Saturday, June 17, 2017

SƠN TRUNG * NHỮNG KẺ CHẲNG NÊN CÔNG


 NHỮNG KẺ CHẲNG NÊN CÔNG
  SƠN TRUNG  

Dã tràng xe cát biển đông
Nhọc lòng mà chẳng nên công cán gí!


Cộng sản nổi lên, nhiều kẻ chạy theo nhưng rốt cuộc bị cộng sản thủ tiêu hoặc xua đuổi. Những kẻ đó rất nhiều, chúng tôi xin kể một số tiêu biểu.

I. CÁC ĐỒNG CHÍ BAN SƠ

  Ban đầu một số nhà cách mạng quốc gia theo cộng sản vì lúc đó cộng sản chưa lộ bộ mặt gian ác. Hơn nữa, lúc bấy giờ là đệ nhị thế chiến, đồng minh khuyến khich Quốc Cộng đoàn kết. Mỹ viện trợ cho Tưởng Giới Thạch và Mao Trạch Đông. Nhiều yếu nhân cộng sản là đảng viên cao cấp của Trung Hoa Quốc dân đảng. Một số theo Phan Bội Châu chạy theo Lý Thụy.Lý Thụy bán Phan Bội Châu cho Pháp và bán cả các nhà cách mạng khác trong đó có cả đảng viên cộng sản mà Hà Huy Tâp đã tố cáo.


1. LÂM ĐỨC THỤ (1890-1947)

Lâm Đức Thụ tên thật là Nguyễn Công Viễn, còn có biệt danh là Trương Béo hoặc bí danh là Hoàng Chấn Đông, quê ở Thái Bình, con trai cụ tú tài Nguyễn Hữu Đàn và là cháu nội nhà nho yêu nước Nguyễn Mậu Kiến. Lâm Đức Thụ thi đỗ đầu xứ, nên còn gọi là Đầu xứ Viễn. Năm 1912, Lâm Đức Thụ gia nhập Việt Nam Quang phục Hội của cụ Phan Bội Châu.sau theo Lý Thụy (Hồ Chí Minh) ,vâng lệnh Lý Thụy  bán đứng Phan Bội Châu  và một số nhà cách mạng quốc gia   cho thực dân Pháp và cũng là người mai mối Tăng Tuyết Minh cho Nguyễn Ái Quốc ( Hồ Chí Minh) . Do việc chỉ điểm này, y cùng Nguyễn Ái Quốc ( Nguyễn Tất Thành ) sống một cuộc đời đế vương tại Trung Quốc.
 Sau 1945, ông về cùng Hồ Chí Minh,  nhưng Hồ Chí Minh không  dùng  , bảo ông về quê làng Vũ Trung, huyện Kiến Xương tỉnh Thái Bình mà ở. Năm 1947,  ông bị Hồ Chí Minh cho bọn du kich  giết để bịt miệng, và vu cho ông tội chỉ điểm cho Pháp.
Khi  về Việt Nam, thấy Hồ Chí Minh không dùng, đáng lẽ ông  phải cao chạy xa bay. Nhưng quả tội, khi ông về Thái Bình, thế nào họ Hồ cũng  cho công an chìm theo dõi, ông không thoát khỏi bàn tay của Hồ Chí Minh!

Trước và sau 1945, nhiều lãnh tụ cộng sản đã sa lưới Pháp như Trần Phú, Lê Hồng Phong, Nguyễn Thị Minh Khai, Hà Huy Tập, Nguyễn Văn Cừ...đều bị những  "tên phản bội chỉ điểm chỉ điểm cho Pháp". Chỉ điểm là ai?Người ta nghi Hồ Chí Minh vì Hồ là Hồ Tập Chương, phải giữ kín thân phận, phải hạ thủ những  kẻ có khả năng chiếm ngai vàng của ông, và nhất là phải trừ bọn có tinh thần quốc gia it nhiều.

 II.CÁC  VÕ TƯỚNG  VIỆT CỘNG

1. NGUYỄN SƠN(1908–1956) 

  Nguyễn Sơn tên thật là Vũ Nguyên Bác, quê tại làng Kiêu Kỵ, huyện Gia Lâm, Hà Nội. Ông là con của Vũ Trường Xương, một nhà đại tư sản ở Hà Nội , là một trong những người Trung Quốc gốc Việt Nam được phong quân hàm tướng Quân đội Nhân dân Việt Nam đợt đầu tiên vào năm 1948, nhưng ông không chịu nhận sắc lệnh từ chủ tịch Hồ Chí Minh.Ông cũng được Trung Quốc phong quân hàm tướng vào năm 1955 nên còn được gọi là Lưỡng quốc tướng quân (Tướng quân hai nước).
 Năm 1925, ông theo Nguyễn Công Thu đến Quảng Châu. Ông được nhập vào gia đình họ Lý của Lý Thụy (tức Hồ Chí Minh), gồm Lý Tống (Phạm Văn Đồng), Lý Tự Trọng, Lý Quý (Trần Phú), Lý Trí Phương (Nguyễn Thị Minh Khai) và một số người khác. Ông được Hồ Chí Minh đặt tên cho là Lý Anh Tự và được học lớp chính trị khóa hai cùng Phạm Văn Đồng, Hoàng Văn Hoan. Tại đây, Vũ Nguyên Bác gia nhập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Đầu năm 1926, ông được cử đi học Trường Sĩ quan Hoàng Phố cùng với Lê Hồng Phong, Phùng Chí Kiên, Lê Thiết Hùng. Trong thời gian học, ông gia nhập Quốc Dân Đảng Trung Quốc. Ông bỏ khỏi hàng ngũ Quốc Dân Đảng, gia nhập Đảng Cộng sản Trung Quốc vào tháng 8 năm 1927. Tháng 11 năm 1945, ông trở về nước hoạt động theo đề nghị của Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, lấy tên mới là Nguyễn Sơn và giữ nhiều chức vụ quan trọng trong quân đội và chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ông từng làm Chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chính miền Nam Việt Nam (từ tháng 12 năm 1945 đến khi giải thể vào tháng 12 năm 1946), Tư lệnh kiêm Chính ủy hai Liên khu 4 và 5, Hiệu trưởng trường Lục quân Trung học Quảng Ngãi (1946), Cục trưởng Cục Quân huấn Bộ Tổng Tham mưu (1947), Tư lệnh kiêm Chính ủy Liên khu 4 (1948-1949).

Năm 1950, ông trở lại Trung Quốc công tác, làm Phó Cục trưởng Cục Điều lệnh Tổng giám bộ huấn luyện Quân Giải phóng Nhân dân. Được xem là một trong 72 đại công thần Trung Quốc, ngay trong đợt phong quân hàm đầu vào ngày 27 tháng 9 năm 1955, ông được nhà nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa phong quân hàm thiếu tướng. Ông cũng được chính phủ Trung Quốc tặng Huân chương Giải phóng hạng nhất.Năm 1956, do khối u ác tính nằm bên phổi trái, ông biết mình không còn sống được lâu nên xin trở về quê hương. Ông rời Bắc Kinh ngày 27 tháng 9, được Bành Đức Hoài, Diệp Kiếm Anh và nhiều tướng lĩnh, cán bộ cao cấp Trung Quốc ra ga tiễn và về đến Hà Nội ngày 30 tháng 9. Ông mất tại Hà Nội sau đó không lâu. Ông được Nhà nước Việt Nam truy tặng Huân chương Hồ Chí Minh.
Ông cho rằng ông trên tài Võ Nguyên Giáp và tỏ vẻ khinh Võ Nguyên Giáp. Đầu tiên, Hồng Thủy đã gia nhập Hồng quân kháng chiến cách mạng Trung Cộng, nay ông phục vụ trong quân đội Việt Nam đem kinh nghiệm quân đội thiêng liêng dâng hiến cho đảng.  Hồng Thủy được bổ nhiệm làm Tổng thư ký của chiến trường hai của Đảng và đổi thành « Trường Sơn », kinh nghiệm của Hồng Thủy liền xúc tiến Quân đội chiến tranh du kích, vì vậy quân đội thực hiện một loạt chiến thắng, đặc biệt uy tín của Hồng Thủy cao vòi vọi những người lính trong cơ sở Việt Cộng không còn nhớ đến Võ Nguyên Giáp; bởi vì Hồng Thủy tốt nghiệp Học viện Quân sự Hoàng Phố tại Trung Quốc, được huấn luyện chính quy, thực sự cao hơn so với Võ Nguyên Giáp, vì vậy quân binh nhìn Hồng Thủy và Võ Nguyên Giáp khác nhau, cả hai không bao giờ chấp nhận hòa thuận. Trong các cuộc hội nghị,. ông lớn tiếng chỉ trich Võ Nguyên Giáp..Nguyên lúc bấy giờ Võ đại tướng theo Trường Chinh  chủ trương tổng phản công,  bị Nguyễn Sơn chửi thẳng trước mặt  "tình hình thế này mà bảo là tổng phản công thì đ. hiểu biết gì về quân sự cả!".

Trong thời gian Hồng Thủy xung đột với Võ Nguyên Giáp, rõ ràng Hồ Chí Minh hỗ trợ Võ Nguyên Giáp, trong quân đội thân Trung Cộng có Văn Tiến Dũng, Lê Trọng Tấn (Li Zhong Tấn), Lê Đức Anh (黎德英), mọi người cùng thái độ độc đoán sinh ra bất mãn, Hồng Thủy muốn kéo lại những mối quan hệ rất khó khăn.
Năm 1950, Hồng Thủy buộc phải rời khỏi Việt Nam, trở về Trung Quốc, Võ Nguyên Giáp cho đó một điều khá hợp lý, mặc dù Hồng Thủy đã biến mất, nhưng lý thuyết và chiến thuật trong quân đội du kích vẫn được giữ lại.
Năm 1955 Hồng Thủy được phong tặng huân chương anh hùng Giải phóng Quân nhân dân, có xoắn về tâm lý nhưng Hồng Thủy bất cần huân chương. Thủ tướng Chu Ân Lai, lấy tư cách cá nhân của mình can thiệp vào nội vụ Hồng Thủy cuối cùng đã được phân loại là cấp quân đoàn tích cực. Tuy nhiên Hồng Thủy thà ở lại Trung Quốc còn hơn về ở với Việt Cộng.

Hồ Chí  Minh kêu gọi toàn dân đoàn kết, và cộng sản thường nói mâu thuẫn nội bộ là hiện tượng chứ không phải bản chất, nhưng thực tế ở đâu cũng có phe cánh, thù hận. nguyễn sơn thedo cộng sản, chỉ làm tay sai cho Trung cộng nhưng ông chẳng có công trạng gì với Việt cộng và nhân dân Việt Nam.Một đời làm tướng của ông thật uổng phí, chẳng được công trạng gì cho Viêt  Nam. Tuy nhiên, ông rất được sự yêu mến của văn nghệ sĩ liên khu IV, trong đó có Hồ Dzếnh.

2. NGUYỄN BÌNH   (1906 - 1951)
Nguyễn Bìnhlà Trung tướng đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam, lãnh đạo quân dân miền Nam Việt Nam kháng chiến chống Pháp.
Nguyễn Bình tên thật là Nguyễn Phương Thảo, quê ở thôn Yên Phú, xã Tịnh Tiến (nay là xã Giai Phạm), huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên.
Thời trẻ, ông lên Hải Phòng làm thủy thủ trên tàu viễn dương chạy tuyến Việt Nam - Pháp.
Được Trần Huy Liệu vận động, ông gia nhập Việt Nam Quốc dân đảng, phụ trách quân sự. Sau thất bại của khởi nghĩa Yên Bái, lực lượng Việt Nam Quốc dân đảng bị phân hóa. Cả Trần Huy Liệu và Nguyễn Phương Thảo đều bị thực dân Pháp bắt giam và đày đi Côn Đảo. Do tư tưởng thiên tả, 2 người bị nhóm cực hữu trong đảng kết án tử hình nhưng đều may mắn thoát nạn. Riêng Nguyễn Phương Thảo bị đâm mù một mắt.
Năm 1936, ông được trả tự do, về Hải Phòng hoạt động  và xây dựng căn cứ riêng. Cũng trong thời gian này, ông đổi tên thành Nguyễn Bình, với ý nghĩa "Bình thiên hạ", chính thức ly khai Việt Nam Quốc dân đảng. Từ năm 1943, ảnh hưởng của Nguyễn Bình từ Bần Yên Nhân, tỉnh Hưng Yên mở rộng sang vùng Kiến An, Hải Phòng, đến An Lão, Hải An, Thủy Nguyên, tỉnh lị Kiến An và thị xã Đồ Sơn.
Tháng 6 năm 1945, Nguyễn Bình thành lập chiến khu Đông Triều và đảm nhận nhiệm vụ tư lệnh. Khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 nổ ra, ông chỉ huy du kích đánh chiếm tỉnh lỵ Quảng Yên và cướp vũ khí ở một số huyện.
Khi thực dân Pháp đánh chiếm rộng ra toàn Nam Bộ, Nguyễn Bình được Chủ tịch nước Hồ Chí Minh cử vào Nam lo việc chỉnh đốn phong trào kháng chiến và thống nhất các lực lượng vũ trang tại Nam Bộ.  Năm 1946 ông gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam.
Ngày 20 tháng 1 năm 1948, ông được Chính phủ phong quân hàm Trung tướng và cử làm tổng chỉ huy chiến trường Nam Bộ. Cùng đợt có Võ Nguyên Giáp được phong Đại tướng; Nguyễn Sơn, Lê Thiết Hùng, Chu Văn Tấn, Hoàng Sâm, Hoàng Văn Thái, Lê Hiến Mai, Văn Tiến Dũng, Trần Đại Nghĩa, Trần Tử Bình được phong Thiếu tướng. Lễ thụ phong Trung tướng được tổ chức tháng 7 năm 1948 tại làng Nhơn Hòa Lập trên con kênh Dương Văn Dương, Đồng Tháp.
Khi Bộ tư lệnh Nam Bộ được thành lập vào tháng 10 năm 1948, ông làm Tư lệnh. Ông còn là Phó Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Nam Bộ, Ủy viên quân sự Nam Bộ.
Ngày 29 tháng 9 năm 1951, theo yêu cầu của Trung ương, ông lên đường ra Bắc nhận nhiệm vụ mới. trên đường đi, ông bị quân Pháp phục kích và hi sinh tại xã Srê Dốc, huyện Sê San, tỉnh Xtung Treng, trên đất Campuchia. Người chỉ huy lực lượng bảo vệ ông khi ấy là cán bộ cấp tiểu đoàn Nguyễn Văn Sĩ, nay là Thiếu tướng nghỉ hưu tại Thành phố Hồ Chí Minh. Bộ Tổng tư lệnh thông báo tin ông hi sinh ngày 31 tháng 12 năm 1951 (theo bản tin ông sinh năm 1909 tại Bần Yên Nhân, Hưng Yên). Tháng 2 năm 1952, Hồ Chủ tịch ký sắc lệnh 84/SL truy tặng ông Huân chương Quân công hạng nhất. Ông cũng là người đầu tiên trong quân đội được nhận Huân chương cao quý này.
Ngày 29 tháng 2 năm 2000, Bộ Tư lệnh quân khu 7 đã di chuyển hài cốt của ông về an táng tại nghĩa trang thành phố Hồ Chí Minh. Tang lễ được cử hành theo nghi thức long trọng. Ông còn được nhà nước truy tặng Huân chương Hồ Chí Minh và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhândân.
Nguyễn Bình vốn là người Quốc  Dân Đảng và đó là một lý lịch xấu. Những kẻ theo Quốc  Dân Đảng, Tân Việt đảng như Trần Huy Liệu,  Đào Duy Anh,  Đặng Thai Mai, Quang Dũng vì khéo  uốn mình nên đã tồn tại. Những kẻ khác có lực lượng, có tài quân sự thì bị họ  Hồ giết để trừ hậu họa. Ông Hồ theo kế ' mươn dao giết người' đã dùng Pháp giam Phan Bội Châu và giết rất nhiều người đã theo Việt cộng trong đó có lẽ  có   Nguyễn Thị Minh Khai ,Lê Hồng Phong,Trần Phú, Hà Huy Tập Ngô Gia Tự , Lê Thiết Hùng., Phùng Chí Kiên ...Tại sao? Tại vì ông là HồTập Chương, ông không muốn nhiều kẻ biết tông tich ông và tranh ngôi đế vương của ông.  Hơn nữa,  ông Hồ theo sách Lenin  diệt trừ cộng sản Menshevishs và kinh nghiệm  bản thân hồi hai mươi bốn năm về trước, Tưởng Giới Thạch trở tay diệt cộng.

3.NGUYỄN CHÍ THANH  (1914–1967)

Đại tướng Nguyễn Chí Thanh tên thật là Nguyễn Vịnh.Năm 1934, ông tham gia  phong trào Mặt trận Bình dân. Năm 1937, ông gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương, lần lượt giữ các chức vụ: Bí thư chi bộ, Bí thư Tỉnh ủy Thừa Thiên.
Từ năm 1938 đến năm 1943, ông nhiều lần bị Pháp bắt giam ở nhà lao Huế, Lao Bảo, Buôn Ma Thuột. Đến khi Nhật đảo chính Pháp (ngày 9 tháng 3 năm 1945) mới ra tù. Sau khi ra tù và trở lại hoạt động, ông được bầu làm Bí thư Khu ủy khu IV và được cử đi dự Quốc dân Đại hội ở Tân Trào (8-1945). Trong Đại hội Đảng ở Tân Trào, ông được đặt bí danh là Nguyễn Chí Thanh, được bầu vào Ban chấp hành Trung ương Đảng và được chỉ định làm Bí thư Xứ ủy Trung Kỳ có nhiệm vụ theo dõi và tổ chức giành chính quyền tại Trung Kỳ trong Cách mạng tháng 8.
Từ năm 1948 đến 1950, ông làm Bí thư Liên khu ủy IV.
Cuối năm 1950, bổ nhiệm giữ chức Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam. Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II (1951), được cử vào Bộ Chính trị.
Năm 1959, ông được phong quân hàm Đại tướng.

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (1960), Nguyễn Chí Thanh tiếp tục được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương, được cử vào Bộ Chính trị và Ban Bí thư. Năm 1961, được giao nhiệm vụ Phụ trách Ban Nông nghiệp của Đảng. Trong Chiến tranh Việt Nam, Ban Chấp hành Trung ương Đảng điều ông trở lại quân đội. Nguyễn Chí Thanh còn là Ủy viên Hội đồng Quốc phòng nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Năm 1961, ông liên tục phát động các phong trào thi đua trong các hợp tác xã, giúp ổn định tình hình phát triển trong hoạt động sản xuất nông nghiệp miền Bắc.
Vì ông phụ trách ban nông nghiệp nên được dân chúng ca;
Hoan hô anh  Nguyễn Chí Thanh,
Anh về phân bắc, phân xanh đầy đồng.
Dân ta thâm thật. Qua câu trên, dân ta muốn nói thành quả của Nguyễn Chí Thanh chỉ là những đống phân!

Người ta nói;'Xấu hay làm tốt, dốt hay nói chữ''là đúng vào trường hợp Nguyễn Chí Thanh. Ông là nông dân  nhưng thường chứng tỏ trình độ cao  triết học Mac  Lê, và chứng tỏ văn võ toàn tài. Ông cùng Trần Độ, Tố Hữu  đã liên thủ hạ Nhân Văn Giai Phẩm.
Từ năm 1965 đến năm 1967, ông được phân công vào Nam, giữ chức Bí thư Trung ương Cục miền Nam, kiêm Chính ủy Quân Giải phóng miền Nam. Thời gian này ông lấy bí danh là Sáu Vi. Khi viết báo, ông thường lấy bút danh là Trường Sơn.

Ông mất ngày 6 tháng 7 năm 1967 tại Hà Nội do một cơn nhồi máu cơ tim khi ra Hà Nội để báo cáo với Chủ tịch Hồ Chí Minh về tình hình miền Nam.
Việt cộng tô vẽ chân dung Nguyễn Chí Thanh thành kẻ anh hùng. Theo Vũ Thư Hiên, Viên tướng nông dân, theo lời truyền tụng của những người ngợi ca Ðảng, xuất thân tá điền, trưởng thành trong nhà tù, là xứ ủy viên Trung kỳ vào thời kỳ bí mật, chủ nhiệm Việt Minh Trung bộ những năm tiền khởi nghĩa, đến năm 1948 đã là Chủ nhiệm Tổng cục chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam. Theo lời người khác, đáng tin hơn, thì Nguyễn Chí Thanh chẳng hề làm tá điền, cũng không phải thành phần cố nông, mà là một “tay chơi” vùng Phong Ðiền, Thừa Thiên. “Tay chơi” theo cách nói dân dã thời trước Cách mạng Tháng Tám là ăn cướp, nhưng là dạng ăn cướp nghiệp dư, thỉnh thoảng mới họp nhau lại đi kiếm chác rồi giải tán, ai về nhà nấy. (DGBN. Chương 19)


 Nguyễn Văn Trấn kể lời Bùi Công Trừng

Tao nói cho mầy nghe nha, Bùi công Trừng nói tiếp, về chuyện lão Hồ chí Minh. Tao nghe, thằng Thọ âm mưu lật đổ ông già, và lấy Nguyễn chí Thanh thay. Ông lão chỉ còn làm người chuyên nghiên cứu lý luận Mác- Lê nin. Chuyện nước giao cho Nguyễn chí Thanh. Việc Ðảng, Statuquo - Lê Duẩn. Cái thằng tự nhiên lại muốn làm Khổng Tử này, khó lật đổ nó lắm. Vì nó có công trạng ở Nam Bộ, và mấy bà má ôm nó chum chủm trong lòng. (Viết cho mẹ & Quốc Hội" , trang 327, 328, 329)

Theo Trần Đĩnh, Tháng 6-1967, Mao hạ Lưu Thiếu Kỳ, Đặng Tiểu Bình, gần hết Bộ chính trị cùng 11 vị nguyên soái rồi thì ở Hà Nội, tối 6 tháng 7, thình lình sau bữa cơm Giáp mời Thanh ăn trước hôm Thanh đáp máy bay qua Campuchia về Rờ, Thanh đột tử. Nhưng theo con gái Nguyễn Chí Thanh,
 Nguyễn thị Thanh Hà trong bài ' Kỷ niệm về cha tôi'  viết rằng cha ông vào thăm ông  Hồ và bị giết sau bữa cơm với bác yêu quáí  (Báo Thanh niên. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 7 năm 2007. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2010). Ông Hồ giết hay ai giết Thanh tại dinh ông Hồ?
Theo Hoàng  Văn   Hoan  [Giot  Nươc  Trong  Biển  Cả ), chính Lê Duẩn hạ thủ Nguyễn Chí Thanh.
Đầy tớ trung thành , công lao lớn  thế sao bị  chủ nhân  hạ thủ?
Ngoài Nguyễn Chí Thanh, trong vụ xét lại hiện đại, một số tướng lãnh Việt Cộng bị chủ nhân giết:Cái đám tướng tá Việt cộng bị đảng thủ tiêu thì nhiều lắm. Nào Chu Văn Tấn(1909-1984) ,  Đặng Kim Giang (1910-1983), Hoàng Văn Thái (1915-1986),  Lê Trọng Tấn (1914-1986 ).


III. VÀ VỤ ÁN XÉT LẠI HIỆN ĐẠI

1. VŨ ĐỈNH HUỲNH 

Theo Vũ Thư Hiên, vào tháng 11.1991 thì từ đầu những năm 60 Ðảng đã phát hiện một nhóm chống Ðảng mà hạt nhân gồm ba người: Ðặng Kim Giang, Vũ Ðình Huỳnh, Hoàng Minh Chính; rằng nhóm này từ tháng 9 năm 1963 đã chủ trương phá hoại Hội nghị Trung ương lần thứ 9, âm mưu truất bỏ Trung ương nhằm lập ra một Trung ương mới…Vì vụ án 'X ét lại hiện đại, mộ số nhân vật bị ngồi tù như Vũ Ðình Huỳnh  và con ông, Vũ Thư Hiên bị giam.
Trong Đêm Giữa Ban Ngày ,Vũ Thư Hiên tự hào thành tich ' cách mạng' của cha mẹ ông đã làm nô lệ cho HồChí Minh, Nguyễn Lương Bằng ,Trường Chinh, ,Phạm Văn Đồng ...nhưng khi ông bị nạn thì cả bọn làm lơ.
Trần Đức  Thảo từ đầu đã nhìn thấy rõ mối quan hệ giữa ông Hồ và Vũ Ðình Huỳnh: ông Hồ không coi Vũ Ðình Huỳnh là đồng chí.  ... nghĩa là không phải người của cách mạng, nên sẽ có ngày bị hất xuống vực thẳm một cách không thương tiếc. Và sau này thì sự việc đã xảy ra đúng như vậy. Phải chi được “ông cụ” coi như con cháu, như gia nhân trong nhà thì tương li, hậu vận mới khá được.(Tri Vũ. Ch.XII). Có lẽ ông coi ông bà Vũ Đình Huỳnh  cũng như bà NguyễnThịNăm chỉ là những kẻ dại khờ   cho ông lợi dụng. Ông Hồ đến nhà Vũ Đình Huỳnh không phải vì thân thiết mà có lẽ vì muốn điều tra một việc gì đó ở Vũ Đình Huỳnh.

Ông Hồ coi ông bà Vũ Đình Huỳnh chỉ là hạng tôi tớ của ông, một thứ tôi tớ hạng bét, không có công lao, nếu có công lao thì đã được thăng Thứ trưởng, hoặc tướng tá như bao kẻ ngu hèn khác đã được ông Hồ cất nhắc. Vũ Thư Hiên có lý lịch khá, thành tich xuất sắc, 15 tuổi đã đi bộ đội, thế sao không vào đảng? Có đúng là không vào đảng không? Tại sao ông Hồ không cho Vũ Thư Hiên đi học  bác sĩ, kỹ sư mà lại học cái nghề vô tich sự? Nên nhớ, buổi đầu việc tuyển lựa sinh viên vào các ngành nghề là do đảng, sau này sinh viên mới được chon ngành nghề. Và ngành nghề đã có bậc thang giá trị:
Nhất Y ,nhì Dược,
Bách Khoa tạm được,
Sư Phạm bỏ qua...
Không ai nghĩ đến cái ngành điện ảnh của Vũ Thư Hiên!
Không lẽ Vũ Thư Hiên dốt?  Y công làm bác sĩ còn được kia mà! Nghe nói những tay đi học Nga như  Nông Đưc Mạnh, Trọng Lú...đều nổi danh  ngu, việc chi mà kiêng Vũ Thư Hiên?
 
Sự kiện này cho tháy bố mẹ Vũ Thư Hiên chỉ phí công vô ich khi hầu hạ bọn cộng sản gộc!

Trong vu này ,ta thấy  vô số những con Dã Tràng xe cát biển đông:
Viện trưởng Viện Triết học Mác-Lênin Hoàng Minh Chính (bị bắt ngày 27-7-1967); Vụ trưởng Lễ tân Bộ Ngoại giao Vũ Đình Huỳnh (bị bắt ngày 18-10-1967) Cục trưởng Cục 2 (Cục Tình báo quân đội) đại tá Lê Trọng Nghĩa Chánh Văn phòng Bộ Quốc phòng Đại tá Lê Minh Nghĩa; Cục trưởng Cục Tác chiến Đại tá Đỗ Đức Kiên; Tổng Biên tập báo Quân đội Nhân dân Hoàng Thế Dũng; phó giám đốc nhà xuất bản Sự thật, nguyên Tỉnh ủy viên tỉnh ủy Quảng Bình Nguyễn Kiến Giang; Giám đốc nhà xuất bản Sự thật Minh Tranh; Phó bí thư thành ủy Hà Nội kiêm Phó chủ tịch Ủy ban Hành chính TP Hà Nội Trần Minh Việt; phó tổng biên tập báo Hà Nội Mới Phạm Hữu Viết; phó tổng biên tập tạp chí Học Tập Phạm Kỳ Vân; Tổng thư ký toà báo Quân đội Nhân dân Trần Thư; nhà báo Vũ Thư Hiên, nhà văn Bùi Ngọc Tấn...


Những nhân vật không bị bắt nhưng bị khai trừ đảng: Ngoại trưởng Ung Văn Khiêm, Thứ trưởng Bộ Văn hóa Lê Liêm; thiếu tướng Đặng Kim Giang (Theo Vũ Thư Hiên, ông này cũng bị bắt giam ở Hoả lò); Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Nguyễn Văn Vịnh; phó chủ nhiệm Ủy ban Khoa học nhà nước Bùi Công Trừng.Ngoại trưởng Ung Văn Khiêm bị quy trách nhiệm về bản tuyên bố chung "thân Liên Xô" trong chuyến thăm Việt Nam vào tháng 1 năm 1963 của Chủ tịch Tiệp Khắc Novotny và bị thay thế bởi Xuân Thủy.

Những nhân vật xin tị nạn tại Liên Xô: có khoảng 40 người lúc đó đang đi học hay đi công tác ở Liên Xô đã xin ở lại như Phó chủ tịch Ủy ban Hành chính Hà Nội Nguyễn Minh Cần; Chính uỷ sư đoàn 308, Phó chính uỷ Quân khu khu III đại tá Lê Vinh Quốc; nguyên Tổng biên tập Báo Quân đội Nhân dân thượng tá Ðỗ Văn Doãn.

Ở cương vị Viện trưởng Viện Triết học, Hiệu phó trường đảng Nguyễn Ái Quốc, một trong những lý thuyết gia của đảng, ông Hoàng Minh Chính được Trường Chinh giao nhiệm vụ soạn thảo bản Báo cáo chính trị của Hội nghị TW9. Bản báo cáo ông Hoàng Minh Chính bị bác bỏ, nhưng ông đã tự ý phân phát bài viết mang tựa đề "Về chủ nghĩa giáo điều ở Việt Nam" cho một số đại biểu tham dự hội nghị. Một số các đại biểu đã hưởng ứng lập trường này như Bùi Công Trừng, Lê Liêm, Ung Văn Khiêm. Chính vì thế ông Hoàng Minh Chính bị coi là người đứng đầu nhóm Xét lại Chống Đảng
 
IV. TRÍ THƯC ĐỎ

1. Dương Bạch Mai (1904-1964) sinh h ở Phước Lễ, tỉnh Bà Rịa, trong một gia đình điền chủ giàu có. Ông có quan hệ họ hàng với tướng Nguyễn Văn Xuân, một trong những sĩ quan cao cấp người Việt trong chính quyền thuộc địa Pháp.[1]
Thuở nhỏ, ông học ở quê nhà. Sau đó ông lên Sài Gòn học trung học, và sang Pháp du học tại Đại học Paris (Université de Paris).
Thời gian học ở Paris, khoảng năm 1927, ông tham gia An Nam Độc lập Đảng, một đảng dân tộc theo khuynh hướng xã hội, do một số nhà yêu nước Việt Nam sáng lập tại Pháp. Bấy giờ, đảng An Nam Độc lập được Đảng Cộng sản Pháp giúp đỡ đào tạo cán bộ, nên một thời gian sau, ông gia nhập Đảng Cộng sản Pháp, cùng hoạt động với Nguyễn Văn Tạo.
Năm 1932, ông về nước, sống công khai và hoạt động tại Sài Gòn. Thời gian này, ông cộng tác với các báo La Cloche fêlée, La Lutte, Mai, Dân quyền với Nguyễn Văn Tạo, Nguyễn An Ninh, Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm...
Đến năm 1938, chính phủ Mặt trận Bình dân đổ. Chính quyền thuộc địa đàn áp các phong trào dân chủ tại Nam Kỳ. Ông và các đồng viện khác bị bắt đưa ra tòa, rồi bị cưỡng bức lưu trú ở Cần Thơ. Một thời gian sau, ông được trả tự do.
Năm 1939, nhân Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, chính quyền thực dân Pháp ban bố tình trạng chiến tranh, bắt ông và đày đi Côn Đảo với Bùi Văn Thủ, Nguyễn Văn Tạo, Lê Hồng Phong, Lê Duẩn, Nguyễn An Ninh...
Năm 1940, Khởi nghĩa Nam Kỳ nổ ra. Các nhà lãnh đạo của Xứ ủy Nam Kỳ khi đó đã từng dự tính nếu khởi nghĩa thành công sẽ đưa ông về làm Thủ tướng Chính phủ lâm thời.[2]
Đến năm 1943, ông mới được trả tự do, nhưng vẫn bị quản thúc tại Tân Uyên (Biên Hòa). Tuy nhiên, thỉnh thoảng ông vẫn được chính quyền thực dân cho phép về thăm nhà ở Bà Rịa.[2]
Sau khi Lâm ủy Hành chính Nam Bộ được thành lập, ông được bầu giữ chức Ủy viên trưởng Quốc gia tự vệ cuộc, phụ trách cảnh sát.
Sau khi quân Pháp tái chiếm Nam Bộ, ông được cử làm Thanh tra Chính trị miền Đông trong Lâm ủy Hành chính Nam Bộ. Đầu năm 1946, ông được bầu làm đại biểu Quốc hội khóa I nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ngày 4 tháng 3 năm 1946, ông được bầu làm Ủy viên chính thức của Ban Thường trực Quốc hội.[4]
Sau năm 1954, ông cùng chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa về Hà Nội. Ông tiếp tục công tác trong Quốc hội, giữ chức Phó chủ tịch Hội hữu nghị Việt Xô, thành viên Hội hữu nghị Việt Pháp, Ủy viên Ban Việt kiều Trung ương[6]. Năm 1960, ông là một trong 91 đại biểu Nam Bộ được lưu nhiệm đại biểu Quốc hội Việt Nam Khóa II, tiếp tục giữ chức Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội.[7]
Ngày 4 tháng 4 năm 1964, ông bất ngờ đột tử ngay trong ngày họp cuối cùng của kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa II.
Đám tang của ông được chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tổ chức rất lớn, có Chủ tịch Hồ Chí Minh tới viếng.
Cái chết của ông  do nhiều nguyên nhân. Ông nổi tiếng quá. Dương Bạch Mai tâm sự với Vũ Thư Hiên rằngHồ Chí Minh, Trường Chinh, Lê Duẩn đều không ưa ông. (Ch.V, tr.246)

Nguyên nhân chính là ông theo Nga chống Trung Cộng.
Từ khi có cuộc đấu tranh giữa hai đường lối, ông chống lại việc đưa nước Việt Nam vào quỹ đạo chủ nghĩa Mao. Ông gọi chủ nghĩa Mao là món tạp pí lù(8) của thổ phỉ. Giữa lúc ngành tuyên truyền Việt Nam đưa Mao Trạch-đông lên hàng thánh sống thì ông ngang nhiên gọi Mao là tên đao phủ của đại pháp trường Trung Quốc. Ông giải thích tình hình loạn lạc hiện tại ở nước láng giềng bằng lập luận rằng vào đầu thập niên 30 giai cấp công nhân Trung Quốc chủ yếu tập trung ở các thành phố duyên hải, trong cuộc chiến tranh Quốc-Cộng những đại biểu ưu tú của giai cấp này đã chết dần chết mòn trong Vạn lý trường chinh, và thay vào chỗ của họ là bọn cường đạo thảo khấu thu nạp ở dọc đường. Cho nên khi biên khu Thẩm-Cam-Ninh, Tân-Ký-Sát hình thành thì về thực chất Ðảng cộng sản Trung Quốc đã là một đảng thổ phỉ, đứng đầu là thành phần vô sản lưu manh. Những người cộng sản bị Mao Trạch-đông và Khang Sinh thủ tiêu dần. Người còn sống sót thì bị ám hại trong những "cuộc vận động cách mạng" thường trực. Chính cái đó dẫn tới tình trạng bất ổn liên miên trong nước Trung Hoa xã hội chủ nghĩa.(Ch.V, tr.247)

Tuân Nguyễn bị bắt vì bài thơ Trái Tim Hồng Ngọc. Nó được làm nhân đám tang ông Dương Bạch Mai (Ch.X)
Dương Bạch Mai theo cộng sản nhưng phe Trung Cộng trừ khử ông, phủ nhận ông.  Ông theo cộng sản cuối cùng chết về tay cộng sản. Công lao ông thành công cốc.



2. TRẦN ĐỨC THẢO( 1917 - 1993)

Tuổi trẻ Trần Đức Thảo tràn đầy tự hào. Ông tự hào về sự học giỏi và nổi tiếng của ông mà Paris chính là môi trường phát triển tài năng và sự tự hào của ông.Trường Cao đẳng Sư Phạm phố Ulm là môi trường phát triển khối tự hào vĩ đại trong lòng ông. Quả thật trường Cao Đẳng Sư Phạm phố Ulm được nổi tiếng vì nơi đây toàn sinh viên ưu tú! Ông tự hào về trường Cao Đẳng Sư Phạm của ông: "Nhưng khi sang tới Paris, tôi nhất định chọn học triết, mà phải là ban triết của trường Cao đẳng Sư phạm phố Ulm, là ngôi trường danh tiếng bậc nhất của nước Pháp. Tôi đã phải theo học hai lớp dự bị rất vất vả mới thi được vào trường ấy. Sự chọn lựa học triết lúc đó chỉ là do tính kiêu ngạo, bồng bột của tuổi trẻ, muốn được mọi người nể phục, muốn chứng tỏ mình là người có đủ sức mạnh trí óc để học triết.(Ch.3)

Ông không học đại học, chỉ là Cao đẳng, chưa là tiến sĩ, chỉ là thạc sĩ, cái bằng cấp để dạy trung học nhưng cái danh thơm triết gia về một vài tác phẩm triết học cũng đủ làm cho ông bay lên chín tầng mây. Những người cộng sản hầu hết mắc bệnh kiêu ngạo cộng sản. Trần Đức Thảo cũng có cái tự cao, tự đại đó, cái tự hào đã nắm hết chủ nghĩa Marx, nghĩa là sẽ làm cho thế giới đi đến đại đồng, xóa sạch bất công, chấm dứt bóc lột và chiến tranh! Ông tin ở Pháp ông đã học hết tài nghệ của Marx, ông sẽ xuống núi phất cao cờ hồng đại thắng!

Ông nghĩ rằng ông phải về Việt Nam để thực hành chủ nghĩa Marx. Liên Xô, Trung Quốc, Việt Nam làm sai vì họ không đọc Marx, không hiểu Marx, còn ông đọc Marx cả triệu lần, đã thuộc lòng Marx từng câu, từng chữ. Khi đã hiểu đúng tất làm đúng! Ông thấy người ta nói Lenin, Stalin, Mao làm sai, ông phải trở về để "trải nghiệm".

Ông đã hơn 20 lần nhắc đi nhắc lại từ "trải nghiệm".
......
Điều quan trọng là sự trở về xứ sở đã giúp tôi trải nghiệm một thực tại...(Ch2). Sống và tư duy như thế là biết trải nghiệm… Trải nghiệm là biết quan sát cái đang biến hoá, cái đang trở thành cái đã cũ, xuất phát từ những di sản mang tính cổ hủ của dĩ vãng…(Ch.4).

Nói "trải nghiệm" là nói không thật. Sự thực ông về Việt Nam là do tham sân si và vụng tính. Chính ông thú nhận:" Hồi ấy, tôi đã trở về xứ sở với một đầu óc hăng hái, đầy lạc quan tin tưởng của tuổi trẻ. Cứ nghĩ thể nào cụ Hồ cũng phải ngạc nhiên về những hiểu biết của tôi. Bởi tôi đã có những nghiên cứu sâu rộng về cuộc cách mạng tháng mười ở Nga, mặt khác, tới đã có một vốn hiểu biết vững chắc về tư tưởng của Karl Marx. Với lòng hiếu thắng bồng bột, ngông cuồng đến mức cuồng tín, tôi tin rằng với những nghiên cứu và kiến thức mà tôi đã đạt được, tôi tự thấy mình như là hiện thân của ý thức hệ mác-xít, để có thể trở về làm nhiệm vụ như một trong những lý thuyết gia bên cạnh ông cụ. Để tôi góp sức xây dựng ở quê hương một mô hình cách mạng mà loài người mong đợi!


Ông không hiểu tâm lý người đời. Ông Hồ học chưa xong tiểu học làm sao có thể dùng một trí thức nổi danh như ông. Ông nổi danh là một triết gia Marxist sắc sảo, tài ba, lại là " đại biểu Việt kiều", còn ông Hồ lúc đó vô danh, ông Hồ rước ông về cho ông ngồi trên đầu ông ta ư? Khoảng 1930, ông Hồ khốn đốn vì bọn Trần Phú, Hà Huy Tập, Nguyễn văn Cừ tố cáo ông mang đầu óc dân tộc và bắt tay với thực dân Pháp bán các đồng chí cộng sản. Ông bị Stalin triệu về giam cầm điều tra... Sau đó ông là Hồ Tập Chương đóng vai Hồ Chí Minh, ông lại càng kị bọn xoi mói lai lịch và hành tung của ông. Trần Đức Thảo nhảy về Việt Nam là một hành động khờ dại và nguy hiểm. Khờ dại vì ở đời người ta mời ăn cỗ thì mình mới xách ô đến, không mời mà vác mặt đến thì người ta đuổi ra tổ cho xấu hổ cái mặt lỳ! Cô gái nào cũng nên làm cao một chút, đừng quá dễ dãi.
Dễ dãi là mất giá ngay. Ông Hồ không mời mà ông Trần chạy đến bắt tay làm quen, rồi lại ăn nói ngông nghênh:" Tôi nhớ rất rõ hôm ấy là ngày mùng 5 tháng sáu, năm 1946. Lúc đó, trùng buổi chiêu đãi “phái bộ cụ Hồ” vừa tới Paris để lo việc điều đình với Pháp, vì sự bồng bột của tuổi trẻ, nên tôi hồn nhiên vui mừng, thân mật, vồn vã chạy tới nắm chặt tay “ông cụ” một cách nồng nhiệt và nói: “Tôi rất hân hạnh được gặp cụ chủ tịch!” Cụ Hồ cũng vui vẻ đáp: “Chào chủ Thảo!” Nghe vậy, tôi rất cảm động, nghĩ rằng Hồ chủ tịch đã thân mật coi mình như đứa em trong gia đình… Cuối bữa ăn, Hồ chủ tịch kêu gọi anh em Việt kiều về nước tham gia kháng chiến, thì tôi hăng hái, xin được trở về ngay để được phục vụ cách mạng và quê hương.> Tôi còn tỏ ra là mình hơn hẳn các anh em Việt kiều khác khi khoe rằng “tôi cũng đã bỏ công nghiên cứu về tư tưởng Karl Marx và về cuộc Cách mạng tháng Mười ở Nga… Tôi rất mong ước được về nước cùng cụ xây dụng thành công một mô hình cách mạng tốt đẹp… tại quê hương ta”! Ông cụ lúc ấy chỉ mỉm cười nhạt, nhưng nét mặt thì vẫn lạnh lùng khi nhìn tôi. Tới lúc Hồ chủ tịch lần lượt bắt tay từ biệt mọi người. Khi bắt tay tôi thì “ông cụ” nói với tôi một cách nghiêm nghị:


- Còn chú Thảo này thì cách mạng chưa cần tới chú lúc này đâu. Chú cứ ở lại Paris thì có lợi cho cách mạng và cho chú hơn. (Ch.12)

Trong khi đó, ông Hồ mời bốn khoa học gia về nước.

Bác Thảo cho biết bốn Việt kiều cùng về với Chủ tịch Hồ Chí Minh ngay chuyến ấy là ba kỹ sư: Phạm Quang Lễ, Võ Quý Huân, Võ Đình Quỳnh, và bác sĩ Trần Hữu Tước. Phạm Quang Lễ là kỹ sư cơ khí hàng không, nhưng có nhiều kiến thức về vũ khí nên đã được tin dùng đặc biệt. Và đã được “cụ Hồ” đặt cho một tên mới là Trần Đại Nghĩa, rồi sau được phong quân hàm thiếu tướng, trông nom quân xưởng đầu tiên của chiến khu, rồi sau được ca ngợi như là người đã sáng chế ra loại súng chống tăng, mang tên SKZ (Súng Không Zật). Nhưng bác Thảo cũng chế giễu khéo:

- Thứ súng ấy sau chỉ thấy trong ảnh, chứ không thường thấy trên các trận địa. Vinh quang là như thế. Sự thật là như thế (Ch.12)


Ông Hồ mời các ông này dù là trí thức nhưng cũng thuộc loại trí ngủ, chẳng biết gì về chính trị, đem về làm tay sai thì được. Hơn nữa cũng cần khoa học gia, còn cái thứ triết già ưa lý luận ngốc nghếch, không xài được. Việc này làm cho ông Trần nổi tự ái.Ông càng tức giận cố vật vã mà về cho được! Sao ông háo thắng kiêu căng và khờ dại như thế! Như vậy là ông Hồ " kị" ông rồi. Nếu lúc đó ông Trần nói

" Trăm ngàn lạy cụ, xin cụ cho con về xách dép cho cụ" may ra ông Hồ chấp thuận. Thế nhưng ông lại đòi về lãnh đạo chung với ông Hồ! Tôi nghĩ rằng nghe nói vậy, trong bụng ông Hồ giận lắm. Ông chửi thầm:" Thằng nhóc! Mày là cái thá gì mà đòi làm vua với tao! Ăn mày mà đòi ăn xôi gấc!" Ông Hồ có chân tay tại Pháp, họ đã báo cáo cho ông đầy đủ về Trần Đức Thảo. Hạng người như ông Trần, ông Hồ không thể xài và cho ở gần. Thế mà ông Trần lại chạy chọt cho được về Việt Nam. Quả là "cố đấm ăn xôi"!

Ông Thảo nói ra sự thật về ông: Sự thật là việc tôi về là do sự vận động của tôi với sự trợ giúp của đảng cộng sản Pháp. Và qua đảng cộng sản Pháp thì có cả sự giúp đỡ của phía lãnh đạo Liên Xô nữa. Bởi lúc ấy, cả đảng cộng sản Pháp, cũng như phía Liên Xô, đều muốn đưa tôi về với hi vọng có thể có cơ hội góp ý với cách mạng Việt Nam.(Ch.12)


Hành động này làm cho ông Hồ ghét ông và nghi ngờ ông là tay sai của cộng sản Pháp và cộng sản Liên Xô đặt ông bên cạnh ông Hồ để theo dõi, báo cáo và có thể chuẩn bị thay thế ông! Ai cũng thấy thế huống hồ ông Hồ và bọn Trường Chinh. Nếu ông Thảo lên lãnh đạo thì bọn họ phải cuốn gói. "Tôi đã kể lại lần gặp gỡ này cho một người bạn mới quen ở ATK, tên là Đa, một trí thức có vẻ cởi mở hiếm thấy. Nghe kể xong, Đa lè lưỡi, lắc đầu, khoát tay tỏ vè lo sợ đến lớn tiếng:


- Thế thì chết! Chết thật đấy! Tôi không doạ anh đâu. Anh khôn hồn thì tìm cách lặn cho sâu, tránh cho xa lãnh tụ đi! Không nên nán lại ở ATK này nữa. Phải xin đổi công tác đi. Nói câu ấy ra là “Người” đã khai trừ anh rồi đấy. Tỏ thái độ ngang hàng như thế là anh đã tự tuyên án tử hình cho chính mình rồi đấy!(Ch.12)

Ông biết thân ông đã lọt hang hùm, ổ rắn khi vừa về Việt Bắc.

Bởi ngay từ khi vừa đặt chân trở lại quê hương, tôi đã bị nghi ngờ là một “kẻ có vấn đề”(Ch11). Cho tới khi bị coi như là một kẻ phản động, bị nghi là “kẻ do địch cài vào hàng ngũ cách mạng” thì từ đó tôi mới nhận ra sự bế tắc ấy là do ý thức, do thái độ cảnh giác, do chính sách thù hận mù quáng của quyền lực chuyên chính.(Ch.12).

Sau này Trần Đức Thảo mới thấy mình ngu' . Ông tâm sự:"


Nay nghĩ lại lúc gặp “Người” lần đầu tiên, mà tôi thấy lúc ấy mình ngốc quá. Bạch diện thư sinh mà dám tỏ ra là tay ngang với lãnh tụ! Vì trong đầu “ông cụ” đầy ắp cuồng vọng quyền lực tối cao. Anh phải biết là cho tới nay, những ai đã từng coi thường “Người”, từng tỏ ra ngang hàng với “Người”, thì sau đều đã vinh viễn bị loại trừ ra khỏi tầm mắt của “Người”. Không ít người đã mất mạng, mất cả xác vì dám có ứng xử tay ngang như thế đấy.


- Tôi không hiểu nổi tại sao lại có thể tàn nhẫn khủng khiếp đến thế?

- Vì vậy mà phải biết giải mã lãnh tụ. Phải hiểu rằng “ông cụ” có tâm thức mình là bên trên tất cả, là một bậc kỳ lão gia trưởng, luôn luôn toả sùng bái một thứ hào quang thần thoại đúng với truyền thuyết lịch sử “con rồng, cháu tiên”… Và đám quần thần chung quanh “ông cụ” không tha thứ cho một ai dám tỏ mình là ngạng hàng với “Người”. Từ những tay trí thức nổi tiếng tâm huyết như Nguyễn An Ninh, Phan Văn Hùm… cho tới kẻ được đào tạo chính quy như Trần Văn Giàu, và biết bao nhiêu trí thức có uy tín khác nữa… đều là những nạn nhân của thái độ ngang hàng như thế (Ch.12).

Cuộc chiến tranh ý thức hệ đã bùng nổ trong gia đình ông. Bố mẹ ông phản đối việc ông về làm tay sai cho Việt Cộng. Ông nói với bố mẹ ông: Con về hợp tác với thứ cách mạng này là với hoài bão sẽ có ngày thay đổi, cải thiện được nó, sẽ có ngày tìm ra cách uốn nắn lại được nó, để nó trở thành thứ cách mạng của con, tức là thứ cách mạng mà mọi người mong đợi!

- Nghe mày nói tao thấy mày khừng, mày điên rồi! Rõ ràng là mày học nhiều quá nên trở đã thành kẻ không tưởng, kẻ sống trong mộng ảo! Mày tưởng một mình mày về đây là sẽ cải đổi, cải thiện được cái thứ cách mạng tàn nhẫn này, cái thứ cộng sản thô lỗ, trói buộc con người như thế này à? Tao nói thật cho mày biết sự thất vọng của tao khi tao nghe tin mày đã về với cách mạng, với cộng sản! Về như vậy là mày tự giết mày rồi! Mà cũng là giết cả mẹ mày và tao nữa! Thảo ơi! Phải chi mà mày học được cái nghề gì như thợ nề, thợ máy, thợ mộc gì… thì đỡ khổ cho tao biết mấy! Phải chi mày cứ ở bên Pháp làm việc, mỗi tháng gửi về cho tao vài chục đồng Francs thì cũng đủ cho tao vui sống cảnh già! (Ch.8)
 Năm 1951, tác phẩm Phenomenology and Dialectical Materialism ra đời, và cùng lúc này, ông về Việt Nam phục vụ Cộng sản Việt Nam. 
Dẫu sao, việc trở về Việt Nam của ông giúp cho nhân dân ta có một nhân chứng Trần Đức Thảo. Việc đầu tiên là ông đươc tham dự  cuộc CCRD ở Chiêm Hóa (Tuyên Quang).

 Mặc cảm đồng lõa với tội ác hành hạ Trần Đức Thảo, gay gắt, quay cuồng chất vấn, đòi ông “phải tỏ thái độ, phải có lập trường rõ rệt; không thể im lặng a dua đồng loã một cách mù quáng”[26]. Từ giờ phút ấy, Trần Đức Thảo “ý thức rất rõ rằng, lúc này, ở nơi đây, mình sẽ không có một cơ hội nào để góp một chút gì tốt đẹp cho cách mạng”[Tri Vũ.tr. 156].

Sau đó là những chuỗi ngày bị Cộng đảng lạnh nhạt rồi trừng phạt ông.
Ông dạy Triết nhưng không được dạy Triết Học Marx, chỉ dạy những đề tài triết vớ vẫn.
Năm 1956, ông làm Chủ nhiệm ban Sử học trường Đại Học Văn Khoa, sau thành Đại Học Tổng Hợp Hà Nội, và làm công việc dịch thuật các bài của Trường Chinh ra tiếng Pháp. 


 Ông được gặp Hồ Chí Minh và trình bày vấn đề chiến tranh nhưng bị họ Hồ lạnh nhạt. Ông được họ Hồ khuyên "nên học tập nhân dân", nghĩa là ông  chỉ là "cục phân", "phải học tập nhân dân".
Ông kết luận về một đời theo Marx, theo Hồ của ông chỉ là đi theo đuôi, uổng phí thời giờ, chứ chẳng làm được một việc gì có ích cho dân, cho nước cả!(Ch.9). Ông cảm thấy ông là thẳng ngớ ngẩn… ngu si, đần độn quá (Ch.13), là bù nhìn đứng giữa ruộng dưa”. (IV. 88)

Cùng lúc này, ông tham gia Nhân Văn Giai Phẩm, và bị sa thải năm1958, và bị lao động cải tạo cho đến 1960. Sau đó ông bị tuyệt thông như bao văn nghệ sĩ trong Nhân Văn Giai Phẩm. Con ông chết, vợ ông ôm cầm sang thuyền khác. Ông rất tây, xách va li cho vợ đưa vợ về nhà viện sĩ Nguyễn Khắc Viện. Chuyện vợ chồng bỏ nhau là chuyện thường thế gian, nhưng trong xã hội cộng sản, mang một ý nghĩa khác. Muốn tồn tại, con phải đấu cha, vợ phải tố chồng, hoặc bỏ chồng, bỏ người yêu. 
Dẫu sao, việc trở về Việt Nam của ông giúp cho nhân dân ta có một nhân chứng Trần Đức Thảo. Việc đầu tiên là ông đươc tham dự  cuộc CCRD ở Chiêm Hóa (Tuyên Quang).

 Mặc cảm đồng lõa với tội ác hành hạ Trần Đức Thảo, gay gắt, quay cuồng chất vấn, đòi ông “phải tỏ thái độ, phải có lập trường rõ rệt; không thể im lặng a dua đồng loã một cách mù quáng”[26]. Từ giờ phút ấy, Trần Đức Thảo “ý thức rất rõ rằng, lúc này, ở nơi đây, mình sẽ không có một cơ hội nào để góp một chút gì tốt đẹp cho cách mạng”[Tri Vũ.tr. 156].

Trong khoảng 1965 đến 1987, ông không viết tác phẩm nào. Vai trò của ông suy giảm, ông chỉ viết được quyển Tìm Hiểu Nguồn Gốc Ngôn Ngữ và Ý Thức (Investigation into the Origin of Language and Consciousness), quyển này ra đời năm 1973 tại Pháp, viết về chủ nghĩa Marx và ý thức. Trong khoảng 1980, Việt Nam muốn lấy lòng Pháp để xin tiền, họ cho ông trở lại Pháp để chữa bệnh. Tại đây, ông gặp lại nhiều bạn cũ. Ông mất tại Paris ngày 24 tháng 4 năm 1993 , hỏa thiêu tại nghĩa trang Père-Lachaise .Tro cốt ông được đưa về Việt Nam. Phùng Quán viết:

Về đến Hà Nội, vì không gia đình vợ con và không có cơ quan nào và trường đại học nào trước đây triết gia đã từng công tác và giảng dạy nhận về để thờ hoặc quản, nên triết gia phải tạm trú dưới cái gầm cầu thang của nhà tang lễ thành phố 125 phố Phùng Hưng, Hà Nội.

 Nguyễn Bân viết: Tới khi người lữ hành vất vả đã đi trọn con đường của mình, lọ tro hài cốt từ bên Pháp gửi về được quản ở nhà tang lễ 125 Phùng Hưng, người vợ cũ chẳng hiểu sao bỗng nhớ tới tình xưa nghĩa cũ, khăng khăng kiến nghị đòi đưa lọ tro vào nghĩa trang Mai Dịch, chẳng hiểu do động lòng thương xót hay muốn nhân đó phủ thêm chút hào quang lên nhân cách của mình. Nhưng cái lý do đó có thể tồn tại. Muốn vào Mai Dịch, phải có Huân chương Độc lập hạng Nhất hoặc cao hơn hoặc theo tiêu chuẩn khác, Tang chế chí đã ghi rõ, trong khi đó người lữ hành vất vả chỉ được huân chương độc lập Hạng Ba. Dùng dằng hơn bốn mươi ngày lưu lại ở 125 Phùng Hưng cuối cùng lọ tro đành đưa ra khu A nghĩa trang Văn Điển.!

Khi ông sống, người ta đầy đọa ông. Sau khi ông chết 7 năm, năm 2000, người ta trao giải thưởng cho ông. Đúng là: Khi sống thì chẳng cho ăn/ Đến khi chết mới làm văn tế ruồi! .
Đó là một mai mỉa cho đảng cộng sản, và cũng là một mai mỉa cho ông, một trí thức tài ba chạy theo cộng sản. Tuy nhiên ông là một kẻ sĩ chân chính vì ông có lần đã can đảm lên tiếng đòi hỏi tự do, dân chủ trong một xã hội độc tài và tàn bạo.


Ông đã thẳng thắn phê bình Hồ Chí Minh;   HCM chưa ðọc kỹ học thuyết sách vở của Marx, “tư duy sổi nên chưa tiêu hóa ðược”; nhưng lại “ðọc thuộc lòng cuốn “Le Prince” của Machiavel”, cuốn chỉ bày tận dụng mọi thứ ðể người ta sùng bái. “Ông cụ” luôn luôn chứng tỏ một bề ngoài nặng lý trí ðến vô cảm; không thiết tha với gia ðình; không có bạn hữu thân tình. “Ông cụ” rất ghét cánh Tây học. Trong vòng thân cận, chỉ có toàn hầu cận ít học ðược ”ông cụ” ðào tạo ðể phục tùng; rồi sau ðề bạt lên làm lớn. “Ông cụ” làm thơ là “do cuồng vọng chính trị”, là ðể “ca ngợi mình” và “hô hào quyết chiến”. Nhà triết học này còn cho rằng, trên thân phận HCM có một bóng ma quái nó ðè.

Ðó là “ bóng ma ðế quốc bành trướng vô cùng ðộc ðoán, lấn át của Mao.”[...]Đẩy lý luận cho tới tận cùng của trải nghiệm, càng về lâu về dài, càng thấy rõ có ba chọn lựa của “cụ Hồ” mang tính sinh tử: đối với đất nước và dân tộc, bởi nó đã để lại di sản vô cùng trầm trọng, lợỉ bất cập hại. Đó là chọn chủ nghĩa xã hội của Marx để xây dựng chế độ, chọn chiến tranh xoá hiệp định hoà bình để bành trướng xã hội chủ nghĩa và thống nhất đất nước, chọn Mao và đảng cộng sản Trung Quốc làm đồng minh, đồng chí…(Ch.XIII)


Về Marx, ông nhận định: Ta đã trồng cây tư tưởng của Marx, và cho tới nay thì cây đó vẫn cho toàn quả đắng- (Tri Vũ.69)

Không có một thứ lý luận biện chứng nào có thể chứng minh rằng một xã hội đầy đen tối, đầy dối trá, độc ác, quỷ quyệt, đầy hận thù , tranh chấp , đầy chia rẽ và tham nhũng của hôm nay sẽ đẻ ra một thế giới đại đồng chân thật, đoàn kết, thương yêu, tốt đẹp cho nhân loại …tung tích của thủ phạm đưa tới sai lầm cơ bản của cách mạng là : sự thiếu vắng của thực tế hiện tại trong lý luận- (Tri Vũ,207)… hạnh phúc ở nơi không có con quỷ quyền lực và con quỷ chiến tranh nó ám …phải biết rằng chỉ có con quỷ mới kiêu căng, mới vui khi làm khổ, làm nhục con người. ..quỷ ấy là thứ đầu óc đầy ý đồ gian xảo, hung bạo của quyền lực. Quỷ ấy là ý thức đấu tranh giai cấp, là thứ cuồng tín của bạo lực và hận thù - Chính trị và chiến tranh cách mạng là cơ hội thao túng của quỷ
(Tri Vũ,.342-344)

III. NGUYỄN KHẮC VIỆN(1913 - 1997)

Năm 1937, ông sang Pháp học tại Đại học Y khoa Paris. Năm 1941, ông tốt nghiệp bác sĩ nhi khoa và bác sĩ các bệnh nhiệt đới nhưng do Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ nên ông không thể trở về. Trong thời gian này, ông mắc bệnh lao và phải điều trị dài hạn trong trại an dưỡng. Mãi đến năm 1947, ông mới tạm hồi phục và trở lại Paris Tại Pháp, ông nghiên cứu và quảng bá văn hóa Việt Nam ra thế giới, phản đối chiến tranh của thực dân Pháp và Hoa Kỳ tại Đông Dương. Ông là người lãnh đạo phong trào Việt kiều yêu nước tại Pháp. Ông thường xuyên viết bài giới thiệu Việt Nam, phê phán chủ nghĩa thực dân đăng trên các tạp chí vào báo nổi tiếng tại Pari La Pensée (Tư tưởng), Esprit (Tinh thần), Europe (Châu Âu), La nouvelle critique (Phê bình mới), Cahiers du communisme (Tập san cộng sản), L’Observateur (Người quan sát), France nouvelle (Nước Pháp mới), Le monde diplomatique (Thế giới ngoại giao) dưới nhiều bút danh: Nguyễn Nghệ, Nguyễn Kiên... Ông từng là Chủ tịch của Hội người Việt Nam tại Pháp (Union Générale les Vietnamiens en France).
Về nước ông tham gia đảng Cộng sản Việt Nam, sáng lập và chủ biên Tạp chí đối ngoại Nghiên cứu Việt Nam bằng tiếng Pháp và tiếng Anh (Etudes Vietnamiennes, Vietnam Studies) và làm Giám đốc Nhà xuất bản Ngoại văn (nay là Nhà xuất bản Thế giới). Năm 1984, ông sáng lập và làm Giám đốc Trung tâm nghiên cứu tâm lý trẻ em và tâm bệnh lý (trung tâm NT), xuất bản tờ "Thông tin khoa học tâm lý", đặc biệt quan tâm đến những trẻ em bị rối loạn tâm trí do hoàn cảnh. Ngày 10 tháng 5 năm 1997, Nguyễn Khắc Viện qua đời. Thi hài ông được an táng tại Nghĩa trang Mai Dịch Hà Nội dành cho những danh nhân có công đầu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam. Năm 1997, Nhà nước Việt Nam trao tặng cho ông Huân chương Độc lập hạng nhất.

 Ngày 1 tháng 9 năm 2000, Chủ tịch nước đã quyết định truy tặng Giải thưởng Nhà nước cho cuốn "Việt Nam, một thiên lịch sử". Tên của ông được đặt cho các đường phố tại Quận 7 thuộc TP Hồ Chí Minh, quận Ngũ Hành Sơn thuộc TP Đà Nẵng, TP Nha Trang, TP Hà Tĩnh.
Nguyễn Khác Viện  là con  trai  của  Hoàng giáp Nguyễn Khắc Niêm (1889-1954) giữ chức Quyền Tổng đốc Thanh Hóa, trong CCRD bị đấu tố mà chết năm 1954.
Cha ông bị Việt cộng giết năm 1954 thế mà năm 1963, ông về nước ông tham gia đảng Cộng sản Việt Nam, cam tâm  nhận giặc làm cha.
Ông là kẻ tân tòng mà lại cuồng tín hơn kẻ đạo gốc.Nguyễn Khắc Viện đã gửi lên Duẩn đề cương chống xu hướng tư bản ở miền Nam. Theo Viện, nó có năm nhân tố thúc đẩy là đế quốc bên ngoài chưa từ bỏ mộng trở lại, tư sản mại bản trong nước, cán bộ thoái hoá sa đoạ và phần tử lưu manh.... 
Chắc có đọc sớ triệt mầm tư bản của Viện dâng, Trần Đức Thảo một bữa lẳng lặng đưa tôi một tờ báo Pháp cũ: Anh xem cái này! Bài báo Viện viết năm 1942-43 ở Paris ca ngợi chủ nghĩa quốc xã của Hitler. Viện giúp nhiều sinh viên Việt Nam lúc ấy mất học bổng của Pháp - Pháp đầu hàng Hitler mà - sang học Đức quốc xã. Hitler có cấp học bổng cho họ không thì tôi không biết.(Đèn Cù II, Ch,II)
“Thư gửi Hoàng Minh Chính, ông viết : "chế độ xã hội chủ nghĩa thì tất nhiên là phải tốt đẹp hơn chế độ tư bản”.(ĐC II,Ch.18)

 Ông viết khá nhiều, trong đó có tác phẩm "Bàn về đạo Nho". Như ông phục vụ bọn cộng sản phản quốc hại dân, giết cha mình, lại còn cướp vợ bạn, như vậy mà còn mặt mũi nào bàn vể trung hiếu tiết nghĩa!

Ông đâm đầu vào cộng sản tưởng rằng đó là mồi ngon, sẽ đưa ông làm bộ trưởng y tế hoặc bộ trưởng ngoại giao, nhưng ông "cố đấm ăn xôi, xôi lại hẩm" . Cộng sản không thí cho ông cục xương. Về Việt Nam, không ai cho ông chức vụ gì, ngay cả cái ghế bác sĩ là chuyên môn của ông mà cũng không. Ông phải tự biên tự diễn bày ra các chưc vụ cho mình. Cộng sản không cho ông cục xương mà còn trấn lột ông.Tháng 11 năm 1992, Nguyễn Khắc Viện được trao giải thưởng Grand prix de la Francophonie của Viện Hàn lâm Pháp, Việt Cộng định cướp số tiền này ,ông  bèn đem cúng  phần lớn khoản tiền thưởng 400.000 franc (tương đương 80.000 USD) cho quỹ của Trung tâm Nghiên cứu Tâm lý Trẻ em (Trung tâm NT).

Ông là một trí thức mà ăn nói điêu ngoa. Môn hít thở có từ lâu trong đạo Bà La Môn của Ân Độ , sao ông dám bảo do ông sáng tạo. Hơn nữa, môn  hít thở cũng như  Thiền, Yoga, Tài Chi chỉ là những môn dưỡng sinh không phải là thuốc trị bệnh. Ông tập hít thở mà bệnh lao của ông không bớt, sao ông dám khoe khoang môn hit thở của ông. Đã thế Việt Cộng công kênh ông lên, thổi ống đu đủ cho ông bay lên chín tầng trời. Bác Sĩ Đỗ Hồng Ngọc tán dương Nguyễn Khắc Viện học giỏi, bảỏ môn hit thở  do Nguyễn Khắc Viện "tìm ra", môn dưỡng sinh của Nguyễn Khắc Viện đã giúp ông ấy sống mạnh khỏe, như người bình thường...

Thế sao cuối đời ông phải tự tử?Ông có lời trối trăng:"Xin để cho tôi ra đi nhẹ nhàng, rút ngắn những ngày nằm dài, không trò chuyện gì được với ai, ăn uống vệ sinh đều phải người phục vụ, sống thêm vài ba ngày chỉ làm khổ cho bản thân, cho vợ con, cho các bạn.(  Nguyễn Khăc Phê. Một đôi lời. Trích báo Tuổi trẻ Chủ nhật, Số 19-1997)
 Phải chăng ông chán môn dưỡng sinh của ông và chán cộng sản?

 Gần cuối đời, con dun Nguyễn Khác Viện muốn làm con sư tử. Ngày 21 tháng 06 năm 1981, Bs Nguyễn Khắc Viện mới cảm thấy đau lòng trước tình hình bi đát của Việt nam , bèn viết một bức thư dài gởi Quốc Hội, đưa ra một số nhận xét và đề nghị thay đổi « Tình hình này không thể kéo dài và đói hỏi có những sự thay đổi quan trọng về nhiếu mặt… Nhứt là đi sâu vào những sai lầm, tìm gốc rể, nên đặt vấn đề tư tưởng : tư tưởng Mao xâm lấn vào Việt nam đến mức nào ? Nay phải gột rửa như thế nào ? Không nên quên rằng năm 1951 đã ghi vào Điều lệ đảng tư tưởng Mao chỉ đường cho chúng ta, không quên rằng tất cả những cách làm ăn, chính huấn, tổ chức, cải cách ruộng đất, v.v… đã do cố vấn Trung quốc sang giúp …. » .


Tố Hữu, cấp trên của Viện, đã phê bình một cách mĩa may thư góp ý của ông là « sớ cải lương », và nói rỏ đối với đảng, Nguyễn Khắc Viện chỉ là một « việt kiều » mà thôi . Sau đó, Vìện bị cách ly và về hưu sớm .
 Nghe tin Đảng định đưa nhà thơ Tố Hữu làm thủ tướng chính phủ, ông gặp trưởng Ban Tổ chức Trung ương Đảng Nguyễn Đức Tâm bầy tỏ ý kiến phản đối.

Trước Đại hội VI ông đã từng viết một lá thư gửi ông Tố Hữu, đại ý như sau : Trước kia, tôi rất mến phục tài thơ của anh, tôi thích thú một số bài thơ của anh và đã dịch những bài đó ra tiếng Pháp đưa ra quốc tế. Nhưng anh làm lãnh đạo chính trị, đặc biệt về văn hoá văn nghệ, rồi làm phó thủ tướng, làm kinh tế như thế này, không ai đồng tình, nhiều người oán trách, anh nên biết rõ. Dịp này anh nên tự nguyện rút lui, đừng ứng cử vaò Trung ương nữa, trở lại làm nhà thơ, chắc anh sẽ lại được lòng kính mến tài làm thơ của anh.
Trước đó, Nguyễn Khắc Viện cũng có gởi cho Lê Duẩn một bản đề cương dâng kế chống xu hướng tư bản hóa ở Miền Nam nhưng không được chiếu cố .
Đến lúc Gorbachev đưa ra chánh sách cải cách ở Nga, Viện kiến nghị đảng cộng sản việt nam nên tiến hành đổi mới nhịp nhàng theo đản anh .


Nhân ngày Quốc tế Thiếu nhi 1 tháng 6 năm 1991, câu lạc bộ Liên hiệp các Hội Khoa học Kỹ thuật tổ chức buổi nói chuyện về tâm lý trẻ con. Khi săn biết diễn giả là Nguyễn Khắc Viện, lệnh trên truyền xuống phải huỷ bỏ buổi nói chuyện này. Cuối năm đó, khai mạc Phòng khám Tâm lý Trẻ em tại bệnh viện Đống Đa. Đây là Phòng Khám Tâm lý trẻ em đầu tiên ở nước ta. Vô tuyến truyền hình đến quay phim. Nguyễn Khắc Viện là người sáng lập tổ chức, chủ trì buổi lễ và đọc diễn văn giới thiệu ý nghĩa, mục đích việc thành lập cơ sở này. Nhưng, khi phát hình buỗi lễ lên sóng, người ta cắt đi tất cả những đoạn có hình ảnh Nguyễn Khắc Viện.
Rồi Quận uỷ Hoàn Kiếm lôi Nguyễn Khắc Viện ra đấu tố, bắt đứng lên kiểm điểm.Tóm lại, một đời Nguyễn Khắc Viện theo Cộng sản mà chẳng được xơ múi gì!


IV. LÝ CHÁNH TRUNG (1928 - 2016), THÀNH PHẦN THỨ BA VÀ THÂN CỘNG
 
Lý Chánh Trung sinh tại Trà Vinh. Ông là một chính khách và nhân sĩ yêu nước. Ông nguyên là Giám đốc Nha Trung học Công Lập của chế độ Việt Nam Cộng Hòa, nguyên là Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Phó Chủ tịch Ủy ban Mặt Trận Tổ quốc Việt Nam Thành phố Hồ Chí Minh và Đại biểu Quốc hội ba khóa VI, VII, VIII.
Lý Chánh Trungi mới lấy xong Cử nhân Tâm Lý Học và Cử nhân Chính trị Học, chưa đậu Tiến sĩ, ông về nước.
Ông có người anh là Lý Chánh Đức, làm Giám đốc Nha Học Liệu tại Bộ Quốc gia Giáo dục, đã xin cho ông vào làm Công Cán Ủy viên của Bộ này. Về sau, ông được bổ làm Giám đốc Nha Trung học Công Lập rồi Đổng lý văn phòng Bộ Quốc gia Giáo dục. Ngoài ra, Lý Chánh Trung cũng được mời dạy triết học tại các Viện Đại học Huế và Đà Lạt.
Tại Đại Học Huế và Đại học Văn Khoa Saigon, nhiều tay đi Tây về mà chẳng có bằng cấp gì ráo trọi thế mà cũng được phong giáo sư. Lý Chánh Trung khá hơn, có bằng cử nhân Tâm Lý học và Chính Trị học, nhưng loại bằng cấp này  sao lại được mời dạy Triết học ở Đại Học Văn Khoa Saigon?  Thật ra ông là loại "đậu lạy quan xin".Một phần ông nhờ Lý Chánh Đưc xin xỏ, một mặt ông cậy thế Thiên Chúa giáo và đám Nam Kỳ quốc đưa ông lên! Ông tâng công với Cộng sản bằng các cuốn " Tìm về dân tộc ( 1967) và các cuốn "Ba Năm Xáo Trộn (1967),Những Ngày Buồn Nôn (1972) để bêu xấu chế độ Miền Nam.

Sau năm 1975, ông là Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Phó Chủ tịch Ủy ban Mặt Trận Tổ quốc Việt Nam Thành phố Hồ Chí Minh, Đại biểu Quốc hội ba khóa VI, VII, VIII.
Được Việt Cộng đưa vào Quốc Hội, ông tưởng là bảnh. Ông cũng như Ngọc Lan, Chân Tín, sớm đầu tối đánh, viết những bài thọc léc Việt Cộng. Về già ông bị bệnh lãng trí nặng, đi lang thang quên cả lối về nhà.
Ông qua đời lúc 5g 50 phút ngày 13 tháng 3 năm 2016 tại nhà riêng Thủ Đức, TP.HCM sau một tháng nằm bệnh với chứng viêm phổi tái phát.


Cuộc hôn phối giữa Việt Cộng và đám thành phần thứ ba Saigon kéo dài chẳng dược bao lâu.
 Vào đầu năm 1989, có tin đồn là ông Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh có rày rà, ám chỉ giáo sư Lý Chánh Trung sao đó, ông nói đại ý như: “Có một số người trước đây là đồng minh với chúng ta trong cuộc chiến đấu chống đế quốc, thực dân. Nhưng bây giờ họ lại có lập trường khác, làm cản trở sự nghiệp xây dựng đất nước của ta v.
Linh mục Chân Tín vốn là Ủy Viên Trung Ương Mặt trận tổ quốc Việt Nam và phó chủ tịch Mặt trận thành phố. Vậy mà có lần cỡi xe Lambretta vẫy tay một người bạn, ông nói to: Tôi được giải phóng rồi. Có nghĩa, ông đã bị đuổi ra khỏi Mặt trận. Ông cũng lên tòa giảng yêu cầu đảng phải biết sám hối và cuồi cùng ông bị giam lỏng ở Cần Giờ.

Nguyễn Ngọc Lan với bài viết khi tham quan Hà Nội trên Đứng Dậy, Hà Nội tôi thế đó! nó đã làm tiêu ma sự nghiệp chính trị của ông, báo Đứng Dậy bị đình bản sau đó. Từ đó Nguyễn Ngọc Lan trở thành người viết đối lập với nhà nước cộng sản.

Hồ Ngọc Nhuận ra khỏi Mặt Trận Tổ quốc.
Ông vốn là Phó chủ tịch Mặt trận Tổ Quốc, ông đã xin từ chức và viết bài Phá Xiềng để ủng hộ luật sư Lê Hiếu Đằng. Lê Hiếu Đằng cũng là Phó chủ tịch Mặt trận Tổ quốc và nhiều chức chức vụ chỉ có danh khác nữa – tuyền là những chức vụ hờ, chỉ có tiếng – khi ngã bệnh trước khi qua đời đã chính thức tuyên bố trên đài BBC, ngày 5-12-2013: tuyên bố công khai ra khỏi Đảng Cộng sản vì Quốc Hội chỉ là bù nhìn.
Và tiếp theo sau đó còn nhiều người đã nối đuôi nhau ra khỏi đảng mà danh sách mỗi ngày một dài như trường hợp các ông: Ngô Công Đức, Châu Tâm Luân, v.v.

Đã thế, ngay trong nhóm thiên tả miền Nam, người ta cũng thấy sự chia rẽ, đố kỵ trầm trọng. Lý Chánh Trung kỵ với Nguyễn Ngọc Lan. Giữa bộ ba Hồ Ngọc Nhuận, Ngô Công Đức, Dương Văn Ba tưởng là tình thân như ruột thịt. Nhưng trong Hồi ký Những ngã rẽ Dương Văn Ba đã tố cáo Ngô Công Đức, làm báo Tin Sáng sau 1975 bao nhiêu bổng lộc hưởng một mình. Tiền bạc ê hề, ăn chơi cờ bạc, mua nhà mua cửa, bao gái đủ cỡ trong khi anh em tòa soạn sống lây lất. Tình cảnh đó đi đến chỗ mâu thuẫn kiện tụng. Và Đảng nhân cơ hội đó đóng cửa luôn tờ báo vào năm 1981 với lời ghi chú, Tờ báo đã hoàn thành nhiệm vụ lịch sử.
Nhưng xem ra trong số những thành phần thứ ba – trừ những thành phần cắc ké như dân biểu Kiều Mộng, Nguyễn Chức Sắc, Lê Tấn Trạng, Đinh Xuân Dũng vv.. có lẽ chỉ còn sót lại một người là Lý Chánh Trung, cố bám trụ, cố theo đảng tới cùng- mặc dầu, chức vụ cao nhất của ông cũng chỉ là được cho đắc cử vào một Quốc Hội bù nhìn và sau đó cho nghỉ hưu.

Nhưng vào tuổi xế chiều , Vinh quang và quyền lực của đảng cộng sản dành cho ông như chức tước đại biểu quốc hội bù nhìn cũng đã đến lúc trắng tay.
Ông trở thành kẻ hết thời hay thứ dư thừa dưới mắt người cộng sản. Số phận những người theo cộng sản thì phải nhận lấy những hậu quả tương tự.
Cái còn lại như chứng tích duy nhất của nền Đệ Nhất Cộng hòa để lại cho ông là căn nhà của ông ở làng đại học Thủ Đức, số 17 đường Công Lý, phường Bình Thọ, quận Thủ Đức, Sài gòn. Chính nơi đây con cái ông lớn lên, được nuôi dưỡng ăn học và nay là cái mái che mưa nắng cho ông lúc tuổi xế chiều.

Sự đãi ngộ ấy có thể ông không bao giờ muốn nhìn nhận, có thể ông chỉ coi như một điều đương nhiên là như thế. Nay được biết ông lại bị bệnh lãng trí nặng, đi lang thang quên cả lối về nhà. Chắc nhiều bạn bè thương cảm và buồn cho ông.
Buồn thì đúng rồi.
Nhưng với tôi, tôi nghĩ nó lại là cơ may, là nguồn hạnh phúc cho riêng ông.
Nếu ông còn trí nhớ, còn biết vui buồn, còn biết phân biệt thị phi nhìn thấy cảnh đất nước rã nát như ngày hôm nay – như trường hợp luật sư Lê Hiếu Đằng – thì có khi đến chết ông cũng không nhắm mắt được.

Mấy tháng trước ,  Lý Tiến Dũng con trai trưởng của Lý Chánh Trung  bị mất chức Tổng biên tập báo Đại Đòan Kết của Ủy Ban Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam.  Dũng đã đi bộ đội tham gia chiến đấu ở Cambodia trên 20 năm trước và sau này gia nhập ngành báo chí của chánh quyền cộng sản. Nhưng có lẽ cũng muốn làm anh hùng chống đảng,  Dũng đã  đi ra ngoài con đường do cộng đảng vạch ra,  cho nên mới bị lọai bỏ khỏi chức vụ .Phuc bất trùng lai,

Gần đây nhất, cậu con trai út Lý Trung Dũng, sinh năm 1970, phóng viên báo Tuổi Trẻ trước đây bị xe ô tô cán phải nằm liệt giường, hai vợ chồng ông phải tắm rửa cho con trai, Sau nhiều năm chữa trị , câu út đã qua đời ngày 22 tháng 11-2013.
Cuộc sống vắn vỏi ấy kết thúc một cuộc đời-kết thúc cả cuộc đời tuổi trẻ đến phi lý- phải chăng Lý Trung Dũng như một con chiên làm vật hiến tế thay cho bố?

Tin chắc là ông buồn vô kể. Như một phần đời của ông không còn nữa. Tôi còn nhớ, đến thăm ông, tiếng kêu của Dũng ở trong nhà vọng ra ngoài phòng khách, ông làm như thản nhiên tiếp tục nói chuyện.
Khi buổi chiều ra về, lòng tôi chùng xuống một nỗi buồn. Trên tay cầm cuốn:Một thời bom đạn, một thời Hòa Bình..
Đây là cuốn sách duy nhất được xuất bản sau 1975 của ông, một cuốn sách mà tự nó cho thấy cái hèn kém của một người trí thức thiên tả miền Nam. Bởi vì đó là cuốn sách hoàn toàn sai sự thật, đánh lận con đen và tự bôi nhọ chính mình.

Những Lê Hiếu Đằng, những Hồ Ngọc Nhuận, những Lý Quý Chung, những Nguyễn Hữu Chung cũng đã từng là những con vẹt biết nói tiếng người như thế cả, nhất là những kẻ mang tên Trung, Chung mà bất Trung, bất nghĩa và không chung thủy....
Lý Quý Chung trong một dịp trả lời phỏng vấn của Alain Ruscio nhận xét:

“Như phần đông những người bạn tôi ở đây, tôi đã sống nghiệm trải hai chế độ báo chí..Trước đây chúng tôi đã là những người thợ bửa củi, còn bây giờ, chúng tôi là những người thợ mộc. Thái độ đã hoàn toàn khác. Bây giờ chúng tôi lao mình vào việc xây dựng. Bây giờ tôi cảm thấy mình có ích cho xã hội hơn cho Việt Nam, cho dân tộc tôi, liên hệ gắn bó với dân tộc, trách nhiệm hơn.”
Hãy cứ hỏi 700 tờ báo hiện nay ở VN họ là thợ bửa củi hay họ là thợ mộc?
Chính vì làm báo kiểu thợ mộc Lý Quý Chung mà khi giáo sư Trần Văn Giàu đến thăm tòa báo Tin Sáng lần đâu tiên đã đưa ra lời nhận xét khen mà mỉa mai như sau:
“Các anh làm báo cộng sản như… Cộng sản.”
Lần sau ông đến khen nhiều hơn:
“Các anh làm báo cộng sản hơn.. cộng sản.”
Lời khen này nếu hiểu ra thì quả thực Trần Văn Giàu quá hiểu cộng sản cũng như quá hiểu những kẻ nịnh cộng sản.
Có nghĩa là các anh nịnh giỏi quá.


Vì thế, Hồ Ngọc Nhuận khi viết cuốn Hồi Ký Đời, đã ghi chú thêm: Chuyện về những người tù của tôi.
Những người tù ở đây là ai? Là Nguyễn Ngọc Lan, là Lê Hiếu Đằng, là Ngô Công Đức, là Dương Văn Ba, là Nguyễn Hữu Hiệp mặc dầu họ chưa đi tù một ngày nào trong chế độ mới.
Nói chung, đọc hết các sách của Lý Chánh Trung như Tìm Về Dân tộc, Tôn Giáo và Dân Tộc, Những Ngày Buồn Nôn. Tôi chỉ thấy những lời nguyền rủa và xưng tụng...


Ông đã tự vẽ chân dung của mình là khi từ Bỉ về nước, ông đã về quê ở Vĩnh Bình và dạy cho một trường học là cơ sở của Cách mạng. Một thời gian ngắn sau ông lên Sài Gòn..Năm 1955, ông từ bỏ Vĩnh Bình- quê ông- và gia nhập vào trong nhóm trí thức công giáo Pax Romana với các quý ông như bs Nguyễn Văn Ái, lm Nguyễn Bình An( qua đời rất sớm vì bệnh cancer) bs Nguyễn Văn Thơ, luật sư Nguyễn Văn Huyền, các giáo sư Phạm Thị Tự, Nguyễn Văn Trung, Phó Bá Long, Trần Long, các chuyên viên như Lâm Võ Hoàng, Anh Tôn Trang, Võ Long Triều, Đoản Thanh Liêm, v.v.

Nhóm này đã tổ chức ‘Tuần lễ Hội Học công giáo’ và và cho ra ‘Tủ sách Đạo và Đời’.Đây là giai đoạn hiền lành và trong sáng nhất của một người trí thức như ông. Nó tiêu biểu cho giới trí thức công giáo thành thị mà phần đông du học ở ngoại quốc về.
Sau đó do sáng kiến phần lớn của Nguyễn Đình Đầu để thể hiện tinh thần Công đồng Vatican 2, ông cùng với Nguyễn Văn Trung Nguyễn Đình Đầu, Anh Tôn Trang chủ trương tờ tuần báo Sống Đạo. Trụ sở tờ báo là mượn văn phòng xã hội của linh mục Parrel, trên đường Nguyễn Du, cạnh nhà thờ Đức Bà.

Lúc bấy giờ,quảng cáo cho tờ báo này, họ đề tờ báo" cạnh tòa Tổng Giám mục"  không phải là loè. Sư thật, nhóm này có thế lực mạnh đàng sau. Vị lãnh đạo tối cao có quyền uy về đạo và đời là Tổng  Giám mục Ngô Đình Thục. Ông đã được cộng sản cho khai thác gỗ, đổi lại ông đưa cộng sản vào dinh Độc Lập. Các linh mục chống cộng khét tiếng nay như Hoàng Quỳnh cũng đưa Việt cộng vào dinh Độc lập và biến Hố Nai thành chiến khu cộng sản. 

Vào tháng 6-1971, đang lúc tên gián-điệp cộng-sản Vũ Ngọc Nhạ (kẻ được Linh-Mục Hoàng Quỳnh che-chở) bị Việt-Nam Cộng-Hòa cầm tù ở Côn-Đảo, mà Tòa ThánhGiáo-Hoàng Phaolô VI lại tặng Bằng KhenHuy ChươngVì Hòa Bình” cho y.
Năm 1974 ở Sài-gòn, LM Trần Hữu Thanh cùng với 301 Linh Mục khác ký tuyên ngôn lập Ủy Ban Chống Tham Nhũng, chống VNCH”. Đám này đông lắm, gồm các Linh-Mục Thanh Lãng, Phan Khắc Từ, Trương Bá Cần, Chân Tín, Nguyễn Ngọc Lan, Trần Du, Nguyễn Quang Lãm, Trần Ngọc Nhuận, v.v…Phong-Trào” được sự tham-gia của các nhân-vật ngoài Kitô-Giáo, như Thượng-Nghị-Sĩ  Hoàng Xuân TửuDân-Biểu Nguyễn Văn Kim cùng nhiều DB thuộc Đảng Đại-Việt của Hà Thúc Ký và phía Dương Văn Minh; DB Đặng Văn Tiếp phía Nguyễn Cao Kỳ; DB Nguyễn Văn Cử chống Diệm và phía Việt-Nam Quốc-Dân-Đảng; DB Vũ Công Minh phía Hòa-Hảo; DB Đỗ Sinh Tứ phía quân-đội; Bác-Sĩ Nguyễn Tuấn Anh; Luật-Sư Đặng Thị Tâm; Nhân-Sĩ Nguyễn Trân; v.v...Trong thời-gian này diễn ra Hội-Nghị Paris (từ 1968 đến 1973), Giáo-Hoàng Phaolô VI đã nhiều lần “nhân đạo” kêu gọi chấm dứt chiến-tranh Việt-Nam.(Điển-hình là Phan Khắc Từ, từ năm 1969 đã đi dự đại-hội Thanh Lao Công Thế-Giới có xu-hướng thân-Cộng được Mạc-Tư-Khoa đỡ đầu, tại Liban. Ở Pháp thì đến hội-ý với Nguyễn Thị Bình, Trưởng Phái-Đoàn thương-thuyết của “Mặt Trận Giải Phóng”; tham-gia đình-công; biểu-tình đòi công-bằng cho giới lao-động; cùng sinh-viên và công-nhân đòi hòa-bình cho Việt-Nam. Sau này về nước thì dính vào Mặt Trận Nhân-Dân Tranh-Thủ Hòa-Bình, Phong Trào Học-Sinh Sinh-Viên Đòi Quyền Sống, Phong-Trào Chống Tăng Học-Phí, Chống Độc-Diễn; đóng vai “linh-mục hốt rác” gây sự chú ý của dư-luận; dùng Nhà-Thờ Vườn Xoài làm nơi chế-tạo bom xăng cho phong-trào đốt xe Mỹ trên đường phố; cùng công-nhân đình-công để gây trở-ngại cho các cuộc hành-quân; tiếp tay CS dựng lên Ủy-Ban Bảo-Vệ Quyền-Lợi Lao-Động Miền Nam; rồi lại giả-danh từ-thiện hoạt-động trong tổ-chức trá-hình của CSMặt Trận Nhân Dân Cứu Đói... 
Bên cạnh phong trào Kitô hữu, có Nhóm “Sóng Thần” tổ-chức “Ngày Ký-Giả đi Ăn Mày” rồi tiếp theo là “Ngày Công-Lý và Báo-Chí Thọ-Nạn” vào tháng 10-1974.(Lê Xuân Nhuân. TÓM-LƯỢC SỬ-LIỆU
BỨC-TỬ VIỆT-NAM CỘNG-HÒA trong cuốn hồi-ký Biến-Loạn Miền Trung)


Ngày 8 tháng 9 năm 1974, một cuộc họp liên tịch đã được hội chủ báo tổ chức, với ba đoàn thể ký giả tham dự là: Nghiệp đoàn ký giả Nam Việt, Hội ái hữu ký giả Việt Nam và Nghiệp đoàn ký giả Việt Nam. Cuộc họp đã bầu ra Ủy ban đấu tranh đòi tự do báo chí do ông Nguyễn Văn Binh, dân biểu đối lập, đại diện báo Đại dân tộc làm chủ tịch. Nhiệm vụ trước hết của Ủy ban này là chống lại việc thi hành luật 007.Trong đám ký giả đi ăn mày phần lớn là những chủ bút giàu sụ. LM Thanh Lãng , Phạm Việt Tuyền là Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi của Diệm và Thiệu.LM Thanh Lãng nắm nhiều chức vụ về văn hóa, Ông đã chưởi GS. Nguyễn Đăng Thục thẳng cánh tại hội đồng DHVăn Khoa Saigon vì ông Thục cùng Thượng tọa Quảng Liên,Trần Tuấn Khải, Lê Kim Ngân, Dương Kỵ... ký tên kêu gọi hòa bình. Nhà nước định mời GS Nguyễn Đăng Thục lên đường ra Bắc với đám Dương Kỵ nhưng nhờ vân động mà được ở lại tuy rằng mất chức Khoa Trương. Chuởi ông Thục theo Cộng sản nhưng sau đó LM cởi áo nhà dòng và tich cực theo Cộng sản.


Luật sư Trần Văn Tuyên lãnh tụ Đại Việt, cũng đi ăn mày và cũng đã giao thiệp với Việt Cộng.Sau 1975, ở lại trong khi các con ông vượt biên. Ông hớn hở đi trình diện và kết quả bị Cộng sản xử đẹp trong tù!


Ông Trần Tấn Quốc chống Diệm và thiên Cộng sản. Vợ ông vào mật khu Việt Cộng. Sau 1975, ông không phải đi ăn mày mà phải cung hiến dinh cơ của ông cho Việt Cộng để sang Pháp! Chính thể quốc gia và chính thể cộng sản, chính thể nào đã làm cho ông trắng tay?
Hoàng Hải Thủy trong bài "Sống và chết ở Saigon (7) viết:" Những anh ký giả Sài Gòn trước đó một niên đã làm Ngày Ký Giả Đi Ăn Mày để bỉ mặt Tổng Thiệu, nay được dịp “ăn mày” thật sự. Ký giả là những người đói nhất trong giới văn nghệ sĩ bỏ nước chạy lấy người không kịp. Không phải anh em ký giả, văn nghệ sĩ Sài Gòn ta ngày xưa không kiếm được tiền. Anh em kiếm được nhưng tuyệt đại đa số anh em ăn chơi, tiêu hoang, kiếm được năm thì tiêu mười. Việt Cộng vào Sài Gòn, anh em đói đến không có cơm mà ăn, không phải chỉ đói phở, đói cơm sườn, đói giả cầy quán Bà Cả Đọi. Cùng dự khóa bồi dưỡng với kẻ viết bài này có Nguyễn Ngọc Tú tức Ngọc Thứ Lang dịch giả Bố Già (The Godfather của Mario Puzo). Hôm được phát “nhu yếu phẩm” như vừa kể, người ta thấy vắng bóng Ngọc Thứ Lang ngay lập tức, rồi vắng bóng chàng suốt ngày hôm sau. Khóa viên không đến lớp vì còn bận tự “bồi dưỡng” bằng hai hộp sữa, nửa ký đường, hai gói thuốc, lạng bột ngọt. Chàng phát mại ngay những thứ không nhu yếu gì với đời sống của chàng để lấy tiền “choác”.
Và Khóa Bồi Dưỡng Chính Trị Hai có Cô Khóa Mộng Tuyền. Tháng Bẩy năm 1976 ở Thành Hồ, Mộng Tuyền còn trẻ, đẹp. Ký giả đói, nhưng các em đào cải lương vẫn đông vàng, đông kim cang. Các em như Mộng Tuyền – bận bà ba phin nõn, quần đen, đi guốc – phây phây đến lớp. Các em không đi xế hộp, nhưng các em cũng không đi xế đạp, các em đi học bằng xe xích lô.

Trần Dạ Từ trong bài""Sức Mạnh Thức Tỉnh Từ Chính Thân Xác Người Cầm Bút" nhận định
"Trước 1975, tại Sài Gòn, các nhà báo vui tính, có lần phản đối chính quyền bằng cách xuống đường biểu tình, dưới hình thức ‘ký giả đi ăn mày.’ Sau 30 tháng Tư, ở quê hương, ở hải ngoại, vẫn có anh nhà banh hỏi anh nhà báo: ‘Sao các anh không xuống đường ăn mày nữa đi." 


Các nhà văn trên đã chỉ trich đám ký giả đi ăn mày,  cho rằng đám này ngu dại! Không phải họ ngu đâu! Họ là những bậc "thông minh nhất nam tử" của miền Nam! Khi Mỹ nói chuyện với Mao và Khrushchev, khi Mỹ cắt bớt rồi cắt hẳn viện trợ cho miền Nam thì họ biết miền Nam sẽ tiêu vong cho nên họ phải trở lưỡi, đầu hàng, thay đổi tư duy! Việt cộng cũng biết thế nên họ quyết tâm chiếm miền Nam, cái "thành phần thứ ba" , hòa hợp hòa giải  cùng miền Nam trung lập chỉ là trò chơi của Bắc Việt về tuyên truyền.

Đám Judas và Bồ Đề Đạt Đa nổi lên khắp nơi. Các ông bà tich cực chống Cộng lúc đó trở thành Việt Cộng hay thân cộng. Họ trở mặt ,trở giọng ca tụng Cộng Sản và múa may như những thằng hề  cộng sản tha mạng hoặc cũng có thể đưa các ông lên đỉnh vinh quang  như thời Pháp thuộc như LM Hoàng Quỳnh, LM. Nguyễn Hữu Thanh, LM. Thanh Lãng, bà BS. Nguyễn Thị Thanh...Còn những Việt Cộng và thân cộng thì khỏi nói nào Lý Chánh Trung, Lý Quý Chung, Nguyễn Hữu Chung, Trần Tấn Quốc, Trần Văn Tuyên, Thế Uyên, Đinh Xuân Dũng, Hồ Ngọc Nhuân, Thich Nhất Hạnh, Ngọc Lan, Chân Tín...

Các bài viết của Lý Chánh Trung trong thời kỳ này đã có những ám ảnh mà chủ yếu đặt nặng vấn đề Công bằng Xã hội – một đề tài quen thuộc và được ông khai thác nhiều lần. Nó phản ánh một phần các tư tưởng xã hội của chủ nghĩa Mác Xít trong đó có các vấn đề Cần Lao, vấn đề Vong Thân, vấn đề Bạo động và vấn đề Tranh đấu giai cấp, vấn đề Bóc lột giữa chủ và thợ, v.v.

Những ý tưởng then chốt về công bằng xã hội sẽ là những bước mở đường cho Lý Chánh Trung một ngày không xa đến thực sự với cộng sản.
Nói như thế chỉ là hoàn cảnh đặc biệt dành cho Lý Chánh Trung thôi.. Những sinh viên nào ngồi trên ghế nhà trường đã bước qua cổng trường của Platon thì không có gì xa lạ với những chủ đề xã hội trên.
Không có điều gì nhất thiết bắt buộc một người trí thức có ý thức thiên tả thì sẽ đi theo cộng sản!
Nhưng ông thừa biết, bọn trí thức Bắc Kỳ công giáo làm hết mọi chuyện: -Từ sáng kiến cũng do họ – tổ chức do họ – phương tiện vật chất do họ tự liệu – viết cũng do họ. Nhưng họ vẫn đẩy ông ra làm người đứng đầu. Sau này cũng thế khi làm tờ Hành Trình, ông vẫn giữ vai trò chủ bút. Nguyễn Văn Trung vai chủ nhiệm.

Việc thì người khác làm, danh xưng thì ông nhận. Điều đó cho thấy yếu tố miền trong nhiều trường hợp trở thành yếu tố căn bản cho mọi hoạt động chính trị, văn hóa và cả tôn giáo.
Lý Chánh Trung đã thừa hưởng một cách tự nhiên các điều kiện thuận lợi ấy của một người trí thức gốc miền Nam. Và nhóm trí thức nàycũng đã tổ chức được một tuần lễ Hội học xã hội dưới nhan đề: Lương tâm công giáo và công bằng xã hội vào năm 1963, do nhóm Trí thức công giáo Sài Gòn.
Ông viết như thế mà nhiều người không thù oán ông và chính thể của nền Đệ Nhị Công Hòa cũng để ông yên. Ông vẫn được làm Đổng lý Văn phòng Bộ Giáo Dục. Đi làm vẫn có tài xế đưa đón.


Ông ăn thóc nhà Chu mà chửi nhà Chu. Hoặc ông rập khuôn cái tinh thần: Nắng được lúc nào thì cứ nắng như trong một bài viết của cụ Phan Khôi chăng?
Nhưng người cộng sản đọc thì đánh giá ông là người cộng sản không có thẻ đảng. Một lời khen hay một lời cảnh cáo?( Nguyễn Văn Lục .Thân phận dư thừa của một người trí thức thiên tả, thành phần thứ ba)

Tóm lại, tại Saigon nhiều trí thức nổi lên chống chế độ.Nào Lý Quý Chung, Nguyễn Văn Trung Nguyễn Đình Đầu, Anh Tôn Trang,Lê Hiếu Đằng,  Ngô Công Đức,  Dương Văn Ba,  Nguyễn Hữu Hiệp,  Hồ Ngọc Nhuận, Thế Uyên....Cơ sở của họ là Trình Bày, Thái Độ. Bọn họ được Việt Cộng  hoan hô một thời nhưng chỉ một mình Lý Chánh Trung là đạt đỉnh cao danh vọng là Dân biểu quốc hội Việt Cộng. Hồi tôi học tập chính trị ở Đại Học Văn Khoa thì  LM Thanh Lãng vẫn áo chùng đen, cánh tay đeo băng đỏ, đi ngoài hành lang với vẻ  "hồ hởi phấn khởi" nhưng it lâu ban  ban quân quản  trường cho biết họ đã trả các nhà tu hành về các tôn giáo!

 Lý Chánh Trung là tổ trưởng, tổ phó là  Lưu Tất Khôn, nay ở California , với Nguyễn Trọng Văn và Lê Tử Thành là nòng cốt! GS Nghiêm Toản, Nguyễn Duy Cần 70 tuổi xin nghỉ hưu. Giản Chi  trên 70 họ bảo nghỉ đi nhưng ông xin học tập thêm để biểu diễn nhân nghĩa của  cổ nhân như ông và Nguyễn Hiến Lê đã viết ! Ông sáng chiều xúm xít chầu chực quanh Lý Chánh Trung để mong được tiếp tục dạy ở Văn Khoa!  Cuối khóa tổng kết, Lý Chánh Trung nói một số học viên có tinh thần chống đối! Chống đối nghĩa là phản động, tội phải đi học tập cải tạo mút mùa! Nghe ông nói mà chúng tôi ớn lạnh! May thay chúng tôi chỉ bị kết tội là CIA và sa thải chứ không bị đi Cổng Trời hoặc nhập ngục thất Phan Đặng Lưu ngoại trừ Sơn Hồng Đưc có liên quan tới An ninh Tổng thống phủ.!
Bây giờ bọn họ tan tác, còn Lý Chánh Trung thì đã  đi thăm các cụ Mac , Lê. Nguyễn Đình Đầu vẫn sống khoẻ không đến nỗi khốn khổ như Lý Chánh Trung.Vừa rồi ông viết quyển sách về Trương Vĩnh Ký và bị thâu hồi.Ông kêu trời kêu đất! Té ra sống thân phận nô bộc mà ông tưởng là công thần, muốn viết sao thì viết ư?

Chuyện đáng buồn cười là Thế Uyên (1935-2013) , cháu Nhất Linh, đã rút gan ruột viết "Nghĩ trong một xã hội tan rã" (Thái Độ xuất bản, 1967, tái bản 1969) chỉ trich miền Nam. Ông cũng như bao văn nghệ sĩ khác như Phạm Duy, Nguyễn Cao Kỳ, Lệ Hằng, Nguyễn Thị Hoàng Bắc,Thu Tứ.. . truoc khi về với cộng sản phải phê và tự phê, nghĩa là phải chửi Quốc gia, chửi cha chửi mẹ! Một số sau 1975, Thế Uyên, Trần Văn Sơn, Đinh Xuân Dũng, Trần Thuc Linh...cuối cùng kẻ chạy sang Mỹ, người sang Pháp, chẳng ai ở lại hưởng thành quả tranh đấu của họ!
 Tóm lại, người tu hành nếu cứ ở trong nhà chùa, nhà thờ chuyên lo thờ cúngvà cầu nguyện thì đáng kính còn nhảy vào địa hạt chính trị nếu không thành những thằng hề thĩ là những con quỷ mặt người!
Còn những trí thức chạy theo cộng sản thì được gì? Xem gương  Lý Chánh Trung, Nguyễn Thị Thanh, Nguyễn Hữu Chung, Lê Hiếu Đằng... thì rõ!

Các ông trí thức, sĩ quan và tín đồ các tôn giáo sau 1975 có tỉnh ngộ không?Thich Nhât Hạnh chơi với ma bị mà rút ruột.  Công lao của Hoàng Quỳnh, Trần Hữu Thanh, Nguyễn Thị Thanh đã đổ xuống sông xuống biển khi Hoàng Quỳnh, Nguyễn Thi Thanh bị tù và các ông bà đua nhau từ bỏ Thiên Đường Công sản là nơi họ đã ra công "nẳm mùng chống muỗi! Một số ra hải ngoại làm gián điệp, viết báo chống Mỹ ca tụng Trung cộng, và kêu gọi hòa hợp hòa giải! Sao họ không ở lại với cộng sản ?

V.  ĐÁM  VIỆT CỘNG VÀ THÂN CỘNG HUẾ

1.TRỊNH CỘNG SƠN (1939- 2001) 

Ông quê ở làng Minh Hương, tổng Vĩnh Tri, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên - Huế. Ông lớn lên tại Huế. Lúc nhỏ ông theo học các trường Lycée Français và Providence ở Huế, sau vào Sài Gòn theo học triết học trường Tây Lycée Jean Jacques Rousseau Sài Gòn và tốt nghiệp tú tài tại đây.
Theo ông cho biết, ông sáng tác bài Sương đêm và Sao chiều vào năm 17 tuổi. Nhưng tác phẩm được công bố đầu tiên của ông là Ướt mi, do nhà xuất bản An Phú in năm 1959 và qua giọng ca Thanh Thúy.
Năm 1961 vì muốn tránh thi hành nghĩa vụ quân sự (trốn lính) nên ông thi và theo học ngành Tâm lý giáo dục trẻ em tại trường Sư phạm Quy Nhơn. Sau khi tốt nghiệp ông dạy tại một trường tiểu học ở Bảo Lộc, Lâm Đồng.
Tên tuổi của Trịnh Công Sơn được nhiều người biết đến hơn, từ khi ông cùng ca sĩ Khánh Ly hát tại Quán Văn, một quán cà phê đơn sơ dựng trên bãi đất cỏ sau Trường Đại học Văn khoa Sài Gòn do nhóm sinh viên mang tên Khai Hóa trong phong trào phục vụ thanh niên xã hội chủ trương, từ cuối năm 1966. Trong những năm sau đó, nhạc của ông được phổ biến và được nhiều ca sĩ trình diễn, đặc biệt là Khánh Ly.


Một số bài hát của Trịnh Công Sơn đã đến với công chúng Nhật Bản năm 1970 như "Diễm xưa" (do Khánh Ly biểu diễn bằng cả tiếng Nhậttiếng Việt), "Ca dao Mẹ", "Ngủ đi con". Riêng bài Ngủ đi con đã phát hành trên hai triệu đĩa nhựa. Vì lời lẽ trong nhiều bài hát của ông có tính chất phản chiến, nhà cầm quyền Việt Nam Cộng hòa đã cấm lưu hành vài tác phẩm của ông. Theo tác giả Ban Mai, trong cuốn "Trịnh Công Sơn - vết chân dã tràng", nhiều ca khúc của ông có thông điệp phản chiến bị cả hai bên Việt Nam Dân chủ Cộng hòaViệt Nam Cộng hòa cấm lưu hành. Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam cũng không tán thành thái độ phản chiến của ông về chiến tranh, vốn mang tính "chủ hòa, ủy mị", làm nản lòng những người đang đấu tranh chống xâm lược và thống nhất đất nước. Theo tác giả Ban Mai, trong cuốn "Trịnh Công Sơn - vết chân dã tràng", Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thì có những người phê phán ông vì coi ông là "thiếu lập trường chính trị" có những người cực đoan đòi sau khi tiến về Sài Gòn sẽ "xử tử" ông.

Trưa ngày 30 tháng 4 năm 1975, ông lên Đài phát thanh Sài Gòn hát bài "Nối vòng tay lớn" (bài hát kêu gọi và nói về ước mơ thống nhất dân tộc hai miền Nam Bắc mà ông viết từ năm 1968 nhưng chưa từng công bố cho tới thời điểm đó, nay được ông công bố để kỷ niệm sự kiện trọng đại mà ông mong chờ đã lâu.  Cũng chính ông là người trưa ngày 30/4 đã đứng lên phát biểu trực tiếp trên đài phát thanh Sài Gòn sau lời tuyên bố đầu hàng của Tổng thống Dương Văn Minh. Trong bài phát biểu, ông kêu gọi người dân miền Nam ủng hộ Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam


Theo BBC, sau khi chiến tranh kết thúc, gia đình ông di cư sang Mỹ và ông phải đi học tập cải tạo trong 4 năm. Theo Nguyễn Đắc Xuân, thời gian đầu sau khi kết thúc chiến tranh năm 1975, “Đối với lãnh đạo thì không có vấn đề gì, nhưng có nhiều "anh em phong trào" ở Sài Gòn không thích quan điểm lập trường chung chung của Trịnh Công Sơn trước đây", ông trở về Huế và "thời gian đó một số phần tử quá khích theo phong trào "Hồng vệ binh" của Cộng Hòa Nhân dân Trung Hoa đã kích động sinh viên treo một tấm banderole to tướng mang dòng chữ xanh rờn: "Hạ bệ Phạm Duy - Hoàng Thi Thơ và Trịnh Công Sơn" trước trường Đại học Sư phạm Huế" và "tiếp theo là cuộc tọa đàm luận tội "Trịnh Công Sơn có công hay có tội" tại Hội Văn nghệ Thừa Thiên - Huế. Hôm ấy có cả Trần Hoàn, Tô Nhuận Vỹ, Nguyễn Khoa Điềm, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Đắc Xuân, Trần Viết Ngạc và vài người nữa. Có người lên án, nhưng cũng có người bảo vệ. “Tội” của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn là ông đã làm nhạc phản chiến một cách chung chung, không phân biệt được chiến tranh xâm lược và chiến tranh giải phóng dân tộc trong bài “Gia tài của mẹ” với câu Hai mươi năm nội chiến từng ngày. Thậm chí ông còn làm nhạc ca ngợi địch trong bài “Cho một người nằm” xuống thương tiếc đại tá không quân Sài Gòn Lưu Kim Cương tử trận – người đã từng cưu mang ông. . Hồi ấy, những bản kiểm điểm nói không đúng vấn đề thường phải viết lại. Trịnh Công Sơn chưa quen lối sinh hoạt này nên rất chán chường..
Những năm sau 1975, sau thời gian học tập chính trị, ông làm việc tại Hội Âm nhạc Thành phố Hồ Chí Minh, tạp chí Sóng nhạc. Từ đầu thập niên 1980, Trịnh Công Sơn bắt đầu sáng tác lại, lúc đầu một số sáng tác ông gởi qua cho Khánh Ly và chỉ phát hành tại hải ngoại. Khi bắt đầu được phép lưu hành nhạc trong nước, ông có viết một số bài có nội dung ca ngợi những chủ trương của chế độ mới như Thành phố mùa xuân, Ngọn lửa Maxcova, Em ở nông trường em ra biên giới, Huyền thoại Mẹ... Sau đó nhà nước Việt Nam đã nới lỏng quản lý văn nghệ, ông lại tiếp tục đóng góp nhiều bản tình ca có giá trị.


Cuối đời, ông bị bệnh gan, thậntiểu đường. Tuy nhiên, ông vẫn cố gắng sáng tác những ca khúc mới trong những năm cuối đời mình.
Ông mất tại Thành phố Hồ Chí Minh vì bệnh tiểu đường lúc 12giờ45 ngày 1 tháng 4 năm 2001 (tức ngày 8 tháng 3 năm Tân Tỵ), hàng ngàn người đã đến viếng tang và "có thể nói, chưa có nhạc sĩ nào mất đi lại được công chúng thương tiếc như Trịnh Công Sơn".[25] Ông được an táng tại Nghĩa trang chùa Quảng Bình (phường Bình Chiểu - quận Thủ Đức. Từ đó hàng năm giới hâm mộ đều lấy ngày này làm ngày tưởng niệm.

Suốt đời, Trịnh Công Sơn yêu nhiều nhưng không chính thức kết hôn với ai, và cũng chưa chính thức công nhận là có con.
Mối tình đầu, thực chất chỉ là 1 tình bạn đẹp của ông là với ca sĩ Khánh Ly, rồi sau đó với một cô gái Nhật Bản làm luận án tiến sĩ về âm nhạc Trịnh Công Sơn. Hai người cũng đã tiến xa đến một kế hoạch đám cưới nhưng rồi cũng không thành vì anh Sơn không chấp nhận một vài nguyên tắc của gia đình người Nhật đưa ra khi anh về làm rể. Và Dao Ánh (người trong mộng của ông từ năm 1964 đến năm 1967; em ruột của bà Ngô Vũ Bích Diễm. Đây chính là "bóng hồng" trong nhạc phẩm "Diễm xưa". Trước khi yêu Dao Ánh, Trịnh Công Sơn từng dành tình cảm với cô chị gái Bích Diễm nhưng tình cảm ấy không thành.

Mối tình thứ tư của ông là với ca sĩ Hồng Nhung, và mối tình thứ năm của ông là với VA..., khi ông mất VA là một trong số các người thân ở bên cạnh ông .
Những năm cuối cùng của cuộc đời, niềm say mê lớn nhất, Trịnh Công Sơn gần như dành hết cho ca sĩ Hồng Nhung mà theo ông là "Một người quá gần gũi không biết phải gọi là ai!"... Với Hồng Nhung, tâm hồn Trịnh gần như trẻ lại, khiến bước chân ông trở nên bối rối, ngập ngừng với buổi hẹn ban đầu.
Một người khác cũng từ Hà Nội kể lại tình cảm của cô dành cho Trịnh Công Sơn và của Trịnh dành cho cô lần đầu gặp mặt: "Lần đầu tiên đứng trước nhau, cả tôi và anh Sơn đều run. Tôi run vì quá trẻ và Sơn run vì anh quá... già!"
Ban Mai có viết " Trịnh Công Sơn ,Vết chân dã Tràng. Thật vậy, ông là con Dã Tràng xe cát biển Đông. (Wikipedia)

  Một bài viết của Trịnh Cung làm chấn động dư luận. Trong bài mang tựa "Trịnh Công Sơn và tham vọng chính trị" ở trang mạng Damau, ông Trịnh Cung cáo buộc "rượu, phụ nữ và xu nịnh là một loại ma tuý tổng hợp đang nhấn chìm Trịnh Công Sơn" thời kỳ sau 1975.
Phần lớn bạn bè và nhà phân tích cho rằng Trịnh Công Sơn là con người phi chính trị, nhưng Trịnh Cung lại viết nhạc sĩ đã từng có lúc nghĩ đến việc xin vào Đảng Cộng sản.
Ông Trịnh Cung nói ông đã khuyên can, nhưng "không phải nhờ sự phân tích ấy mà Trịnh Công Sơn không trở thành đảng viên Đảng CSVN, mà bởi sự ngăn cản của nhạc sĩ Hoàng Hiệp, người giữ vai trò chính trị của Hội Âm Nhạc TP. HCM".


Chân dung một Trịnh Công Sơn hiện ra trong bài viết là một người cũng có tham vọng làm quan cả trong thời Việt Nam Cộng Hòa và sau 1975, không được tin dùng để rồi dẫn đến sự chán chường và buông xuôi...Ông Trịnh Cung nói Trịnh Công Sơn sau 1975 là 'người yếu đuối'
"Một là tài năng, có thể gọi là thiên tài âm nhạc, nhưng còn một con người mà ta vẽ vời là thiền sư, trong sáng thì ở đây, tôi muốn mô tả một thời kỳ xuống dốc của người bạn ấy."

Theo ông Trịnh Cung, giai đoạn trước và sau 1975 chứng kiến hai con người khác nhau của nhạc sĩ.
"Không phải do anh muốn, mà do thời cuộc đã đẩy anh vào một cuộc sống không đẹp như trước 75. Dù là trước 75, anh đấu tranh cho ai, tôi vẫn thấy đó là thời gian sống rất đẹp, khác hoàn toàn giai đoạn sau này."

"Cuộc sống của anh sau 75 là của một người yếu đuối, chấp nhận để được vui. Sau khi được ông Võ Văn Kiệt nâng đỡ, đưa anh quay lại Sài Gòn, từ đó anh xem mình có chỗ dựa. Mà ngay cả trước 75, có những người bạn ở phía đối nghịch cộng sản nhưng quý tài của anh, đã giúp anh nhiều."
 http://www.bbc.com/vietnamese/culture/2009/04/090404_trinhcongson_controversy.shtml

 Nhiều người yêu mến Trịnh Công Sơn, nhất là bà Trịnh Vĩnh Trinh cải chánh cái tin Trịnh Cộng Sơn có tham vọng chính trị. Họ phủ nhận Trịnh Cung nhưng không có lời biện hộ rõ rệt. Mà tham vọng chính trị thì có gì xấu? Trong chế độ quân chủ, nhiều người cố học hành thi đỗ để làm quan. Trong chế độ hiện tại, ai cũng cố học đại học để kiếm mảnh bằng nuôi thân. Và các chính trị gia đổ xô ra ứng cử. Tất cả đều có tham vọng chính trị, mà có sao đâu! Miễn là đừng phản quốc, hại dân, tham ô nhũng lạm, chà đạp pháp luật và luân lý là được!

Hoạ sĩ Bửu Chỉ (đã mất) đã viết: “Trong dòng nhạc phản chiến của mình, TCS đã chẳng có một toan tính chính trị nào cả” (Trích bài viết: “Về Trịnh Công Sơn và Những Ca Khúc Phản Chiến Của Anh”, in trong Trịnh Công Sơn, Cuộc Đời, Âm Nhạc, Thơ, Hội Hoạ & Suy Tưởng do Nhà Xuất Bản Văn Hoá Sài Gòn ấn hành năm 2005)?


Sự thực có đúng như câu khẳng định chắc nịch ở trên của ông Hoàng Tá Thích và hoạ sĩ quá cố Bửu Chỉ? Chắc chắn là sai 100% rồi nếu như Trịnh Công Sơn không là tác giả của 3 tập nhạc phản chiến (Ca Khúc Da Vàng, Kinh Việt Nam và Ta Phải Thấy Mặt Trời), và cũng chưa từng tham gia vào Phong trào Đấu tranh Đô thị của Thanh niên Sinh viên Học sinh để chống Mỹ và chính quyền Sài Gòn mà chính cuốn sách của Hoàng Tá Thích và bài viết của Bửu Chỉ vừa nhắc đến ở trên đã có nhiều tiết lộ. Mặt khác, trong bài viết “Có Nghe Ra Điều Gì” Trịnh Công Sơn gửi cho bác sĩ Thân Trọng Minh tức nhà văn Lữ Kiều năm 1973 có đoạn như sau: “…Chưa bao giờ tôi có ý nghĩ tự đề nghị với mình một trách nhiệm quá lớn, nhưng khi đã lỡ nhận chịu những cảm tình nồng hậu từ đám đông, thì những tình cảm kia phải được đền bồi…”. Và trong thư TCS gửi cho Ngô Kha – người bạn cùng chí hướng chính trị và cũng là người em rể, đồng thời là lãnh tụ của Chiến đoàn Nguyễn Đại Thức này đã bị Công An Huế bắt (1972-1974) – chúng ta sẽ dễ nhận ra ý thức làm chính trị chống chế độ Sài Gòn của Trịnh Công Sơn. Nhất là trong đoạn Lê Khắc Cầm nói về mối quan hệ giữa TCS và tổ chức cơ sở thành uỷ Huế do Lê Khắc Cầm bí mật phụ trách trước 1975 như thế nào, thì không thể nói là TCS không có toan tính chính trị như nhận định của hoạ sĩ Bửu Chỉ

Trước khi nêu thêm những dẫn cứ quan trọng hơn để chúng ta có cái nhìn rõ hơn về thái độ chính trị của TCS thời chiến tranh VN, và cũng nhằm cung cấp thêm tư liệu để làm rõ các mối quan hệ có tính dính líu vào hoạt động chính trị phản chiến thân Cộng của TCS, tác giả xin kể một kỷ niệm với Ngô Kha và vì sao Ngô Kha lấy tên cho lực lượng đấu tranh của mình là Chiến đoàn Nguyễn Đại Thức.[...] . Ngay cả tại “túp lều cỏ” Tuyệt Tình Cốc ở Huế, nơi mà nhà văn Thế Uyên trong một bài viết của anh có tên “Cuộc Hành Trình Làm Người Việt Nam Qua Trịnh Công Sơn” đã tự bạch anh từng đến dự những cuộc họp bàn về đấu tranh chính trị do nhóm Hoàng Phủ Ngọc Tường, Trần Quang Long, Nguyễn Đắc Xuân và Trịnh Công Sơn đứng ra tổ chức, tôi cũng chưa bao giờ đặt chân đến đó và thậm chí không hề biết có những việc như thế.

Đơn giản vì tôi rời Huế vào sống ở Sài Gòn sau khi tốt nghiệp Mỹ thuật năm 1962, mối quan hệ giữa tôi và họ chỉ là một tình bạn văn nghệ thuần tuý. Để thối thác lời đề nghị ghê gớm này của Ngô Kha, tôi dừng lại trong bóng đêm bên này cầu Kiệu và nói với anh:”Ông thấy con mình vừa đầy năm, bà xã còn quá trẻ và yếu đuối, làm sao mình bỏ nhà đi vào căn cứ với bạn được. Hơn nữa mình không đồng ý cách giết người của họ ở Huế hôm Tết Mậu Thân… thôi chúc bạn lên đường may mắn!”. Thế nhưng, sự việc sau đó lại đưa Ngô Kha đến một hoàn cảnh khác. Anh không đi vào rừng mà về Huế rồi bị bắt và chịu một cái chết bi thảm.[...]. Nguyễn Đắc Xuân tiết lộ và đã xác nhận lại với tác giả bài viết này như sau: “Vào đêm ngày 29-5-1966, trên đường Trần Bình Trọng-Đà Lạt, Trần Trọng Thức (nhà báo), Nguyễn Ngọc Lan (linh mục, đã chết), Nguyễn Đắc Xuân và Trịnh Công Sơn đã cùng nhau bàn về một giải pháp chính trị cho trí thức yêu nước và người đưa ra sự chọn lựa rất quyết đoán và hợp ý với 3 bạn đồng hành với mình: “Không có con đường nào khác cho anh em mình ngoài Mặt trận Giải Phóng Miền Nam!”.

 Vậy là đã quá rõ về khuynh hướng chính trị của Trịnh Công Sơn![...].Những ngày trước 30-4-75, Sài Gòn rơi vào tình trạng hỗn loạn. Người thân cộng thì hí hửng, người quốc gia thì lo âu và tìm đường bỏ nước. Mọi thứ sinh hoạt đều tê liệt, tôi nằm trong số người chịu trận, bế tắc, no way out. Trong thời điểm tinh thần sa sút này, tôi thường ghé qua nhà TCS để tìm một thông tin tốt lành vì anh có nhiều mối quan hệ, nhưng cũng không được gì vì TCS từ chối ra đi và cho biết sắp nhận chức Quốc Vụ Khanh đặc trách văn hoá trong chính phủ Dương Văn Minh lên thay Thiệu-Kỳ, em trai TCS là đại uý Trịnh Quang Hà sẽ được giao làm Cảnh sát Trưởng quận 2 (nay là quận 1).

Thế là xong, TCS sẽ tham gia chính quyền được chuyển từ tay Nguyễn Văn Thiệu để thương lượng hoà bình với quân GP đang bao vây Sài Gòn và doạ sẽ tắm máu Sài Gòn nếu VNCH không buông súng.[...].Thế nhưng, TCS và người em không có tên trong thành phần chính phủ Dương Văn Minh khi các hệ thống thông tin quốc gia công bố ngày 27-4-75 và cũng không có tên kiến trúc sư Nguyễn Hữu Đống trong vai đệ nhất Phó Thủ Tướng – người bạn chính trị không lộ diện của TCS từ trước sự kiện Tết Mậu Thân 1968, một cố vấn chính trị, một công trình sư cho sự nghiệp chính trị của TCS, đã vận động cho TCS vào chính phủ này như là đại diện của phe Phật giáo. Và với kết quả này, nhà hoạt đầu chính trị trẻ tuổi Nguyễn Hữu Đống đã phải rời khỏi nhà TCS ngay sau đó, sau khi đã ăn ở trong nhà TCS nhiều tháng trước như một người em rể.

Sau này, trong thời Lý Quí Chung còn sống, tôi có hỏi về sự việc này. Với tư cách là một Bộ trưởng Thông Tin và người rất thân cận với tướng Dương Văn Minh, Lý Quí Chung đã xác nhận: không hề có một đề cử nào cho TCS và Nguyễn Hữu Đống vào chính phủ Dương Văn Minh cả. TCS và gia đình đã bị Nguyễn Hữu Đống lừa rồi! Và từ đó TCS đã coi Nguyễn Hữu Đống là kẻ ghê tởm.
 (Trịnh CungTrịnh Công Sơn & Tham Vọng Chính Trị)

 Nhiều người oán ghét Trịnh Cung về tội làm lộ bộ mặt nham nhở của thần tượng họ.Theo tôi nghĩ, vấn đề chính là Trịnh Công Sơn có theo Cộng sản hay không. Nếu theo cộng sản tất có ý thưc chính trị và tham vọng nọ kia.! Ở đời ai chẳng tham danh! Tham danh có gì là xấu! Từ tham danh đi đến gian dối, phản quốc hại dân, hành động vô liêm sỉ thì mới đáng khinh. Trịnh Công Sơn cùng đám Trần Trọng Thức , Nguyễn Ngọc Lan , Nguyễn Đắc Xuân, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Hữu Đống...cùng theo Việt Cộng thì đâu có phải là nhà tu hành! Bọn họ theo cộng sản tất là một bọn khát máu, khát tiền tài, danh vọng. Lãnh tụ  thì thich ngồi lì, kéo cả vợ con, anh em bất tài vào xí phần. Cái truyền thống đó tất nhiên sẽ sinh ra tranh giành, chém giết, đâu có nhân nghĩa đến phần Trịnh Công Sơn. Thành thử bênh vực một vài tên trong bọn cướp là hành động vô nghĩa.

Xét cho kỹ, trường hợp Trinh Công Sơn là nạn nhân giữa hai lằn đạn. Người quốc gia kết tội Trinh Công Sơn là hữu lý vì Bắc Việt cũng cấm nhạc phản chiến. Nhưng của đáng tội, TCS theo cộng sản lại bị cộng sản đọa đầy! Họ kết tội TCS:
– Thiếu minh bạch trong suy nghĩ về chiến tranh VN và tính hai mặt trong quan hệ xã hội.
– Không ở trong một đường dây của tổ chức và chịu sự lãnh đạo của tổ chức đó.
– Không dám thoát ly đi theo MTGPMN.

Nếu không có Võ Văn Kiệt, TCS sẽ ra sao? Khi  Trần Hoàn, Tô Nhuận Vỹ, Nguyễn Khoa Điềm lập tòa án xử TCS, mấy ai là bạn bè của TCS dám lên tiếng bênh vực? Ở trong cái xứ mà con cái phải tố cha mẹ thì việc bênh vực bạn bè thật sự đã tuyệt chủng! Trịnh Cung nói sau 1975,TCS trở nên yêu đuối. Ông ta không tự tử là may khi thấy các đồng chí anh em của ông đời xử tử hoặc bỏ tù  ông! TCS khôn ngoan và biết cúi mình khi viết Thành phố mùa xuân, Ngọn lửa Maxcova, Em ở nông trường em ra biên giới, Huyền thoại Mẹ...Và ông cũng giỏi đóng kịch khi lớn tiếng cười reo:
Mỗi Ngày Tôi Chọn Một Niềm Vui”!Thật vậy, đời ông còn gì nữa đâu!

Người ta lo Trịnh Công Sơn  phẫn chí sẽ tự tử. Ông cũng tự tử nhưng bằng một cách khác. Sáng hay chiều, TCS ngồi nhậu rượu Ararat, một loại cô-nhắc Nga (sau “đổi mới” chuyển qua rượu chát đỏ của Pháp, và sau cùng là Whisky Chivas).Rượu, phụ nữ và xu nịnh là một loại ma tuý tổng hợp đang nhấn chìm TCS được nguỵ danh dưới khẩu hiệu "Mỗi Ngày Tôi Chọn Một Niềm Vui"
Mỗi ngày tôi chọn ngồi thật yên
Nhìn rõ quê hương, ngồi nghĩ lại mình
Tôi chợt biết rằng vì sao tôi sống
Vì đất nước cần một trái tim
!

Mỗi ngày một niềm vui chính là mỗi ngày một liều thuốc độc nhỏ!
Tôi nghĩ TCS là kẻ lạc đường, đất nước không cần những kẻ theo Cộng sản như ông. Ban Mai  phê phán rất đúng trong bài " Trịnh Công Sơn ,Vết chân dã Tràng. Thật vậy, ông là con Dã Tràng xe cát biển Đông. (Wikipedia)


2. HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG 

Ông cùng Nguyễn Đắc Xuân, và em ông, Hoàng Phủ Ngọc Phan là những  nhận vật nổi cộm trong vụ tết mậu thân (1968). Thế mà, theo Ngô Minh, từ nhiều năm qua, chính quyền cũng không mấy mặn mà với anh (Ngô Minh. Bi kịch Hoàng Phủ Ngọc Tường.Tạp chí Sông Hương - Số 231- tháng 5). Và Bảng Đỏ (Dân Làm Báo) cũng nhận định:" Sau năm 1975, cũng như nhiều nhân vật đi theo ‘mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam’, Hoàng Phủ Ngọc Tường gần như bị chế độ CSVN loại bỏ. Đến năm 1987 thì ông này lại làm đơn xin gia nhập đảng.Trong bài phỏng vấn, ông Tường nói rằng đã ‘thôi sinh hoạt đảng’ 3 năm sau đó – tức năm 1990, nhưng không có giấy tờ chính thức."

Ông đã được Cộng sản khen ngơi vì ông đã lập nhiều thành tich.Lúc này Hoàng Phủ là  giáo sư dạy môn siêu hình học ở Trường Quốc Học Huế. Anh có viết báo làm thơ và làm chủ bút một số tờ báo của  lực lượng học sinh sinh viên đấu tranh, nhưng về văn học thì chưa có tác phẩm nào nổi tiếng. Cùng tham gia “xuống đường” đấu tranh với HPNT lúc đó có Hoàng Phủ Ngọc Phan (em trai), Nguyễn Đắc Xuân, Trần Vàng Sao, Ngô Kha, Trần Quang Long, giáo sư Lê Văn Hảo, Phương Thảo v.v. Năm 1966, HPNT “lên xanh” làm cán bộ, rồi viết báo ở Ban Tuyến Huấn Thành uỷ Huế, chẳng có chức vụ gì cả. Trong “Tổng tấn công” Tết Mậu Thân 1968, trong khi chiến trận đang hồi ác liệt tại Huế, thì một tổ chức mới ra đời gọi là Liên Minh các lực lượng Dân tộc Dân chủ và Hoà bình Thành phố Huế (gọi tắt là Liên Minh Huế) ra đời. Hoàng Phủ Ngọc Tường, là Tổng thư ký, giáo sư Lê Văn Hảo, chủ tịch, bà Nguyễn Đình Chi và Hoà thượng Thích Đôn Hậu là phó chủ tịch. Người ta kết tội HPNT, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Lê Văn Hảo, Nguyễn Đắc Xuân  là “đồ tể giết 2000 người Huế trong Tết Mậu Thân”, “thủ phạm chính của cuộc tàn sát”, “các hung thần can dự tới bữa tiệc máu” v.v

Ông và đồng bọn phủ nhận rằng ông là thường dân nên không cầm súng, và trong tết mậu thân, ông không ở Huế. Lý luận này quá ư trẻ con vì  ông không ở Huế nhưng có thể  ở Thừa Thiên, ở khu an toàn của bộ chỉ huy, ông không cầm súng nhưng dắt súng trong quần áo, ai biết được!

Đài VOA đã cho ta những chi tiết về bàn tay đẫm máu của Hoàng Phủ Ngọc Tường và đồng bọn:
Việc chứng minh Hoàng Phủ Ngọc Tường có mặt ở Huế và đã có xử án nhiều người thì nhiều nguồn đã nhắc đến. Những tài liệu chính:
1/ Năm 1981 khi trả lời phỏng vấn của đài truyền hình WGBH cho loạt phóng sự về cuộc chiến Việt Nam đã qua, ông Tường thừa nhận đã có mặt tại Huế vào thời điểm Tết Mậu Thân.
2/ Trong tác phẩm Giải khăn sô cho Huế của Nhã Ca (Nxb Việt Báo. 2008), Nguyễn Đắc Xuân cũng xác nhận Hoàng Phủ Ngọc Tường có mặt tại Huế ở khu Gia Hội trong Tết Mậu Thân, với các nhân vật Đắc là Nguyễn Đắc Xuân, Phủ là Hoàng Phủ Ngọc Tường và Ngọc là Hoàng Phủ Ngọc Phan. (tr. 226)
3/ Sách Huế Thảm sát Mậu Thân của Liên Thành (Nxb Ủy ban Truy tố Tội ác Đảng Cộng sản Việt Nam. 2011) ghi lại sự kiện tác giả, lúc còn là cấp chỉ huy cảnh sát đặc biệt ở Huế, bắt được Hoàng Kim Loan, một cán bộ cộng sản nội thành hoạt động tại Huế vào tháng 5/1972 và Loan đã khai rằng Hoàng Phủ Ngọc Tường ngồi ghế chủ tịch toà án nhân dân ở trường Gia Hội cùng với 2 thành ủy viên là Phan Nam, Hoàng Lanh cũng như Hoàng Kim Loan đã có mặt ở đó. (tr. 215)
4/ Sách The Viet Cong massacre at Hue của Alje Vennema (Nxb Vantage. 1976) ghi nhận những nơi có tòa án nhân dân là ở chủng viện do Hoàng Phủ Ngọc Tường chủ tọa. Bên trường Gia Hội do Nguyễn Đắc Xuân (tr. 94).
Sự kiện Nguyễn Đắc Xuân, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đoá và Nguyễn Thị Đoan Trinh có mặt tại Huế dịp Tết Mậu Thân thì không có gì tranh cãi vì đã có rất nhiều tài liệu nói lên điều đó và họ không phủ nhận.
Riêng Hoàng Phủ Ngọc Tường, sau khi trả lời truyền hình Mỹ là ông có mặt ở Huế vào Tết Mậu Thân, đến năm 1997 ông lại phủ nhận chuyện đó khi trả lời phóng viên Thụy Khuê của đài RFI. Bài phỏng vấn được in lại trong sách Giải khăn sô cho Huế có câu hỏi liên quan đến sự kiện đó như sau:
TK: Như vậy thì anh đã làm gì trong thời gian Tết Mậu Thân? Anh ở đâu? Anh làm những chức vụ gì?

HPNT: Có một tổ chức chính trị của các lực lượng đấu tranh của phong trào Huế ra đời trong bối cảnh xuân Mậu Thân, ấy là Liên Minh Các Lực Lượng Dân Tộc Dân Chủ Và Hòa Bình Thành Phố Huế, do anh Lê Văn Hảo làm Chủ tịch, Hòa Thượng Thích Đôn Hậu và bà Nguyễn Đình Chi làm Phó chủ tịch. Với tư cách Tổng thư ký, tôi luôn luôn có mặt bên cạnh các vị kể trên để làm công tác chính trị của Liên Minh, tuyệt nhiên không dính líu gì đến chuyện nhúng tay vào máu ở Huế. Trụ sở chiến dịch của Liên Minh là một địa đạo Trường Sơn, thuộc huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên, Huế. Trụ sở này, đã được mô tả đầy đủ trên báo Lao Động, ở trong nước cách đây hai tháng. (tr. 604)

Tập sách Huế Xuân 68 (Nxb Thành ủy Huế. 1988) là nguồn tài liệu qua nhiều bài bút ký chiến tranh ở Huế Tết Mậu Thân của những người đã trực tiếp tổ chức và tham gia vào cuộc tổng tấn công như Thượng tướng Trần Văn Quang, Thiếu tướng Lê Chưởng, Lê Minh, Ngô Kha, Nguyễn Đắc Xuân, Lê Văn Hảo, Nguyễn Đình Chi, Lê Thị Mai v.v…
Sách do Nguyễn Huy Ngọc chịu trách nhiệm xuất bản và ban biên tập gồm Hoàng Phủ Ngọc Tường, Tô Nhuận Vỹ, và Nguyễn Đắc Xuân.
Bài “Bước ngoặt vào xuân” của Lê Cảnh Trân là sĩ quan bí thư của tỉnh trưởng Thừa Thiên Huế Phan Văn Khoa và là một cán bộ nằm vùng, có đoạn viết:
“Theo các nguồn tin từ xa qua đài Tiếng nói Việt Nam, đài Phát thanh Giải phóng…. Bao nhiêu gương mặt quen thuộc, thân yêu cũng đã đến với tôi: Thượng tọa Thích Đôn Hậu trụ trì chùa Thiên Mụ, giáo sư Hoàng Phủ Ngọc Tường từng giảng văn học cho tôi, giáo sư Lê Văn Hảo, bà Tùng Chi, rồi Nguyễn Đắc Xuân người bạn trong phong trào trước đây, rồi Đoan Trinh, con gái cụ Nguyễn Đoá, từng là đoàn sinh gia đình Phạt tử của tôi. Nhiều, nhiều người lắm… cùng xuất hiện trên một trận tuyến giải phóng thành phố Huế.” (tr. 332)
Giáo sư Lê Văn Hảo qua bài “Bước ngoặt của đời tôi” ghi lại sự kiện ông rời thành lên núi, tức vào chiến khu, từ hôm 25 tháng Chạp, đi theo một cô giao liên tên Gái dẫn đường. Tối 29 tháng Chạp ông gặp Hoàng Phủ Ngọc Tường, cùng với Hoàng Phương Thảo và Nguyễn Đức Hân. Sáng 30 Tết ông tham khảo với Tường để sửa chữa lời kêu gọi của ủy ban liên minh các tổ chức để trưa hôm đó ghi âm. Ông và Thảo, Hân cùng Hoàng Phủ Ngọc Tường theo dự kiến sẽ xuống núi sau vài ngày. (tr. 240)
Sau khi tổng tấn công nổ ra ông Hảo ghi lại như sau:
“Đến ngày 15 tháng 2 thì Ủy ban Nhân dân Cách mạng Thừa Thiên Huế ra mắt đồng bào cố đô. Tôi được cử làm chủ tịch, anh Hoàng Phương Thảo, chị Nguyễn Đình Chi làm phó chủ tịch. Cũng trong những ngày Huế giải phóng, trên đường phố tại nhiều địa điểm có loa phóng thanh đã vang lên Lời Kêu gọi của Ủy ban Liên Minh các lực lượng Dân tộc Dân chủ và Hoà bình Việt Nam…” (tr. 242)
Sự kiện Lê Văn Hảo đã có mặt ở Huế ngày 15-2-1968 và theo lời Hoàng Phủ Ngọc Tường trả lời Thụy Khuê là ông “luôn luôn có mặt bên cạnh các vị kể trên” thì điều đó chứng minh ông Tường đã xuống núi cùng với giáo sư Lê Văn Hảo và Hoàng Phương Thảo và lúc đó cũng đang có mặt ở Huế cùng với Hoà thượng Thích Đôn Hậu và bà Nguyễn Đình Chi là những người đứng đầu Liên minh.
Cũng theo bài viết của Lê Văn Hảo, khoảng nửa tháng sau khi Huế được giải phóng, nhiều người rời thành phố ra vùng giải phóng tham gia cách mạng có Hòa thượng Thích Đôn Hậu, Nguyễn Đình Chi (tên thật là Đào Thị Xuân Yến), Nguyễn Đoá, Tôn Thất Dương Tiềm. (tr. 244)
Bà Nguyễn Đình Chi trong bút ký “Thoát Ly” kể rằng ngày 9-2-1968, lúc bà còn ở Huế, thì Hoàng Phương Thảo đã gặp bà để bàn về việc gia nhập Liên minh và ủy ban nhân dân cách mạng và bà đã đồng ý.
Sau đó bà thoát ly lên núi, vào một nơi dành cho các vị trong ủy ban nhân dân và liên minh thì “gặp ngay những nhân sĩ trí thức Huế đã lên trước tôi chẳng hạn như bác Nguyễn Đoá, anh Tôn Thất Dương Tiềm, anh Lê Văn Hảo, anh Thành, anh Hoàng Lê (tức Hoàng Phương Thảo)…” (tr. 252). Hôm đó là ngày 18-2-1968.
Khoảng cuối tháng 2, đầu tháng 3 ở chiến khu bà Chi bị sốt rét và có Lê Văn Hảo cùng Thuyết, bí danh của Hoàng Phủ Ngọc Tường, ghé thăm. Đó là lời bà Chi kể lại trong bút ký.
Qua những tài liệu trên, có thể suy ra rằng Hoàng Phủ Ngọc Tường có mặt ở Huế trong khoảng thời gian từ tuần đầu đến giữa tháng 2/68. Vì sau đợt tấn công đầu tiên chiếm được Huế, bộ đội cộng sản không giữ được và quần chúng không nổi dậy, cũng như tại nhiều tỉnh thành khác lúc bấy giờ, nên bộ chỉ huy bắt đầu tính đến kế hoạch rút lui sau các đợt phản kích bắt đầu một tuần sau đó của lính Việt Nam Cộng hòa và Mỹ. Sau 26 ngày chiếm Huế thì bộ đội cộng sản hoàn toàn rút khỏi.
Trong giao tranh nhiều người bị tử thương vì bom đạn hai bên. Chết vì bị tấn công nhầm, vì bom lửa như đã được ghi lại trong nhiều sách, tài liệu.
Nhưng còn hàng nghìn cái chết của những người đã ra đầu hàng, những người bị đập vỡ sọ, bị trói tay thành từng nhóm, bị nhét giẻ vào miệng trước khi bị đẩy xuống hố, xuống mương chôn sống. Đó là thảm sát.
https://www.voatiengviet.com/a/hoang-phu-ngoc-tuong-co-o-hue-tet-mau-than/3058946.html

 VI. ĐÁM MẶT TRẬN GIẢI PHÓNG

Cộng sản là một lũ tàn ác và lưu manh xảo trá.Ký hiệp định Genève thì chúng liền chuẩn bị chiến tranh.
-Một số tập kết ra Băc nhưng một số ở lại với đạn được, vũ khí.
-Làm đưởng Trường Sơn đưa quân đội, vũ khí vào Nam.
Trong Bắt Trẻ Đồng Xanh (1958   ), Võ Phiến viết về sự cghuẩn bị chiến tranh của Việt Cộng:
— Vũ khí, họ chôn giấu lại một số ở Miền Nam;
— Cán bộ và binh sĩ, họ chọn lựa một số cho ở lại: có hạng được bố trí để len lỏi vào các cơ quan quốc gia, có hạng trở về cuộc sống thường dân chờ thời cơ, có hạng đổi vùng để hoạt động, có hạng vừa lẩn trốn vừa bám lấy địa phương để hoạt động v.v…
— Địa chủ, phú nông, trót bị ngược đãi tù tội, đều được tha thứ, giải thích, dỗ dành để xóa bỏ hận thù. Những thành phần không dỗ dành được thì họ thủ tiêu, vì xét nguy hiểm đối với tính mạng những cán bộ nằm vùng của họ;
— Tập kết theo nguyên tắc: Đưa ra Bắc hạng trai trẻ có thể làm việc đắc lực và sản xuất giỏi cùng hạng có uy tín có khả năng; bỏ lại trong Nam hạng lão nhược có thể làm một gánh nặng cho quốc gia. Cố ý gây phân ly chia cách, làm thế nào để mỗi gia đình đều có kẻ đi người ở;
— Gấp rút tạo thêm nhiều liên hệ giữa thành phần tập kết ra Bắc và dân chúng Miền Nam: đặc biệt là tổ chức những đám cưới cấp tốc khiến cho hàng chục vạn binh sĩ và cán bộ Việt cộng ra đi bỏ lại trong Nam bấy nhiêu cô vợ trẻ, có những cô chỉ ăn ở với chồng được đôi ba hôm.
Bấy nhiêu cô vợ trẻ và gấp đôi gấp ba chừng ấy cha mẹ già cùng cô cậu chú bác v.v… là một lực lượng đáng kể. Bằng chính sách tập kết và gây liên hệ này, cộng sản cưỡng bức một số người về sau phải làm nội tuyến cho chúng.

Trần Đĩnh cũng nói lên sự gian manh của Việt Cộng trong hiệp định Geneve.
Sau hiệp định Genève, thế giới tố cáo các ông cài người ở lại phá hoại thì các ông chửi là vu cáo bỉ ối và lời các ông hay dùng nhất lúc ấy là “vả vào những cái mồm nói láo”. Nay báo chí lại tự hào ngay từ lúc hiệp định Genève chưa ráo mực đã sớm cài người, rồi mở đường mòn với “con thuyền không số” để chuẩn bị cách mạng. Lạ à? Đọc Nhân Dân 21 tháng bảy linh tư đi....
Gia Lai gặp mặt 154 cán bộ được đảng phần công ở lại “bám dân bám đất, lãnh đạo chống lập tề, chống bắt lính để tiếp tục sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà ngay sau hiệp định Genève”.
Sau đó mấy hôm Q. gặp tôi. Nói ngay: Chú ý là ngay sau và tiếp tục sự nghiệp giải phóng tức là hê mẹ nó Genève đi từ sớm và uýnh luôn sang màn hai, thế nhưng lại nói vì nó không chịu tổng tuyển cử. Anh cài người, từ Lê Duẩn, anh chôn vũ khí lại, anh phá Chính quyền Quốc gia thì hỏi còn đứa nào tổ chức được tổng tuyển cử nữa mà anh cứ vu cho nó phá tổng tuyển cử! Lưỡi không xương, ông cha nói hay thật đấy! Gần đây cố vấn quân sự Trung Quốc tung ra hồi ký cho hay tháng 3 năm 1955, La Quý Ba, Vi Quốc Thanh và Võ Nguyên Giáp đã vào tận Bến Hải nghiên cứu bờ biển để sớm đề phương án tác chiến “tương lai”. Tháng 9, Võ Nguyên Giáp lại sang họp với Bành Đức Hoài và tướng lĩnh Trung Quốc bàn thêm.(ĐC II. Ch,48)
Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam được chính thức thành lập vào ngày 20 tháng 12 năm 1960 tại xã Tân Lập, huyện Châu Thành (nay là Tân Biên) trong vùng căn cứ của mình ở tỉnh Tây Ninh, với thành phần chủ chốt là lực lượng Việt Minh hoạt động bí mật ở miền Nam. Lãnh đạo ban đầu là Võ Chí Công, Phùng Văn Cung, Huỳnh Tấn Phát. Huỳnh Tấn Phát giữ chức vụ Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Ủy ban Trung ương.
 Bắc Việt đứng đàng sau MTGPMN.Việt Cộng lập những trí thức miền Nam đứng đầu để che mắt thiên hạ. Theo Kim NHật (VỀ R), bọn bần cố nông trong khu rất khinh  bỉ bọn trí thưc Saigon. Họ là công nông, giai cấp lãnh đạo không thể phục vụ bọn tư sản. Bọn Việt Công phải dỗ dành mới yên. Sau 1975, tôi đến thư viện Quốc Gia cũ mượn sách, đứng ở bàn giấy, tôi nghe bà nhân viên chửi bới Thanh Nghị nát nước. Có lẽ bà tức bực vì thành phần công nông lãnh đạo mà phải ở dưới quyền một tên tư sản, dẻ thù của nhân dân.
GS Hứa Hoành cho ta biết nhiều việc.
-Các tổ chưc Mặt Trận, Chính phủ lâm thời đều không có lấy một văn phòng.Chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ cũng không có một người thư ký. Cán bộ Chín Chiến nhiều lần nói  huych tệc trước mặt với tôi rằng :NGuyễn Hữu Thọ chỉ là cái tên. Mọi việc đều do đảng quyết đinh hết.Ông Thọ có cần phải ký tên đâu mà cần thư ký!
Nếu ông Thọ muốn vào đảng thì cũng chỉ được làm  đảng viên dự bị thôi vì ông ta là thân phận trí thức tư sản  do Tây phương đào tạo. (Hứa Hoành. Trí thưc miền Nam theoMTGP)
Người quan trọng trọng MTGPMN là Trương Như Tảng. Ông chạy sang Pháp, viết "Hồi Ký một Việt Cộng".


Rồi đi theo Cộng Sản Pháp chống chiến tranh. Cha ông hiểu Cộng Sản. Gia đình ông đã bị điêu đứng vì Cộng Sản. Cơ sở làm ăn buôn bán của gia đình ông bị Cộng Sản phá sạch. Vì vậy khi nghe tin ông theo Cộng Sản. Cha ông gọi ông về. Ông không về. Cha ông và cha vị hôn thê của ông bày mưu đưa cô này, lúc ấy mới 17 tuổi, sang Pháp làm đám cưới với ông, rồi đưa đi thăm thú nơi nọ nơi kia với mục đích làm ông mê vợ trẻ, quên chính trị. Nhưng ông lại thuyết phục được vợ theo chí hướng của ông mà cả hai coi là chủ nghĩa yêu nước. Đến nước này gia đình hai bên chỉ còn cách làm áp lực tài chính. Cắt chuyển ngân. Không tiếp tế gì nữa. Trương Như Tảng bèn để vợ mang bầu về Saigon còn mình ở lại đi rửa chén, gọt khoai kiếm tiền sinh sống ngỏ hầu có thể tiếp tục theo hướng đi đã vạch sẵn. Nhưng rồi sau ông cũng mềm lòng vì thương gia đình, (cha ông không còn đủ tiền cho các anh em ông tiếp tục theo học). Ông về nước vào năm 1954. Ông đã kể rõ trường hợp đó trong hai chương 3 và 4 của cuốn hồi ký.


Khi mới chân ướt chân ráo tới Pháp ông đã được hân hạnh gặp Hồ Chí Minh cũng vừa tới để thương thuyết với Sainteny. (1bis) Ông Hồ đã để cả một buổi chiều tiếp ông và một nữ sinh khác cũng người miền Nam tại phòng làm việc của phái đoàn Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà ở Fontainebleau. Cuộc gặp gỡ này đã để lại cho ông một kỷ niệm khó quên và những tình cảm sâu đậm dành cho ông Hồ, người luôn bắt ông phải gọi là “bác” chứ không được xưng hô là Hồ chủ tịch, hay chủ tịch. Cũng vì vậy cho nên khi về nước vào năm 1954, ông đã từ khước lời mời của những Võ Văn Hải, Ngô Khắc Tỉnh, Trần Hữu Thế là những người Quốc Gia chống Cộng, để rồi chạy theo những người thuộc phe ông Hồ. Ngay từ 1958 ông đã bắt đầu hoạt động bí mật cho Cộng Sản, tại Saigon. Sau khi Tổng Thống Ngô Đình Diệm bị lật đổ, ông được cử làm tổng giám đốc Công Ty Đường Việt Nam, một công ty quốc gia lớn với trên 5000 nhân viên. Trong thời gian này theo ông cho biết (2) ông đã hoạt động ngầm qua hai tổ chức thân Cộng là “Phong trào Tự Quyết” và “Ủy ban bảo vệ Hoà Bình” do bác sĩ Phạm Văn Huyến, cha của nữ luật sư Ngô Bá Thành, điều khiển. Năm 1967, do sự “phản bội” của Ba Trà, một cán bộ Cộng Sản khác, hành tung của ông bị bại lộ và ông bị cảnh sát quốc gia bắt giam. Nhờ có Trần Bạch Đằng (3) thu xếp với người Mỹ về trao đổi tù binh, ông được phóng thích cùng với vợ của Trần Bặch Đằng để ra bưng hoạt động hẳn cho Cộng Sản cho đến năm 1976.


Ngày 8 tháng 6 năm 1969 Trương Như Tảng được chỉ định vào chức vụ bộ trưởng bộ Tư Pháp của “chính phủ lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam”, do Huỳnh Tấn Phát, một đảng viên Cộng Sản kỳ cựu, làm thủ tướng. Gần 6 năm trời, từ 8-6-1969 đến 30 tháng 4 năm 1975, trong cuốn hồi ký không hề thấy tác giả nói ông làm gì trong cái bộ đó và nó hoạt động ra sao. (4) Đó chính là một điểm khôi hài nhất của cái gọi là chính phủ kia, đồng thời cũng là một lỗ hổng to tướng của cuốn hồi ký.


Sau khi Saigon thất thủ, Trương Như Tảng có dịp liên lạc với gia đình thì được biết cha ông mới qua đời, con gái ông đã được phu nhân Tổng Thống Thiệu bảo trợ cho đi du học ở bên Mỹ, con trai ông cũng đã sang Pháp, còn mấy người anh em ông thì bị đi “học tập cải tạo”, trong đó có một người cho đến khi ông viết xong cuốn hồi ký (1985) vẫn còn ở trong tù. Ông buồn rầu nhớ lại lời cha ông nói lúc vào thăm ông trong nhà tù của Tổng Nha Cảnh Sát quốc gia năm 1967:


“Con à, ba không thể hiểu được con. Con đã bỏ tất cả. Một gia đình êm ấm, hạnh phúc, giầu có để đi theo bọn Cộng Sản. Chúng sẽ không cho lại con được mảy may những gì con đã bỏ đi. Rồi sẽ thấy. Chúng sẽ phản bội con và con sẽ khổ suốt đời.” (5)


Ông cho rằng trước kia ông cùng với một số trí thức miền Nam khác vốn tin mình tranh đấu cho một miền Nam có một chế độ riêng, và thi hành chính sách hòa hợp hoà giải với phe quốc gia. Nhưng sau 30 tháng tư ông thấy những lời hứa hẹn, cam kết của những Tôn Đức Thắng, Phạm Văn Đồng và Lê Đức Thọ (trang 283-284) chỉ là giả dối. Chỉ một năm sau chiến thắng, đảng đã hoàn tất việc thống nhất đất nước, nghĩa là giải tán chính phủ “lâm thời cộng hòa miền Nam” của nhóm các ông. Không có hòa hợp hòa giải. Không có chính phủ ba thành phần. Mà chỉ có đảng, một đảng duy nhất, từ danh xưng đảng Lao Động đã đổi ngay sang “đảng Cộng Sản Việt Nam”. Hơn 300.000 người (con số tối thiểu của ông đưa ra) bị bắt giữ, không có xét xử và không biết ngày về, trong đó có anh em ruột thịt, bà con thân thích, bạn bè của ông, hay của những người tai to mặt lớn trong Mặt Trận, kể cả con rể của luật sư Trịnh Đình Thảo, người bạn vong niên của ông.


Vì đã tỉnh mộng, hết tin tưởng ở đảng nên khi được mời làm thứ trưởng bộ Thực Phẩm và Tiếp Tế, ông đã từ chối khéo. Cảm nhận được sự bất mãn của ông, chính Võ Văn Kiệt, lúc ấy là bí thư thành ủy Saigon, đã tìm cách giải thích và khuyến dụ ông nhận một chức nhỏ hơn tại miền Nam. Nhưng ông đã lợi dụng sự tin cẩn của Kiệt để tính chuyện chuẩn bị vượt biên. Ngày 25 tháng 8 năm 1979 ông xuống thuyền làm “thuyền nhân’ và hơn một tuần sau thì được một tầu hàng Singapore chở tới đảo Galang, thuộc Indonesia, bắt đầu cuộc sống tha hương.
Trương Như Tảng chê các chính quyền Mỹ (Eisenhower và Kennedy) đánh giá sai ông Hồ, cho rằng ông Hồ là dụng cụ của Trung Quốc dùng để thực hiện chủ nghĩa bá quyền mà không đếm xỉa đến sự toàn vẹn và sức mạnh của lòng yêu nước của nhân dân Việt Nam. (tr.213)


Và Lê Duẫn đã phải lên tiếng giảng hòa bằng những lời lẽ mềm dẻo hơn:
“Chính sách hòa hợp hòa giải dân tộc không trả thù là chiến lược trường kỳ và đó là đường lối chính trị và lập trường của Đảng, và cũng là lập trường của giai cấp công nhân.”
Với lời nói trên của viên bí thư thứ nhất của đảng, nhóm ông Tảng hí hửng tưởng mình đã thắng.(10)

Bốn năm sau TNT và những nhà lãnh đạo mặt trận và chính phủ, ngoài đảng, mới vỡ lẽ ra rằng lời tuyên bố của Lê Duẫn chỉ là đòn phép, tuyệt chiêu của một tay đại bịp. Nhưng đã muộn.  Khi ra Bắc, trong một buổi lễ lớn, gặp Trường Chinh, Trường Chinh hỏi :"Ông là ai mà tôi không được biết?"
Nghe Trường Chinh hỏi, ông hiểu ý Trường Chinh:"Đây là chỗ của các đảng viên cộng sản kỳ cựu, không phải chỗ cho những thằng chó chết như mày!" Sợ quá, Trương Như Tảng dông!
Hứa Hoành kể lời Lê Văn Hảo sau khi trốn qua Pháp:
Tôi được họ (VC) cử làm chủ tịch Liên Minh các Dân Tộc Dân Chủ và Hòa Bình Việt Nam, thành phố Huế và khi  cuộc Tổng công  kich Huế nổ ra, tôi lại được họ cử làm chủ tịch "Uỷ ban nhân dân cách mạng Thừa Thiên. Đó là những chưc vụ bù nhìn mà cộngsản gán cho tôi, vì họ muốn lợi dụng tên tuổi của tôi để tuyên truyền lừa mi giới trí thưc và sinh viên Huế (Hứa Hoành, sdd)
Sau 1975, Trần Đức Thảo vào Saigon, giới kháng chiến cũ của miền Nam hỏi Thảo:
- Anh nhận định ra sao về tương lai của những người kháng chiến cũ như chúng tôi?
- Dĩ nhiên là người ta đã và sẽ dứt khoát dẹp các anh qua bên lề, vì nay sẽ không còn là thời kỳ cách mạng nữa, mà là thời kỳ “đổi mới” với khẩu hiệu chính thức “đổi mới hay là chết”! Nay là phải thay đổi, bãi bỏ một số điều kiện để “đảng và chế độ” trụ lại được, sau khi đã cơ bản thất bại vì bế tắc cả về chính trị lẫn kinh tế trong giai đoạn kiêu binh ấu trĩ, hung hăng thừa thẳng tiến lên chế độ “Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa”! Từ sau 1976 cho tới 1985, tức là nay “ta” đã phải đau đớn dứt khoát bỏ hết các nguyên tắc quản lý xã hội chủ nghĩa đã quá lỗi thời, theo một lập trường mới, phương pháp mới, là ngả hẳn theo khối kinh tế tư bản, là nơi duy nhất có dư tiềm lực giúp đất nước ta đứng dậy. Và do vậy, các anh là người của thời cũ, nên nay bị đẩy ra bên lề! (Tri Vũ. Ch.X)

Tuyên ngôn đảng Cộng sản ghi rõ đường lối của Marx là "đấu tranh giai cấp ", là "vô sản chuyên chính ", nghĩa là không có đoàn kết toàn dân, cộng sản nhắm tiêu diệt giai cấp tư sản và các giai cấp khác, và cai trị bằng bàn tay sắt. Tại sao các ông thông minh tài trí như Trần Đưc Thảo, Nguyễn Mạnh Tường là giai cấp tư sản lại không hiểu vô sản chuyên chính là gì, mà đâm đầu làm nô lệ cho cộng sản, cuối cùng bị đánh, bị đạp thảm thương? Trí khôn các ông để đâu mà ra nông nỗi thế?
Các ông lại không đọc điều lệ Đệ Tam quốc tế  sao? Có 21 điều, nội dung chính là tiêu diệt những kẻ cải lương và giai cấp tư sản. Phải lọại trừ những thành phần đó và đưa người cộng sản vào thay thế.
Những điều lệ trên không dung tha giai cấp tư sản. Họ coi tư sản là kẻ thù. Tại sao kẻ thù tư sản lại chạy theo cộng sản để phản dân, hại nước và hại bản thân?

Thật ra cộng sản tàn sát, triệt hạ mọi giai cấp, kể cả các đồng chí dày công lao. Những kẻ được cộng sản đưa lên nắm quyền, có tiền bạc, quyền lợi, danh vọng nhưng cũng chỉ là những con dã tràng xe cát vì họ là lũ phản quốc, hại dân, không ich lợi gì cho quốc gia,dân tộc.


No comments: