lần thứ 10 (mở rộng) Ban Chấp hành Trung ương khoá II họp từ ngày 25-8 đến 5-10-1956, tại Hà Nội nhận định nguyên nhân trực tiếp đã dẫn đến những sai lầm nghiêm trọng, phổ biến và kéo dài trong cải cách ruộng đất là[116]:
  1. Trong khi chỉ đạo thực hiện, việc lãnh đạo tư tưởng đã có nhiều lệch lạc.
  2. Trong khi chỉ đạo thực hiện, nhiều chính sách của Trung ương đã không được quán triệt và phổ biến đúng đắn, phần nhiều bị hiểu sai, do đó mà không được chấp hành đầy đủ, thậm chí không được chấp hành hoặc làm trái ngược nhau.
  3. Việc tổ chức thực hiện đã có nhiều thiếu sót nghiêm trọng. Các cơ quan cải cách ruộng đất tổ chức thành một hệ thống riêng từ trên xuống dưới với những quyền hạn quá rộng, đã dần dần lấn hết quyền của cấp uỷ và chính quyền. Từ cấp khu trở xuống, nhiều nơi đã đặt mình lên trên cấp uỷ Đảng và chính quyền địa phương.
  4. Việc bố trí lực lượng cán bộ đã không theo một nguyên tắc nào cả, thậm chí đã để cho những cán bộ còn non nớt chỉ đạo những cán bộ có nhiều kinh nghiệm...
  5. Hiện tượng độc đoán chuyên quyền đã trở nên trầm trọng.(Wikipedia)
 3. Cao Đắc Tuấn

  Hồ Chí Minh và Đảng cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) làm nhiều vụ lừa đảo lịch sử để gạt dân Việt Nam. Từ khi Hồ chết, ĐCSVN tiếp tục trò lừa đảo với những lời nói láo và dối trá vô nhân đạo để bao che những hành vi vô đạo đức và tội phạm hoặc đánh bóng hình ảnh mình cho mục tiêu tẩy não và nhồi sọ. Bài này phơi bày mười sáu hành động lừa đảo bởi Hồ và/ hoặc ĐCSVN trong nỗ lực họ sửa đổi lịch sử cho lợi lộc cá nhân từ năm 1930 cho đến 2014. Những vụ lừa đảo lịch sử này có hậu quả tàn phá trên người dân Việt, nhất là trẻ em.
 http://www.geocities.ws/xoathantuong/cdt_nhungLuaDaoLichSu.htm

4. Các kiến nghị dân chủ
Sau khi kiến nghị 72 ra đời hồi năm 2013, đảng cộng sản im lặng một thời gian rồi lên tiếng chỉ trích những người đưa kiến nghị 72 là chống lại sự cai trị của đảng. Hiến pháp Việt nam sửa đổi 2013 vẫn duy trì đảng cộng sản và ý thức hệ của nó ở vị trí độc tôn.
Sau khi ký kiến nghị 61, Giáo sư Tương lai nói rằng ông chờ đợi sự phản hồi của đảng. Từ đó đến thời điểm chúng tôi hoàn thành bài viết này thời gian đã hơn một tháng, người ta chưa thấy truyền thông của đảng cộng sản lên tiếng. Còn ông Hà Sĩ Phu thì nói rằng đảng cộng sản cũng sẽ bỏ ngoài tai kiến nghị 61:
Có thể nói chắc chắn rằng họ không nghe gì cả. Điều đó là đương nhiên, họ không nghe một tí gì, không nghe một phần trăm nào. Bởi vì cái lập trường của đảng thì quá rõ rồi, vì đối với đảng cộng sản chân lý là vô nghĩa, lòng tốt là vô nghĩa, đặt trên bàn của họ chỉ là lợi ích.”
Tuy nhiên cũng có người, như Giáo sư Nguyễn Mạnh Hùng người theo dõi sát chính trị Việt nam cho rằng mặc dù có thể không được lắng nghe, nhưng những kiến nghị như thế là rất tốt. Nhà văn Phạm Đình Trọng thì hy vọng tác động của kiến nghị 61 đến các đảng viên của chính đảng cộng sản:
Có thể nói chắc chắn rằng họ không nghe gì cả. Điều đó là đương nhiên, họ không nghe một tí gì, không nghe một phần trăm nào.
- TS. Hà Sĩ Phu
Cái kiến nghị này là văn bản chính thức của một số đảng viên, họ đã dứt khoát lên tiếng đoạn tuyệt với chủ nghĩa Marx, chủ nghĩa cộng sản. Đoạn tuyệt với chủ nghĩa Marx tức là cái lõi lý luận của chủ nghĩa cộng sản. Đây là một tiếng nói rất rõ ràng. Còn lại là những người kiếm lợi từ chủ nghĩa cộng sản, những người bất tài, kém cỏi, và nhờ có chủ nghĩa cộng sản họ mới có vị trí như thế, thì họ sẽ cố duy trì, nhưng đây là một đợt tấn công mạnh mẽ vào cái thành trì bảo thủ ấy.”
Những lời phát biểu này thể hiện rằng sự thách thức chủ nghĩa cộng sản tại Việt nam theo năm tháng đã chuyển từ sự thách thức trên phương diện ý thức hệ sang sự thách thức về quyền lực và quyền lợi không còn mang màu ý thức hệ nữa. Chỉ trích ý thức hệ vẫn có thể diễn ra một cách công khai khi mà nó chưa xuống đường để đụng chạm tới quyền lợi của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/critic-communism-in-vn-today-kh-08182014135919.html

Trên đậy là những truyện linh tinh,  sau đây là những chuyện "hoành tráng " hơn, xin kể theo tài liệu.

1. Truyện Lê Đức Thọ

Trần Đức Thảo kể chuyện và luận sự kết thúc 1975 như sau:

Lúc đó dân chúng đã kể cho nhau nghe để mà cười cay đắng với nhau, Đó là vào đầu năm 1973, khi vừa ký kết hiệp định Paris để kết thúc việc Mỹ tham chiến ở Việt Nam. “Đảng” rầm rộ tuyên truyền là ta đã buộc được Mỹ phải ký kết hiệp định để rút hết quân ra khỏi miền Nam Việt Nam. Đảng nói đấy là cuộc đấu trí “thần kỳ” giữa hai bộ óc được coi là mưu trí nhất của thời đại! Phe ta là đồng chí Lê Đức Thọ, phe Mỹ là Henry Kissinger. Tại Hà Nội, một số trí thức bên ngoài “đảng” và tôi đã hết sức tò mò, theo dõi, tìm hiểu các điều khoản bí mật đã được thoả thuận ngầm với nhau của hiệp định tái lập hoà bình tại Việt Nam đã được ký kết ở Paris năm 1973 có một số bí mật của phía ta, thì rồi chúng tôi cũng đã biết phần lớn về phía Mỹ thì dĩ nhiên là phải dựa trên những tiết lộ rất phong phú của báo chí Mỹ và thế giới. Chúng tôi có hai thắc mắc lớn trong chính sách của Mỹ lúc ấy. Một là tại sao cuộc tổng tấn công nổi dậy do ta bí mật phát động thật là bất ngờ, hồi Tết Mậu Thân 1968, ở miền Nam, nhưng ta đã hoàn toàn thất bại, lực lượng của ta tại miền Nam bị kiệt quệ, bị tổn thất nặng nề vì nhân dân miền Nam không nổi dậy tiếp tay với ta như ta đã trù liệu. Vậy mà Mỹ lại nhương bộ, chấp nhận các điều kiện của ta, đặc biệt là điều kiện phải để cho Mặt trận Dân tộc Giải phóng do ta chủ động ở miền Nam được tham dự hội nghị ngang hàng với chính quyền Nguyễn Văn Thiệu, gọi là Việt Nam Cộng Hoà. Thắc mắc lớn thứ nhì là cuộc oanh tạc của Mỹ vào miền Bắc năm 1972, lúc đó ta vô cùng bối rối, đến mức nếu nó đánh bom kéo dài thêm vài tháng nữa thì ta sẽ phải nhượng bộ trong bất cứ điều kiện nào. Vậy mà bỗng Mỹ ngưng ném bom, để cho cuộc thương thảo ở Paris bước vào giai đoạn kết thúc, mà cả thế giới đều thấy là có lợi cho ta. Phía ta thì khoe đó là do tài trí của trưởng đoàn Lê Đúc Thọ..  Trong dân gian lúc đó, có giai thoại được phổ biến rất rộng rãi, rằng đồng chí Lê Đức Thọ đã tiết lộ với vài nhà báo thân cận một thành tích đấu trí với Kissinger, khiến hắn từ đó phải nể mặt đồng chí Thọ. Mẩu chuyện đấu trí vui ấy đã được phổ biến trong các tầng lớp nhân dân, như một thành tích “thắng lợi vẻ vang” của “ta”!


Chuyện kể rằng lần đầu tiên bí mật gặp riêng Kissinger ở vùng ngoại ô Paris, Lê Đức Thọ chìa tay trước để bắt tay Kissinger, tên này cũng vui vẻ chìa tay ra và hai bên xiết tay nhau. Sau đó, Kissinger chơi trò khinh bỉ ta, y thò tay vào túi lấy khăn “mù-xoa” lau bàn tay vừa bắt tay Lê Đức Thọ, rồi bỏ lại khăn tay vào túi quần! Đồng chí Lê Đức Thọ liền có phản ứng tức thì, đồng chí cũng rút khăn ra lau tay, nhưng sau đó vứt bỏ luôn khăn tay xuống đất chứ không bỏ lại vào túi! “Kissinger từ đấy về sau không dám giở trò gì nữa”.[..]. Sự khoe thành tích đấu trí như vậy, đã làm anh em trí thức Hà Nội nực cười. Trí tuệ gì, ngoại giao quốc tế gì cái trò láu cá vặt đó. Vì sự thật, ở bên lề hội nghị, toàn là những nhân nhượng quan trọng rất bí mật trong cuộc thương thảo giữa hai bên, mà phần quyết định trọng điểm là do thoả hiệp giữa Trung Quốc với Mỹ! Sau này có lần gặp riêng nhà báo cộng sản người Úc Winfred Burchett, ông này giải thích tận tình cho tôi hiểu về chính sách thực dụng rất nguy hiểm của Mỹ trong việc giải quyết “vấn đề” Việt Nam! Theo Burchett thì Mỹ nhúng tay vào miền Nam Việt Nam vì coi đó là một thị trường của khối tư bản, và tuyên bế quyết tâm bảo vệ Nam Việt Nam, vì đấy là một “tiến đồn của thế giới tự do”. Điều này có nghĩa là Mỹ muốn giữ vùng này không để nó lọt vào trong bức màn sắt của khối cộng sản. Nhưng Mỹ cũng dứt khoát không tính diệt “Bắc Việt Cộng sản” để tiến tới thống nhất Việt Nam bằng cách này hay cách khác. Bởi chiến tranh đối với Mỹ luôn luôn nằm trong sách lược của kinh tế thị trường toàn cầu. Cuộc chiến tranh bảo vệ thị trường Nam Việt Nam đã bị sa lầy vì tốn kém và bị dư luận nhân dân Mỹ chán ghét. 
Thế nên các nhà chiến lược Mỹ, đứng đầu là Kissinger, đã đề xa một giải pháp khác. Vì đã không bảo vệ được thị trường miền Nam Việt Nam bằng chiến tranh, thì phải quay qua giải pháp tìm thị trường thay thế bằng con đường hoà bình: cách này ít tốn kém mà bền vững hơn. Bởi Mỹ, trên nguyên tắc, không hề tính tiêu diệt chế độ Cộng sản ở miền Bắc Việt Nam, nên khi thấy cuộc tổng tiến công nổi dậy hồi Tết Mậu Thân, 1968, đã làm cho “cộng sản” kiệt sức, thì đó là lúc tốt nhất để đưa “địch” ngồi vào bàn hội nghị. Cũng như khi thấy cuộc oanh tạc miền Bắc Việt Nam hồi 1972, đã đủ cho Hà Nội thấm đòn, thì Mỹ liền ngừng ném bom, rồi đưa ra những điều kiện, thuận lợi cụ thể, để Hà Nội chịu kỷ kết chấm dứt chiến tranh, để Mỹ rút chân ra khỏi miền Nam Việt Nam. 
Tất cả là dùng lá bài hoà bình thay thế cho lá bài chiến tranh. Cũng để tỏ rõ chính sách của Mỹ như thế, liên hạm đội 7 rất hùng hậu quả Mỹ, lúc đó có mặt đông đảo ở ngoài khơi Việt Nam, vậy mà lực lượng hùng hậu ấy đã đứng ngoài nhìn hải quân Trung Quốc đánh chiếm đảo Hoàng Sa (Paracels) của Nam Việt, hồi 1974.
 Sự án binh bất động này có nghĩa rõ là Mỹ không coi Nam Việt Nam là tiền đồn nữa. Ngay từ khi đại quân Mỹ đổ bộ vào miền Nam Việt Nam, Mỹ đã chỉ đánh cầm chừng để giữ đất, để dung hoà chứ không hề có ý đẩy chiến tranh đến tận cùng ra miền Bắc, để tiêu diệt chế độ cộng sản ở miền Bắc. Dù là đã oanh tạc miền Bắc, nhưng chiến lược của Mỹ là chỉ chờ lúc địch kiệt quệ để áp dụng lá bài hoà bình, nhằm đánh địch băng kinh tế hậu chiến. Và quả thật ván bài đó sau này đã làm cho Hà Nội hoàn toàn kiệt quệ về kinh tế. Để rồi tới lúc Hà Nội, tuy đạt chiến thắng, nhưng lại phải chấp nhận mọi điều kiện để Mỹ nó bỏ cấm vận. Rồi sau đó là Hà Nội lại trải thảm đỏ long trọng đón rước lãnh đạo Mỹ trở lại.( Những Lời Trăn Trối, Ch.XIII)

2. Truyện Hồ Chí Minh
Đồng loại với giai thoại bịa ở trên là giai thoại dưới đây, cũng do lò Việt Cộng sản xuất:
Nhiều người thường nhắc tới câu chuyện về cách ứng xử của Bác trong lần tới thăm Bộ trưởng Bộ nước Pháp Hải ngoại Marius Moutet năm 1946. Ông ta đi từ trên thang gác xuống đón Bác, Bác đi lên. Moutet giơ tay ra bắt tay, nhưng Bác lại bế bé gái đi cùng ông ta lên đã, âu yếm cháu trong khi vẫn bước lên. Chỉ khi ở bậc thang ngang với Moutet, Bác mới đưa tay ra. Nếu Bác giơ tay đáp lại ngay thì trong tấm ảnh của các nhà báo chụp phút đó Bác sẽ ở vị thế dưới Moutet, là điều mang ý nghĩa tượng trưng không hay cho ta.   sogtvt.haiduong.gov.vn/.../HồChíMinhvànhữngcâuchuyệnứngxửn

Ở Mỹ và Canada không ai cho người lạ ôm con mình. Ai không hiểu phong tục, pháp độ  dễ bị tù đấy!


3. Stalin và Hồ Chí Minh

Hồ Chí Minh là anh láu cá, khôn vặt, bao giờ cũng tìm cách tự quảng cáo. Trong khoảng 1945, được CIA Mỹ cho khẩu súng , đi đâu ông cũng mang ra khoe, ra cái điều ta đây được Mỹ ủng hộ!Trong khi đó ông cũng "cop "mấy câu trong Tuyên Ngôn Mỹ để tỏ ra ta đây với Mỹ là đồng chí anh em! Khi ông sang Liên Xô, bị Liên Xô khinh bỉ chứ không phải là quý trọng, kính phục như cái loa rè của Việt Cộng ca cẩm. 

Hoàng Tùng viết:"Bác đến Liên Xô năm 1934-38 chỉ làm công tác ở Ban thuộc địa của Quốc tế cộng sản, không được giao nhiệm vụ cụ thể. Người được giao nghiên cứu làm luận án phó tiến sĩ về vấn đề thuộc địa. Bác xin được làm nhưng không được trả lời....Sang Trung Quốc, Mao đưa Bác vào quỹ đạo của Mao. Sang tới Liên Xô, Stalin lại đưa Bác vào quỹ đạo của Stalin....[..].Khoảng năm 1935, ở tù cùng với Phi Vân tôi hỏi Phi Vân nhận xét về Nguyễn Ái Quốc. Vân nói ông già này không có gi` đâu, ở nhà cứ tưởng là nhân vật quan trọng lắm, chứ ông ta dân tộc chủ nghĩa, tri`nh độ ly' luận kém.[..].Đảng ta sang dự Đại hội lần thứ VII của Quốc tế Cộng sản. Đoàn đại biểu của Đảng cộng sản Việt Nam chỉ có Nguyễn Thị Minh Khai, Lê Hồng Phong. Sau khi xin việc măi không được, Bác xin về nước. Gần đây tôi có gặp một nhà trí thức Việt Nam, người này có gặp một nhà trí thức Pháp, họ nói Bác suy't bị hạ vi` những chuyện lôi thôi này.[...].Nỗi đau thứ tư là sau năm 1945, Liên Xô, Trung Quốc không công nhận ta. Đảng cộng sản Pháp cũng nghi ngờ.HOÀNG TÙNG * HỒI KÝ


Hoàng Tùng nói lờ mờ. Chúng ta hãy đọc Hồi Ký của Nikita Krushchev.
Hồi ức của Nikita Krushchev được ghi chép trong bộ sách“Krushchev Remembers” , xuất bản năm 1991, có kể lại một câu chuyện nhỏ bên lề về cuộc gặp mặt Stalin-Hồ Chí Minh năm 1950 :
“Tôi nhớ lại khi Hồ Chí Minh đến Mooscow xin viện trợ về vật chất… .Stalin đối xử với Hồ Chí Minh như một sự phỉ báng.  Trong một cuộc gặp ông Hồ rút từ trong cặp ra tờ họa báo “L’URSS en Construction” và xin chữ ký.
Stalin xử sự theo cách luôn hoài nghi bệnh hoạn của ông ta, nhìn đâu cũng thấy kẻ phản bội và do thám.  Ông ta liền ký vào tờ báo nhưng ra lệnh cho mật vụ lén thu hồi lại.  Sau đó Stalin còn khôi hài với tôi : “Ông ta chắc vẫn còn ra sức tìm kiếm tờ báo ấy, nhưng chỉ phí công”
Krushchev kể lại chuyện này như một chuyện vui để nói về con người của Stalin, ông cho rằng Stalin đã đa nghi quá đáng vì sau khi buộc phải ký tặng cho Hồ Chí Minh thì Stalin đã cho mật vụ lẻn vào phòng Hồ Chí Minh tại khách sạn để đánh cắp lại tờ báo có chữ ký tặng này.
Có vậy mới thấy Stalin là người thâm trầm :  Không phải vì quá hâm mộ Stalin mà Hồ Chí Minh đã xin chữ ký của Stalin cũng như ông đã từng xin hình và chữ ký tặng của Tướng Chenault, Tư lệnh Không quân Mỹ tại Trung Hoa vào năm 1945.  Vì sau đó Hồ Chí Minh đã mang tấm hình Tướng Chenault về hang Pác Bó để lòe Trường Chinh và ĐCSVN.  Sau đó đem về Hà Nội lòe dân Hà Nội rằng ông ta là người của Mỹ.
Lần này thì HCM xin chữ ký của Stalin, nhưng câu hỏi được đặt ra là ông muốn có chữ ký đó để lòe ai ?  Không cần suy nghĩ nhiều thì cũng hiểu rằng suốt từ năm 1945 cho tới ngày đó thì Stalin và CSQT không hề liên lạc với HCM, điều này đủ để cho Trường Chinh và ĐCSVN đánh giá được mối quan hệ giữa Stalin và ông ta.
Sự thực là Stalin chẳng biết ông ta là ai, suốt 5 năm trời ông ta gởi cho Stalin biết bao nhiêu là thư nhưng chẳng có một lời hồi âm.   Sau này hồi ký của Hoàng Tùng tiết lộ:  “Vì quan hệ của ta với Liên Xô và Trung Quốc không được thuận tiện, cho nên khi chính quyền của ta được thành lập (1945) thì hai nước đã không công nhận”.
Vì đã lỡ mạo danh là người của Liên Xô đưa về nhưng suốt 5 năm không có dấu hiệu gì chứng tỏ có sự hậu thuẩn của Stalin, cho nên  lần này ông Hồ Chí Minh cần phải có một bằng chứng cụ thể nào đó để chứng thực những lời lòe bịp của ông ta trước đây.
Tuy nhiên Stalin là người “có sạn trong đầu” nên biết ngay là Hồ Chí Minh xin chữ ký của ông ta không phải xuất phát từ tấm lòng ngưỡng mộ thần tượng.  Mà chắc chắn phải có một mưu đồ nào khác;  dĩ nhiên là không quang minh chính đại.
Sau đó Stalin đã kể chuyện này cho Krushchev như là một bằng chứng cho thấy HCM chỉ là một tay thủ đoạn vặt mà không qua mắt nổi ông ta.  Ngoài ra Krushcheve cũng cho biết :
“Ông Hồ rất muốn cuộc đi thăm được công bố chính thức, và ông ta muốn được đón tiếp với tư cách chủ tịch nước Việt Nam.  Stalin bác bỏ yêu cầu ấy : “Đồng chí đã đến một cách lặng lẻ nên không thể công bố được”.  Ông Hồ vẫn đề nghị Stalin cho một chiếc máy bay và chuẩn bị bài diễn văn đón tiếp. Stalin cười khi kể lại với tôi : “Đó, ông ta muốn cả chuyện ấy, nhưng tôi trả lời :  Không”!
Qua lời kể vô tình của Krushchev, người ta có thể thấy rõ HCM chuyên dùng thủ đoạn hạ cấp, ngay cả đối với nghi thức ngoại giao quốc tế.  Ông ta dám đề nghị với chủ tịch nước Liên Xô một việc mà chỉ có bọn lưu manh mới làm.
Ngoài tiết lộ của Krushchev, sau khi tài liệu mật của văn khố Quốc gia Liên Xô được giải mật, giáo sư sư sử học Christopher Goscha của đại học Québec tại Montréal đã tìm thấy một văn thư của đại sứ Liên Xô tại Bắc Kinh gửi cho Mạc Tư Khoa, đề ngày 4-2-1950, cho biết ông HCM có nói với các nhà lãnh đạo Trung Quốc rằng tờ tạp chí có ảnh của Stalin và các lãnh đạo cao cấp khác của ĐCSLX cần phải được trả lại cho mình.
Ông ta đã nhiều lần hỏi đi hỏi lại là “Làm sao chuyện đó lại có thể xảy ra giữa những đồng chí Cọng sản tốt” (Hồ sơ lưu trữ CCCPSU, tài liệu số 36671, thư mục số 425).  Nếu không có tiết lộ của Krushcheve để so lại thì các nhà nghiên cứu sử sau này sẽ tưởng rằng ông HCM đã bị đánh mất tờ báo ở đâu đó tại Trung Quốc chứ không ai ngờ là Stalin đã cho mật vụ lấy lại.. 
 
BÙI ANH TRINH Hồ Chí Minh dưới con mắt nhìn của Stalin.

4. Hồ Chí Minh xin xỏ Mỹ

Từ tháng 4/1945, Hồ đã bắt đầu vận động xin được chính phủ Truman nhìn nhận. Tuy nhiên, Patti đã nhấn mạnh với Hồ rằng liên hệ giữa hai người chỉ thuần túy có việc tình báo. Qua tháng 8, khi vai trò Hồ và Việt Minh ngày một lên cao, Hồ liên tục kêu gọi sự trợ giúp của Liên bang Mỹ. Ngày 15/8, một đại diện ‘Ðảng Quốc Gia’ của Hồ tại Côn Minh tuyên bố như sau về Ủy Ban Khởi Nghĩa Hà Nội:
Ủy Ban Trung ương muốn người Mỹ biết rõ rằng dân Ðông Dương muốn được độc lập, và hy vọng rằng nước Mỹ, như một nhà vô địch về dân chủ, sẽ giúp Ðông Dương được độc lập. . . .
Tóm lại, dân Ðông Dương muốn được hưởng tình trạng như Phi-lip-pin trong một thời gian vô hạn định. (Báo cáo ngày 22/8/1945, William J. Donovan gửi Byrnes; US-Vietnam Relations, 1947-1967, Bk I, C 67)

Trong một buổi nói chuyện giữa Hồ và George M. Abbott ngày 11/9/1946-tức ba ngày trước khi ký Tạm ước 14/9/1946 ở Paris-Hồ trực tiếp xin viện trợ quân sự và kinh tế. Hồ cũng nhắc đến vịnh Cam Ranh ở Trung Bộ. (US-Vietnam Relations, Bk I, tr. C 95-6) Cho tới tháng 12/1946, Hồ tiếp tục xin viện trợ Mỹ. Thứ trưởng Ngoại giao Hoàng Minh Giám còn xin thẳng với Trưởng Sở Ðông Nam Á tại Bộ Ngoại Giao Mỹ là Abbott L. Moffat, trong dịp Moffat đang viếng thăm các nước Ðông Nam Á, là nhờ Mỹ giúp phát triển căn cứ Cam Ranh và can thiệp để Pháp ngừng chiếm đóng toàn nước Việt Nam. (Ibid., Bk I, tr. 96-7)
Trong giai đoạn từ tháng 9/1945 tới tháng 3/1946, Hồ còn mở nhiều cánh cửa cho việc phát triển liên hệ Việt-Mỹ. Ngoài việc thành lập Hội Thân hữu Việt-Mỹ, Hồ đề nghị gửi 50 sinh viên qua Mỹ để thiết lập liên hệ văn hóa giữa hai nước-giống hệt thủ thuật Hồ đã sử dụng hai thập niên trước, với kết quả là loạt cán bộ Cộng Sản đầu tiên huấn luyện tại Mat-scơ-va. (Ibid., Bk I, tr. C-103-104)

Tuy nhiên, chính phủ Mỹ quyết định giữ trung lập, không hề chính thức hồi đáp các thỉnh nguyện thư của Hồ. Oat-shinh-tân chỉ khuyến khích hai phe Pháp và Việt Minh đạt một giải pháp chính trị qua thương thuyết. Ngày 29/9/1945, Gallagher khuyên Hồ nên gửi một phái đoàn qua Trùng Khánh, dù Tướng Marcel Alessandri, Ðại diện Pháp ở phía Bắc vĩ tuyến 16, chỉ mời Việt Minh tham dự với tư cách một đảng mà không phải một chính quyền. (Memorandum of 29 Sept. 1945, Gallagher Papers; Porter, Documentation, vol I, tr. 80-81) Ngay tới tháng 12/1946, Moffat còn khuyên Giám nên tránh chiến tranh, đạt một thỏa ước với Pháp. (Thư Moffat gửi BNG (12/1945); trong Blum, United States and Vietnam, Phụ bản II, tr. 40-2) Quyền Ngoại trưởng Mỹ Dean Acheson còn đề nghị Hồ nên tạm thời bỏ đòi hỏi trưng cầu dân ý ở miền Nam để quyết định thể chế của Nam Kỳ. (Tel. ngày 5/12/1945, Acheson gửi Moffat (Sài-gòn); US-Vietnam Relations, Bk 8, VB2, tr. 85-
Vũ Ngự Chiêu.HỒ CHÍ MINH - NHÀ NGOẠI GIAO, 1945-1946.
http://www.geocities.ws/xoathantuong/vnc_hcmng.htm 

5.Truyện Thạch Sanh cộng sản chém chằng tinh 

Tống Văn Công một thời theo Cộng sản, mới thấy cộng sản ác gian. Ông kể chuyện Con Trăn Thần” của báo Lao Động:
“Báo Lao Động giữa năm 1963 có đăng bài của thông tín viên Tất Biểu ở nhà máy bơm Hải Dương đưa tin anh Lê Văn Hạng công nhân nhà máy trong khi đi nghỉ phép đến miền Tây Nghệ An đã bắn hạ một con trăn lớn chưa từng thấy. Tin này được nhiều bạn đọc gửi thư hỏi thêm chi tiết. Tòa soạn liền cử phóng viên Trần Thanh Bình tới gặp Lê Văn Hạng. Nghe anh này thuật lại câu chuyện quá hấp dẫn, anh Bình gợi ý anh Tất Biểu viết lại từ mẩu tin ngắn thành một bài ký sự dài đăng nguyên một trang báo. Anh Tất Biểu viết bài có tựa đề ‘Con Trăn Thần’. Bài viết kể: Trước khi anh Hạng tới đây, nhân dân vô cùng hoảng sợ, bởi con trăn đã bắt đi hai con bò, hai cháu bé. Khi anh Hạng tìm gặp được nó, con trăn vùng dậy, cất đầu lên cao quá các ngọn cây cổ thụ, mồm phun phì phì, nước bọt tuôn xuống như mưa. Anh Hạng phải luồn lách lựa thế để nã đạn đúng vào mồm con trăn liên tục 16 phát, nó mới ngã vật làm gãy bao nhiêu cây cối. Dân làng được tin đưa hai con trâu cổ tới giúp anh Hạng kéo con trăn về làng. Người ta đo con trăn dài gần 30 thước, thân nó to bằng cái vành bánh xe đạp. Họa sĩ Minh Tần minh họa trông giống như cảnh Thạch Sanh chém con chằn tinh.
“Số báo đăng bài này gây tiếng vang lớn trong và ngoài nước. Nhân dân Nhật báo Bắc Kinh dịch bài và đổi tựa đề là ‘Dũng sĩ diệt mãng xà vương’ kèm theo bức tranh minh họa cho câu chuyện thần kỳ. Nhà thơ Tố Hữu, Trưởng ban Tuyên huấn Trung ương Đảng nói với hội nghị Tuyên huấn – Báo chí về niềm tự hào dân tộc đã có một công nhân bình thường nhưng hành động phi thường, là ‘Thạch Sanh thời đại , ‘Thạch Sanh cộng sản’. Hồ Chủ tịch mau chóng tặng thưởng cho Lê Văn Hạng ‘Huy hiệu Bác Hồ’. Ban thi đua khen thưởng Trung ương làm thủ tục xét thưởng huân chương lao động hạng nhất…
“Giữa lúc cả nước đang náo nức vui mừng thì bỗng có một tin chấn động: Các nhà khoa học Ba Lan cho rằng con trăn khổng lồ xuất hiện ở Việt Nam nếu là có thật thì nó đánh đổ các học thuyết về cổ sinh vật học đang được giảng dạy hằng trăm năm nay. Họ đề nghị Nhà nước Ba Lan mua bộ xương này với giá tương đương một nhà máy lớn. Trước mắt, họ xin Nhà nước Việt Nam cho họ được tới khảo sát bộ xương con trăn thần và khu rừng nơi anh Hạng tìm thấy con trăn và bắn chết nó. Họ phán đoán, khu rừng này phải là rừng nguyên sinh và rất có thể ở đó còn có nhiều động vật khổng lồ của thời tiền sử!
“Tin này như một tiếng sét làm tỉnh cơn mê. Hồ Chủ tịch chỉ thị phải nhanh chóng xác minh sự thật. Ban Tuyên huấn Trung ương yêu cầu báo Lao Đông trong thời gian sớm nhất phải có báo cáo chính xác.
“…Trong lúc ban biên tập báo Lao Động cho phóng viên xuống nhà máy bơm Hải Dương tìm hiểu thực hư thì một cộng tác viên tờ báo là kỹ sư nông nghiệp của Bộ Nông trường, nhân đến tòa báo gửi bài cộng tác đã vui chuyện kể rằng chính anh ta được chứng kiến lúc anh Hạng đưa con trăn thần về nông trường. Anh nói, rất tiếc là bài báo của Tất Biểu không kể những chi tiết không thể nào quên như: Khi hai con trâu kéo con trăn về tới đoạn dốc hơi cao ở khúc quanh vào văn phòng nông trường thì một con trâu bị đứt ruột, ngã khuỵu. Từ văn phòng gần đó, năm sáu cô nhân viên hiếu kỳ chạy ra xem. Vừa nhìn thấy đầu con trăn khổng lồ há mồm thè lưỡi, các cô hốt hoảng nháo nhào ù té chạy, một cô yếu tim ngất xỉu.
“Anh kỹ sư đã làm cho Ban biên tập báo Lao Động như sắp chết đuối vớ được cọc. Anh Nguyễn Anh Tài đề nghị anh kỹ sư làm cố vấn cho đoàn báo Lao Động vào rừng Nghệ An thẩm tra vụ trăn thần. Đang vui chuyện, hóm hỉnh bỗng anh lặng lẽ, trầm tư, nói rất lấy làm tiếc, vì công việc đang chồng chất, không thể sắp xếp để cùng đi với đoàn.
“…Anh kỹ sư ngồi lặng mấy giây, rồi hai vai run lên, đầu gục xuống, vừa nức nở khóc, vừa nói không ra lời: ‘Tôi… tôi cứ tưởng mọi việc đúng như trong bài báo là … tôi theo đó rồi thêm thắt cho vui câu chuyện… Tôi xin lỗi… rất là là xin…lỗi…’!
Kết luận câu chuyện “Con Trăn Thần”, Tống Văn Công viết: “Không chỉ báo Lao Động mà các cơ quan lãnh đạo của Đảng, Nhà nước đều muốn câu chuyện “Thạch Sanh cộng sản” quên dần trong im lặng, bởi nó phơi bày sự dốt nát, háo danh và cẩu thả của cả hệ thống chính trị và khoa học của chế độ”.
Tống Văn Công bừng tỉnh huyễn mộng với cộng sản nhờ vào thông tin bùng nổ trong thời đại Internet, nhưng không phải người cộng sản nào cũng nhận ra bộ mặt thật của chế độ toàn trị, cho dù hàng ngày biết bao thực tế ê chề diễn ra chung quanh. Điển hình là chính thân phụ ông Công, người đảng viên vào đảng cộng sản từ năm 1930, từng tham gia chín năm chống Pháp..
http://www.nguoi-viet.com/nguoi-viet-shop/den-gia-moi-chot-tinh/

6. Thế giới cộng sản nghĩ về Việt Cộng
Người ta cho rằng người thế giới tự do ghét Cộng sản mà người Cộng sản rất yêu thương người cộng sản vì họ cùng thờ Marx, Lenin và Stalin bất diệt. Nhất định cộng sản với nhau tất họ phải vâng lời Marx dạy:"vô sản các nước hãy đoàn kết lại"!Nhưng không phải thế. Chính dân cộng sản ghét Việt Cộng nhất. Việt cộng càng tuyên tuyền huynh hoang rằng thế giới hoan hô họ là nói láo, Việt Cộng càng ra ngoài càng phô trương cái gian ác khắp bốn phương và nhận lấy sự khinh bỉ quốc tế nhất là ngay trong các quốc gia cộng sản.

Trong mắt người Đức, người Việt chỉ là lau nhà, quét dọn, làm quán và tìm mọi thủ đoạn để ở lại
Những người Việt ở Nga kể lại những chuyện như sau:
 Có bao giờ bạn đi xe buýt, chẳng đụng chạm tới ai, thế mà vẫn bị chửi xơi xơi vào mặt, và cũng chẳng dám mở mồm cãi lại không? (Nguyên văn câu chửi của một bà già nói vào mặt bạn tôi như thế này: "Bọn nước ngoài chúng mày là một lũ bẩn thỉu, là những con dê, chúng mày đến nước Nga này làm giàu và mang hết của cải đi, làm cho nước Nga nghèo như thế này này, làm bọn tao khổ sở...")
 http://vnexpress.net/tin-tuc/cong-dong/o-nga-ban-hau-nhu-khong-duoc-bao-ve-2067078.html

Dân Việt ở Nga bị khinh bỉ vì
 Hiện nay,  có thể nói người Việt ở Nga đang đánh đổi tất cả để kiếm tiền, vất vả mưu sinh nhưng vì trình độ có hạn, những gì thuộc về láu cá, buôn bán vặt, không giữ uy tín, nên họ thuộc cộng đồng có thu nhập thấp nhất trong xã hội Nga và thường kinh doanh các lĩnh vực mà các cộng đồng khác ít chịu làm.
 Thái độ của người Việt ở Nga đối với người Nga trong hơn hai chục năm qua cũng qua nhiều cung bậc. Đi từ con mắt “ngạo mạn’’ của “ếch Việt tinh khôn” nhìn “trâu ngựa Nga đờ đẫn” của những năm 90, người Việt lúc đó thường gọi người Nga là “ngố và heo” vì lừa dễ, đến cái nhìn ganh tỵ, tự ty và cách biệt đối với người Nga hiện nay.
http://www.gocnhinalan.com/bai-cua-khach/chuyen-nguoi-viet-tai-nga.html

Chuyện một người Nga vào cửa hàng Việt Nam:

"Mấy cái gối bao nhiêu thế? Tôi muốn cái nào rẻ rẻ mà bằng sợi tổng hợp ấy". Người mua đưa mắt nhìn những cái gối nhiều màu được chất thành đống bằng cặp mắt soi mói. Người bán, một phụ nữ Việt Nam nhỏ bé, nói tiếng Nga bồi, cố giúi hàng cho khách. "Chỉ có loại nhồi lông thôi. Lấy giùm đi, lấy giùm đi...". Người mua càu nhàu: "Bọn ăn bám các người cứ kéo cả lũ đến đây. Thế có gối nhồi lông chim bồ câu không?"
http://vnexpress.net/tin-tuc/the-gioi/tu-lieu/bao-chi-matxcova-nhin-nhan-khach-quan-hon-ve-nguoi-viet-2021173.html

Bạn hữu Nga Việt tâm tình.
  Cách đây khoảng gần chục năm, trong một cuộc nói chuyện bạn bè thân, tôi đã hỏi một người Anh một câu và yêu cầu trả lời trung thực: “Nếu phải lột tả người Việt trong một hay hai từ, ‘mày’ sẽ nói thế nào?” “Không được rắc compliments!” Biết ý tôi, không ngần ngại, anh bạn nói luôn: “Câu hỏi này người nước ngoài chúng tao ở VN luôn thảo luận với nhau khi không có người Việt, và đều nhất trí có câu trả lời giống nhau, nhưng không bao giờ dám nói ra với người Việt. Mày là người VN đầu tiên hỏi tao câu này không với ý định muốn nghe một lời khen, nên tao sẽ nói thật, đó là: Greedy Vietnamese” Vâng, đó là: “Người Việt tham lam!”

Dù đã chuẩn bị cho “tình huống xấu nhất” với đầu óc cởi mở nhất, tôi đã choáng váng và cứng họng một lúc không nói được gì. Mãi sau, tôi mới thốt lên đau đớn vì biết bạn mình không nói dối: “Greedy? Why?” -“Tham lam? Tại sao?” Bạn tôi cười: “Thì người Việt chúng mày, trừ mày ra, (nó thương hại tôi!), luôn luôn cái gì cũng muốn được, không nhường cái gì cho ai bao giờ: Hợp đồng thì điều khoản ngon nhất, giá phải rẻ nhất, hàng phải tốt nhất, giao hàng phải nhanh nhất, bảo hành phải vô thời hạn, thanh toán thì chậm nhất, và … hoa hồng thì phải khủng khiếp nhất!” Tôi chết đứng! Tôi biết nó nói đúng hoàn toàn. Nó làm thương mại với người Việt và ở VN gần hai chục năm rồi. Nó (và đa số người nước ngoài cũng vậy) nhìn người Việt qua những gì nó thấy ở những cán bộ nhà nước hàng ngày làm việc (đàm phán thương mại) với nó! Tôi đã từng đàm phán với nó cách đây hơn hai chục năm, và với rất nhiều người nước ngoài khác, chưa bao giờ biết đòi hỏi ai một cent nào từ vô số hợp đồng ngoại thương tôi đã đàm phán và ký kết, nhưng tôi biết tôi là ngoại lệ, nên tôi biết mình có quyền và có thể nhìn vào mắt mà hỏi nó (bạn tôi) hay bất kỳ ai (thương gia nước ngoài) đã làm việc với tôi, câu hỏi đó mà không sợ bị nó/ họ cười khinh cho.


“Vậy, tính từ thứ hai “bọn mày” (tôi đã từng cùng nó có dịp uống bia trong các câu lạc bộ doanh nhân người Singapore, Malaysia, Nhật, Anh, Mỹ, Hàn, Pháp…do các Amcham, Eurocham… tổ chức) miêu tả người Việt là gì?”- Tôi dũng cảm tiếp tục, hy vọng lần này sẽ được nghe lời dễ chịu hơn. Câu trả lời là: “Tricky!”, “Tricky Vietnamese!” – “Gian! Người Việt hay gian!” Tôi hét lên: “Không thể nào! Mày không đang trêu tức tao đấy chứ?!” Bạn tôi trả lời: “Mày muốn tao trung thực mà?” “Vậy tại sao lại là gian?” tôi cố gắng chịu đựng. “Vì chúng mày không bao giờ nói thật, nói thẳng, và có nói rồi cũng tìm cách thay đổi nếu có lợi hơn. Chúng mày luôn nghĩ rằng mình khôn hơn người và luôn luôn xoay sở để hơn người khác…” Tôi ngồi im lặng, điếng người, muốn khóc, và cố uống tiếp vại bia tự nhiên đắng ngắt. Từ đó tôi ghét uống bia. Nó nhắc tôi buổi tâm sự với phát hiện kinh hoàng trên. “Từ đó trong tôi” “tắt ngấm” “nắng hạ”… là người Việt!
  http://nhantridung.edu.vn/Chia-Se/Chia-Se-Tu-Chuyen-Gia/122/Nguoi-Nuoc-Ngoai-Nghi-Gi-Ve-Nguoi-Viet-Nam.html

 Trần Đĩnh  nghĩ đến câu ông tham tán thương mại Ba Lan nói với ông  ở bệnh viện Việt - Xô: “Với chúng mày tốt nhất là đưa chúng mày ra một hòn đảo hẻo lánh giữa Thái Bình Dương rồi thế giới góp tiền nuôi và mọi người nhờ thế mà được yên ổn”. Tỏi đã có lúc hàm hồ coi đó là một loé sáng của thiên tài trí tuệ chính trị. ( Đèn Cù . II,Ch. 16)
 Trần Đĩnh kể chuyện Đặng Tiểu Bình:"Gặp phó tổng thống Mỹ Mondale cùng Richard Holbrooke, Đặng mách Mỹ cẩn thận với Việt Nam vì Việt Nam “bội bạc”, chúa thay thầy đối bạn  (Đèn Cù  II, Ch. 2)
 Ông cũng kể chuyện Sihanouk và Khmer đỏ. Sihanouk  đã nói với Mỹ: Chúng tôi không muốn có bất cứ một người Việt Nam nào ở Campuchia, chúng tôi rất vui nếu các ông giúp chúng tôi đẩy được Việt Cộng ra khỏi đất nước. Nên hồi B52 Mỹ ném bom căn cứ ta ở Campuchia, Sihanouk họp báo nói: Người và trâu bò chúng tôi yên lành thì tố cáo gì?(II, Ch.2)




Theo truyền thống tuyên truyền dối trá của Cộng sản, Việt Cộng đã ca tụng Hồ Chí Minh và đảng Cộng sản. Thực tế, từ nhỏ cho đến lớn, từ Hồ Chí Minh Việt Nam cho đến Hồ Chí Minh Trung Cộng, chỉ là một anh khôn vặt. Anh Ba và Cộng đảng làm rùm beng vụ anh "xuất dương tìm đường cứu nước" thật ra đi Tây chỉ vì cơm áo.m Anh Bakhông có ý nghĩ cách mạng, anh chỉ muốn làm tay sai thực dân cho nên anh đã làm đơn xin học trường Thuộc Địa Pháp. Anh muốn thực dân lưu ý cha con anh, ban ân phước cho nhà anh cho nên anh gửi thư cho Toàn Quyền Pháp, hỏi thăm cha và anh chị của ông và gửi tiền nhờ Pháp chuyển dùm. Đấy là cái trò nhà quê muốn chủ nhà mời ăn nên giả đò lãng vãng trước nhà người có cỗ bàn!
Bản chất ông là quê mùa, khôn vặt và làm liều, bất lịch sự . Nửa đêm ngày 14 rạng 15/9/46, ông gõ cửa Moutet ở số 19 đường Courcelles, nhằm lúc Moutet còn thức.- Tôi đến đây bằng lòng ký Tạm Ước (Thỏa Hiệp Án).
Ông đến có gọi điện thoại trước hay không? Một tài liệu khác cho biết   ông Hồ đột ngột đến thăm một chính khách khi ông này đang lõa thể ôm vợ.Trương Như Tảng trong hồi ký của ông cho biết khi ông ra Bắc,ông Hồ bất thình lình đột nhập vừa khi bà Trương Như Tảng đang trang điểm.
Ông gặp Nguyễn Thị Hằng . Câu hỏi đầu tiên của vị Chủ tịch nước là: “Cháu có buồn đi tiểu, Bácchỉ chỗ cho mà điNGUYỄN ĐĂNG MẠNH * HỒI KÝ

Ông sang Nga cũng bị Nga khinh bỉ. Ông làm gián điệp cho tình báo Hoa Nam nhưng vinh hoa phú quý chẳng được lâu, một vài người Hoa khác thay Hồ tập Chương. Cả đời ông Hồ là Cáo già dối trá, và bọn Việt Công cũng là quân bán nước nhắm mắt tuân lênh Trung Cộng để làm nô lệ. Họ chẳng có tài cán gì. Đài Loan, Việt Nam là những con tốt bị hy sinh trong ván cờ cuờng quốc cho hiệp đầu.Thực tế, Mỹ rút khỏi Việt Nam không phải bại trận mà để thực hiện kế " Con ngựa thành Troi" . Việc Mỹ sang Việt Nam là nằm trong mục đich nghiên cứu trận đồ tương lai và chuẩn bị cho chung kết quốc cộng sau này.Dẫu sao cũng là dịp cho "tiểu nhân đắc chí tiếu hi hi"!

Việt cộng không những bị nhân dân Việt Nam và nhân dân các nước tự do, mà còn bị các nước đồng chí anh em trong khối Cộng sản khinh bỉ và đánh đuổi.Ngay cả ông thầy Trung Cộng cũng mắng nhiêc tàn tệ.
 Chỉ khi nào hết Cộng sản thì Việt Nam mởi nở mặt với năm châu như Sư Vải bán Khoai nói:

Chừng nào núi Cấm quá lầu,
Thời là bá-tánh đâu đâu thái-bình.

Ông không dứt nhắc đi nhắc lại hiện tượng này cho chúng-sanh để ý:

Chừng nào Bảy Núi thành vàng,
Thì là mới được thanh nhàn tấm thân.


Nhưng điều mà ông Sư-Vãi Bán-Khoai vui mừng là khi thời-kỳ Thượng-Nguơn đã lập, nước Nam sẽ là một nước diễm-phúc nhứt trên quả địa-cầu:

Nước Nam như thể cái lầu,
Ngày sau các nước đâu đâu phục tùng.


   

No comments: