Saturday, June 24, 2017

SƠN TRUNG * NÔNG THÔN MIỀN BẮC TRONG CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT



NÔNG THÔN MIỀN BẮC TRONG  CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT 
QUA TÁC PHẨM CỦA TÔ HOÀI VÀ TRẦN ĐƯC THẢO

 
Các tác phẩm viết về CCRD thì khá nhiều nhưng tôi thấy Tô Hoài và Trần Đưc Thảo nổi bật hơn cả. Các tác phẩm của Tô Hoài thường nói đến miền châu thổ sông Hồng. Tô Hoài cũng như Trần Đức Thảo đã được đi CCRD cho nên hai ông là chứng nhân lịch sử sáng giá. Trong Ba Người Khác, nhân vật chính là đội Bối. Tác giả xưng tôi nhưng tôi ở đây là đội Bối, Nguyễn Văn Bối, (Ch.IV), không phải Tô Hoài. Chi tiết nhỏ nhặt như vậy mà có nhà văn lầm lẫn, gọi Ba Người Khác  là "tự truyện".Cái tôi trong tiểu thuyết nhiều khi không phải là tôi mà là người khác, không phải tác giả.
Trần Đức Thảo và Tô Hoài   cho ta thấy quang cảnh miền Bắc, cuộc sống và con người thôn quê miền Bắc XHCN bằng những nét bút rất thực, rất sống động và điêu luyện.


I. MIỀN BẮC ĐÓI NGHÈO

Về thời tiết, miền Bắccó 4 mùa Xuân Hạ Thu Đông nhưng về lương thực thì có hai mùa: muà no và mùa đói. Mùa no là mùa gạt hái,dù it dù nhiều trong nhà đã có cơm gạo.  Mùa đói là mủa giáp hạt, tưc là lúc nhà hết gạo nhưng lúa ngoài đồng chưa chín, nhà nhà phải đói khát.
Bình thường khi rảnh rang, nhất là khi xong vụ mùa, dân chúng già trẻ lớn bé thường ra đồng đào bới, đơm dó bắt ếch nhai, rắn về làm thịt. Họ cũng bắt tôm tép bỏ vào vại muối để làm nước chấm. Phần nhiều nằm đất dù là mùa đông. Họ lấy là chuối hoặc rơm là ổ mà nằm . Dân thôn quê có lúa it nhiều nhưng không có tiền. Được nải chuối, buồng cau, họ mang ra chợ bán để lấy tiền mua mắm muối.(BNK. Ch.I)
Nhà khá giả như nhà Tư Nhỡ "Trong nhà, đúng kiểu cách nếp nhà phong lưu đồng quê, phản gỗ mít, giường thờ hương án sơn then, đôi giải y môn màu hoa hiên đã úa." (BNK. Ch.I)
Trần Đưc Thảo khi mới về nươc , năm 1953, cũng bị điều đi dự CCRD ở   huyện Chiêm Hoá, tỉnh Tuyên Quang, cách tỉnh Phú Thọ không xa.  Ông đã đấu khẩu với các cố vấn Trung Cộng và suýt bị chúng giết. Tuyên Quang  là một tỉnh vùng núi nhưng cái nghèo đói cũng giống các tỉnh đồng bằng.

 Dân ở đây thua thớt, đất ruộng ở đây thuộc loại xấu và rất phân tán vì phần lớn các gia đình nông dân chỉ có một vài mẫu cho tới vài sào, sản xuất một lượng thóc gạo đủ ăn cho chín hay mười tháng. Khi giáp hạt thì dân thường phải ăn độn. Thế nên gia đình nào có vài mẫu ruộng đủ ăn thì cũng bị xếp vào thành phần phú nông. Hơn nữa, vùng này có nhiều rừng rậm, giao thông thô sơ, ruộng lúa chen lấn quanh núi rừng, rất khó làm, cầy cấy rất vất vả.(Tri Vũ. Ch.V)

Nông dân ở đây cũng giống nông dân đồng bằng.Các chủ gia đình nghèo ấy khi có người thuê mướn thì đi làm nửa buổi, khi thì làm cả ngày… làm bất cứ việc gì: từ dọn cỏ, cuốc đất cho tới quét nhà, dọn vườn, đào mương, móc cống… nghĩa là đủ thứ làm việc vặt trong nhà. Những ngày không ai thuê mướn, thì cả vợ chồng, con cái phải đi mò cua, bắt ốc, nhặt củi, hái những thứ rau cỏ hoang, bắt cào cào, châu chấu… miễn sao có thể nấu lên, nướng lên mà ăn để sống qua ngày. Vì thế khi được đoàn cải cách về ở chung, họ mừng lắm. Bởi đoàn cải cách có gạo và góp tiền nhờ họ nấu cơm để cùng ăn.
(Tri Vũ. Ch,V)

Khi giáp hạt, ai cũng gầy gò. Các cô Duyên, Đơm ốm lòi xương làm cho anh đội Bối như bị dao đâm mặc dầu cái đói không làm giảm khí thế tiến công của các cô!
Tháng ba ngày tám dần dần lắm nhà thiếu quá. Mấy xã trên, nhiều cốt cán rạc người, thiểu sức, có mấy nơi người chết lăn ra ở những cuộc đấu địa chủ suốt đêm. Hàng ngày quen mắt, nhưng tôi cũng hốc hác, nhìn lại thôn này cũng đói vêu vao cả rồi. Tôi để ý cái xương bánh chè hai bên hông Duyên trồi lên thật, mỗi khi ấy Duyên cứ phải co bụng lại cho tôi đỡ đau. Những người như cái xác lướt qua trước mặt, chân tay phù mọng vàng nhợt, đến chỗ họp người ta ngồi xúm lại từng bọn phảng phất chập chờn như những cái bóng. Có ai vừa nói vừa khóc: biết còn sống được mà đấu tranh, mà trông thấy hạt lúa không.( Ch.II)
Duyên nói tỉnh khô: “Anh mà ngủ với em khi ngày mùa ấy à, như nằm đệm bông. Bây giờ thiếu ăn hóp cả người thì em phải giũ, chứ cái bánh xương chè của em mà đâm lên thì anh gãy mạng sườn mất”. Đói mà còn khoẻ thế.(BNK. Ch.3A)
 Tôi cho người xuống thôn Đìa quảy thêm mấy gánh dây rau muống. Các mảnh ruộng cao quanh chân tre đất rắn như sỏi được cuốc ngay lên trồng rau muống vườn. Lại gây dây mồng tơi, chỗ nào cũng cấy rau sam, rau dền cơm, dền đất, mặt ao thì thả rau rệu - những rau cỏ ấy chỉ nửa tháng đã ăn được, người ăn như con dê nhai lá.( BNK.Ch.II)

II. CẢI CÁCH RUỘNG ĐÂT 

1. SỰ GIAN DỐI CỦA CỘNG SẢN

 Cộng sản chuyên dối gạt nhân dân. Bất cứ việc gì họ cũng nói láo, làm đại.

 (1). TRẠI ĐẠI ĐỒNG

Đội Cải Cách của Huỳnh Cự và Nguyễn Văn Đình đã  lừa bịp dân chúng.  Nguyễ Văn Đình đã bày ra trại Đại Đồng, một hình thưc Công xã nhân dân của Mao, nhưng cũng như Công Xã của Mao, trại Đại Đồng cũng thất bại.
 Đình đã nghĩ được ra cái trại đại đồng cho mọi người vào ở tập trung qui củ, trật tự sản xuất...[..]. Năm dãy nhà dài một trăm thước, bên trong một loạt hai dãy giường nứa cho một trăm người. Nhà của phụ nữ riêng bên kia đồi cũng to rộng thế. Chỉ đánh một tiếng kẻng điều khiển được cả nghìn con người. Kẻng dậy, kẻng thể dục và hát, kẻng cơm, kẻng họp, kẻng đi sản xuất, kẻng về, kẻng ngủ... Ai nấy răm rắp, miếng cơm manh áo như nhau, không có ganh tỵ vì không ai hơn ai. Ngày chủ nhật, kẻng đi chợ, tối kẻng lửa trại vui nhộn. Buổi sáng buổi tối, cả trại ra đứng ngoài sân hô: khoẻ vì nước, kiến thiết quốc gia, quyết tâm lên thế giới đại đồng...”(BNK. Ch.II)
Kết cuộc sốt rét ngã nươc đã đốn sập trại Đại Đồng.Dù không có sốt rét, Mao Trạch Đông đã phủi tay vì chịu không thấu tiền bạc, thuốc men. Lập một trại tù vô cùng dễ nhưng lập trại Đại Đồng thì vô cùng khó!Nếu lập trại Đại Đồng thì cũng chỉ biểu diễn vài ngày thôi. Khi tôm tép, cua cá  đã vào đầy lờ,  lọp, nò... thì người ta mang cá tôm về, chứ chẳng cần ở lại nữa!

(2).LUÁ THẦN KỲ

Đám Huỳnh Cự bày ra trò lúa Thần Kỳ để bịp nhân dân. Họ tuyên truyền rằng lúa Thần Kỳ lấy từ Manila do tình báo VC trộm được đem về.(Lại khoe tài ăn trộm)! Lúa ba trăng ba tháng ăn được. Lúa thần kỳ thần kỳ hơn nữa, chỉ một tháng là chắc ăn! Đến khi lúa trỗ trẻ con mới trèo lên chơi được. Bón thúc bốn góc ngay, chỉ mười lăm ngày lên đòng. Khi đội ta rút sẽ để lại kỷ niệm và kinh nghiệm ruộng lúa thần kỳ cho làng nước làm theo, từ nay ấm no đời đời. Đã thấy quan trọng, giỏi chưa?(BNK. Ch.II)
 Lúa thần kỳ mà cách trồng trọt cũng thần kỳ. "Cắm liền dảnh! Cắm liền dảnh!". có khi cả ba bốn dảnh một khóm, khoảnh ruộng dần dần xanh kín như khung bèo tổ ong. Từ trên lưng đê, vang vang tiếng ốc, tiếng trống ếch, tiếng reo, tiếng hô khẩu hiệu. Lạ sao, những người cả đời lênh đênh với đồng ruộng thế mà trước miếng ruộng vừa cắm cây mạ lại reo sướng như chưa trông thấy ở đâu như thế bao giờ. Có lẽ người ta tưởng sắp có phép tiên, cái khung mạ kia chỉ chốc lát sẽ bồng lên, lá lúa nở ra, lên đòng...(BNK  Ch.III)

Nhưng kết cuộc bi thảm. Lúa chết trước mắt Huỳnh Cự và nhân dân. Tuyên truyền hóa ra phản tuyên truyền:"
Đội trưởng chau cặp mày lông nhím, cúi xuống, lay một khóm lúa. Hình như cây lúa chỉ đợi tay người đụng, cả khóm lúa ật ra ngả vạ. Rễ đã thối mủn đến bẹn cây. Bực mình, Cự ngẩng lên rút cái bảng "lúa thần kỳ" quăng vèo vào giữa mặt lúa đã đỏ xuộm như rơm sắp cháy.
Tôi ngạc nhiên, vờ:
“Ô hay, hôm qua còn xanh mởn mà.”
Tôi nhổ khóm nữa. Khóm nào rễ cũng nát ruỗng. Mấy tay dân quân quạt suốt đêm còn ngái ngủ, mở mắt trông thấy đội trưởng, lại ra sức co chân đạp thốc cho những cánh quạt phất liên liến. Đến lúc đội trưởng ném cái bảng chỏng gọng vào ruộng, thì tất cả buông chân khỏi cái chòng lọng thừng, ngửa cổ cười khơ khớ. Các bọn này ngửi mùi lúa thối từ lâu, thế mà vẫn ra công quạt, quạt,..."(BNK. Ch.II)
 Huỳnh Cự đổ trách nhiệm cho Bối nhưng Huỳnh Cự lại bảo nhỏ với Bối:" “Nói thế chứ, tôi cũng nói cho đồng chí biết, các xã cả huyện này đều thất bại lúa thần kỳ hết, không phải chỉ có ở đây. Đồng chí biết chưa?”(BNK.Ch.II)

2. SỰ TÀN ÁC CỦA CỘNG SẢN

 (1). Thuế
Mục đich cướp mồ hôi nước mắt của dân. mục đích là bóc lột nông dân tận  xương tủy, cộng sản tẳng diện tich và sản lưoợng để bắt dân đóng thuế. Chúng chẳng cần đo đạc, đường lối của họ là lợi dụng nhân dân, dùng mấy tay Cộng sản xung quanh để chơi trò ba lá. Họ lợi dụng nhân dân trong thuế má, và trong đấu tố. 
 
" Rồi cán bộ trịnh trọng phổ biến mức thuế của xã cho xóm: vụ này tạm thu năm tấn. Cán bộ xoè hai bàn tay làm loa nói to kêu gọi mọi người thi đua đóng thuế. Hai tổ trưởng nông hội ngủ từ lúc nào, có người đằng sau đẩy vào đít, bật dậy, ú ớ giơ tay: tôi thi đua - Tôi, tôi nữa - Đề nghị cho tổ tôi... Lại một người kêu to: đồng ý, đồng ý. Ai cũng hô theo: đồng ý.....Vùng này đương vào vụ giáp hạt, bữa nào cũng cơm lẫn cám, với rau lang, rau muống khô trộn muối. Thế mà lại kêu gọi sản xuất, trong khi cây mạ vàng ỏng mới cắm xuống ruộng, chưa biết thế nào. Lại còn sắp sẵn thuế tạm thu, bổ đầu từng xóm. (BNK.  Ch.2B)
(2). Nâng sản lượng 
" Đi tham quan về, tôi làm báo cáo và kế hoạch. Trên nhận xét con số chỉ tiêu còn thấp còn bảo thủ. Vừa đi tham quan nơi tiên tiến nhất, không thể xoàng thế. Tôi nâng 4 triệu lên 6 triệu tấn gẩn gấp ba. Ra hội nghị, nống lên nữa, thành 7 triệu ở các cuộc họp xóm, xã, tổ sản xuất, tôi đã dự lắm cuộc thi đua đặt mức. Cũng như các cuộc họp anh Nhơn kể lại, làm ăn còn trông vào ngày mưa ngày nắng mà đâu cũng thế, cứ sôi nổi nhận văng mạng thật cao, càng cao, ở xã, rồi lên huyện, lên tỉnh lại đun lên. Thả sức ganh nhau, rồi chẳng làm được cũng thôi. Bỏ vì được hạt thóc còn “trông trời, trông đất,
trông mây” cứ ước thế vầy, mất gì.”(BNK. Ch.IV)
(3). Toà án 
Ngày xưa, ở huyện mới có nhà giam, trong CCRD, thôn xã  đã có nhà giam.
Nhà tù của liên đoàn uỷ đoàn phúc tra là lô cốt và trại giam ở phủ lỵ thời Pháp. Dây bìm bám rêu trùm lên lù lù tựa quả đồi xanh om, bên trong là các xà lim, các buồng giam lỗi lõm như hang hốc núi đá, dân quân các xã ngày đêm đổi phiên canh gác vòng trong và bên ngoài. Người bị bắt càng đông - cái nhà cũ không đủ chỗ chứa, phải làm thêm đẵn tre để nguyên cả gióng chôn liền thành bức tường dài rộng đến hơn hai trăm thước chia thành ngăn, mái lộ thiên chống hốc. Trông giống cái chuông trâu. Các đoàn cải cách, đoàn phúc tra, đoàn chỉnh đốn tổ chức đều có nơi giam người tương tự. Có câu hù doạ “phải ngồi chuồng trâu là toi đời”, là những trại tạm giam này"(BNK.Ch.IIB)

Vì chủ trương mạo nhận nhân dân, Tòa án cũng là do cộng sản đóng vai chánh án và công tố viện. Cũng không cần chứng cứ, cứ theo ý kiến nhân dân mà xử. Mà nhân dân chính là mấy tên cộng sản giật dây đàng sau.
Cộng sản tỏ ra nghiêm minh khi kết án cán bộ cải cách. Thật ra đó là trò may rủi của Việt Cộng vì tên nào mà chẳng tham ô, hủ hóa nhưng một vài tên bị hy sinh vì tội lỗi quá rõ!
Đó là vụ xử cán bộ Bổn.

Trong đợt 4, đồng chí Bổn đã phạm lỗi nghiêm trọng: vì hủ hoá mà phải đổi đi 4 xóm, đến xóm nào cũng lại hủ hoá ở xóm đó, hủ hoá với vợ bộ đội, vợ tử sĩ và chòng ghẹo cả bà già trên 50 tuổi. Điên cuồng hơn nữa, ngay trong đại hội nông dân, đồng chí Bổn đã công nhiên cắn vào vú, vào mặt một chị chuỗi tích cực. Tổng cộng trong đợt 4, đồng chí Bổn đã thông dâm với 8 người và có hoạt động chòng ghẹo nhiều người khác. Tác hại là cả 4 xóm ấy đều lạc hậu, rễ chuỗi bị hỏng, mất tác dụng, đồng chí Bổn bị kỷ luật cảnh cáo toàn đoàn.
Mức kỷ luật đó chứng tỏ chính sách khoan hồng mở đường cho người sai phạm tự giác giáo dục, nhưng sang đợt 5 mới triển khai mà đồng chí Bổn đã tái phạm khuyết điểm với mức độ trầm trọng hơn trước nữa.[...]. Học tập bản kỷ luật đồng chí Bổn, chúng ta phải luôn luôn cảnh giác, đề phòng không để cho những tư tưởng xấu tấn công..."( BNK.Ch.II)

 Và đó cũng là vụ xử cán bộ Nguyễn Văn Đình. Cán bộ Đình khác cán bộ Bốn. Cán bộ Đình bị đảng xử lý theo đường lối của Trung Cộng tiêu diệt tư sản, đánh phá tổ chức cũ. Việt Cộng theo lệnh Trung Cộng sa thải, giam cầm và giết hại các cán bộ và vu cho họ tội Quốc dân đảng, tay sai đế quốc chui vào đảng phá hoại tổ chức. Họ theo Trung Cộng đối xử tàn nhẫn với nạn nhân, họ đưa ra xử với chững bằng chứng vu vơ.
Nơi giam Đình ở cũi phái ngoài lô cốt. Không một lỗ cửa sổ, trên mái trống hốc mà như tối mù. Nhiều người đã bị nhốt trước ở đấy, bùn cứt thối khẳn lõng bõng ngập mắt cá chân. Đình phải trói đứng suốt ngày. Đêm ngủ lả đầu xuống, lưng cong như con tôm, hai tay vẫn treo lên cái vấu tre. Lúc lúc lại quờ quạng dật dờ ngọ ngoạy. Đình vẫn chưa hết cơn choáng váng bởi không hiểu thế nào.[...]
Họ bắt trói Đình,tra tấn Đình, không cho ăn uống. Họ kết tội Đình làm trại Đại Đồng theo lệnh Quốc dân đảng (Đại Đồng là hai chữ ĐĐ viết tắt). Họ bắt Đình nhận tội giết 56 người. Đình không nhận, bị họ lấy " gộc tre xù xì đạp bốp vào mồm Đình con đương há hốc. Ba chiếc răng cửa Đình văng ra như những hòn cuội, máu tuôn lênh láng. Đình lăn ra thở sằng sặc. Những đầu mấu tre giáng xuống như giã giò, thình thịch, vun vút, bất kể vào đầu, vào lưng. Đình trợn ngược mắt, nhuôi ra. Chiếc gây chọc vào lưng, lay đi lay lại. Rồi gậy lại chan chát xuống, như thử biết người còn sống không. Hai bàn tay Đình ruỗi như búng con quay rồi duỗn thẳng không nhúc nhích."
Họ kết án tử hình Đình,  " án xử ngay tại chỗ". May thay cho Đình cũng như cho rất nhiều người lúc đó, cán bộ ở trên về  ra lệnh đình hoãn các vụ xử bắn (BNK. Ch.II).
 Họ vu khống những người yêu nước mà ngu dại đi theo cộng sản. Sau này Hoàng Tùng bảo là âm mưu Trung quốc hại ta! Biết thế sao Hoàng Tùng vẫn theo Hồ Chí Minh và Trung Cộng? Hay đó là Hoàng Tùng đổ thừa cho Trung Quốc mà chạy tội cho Hồ Chí Minh?

Họ làm cạn tàu ráo máng. Chi bộ xã này, một địa chủ cường hào gian ác đội lốt huyện uỷ viên về thành lập lúc bị tạm chiếm. Ngay khi ấy đã chi bộ hai mang, bí thư hai mang. Khi đội về, chi bộ có 47 đảng viên, đoàn uỷ cho ta thanh lọc đã duyệt đuổi ra 37 địa chủ, mật thám, quốc dân đảng và các thành phần linh tinh, thế mà thế lực chúng vẫn còn uy hiếp nặng nề. Tôi đã lên đoàn đề nghị xử bắn bí thư.( Ch.II)
Một xóm nhỏ mà có   Hai địa, hai phú, mười trung, mười sáu bần, tám cố, 2 công thương, 1 kéo vó không có thành phần. Cho trung nông là phúc bảy mươi đời, muốn lên địa phú hả? Ai muốn lên thì đội cho lên. Thoải mái.”(BNK. Ch.III)

-Xử địa chủ (Ch.IIB)
Theo sắc lệnh CCRĐ, Việt Nam có những thành phần giai cấp như sau:
A, B, C : địa chủ
D, E, F : phú nông
G, H, I, J: trung nông cứng
K, L, M, N: trung nông vừa
O, P, Q, R: trung nông yếu
S, T, U, V: bần nông
X, Y, Z: cố nông

 Họ quy định tài sản các giai cấp:
-Trung nông cứng: Những trung nông có một con bò, một con heo và một đàn gà.
-Trung nông vừa: Những trung nông có một con heo và một đàn gà.
-Trung nông yếu: Những trung nông chỉ có một đàn gà hoặc không có gì hết  
Về địa chủ săc lệnh quy định:Tất cả các gia đình bị xếp vào thành phần địa chủ như nói trên được đội cải cách phân loại thêm một lần nữa thành (a1) Địa chủ gian ác; (a2) Địa chủ thường; (a3) Địa chủ có ủng hộ kháng chiến. Thành phần địa chủ gian ác bị đội cải cách bắt ngay lập tức và quản thúc.  Nhưng không thấy có tài liệu nào quy định tài sản bao nhiều để ghép vào thành phần địa chủ. Đây là vùng "oanh kích tự do", Việt Cộng mặc sức kết tội nhân dân.
Cái danh hiệu "địa chủ kháng chiến" đã bị thủ tiêu khi họ giết bà Nguyễn Thị Năm, cụ Cử Cáp ở Thái Nguyên. Và trung nông, bần nông  cũng bị đôn lên ngang với địa chủ gian ác!

Ở thôn Chuôm,  Địa chủ cường hào gian ác Đoàn Văn Thìn có: ruộng 5 mẫu, 1 nhà ngói năm gian, 1 nhà gỗ ba gian, 1 trâu, một nghé, 10 chum, 15 vại, 4 giường, 2 phản, 1 yến gạo, 2 yến thóc, 7 cái nồi năm, nồi tám, nồi mười, mâm đồng 2 chiếc, mâm gỗ 8 chiếc…(BNK. Ch.IIIA)
 Nhìn chung, ai ở nhà ngói, có ruộng vài  mẫu ta là địa chủ.

Nhằm hạ thấp tác họa của Cải Cách, Việt Cộng chỉ nêu lên một số xã và nói mỗi xã chỉ có vài địa chủ. Wikipedia ghi Tổng cộng có năm đợt cải cách ruộng đất từ 1953 đến 1956 tiến hành tại 3.314 xã.

 Sư thật mỗi xã có năm, mười thôn hay làng và đây là đơn vị chính yếu. Như một thôn nhỏ ở thôn Am, đã có   hơn ba mươi địa chủ. Người bị khảo đả mà sách Hán Nôm cũng bị họa lây trong chính sách khanh nho phần thư.

"Hơn ba mươi gia đình nhà địa ngồi một phía đen ngòm bãi như quạ đậu. Các nhà phú nông đại diện được đến tham quan thì ngồi hàng ngoài. Người suốt chín thôn cơm nắm cơm đùm từ tinh mơ kéo đến bạt ngàn trong tiếng chiêng, trống, tù và inh ỏi. Đã đốt hết dưới thôn rồi thế mà trên xã không biết còn khiêng ở đâu ra những cái tủ đựng sách báo chữ Nho chữ ta chất cao như cây rơm, mồi lửa đã châm đốt cháy rừng rực như những cây đình liệu.(BNK. Ch.III)

Tô Hoài kể về cuộc đấu tố quá sơ sài so với Trần Đưc Thảo:
Sau một tuần lễ chuẩn bị, một phiên toà cải cách ruộng đất đã được tổ chức trước sân gạch lớn của đình làng.
Dọc hai bên sân đình có treo la liệt biểu ngữ lên án bọn trí, phú địa hào là tàn dư phong kiến, thực dân, là kẻ thù của giai cấp công nông, là kẻ phá hoại xã hội, là kẻ muốn nối giáo cho giặc…
Khoảng hai giờ trưa hôm ấy, trời nắng chói chang. Từ cả tiếng đồng hồ trước, dân chúng đã được điều động tới ngồi xổm trên nền gạch trước sân đình. Ông già, bà già, người lớn trẻ con, bồng bế nhau đi coi xử tội địa chủ! Đám đông nói cười ồn ào, trẻ con khóc inh ỏi.
Nhưng rồi từ ngoài, một cán bộ dẫn tải một toán “thanh niên và nhi đồng cải cách”, sắp xếp cho toán ấy ngồi trước mặt quần chung và bắt đầu công tác văn hoá tuyên truyền để tạo không khí cách mạng, gồm có hô khẩu hiệu và ca hát. Cứ hô vài khẩu hiệu đả đảo tàn dư phong kiến thực dân xong, lại vỗ tay làm nhịp hát một bài. Lối hát cũng đặc biệt vì thực ra đây là một bài vè ngắn đã thuộc lòng, rồi đọc lên cho có vần, có điệu theo nhịp vỗ tay, cứ y như cùng nhau niệm kinh theo nhịp mõ trong chùa. Hỏi ra mời biết đây là kiểu hát dân dã của sắc tộc miền núi bên Trung Quốc, gọi là “sơn ca”, nội dung bài hát cũng là theo phong cách “đấu tố ca” bên Trung Quốc. Thảo thấy hay nên cũng lắng tai nghe. Nghe mấy đợt rồi cũng thuộc lòng một bài, rồi cũng vỗ tay ba nhịp để hát từng câu.
Hát rằng:
Nước chảy dưới dòng sông
Ai múc lên thì uống,
Cũng như là đất ruộng
Ai có công thì hưởng bốn mùa
Mấy câu ca trên đây
Của nông dân Trung Quốc
Anh em ơi, hãy học lấy cho thuộc!
Để vung tay phát động đấu tranh!
Nhưng nay vì quốc gia, vì “đảng”
Vì bước trường kỳ cách mạng
Nên ta còn cho chúng hưởng phần tô
Nếu chúng còn gian dối mưu mô
Thì quyết liệt
Anh em ơi! Đấu mãi!
Đám đông hét xong, một cán bộ tuyên truyền hô lớn: “Đả đảo địa chủ, con đẻ phong kỉén, thực dân!”
Quần chúng cách mạng cũng hưởng ứng hô tiếp:
- Đả đảol Đả đảo! Đả đảo!
- Đả đảo cường hào, ác bá con đẻ phong kiến, thực dân!
- Đả đảo! Đả đảo! Đả đảo!
Rồi lại hát. Rồi lại hô khẩu hiệu. Cứ như vậy khoảng hơn nửa giờ thì ngưng đề bắt đầu “phiên toà án cải cách”.
Bàn chủ toạ đặt phía trong đình cũng đã bắt đầu đông đủ. Trên bãi sân trước bàn ngăn cách xa với đám đông bên ngoài là một cột cờ cao sáu thước, rồi tới hàng cọc tre. Ai cũng biết mấy cọc đó là dành cho những tên phán động sắp bị mạng ra đấu tố. Nhưng chính mấy cọc tre đó đã làm cho đám đông hỏi hộp muốn chờ xem những tội nhân bị mang ra đấu tố là ai, sẽ trừng trị như thế nào. Càng hiếu kỳ hơn nữa là ngay cạnh bên trái đình, là một mô đất nâu sẫm vì mới được đắp, là một hàng cọc tre khác với một tấm bảng ghi rõ “trường bắn”! Chưa bao giờ có một cuộc mít tinh đông tới cả nghìn người mà lại bao trùm bởi một bầu không khí hồi hộp sợ hãi đến như vậy. Nhiều trẻ em đứng bám chặt vào bố mẹ và khóc la đòi về, vì chúng cảm thấy ghê sợ quá. Chúng đã nghe người lớn nói người ta sắp bắn người trước mặt chúng! Cải nắng gay gắt càng làm thêm ngột ngạt khó thở.
Bỗng trống cái trong đình nổi lên ba tiếng: Thùng! Thùng! Thùng!
Bên ngoài, có tiếng quát liên tiếp:
- Tránh ra! Tránh ra! Tránh ra!
Đám đông tụ tập ngồi trước đình bị sáu dân quân tự vệ cầm súng trường có gắn lưỡi lê dẹp qua hai bên để mở một đường cho đoàn cán bộ, đội viên đội cải cách vào đình. Chỉ có năm đội viên cải cách được vào ngồi trước bàn nhìn xuống hàng cọc tre ở bên trái, và xa hơn là dân chúng. Số cán bộ đi phát động thì được mời ngồi ở hàng ghế phía sau. Một trong những cán bộ ngồi đầu bàn bên trái, có vẻ là người nắm công việc tổ chức, lớn tiếng ra lệnh cho một dân quân:
- Nổi trống lên để làm lễ khai mạc.
Ba hồi trống rền vang dậy báo hiệu phiên toà án cải cách ruộng đất sắp bắt đầu. Cán bộ ngồi giữa đứng dậy quật lớn: “Tất cả im lặng!”, nhưng bên dưới dân chúng vẫn ồn ào, chen lấn nhau, đám thiếu nhi mặc đồng phục nâu, đầu đội mũ chào mào đứng phía trước cười nói lao xao nên lại có tiếng quát lớn liên tiếp:
- Xin đồng bào giữ trật tự! Tất cả im lặng! Các cháu thiếu nhi thôi đừng nói chuyện nữa! Chuẩn bị làm lễ chào cờ! Xin đồng bào đứng dậy làm lễ chào cờ![...]. Đám đông lao xao ngồi trên guốc, dép, số còn lại thì ngồi xổm hoặc ngồi bệt xuống sân gạch. Cán bộ cải cách ngồi chính; giữa trước bàn đứng dậy tuyên bố khai mạc phiên xử sáu tên ác ôn phản động gồm năm tên đều là địa chủ, phú nông. Còn một tên là lý trưởng cũ.
Bỗng có tiếng khóc lóc. Rồi từ bên ngoài hai dân quân dẫn sáu người bị trói hai tay quặt ra sau lưng. Cả sáu bị buộc thành một chuỗi bằng những khúc dây thừng to vòng quanh cổ, người nọ tiếp nối người kia, cách nhau khoảng hai thước. Dân quân đi đầu đeo súng trên vai tay cầm đoạn dây thừng kéo chuỗi sáu người bị mang ra đấu tố, dần quân thứ nhì cẩm súng đi bên cạnh. Tội nhân mặc quần ảo xốc xếch, có vét bùn và vết máu, có kẻ vừa đi vừa khóc lóc. Trong số đó có một bà cụ tuổi ngoài sáu chục, khi đi ngang qua đám đông thì gào khóc thật to tiếng:
- Con ơi là con ơi! Con ở đâu thì về cứu mẹ với con ơi!
Dân quân đi cạnh bước tới dùng báng súng đánh ngang vào bụng bà giả và quát:
- Con mụ già này có câm mồm đi không? Câm ngay đi!
Bà cụ bị báng súng phang mạnh vào bụng, ngã chúi xuống kéo hai người đi trước và sau cùng ngã ra, làm tất cả chuỗi người chùng lại suýt cùng ngã theo. Hai dân quân vội nắm cổ lôi họ đứng dậy một cách vất vả. Đám nhi đồng thấy vậy cười khúc khích. Cán bộ chủ toạ đứng đậy quát lớn:
- Các cháu nhi đồng không được cười đùa![..]. Bây giờ toà bắt đầu xét xử tên phản động đầu tiên là Nguyễn Văn Minh, y đã làm lý trưởng từ mười hai năm nay, tên cường hào này là đày tớ của phong kiến và thực dân, đã nhiều lần ép buộc dân làng đi phu khổ sai, để đắp đường, đào kinh, lên rừng chặt cây nộp để làm đường xe lửa, chính tên lý trưởng này đã đốc thúc nhân dân phải nộp đủ các thứ thuế, từ thuế thân, thuế gạo, thuế muối… cũng chính tên này đã đánh đập những người cùng khổ vì không đủ sức lao động khổ sai, nghèo túng không nộp đủ thuế… Vậy nay ai đã từng bị tên lý trưởng Nguyễn Văn Minh này hành hạ, bóc lột thì cứ xung phong đứng ra làm chứng để hạch tội tên phản động này để toà căn cứ vào đó mà xét xử.
Từ nãy, có một toán thanh niên gồm mười hai người, tuổi độ trong khoảng từ trên hai mươi tới ba mươi, đứng ở hàng đầu của đám đông, bên trái, ngay cạnh đám nhi đồng, toán này luôn luôn hô hoán mạnh nhất. Khi được hỏi có ai muốn là nhân chúng hạch tội thì; cả toán đồng thanh, giơ tay đáp:
- Tôi!
- Tôi!
- Tôi!
Chủ toạ ra lệnh:
- Mời nhân chứng số một!
Một người trong toán ồn ào ấy bước tới trước bàn định nói, nhưng cán bộ chủ toạ đưa tay ra lệnh:
- Nhân chúng ra gần chỗ tên lý trưởng để hạch tội!
Khi tới đứng ngay trước người lý trưởng bị trói và quỳ ở cột đầu phía trái, nhân chứng vỗ vào ngực để trần và nói lớn:
- Mày có biết tao là ai không? Tao là Nguyễn Văn Đê, hai mươi bảy tuổi, chuyên làm mướn y như bố tao và ông nội tao. Vì vậy, tao là bần cố nông từ ba đời nay. Thế nên tao biết rất rõ tung tích của mày, là tên lý trưởng Nguyễn Văn Minh. Vì bố mày trước cũng làm lý trưởng và cả ông nội mày cũng vậy. Cả bố mày, ông nội mày và mày đều đã được phong kiến ban thưởng hàm cửu phẩm, vì có công thay mặt thực dân, phong kiến, để đốc thúc dân đi phu, đốc thúc dân đóng các thứ thuế, và chính mày mới đây thôi, đã dùng roi mây đánh đập tao đến chảy máu lưng, mang thương tích còn đên bây giờ vì tội không thu mua đủ số lượng cây gai để mày giao nộp cho quân Nhật!
Sau khi vạch lưng ra để lộ mấy đám sẹo mờ mờ, nhưng rõ ràng không phải là vết của roi mây, Đề tiến tới vung tay đấm mạnh vào mồm lý trưởng, miệng nói:
- Mày đã đánh, đã chửi tao, đã hà hiếp bao nhiêu đồng bào khác, mày nhớ không?
Thấy nắm tay vung tới gần miệng, lý trưởng vội né đầu xuống tránh nhưng nắm đấm đánh trúng vào phía mắt phải, làm bật máu chảy ròng ròng ướt cả một bên mặt.
Cán bộ chủ toạ thấy vậy, giật mình, can:
- Nhân chứng không được gây thương tích cho bị cáo. Thôi hạch tội thế đủ rõ rồi. Bây giờ đến lượt nhân chứng thứ nhì.
Một người khác, cũng trong nhóm nhân chứng, bước tới trước lý trưởng, kể các tội thật mơ hồ và lung tung:
- Mày có thói đánh người khi say rượu. Mày đã ép người ta phải bán mấy sảo ruộng thuộc loại tốt cho mày, rồi ép phải bán cả con trâu khỏe nhất cho mày, rồi mày vu cáo người ta nấu rượu lậu, để mày phạt tịch thu tài sản, khiến bao người sạch nghiệp vì mày, rồi phải đi làm thuê, mò cua, mót lúa mà nuôi gia đình… Tội của mày kể ra không thể hết! Mày có nhận tội không?
Bi cáo cúi đầu im lặng.
..................

Hai nhân chứng chót lả phụ nữ, nói xoe xoé kể tội:
- Mày có nhà gạch lớn như dinh nhà quan với vườn rộng mênh, mông, nuôi tới ba con chó Tây để trông nhà, có đời sống xa hoa sang trọng mà không nghĩ tới bao gia đình cùng khổ sống ở chung quanh! Mày nuôi hai đày tớ với lương rẻ mạt… Người nghèo đói đến xin ăn thì mày xua chó đuổi đi, có khi chó xổng ra cắn người qua đường đến bị thương nặng, mày có nhận tội không?
Trái với năm tội nhân đàn ông, bà già này cãi lại chứ không nhận tội:
- Nhà tôi rộng vì con tôi ở Hà Nội gửi tiền về xây cho chứ tôi không bóc lột ai! Tôi sống ăn chay, tụng kinh niệm Phật chứ không sống xa hoa! Tôi nuôi chó giữ nhà vì đã bị kẻ trộm vào nhà nhiều lần. Ngày rằm, mùng mặt, tôi đi chùa vẫn bố thí cho người nghèo. Năm đói Ất Dậu, chính tôi lo nấu cháo cứu người trong làng. Mỗi khi làng có việc, tôi quyên góp, tôi là người xung phong ủng hộ nhiều nhất. Khi cách mạng về, tôi đã ủng hộ tiền mua súng cho đội dân quân của làng! Cả đời tôi không bóc lột ai, con tôi hiện đi bộ đội đang đánh Pháp ngoài chiến trường…
- Mày nói láo! Mày không bóc lột ai, nhưng con mày ở Hà Nội có cày sâu, cuốc bẫm đâu mà có của cải nhiều thế? Của cải ấy không do bóc lột thì nó trên trời rơi xuống à? Câm mồm đi con đĩ già ngoan cố!
Nhân chứng vừa chửi vừa tiến lại vả mạnh vào mặt bà già! Bà cụ đau quá, càng gào khóc, gọi con cầu cứu:
- Con ơi là con ơi là con ơi! Nó đánh mẹ con ơi! Con về cứu mẹ với con ơi!
Người dân quân đứng đàng sau tiến tới lấy báng súng bổ vào lưng bà già quát:
- Câm mồm ngay. Còn khóc lóc nữa là tao nhét giẻ vào mồm đấy!
Bà già sợ hãi; khỏe nhỏ hẳn đi nhưng miệng vẫn rên rỉ:
- Con ơi là con ơi…!
Lần đầu tiên trong đời, Thảo được chứng kiến một “phiên toà” đánh đập thô bạo đến mức khủng khiếp như vậy. Đây là một trò hề công lý, chứ có luật lệ gì đâu!
Bằng chứng tội lỗi toàn là do bần cố nông kể miệng như vu oan, chứ không do một văn bản điều tra nào. Không một điều luật nào được nêu ra làm căn bản để buộc tội. Bởi có ai biết gì, hiểu gì về công việc xét xử của một toà án bao giờ đâu! Thế nên đầu óc Thảo bị căng thẳng, tim đập mạnh, thân thể run lên vì xúc động, hỏi một cán bộ địa phương đúng cạnh:
- Tại sao bà cụ ấy cứ réo gọi con như vậy?
- Nghe nói mụ già này có con đi bộ đội trong “Trung đoàn thủ đô”, từ hồi rời bỏ Hà Nội, ra bưng kháng chiến, nay hình như làm tới trung uỷ!
...................

- Bây giờ đồng bào có quyền góp ý quyết định án phạt trừng trị các tội phạm.
Đám nhân chứng bên dưới đồng thanh hô to:
- Xử tử! Xử tử! Xử tử!
- Thế còn tài sản của chúng nó?
- Tịch thu! Tịch thu! Tịch thu!
- Đấy là mồ hôi, nước mắt của nhân dân, phải trả lại nhân dân!
Bỗng từ ngoài, một cán bộ đứng tuổi có vẻ quan trọng, hông đeo sắc-cốt và súng lục chạy vào sát cán bộ chủ toạ, ghé tai nói điều gì. Rôi hai người thì thầm bàn luận với nhau có vẻ sôi nổi khá lâu. Cuối cùng cán bộ chủ toạ đứng dậy lớn tiếng nói:
- Nay toà long trọng tuyên án: tử hình đối với các tội nhân: Nguyễn Văn Minh, Trần Văn Lễ, Nguyễn Sắc, Trần Văn Bắc, Đỗ Đỉnh Lang và Vũ Thị Thanh! Tịch thu tài sản của chúng để chia lại cho nhân dân trong xã.
Đám nhân chứng và nhi đồng vui mừng vỗ tay và hét to:
- Hoan hô! Hoan hô! Hoan hô!
Có lẽ hai tiếng “tử hình” đã làm cho phần lớn đám đông sợ hãi nên họ im lặng
May thay, cán bộ ở trên về kịp thời nên các vụ xử tử được đình chỉ. (Tri Vũ.Ch.VI)

 Trần Đưc Thảo  cho ta thấy vụ xử đó được xử lại sau khi bị cố vấn Trung cộng phê bình..
 Toà án khai mạc vào lúc 8 giờ tối, mát mẻ hơn. Cách huy động dân chúng tới chứng kiến phỉẽn toà cũng rất đặc biệt: mỗi phường khóm giờ đây phải tập trung dân lại thành đội ngũ chỉnh tề, có người đi đầu cầm cờ, có nhi đồng đánh trống dẫn đầu, mỗi người phải mang theo, một bó đuốc làm bằng thứ nhựa cây có thể cháy lâu. Lúc đi đường, mỗi đoàn cho đốt một bó đuốc đủ để soi đường, số đuốc còn lại dành cho lúc xử án, tuyên án… Trong đêm lờ mờ ánh írăng, những đoàn người vừa đi vừa hô khẩu hiệu đả đảo phong kiến, đả đảo thực dân, đả đảo địa chủ, đả đảo cường hào, đả đảo bọn phản động… vang dậy núi rừng..........Phiên toà lần này diễn ra nghiêm trang và áp đào hơn phiên trước: sáu tội nhân bị trói quỳ vào hàng cột tre trên một mô đất cao cho mọi người thấy rõ, dưới ánh lửa bập bùng của những đống củi lớn, lửa cháy rừng rực. Phía dân chúng cũng được kiểm soát và chọn lọc kỹ hơn: không còn có trẻ con quá nhỏ, không còn hát mà chỉ hô khẩu hiệu, không còn cảnh ồn ào nói chuyện lung tung. Một hàng sáu dân quân cầm súng trường đứng canh, mặt hướng về đám đông. Không một ai dám cười nói gây mất trật tự. Phần hạch tội cũng dữ dội hơn số nhân chứng đứng ra kể khổ, kể tội cũng đông hơn. Mỗi nhân chứng đều thuộc bài và tỏ ra hung hãn hơn: vừa kể vừa làm những cử chỉ xỉa xói: lấy ngón tay dí vào trán tội nhân, thỉnh thoảng lại tát mạnh vào mặt tội nhân để bày tỏ sự phẫn nộ. Nữ tội nhân già giờ đây chỉ còn thút thít khóc lóc, nhưng vẫn là tiếng kêu cứu rên rỉ nhỏ: “Con ơi là con ơi…!”

............

- Lý tnrởng Nguyễn Văn Minh; địa chủ Trần Văn Lễ, phú nông Nguyễn Sắc, phú nông Trần Văn Bắc, địa chủ Đỗ Đinh Lang, nhà giàu Vũ Thị Thanh. Sau khi đã được xét xử, với sự tham dự hạch tội của nhân chứng nhân dân, những tội lỗi cụ thể đã được kể ra, nay toà quyết định với sự đồng ý của đông đảo đồng bảo có mặt, toà ra phán quyết tịch thu tài sản của các tội nhân và tuyên án từ hình tất cả sáu tội nhân có tên nêu trên. Án này được thi hành ngay tại chỗ. Chánh ản ký tên: Khuất Tiến Thắng.

Tiếng loa ra lệnh:

- Tất cả chú ý! Tất cả lùi xa khỏi pháp trường mười mét…. Tất cả! Nghiêm! Yêu cầu đội hành quyết tiến vào pháp trường!

Đám đông hồi hộp, im lặng, chỉ còn nghe tiếng đếm bước đều của đội hành quyết, súng trên vai, tiến vào… “Một, hai! Một, hai!… Ngưng… bước! Súng … xuống! Nghỉ! Tất cả … nghiêm! Tay phải… quay! Tất cả vào vị trí…! Tất cả sẵn sàng chờ lệnh bắn!”.

Một dân quân tay cầm một xấp khăn vải đen tiến lên mô đất, lận lượt buộc khăn vải đen quanh đầu để che mắt mỗi tội nhân. Cảm thấy giờ hành quyết đã tới, sáu tội nhân, đầu bị thắt khăn đen che kín mắt, bỗng tất cả lên tiếng cầu kinh.

- Nam mô A Di Đà Phật, Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát, cứu khổ cứu nạn…

- Nam mô A Di Đà Phật…!

- Kính mừng María đầy ơn phước… cầu cho chúng con trong giờ lâm tử…

- Con ơi là con ơi… thế là mẹ chết không được gặp lại con rồi… Con ơi…

Toán dần quân rời xa mồ đất. Chỉ còn tiếng cầu kinh chen lẫn tiếng gào khóc! Trưởng đội hành quyết nhìn về phía cán bộ chủ toạ chờ lệnh! Thời gian như ngưng lại. Đám đông im bặt vì hồi hộp. Bỗng cán bộ chủ toạ gật đầu! Trưởng đội hành quyết chậm rãi hô:

- Tất cả… Vào thế… Tất cả Bắn!

- Đoàng! Đoàng! Đoàng! Đoàng! Đoàng! Đoàng! Đoàng! Đoàng! Đoàng! Đoàng! Đoàng!…

Loạt súng nổ vang dội trong đêm như rung chuyển núi rừng. Đám đông, người thì vội nhắm mắt lại không dám coi tiếp cảnh khủng khiếp, người thì cố trấn tĩnh, mở mắt thật to để thấy rõ các tội nhân bị trúng đạn, quằn quại, vật vã một hồi, máu văng ra tung tóe, rồi mới gục xuống dưới chân cột. Riêng nữ tội nhân, dù đầu đã được bịt mắt bằng vải đen, nhưng vì đạn trúng đầu nên vỡ ra mất một mảng, trông thật ghê rợn. Trưởng đội hành quyết bước lên mô đất, súng lục cầm tay, tới sát từng tử thi để quan sát với vẻ thiện nghệ và bồi vào mỗi đầu một phát “ân huệ” chát chúa, theo đúng thủ tục đã được huấn luyện từ trước!

Bỗng bên dưới đám đông, lao xao có tiếng ồn ào kêu cầu cứu liên tiếp của nhiều người:

- Báo cáo có một bà cụ bị ngất xỉu! Báo cáo có người bị ngất! Báo cáo…

Dù đã chuẩn bị sẵn đầu óc để bình tĩnh chờ đợi một cảnh xử bắn chắc chắn là rất hãi hùng, nhưng khi loạt súng nổ liên tiếp, dưới ánh lửa bập bùng của mấy đống củi lớn, cả sáu cơ thể quằn quại, trong vũng máu… thì bỗng thân xác Thảo run lên lập cập vì xúc động, như một cơn sốt rét mãn tính bất ngờ ập tới, mồi lạnh toát ra từ trán tới chân, nước mắt tuôn trào, hàm răng run lập cập. Một ý nghĩ hối hận bùng lóe trong đầu: “Chính ta đang là một đồng loã của cái hành động tàn bạo, phản công lý này! Thảo ơi! có thể nào mày cũng câm lặng trước một chính, sách cực kỳ thô bạo đến thế? Im lặng đứng nhìn tội ác thế này thì mày có còn là mày nữa không hở Thảo ơi!” (Tri Vũ. VI)
Theo Wikipedia,
- tỉnh Bắc Ninh có 126 đơn vị cấp xã
-tỉnh Thanh Hóa có 27 đơn vị hành chính trực thuộc, bao gồm 2 thành phố, 1 thị xã và 24 huyện, chia thành 573 xã, 34 phường và 28 thị trấn,
nhưng báo cáo cộng sản  cho biết con số các xã đã thực thi CCRĐ:
-Bắc Ninh  8 xã
-Thanh Hóa có 207 xã (Wikipedia)

Như vậy họ đã giảm thiểu con số các xã bị CCRD tàn phá.
Vũ Thư Hiên bênh vực cộng sản thế mà ông bảo ông tỉnh ngộ Hồ Chí Minh!. Ông viết trong "Đêm Giữa Ban Ngày": “Người ta thường nói tới con số 15 ngàn người. Tôi nghỉ con số hơn thổi phồng. Nếu tính tổng số xã đã cải cách ruộng đất là khoảng 3000, mỗi xã có trung bình một hoặc hai người bị xử bắn (những xã có số người bị bắn lên tới 3 hoặc 4 rất ít gặp, có những xã không có ai bị) thì số người bị chết ( kể cả trong chỉnh đốn tổ chức, tính cả người bị bức tử ) nằm trong khoảng 4000 đến 5000 người”. (DGBN. 457)
Vũ Thư Hiên tỏ ra gian ngoan hơn Cộng sản chuyên nghề giấu diếm và bợ đỡ công sản hơn là nói sự thật. Không biết Vũ Thư Hiên nghĩ sao khi tài liệu VC nói Tổng số người bị quy trong Cải cách ruộng đất đã được thống kê là 172.008 người; số người bị oan sai là 123.266 người, chiếm tỷ lệ 71,66% (Wikipedia)
 
Việt Cộng nói 172.008 người có lẽ thực tế gấp 5 hay 10 lần, có lẽ 500 ngàn hay 1 triệu địa chủ, cộng vợ con họ con số nạn nhân khốn khổ lên từ hai triệu đến 5 triệu. Theo tài liệuVC, trung bình mỗi xã có 55 địa chủ, ,xã lớn 10 thôn, mỗi thôn 6 địa chủ, xã nhỏ 5 thôn, mỗi thôn khoảng  15 địa chủ.
Ngoài ra còn có cán bộ, đảng viên bị từng bị chỉnh đốn là 84000 người, chiếm tỷ lệ hơn 55%. Có những chi bộ tốt bị coi là chi bộ phản động, bí thư hoặc chi ủy viên chịu hình phạt nặng. Tình hình chỉnh đốn ở cấp huyện và cấp tỉnh cũng hỗn loạn. Số cán bộ lãnh đạo các cấp này bị xử lý oan sai cũng chiếm tỷ lệ lớn. Hà Tĩnh là tỉnh cá biệt, có 19 cán bộ tỉnh ủy viên, công an, huyện đội dự chỉnh đốn đều bị xử lý (Wikipedia)
Việc quy định thầnh phần rất là tùy tiện  Đưa phú lên địa thì dễ thôi, một lúc cả chục thằng cũng có (BNK. Ch.II)
Trung Cộng đề ra chỉ tiêu triệt hạ 5% dân chúng và kết tội họ là địa chủ. Đây là cuộc tắm máu  nhằm khủng bố nhân dân, không phải đấu tranh giai cấp vì bần nông cũng bị đôn lên làm địa chủ!  Có nơi hăng hái vượt chỉ tiêu lên đến ngoài 7%  Thế mà vượt hết, thắng lợi lớn, toàn đoàn truy được hơn năm trăm địa chủ lọt lưới, đến bước ba đưa tỷ lệ từ 5% lên 7,24% đánh đổ hoàn toàn giai cấp địa chủ về chính trị cũng như về kinh tế.( BNK. Ch.III)
Ngoài việc đấu tố, Việt Cộng tổ chưc CCRD với màu sắc khủng bồ và bạo lực. Họ lập các đội du kich, các  cô gái thôn quê trở thành lực lượng quân sự trong CCRD , cô nào cũng mang súng oai vệ vô cùng. Phụ nữ nông thôn thường bịt khăn mỏ quạ, nay  họ theo  cán bộ mà bỏ khăn mỏ quạ. Vẫn yếm thắm, áo vá quàng, quần vá đụp.  Họ cũng  trở thành lực lương nhân dân đi sâu đi sát với đội cải cách. Đội cải cách luôn luôn nhìn sự vật với màu sắc huyết đọng, luôn nhìn thấy bốn phía là kẻ thù. Mẹ Đơm va đầu vào cối đá mà chết, Hùynh Cự cho là phản động giết, y cũng nhận định là do  Vách đâm. Các việc khác đều do Huỳnh Cự tưởng tượng và kết luận là do phản động, là Quốc dân đảng, là địch trong Nam ra đánh phá! Nói chung là bọn họ tạo ra những báo cáo láo để khich động quần chúng và  lấy điểm về công lao của bọn họ!

 3. PHẢN ỨNG CỦA NHÂN DÂN
Cộng sản tàn ác, lưu manh nhưng nhân dân ta cũng có những chiêu thức đối trị.  
 

(1). Thịt trâu bò 
Các xóm ngả trâu nhiều lắm, giết hết. Sợ bị lên địa chủ mà.(Ch.III)
 (2). Dâm
Người nông thôn rất dâm."Duyên cất súng trong xó, lôi ngay tôi xuống đất. Đàn bà đàn ông ở đây ăn nằm, đùa cợt với nhau như gà, chỗ nào lúc nào cũng được (Ch.II)
(3). Lợi dụng
Người nông thôn một số tinh khôn, họ cũng biết trò "thả con tép, bắt con tôm" . Họ mở cửa nhưng cũng  có biện pháp che chắn.

Thật tháng sau em lấy chồng hả?”
“Có thật thì người ta mới cho tha hồ, chứ không để mà chửa hoang với ai. Mai kia, thằng con đầu em đặt tên nó là thằng Bối.”(Ch.II)
Họ kể công và đòi đến bù:
"Anh đội tính cho tôi thế nào? Công tôi to chứ, phải không?"
Tôi ậm ừ.
“Được rồi.”
“Ối, anh đã bảo được đấy nhé. Làm giấy cam đoan đi rồi cho tôi làm trưởng thôn, phế thằng tư Nhỡ đi. Tôi sẽ vạch cho đội lôi ra hàng đàn địa chủ. Cứ tính đứa nào có ruộng thì ghi tên nó là thằng địa, nhiều ít mặc kệ, có ruộng có đất chẳng là thằng địa thì là con hùm ăn thịt người à, có phải không anh đội?”(Ch.I)

 (4). Giành quả thực
Cộng sản bày ra trò quả thực gợi lòng tham của dân nghèo. Cuộc chia phần, sự giành giật, việc cướp đoạt là đương nhiên vào lúc loạn ly và đạo lý  là đấu tranh bất kể nhân nghĩa, liêm sỉ.

Tịch thu, trưng thu, trưng mua để đống rồi chia. Ngoài kia trẻ con đánh trống, rong cờ, tôi càng rối cả ruột. Các nhà địa chủ đứng ngồi rúm vào một xó, mấy người còn đến xỉa xói kể tội. Một lát, người ta đi lùng khắp nhà, lấy vôi vạch sẵn đánh dấu cái tủ, cái chum “những đồ này của nhà tôi, tôi đánh dấu sẵn kẻo mang đi đâu nữa thì lẫn mất”. Người gánh, người khiêng, ai cũng gầy đói hom hem, nhợt nhạt, mới chỉ đem lên cho tập trung tạm, chẳng biết còn đưa đi đâu nữa mà đã ham hố như đương khuân về nhà mình.

Một ba lão nhặt được trong đống đồ đạc và quần áo bề bộn một cái cối đồng giã trầu, lấy ra nghiền xong một miệng trầu bỏm bẻm nhai, như còn trâu già đêm đêm trong chuồng trệu trạo nhai lại. Rồi lại xăm xăm đi. Bà lão nay khôn vặt cứ la liếm nhặt những cái yếm, cái thắt lưng, cái ống đũa, chẳng ai để ý.........

Trước tôi còn ở bên Am, tôi đã tổ chức gác nhà thằng Vách để đợi lệnh đoan uỷ cho bắt, nhưng đội trưởng Cự lại về thôn ấy lại cho nó làm chuỗi. Lúc ấy không biết thằng Vách ở đâu chui lên vừa nhớn nhác vừa hung hăng. Vách mặc cái áo nâu bạc, đồng cái khố đuôi lươn, đít hóp lại, hai đầu gối nhô ra như hai hòn cuội, tay cầm chiếc đòn xóc chốc chốc lại hoa lên múa. Trong bộ râu quai nón, phùn phụt ra những tiếng hét: hoan hô… hoan hô… Có người hỏi: Đi mít tinh mà lại đóng khố à? - Ấy, ra đây kiếm cái quần địa chủ để mặc, phải cởi truồng sẵn cho đỡ vướng.....
Vách chạy trong đám, vẫn múa cái đòn xóc, la to: “Cha mẹ để của cho cũng sướng đến thế này thôi, giời đất ơi!” Cái khố đuôi lươn tháp thoáng rồi lẩn mất. (BNK.Ch.III)

Thật ra trò quả thực chỉ là mánh khoé nhỏ.  Cái mồi nhử lớn là chia ruộng đất cho bần nông. Nông dân khao khát mảnh ruộng, con trâu nên chạy theo Cộng sản rầm rầm. Cộng sản bãi bỏ tư hữu thì làm sao phân phát ruộng đất cho nông dân. Đó chỉ là trò dụ khị. Vài tháng, Việt Cộng thu ruộng đất bắt dân vào HTX.

(5).Không  ra mặt chống đối
Nông dân rất tinh khôn. Họ biết thuật rắng cứng thì gẫy, lưỡi mềm thì còn. Họ cũng biết " nhu thắng cương" . Họ biết họ là cỏ phải cúi rạp khi dông bão để tồn tại. Quaqn nhất thời, dân vạn đại. Chỉ khuất một lúc rồi sẽ trở lại tư thế hiên ngang. Bởi vậy mà không ra mặt chống đối. Họ không ngu đâu. Họ biết hết nhưng làm ra vẻ ngu dại đúng như cổ nhân nói:""đại trí nhược ngu"!
Tôi nhổ khóm nữa. Khóm nào rễ cũng nát ruỗng. Mấy tay dân quân quạt suốt đêm còn ngái ngủ, mở mắt trông thấy đội trưởng, lại ra sức co chân đạp thốc cho những cánh quạt phất liên liến. Đến lúc đội trưởng ném cái bảng chỏng gọng vào ruộng, thì tất cả buông chân khỏi cái chòng lọng thừng, ngửa cổ cười khơ khớ. Các bọn này ngửi mùi lúa thối từ lâu, thế mà vẫn ra công quạt, quạt,...Cối ghé tai tôi:“Em biết là thất bại từ lúc chưa làm. Nhưng anh bảo thì em phải vâng thôi.”(BNK.  Ch.II)

Trần Đưc Thảo  ghi nhận ý kiến nhân dân vềCCRD:
- Đồng chí là nhân dân, mà nhân dân cũng có quyền phê phán, góp ý với cách mạng và nhà nước chứ!
- Quyền gì thì quyền, chứ quyền bảo cách mạng làm sai thì sẽ bị quy chụp lên đầu cái tội phản cách mạng ngay! Rồi sẽ bị thẳng tay trừng trị! Chẳng ai dám lãnh cái quyền ấy! Dân chỉ có quyền tuân lệnh cho yên thân thôi! Đồng chí có giỏi thì lãnh cái quyền dám phê phán làm thế là sai, là ác ấy đi!
- Thể đồng chí không thấy nhân dân xã này căm thù mấy tên ác ôn đó sao?
- Trong đám ấy, có lẽ chỉ có tên lý trưởng là ác ôn thôi, còn thì đều là oan cả. Tôi biết họ đều là dân hiền lành. Tội của họ là có chút của ăn, của để hơn lũ chúng tôi thôi. Mà họ sống và làm ăn cũng vất vả lắm!
~ Nói vậy là đồng chí không căm thù bọn chúng à?
- Cả sáu người ấy thì tôi thỉnh thoảng cũng tới làm mướn cho họ, nên tôi biết họ không hề ở ác với tôi. Con tôi ốm đau, tôi vẫn tới họ để xin thuốc men, khi quá đói thì xin chút gạo hẩm nuôi lợn của họ về nấu cháo mà ăn, vì kiếm không ra thứ gì ăn được. Như vậy mà bắt tôi phải căm thù họ thì thật là khổ cho tôi. Ở cái xã này, trước đây vẫn sống yên vui giúp đỡ nhau. Ra đường gặp nhau vẫn chào, vẫn hỏi thăm nhau. Chỉ có từ ít lâu nay nổi lên phong trào học tập đấu tranh giai cấp, thì mới gây căng thẳng, gặp nhau thì trânh né, không còn ai dám nhìn mặt nhau, không chào mà cũng không muốn nói chuyện với nhau nữa. Bây giờ thì mọi người nghi kị, nhìn nhau như kẻ thù giai cấp. Cái nhìn đã trở thành soi mới, gây hấn, nên khó sống với nhau. Bây giờ có lúc tôi muốn tìm việc làm, nhưng họ không còn dám thuê mướn tôi làm nữa. Vì sợ mang tiếng là bóc lột. Khổ thế đấy. Bây giờ họ khổ nhưng chúng tôi cũng khổ hơn chứ có sung sướng gì đâu!(Tri Vũ .VI)
CCRD chỉ là mồi nhử của Cộng sản mà mục đich chính của họ là bắt nhân dân, nhất là nông dân trở thành nô lệ cho chủ nhân cộng sản. CCRD cũng là cách VC cung hiến vàng bạc, mâm thau, chậu đồng cho Trung Cộng.CCRD cũng lộ ra bộ mặt nô lệ của Hồ Chí Minh và Việt cộng mặc dù họ Hồ bô bô cái miệng" Không gì quý hơn độc lập,tự do". Chúng ta đã biết Hồ Chí Minh đã sang Mạc Tư Khoa gặp Stalin và Mao nhân lệnh CCRD. Trận Điện Biên Phủ là chiến thắng của Trung Cộng, Việt Cộng chỉ là cha hờ của cái bào thai Điện Biên Phủ. Cậy công lao, Trung Cộng ngang nhiên vào miền Bắc. Họ chỉ huy CCRD. Ra Lệnh cho các cán bộ Việt Cộng và bọn này khúm núm cúi đầu tuân phục. Cố vấn Trung Cộng quát thét, mắng chửi bọn Việt Cộng :" Có thể nói là chúng ta đã không thành công! Tôi nhấn mạnh là chúng ta đã không thành công! Vì sao? Vì đã không quản lý được trật tự, đã để cho đồng bào nói chuyện, cười giỡn, rồi thì trẻ con la khóc, thật là vô tổ chức….[..].Khi giải tán ra về thì y như tan hội diễn văn nghệ, ai cũng vui vẻ cười nói ầm ĩ…[..].Ta phải xử sao cho có khí thế, để phát huy uy quyền của bạo lực cách mạng trong đầu mọi người. Ta phải chứng tỏ bạo lực cách mạng là dứt koát, không gì lay chuyển nổi.[...]. Rõ ràng là chúng ta chưa xử đúng mức .(Tri Vũ.Ch.VI)

CCRD đã đưa Việt Nam vào làm thuộc hạ Trung Cộng.CCRD chỉ làm cho các lớp cán bộ và nhân dân thù hận nhau về tội tố điêu. Chia ruộng đất, quả thực là những trò vô bổ nhưng vô cùng lợi hại vì con người vì tham lợi mà tố cáo nhau, giành giật nhau từ các bát mẻ, cái quần cũ và manh áo rách! Ngay cả hàng cán bộ Cải cách rồi cũng điêu linh.  Đến đó là Việt cộng đã thực hiện lời Marx tiêu diệt văn hóa dân tộc và khối đoàn kết dân tộc. Mọi người chia rẽ thì có lợi cho cộng sản.
CCRD đem đến tàn bại cho  Việt cộng vì trên hàng thượng tầng cán bộ đảng đã tan nát khi Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp , Hoàng Quốc Việt , Lê Văn Lương...bị gãy càng sứt cọng. Ngay trong truyện của Tô Hoài, bọn cán bộ cải cách như đội Bốn, đội Đình, đội Bối và Huỳnh Cự đều tan tác.(1) Toàn thể đoàn cải cách cũng bị thay thế bởi  đoàn sửa sai. Hận thù đằng đằng, tình làng nghĩa xóm tan nát. Con cái tố cha mẹ, vợ ly khai chồng thì còn gì luân lý đạo đức! Về kinh tế và xã hội, miền Bắc là một địa ngục tối tăm! Người nông dân khoẻ nhất mỗi ngày nhân 1k lúa  nhưng phải cuối năm mới được nhận, mà mỗi ký lúa chỉ được 2 lon gạo. Người nông dân ăn ngày ba bữa, mỗi bữa it   nhất  1 lon gạo, còn tiền mắm muối, thuốc men thì không có!
Nông dân thời trước nộp tô 50% còn thời cộng sản nộp thuế 73%  và phải trả bao thứ  khác nữa.  Trường Chinh cho biết lương công nhân, viên chưc chỉ ăn đủ 10 ngày!( Đèn Cù II, Ch.II) Vậy thiên đường của Marx ở đâu?

Tô Hoài là một nghệ sĩ, một cán bộ đi sâu đi sát với quần chúng nhân dân. Đội Bốn đã cùng ăn cùng nằm với các cô gái nông thôn, đã thò tay vào cái yếm của Đơm và vật nhau với Duyên, rất thật và rất gần đại chúng. Trần Đưc Thảo là một triết gia, bất cứ sự kiện gì xảy ra trước mắt đều làm ông suy nghĩ. Ông đi sâu vào tâm tư con người chứ không phải quan sát con người  bên trong y phục như đội Bổn, Huỳnh Cự, cán bộ Đình.

Trần Huy Liệu cho CCRD là sai lầm cơ bản về giai cấp địa chủ. Ông viết:
"Như vậy những quan điểm từ trước cho rằng toàn bộ giai cấp phong kiến địa chủ đã đầu hàng địch, đã câu kết với địch, phủ nhận quan điểm của xã hội Việt Nam, phủ nhận sự thật lịch sử, tôi thấy cần phải xét lại. Không cần phải nhắc lại những sai lầm trong Cải cách ruộng đất vừa qua không phân biệt địa chủ phong kiến với địa chủ khác, coi tất cả địa chủ là địch là máy móc… Chúng ta chỉ cần nhắc lại là: vì xã hội nước ta trước đây là xã hội thuộc địa và nửa phong kiến, nên nhiệm vụ cơ bản của cách mạng là chống đế quốc chủ nghĩa và quét sạch tàn tích phong kiến; nhưng đừng quên giữa hai mâu thuẫn chủ yếu, mâu thuẫn dân tộc với chủ nghĩa đế quốc xâm lược và mâu thuẫn nông dân với địa chủ phong kiến thì mâu thuẫn giữa dân tộc ta với đế quốc vẫn là chủ yếu nhất. (Trần Chiến.
TRẦN HUY LIỆU – CÕI ĐỜI).
Chúng ta thành thực khen ngợi Trần Huy Liệu ngay thẳng, nhưng ông theo Cộng sản mà chẳng hiểu cộng sản. Đấu tranh giai cấp chỉ là cái cớ để cộng sản cướp chính quyền, cướp tài sản nhân dân. CCRĐ là cái cớ để cộng sản  tàn sát , bỏ tù nhân dân, khủng bố nhân dân, để rồi bắt dân làm nô lệ trong công trường, nông trường với đồng lương chỉ ăn đủ 10 ngày!CCRD chỉ là cái cớ để cộng sản giết dân, khủng bố dân chứ dân ta làm gì có 5%-7% địa chủ!
CCRD đã mở mắt cho Trần Đưc Thảo. Đây là dịp để ông trải nghiệm triết học Marx trong lý thuyết và thực hành.
 Cho tới nay, ta đã chẳng làm được việc gì ích quốc, lợi dân cho ra hồn. Ta về nước đâu có phải là để chạy theo đuôi cách mạng, để làm cái tên trí thức a dua như thế này! Thấm thoắt đã gần hai năm rồi. Chẳng biết sẽ còn nằm ở đây đếm thời gian đến bao lâu nữa! Nay là cứ sống cúi đầu, tuân lệnh dập theo một khuôn mẫu đã có sẵn, bất kể đúng sai, bất kể thiện ác, như thế thì còn gì là tư duy, còn gì là triết học! Như thế thì đến bao giờ mới xoá bỏ được giai cấp? Liệu bắn hết phản động ở nông thôn thì có xây dựng được con người mới xã hội chủ nghĩa hay không? Mà tất cả những gì đang làm kia có thật là để cải tạo xã hội, giải phỏng con người hay không? Rõ ràng những điều xảy ra trước mắt kia không thể nào đặt nền tảng cho một xã hội lý tưởng, một trật tự ổn định! Marx, Ẹngels không hề hô hào làm những điều xằng bậy, dã man như vậy!!(Tri Vũ.Ch.VI)
____

(1). Đoạn kết, Tô Hoài viết rằng Huỳnh Cự bị chiến sĩ đặc công Vó."Một trận đánh chớp nhoáng đột nhập vào cơ quan chiêu hồi của ngụy ở giữa Sài Gòn. Quyết Thắng đã rút dao chém đứt cổ Huỳnh Cự trong đám loạn quân tháo chạy. Lại còn xách được cái đầu Cự đem về làm bằng.(BNK. Ch.V).
Đỗ Hữu Long viết khác: " Huỳnh Cự hồi chánh taị Quảng Ngãi với cấp bậc trung tá.
Anh Huỳnh Cự cũng được Bộ Chiêu Hồi cử nhiệm chức vụ tham nghị đặc biệt kiêm nhiệm trưởng đoàn thuyết trình trung ương. Anh Huỳnh Cự tính tình bộc trực, cởi mở thường hướng dẫn các đoàn hồi chánh trình bày bộ mặt thật, gian xảo, tàn bạo, vô luân của chủ nghĩa Cộng Sản và đảng Cộng Sản từ các cơ quan taị Sài gòn đến các tỉnh, thị … Anh được thả năm 1990 và được cấp giấy xuất cảnh theo diện H.O.
Một buổi sáng đầu năm 1991, anh Huỳnh Cự và anh Mai Đình Tạo cựu trưởng Ty Chiêu Hồi Bình Dương gặp nhau taị một quán cà phê đường Hàng Xanh. Trong câu chuyện anh Tạo dặn dò anh Cự không nên nói nhiều, đợi đến Mỹ sẽ tính. Hai anh rời quán và vừa đặt chân xuống lòng đường, một chiếc xe jeep màu xanh lao vào và cán qua người anh Huỳnh Cự. Hai người trên xe ngoái cổ nhìn lại, lùi xe cho lăn bánh qua thi thể đang co giật thêm một lần nữa trước khi rồ máy đi thẳng.
Buôỉ sáng hôm đó, anh Tạo và dân chúng xung quanh chứng kiến cảnh Cộng Sản thủ tiêu anh Huỳnh Cự một cách ngang nhiên giữa thanh thiên bạch nhật
.( Đỗ Hữu Long.Những Người Trở Về Với Đại Gia Đình Dân Tộc. http://batkhuat.net/tl-nn-trove-daigiadinh-dantoc.htm




No comments: