Monday, May 1, 2017

LÊ XUÂN NHUẬN



Quốc Hận 30/4
TÔI ÐÃ GIỮ ÐƯỢC AN-NINH CHO VÙNG I
TRƯỚC THÁNG TƯ ÐEN 1975
  

Cuối năm 1973 (ngày 26-9), tôi đến Vùng I đảm-trách Ngành Ðặc-Cảnh tại đây.

        Ngay lần đầu tiên tôi dự phiên họp hỗn-hợp với các cấp chỉ-huy an-ninh, tình-báo và phản-gián dân-sự và quân-sự tại địa-phương (Đại-Tá Phạm Văn Phô, Trưởng Phòng 2 Quân Ðoàn I; Đại-Tá Lê Quang Nhơn, Chánh Sở I An-Ninh Quân-Ðội; Đại-Tá Nguyễn Xuân Lộc, Chỉ-Huy-Trưởng Cảnh-Lực Vùng I; v.v...), Thiếu-Tướng Hoàng Lạc (Tư-Lệnh-Phó Quân-Khu I, đại-diện Trung-Tướng Ngô Quang Trưởng, Tư-Lệnh Quân-Đoàn I & Quân-Khu I), cho biết tình-hình chung, nhất là ngay giữa và xung quanh thành-phố Ðà-Nẵng (nơi Quân-Ðoàn I và Quân-Khu I đặt tổng-hành-dinh, nơi bây giờ là thủ-phủ cuả Miền Trung) với các vấn-đề cụ-thể như sau:

       
Kho xăng lớn nhất cuả Quân-Khu I ở Liên-Chiểu, sát bên chân đèo Hải-Vân, đã bị Việt-Cộng tấn-công mấy lần rồi;
        Các bồn xăng dự-trữ quan-trọng khác, ở giữa nội-thành, cũng đã bị đặc-công Việt-Cộng cắt rào thép gai dở chừng;
        Xe lửa từ Huế vào khỏi hầm Ðèo Hải-Vân là bị Việt-Cộng giựt mìn đều đều;
        Ðặc-biệt ngay ở phiá nam Núi Ngũ Hành-Sơn, trực-thăng cuả Trung-Tướng Ngô Quang Trưởng cũng thường bị Việt-Cộng bắn sẻ, nên ông phải tránh vùng đó bằng cách bay vòng ra xa, v.v...

        Tôi không cần thắc-mắc tại sao cả một Quân-Đoàn đóng ở đó, mà các cơ-quan và đơn-vị Quân-Lực và Cảnh-Lực sở-tại đã không thanh-toán được các ung-nhọt kinh-niên này.

        Tôi liền tự-nguyện đảm-trách việc phục-hồi và bảo-đảm an-ninh lâu đài cho các nơi kể trên.

        Tôi còn đề-nghị để cho Cảnh-Lực nói chung, mà thật ra là
Ðặc-Cảnh cuả tôi nói riêng, do tôi đích-thân nhập-cuộc, đảm-nhận vai trò chủ-trì trong các hoạt-động cả chìm lẫn nổi, tiễu-trừ cộng-sản và duy-trì an-ninh lãnh-thổ, trên bất cứ vùng đất nào có thường-dân cư-trú và sinh-hoạt, bắt đầu từ các Thị-Xã, Tỉnh-lỵ và Quận-lỵ, trên khắp Quân-Khu.
        Tôi chỉ xin một chữ ký cuả Tư-Lệnh Quân Ðoàn I và Quân-Khu I, thông-báo việc này cho hết thảy các cơ-quan và đơn-vị quân-sự trên toàn Vùng I đều biết để tuân-hành.

        Sau khi Trưởng
Phòng 2 và Chánh Sở An-Ninh Quân-Ðội hoan-nghênh, Thiếu-Tướng Tư-Lệnh-Phó Quân-Khu tán-đồng, Trung-Tướng Ngô Quang Trưởng, Tư-Lệnh Quân Ðoàn I và Quân-Khu I, đã chấp-thuận đề-nghị ấy cuả tôi.

Một cuộc hành-quân “gương-mẫu”

        Khi tôi xuống sân thì có thể nói là hầu hết các cấp nam+nữ nhân-viên tại Bộ Chỉ-Huy Cảnh-Lực Vùng I đều đổ dồn ra mọi cửa lớn và cửa sổ để xem quang-cảnh mới+lạ mới thấy lần đầu.
Bên này là hai trung-đội Cảnh-Sát Dã-Chiến, khác hẳn trung-đội danh-dự trong lễ thượng-kỳ mỗi sáng đầu tuần, vì có mũ sắt trùm lưới ngụy-trang và mang ba-lô hành-quân, với vẻ mặt nghiêm lạnh khác thường.  Bên kia là hai toán Thám-Sát Ðặc-Biệt, mặc áo quần Cảnh-Sát Dã-Chiến, nhưng đội bê-rê màu xanh lá cây cuả Lực-Lượng Ðăc-Biệt và được trang-bị nhiều loại súng máy lạ mắt.  Phiá trước là một toán Ðặc-Nhiệm cuả Sở Tác-Vụ mặc giả thường-dân:  đồ đen, đồ nâu, mũ vải, nón lá, dép nhựa, giày bố...

        “
Thám-Sát Ðặc-Biệt” là danh-xưng mới cuả “Thám-Sát Tỉnh” (PRU: Provincial Reconnaissance Unit) do cơ-quan CIA trực-tiếp tổ-chức và sử-dụng, bí-mật đột-nhập căn-cứ Việt-Cộng, do-thám, phục-kích, tấn-công, kể cả bắt cóc đối-phương.  Sau Hiệp-Ðịnh Ðình-Chiến Paris 1973, Thám-Sát Tỉnh được chuyển-giao cho các Tỉnh-Trưởng; nhưng các Tỉnh-Trưởng không cầm nắm được họ.  Sau đó, CIA chuyển-giao cho Cảnh-Sát Quốc-Gia; Bộ Tư-Lệnh CSQG giao cho Khối Hành-Quân là nơi điều-hợp Cảnh-Sát Dã-Chiến và Giang-Cảnh; nhưng nơi đây không biết sử dụng PRU cách nào cho phù-hợp với nhau.  Cuối-cùng, PRU được giao cho Ngành Ðặc-Biệt (Cảnh-Sát Đặc-Biệt), và mang tên “Thám-Sát Ðặc-Biệt”. 
Nhưng Cảnh-Sát Quốc-Gia và Ðặc-Cảnh vẫn để cho Thám-Sát Ðặc-Biệt được bán-tự-trị (quản-trị nhân-số, lương-bổng, v.v...) và hoạt-động riêng, như hồi còn là PRU.
Nhận thấy đó là lực-lượng hữu-ích mà tôi cần có, như những đơn-vị biệt-kích cuả Công-An ngày xưa, nên tôi đích-thân trực-tiếp sử-dụng, không để phí phạm tiềm-năng cơ-hữu cuả Ngành mình.
       
        Kể từ dịp này, tôi cho các cấp chỉ-huy Thám-Sát Đặc-Biệt được mang cấp-hiệu giống như Cảnh-Sát Quốc-Gia, để có uy-tín trong cuộc hành-quân phối-hợp, và người dẫn đầu của đơn-vị ấy hôm đó là “Đại-Úy” Trần Văn Phú, Chỉ-Huy-Phó của Liên-Đội TSĐB Vùng I dưới quyền tôi.             
        Cảnh-Sát Dã-Chiến thì thỉnh-thoảng cũng có đi hành-quân, nhưng hoặc là dưới quyền Bộ Chỉ-Huy Cảnh-Sát Sắc-Phục, hoặc là dưới quyền Uỷ-Ban Phụng-Hoàng, tuy có Ðặc-Cảnh tham-gia nhưng không thuộc quyền chỉ-huy cuả Ðặc-Cảnh, nên không khai-dụng được tin-tức tình-báo cấp-thời.  Tôi muốn kiêm phần trực-tiếp điều-động lực-lượng ấy trong các hoạt-động chống Cộng để tận-dụng và phát-huy tiềm-năng cuả mọi người.

        Tôi có thể tập-trung các bộ-phận
Biệt-Tác, Ðặc-Nhiệm, và Thám-Sát Ðặc-Biệt, thuộc Ðặc-Cảnh, tại bất-cứ địa-điểm nào khác, để làm nơi xuất-phát; nhưng tôi cố ý trình-diễn như thế là để nói lên cho mọi người biết rằng:  Cảnh-Sát Dã-Chiến cũng phải hành-quân diệt-Cộng; các đơn-vị thuộc các Khối khác nhau cuả Cảnh-Sát Quốc-Gia cũng có thể phối-hợp công-tác với nhau; và từ nay tại Bộ Tư-Lệnh Cảnh-Lực Vùng I đã có người đứng ra tổ-chức và điều-hợp các hoạt-động chủ-động và tích-cực rồi (điều mà các nơi khác chưa ai làm).  Vì thế, chúng tôi gọi đây là một cuộc hành-quân gương-mẫu.
. . . . . . . .

        Trong cuộc hành-quân này, chúng tôi không tấn-công, đột-nhập, chạm súng; mà chỉ áp-dụng các kỹ-thuật chuyên-môn về mặt chìm cuả Ngành mà thôi.
        Về mặt nổi, chúng tôi đã khám-phá ra được, cuả đặc-công Việt-Cộng, nhiều chốt điểm quan-sát, hang hốc nấp-ẩn, lối nẻo thoát-thân; cũng như lùng tìm, tịch-thu được cuả chúng nhiều vũ-khí, lương-thực, v.v... cất giấu rải-rác xung quanh...

        Ðặc-biệt là tôi chưa nhờ địa-phương, nhất là bên phiá Quân-Lực, tiếp sức, như Bộ Tư-Lệnh Quân Ðoàn I & Quân-Khu I đã chuẩn-y; nhưng khi thấy chúng tôi đến hoạt-động, các nhân-viên Cảnh-Sát Xã và nhiều
Nghiã-Quân đồn-trú gần đó đã tự-động đến tham-gia.

Các cuộc hành-quân “gương-mẫu” tiếp theo

        Sau đó, tôi cho học-tập để rút kinh-nghiệm, và hướng-dẫn thêm, để Sở Tác-Vụ của Thiếu-Tá
Ngô Phi Đạm tự mình làm theo những gì tôi đã đề ra .
        Tôi đã tổ-chức hành-quân như thế tại Liên Chiểu, thiết-lập màn lưới an-ninh, tình-báo và phản-gián quanh vùng Kho Xăng cuả Quân-Khu.
        Ðặc-Cảnh Vùng I chúng tôi cũng làm một việc tương-tự kéo dài từ bên ngoài Ðèo Hải-Vân, thuộc hoạt-vực cuả Tỉnh Thừa-Thiên, vào quá bên trong Ðèo ấy, thuộc lãnh-thổ cuả Tỉnh Quảng-Nam, để phục-hồi an-ninh cho các chuyến xe lửa từ Huế vào trong này.
        Nhiều toán Nghiã-Quân và một số Ðịa-Phương-Quân ngoài này cũng tự-nguyện đến hợp-tác với chúng tôi.
        Về các Kho Xăng phụ, ngay giữa thành-phố Ðà-Nẵng, thì công-tác cuả các thuộc-viên cuả tôi được thi-hành dễ-dàng và nhanh-chóng hơn.

Tôi đã giữ được an-ninh cho toàn Quân-Khu I

        Khi các kế-hoạch cuả tôi đã được tiến-hành trôi chảy, nhanh chóng, tại
Ðà-Nẵng và các vùng xung quanh, tôi cho áp-dụng tại khắp các Tỉnh khác, từ Quảng-Trị, Thừa-Thiên, vào Quảng-Nam, Quảng-Tín, Quảng-Ngãi.
        Các Chánh-Sở Ðặc-Cảnh cấp Tỉnh nói trên đều là thành-phần ưu-tú.   Họ có đủ khả-năng nghề-nghiệp, tinh-thần chống Cộng, và quyết-tâm phục-vụ; nhưng vì còn gặp hoàn-cảnh khó-khăn và chưa có đủ phương-tiện làm việc thích-ứng, nhất là không được các giới-chức cao hơn, từ Trung-Ương đến cấp Vùng (đáng lý là có vốn liếng điều-nghiên, có đầu óc sáng-tạo, và có ý hướng tiền-phong) bật đèn xanh cho, nên trước đó đã chỉ đóng khung công-tác hằng ngày, dù là tích-cực, trong lề lối hành-sự thông-thường theo sáng-kiến và nỗ-lực riêng của mình mà thôi.

*
        Tôi nhận-định rằng cộng-sản không phải chỉ là các đơn-vị quân-sự hay các lực-lượng vũ-trang phục-kích, tấn-công, pháo-kích chúng ta mà thôi.
        Do đó, dù không có các lực-lượng chính-quy làm gió bão thì chính các tổ-chức chính-trị và dân-sự cuả chúng cũng vẫn là những ổ ẩn và nôi nuôi cho các loại mối mọt và dịch-khí, đủ sức đục rỗng, xoi mòn, làm sụp đổ nền-móng cuả Quốc-Gia.
        Ði vào thực-tế mới thấy, Quân-Lực chỉ mới đối-phó hữu-hiệu với các đơn-vị quân-sự cuả địch trên các chiến-trường mà thôi; còn thì bỏ trống phần lớn lãnh-thổ cuả ta:  các đại đơn-vị khi hành-quân xong thì về doanh-trại; Ðịa-Phương-Quân cuả Quận, Nghiã-Quân cuả Xã, phần lớn co cụm trong trụ-sở Chi-Khu, trong đồn, cố-thủ trong vòng rào vọng gác, nhất là ban đêm.  
Mình không hiện diện bên ngoài để bảo-vệ dân, làm sao mong dân bên ngoài tay không mà bảo-vệ cho mình bên trong?

        Trong vụ VC "tổng tấn công"
Tết Mậu-Thân tại thành-phố Pleiku (nơi trú-đóng của Bộ Tư-Lệnh Quân-Ðoàn II, và là thủ-phủ cuả Vùng II, dưới thời Trung-Tướng Vĩnh Lộc, thời-gian tôi coi Ngành Đặc-Cảnh tại Vùng II), ngót cả tuần-lễ không thấy một người lính Bộ-Binh nào, kể cả Cảnh-Sát địa-phương, ra hoạt-động ban ngày chứ nói gì ban đêm.  Tôi phải tự-nguyện đích-thân xuống phố, điều-động Sở Tác-Vụ cuả Biên-Tập-Viên Nguyễn Văn Ðộ, (sau này là thiếu-tá, Chánh Sở Đặc-Cảnh Tỉnh Khánh-Hòa) thuộc Ngành Ðặc-Cảnh Vùng II cuả tôi, thức suốt mọi đêm để tuần-tiễu, cứu-cấp đồng-bào bị hoả-tiễn cuả Việt-Cộng liên-tục bắn vào, chữa lửa, cô-lập các nơi có hoả-tiễn chưa nổ, kiểm-chứng tại chỗ để giúp Không-Quân khỏi xạ-kích lầm xuống thường-dân vẫn luôn cuống-quýt kéo nhau di-chuyển chỗ ngủ hỗn-loạn trong đêm khuya...

        Lúc ấy
Hoa-Kỳ chưa đề-xuất Kế-Hoạch “Cảnh-Sát-Hoá”, mà tại thủ-phủ cuả Vùng II tôi đã chứng-tỏ được là Cảnh-Lực có thể làm được nhiều việc tiếp tay với Quân-Lực, bảo-vệ an-ninh cho đồng-bào.  
Nay thì, dù cho Kế-Hoạch ấy đã bị các nhà lãnh-đạo Việt-Nam Cộng-Hoà bức-tử, tôi thấy nó vẫn có giá-trị lớn-lao, nên tôi liều-lĩnh đơn-phương thi-hành trong phạm-vi quyền-hạn cuả tôi.
        Và kết-quả là...
*
        Ngoài các thành-quả công-tác khác, riêng về vấn-đề phục-hồi và duy-trì an-ninh cho các vùng đất có dân-chúng cư-ngụ và sinh-hoạt trên khắp lãnh-thổ toàn Vùng I, tôi đã đạt được kết-quả:
BÁO-CÁO ĐẶC-BIỆT
A. CỘNG-SẢN VIỆT-NAM:
  An-Ninh:
  1- Ðã hạ-sát 20+ VC; bắt sống 63+ VC; chiêu-hồi 135+ VC.
  2- Ðã phá vỡ 10+ tổ-chức VC khủng-bố, phá-hoại, trinh-sát, dân/địch-vận, võ-trang tuyên-truyền, v.v...
  3- Ðã khui phá 5+ hầm bí-mật VC; tịch-thu của chúng 20+ hỏa-tiễn 122 ly, 11+ AK-47, 6+ CKC, 10+ súng lục nhiều loại, 32+ lựu đạn, 3+ tấn gạo, v.v...
  4- Ðã bắt giữ 6+ tổ-chức tiếp-tế, 2+ đường dây kinh-tài VC; tịch-thu của chúng 2+ tấn gạo, 1,000+ Mỹ-kim...
  5- Ðã phá vỡ ổ đặc-công VC vùng nam Núi Ngũ-Hành-Sơn, vốn thường-xuyên bắn sẻ lên phi-cơ trực-thăng của Trung-Tướng Ngô Quang Trưởng, Tư-Lệnh Quân-Đoàn I và Quân-Khu I.
Kể từ cuối năm 1973, đã tái-lập và duy-trì an-toàn 100% cho đường bay của Tư-Lệnh Quân-Đoàn/Quân-Khu I khắp vùng nói trên.
  6- Ðã thanh-toán xong các phần-tử đặc-công VC nội-thành Ðà-Nẵng.
Kể từ cuối năm 1973, chúng không còn cắt rào thép gai định vào phá-hoại các bồn xăng dự-trữ của ta.
  7- Ðã chận đứng vĩnh-viễn mọi nỗ-lực của đặc-công VC vùng nam Đèo Hải-Vân.
Kể từ cuối năm 1973, chúng không còn tấn-công Kho Xăng lớn nhất của Quân-Khu I ở Liên-Chiểu, sát Đèo Hải-Vân.
  8- Ðã chấm dứt tức-thì mọi toan-tính của đặc-công VC vùng bắc Tỉnh Quảng-Nam vốn giật mìn đều đều các chuyến xe lửa, giết hại hành-khách thường-dân, hằng ngày từ Huế vào.
Kể từ cuối năm 1973, đã tái-lập và duy-trì an-ninh 24/24 giờ trên tuyến thiết-lộ này.
  9- Ðã triệt-tiêu mọi hoạt-động khủng-bố và phá-hoại của biệt-động VC nội-thành, vốn thường-xuyên quấy-rối các phố-phường đông dân.
Chỉ trừ một vụ VC xúi-giục trẻ con ném chất nổ gây thương-tích cho Cảnh-Sát Lưu-Thông, còn thì kể từ cuối năm 1973, đã tái-lập và duy-trì an-ninh hoàn-toàn tại khắp các thị-xã và quận-lỵ, xã-lỵ lớn trong toàn Quân-Khu I.
  10- V.v...
  Thám+Ðiệp:
  1- Ðã tuyển-dụng:
  22+ cán-bộ VC điệp-viên nội-tuyến cho ta;
  36+ cơ-sở VC thám-viên xâm-nhập cho ta.
  2- Ðang xây-dựng:
  91+ đầu mối mật-viên để họ hoạt-động cho ta.
B. CỘNG-SẢN ĐÔNG-ÂU:
  Thám+Ðiệp:
  1- Ðã tuyển-dụng và móc-nối được:
  3+ sĩ-quan Ba-Lan, và
  3+ sĩ-quan Hung-Gia-Lợi.
Các điệp-viên này đã được tôi chuyển-giao cho Người Bạn Ðồng-Minh, và sau khi hồi-hương họ đã hoạt-động nội-tuyến cho Thế-Giới Tự Do ngay trong hàng-ngũ Ðảng, Nhà Nước và Bộ Ðội của họ, và trong tổ-chức quân-sự cộng-sản quốc-tế “Minh-Ước Vác-Xô-Vi”, tại thủ-đô các nước liên-quan, kể từ cuối năm 1973.
  2- Ðang khai-triển:
  3+ sĩ-quan Ba-Lan, và
  2+ sĩ-quan Hung-Gia-Lợi, để họ hoạt động cho ta*.
C. NỘI-CHÍNH:
  1- Ðã đối-thoại trực-tiếp với Thượng-Nghị-Sĩ Vũ Văn Mẫu, Chủ-Tịch, và Giáo-Sư Võ Ðình Cường, Dân-Biểu Phan Xuân Huy, v.v..., thuộc ban lãnh-đạo trung-ương của “Lực-Lượng Hòa-Hợp Hòa-Giải Dân-Tộc”, được họ hứa chắc (và đã giữ lời) là sẽ không gây xáo-trộn an-ninh trật-tự chung.
  2- Ðã cài-cấy người của ta vào nội-bộ giới “Phật-Tử Tranh-Ðấu” để ngăn-ngừa và đối-phó với mọi mưu-toan bạo-động (cũng như phát-hiện cộng-sản nằm vùng).
  3- Ðã chứng-minh trước công-chúng rằng Việt-Cộng đã xâm-nhập vào Ban Ðại-Diện Tổng-Hội Sinh-Viên Huế và Ban Lãnh-Ðạo “Phong-Trào Chống Tham-Nhũng” bắt đầu từ họ đạo Phú-Cam.
  4- Ðã cải-chính cụ-thể trước công-luận rằng các cơ-quan an-ninh tình-báo Quốc-Gia không hề “bắt cóc” sinh-viên Hoàng Kim Khánh như VC đã dàn cảnh để tuyên-truyền.
  5- Ðã cảnh-tỉnh giới sinh-viên và học-sinh nói chung. Kể từ đầu năm 1975, họ đã dè-dặt trong các sinh-hoạt tập-thể và từ bỏ hẳn các cuộc hội-thảo có nội-dung sách-động, đòi-hỏi quá đáng, tuyệt-thực, thái-độ cực-đoan.
  6- Ðã khám phá ra việc Việt-Nam Quốc-Dân Ðảng chủ-mưu thủ-tiêu một Phật-Tử cơ-sở VC tại Tỉnh Quảng-Tín.
-------
*Các con-số này chỉ là bản thảo trước ngày 29-3-1975 (là ngày Quân-Khu I/Đà-Nẵng thất-thủ), dự-trù sẽ được cập-nhật trước ngày 1-6-1975 (“Ngày Cảnh-Lực”) nên có ghi thêm dấu cộng + (nghĩa là sau đó sẽ tăng nhiều hơn

7- Ðã xâm-nhập được vào tất cả các chính-hội, giáo-hội, nghiệp-hội, hữu-hội, học-hội, văn-hội, thiện-hội... khắp Miền Trung.
  8- Ðã chận đứng được kế-hoạch toàn-quốc đồng loạt xuống đường, kể từ đầu năm 1975, của “Phong-Trào Chống Tham-Nhũng”, vốn đòi Tổng-Thống Nguyễn Văn Thiệu phải từ-chức tức-thì.
  9- Ðã phát-hiện ác-ý vu-cáo một số thành-viên Hội-Ðồng Tỉnh Thừa-Thiên và Thị-Xã Huế là cán-bộ VC nằm vùng, để hãm-hại những kẻ có chính-kiến bất-đồng.
  10- V.v...
 
D. NỘI-BỘ:
Kể từ ngày tôi về Miền Trung, cuối năm 1973:
  1- Ðã chấn-chỉnh, thanh-lọc nội-bộ Cảnh-Lực, nhất là Ðặc-Cảnh, Vùng I.
  2- Ðã được Bộ Tư-Lệnh Quân-Ðoàn I & Quân-Khu I ủy-thác trách-nhiệm chủ-trì hoạt-động quân-sự và dân-sự chống Cộng tại vùng có dân-cư trên toàn lãnh-thổ Miền Trung.
  3- Ðã tiên-phong điều-động Cảnh-Sát Dã-Chiến hành-quân diệt-Cộng phối-hợp với Ðặc-Cảnh và Thám-Sát Ðặc-Biệt, tiến tới phối-hợp với Nghĩa-Quân và Ðịa-Phương-Quân.
  4- Ðã được Bộ Tư-Lệnh Quân-Ðoàn I & Quân-Khu I tín-nhiệm phân-công chính-trách thiết-lập “Trận Liệt Chính-Trị Cộng-Sàn Liên-Khu IV–Liên-Khu V”, dùng trong Quân-Lực, Cảnh-Lực, Tình-Báo, Phản-Gián, Thông-Tin, Chiêu-Hồi, v.v...
  5- Ðã thực-sự làm chủ Ngành Ðặc-Cảnh, điều-động các cấp nhân-viên thuộc quyền ra ngoài hệ-thống Sắc-Phục, theo hệ-thống quản-trị biệt-lập của mình.
  6- Ðã được Người Bạn Ðồng Minh tín-cẩn ủy quyền ký phiếu sử dụng phi-cơ “Air America”; tùy-nghi tiêu tiền không cần hội-ý trước. Trước tôi, chỉ có chưa đầy 4,000 đồng mà họ phàn-nàn; với tôi, tôi tiêu mỗi tháng hơn 400,000 đồng (chưa kể những lần bất-thường), gấp trên trăm lần, mà họ vui lòng...   V.v...
*
Riêng tại cấp Vùng (E6), tôi chỉ cần có dăm-ba anh+em đồng-tâm, nhất-trí, quyết-chí, tận-tình là mọi việc trôi tròn.
Nói chung, Ngành Đặc-Biệt Khu I của tôi (gồm 5 Tỉnh và 2 Thị-Xã), đã giữ được an-ninh cho đồng-bào trong khắp Vùng I trong một năm rưỡi sau cùng tôi đảm-trách cơ-quan Cảnh-Sát Đặc-Biệt tại Vùng này.
Tôi đã đáp-ứng được kỳ-vọng của Trung-Ương mà Thiếu-Tướng Nguyễn Khắc Bình, Tư-Lệnh Lực-Lượng Cảnh-Sát Quốc-Gia, và Chuẩn-Tướng Huỳnh Thới Tây, Phụ-Tá Tư-Lệnh đặc-trách Trưởng Ngành Đặc-Biệt Trung-Ương, đã đặt vào tôi; đồng-thời tôi đã thực-hiện được lời hứa của tôi với Bộ Tư-Lệnh Quân Ðoàn I & Quân-Khu I, nhất là với Trung-Tướng Ngô Quang Trưởng mà tôi mãi hoài kính yêu.
Thanh-Thanh
Biến-Loạn Miền Trung
Vietnamese Choice Poems



Báo Washington Babylon 


Nhân dịp 30 Tháng Tư của Việt-Nam, báo Washington Babylon ở Thủ Đô Washington đã cho đăng liên-tiếp qua 9 kỳ báo, loạt bài nhan-đề “The Life and Times of a South Vietnamese Special Police Officer” của tác-giả Douglas Valentine.
Chúng tôi xin tạm phổ-biến bài-viết kỳ thứ 5 để rộng đường dư-luận:
Home Foreign Affairs The Life and Times of a South Vietnamese Special Police Officer, Part...

The Life and Times of a South Vietnamese Special Police Officer, Part 5: On the Front Lines


By

Doug Valentine


-

April 14, 2017


0


Twitter




Nhuận left the CIO/SOC in December 1963 to become Chief of the National Police in Quảng-Đức Province, headquartered in Gia Nghia City in the Central Highlands. Like his previous post in Darlac, Quảng-Đức was a mountainous province on the Kampuchea border, populated by Montagnards.

Nhuận maintained his CIO contacts, but there was less contact between the SOC and the Special Branch in the years after the 1963 revolution, as the CIA tightened its control of the CIO at the expense of the Special Police.


Be Sure to Visit the Series Homepage Daily for New Content!


As a province police chief, Nhuận was now a manager. His office consisted of three bureaus: the Special Police, the uniformed police, and administration. His job was to work politically against the communists and dissidents; judicially against any criminal; and administratively to protect people by maintaining law and order. Nhuận supervised more than one hundred police officers in the province capital Gia-Nghĩa and in four districts; Đức-Lập, Kiến-Đức, Khiêm-Đức, and Đức-Xuyên.


The failure of the resettlements programs, for example, created chaos. “After the 1963 coup, almost all inhabitants of the Dinh Điền Zones felt that they were now liberated from the Ngô regime,” Nhuận explained. “They spontaneously left these zones to return to their native villages.”


At the same time, political groups pressured the Khanh government to release political prisoners jailed during the First Republic. Among those released were key figures of the North Vietnamese intelligence network. The coup also engendered the return of dissident South Vietnamese military leaders who had fled or been exiled, and some of these officers were now agents of North Vietnamese intelligence. These developments enabled North Vietnamese and Vietcong intelligence to regroup and resume activities.


Another big problem concerned the CIDG program, which had been transferred from the CIA to the US Military Assistance Command, Vietnam (MACV). Under the US military, the program stopped focusing on village defense and refocused on border surveillance. The program was expanded far too quickly, however, and the Americans soon lost control of the ever-rebellious Montagnard CIDG units.


“One of my main concerns in Quảng-Đức in that period (1963-65),” Nhuận recalled, “was the Montagnard liberation organization FULRO (Front Unifié de Lutte de la Race Opprimée).”


By September 1964, FULRO was armed to the teeth with American weapons, and FULRO forces under Y B’ham Enuol (who had been released from prison), staged a rebellion in pursuit of independence and their own separate nation. The rebellion began in Quảng-Đức Province.


“In the very early morning of 20 September 1964,” Nhuận recalled, “all the Mountaineer members of the CIDG station in Sarpa Camp, Đức-Lập District, revolted. They killed all their Vietnamese LLDB officers and took their American advisors hostage. When they got to the District Office, they grabbed and roped the District Chief, an army captain, as well as other officers. This happened in the presence of the US military advisors.”


Several more CIDG camps quickly fell, and the Montagnard liberation forces began marching on Ban Mê Thuột in neighboring Darlac Province. Khanh’s government and its American advisors intervened and persuaded the Montagnards not to attack Ban Mê Thuột, but Y B’ham fled to Cambodia with several thousand followers, where he continued to agitate for reforms. Another FULRO leader, Y Bih Alio, joined the insurgency and tried to bring the Montagnards under communist control.


“Prior to the FULRO uprising,” Nhuận recalled, “it had been unclear which RVN agency was responsible to monitor the Montagnards. The National Police and Special Branch thought it was the Military Security Service’s job, because the CIDGs were armed and under US and RVN military command. But the MSS did not take responsibility because the CIDGs were “civilian” militias under the CIA.”


As always, Nhuận stepped into the breach and took control. “After the uprising, I put the CIDG camps under National Police and Special Branch surveillance. I had my CIA advisor drive me to the CIDG camp on the frontier between Vietnam and Cambodia, to let them know that the RVN Police were backed by the CIA. But I was not involved in their cross-border operations until after the local CIDG men revolted and launched the FULRO movement. At that point I sent some Mountaineer Policemen into the jungle to infiltrate the FULRO ranks. One of them succeeded in contacting Mr. Y Bham, the leader (whom I had met years before in Ban Mê Thuột). The agent became one of Y Bham’s close advisors. He knew his activities, collected information, stole certain documents, and sent it all back to me.”


Nhuận distinguished himself as Chief of Police in Quảng-Đức Province in other ways as well. He knew that the US Military Advisory Group in Quảng-Đức had a fleet of helicopters, so he asked the MACV chief to organize a training course for his police forces. The policemen were given chopper tours over the hills and riverways surrounding Gia-Nghĩa so they could have a more realistic notion of the area, rather than just looking at the maps. A short time later in Sài Gòn, Nhuận noted with satisfaction, that particular kind of chopper-borne operation was adopted by the Armed Forces of the RVN.


Nhuận also helped to organize a paramilitary police force, which he led into armed operations, either by itself or together with the local Regional Force (Địa-Phương-Quân) units. This was dangerous work and in one clash with the VC outside Gia-Nghĩa city, Lt. Colonel Đặng Hữu Hồng, the Province Chief and Sector Commander, was shot and killed while standing ten meters from Nhuận.
The Special Branch


In 1965, General Khanh was overthrown in a bloodless coup and his successors – featuring Prime Minister Nguyễn Cao Kỳ – turned the government’s attention to fighting the flood of North Vietnamese Army (NVA) soldiers pouring into the Central Highlands. The first of tens of thousands of US combat forces arrived in South Vietnam in the autumn of 1965 to help. The “main force” war had begun in earnest.


At this critical juncture, Nhuận received his next promotion. As he recalls, “In December 1965, I was made Chief of Special Police in the Central Vietnam Highland Region. My region office was in the same building as it had been three years before in Ban Mê Thuột. Seven provinces were now under my control: Kontum, Pleiku, Phú-Bổn, Darlac, Quảng-Đức, Tuyên-Đức, and Lâm-Đồng, plus the independent city of Đà-Lạt.


“I do not remember how many people I supervised. There were many. Besides those working at the region Special Police office, there were officers under my supervision at the province, city, district, and village levels. Thomas Burke (a mid-career Foreign Intelligence officer) was my CIA adviser.”


The CIA began referring to the Special Police as the Special Branch, and a major effort was made to expand and professionalize the organization.


As the RVN’s lead agency in charge of secret intelligence and counter-intelligence operations, the Special Branch focused on the communist organization in South Vietnam. But it also had a mandate to watch every domestic political party, organization, society, alliance, movement, and intellectual force.


The Special Branch received its secret operating funds, including salaries, directly from the CIA, which also provided jeeps, motorcycles, gadgets, and facilities including interrogation centers. To ingratiate themselves, CIA advisors lavished gifts upon Special Branch officers; things like cameras, TV sets, and tape recorders. The CIA even attempted to offer a special monthly allowance to Special Branch members, but withdrew the offer when the uniformed police objected.


As American assistance increased, Vietnamese officials became “like a needy person,” Nhuận observed. “Any gift given to him or her was precious and heartily welcomed.” But the dependence was unhealthy and led to irresponsibility. “The officials saw that there were always newer and better things, so they willingly followed the corresponding instructions from their US advisors.” Even when those instructions were ill-advised.


“A proverb in the economic and financial circles applied, particularly when US suggestions were accompanied by money: He who pays, governs.”


As the centerpiece of its program to professionalize the Special Branch, the CIA in 1965 began offering courses for Special Branch personnel at the Central Intelligence School (Trường Tình-Báo Trung-Ương). The CIA conducted courses for case-officers, as well as in leadership and command, and specialties like counter-intelligence and interrogation. The CIA officers who trained and advised Special Branch personnel were, theoretically, expert in everything.


According to Nhuan, “the Special Police engaged in both “tactical” or Xâm-Nhập (infiltration) intelligence operations designed to discover and watch enemy agents moving into communist organizations; as well as “strategic” Nội-Tuyến (Penetration) operations to persuade agents already inside the communist (or other targeted) ranks to defect and work for us. Tactical information was about what people could see and know; strategic intelligence uncovered and documented the enemy’s secret programs, plans, and deceptions, as well as their viewpoints, strengths and weaknesses, all of which we needed to analyze and understand.”


The Special Branch was composed of a Secret Services Section, an Interrogation Section, a Research Section, and a Support Section, among others. The chief of the Secret Services Section (SSS) was the pre-eminent officer; he managed informant networks in the hamlets and villages, as well as the recruitment and management of double agents. The SSS watched, tracked, investigated, arrested, and recruited agents, sympathizers, and informants.


To facilitate these penetration operations, the CIA in 1965 starting building an interrogation center in each of the RVN’s 44 provinces. The CIA paid local contractors to build the facilities and then donated them to the Special Branch. Many penetration operations began in a province interrogation center (PIC), after a Special Branch officer (a trained interrogator assigned as the PIC chief) had singled out relevant information and clues about and leads to potential agents.


Through the PICs, and with the help of local military forces, the CIA and Special Branch learned the identity and structure of the Viet Cong Infrastructure (VCI) in each province.


To complement the Special Branch’s intelligence function, the CIA, through its Covert Action Branch, established “unilateral” counter-terror teams in every province. Starting in 1965, these CIA-advised counter-terror teams were called Provincial Reconnaissance Units (PRU).


As Nhuan explained, “The PRUs by themselves and apart from the Special Police launched operations capturing and eliminating VC [including VCI] members and destroying VCI organizations in VC-controlled areas. The PICs, however, did not run PRU operations, although members of the PIC chief’s staff and of a Secret Services Section sometimes joined in Allied Forces operations as indicators and/or interrogators.


“The PRU and PIC each had their own separate CIA advisors,” Nhuan continued, “and each of them, when making reports, would emphasize on their own [apparently separate] value. They both were good, but intelligence and operations were, unfortunately, two separate fields and phases.”


The lack of coordination between the CIA’s Foreign Intelligence and Covert Action branches created systematic problems that affected the performance of the PICs and PRU. When it was created in mid-1967, the CIA’s Phoenix program was designed specifically to improve performance by coordinating “intelligence” and “operations”.


Another serious problem was torture in the PICs.


Nhuan acknowledged that “In the interrogation rooms in general, there sometimes were hard measures used to make arrestees confess.” He cited the example of the murder of a female VC agent, Huỳnh thị Hiền, in Bình-Định Province. Nhuan was told to investigate the crime, and accompanied the commander of the National Police in II Corps, Colonel Cao Xuân Hồng, to Hoài-Nhơn District where the murder had been committed.


As Nhuan recalled, they found the dead girl, “with soap foam bubbling from her mouth hiding most of her face. She had been tortured to death. The two Special Branch interrogators involved were immediately removed and later indicted.”


Throughout the war, the CIA was content to blame the Vietnamese. But, in fact, CIA advisers were as likely to engage in rape and murder of arrestees as the Vietnamese they advised. Indeed, CIA-employed Americans working as PIC advisors often acted as interrogators (with interpreters) and often determined which detainees were the best leads to further actions. Exploitation and development were handled by the Special Branch advisor (a higher-ranking CIA official than the PIC advisor) and his Vietnamese counterpart. CIA case officers, acting outside the Special Branch apparatus, could also go to a PIC to do the needed interrogations, and then manage the ensuing clandestine operation.


Ultimately, torture in PICs continued unabated because the CIA considered the PICs essential in helping the Secret Services Section to single out potential leads for the Special Branch chief to exploit and develop.

No comments: