Monday, May 22, 2017

HỒI KÝCỦA GS. NGUYỄN PHONG CHÂU




Mười Năm Y Khoa
Nguyễn Phong Châu


Cuối cùng tôi đã được thuyên chuyển về làm giảng nghiệm viên tại Khu Sinh Ngữ, Đại Học Y Khoa Saigon vào đầu năm 1974. Ngay từ năm 1972, tôi đã nghe nói Khu Sinh Ngữ sẽ tuyển giảng viên để thế chỗ các giảng viên Mỹ, nên tôi đã tính chuyện nạp đơn, nhưng không nhớ rõ tại sao lại thôi. Nhưng qua năm 1973, sau Hòa Đàm Ba Lê việc Việt Nam hóa chiến tranh được xúc tiến mạnh, tôi được biết trưởng khu người Mỹ sắp về nước và giảng viên Việt là Nguyễn Hữu Quảng sẽ chính thức lên thay thế và khu cần tuyển gấp giảng viên Anh văn.

Lúc đó đang dậy tại Trung học Nguyễn Du, tôi vội đem đơn vào cho ông Hiệu trưởng Nguyễn văn Ngọc duyệt chuyển. Ông Ngọc đã không đắn đo, phê chuẩn với hảo ý và nói, “Chắc anh còn nhớ lần anh nạp đơn xin học bổng Colombo Plan qua học bên Úc, tôi ký chuyển ngay tuy anh mới về trường chưa được một năm. Tôi không bao giờ làm khó đối với các giáo sư muốn được xếp giờ dậy thuận tiện để học thêm, và nhất là ngăn cản tiền đồ của họ. Tôi chúc anh lần này cũng được may mắn.” Tôi không bao giờ quên được vị hiệu trưởng ít nói, khắc khổ nhưng rất mực tử tế này. 30-4-75, sau khi bàn giao trường cho ban tiếp quản, ông đã xin ngưng công tác và và về sống đời tu hành cho tới khi mất. Khi tới dự đám tang ông, tôi còn nghe các bạn hàng ở khu Chợ Ông Tạ ca ngợi ông giáo đạo hạnh này.

Tôi cầm đơn lên nạp tại văn phòng Viện Trưởng Viện Đại Học Saigon ở đường Duy Tân, trước Hồ Con Rùa. Đơn nằm đó hết tháng này qua tháng khác mà không có tin tin tức gì cả và tôi cũng không để ý theo dõi nữa. Rồi một buổi chiều khi tôi đang ngồi nói chuyện với một người bạn thân là Nguyễn Viết Long dạy Anh văn tại Trung Tâm Thính Thị Anh Ngữ thuộc Đại Học Sư Phạm ở góc đường Cộng Hòa-Thành Thái thì ông giám đốc trung tâm chợt đi đâu về, nói với Long là Bs. Nguyễn Văn Thơ, Khoa trưởng Nha Khoa, sẽ là Xử lý Viện truởng, thay thế GS. Viện Trưởng Trần Văn Tấn bận công xuất. Một ý nghĩ thoáng qua trong đầu, tôi bèn mượn điện thoại gọi cho ông cụ tôi.



Lúc đó ông cụ tôi là văn phòng trưởng Hội Hướng Đạo Việt Nam, trụ sở ở số 18 Bùi Chu, Saigon. Ông cụ vào hướng đạo ngay từ thời kỳ đầu của phong trào này ở Việt Nam và hoạt động cho tới khi mất. Hồi nhỏ tôi thường nghe ông cụ nói tới những tên như Hoàng Đạo Thúy, Tạ Quang Bửu, và Trần Duy Hưng là người đã chủ tọa lễ tuyên hứa của ông cụ. Di cư vào Quảng trị, ông cụ lập Đạo Ái Tử và khi vào Saigon thì Hội Hướng Đạo giao cho ông cụ tôi lo văn phòng của hội. Tại đây ông cụ thường xuyên làm việc với các Trưởng hướng đạo kỳ cựu, trong đó có Trưởng Nguyễn Văn Thơ. Ông cụ đã nhờ Trưởng Thơ để ý tới việc tôi nạp đơn xin chuyển vế Y Khoa và chỉ mấy hôm sau tôi được báo cho biết là đơn của tôi và của một giáo sư khác là Nguyễn Đức Lâm đã được duyệt xét và chuyển với hảo ý qua Bộ Giáo Dục, xét theo nhu cầu của Khu Sinh Ngữ, Đại Học Y Khoa.

Tưởng mọi chuyện đã êm đẹp nhưng đợi cả tháng không thấy tin tức gì. Tôi liên lạc với Nguyễn Đức Lâm lúc đó cũng đang dậy cùng với tôi và Quảng ở Hội Việt Mỹ và cho biết sự vụ. Lâm cho biết có lẽ lại kẹt ở văn phòng tổng thư ký Bộ Giáo Dục, vì ông này cũng là người Nam rất kỳ thị Bắc Kỳ không thua gì ông Viện trưởng, mà không may cả tôi và Lâm tình cờ đều là Bắc kỳ di cư. Nhưng Lâm nghĩ ra ngay và nói có cơ thoát vì có một người bạn của Lâm là công cán ùy viên cho Thứ trưởng Bùi Xuân Bào. Lâm nhờ bạn nói với ông thứ trưởng và được ông sai nhân viên lấy đơn cho ông để duyệt xét và sau đó đã chấp thuận. Tôi vẫn nghĩ nếu buổi chiều hôm đó tôi không ghé Trung Tâm Thính Thị và sau đó không liên lạc với Lâm thì chuyện chúng tôi được về Y Khoa không biết đã ra sao.


Khu Ngoại Ngữ nằm trên lầu ba ngay phía trên văn phòng nhà trường, kế Khu Phẫu Thuật Thực Hành, trưởng khu là BS. Thái Minh Bạch với hai phụ tá là BS. Lã Hoàng Trung, một người anh họ xa của tôi, và Bs. Thành, mà tôi không hiểu tại sao anh Trung gọi là Thành Le. Các sinh viên thực tập mổ chó trong phòng lab của khu này. Tầng dưới là Khu Sinh Lý với GS.Trần Vĩ là trưởng khu, với hai phụ tá là Bs. Lê Sĩ Quang và một nữ bác sĩ khác mà tôi không nhớ tên. Trưởng Khu Ngoại Ngữ là Nguyễn Hữu Quảng, bạn cùng dạy với tôi ở Hội Việt Mỹ và tốt nghiệp từ Mỹ về. Quảng chính thức thay thế cố vấn Young mãn hạn về Mỹ. Nhân viên văn phòng có ông Thám, cô Hoa là thư ký và bà Lâm làm tạp dịch.

Trường Y Khoa được Viện Trợ Mỹ xây thời Đệ Nhất Cộng Hòa là một quần thể kiến trúc rất hiện đại, gồm haitoà nhà ba tầng nằm song song với nhau. Toà nhà nằm sát đường Hùng Vương với văn phòng trường và đại giảng đường ở tầng trệt, bên trên Khu Sinh Lý, Khu Phẫu Thuật Thực Hành và Khu Ngoại Ngữ. Tòa nhà thứ nhì nằm song song với đường Nguyễn Trãi, là trụ sở của Nha Khoa ở tầng trệt với văn phòng khoa, một phòng lab lớn với các ghế nha khoa và một giảng đường, Khu Vi Sinh và Bệnh Lý ở phía trên. Cũng từ tầng lầu hai của khu nhà này mà sinh viên y khoa Trần Quốc Chương, con trai Thẩm phán Trần Thúc Linh, đã bị xô rớt xuống đất chết. Chương đã có một thời bỏ ra mật khu Bình Dương nhưng sau đó trở lại vào thành. Nhờ ảnh hưởng của thân phụ Chương vẫn được đi học trở lại. Có người cho là Chương bị chính quyền thủ tiêu, nhưng đa số người tin là Chương bị VC thanh toán vì tội phản bội và rất có thể vì biết quá nhiều các hoạt động bí mật nội thành. 

Ai giết cũng vẫn chưa rõ, chỉ biết bà Trần Thúc Linh trong đám tang con đã gào lên, “Ối ông Hồ Chí Minh ơi, ối ông Thiệu ơi, sao lại giết con tôi?” Hai tòa nhà được nối với nhau bằng một hành lang dài, nằm kề một cafeteria là phòng ăn lớn cho sinh viên, phía trên là thư viện do một bác sĩ làm quản thủ. Một góc của cafeteria được ngăn riêng dành cho ban giảng huấn. Cafeteria được các ma soeur điều hành, cung cấp các bữa ăn sáng và trưa vừa bổ, vừa ngon vừa rẻ. Sau 30-4, các soeur còn duy trì được tình trạng tốt đẹp này một thời gian nhờ thực phẩm tồn kho, nên chúng tôi gọi đùa là “Trung tâm Bồi dưỡng Y khoa.”

Về Y Khoa, tôi thấy như lên thiên đàng. Khu Sinh Ngữ chỉ còn một người Mỹ là Evans có giờ mới tới dậy. Các đồng nghiệp Anh Văn thì đều là bạn cùng dậy với tôi ở Hội Việt Mỹ, Quảng, Lâm và chị Hiếu. Còn đối với các giáo sư bác sĩ thì chúng tôi như nước sông nước giếng, không ai đụng tới ai, nên không có áp lực đồng nghiệp. Chúng tôi chỉ dậy sinh viên các năm thứ nhất và thứ hai từ 1 giờ tới 2 giờ trưa khi các em đi thực tập buổi sáng ở các bệnh viện về, và buổi chiều từ 4 giờ tới 5 giờ sau khi các em học xong các mộn lý thuyết, khi đó các bác sĩ giáo sư ai nấy lo về phòng mạch tư của mình. Nếu có đi ngang qua gặp nhau, chúng tôi chào nhau rất lịch sự, nhưng tên tuổi nhau thì hầu như không biết, trừ một vài trường hợp đặc biệt.

Là một bộ phân thuộc đaị học, chúng tôi chúng tôi được hưởng một cách cụ thể cái người ta gọi là quyền tự trị đại học. Về mặt chuyên môn, chúng tôi hoàn toàn độc lập. Nhà trường không bao giờ chi phối chúng tôi về bài vở và phương cách giảng dậy. Sếp Quảng đưa cho Lâm và tôi một số bài giảng cũ của các giảng viện soạn trước đó để có ý niệm phải soạn bài ra sao. Sách giáo khoa được coi là căn bản là cuốn Mastering Medical English do Lacowicz, một giảng viên Mỹ gốc Ba Lan soạn. Sách chủ yếu cung cấp các thuật ngữ y khoa gốc Latin và Hy Lạp đi kèm với các bài đọc liên quan tới các môn học như cơ thể học, vị tràng, tim mạch, sản phụ khoa và cuối cùng là môn với tên mới lạ đối với tôi là Nuclear Medicine. Sau mỗi bài đều có bài tập để kiểm tra tiếp thu của sinh viên. Nhà trưởng cũng để Khu Sinh Ngữ đầu niên học thu tiền sinh viên mỗi người hai trăm đồng, để mua giấy và mực quay ronéo bài học mà chúng tôi soạn riêng cho các lớp chúng tôi phụ trách phát cho sinh viên suốt năm. 

Tiền này giữ tại khu và không phải báo cáo chi thu cho nhà trường. Sáng sáng chúng tôi tới văn phòng đọc sách và soạn bài. Sách y khoa tham khảo thì khu có một số, và nếu cần gì thêm, chúng tôi xuống Thư viên nhà trường. Bs. Nguyên quản thủ thư viện tận tình giúp đỡ chúng tôi khi cần tìm tài liệu tham khảo, và chỉ cho chúng tôi kệ lưu trữ bộ từ điển y khoa Anh-Pháp-Việt, được chia cho nhiều bác sĩ soạn, coi như luận án tiến sĩ y khoa của mình.

Khu Sinh Ngữ gồm có một phòng chính làm văn phòng khu, một language lab có phòng cách âm với thiết bị luyện giọng. Sếp Quảng đặt bureau làm việc ở trong phòng này. Phòng lab rất ít khi được sử dụng, trừ phi có bác sĩ nào sắp xuất ngoại cần luyện nghe nói tiếng Anh, sẽ được Quảng giúp đỡ. Hai phòng này nhìn xuống sân trường phía bên trong. Đối diện qua một hành lang là ba phòng khác, cửa sổ nhìn ra phía đường Hùng Vương. Một phòng dành cho các giảng viên. Lâm, chị Hiếu và tôi mỗi người đều có một bureau ở đây. Hai phòng khác là phòng học, với hơn một chục ghế học, dành để dậy các nhóm nhỏ sinh viên. Và sau 30-4-75, các phòng này thường là phòng dậy các nhóm nhỏ sinh viên học Nga văn, vì đại đa số sinh viên chọn học Anh văn hay Pháp văn. Ngoài ra, đây cũng là phòng họp Bộ Môn hàng tháng khi Khu Sinh Ngữ được đổi thành Bộ Môn Ngoại Ngữ.


Y Khoa Saigon mỗi năm mở thi tuyển lấy 200 sinh viên vào năm thứ nhất. Ngoài hai bài thi chính Hóa học và Vạn vật, thí sinh còn thi nhiệm ý môn Anh văn hoặc Pháp văn có điểm thi hệ số một. Sau khi có kết quả, Khu Sinh Ngữ chuẩn bị cho thí sinh trúng tuyển thi xắp lớp, riêng môn Anh văn, tùy theo số điểm sinh viên được xếp học lớp A100 và A200. Chúng tôi chia nhau dậy các lớp cho sinh viên năm thứ nhất và năm thứ hai, mỗi lớp vài chục sinh viên. Ngoài ra chúng tôi còn phải dậy các sinh viên Nha Khoa, cách thức phân lớp cũng tương tự. Nếu lớp đông chúng tôi dậy ở hai đại giảng đường Y Khoa và Nha Khoa, lớp vắng có thể dậy tại các phòng giảng nhỏ hơn ở hai khu.

Sau khi đã ổn định giảng dậy với số giờ dậy không quá 10 giờ một tuần, chúng tôi có thể sắp xếp giờ dậy ở Hội Việt Mỹ, thường vào các buổi sáng, và buổi chiều sau giờ dậy đầu, chúng tôi ở lại văn phòng đọc sách và soạn bài dậy cho sinh viên của lớp mình, đợi giờ dậy sau vào lúc 4 giờ chiều. Như đã nói ở trên, Sếp Quảng không bao giờ kiểm soát bài soạn của chúng tôi cũng như bài tập kiểm tra sinh viên. Hôm nào không có giờ dậy sau, tôi và Lâm còn có cái thú phóng xe xuống Bưu Điện Saigon ăn bò bía. Bưu Dìện Saigon buổi sáng có bánh mì ở kiosk Hương Lan ngon đặc biệt, buổi chiều bò bía bán ở xe rong. Muốn đổi món thì tới ăn phá lấu ở góc Pasteur-Lê Lợi kế chùa Chà Và, sau đó ghé vào Viễn Đông làm ly nước mía vắt cam ngọt lịm.

Khu Sinh Ngữ như một ốc đảo trong tập thể Y Khoa với những hoạt động mà các bạn bác sĩ gọi là paramedical. Trước 30-4-75, nhóm giảng viên sinh ngữ và các bác sỹ giảng viên và giáo sư có những sinh hoạt và công việc không ăn nhằm gì tới nhau nên mối tương giao hầu như không có. Chúng tôi buổi trưa thường về nhà ăn cơm với gia đình, thay vì ghé vào cafeteria ăn trưa, nên gặp gỡ càng thưa thớt.

Ngoài các bạn trong khu, tôi lúc đầu chỉ có hai bạn thân ở trường, một là Bs. Lã Hoàng Trung ở Khu Phẫu Thuật Thực Hành hàng xóm, và Bs. Lê Sĩ Quang ở Khu Sinh Lý tầng dưới. Bs. Trung là anh họ xa của tôi, và nhỏ tuổi hơn tôi. Hồi tôi mới xuống dậy ở Mỹ Tho, có năm về Saigon coi thi Trung Học Phổ Thông, còn coi hộ điểm xem Trung có đỗ hay không. Thoáng cái khi về Saigon dậy ở Nguyễn Du thì biết Trung đã đang học Y Khoa chuyên về khoa nhi. Gặp lại Trung ở Y Khoa và lại ở khu kế bên nên hầu như ngày nào anh em cũng gặp nhau, và quen luôn với Bs. Thành làm việc cùng khu với Trung. Bs. Thành họ Lê, người Nam, rất vui tính, miệng lúc nào cũng tươi cười.


Bs. Lê Sĩ Quang vốn cùng học với tôi ở Quốc Học Huế từ Đệ Tam tới Đệ Nhất, nhưng Quang học Ban A và tôi học Ban C nên chỉ biết nhau chứ không quen thân. Sau khi đậu xong Tú Tái 2, chúng tôi đều vào học ở Saigon. Tôi thi đậu vào ĐHSP ban Anh Văn khóa 1958-1961, còn Quang vào học PCB ở Đại Học Khoa Học rồi vào Y Khoa Saigon. Chuyện tôi gặp lại Quang ở Saigon cũng khá bất ngờ. Số là khi tôi vào Saigon, anh tôi lúc đó đang học ở ĐH Khoa Học và sống ở Đại Học Xá Minh Mạng Chợ Lớn. Theo nguyên tắc thì đại học xá ưu tiên cho những sinh viên không có gia đình ở Saigon được vào ở và phải nạp đơn xin trước, nhưng “phép vua thua lệ làng”, buồng nào có chỗ trống, các sinh viên đang sống trong buồng đó nếu quen ai có thể hỏi những người kia để người mình quen được trám vào chỗ trống, rồi “hợp thức hóa sau”. Phòng anh tôi có một sinh viên Kiến Trúc, một sinh viên Cống Chánh Phú Thọ, và một người mới dọn ra. Tôi vào Saigon học là có chỗ ở ngay.


Tình trạng này đưa tới sự kiện là nhiều dẫy đa số sinh viên cư trú là người Nam, có các dẫy đa số là người Bắc và hai dẫy 6 và 8 đa số là người Trung. Việc đầu tiên là sau khi ổn định chỗ ở, tôi ra Ngã Bẩy chọn mua một chiếc xe đạp để hàng ngày sáng đạp tới ĐHSP trên Đường Cộng Hoà và chiều đạp tới Văn Khoa trên đường Nguyễn Trung Trực. Trưa về ăn cơm nhà bàn Đại Học Xá, vé tháng mỗi bữa $10, phở ĐHX ba đồng một tô do ông hàng phở Bắc kỳ di cư bê tới tận phòng vào sáng sớm. Với học bổng $1.500 một tháng, tôi sống sướng như vua.

Một buổi chiều vào khoảng giữa niên học đầu, một hôm tôi từ Câu Lạc Bộ trở về phòng ở dẫy 5 thì thấy Quang đang ngơ ngáo đi ở hàng hiên. Tôi hỏi Quang quen ai ở đây, thì Quang nói đâu có quen ai, đang cần chỗ ở nên vào đây thấy buồng nào có người là ghé vô hỏi xin có cho vào ở được không. Gặp tôi Quang mừng lắm và nhờ tôi hỏi giùm, vì ông bà cụ Quang hồi đó vẫn còn làm việc ở Quy Nhơn. Tôi nói cũng là ma mới, nhưng cứ vào phòng tôi ngồi chơi nói chuyện cho đã, đợi mấy anh lớn chiều vể nhờ là chắc ăn. Quả nhiên anh tôi lại có một người bạn ở dẫy 7, nói có người mới dọn ra và thu xếp với mấy bạn đồng phòng cho Quang vào trám chỗ.


Quang nhỏ loắt choắt, hay cười mà cười thì hai mắt tít lại. Tuy nhỏ người nhưng Quang học rất giỏi. Hồi học ở Quốc Học, lúc chúng tôi học Đệ Tam, nhà trường tổ chức thi chung cho tất cả các lớp cùng ban. Ban C chỉ có hai lớp, C1 và C2, hai ban A và B rất đông, tôi không nhớ rõ bao nhiêu lớp. Kết quả thi được công bố trong một lể chào cờ sáng Thứ Hai, và Lê Sĩ Quang được xuớng danh đứng đầu Ban A. Vào Saigon học, Quang học giỏi và mổ ếch rất khéo tay. Vào học Y Khoa Quang được GS. Trần Vỹ chú ý và về sau được về làm việc ở Khu Sinh Lý mà giáo sư là trưởng khu.


Sau Quang được đi Mỹ để lấy Ph.D. Tôi không hỏi Quang học mất bao lâu, nhưng biết trong thời gian này Quang gặp và lập gia đình với chị Minh Châu. Khi Quang học xong thì chị Minh Châu đang học dở dang
Masters về Anh Văn và lúc đó mới sanh con đầu lòng được ba tháng. Dù được đề nghị cho một việc làm và có thể ở lại luôn, nhưng Quang đã quyết định một mình bồng con trở về nước phục vụ, và sau đó chị Minh Châu cũng về sau khi tốt nghiệp và làm giảng viên Anh Văn tại Đại học Văn Khoa Saigon. Việc vợ chồng Quang có con đẻ ở Mỹ tuy gây đôi chút khó khăn cho hai vợ chồng một thời gian nhưng cũng đem lại cái may sau này.


Khi tôi về Khu Sinh Ngữ, chúng tôi rất mừng gặp lại nhau. Một buổi chiều Quang dẫn tôi vào chỗ làm việc của Quang và cười buồn bảo tôi, “Mày thấy không, bàn làm việc của tao được đặt trong warehouse và công việc chính của tao bây giờ là chăm lo tờ Tạp Chí Y Khoa cho trường.” Tôi tự hỏi nếu Quang vẫn chỉ là một học trò cưng của giáo sư trưởng khu, tốt nghiệp Đại học Y Khoa Saigon như vị nữ bác sĩ phụ tá trưởng khu lúc đó thay vì là một Ph.D thuộc “Lò Đào Tạo Mỹ” thì tình trạng có gì khác hay không. Tôi bảo Quang, “Mày đã một lòng nghĩ tới phục vụ đất nước, một mình bồng con mới đẻ về đây, rồi lại kéo cả vợ về thay vì có thể ở lại bên đó yên thân phì gia, thì hoàn cảnh bây giờ chỉ là chuyện nhỏ. Mày còn trẻ, ông thầy cũng đã già rồi, làm gì chả tới lúc mày có thể thăng tiến và biết đâu trám chỗ ông ấy. Không lẽ nhà trường không thấy được tình trạng này hay sao?” Quang chỉ yên lặng mỉm cười.


Một buổi chiều tối tôi ghé lại nhà Quang chơi đúng lúc Quang mới đi về. Quang hớn hở khoe mới tới nhà ông trưởng ban Anh Văn ở Văn Khoa chẩn đoán đúng bệnh viêm ruột thừa cấp tính cho con ông ta và đưa ngay vào bệnh viện mổ gấp. Quang có phòng mạch tư ở khu Đa Kao, phòng mạch rất ế ẩm. Có hôm tôi ghé vào chơi, ngó quanh mà buồn cho Quang. Quang nói bệnh nhân cảm sốt tới đây, bệnh không nặng nên Quang chỉ cho thuốc chống sốt trong khi bệnh nhân cứ đòi cho mua thuốc kháng sinh, có người còn kể ra tới hai ba thứ. Quang nhất định không chịu và hẹn tuần sau nếu không hết thi trở lại. Những bệnh nhân loại này không bao giờ trở lại nữa. Quang nói đành chịu, chả lẽ lại theo thời, kê toa theo đơn đặt hàng của bệnh nhân, để được tiếng là thầy thuốc mát tay và có đông khách. Ba tôi quản lý cho tiệm thuốc tây ở Quảng Trị, nói bệnh nhân bị viêm nhiễm được bác sĩ kê toa cho ba loại trụ sinh, cứ khen là bác sĩ giỏi, biết nhiều. Ông cụ cười nói, “Cho ba thứ đánh bao vây thằng Tây cũng chết, lọ là con vi trùng.”


Niên học đầu tiên trôi qua một cách êm ả và mọi chuyện đều tốt đẹp. Buổi dạy đầu tiên tôi không bao giờ quên được. Đại giảng đường rộng lớn, ánh sáng và thiết trí như một rạp ciné hiện đại. với những hàng ghế cong cong bao quanh một sân khấu. Hai bảng viết mầu xanh phía sau một bục giảng với một đèn nhỏ và một micro. Các hàng ghế học bên dưới đều được spotlight từ trên trần dọi xuống. Khi tôi bước lên bục giảng thì các sinh viên đã ngồi kín mấy hàng ghế đầu sát với sân khấu, yên lặng chờ đợi. Khác với dự kiến, tôi đã không hồi hộp khi đứng trước bục giảng với chiếc micro và ngọn đèn nhỏ dọi sáng cuốn Mastering Medical English. Sau phần tự giới thiệu và hỏi chuyện làm quen, tôi thoải mái bắt đầu bài giảng với sự tự tin vì đã được chuẩn bị kỹ. Sau giờ học, tôi đi xuống nói chuyện với các sinh viên đã nán lại hỏi tôi này nọ. Liên hệ giữa tôi và các em thật tốt đẹp cho tới khi tôi xin nghỉ dạy vào năm 1983.


Nửa năm đầu 1974 trôi qua thật nhanh, việc soạn bài giảng dậy đã vào nền nếp, giờ dậy tư ở ngoài cũng đã ổn định, Quảng, Lâm và tôi bắt đầu tính toán phải phải làm gì để hưởng thụ dịp nghỉ cuối tuần và nhất là cho mùa hè sắp tới. Khoảng hè 74 một hôm Quảng bảo tôi rằng GS. Nguyễn Ngọc Huy quyền Viện Trưởng Viện Đại Học cần tuyển một người gửi qua Mỹ học để khi trở về làm quản đốc các đại học xá ở Saigon. Quảng nói nếu tôi muốn thì sẽ đề cử và nếu mọi việc xuôi xẻ thì có thể đi Mỹ vào mấy tháng đầu năm 75. Tôi lưỡng lự vì mới về Y Khoa được vài tháng, chỉ thích dạy học và rất ngại làm việc hành chánh, nhất là thời gian đó tình hình chính trị rối ren, các sinh viên phản chiến và thân cộng không thiếu gì trong các đại học xá. Khi tôi cám ơn và từ chối, Quảng bảo như vậy cũng phải vì tôi đã dạy được gần nửa năm rồi, nếu cứ tiếp tục dạy được hai năm thì sẽ mở một kỳ thi chuyển ngạch có tính cách hình thức để tôi có đủ điều kiện chuyển từ giáo sư trung học đệ nhị cấp sang ngạch giảng viên đại học. Tôi còn nhớ bản danh sách Ban Giảng Huấn Đại Học Y Khoa với hơn 230 người, đứng đầu là Giáo Sư Phạm Biểu Tâm, rồi giáo sư, giảng sư, giảng viên và tôi đứng cuối với ngạch trật giáo sư trung học đệ nhị cấp, dù là thượng hạng hạng tư!


Ngày tháng trôi qua thật thoải mái cho tới cuối năm khi chúng tôi được hưởng một mùa Giáng Sinh và sau đó là cái Tết Nguyên Đán cuối cùng tươi vui nhất ở nước nhà. Tại một bữa tiệc liên hoan ở một nhà hàng, Trưởng khu Quảng đã cho mọi người một bất ngờ thích thú khi anh đứng lên tươi cười trao cho mỗi người một phong bao lì xì ba ngàn đồng.
Nhưng rồi tình hình chiến sự mỗi lúc một sôi động và viễn ảnh của đất nước ngày càng mù mịt, khiến cái hào hứng lúc đầu bớt dần và cái thảng thốt lo âu tăng lên. Qua tới đầu năm 1975 thì đã thành lo sợ thực sự. Các
sinh viên đi học cũng có vẻ lơ là hơn, thường tụ năm túm ba nói chuyện thời sự. Rồi tiếp theo sau là dồn dập các tin xấu như ngày 14-3 Tổng Thống Thiệu ra lệnh di tản khỏi Ban Mê Thuật và toàn địa bàn Tây Nguyên để về giữ miền duyên hải Trung Phần, 19-3 Quảng Trị thất thủ, chiều 19-3 tướng Ngô Quang Trưởng lập phòng tuyến Mỹ Chánh với kế hoặch giữ Huế bằng mọi giá như ông đã thỏa thuận với Tướng Thiệu, nhưng tới 7:30 tối khi ông về Đà Nẵng thì nhận được công điện của Tướng Viên “Chỉ giữ Đà Nẵng mà thôi, đồng thời rút Lữ đoàn 1 Dù về SGN”, 25-3 Tướng Thiệu ra lệnh bỏ Chu Lai và Huế, trưa 28-3 Đà Nẵng bỏ ngỏ, và qua ngày hôm sau thì thì lọt vào tay địch, tối thì kéo theo Xuân Lộc bị tấn công hôm 9-4 và thất thủ sau 11 ngày oanh liệt chống cự, 20-4 bỏ Long Khánh rút về Biên Hòa lập phòng tuyến mới.


Trong thời gian này tôi vẫn tới trường dậy học mà tâm trí thì không còn tập trung được như trước nữa. Biết là chuyện xấu nhất sắp xẩy đến nhưng chẳng biết làm gì, cứ tới trường, ngồi nói chuyện thời sự với những ai có mặt ở văn phòng trước khi tới giờ dậy. Tôi còn nhớ một chiều khoảng tháng 3 khi tôi đang lững thững xách cặp đi ở hành lang sang Khoa Nha dạy thì gặp một bạn cũ từ thời ở Đại Học Xá Minh Mạng từ sân đi lên. Nguyễn Ôn Thảnh là dược sĩ khi đó đang làm việc ở Bệnh Viện Da Liễu đường Bà Huyện Thanh Quan. Thảnh hỏi tôi đang đi đâu đó và khi nghe tôi trả lời thì Thảnh cười và nói, “Giờ này người ta đang đôn đáo tìm đường chạy mà ông vẫn bình chân như vại à?” Tôi thực sự ngỡ ngàng vì chưa bao giờ tôi nghĩ tới chuyện này. 

Vả lại, tin đồn Miền Nam sẽ trung lập hình như từ Phan Thiết trở vào hầu như ai cũng nói tới và với tính cầu an, tôi thấy như vậy cũng được rồi. Tôi còn được ông anh của anh Trung là thiếu tá tình báo trấn an “Trung lập đến nơi rồi, việc gì mà lo.” Ông này cho biết những ngày cuối cùng hàng ngày báo cáo tình hình cho Tướng Dương Văn Minh và đêm 29-4 nằm núp đạn pháo kích trong Tổng Tham Mưu để hôm sau ngơ ngáo trở về nhà. Ông bị đưa ra Bắc học tập cải tạo nhiều năm và khi bị ung thư gần chết mới được thả về. Mấy tháng sau ông qua đời, lúc tôi được báo cho biết, tới nơi cầm tay ông còn ấm.


Tại Khu Sinh Ngữ tôi thấy ai đại khái cũng như tôi, khi vào làm việc vẫn làm như bình thường, nếu có lo âu hay có tính toán gì đó thì cũng chẳng có ai nói ra. Evans, giảng viên người Mỹ độc nhất vẫn còn dậy giờ hàng tuần vẫn ghé qua văn phòng khi có giờ dậy. Evans khá thân với tôi và Lâm. Tôi không biết Evans làm cho cơ quan nào của Mỹ, nhưng anh rất thích tìm hiểu và la cà tới các nơi ở Saigon. Anh kể cho tôi nghe về một bà đồng ở Xóm Chùa bên Gia Định. Anh ta nói tiếng Anh và tiếng Pháp của bà đồng này chỉ vừa đủ để trao đổi thông thường, nhưng khi đồng nhập thì bà ta là một người khác. Đặc biệt có một ông hoàng thân triều Nguyễn thường nhập vào bà, khi đó bà không nói giọng Nam nữa mà lại đặc Huế. Evans kể có lần hồn nhập là một một kỹ sư từng du học Paris, lúc đó bà đồng nói tiếng Pháp “đúng giọng Sorbonne.” Cái đền của bà này phải đi vào một hẻm nhỏ ở đường Trần Quang Khải, qua môt con lạch rồi mới tới.


Một chiều gần cuối Tháng 3, anh vào hỏi tôi có rảnh thì đi cùng anh tới kiếm bà đồng này để hỏi một chuyện. Tôi đi theo anh nhưng rất tiếc khi tới nơi thì cửa đóng then cài, nên tôi không được coi bà đồng đó trổ tài và chuyện anh ta muốn hỏi bà đồng là chuyện gì. Mấy tuần lễ sau đó, anh lại vào văn phòng ngồi nói chuyện với tôi và hỏi tôi nghĩ sao về tình hình Việt nam. Lúc đó tôi thấy tình hình coi như đã tuyệt vọng và nói với anh, “Thôi thì cái gì phải kết thúc thì cứ để cho nó kết thúc. Tuy chúng tôi là kẻ bị hy sinh, nhưng xét cho cùng thì ít nhất đất nước tôi cũng không còn chiến tranh nữa.” Anh yên lặng một lúc, rồi ngập ngừng mãi mới nói, “Tôi rất tiếc về chuyện này. Thế anh có dự định gì không?” Tôi nói chẳng biết tính toán gì cả, cứ để tới đâu hay tới đó. Lúc đó không hiểu sao tôi lại tếu, hỏi đùa anh, “Này Evans, anh không nghe tin VC về tới phi trường Biên Hòa rồi hay sao?” Anh hoảng hốt đứng lên hỏi có thật không, tôi vội vàng xin lỗi anh. Anh nán lại nói chuyện thêm với tôi một lúc nữa rồi mới bắt tay tôi thật chặt từ giã. Đó là lần cuối tôi gặp anh.

Sau khi qua được bên này, gặp một người quen cho biết Evans là CIA và căn nhà của anh thuê ở gần ngã ba Pasteur-Huỳnh Tịnh Của mấy ngày cuối Tháng 4 đầy người tới đợi để được bốc đi. Tôi không rõ đấy có phải là một địa điểm tập trung để di tản hay không, vì người này còn nói có người trong số đó trả ba ngàn Mỹ Kim cho Evans. Khi kẹt lại, tôi cứ tiếc tại sao chiều hôm đó không hỏi đại Evans có thể giúp gì cho tôi được không.

Giữa Tháng 4 thì tình hình đã bi đát lắm rồi. Tin nhân viên sở Mỹ hay ngân hàng Mỹ đã được lập danh sách cho di tản cùng gia đình làm ai cũng nao núng thêm. Tôi ngày nào cũng tới tới Hội Việt Mỹ để thăm dò xem có được cho di tản như những nhân viên thực thụ ở đây hay không. Nhân viên dậy giờ như chúng tôi cũng được lập danh sách cho di tản, nhưng một hôm có một nhân viên CIA cao cấp là Richardson tới gặp chúng tôi tại hội trường và nói thẳng rằng vì tình hình biến chuyển rất nhanh và số giáo sư dậy giờ quá đông nên chỉ có thể bảo đảm lo ưu tiên những nhân viên chính ngạch của Hội, còn chúng tôi thì tùy hoàn cảnh và điều kiện chophép. Tôi cũng đem hồ sơ được học bổng Colombo Plan và bằng tốt nghiệp Đại Học Sydney năm 1970 tớiTòa Đại Sứ Úc ở đường Phùng Khắc Khoan để cầu may xem sao, thì tại đây chỉ thấy một người hình như là nhân viên bảo vệ ra mở cổng và cho biết tòa đại sứ đã đóng cửa.


Hôm 28-4 tôi còn nhớ nhằm ngày Thứ hai khi tôi từ Hội Việt Mỹ về nhà vào buổi trưa thì nhận được điện tín của anh tôi ở Canada bảo tôi liên lạc ngay tới tòa Tổng Lãnh Sự Mỹ – mà sau này mới biết đã nhờ được một người bạn làm việc cho Bộ Quốc Phòng Mỹ bảo lãnh gia đình tôi. Điện tín đó tới từ Thứ Bẩy, nhưng đến trưa Thứ Hai mới được giao cho chúng tôi. Ăn cơm trưa xong thì trời chợt mưa quá lớn và dòng dã hai tiếng đồng hố. Lúc tôi tới Tòa Tổng Lãnh Sự thì được hai Marines trẻ măng ra mở cửa. Họ mở cổng cho tôi vào phía trong và bảo tôi đứng đợi ở vọng gác rồi một người cầm điện tín của tôi đi vào văn phòng phía trong. Một lúc sau anh ta đi ra và nói đã coi danh sách gia đình tôi đủ bốn người và hỏi họ đâu. Tôi nói đang đợi ở nhà và sẽ về đón lại ngay. Anh ta bảo bây giờ đã 5 giờ chiều rồi, sao không về thu xếp rồi sáng sớm hôm sau vào sớm cũng được. Tôi lúc đó mừng muốn ngạt thở, thấy có lý bèn cám ơn rồi leo lên Honda vội chạy về nhà báo tin.


Khi còn đang trên đường về thì viên trung úy phi công nằm vùng thuộc không lực VNCH cướp phản lực cơ Ạ5 từ Phan Rang bay vào thả bom Phi trường Tân Sơn Nhứt, và lệnh thiết quân luật được loan báo. Đêm hôm đó và đêm hôm sau Phi trường bị pháo kích dữ dội. Sáng hôm sau tôi không còn nghĩ tới chuyện đưa vợ con tới Toà TLS Mỹ nữa và nằm riết ở nhà. Đêm 29, từ lầu 1 chung cư Nguyễn Thiện Thuật tôi nhìn về hướng Tân Sơn Nhứt thấy máy bay lên xuống nườm nượp mà chảy nước mắt. Qua hôm 30 gần trưa thì nghe tin TT Dương Văn Minh ra lệnh buông súng. Thế là thực sự hết. Khu chung cư bỗng như ồn ào hơn. Nhin ra ngoài, thấy nhà nào có quần áo lính là đem ra liệng đầy đường. Tình trạng hoảng loạn thật dễ lây. Tôi có mấy bộ đồ lính cũ từ thời đi học 9 tuần ở Quang Trung cũng vội ném đi, thậm chí cả giấy chứng nhận dạy học Hội Việt Mỹ cấp cũng đem đốt. Rồi những người lính giải ngũ có gia đình ở khu tôi cũng lần lượt trở về, có người chỉ mặc áo thun và quần đùi. Có người dúi cho vợ con một cọc tiền rồi bỏ đi biệt tích.


Xế chiều, tôi lấy Honda chở con trai tôi tới nhà bố mẹ vợ để hỏi thăm tình hình. Khi chạy tới đường Cống Quỳnh thì chứng kiến một cảnh rùng rợn mà tôi phải bảo con trai tôi, lúc đó mới lên 10, quay mặt đi đừng nhìn. Ở bên này đường đối diện với trường Hưng Đạo, có hai thanh niên mặt trông dữ dằn như dân du đãng, tay đeo băng đỏ, một người cầm khẩu AR16 có lẽ nhặt được của một người lính giã ngũ nào vứt bỏ, người kia cầm một cái gậy. Ngay khi đó có một thanh niên khác từ trong hẻm đi ra, người này mặc thường phục, nhưng tóc ngắn và da đen đủi, nhìn biết ngay là dân nhà binh. Chắc là quen biết nên khi thấy hai thanh niên kia, người này hỏi, "Ê bồ, mạnh giỏi chớ?" Thanh niên cầm súng không lộ vẻ gì vui khi thấy người quen, mà hầm hầm quát, "Đồ lính Dù ác ôn, ai là bồ với mày?" Vừa nói, tay quay ngược báng súng giộng vào thái dương người đó hai cú thiệt mạnh. Nạn nhân ngã ngửa xuống nắp cống, hai chân giẫy như con cá mắc cạn. Bố con tôi và những người ở quanh đó mặt ai cúng tái đi. Tôi bảo con tôi quay nhìn hướng khác và vội vã phóng xe đi, không biết nạn nhân sống chết ra sao.


Khi tới nhà ông bà cụ nhà tôi, chưa kịp kể lại thì bà chị nhà tôi đã nói là trước đó ít phút có ba người đeo băng đỏ đi cùng với một công an tới kiếm ông anh cả bà xã tôi. Anh ấy là quản đốc các đại học xá ở Saigon, có nhà trong Đại Học Xá Minh Mạng, khu nhân viên. Anh đã cùng cảnh sát trưởng Quận 5 bố ráp Đaị Hóc Xá Minh Mạng, Chợ Lớn, bắt các phần tử thân cộng trong đó có Huỳnh Tấn Mẫm. Sau lần đó, nhà anh thường xuyên bị ném đá vào ban đêm, và may mắn gia đình anh đã được bốc đi vào phút chót, nếu không chẳng biết số mạng sẽ ra sao vì thuộc "thành phần ác ôn, có nợ máu với nhân dân."
Sáng 1-5 tôi vào lại Khu Sinh Ngữ. Cổng trường có bộ đội mặt còn non choẹt đứng gác. Qua văn phòng, thấy các nhân viên cũ vẫn còn đông, lác đác mấy cán bộ. Khu Sinh Ngữ chỉ chưa thấy Lâm, ai nấy mặt đều lo buồn. Khu Phẫu Thuật Thực Hành còn nguyên “quân số.” Khu Sinh Lý cả bác sĩ giáo sư trưởng khu và Quang đều không thấy xuất hiện. Phó Khoa trưởng Đào Hữu Anh cũng vậy.

 Sau ít ngày tôi đến thăm ông cụ Quang và được cho biết những ngày cuối Quang cũng đôn đáo và kiếm được một mối do một ông tướng nào đó tổ chức mua tầu nằm trực ở Long Hải. Nhưng Quang tình cớ gặp GS. Đào Hữu Anh và được ông cho biết ai có con sanh ở Mỹ có thể tới Toà Đại Sứ Mỹ cùng với khai sanh của con thì sẽ được cho di tản. Cả ông Anh và và Quang trong thời gian tu nghiệp ở Mỹ đều có sanh con tại đó. Ít lâu sau Sếp mới của tôi là Mỹ Điền hỏi tôi có phải ông Anh “ác ôn” lắm phải không. Tôi ngạc nhiên nói không biết và hỏi tại sao. Mỹ Điền nói hôm an ninh kiểm tra văn phòng thấy trong tủ sắt của ông Anh một khẩu AK 47. Tôi nói ông Anh đâu phải dân nhà binh. Có lẽ một học trò cũ nào đó là bác sĩ quân y tại một đơn vị tác chiến, được lính cho khẩu súng đó như một chiến lợi phẩm, đã mang về biếu thầy cũ thôi. Mỹ Điền không nói gì, chỉ gật gù, chẳng biết có tin hay không.


Người tiếp quản khu tôi là Nguyễn Mỹ Điền, người Nam, đã từng đi Pháp và Anh, sau năm 1954 đã về Bắc “giúp Cụ Hồ.” Ngoài ra, còn có Nguyễn Văn Niêm, cán bộ giảng Nga văn, làm giáo vụ bộ môn. Khu Sinh Ngữ được đổi tên thành Bộ Môn Ngoại Ngữ. Anh văn thì có chị Bích Ngọc, tốt nghiệp ĐHSP Hà nội, chồng là bác sĩ vào tiếp quản Bệnh Viện Da Liễu. Chị Ngọc nói chồng chị học PCB cùng thời với GS. Đào Hữu Anh. Gia đình chị không di cư, và là dân Hà Nội cũ nên rất dễ chịu, chúng tôi có liên hệ tốt với chi Ngọc. Chị Ngọc yêu cầu chỉ dậy các lớp Anh văn gồm bộ đội và sinh viên từ Bắc vào.


Trước 4-75, Đại học Y Khoa, Nha Khoa và Dược Khoa là ba trường riêng biệt. Dược Khoa ở gần trung tâm Saigon, còn Y Khoa và Nha Khoa thì nằm chung trong một campus ở phía đầu đường Hùng Vương Chợ Lớn, và chúng tôi phụ trách giảng dậy Anh Pháp văn Y Khoa cho sinh viên cả hai trường. Dược Khoa thì chỉ ký hợp đồng dậy giờ với hai giáo sư Anh Văn. Sau 30-4-75, ba trường gom làm một và gọi là Đại Học Nha Y Dược.


Một hôm Mỹ Điền bảo Quảng và tôi cùng qua trường Dược để xem hai giáo sư đó “đứng lớp” có đủ tiêu chuẩn để được đề nghị đưa vào “biên chế” hay không. Một vị là Hồ Liên Biện, một thời là giám đốc Nha Du Học và thời gian ngay trước 4-75 đó là giám đốc Nha Học Liệu, thường xuất hiện trên TV với chương trình Đố Vui Để Học. Khi chúng tôi bị gọi động viên đi học chín tuần ở Trung tâm Huấn luyện Quang Trung, đêm ở trại nhập ngũ, viên trung sĩ điểm danh các khóa sinh, đã cố tình đọc tên Hồ Liên Biện thành Ho Liên Miên để mọi người được trận cười thỏa thích. Vị kia là Lê Anh Dũng, bạn dạy ở Hội Việt Mỹ với tôi. Sau khi coi hai giáo sư dạy xong, Mỹ Điền nói với tôi và Quảng rằng ông Dũng thì không có vấn đề gì, nhưng ông Biện sao nói tiếng Anh “cứ lua lua thế nào ấy.” Quảng không nói gì, còn tôi không hiểu rõ lắm 'nói lua lua' là làm sao, nhưng vẫn nói với Mỹ Điền rằng bây giờ có dạy sinh viên tiếng Anh để nói chuyện với Mỹ đâu, chỉ cần người có khả năng dạy các em đọc và hiểu Anh văn Y khoa là được rồi, mà chuyện này thì ông Biện có thừa khả năng. Từ đó về sau, Biện và Dũng hàng ngày tới Bộ Môn làm việc như chúng tôi, khi có giờ dậy mới trở qua Trường Dược.


Người tiếp thu Trường Y Khoa là Bs. Ngô Như Hòa, môt bác sĩ nhãn khoa. Nghe kể ông Hòa nguyên là một y sĩ đại úy quân đội Pháp. Trong một trận đánh ông bị bắt làm tù binh và đã theo Việt Minh. Ông là người gốc Nam vì khi vào Saigon ông đã xin được cấp ngôi biệt thự của một kỹ sư bà con người Nam khá nổi tiếng đã đi thoát. Vợ ông là một phụ nữ gốc thiểu số ở thượng du Bắc Việt mà gia đình đã di cư vào Nam, có cô em dậy Pháp văn ở trường Cao Đẳng Phú Thọ. Qua ông Hòa, tôi được nghe câu “Xin báo cáo đồng chí . . .” lần đầu tiên khi ông hướng dẫn một phái đoàn Bộ Y Tế tới thăm trường và ghé qua bộ môn. Ông Hòa có một người con trai là Ngô Như Bình. Ở Hà nội, Bình tới học toán tại nhà một ông cậu họ vợ tôi. Lúc Bình vào Saigon chơi, cậu tôi giới thiệu Bình với vợ chồng tôi. Vì ba Bình gốc lính Tây nên Bình phải tình nguyện đi thanh niên xung phong qua Lào một thời gian, lúc trở về mới thi vào được đại học và sau đó được qua Nga học Đại học Romanov ở Mascova chuyên về Việt học. Chính ông Ngô Như Hòa cũng phải xung phong đi B – vào tác chiến tại miền Nam – mới giúp ông và con được tin cậy và hưởng ân huệ.

Bình tới nhà tôi cầm theo một thư của cậu vợ tôi gửi vào. Chúng tôi nói chuyện rất hợp vì toàn chuyện bóng đá và thịt chó là hai món 'sở trường' của chúng tôi. Tôi còn đưa Bình và hai con tôi lúc đó mới 10 và 8 tuổi đi ăn thịt chó ở quán trên đường Lý Thái Tổ gần Phở Tầu Bay. Sau tôi đưa Bình tới bộ môn và Bình cũng dễ dàng làm quen với Quảng, chị Hiếu và chị giảng viên Pháp văn mà tôi đã quên tên. Chúng tôi đã hơn một lần rủ nhau đi nhậu tại một vài quán nhỏ nhưng nồi tiếng đồ ăn ngon, đặc biệt là một quán chuyên bán cá hấp trên bờ kênh trong Chợ Lớn. Bình còn đưa tôi lại nhà chơi và nói “bác Nhẫn đi thoát và mọi thứ trong nhà còn nguyên vẹn. Đặc biệt hầm rượu đầy ắp rượu tây rượu tầu.” Bình mời tôi uống một ly Mao Đài và cho tôi một bầu rượu Cao Lương. 

Bình hỏi tôi có biết Quan Vân Trường bị trúng tên độc được Hoa Đà chữa. Khi Hoa Đà rút mũi tên ra và nạo vét chỗ thịt bị nhiễm độc thì Vân Trường mặt không đổi sắc, ung dung ngồi tu rượu Cao Lương và sau đó dùng rượu đổ vào rửa vết thương trước khi băng bó. Một hôm tôi và Bình đang ngồi chuyện trò ở nhà Bình thì ông Hòa về. Chắc Bình đã nói với bố về chuyện cậu vợ tôi là thầy của Bình nên ông nói chuyện với tôi rất tự nhiên cởi mở, và ông bảo tôi nên nhớ câu nói tiếng Pháp này, “ Les communistes se haissent.” Tôi hiểu ý ông muốn nói là ở trường đừng bao giờ cho người khác biết, nhất là các cán bộ, là tôi quen với gia đình ông. Điều này tôi được thấy rõ nhất qua các cán bộ mới về dạy Nga Văn và trong các buổi họp bộ môn bình bầu tiên tiến sau này.

Trong một lần nói chuyện, Bình nói rõ ràng miền Nam giầu có hơn miền Bắc và như vậy thì giải quyết cách nào tốt nhất. Tôi nói thì cứ để miền Nam tiếp tục phát triển kinh tế vì đã có đà và cơ sở hạ tầng khá tốt. Bình đồng ý và nói rất sợ “chính sách cào bằng” lại được áp dụng. Và điều đáng sợ này đã xẩy ra với các đợt đánh tư sản và đổi tiền rồi vơ vét, dân chúng đói khổ, thậm chí đến độ mấy năm sau 'cái cột đèn mà có chân cũngphải vượt biên.' Ở Saigon gần một tháng Bình về lại Hà nội rồi sau đó đi Nga. Bình lấy vợ Nga và sau khi tốt nghiệp đã ở lại. Bình được qua học thêm tại Standford và làm phụ giảng môn Việt học. Trước khi trở về Nga, Bình đã nạp đơn xin qua dạy Harvard và sau đó đã được chấp thuận . Năm ngoái, đọc đâu dó trên Internet, thấy Bình là trưởng ban Việt Học Đại Học Harvard.

 Sau ngày giã đám, liên hệ giữa các nhân viên trong trường bỗng trở nên mật thiết hơn, vì cùng phận 'hàng thần lơ láo,' và không còn làm tư ở ngoài nữa nên đều tụ về trường, nhất là sau đó tất cả nhân viên giảng huấn đại học ở Saigon phải theo học khóa Chính trị Kinh tế Mác-Lênin kéo dài sáu tháng. Bình thường trường nào học tại trường đó, khi có cán bộ từ Bắc vào 'lên lớp' thì tụ tập tại hội trường Thống Nhất. Sau đó chúng tôi trường mình rồi chia ra thành nhiều tổ thảo luận đề tài mới được nghe trình bầy. Qua Bs. Trung ở Khu Phẫu Thuật Thực Hành, tôi quen thêm được nhiều bác sĩ trẻ khác cùng khóa với Trung hoặc trên một hai lớp, như Bs. Kiệt ở Khu Vi Sinh, Bs. Ngà ở Khu Bệnh Lý. Một dược sĩ có chồng là bác sĩ cùng làm việc ở Khu Vi Sinh còn kêu bọn tôi lại nhà ăn sôi sắn hành phi ngon đặc biệt.
Học tập chính trị thì ngoài chúng tôi, các cán bộ giảng viên trong trường cũng phải theo học luôn, và cuối khóa đều phải viết bài thu hoạch để đánh giá. Một hôm sau buổi thảo luận tổ, khi tôi cùng Trung và Kiệt đang đi về phía câu lạc bộ để kiếm nước uống thì GS. Nguyễn Ngọc Huy chặn lại hỏi, “Này mấy cậu, ông Nguyễn Đan Quế có phải là Cộng sản không mà ông nói về Marxisme ghê thế?” Ba chúng tôi có bạn là vợ chồng Nguyễn Quang Trù, giáo sư Việt văn, có trại ở Tân Quy Đông, gần Nhà Bè. Khi nghe bọn tôi kể lại chuyện ông Quế, Trù cười và nói tốt lắm. Sau chúng tôi mới biết là Trù và ông Quế ở cùng trong nhóm Phục Quốc và cùng bị bắt.
Sau 30-4, công việc của bọn tôi tại trường nhàn hơn trước rất nhiều. Vì không còn dành thì giờ dây tư nên chúng tôi có mặt ở trường suốt ngày, buổi trưa cũng không về nhà ăn cơm như trước mà xuống ăn ở cafeteria của ma soeur. Thời gian đầu lương thực còn nên bữa cơm vẫn chất lượng như cũ, vừa ngon vừa bổ vừa rẻ.


Điều làm chúng tôi ngạc nhiên nhất là những cán bộ và bác sĩ ngoài Bắc vào, khi ăn cơm đều lấy ra một gói nhỏ bột ngọt, xúc một thìa đổ vào canh hay nước lèo hủ tiếu. Họ nói cái này bổ óc, coi như thần dược. Họ còn cho biết ở ngoài Bắc nước mắm rất hiếm và mắc, nước chấm rau thường chỉ là nước lã và muối, nếu khấm khá hơn thì nguấy thêm một chút bột ngọt.

 Sau bao thập niên xa cách, cuối cùng bốn người gặp lại tại California

Các buổi lễ lạc ăn mừng chiến thắng được tổ chức nhiều hơn. Đa số chúng tôi chỉ giữ một thái độ vừa đủ, vả lại phải hát quốc ca và hô khẩu hiệu hoan hô chế độ và những người mới trước đó là thù địch thì thấy ngượng miệng vô cùng, nên chỉ nhép miệng theo. Tuy nhiên, cũng có một vài người tỏ ra rất nhiệt thành, “hồ hởi”, mà chẳng biết thực sự trong lòng họ ra sao. Chúng tôi đã liếc mắt nhìn nhau khi một cô thư ký trẻ lên hát bài “Hồ Chí Minh Đẹp Nhất Tên Người” trong một buổi lễ. Cô này đã say sưa trình bầy, đám cán bộ ngồi hàng đầu vỗ tay tán thưởng nhiệt liệt. Nhưng tới một mục sau thì “đám Ngụy” được dịp cười thích thú và nhớ mãi khi một nhân viên văn phòng lên đọc một bài thơ tự sáng tác chào mừng cách mạng thành công, trong đó có mấy câu tố cáo “tội ác Mỹ Ngụy”. 

Khi đọc tới đoạn tố Mỹ, không biết chữ trong thơ là gì nhưng ông đọc “Loài quỷ Đỏ...” khiến cả hội trường thoạt tiên không tin ở tai mình, nhưng ngay sau vỗ tay rầm rầm. Đám cán bộ không biết có nghe rõ không, chỉ lộ vẻ ngạc nhiên không biết tại sao, riêng tác giả thì mặt tái xanh, miệng còn tròn vo khi đọc chữ “đỏ” mãi không ngậm lại được. Về sau được biết câu thơ của ông bắt đầu là “Loài quỷ dữ...” nhưng vì – theo cách chúng tôi giải thích – đã bị Mỹ Ngụy thâm độc nhồi sọ quá dữ nên khi đọc tới quỷ thì tự động phải là Quỷ Đỏ. Một chuyện tương tự cũng đã xẩy ra với một người bạn của tôi dậy Toán ở Trung học Sương Nguyệt Anh. Khi đứng ra điều khiển lễ cháo cờ sáng Thứ Hai ở sân trường, anh hướng dẫn học sinh qua micro: “Chuẩn bị cháo quốc kỳ. Quốc ca: Này công dân ơi...” Vì chuyện này mà anh đã bị khốn đốn một thời gian.


Con số sinh viên tích cực tham gia các sinh hoạt ngoại khóa để phấn đấu vào đoàn tôi nghĩ không nhiều lắm, tuy tất cả các sinh viên ngoài việc học đều phải tham gia các hoạt động khác do các đoàn viên CS nòng cốt điều khiển trong các tổ. Có người tôi biết còn tỏ ra tích cực tối đa, như một cô em họ xa của tôi trong khi họp tổ thảo luận về đánh tư sản đã tố cha mẹ mình là gian thương và cho vay nặng lãi. Cô này về sau vào được đoàn rất sớm và lấy một đoàn viên nòng cốt khác. Thái độ và tính tình của một số sinh viên cũng thay đổi rất nhiều. Một nữ sinh viên của tôi trước 75 học hành và sắc đẹp bình thường, nhưng sau này thì rất nổi trong hoạt động đoàn. Là đoàn viên rất sớm, cô tạo nhiều sức ép trên các sinh viên khác, đặc biệt là cô o ép bắt bẻ ra mặt cô sinh viên em họ bạn tôi, xinh đẹp con nhà giầu, bố là chủ một tiệm giầy ở đường Pasteur gần góc Lê Thánh Tôn. 

Điều làm tôi nghĩ ngợi nhất là thái độ của cô. Trước cô rất vui vẻ lễ phép, nhưng bây giờ thì nghiêm lạnh, nụ cười thường thấy trước đây nay biến mất hẳn trên môi cô. Những khi ngang qua tôi, cô ta nhìn thẳng như không trông thấy. Nhưng một hôm vào ngày Lễ Hiến Chương Nhà Giáo, hình như 20-11, khi tình cờ thấy tôi ở hành lang, từ xa cô này đã đổi nét mặt, tươi cười hớn hở và khi tới gần đã cầm lấy tay tôi nói, “Thầy ơi, em thấy xúc động vô cùng khi nghĩ tới công ơn các thầy đối với chúng em.” Tôi thì không xúc động như cô, nhất là chỉ qua ngày hôm sau khi đi ngang qua tôi ở trước thư viện, cô mặt nghiêm, mắt nhìn thẳng, làm như không biết tôi là ai.


Còn về phía nhân viên, tôi chỉ được nghe kể một chuyện ở Khu Vi Sinh. Trong một buổi bộ môn, chị dược sĩ mà tôi đã nói ở trên đã tố Giáo sư cựu khoa trưởng kiêm trưởng khu khá nặng, ông chồng bác sĩ ngồi gần đó gục xuống ôm đầu, rên lên, “Trời ơi!” Tôi nghĩ chị dược sĩ này chỉ muốn chứng tỏ mình đã “tiến bộ, nắm bắt được tinh thần làm chủ tập thể, thành khẩn thể hiện qua quá trình phê và tự phê, ” chứ không có ý muốn hại ông thầy.


Vì có nhiều lễ được tổ chức tại trường để chào mừng cái nọ cái kia, các hội nghị chuyên đề trong đó các bác sĩ và dược sĩ đọc các bài tham luận liên quan tới y và dược, và nhất là khóa học tập Kinh tế Chính trị Mác-Lênin kéo dài sáu tháng với những buổi thảo luận tổ, giữa chúng tôi càng gần gũi thêm với các bác sĩ dược sĩ khác trong trường. Nhiều người còn nói riễu với chúng tôi về đám cán bộ và công an bảo vệ. Một buổi sáng sớm khi đi qua sân trường thì tôi gặp Bs.Kính chuyên về nhãn khoa. Ông đi sát vào tôi và nói, “Học hết khóa Chính trị Kinh tế Mác-Lênin, tôi chỉ thấy có một câu không sai. Cậu hãy nhìn kia kìa.” Theo ánh mắt của ông, tôi nhìn về phía tầng cấp lên hành lang vào thư viện thì thấy có hai ghế dài kê chéo hai đầu hướng vào nhau, bên trên ngồi kín các cán bộ và công an bảo vệ mặc áo vàng, và tất cả đều ngồi xổm. Ông nheo mắt cười và nói, “Dấu vết còn sót lại của quá trình Vượn Người lên Người Vượn.”


Trong một buổi lễ mừng sinh nhật Hồ Chí Minh, cán bộ lãnh đạo thay phiên nhau lên ca ngợi lãnh tụ đa tài, cả thơ văn của Bác cũng là nhất. BS. Nguyễn Đình Cát, giáo sư nhãn khoa nổi tiếng nhất thời đó, đứng lên phát biểu cảm tưởng rồi kết luận, “Về mặt y khoa, chỉ cần gom những kiến thức y học mà Bác viết rải rác trong các tác phẩm của mình đem ra dạy cho các sinh viên thì cũng không biết bao giờ mới hết.” Cả hội trường vỗ tay rần rần, mà đám Ngụy còn vỗ mạnh hơn đám cán bộ vì chẳng biết ông có đọc tác phẩm nào của ông Hồ không, mà nếu có đọc thì đâu tìm ra được các kiến thức y học để đem ra dạy cho các sinh viên. Mặt ông thật tỉnh và rất nghiêm túc, nhưng tôi vẫn cảm thấy cái thâm trong giọng Huế của ông bác sĩ này.


Những hội nghị báo cáo chuyên đề thường được tổ chức trọng thể với sự hiện diện của các giới chức Bộ Y Tế và ban lãnh đạo nhà trường. Các bài tham luận của các bác sĩ và dược sĩ được đánh giá cao. Có một chuyện tôi được nghe nhưng không rõ thực hư ra sao, cũng xin ghi lại ở đây. Một nữ dược sĩ mà tôi không nhớ tên thuộc Khu Sinh lý đã đọc một bài nghiên cứu rất công phu về củ nghệ và công dụng của nó trong y học, chủ yếu là đặc tính sát trùng. Khoảng hơn một năm sau tôi được nghe mấy bác sĩ trong trường kháo nhau là hầu như toàn bộ bài này đã được đăng trong một tạp chí y học ở Nga mà tác giả là một Viện Sĩ Nga, và kết luận rằng gián điệp ngoại quốc hoạt động trong mọi lãnh vực, chẳng riêng gì quân sự hay chính trị.


Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa được mời lên phát biểu kết thúc hội nghị. Lúc đó Chính Phủ Lâm Thời Giải Phóng Miền Nam thực tế không còn nữa, nhưng bà Hoa được mời lên nói như vẫn là Bộ trưởng Y Tế. Bà đánh giá cao các bài tham luận với giá trị cao về mặt khảo cứu và ngợi khen các bác sĩ dược sĩ cán bộ giảng thuộc chế độ cũ đã tích cực công tác và đóng góp giúp hội thành công. Bà kết thúc phần phát biểu với câu nói mà đến nay tôi vẫn còn nhớ nét mặt bà lúc đó, “Trong tim tôi luôn luôn có một Thủ đô Hà Nội và một Thủ đô Saigon.” Đám Ngụy chúng tôi sửng sốt nhìn nhau, và đã vỗ tay to vỗ lâu hơn cả Cách mạng!


Trong số cán bộ chúng tôi kỵ nhất là đám bảo vệ. Họ đều là công an thuộc thành phần bần cố nông, được huấn luyện ở trường công an. Đặc điểm là hầu như không bao giờ chúng tôi thấy nét mặt họ thoải mái, nói chi tới tươi cười. Nhìn ai thi như thể người ấy là thành phần khả nghi. Ngay cả đám bô đội cũng không ưa gì mấy anh công an này. Một hôm tôi nghe một anh công an tuổi ngoài 20 vai đeo AK nói chuyện với ông gác gian ở vọng gác tại cổng trường. Ông gác gian này là dân Bắc di cư, người lúc nào cũng đầy mùi rượu. Khi được trả lời là ông đã làm việc ở Trường Y này gần hai chục năm rồi, anh công an ngạc nhiên nói làm lâu thế này mà chưa được bố trí đi học y khoa để thành bác sĩ hay sao! Lần khác, khi thấy một bộ đội chạy xe gắn máy vào cổng chính thay vì phải qua công phụ như quy lệ thì đã quát chặn lại. Lúc anh bộ đội cự nự không chịu quay qua cửa phụ, anh công an mặt lạnh như tiền gỡ khẩu AK trên vai xuống, lên đạn xoành xoạch. Anh bộ đội đành phải làm theo lệnh.


Đám công an mặt vô cảm chỉ biết làm theo lệnh đã khiến cho Đính, giảng viên Pháp văn, một hôm nói đùa với tôi là bọn này được thụ thai trong ống nghiệm, một đám Frankenstein, và từ đó chúng tôi gọi họ là đám “ in vitro.” Tôi còn chứng kiến một trường hợp khác chứng tỏ đám công an chỉ làm theo lệnh của chỉ huy trực tiếp. Một buổi chiều Thứ bẩy vào phút chót tôi được một người nhường cho một vé xem đá bóng vòng loại giải vô địch quốc gia ở sân vận động Cộng Hòa, lúc đó đã đổi tên thành Thống Nhất. Vé khán đài A vào ở cổng chính, nhưng vì tôi đến trễ nên sau khi gửi được xe lúc tới được cửa thì cửa vừa đóng vì trận đấu đã bắt đầu. 

Tôi đưa vé và yêu cầu nhân viên soát vé giúp. Người này gõ cửa và viên công an hé cửa nhìn ra, nói giờ này không cho ai vào nữa. Ngay lúc đó có một cán bộ cao cấp đi tới với cả người hộ vệ nói chuyện với người soát vé. Người này lập tức đập cửa và tên công an lại hé cửa ngó ra. Khi được báo đây là đồng chí Khải, chủ tịch Ủy ban Nhân Dân thành phố -- và sau này là Thủ tướng -- thì tên công an nói đã có lệnh không cho ai vào sau khi trận đấu đã bắt đầu, rồi đóng xập cửa lại. Ông chủ tịch thành phố đứng ngó quanh một lúc rồi kéo vệ sĩ của mình ra xe đi về.


Khu Sinh Ngữ sinh hoạt vẫn bình thường, chỉ thiếu Nguyễn Đức Lâm đã đi thoát. Sau này tôi mới biết trước khi về học Đại Học Sư Phạm, Lâm đã có thời làm việc cho DAO, văn phòng tùy viên quân sự trực thuộc Bộ Quốc Phòng Mỹ có trụ sở ở trong phi trường Tân Sơn Nhứt. Vào khoảng giữa Tháng 4-75, Lâm gặp một người trước cùng làm ở DAO cho biết cơ quan này cấp giấy chứng nhận cho các cựu nhân viên để có thể được đem đi một khi có lệnh di tản. Lần đầu khi Lâm tới phi trường thì bị quân cảnh loại ra vì trong hạn tuổi quân dịch không được phép lìa xứ. Qua hôm sau Lâm lại tới phi trường và may mắn lọt vào được và đi thoát.


Qua Bs. Trung bên |Khu Phẫu Thuật Thực Hành, tôi biết đưọc mấy môn thể thao và giải trí mà trước 1975 tôi không bao giờ nghĩ tới, phải nói cho ngay cũng chẳng có thời gian và tiền để theo đuổi. Thoạt tiên là môn chèo thuyền hai hay ba người và chèo périssoire ở Câu Lạc Bộ Dưới Nước Thanh Đa. Club này sau 1975 tôi mới biết tên. Bs. Thái Minh Bạch là hội viên Club này từ lâu, sau 75, ông kéo đệ tử Trung đi cùng, rồi Trung kéo tôi đi. Tại đây tôi có dịp chèo chung với GS. Phạm Biểu Tâm và ông Duyên Võ. Có khi ngồi cùng thuyền, có khi chèo song song bên nhau, chung quanh chỉ có trời mây nước, chúng tôi nói chuyện thoải mái không phải ngó trước ngó sau. Ông Duyên Võ là chủ tiệm may complet nổi tiếng Saigon. Ông đã từng được mời vào Dinh Độc Lập may complet cho Tổng Thống Diệm. Ông rất vui tính, hay kể truyện hài. Có lần ông nói đo quần cho Tổng thống phải đo rất kỹ, nên biết được những gì người ta đồn về Tổng thống là xạo. Ông còn kể cho chúng tôi nghe chuyện một ông bạn rất sợ bà vợ hay ghen. Sáng sáng chỉ mặc maillot và xà lỏn chạy quanh khu phố đúng nửa tiếng. Vậy mà sau khi ông bị đi học tập, có người bồng con tới trả cho bà vợ, nói là không còn tiền để lo cho đứa nhỏ.


GS. Tâm thì năm 1973 đã cắt 1/4 dạ dầy cho nhạc phụ tôi bị ung thư và nói ông cụ sống thêm tối đa là ba năm. Quả nhiên giữa năm 1976 ông cụ tôi mất. Một hôm khi Thầy Tâm và tôi chèo périssoire tới gần Xi-Măng Hà Tiên, nhìn lên nhà máy vắng hoe, thầy nói với tôi, “Mình đã không lầm khi quyết định di cư vào Nam năm 1954.” Một hôm khác khi tôi báo tin cho thầy biết là Bs. Lê Sĩ Quang sau khi đi thoát qua Mỹ, vừa mới trở thành giáo sư thực thụ tại một đại học thì bị ung thư dạ dầy và đã qua đời. Thầy nói, “Tội cho nó quá. Nếu nó còn ở đây, tôi bảo đảm nó còn sống thêm ít nhất vài năm nữa.” Nhưng ấn tượng sâu đậm nhất vẫn là hình ảnh Thầy Tâm trong một buổi họp ban lãnh đạo và các giảng viên toàn trường tại cafeteria. 

Hôm đó có cả đại diện Bộ Y Tế tới dự và nhà trường thông báo cho ban giảng huấn về kế hoạch tăng số sinh viên được nhận vào học năm thứ nhất Y khoa để có thể đào tạo gấp đủ số bác sĩ đưa về phục vụ tại tuyến huyện, và muốn biết ý kiến của mọi người. Chúng tôi đều biết việc hỏi ý này chỉ làm lấy lệ, vì tất cả đã được Đảng quyết định trước cả rồi. Thầy Tâm đã phản đối việc này, cho rằng nhà trường phải đào tạo ra những bác sĩ đúng nghĩa, không thua kém các bác sĩ đào tạo ở nước ngoài. Nếu cần nhiều và nhanh như thế thì Trường Y chỉ có thể đào tạo ra các y tá mà thôi, việc này xin để cho trường đào tạo cán sự y tế! Càng nói giọng Thầy Tâm càng thống thiết, ông ôm lấy micro như quằn quại và cuối cùng gục xuống đất. Mấy bác sĩ ngồi gần đó vội chạy lại đỡ ông lên và dỉu lên ghế ngồi. Buổi họp sau đó đã kết thúc trong bầu không khí tẻ nhạt, ai lấy yên lặng ra về.


Ngoài chuyện chèo thuyền, tôi còn theo anh Trung học đánh mạt chược. Giới tú bíp hầu như ai cũng biết chơi mạt chược, vì thời sinh viên phải trực bệnh viện, buổi tối rảnh chơi mạt chược là nhất. Khi tôi đã biết chơi khá thạo thì cũng là giai đoạn mà thiên hạ vượt biên rất nhiều, vào trường tuần nào cũng có người vượt biên. Vì sợ bạn bè một ngày nào đó sẽ ra đi hết nên tôi nhờ một học trò cũ trường Tầu mua hộ một bộ mạt chược, về dậy vợ và hai con chơi. Cả nhà tối rảnh ngồi chơi với nhau, và về sau nhà tôi rất vui vì là địa điểm họp mặt của mấy người bạn thân cùng mê mạt chược.


Cũng anh Trung đã gián tiếp đưa tôi tới môn tennis. Số là anh có bạn cùng lớp là Bs. Nguyễn Trọng Nghĩa, Y sĩ Trung Úy Thủy Quân Lục Chiến, sau hai năm học tập được thả về. Trung giới thiệu Nghĩa cho tôi và chúng tôi thân nhau ngay, nhất là sau này Nghĩa lại lấy Lư, sinh viên năm thứ hai Y Khoa của tôi khi tôi về dậy năm đầu. Em rể Nghĩa là một phó quận trưởng bị đi học tập. Một hôm Nghĩa đến nói với tôi nhà em rể còn mấy cây vợt và nhiều hộp bóng tennis chưa sài, nên rủ tôi đi học chơi tennis. Thế là chúng tôi lúc rảnh vào rượt banh trong chuồng cu ở Cercle Sportif cũ trên đường Hồng Thập Tự, đã đổi tên thành Câu Lạc Bộ Lao Động. Con trai đầu lòng của Nghĩa Lư là con nuôi của chúng tôi. Khoảng năm 1982 vợ chồng Nghĩa và con đi vượt biên, lúc đó Lư đã có thai được năm tháng. Trên đường đi bị hải tặc, tất cả chết hết trừ chủ tầu và vài người khác.


Chủ nhiệm Mỹ Điền lo việc hành chánh với Nguyễn Văn Niêm, giáo viên Nga văn, lo Giáo Vụ bộ môn, Quảng hầu như vẫn lo tổ chức công việc giảng dạy Anh văn. Nhưng vì suốt ngày ở bộ môn nên bọn tôi vẫn rảnh, tôi nghĩ ra cách chơi scrabble để giết thì giờ, cô Hoa làm thư ký ghi điểm. Ai thắng thì được một chầu cà phê, và dĩ nhiên cả cô Hoa nữa.


Một điều đáng ngạc nhiên là không hiểu sao giáo viên Nga văn được điều về bộ môn nhiều đến thế. Ngoài Niêm có thể đứng lớp, lần lượt có thêm Lê Thị Bước, người Nam tập kết, cô Lan có mẹ cũng là dân tập kết công tác tại Khoa Nha, và bà Nguyễn Thị Minh, người Bắc, có chồng là y sĩ đại tá tiếp thu Bệnh viện Cộng Hòa. Sau bà Minh cho tôi biết là lúc bà xin về Trường Y, chính Niêm đã lên tận Bộ Y Tế tìm cách chặn lại, nhưng không được. Tôi nghĩ rằng số giáo viên Nga văn được đào tạo nhiều, mà nhu cầu ở phía Nam tương đối ít vì tuyệt đại đa số sinh viên học sinh đều chọn học Anh văn hay Pháp văn. Ở Trường Y cũng vậy, số sinh viên học Nga văn rất ít, ngay cả các sinh viên bộ đội cũng chỉ thích Anh văn. Vì vậy mà giữa các cán bộ giảng dạy Nga văn luôn luôn có chuyện dìm nhau để làm nổi, mà bọn Ngụy tôi gọi đùa là “đấu tranh anh em gay gắt.”


Sau khi công việc giảng dậy và xắp xếp bộ môn đã “đi vào nền nếp” cứ vài tháng lại có buổi họp bộ môn để các giảng viên bình bầu tiên tiến. Đám Ngụy chúng tôi chẳng thích cái trò này, nhưng vẫn phải làm, Thường thì chúng tôi chỉ ngồi yên, bất đắc dĩ mới nói và chỉ nêu ra những ưu điểm của các đồng nghiệp. Nhưng có lần trong một phiên họp bình bầu cuối năm, các giảng viên Nga văn không biết vì lý do gì tố nhau rất dữ. Tôi thoạt đầu ngạc nhiên rồi sau thấy chán ghét khi họ giở sổ tay ra, đọc ngày này giờ này chị đã làm gì, nói gì, và người kia cũng “đáp lễ” y chang như vậy. Tôi chợt nhớ tới lời ông Ngô Như Hòa đã nói với tôi là “Những người cộng sản ghét nhau.” Buổi họp đã xong tôi vẫn còn ngồi lại trong phòng nghĩ ngợi. Mỹ Điền từ trên bàn chủ toạ đi xuống và kéo ghế ngồi xuống cạnh tôi khi mọi người đã ra khỏi phòng. Điền hỏi tôi nghĩ sao về lối sinh hoạt này. Tôi nói rằng quả thực tôi không quen với cách thức tố nhau như vậy, nhất là việc vào ghi sổ tay lời nói việc làm của một người nào đó để đợi một ngày dùng đến sau này. Mỹ Điền cười rồi nói với tôi, “Rồi anh cũng phải quen thôi, dù tôi nghĩ rằng anh sẽ không làm như vậy.”


Các sinh viên bộ đội phần lớn là do đơn vị chọn đưa đi học, nên nếu có qua kỳ thi thì cũng chỉ là hình thức. Yếu tố quan trọng là thành phần lý lịch chứ không phải học lực và có trình độ tốt nghiệp phổ thông không phải là nhiều. Do đó có nhiều em viết tiếng Việt còn chưa ra câu, khi viết tiếng Anh thì vì quen tiếng Việt độc âm, chữ một vần, khi viết tiếng Anh cũng viết một chữ rời ra thành hai hay ba phần tùy theo chữ đó có hai hay ba vần. Chẳng hạn như chữ “abdomen ” thì viết rời thành ab do men. Còn về kiến thức y khoa thì một hôm tôi ghé qua Khu Phẫu Thuật Thực Hành chơi, bác sĩ trưởng khu kể cho tôi nghe một sinh viên bộ đội có hỏi ông về “bệnh ung thư tiền liệt tuyến ở phụ nữ...,” rồi lấy ra một sấp bài kiểm tra, lật một bài trong đó có hai hình vẽ, một hình với một bình thông đáy có chứa nước với vạch ghi rõ mực nước, và hình thứ hai là hình thứ nhất lộn ngược, và nước vẫn nằm ở đáy bình dù bình đã lộn về phía trên. Trong một buổi lễ, một sinh viên bộ đội đoàn viên Thanh niện Công sản lên đọc diễn văn. Tới một đoạn em nhìn vào giấy rồi đọc lớn, “Đoàn viên Thanh niên Cộng sản là những người thừa...” Đám Ngụy ở dưới vỗ tay rần rần, có ai đó còn nói lớn “Hay!” Thì ra em này đọc tới chữ “thừa” thì hết hàng, kiếm mãi mới ra chữ tiếp theo. Cả câu là, “ Đoàn viên Cộng sản là những người thừa kế sự nghiệp Cách mạng của Đảng.”


Nhưng các sinh viên này nếu tôi đã có dậy qua thì chưa bao giờ làm tôi khó chịu, mà chỉ làm cho tôi thấy tội nghiệp. Có lần tôi đang dậy một lớp năm thứ hai thì đột nhiên có một em bị xỉu. Em gục xuống bàn học cá nhân, mặt xanh lét gần như mầu bộ đồng phục bộ đội của em. Còn đang lúng túng chưa biết phải làm gì thì chợt chị Ngọc đi qua phía ngoài. Thấy lớp nhốn nháo, chị bước vào, nhìn em bộ đội xong, chị bảo tôi cứ để em ở đó, chị đi lo cho. Ít phút sau chị từ bộ môn trở lại, với một tách nước trà nóng và một cái muỗng. Với sự trợ giúp của một sinh viên khác, chị múc từng thìa nước từ từ đổ vào miệnh em này. Và chỉ thoáng sau em mởmắt ra, ngồi thẳng lên được và cầm tách nước uống hết ngay. Chị Ngọc kéo tôi ra ngoài, tôi hỏi thuốc gì mà thần diệu vậy. Chỉ cười, nói nhỏ với tôi, “Nó đói đấy. Chuyện này ở ngoài Bắc tôi quen quá rồi. Cứ trà đường nóng là xong hết!”


Một hôm hết giờ học rồi mà một sinh viên bộ đội vẫn còn nán lại. Em tới gần tôi, nói với tôi là điểm bài kiểm của em không tốt và em không muốn như vậy. Tôi chưa biết phải nói gì với em thì em đã nói tiếp rằng em và một số bạn nữa ở tại Đại Học Xá Minh Mạng cũ. Sáng sáng các em đi thực tập tại các bệnh viện, trưa về trường ăn uống nghỉ ngơi để đợi học lý thuyết vào buổi chiều. Em nói là em thường xuyên đói, tối về học xá ăn uống xong là chỉ muốn đi ngủ ngay để lấy sức. Nếu cần thì chỉ học các bài lý thuyết y khoa, còn sinh ngữ thì ở lớp nghe nhớ được cái gì thì nhớ, chứ không thể học vào buổi tối được. Tôi thông cảm với em ngay, vì vào những năm phải ăn độn bo bo, tôi đã ăn no căng cả bụng mà vừa buông bát xuống là lại thấy hao háo, thèm ăn một cái gì. Tiêu chuẩn nửa ký thịt heo mỗi tháng thì làm sao cung cấp đủ chất đạm cho cơ thể cho cả gia đình. Nếu không “chà đồ nhôm” đem ra chợ trời bán và sau này lậu lâu có thùng quà từ ngọại quốc gửi về thì tôi cũng giống như các em thôi.



Ngoài các giảng viên Nga văn từ ngoài Bắc vào, Bộ môn Ngoại Ngữ cũng có thêm một số giảng viên Anh văn và Pháp văn mới, đa số là trẻ và có người còn là đoàn viên Thanh niên Cộng sản HCM. Chỉ có hai người dạy Pháp văn là đã lớn tuổi, môt là Trịnh Xuân Đính và một nữ giảng viên người Nam có chồng là bác sĩ phải đi học tập. Bà này ở trường nói chuyện anh anh em em rất thân mật với Khoa trưởng Ngô Như Hoà, và còn kể cho tôi nghe thỉnh thoảng ông Hòa còn ghé nhà chơi và nói chuyện với nhau toàn bằng tiếng Pháp, nên tôi đồ chừng có thể hai người có liên hệ họ hàng hoặc ông Hòa và chồng bà này ngày xưa là bạn học ở Y khoa. Bà này kể lại có lần dùng điện thoại của văn phòng bộ môn nói chuyện với một người quen là nhân viên Tòa Tổng Lãnh Sự Pháp, dĩ nhiên là nói tiếng Pháp. Khi đang nói thì bị một người không biết từ đâu xen vào cắt ngang, nói, “Nói bằng tiếng Việt đi.” Sợ quá, bà vội vàng cúp máy. Về sau bà này cũng vượt biên nhưng không thoát, báo cáo về gửi về trường cho biết bà này khai phải vượt biên vì “bị ông cựu trưởng khu gây khó dễ.” Chi tiết này được chính Quảng kể lại với tôi.


Sếp Quảng tính thẳng, không biết có khiển trách gì bà giáo Pháp văn này hay không mà bị bà ta khai ra như vậy. Điều này khiến tôi nhớ tới một vụ mà tôi với cô Hoa, ông Thám cứ cười mãi, cho rằng Quảng còn 'ngây thơ' nữa. Số là một hôm cán bộ Lê Thị Bước, giảng viên Nga văn, vào bộ môn trễ, Quảng đã quên mình không còn là trưởng khu, nghiêm mặt nhắc nhở bà này. Chúng tôi đều ngạc nhiên, riêng bà Bước thì tím mặt lại, không nói gì cả. Nhưng chỉ nội trong tuần đó Quảng đã bị bà này tố cáo nhiều tội dưới văn phòng trường. Nhưng có lẽ hiểu rõ sự vụ và muốn cho quan hệ giữa mới và cũ bớt căng thẳng, họ đã làm ngơ.

Nhưng sau này qua đầu thập niên 1980, Quảng đã cảm thấy có điều gì bất ổn. Quảng được Biện lúc đó là phụ tá giáo vụ bộ môn gợi ý cho thêm phần dịch Anh Việt-Việt Anh trong bài thi ngoài phần trắc nghiệm. Đến khi chấm bài, Quảng sửa phần dịch bê bết và cho điểm thấp. Họp bộ môn, Mỹ Điền đã nêu vấn đề này ra và phê bình Quảng dậy quá sức sinh viên. Tất cả không ai nói gì, kể cả Quảng. Quảng sau nói với tôi không biết Biện có gài Quảng vào vụ này hay không. Và chuyện này cả văn phòng nhà trường cũng biết. Quảng kể cho tôi nghe có hôm một nhân viên văn phòng hỏi Quảng về chuyện dậy ' tiếng Mỹ ' cho sinh viên và đưa cho Quảng một tờ giấy với nhiều khoản để điền vào, trong đó có khoản “tự nguyện đi phục vụ tại bất cứ nơi nào được chỉ định.” Quảng lầy làm lạ nhưng không hiểu sao cũng điền vào hết. Hoang mang và chán nản, ít lâu sau Quảng nạp đơn xin nghỉ việc. Sau Quảng còn nói với tôi có lần Đính tìm tới nhà Quảng cho biết nếu muốn Quảng có thể xin dậy học trở lại, nhưng Quảng đã không làm.

Trịnh Xuân Đính vừa mới chuyển về bộ môn là chúng tôi đã rất thân với nhau vì tâm đầu ý hợp. Mãi về sau tôi mới biết nhờ có ông bác họ vợ làm lớn ở Bộ Y Tế giúp đỡ nên Đính mới được về đây. Đính trước đó là giáo sư Pháp Văn tốt nghiệp Đại Hoc Sư Phạm, có Cử Nhân Văn Chương Pháp từ Trường Văn Khoa Saigon, đã đậu xong Cao Học Luật và đang làm Luận Án Tiến Sĩ, đồng thời làm phụ giảng ở Luật. Sau 4-75, Trường Luật đóng cửa, chỉ còn mở Trường Kinh Tế nên Đính phải “đi tỉnh buôn than, gạo, đường trên chiếc xe solex hắn biến chế cho chạy bằng dầu lửa” nhưng không xong, hắn phải đi sửa xe gắn máy ở đầu đường một thời gian khá dài. Sau đó hắn ta may mắn được ông bác họ bên vợ cho về dạy Pháp văn ở Y Khoa, cũng là môt nơi tạm dung thân mà nhiều người khác có mơ ước cũng không được.

Buổi trưa ăn xong cơm ở cafeteria ma soeur còn sớm, tôi và Đính thường kéo nhau ra đường Nguyễn Trãi đi dài dài xuống tới Tổng Đốc Phương, ngắm hàng thiên hạ mang ra bán chợ trời. Còn nhớ có lần sau Tết Trung Thu, chúng tôi tình cờ thấy có có tiệm đem ra đường bầy bánh nướng bán không hết hồi Trung Thu giá thật rẻ. Hai đứa bèn mua một cái, chia nhau vừa đi vừa ăn. Ngon ơi là ngon.

Thời gian sau đã thấm cái đói, chúng tôi tìm ra được một nguồn chất đạm bất tận, vừa rẻ vừa bổ vừa được hoạt động chân tay. Đó là thịt chó. Nguyên Khu Phẫu Thuật Thực Hành có phòng lab để cho sinh viên thực tập mổ chó. Chó được gây mê để cho sinh viên mổ. Nhưng con chó này sau đó được khu bán kí lô thu về ít tiền cho quỹ của khu. Một hôm vào đầu năm 76, Bs.Trung qua rủ tôi chiều đi về sẽ mang theo một con chó tới nhà một người bạn để làm thịt, xem ăn thịt chó vào dịp Tết thì cả năm có “đen như mõm chó hay không.” Cô Lệ thư ký khu đã chọn một con chó béo khỏe cho chúng tôi và khi cân còn bớt cho hai ký lô trước khi tính tiền, rồi bỏ vào trong bao bố buộc lại đàng hoàng. 
Chiều chúng tôi xách chó xuống cầu thang, tới chân cầu thang ở hành lang trước đại giảng đường thì gặp mấy sinh viên vẫn chưa về còn đứng ở đó. Các em ngạc nhiên nhìn Trung xách bao bố, và khi thấy máu nhỏ giọt xuống sàn nhà thì cười và kếu lên, “Chó đây mà. Anh Trung bêu riếu chế độ đấy nhé!” Chúng tôi chỉ cười và Trung đưa tôi tới nhà một người bạn ở đường Hòa Hưng. Anh này là con một đại tá đã đi học tập ngoài Bắc. Lần đầu tiên làm thịt nguyên một con chó, chúng tôi đã thật lúng túng nhưng rất vui. Để thui chó, bạn tôi vào phòng lấy ra mấy cuốn truyện tiếng Anh xé ra từng tờ để đốt. Mãi tới 9 giờ tối chúng tôi mới được ăn và chỉ có hai món thịt luộc và chả nướng.



Chuyện này tôi đã quên, nhưng mấy năm sau khi đói quá tôi mới nhớ lại và hỏi Đính làm bếp có giỏi không và có biết làm thịt chó không. Đính nói “làm bếp là nghề tay phải của tao và làm thịt chó thì tao là số 1”. Thế là từ đó tôi xách đồ nghề theo “thầy đi làm thịt chó”. Lần đầu tiên tôi và Đính tới làm thịt chó ở nhà chị Ngọc. Chồng chị Ngọc là bác sĩ giám đốc Bệnh Viên Da Liễu nên được cấp một villa rất đẹp trên đường Hiền Vương gần Pasteur. Vì nhà lớn nên Bộ Y Tế còn cho Bs. Hậu , phu trách giáo vụ Trường Y và Vĩnh, một nhân viên Bộ Y tế nữa độc thân, ở ghép một từng. Vì không có chỗ “hành nghề” nên tôi và Đính rủ chị Ngọc “đánh đụng” với chúng tôi. Chị Ngọc đồng ý ngay và nói sẽ bảo mấy người kia phụ một tay nữa. Vì được chuẩn bị kỹ từ trước và có nhiều người phụ nên chúng tôi đã giải quyết con chó và hoàn tất đủ cảc món chó luộc, chó nướng chả, dồi chó, dựa mận, chỉ thiếu món tiết canh. Tối hôm đó chỉ có Đính, Bs. Hậu, Vĩnh và tôi nhậu, làm hết một chai nếp Lúa Mới đem từ Bắc vào. Vợ chồng chị Ngọc và hai con không đợi được, ăn trước từ sớm, lấy phần để hôm sau ăn. Khi rượu đã ngấm, con người thật của Bs. Hậu mới để lộ ra. Cái lạnh lùng xa cách hàng ngày ở cơ quan không còn nữa. Anh ta ăn uống nói chuyện tự nhiên cởi mở hơn hẳn bình thường. Nhưng đột nhiên anh trở nên ít nói, ngồi uống thêm liền hai chung nhỏ rồi bỏ vào nằm ở giường kê gần đó. Tôi để ý thấy anh cứ trằn trọc và lâu lâu lại thở dài sườn sượt. Đính cũng để ý thấy và sau nói với tôi là ở cơ quan cán bộ nào cũng đeo một cái mặt nạ.


Lần thứ nhì mà tôi và Đính đi làm thịt chó là khi Niêm rủ chúng tôi mua chung con chó và về làm ở nhà Niêm. Vợ chồng anh này được cấp căn nhà gia nhân ở một góc sau Bệnh viện Đồn Đất. Tôi và Đính làm xong thì chia thịt rồi ai về nhà người nấy. Niêm gốc nam Trung bộ, tập kết ra Bắc. Như các cán bộ khác, Niêm ít nói, rất dè dặt dối với đám Nga văn, còn hơn đối với chúng tôi.


Lần cuối cùng tôi và Đính mua một con chó về làm ở nhà tôi. Vì chỉ có một bếp dầu nhỏ nên đợi khá lâu mới có nồi nước sôi để cạo lông chó. Trong khi đang chuẩn bị các thứ khác ở trong bếp thì chợt nghe tiếng ăng ẳng nho nhỏ ở ngay sau lưng. Tôi đang ngồi xổm nhặt rau thơm, hoảng qua đứng vọt dậy. Liền lúc đó nghe tiếp được tiểng “ẳng” lớn hơn từ bao bố vang ra. Hóa ra là con chó chưa chết, có lẽ chỗ mổ nhỏ và sinh viên khâu kỹ nên con chó chưa chết. Khi thuốc mê mất dần hiệu lực, con cho tỉnh lại và kêu. Đính nói phải kết liễu con chó đi vì nếu để nó tỉnh lại hẳn thì không thể nào dội nước sôi để cạo lông được. Tôi vội vàng lấy cái chầy để gần đó đưa cho Đính. Chúng tôi chỉ làm mấy món chính như luộc, dồi và chả nướng. Đính nhường cho tôi cái đầu, bảo để nấu cháo “bồi dưỡng” cho hai đứa con nhỏ của tôi, và Đính còn nói óc chó bổ lắm. Tối hôm đó vợ tôi được một vố sợ nhớ đời khi cô ấy đi làm về trễ, lúc mở tủ lạnh ra lấy nước uống thì thấy cái đầu chó nhăn răng ra cười, sợ quá ngã ngồi bệt xuống đất. Từ đó về sau tôi không còn làm thịt chó ở nhà nữa.


Sau đợt giảng viên Nga Văn, mấy năm sau bộ môn còn nhận thêm bốn giảng viên trẻ một Anh văn là Phúc 1, ba Pháp văn là Sơn, Thanh Bình và Phúc 2. Sơn và Thanh Bình đều là đoàn viên Thanh niên Cộng Sản. Hai người này về sau gây cho Mỹ Điền nhiều bối rối và bực bội.


Khoảng năm 1978 trở đi khi các vụ vượt biên bán chính thức được tổ chứ ồ ạt thì Trường Y cũng bị ảnh hưởng. Trước đó thì các bác sĩ cũng bỏ đi lai rai, nhưng từ khi có vượt biên bán chính thức thì số bác sĩ đông hơn nhiều. Lý do là những người tổ chức phần lớn là người Hoa, mà đi bán chính thức thì bảo đảm không bị công an bắt. Chủ tầu thường kiếm bác sĩ cho đi miễn phí để lo chăm sóc sức khỏe cho thân nhân và giao thiệp với nhà cầm quyền nước tầu cập bến vì thông thạo tiếng Anh hoặc tiếng Pháp. Cũng vì tham nên chủ tầu cùng nhà cầm quyên nhận tối đa số người xin đi. Buổi tối trước ngày khởi hành chủ tầu đã cho người vượt biên xuống ém kín khoang một tầu đậu ở Cát Lái, nhiều đến độ tầu không chịu nổi bị chìm. Số người không lên kịp chết rất nhiều, trong đó có vô địch quần vợt Nguyễn Văn Sĩ.


Trong những buổi họp bộ môn, Mỹ Điền thường đem chuyện những người từ ngoại quốc trở về giúp nước kể cho chúng tôi nghe và phê phán những người cứ tính chuyện bỏ đi. Ông hay nhắc tới một bà ở Bộ Môn Vi Sinh đã cùng chồng từ Canada tình nguyện về giúp nước. Ông nhấn mạnh cặp vợ chồng này mỗi người kiếm mấy ngàn dollar một tháng, nay trở về nước lãnh lương 90 đồng. Tôi còn nhớ bà này nhỏ con, trắng trẻo, hàng ngày đi xe máy PC tới trường. Sau lại biết thêm bà là cháu của Thứ trưởng Bộ Đại Học Hoàng Xuân Trường và khi về được bố trí về làm việc ngay ở trường tôi. Thế nào đi nữa thì quyết định về nước của bà này cũng rất đáng nể. Nhưng chỉ một năm sau tôi không thấy bà đi xe PC tới trường nữa, và ít lâu sau chúng tôi được biết vợ chồng bà này đã vượt biên, không những đi một mình mà còn kéo hết cả đại gia đình tới mấy chục người!


Chuyện này vẫn còn âm vang thì lại tiếp tới chuyên Thanh Bình. Là một giảng viên trẻ, đẹp, vui tính, và còn là một đoàn viên TNCS, cô là mẫu người mà Mỹ Điền rất tin tưởng. Mỷ Điền rất thích khi cô này chuyển câu đầu bài “Từ thành phố này Người đã ra đi ” sang tiếng Pháp và hát, “ De cette ville Il est parti.” Điền cười tít mắt và nói, “Đây chính là new blood.” Ý muốn nói bọn tôi là loại máu cũ, tạm sài mà thôi. Nhưng một hôm không thấy Bình vào dậy học, qua hôm sau thì có tin cô đã vượt biên. Điền kéo tôi và một hai người nữa theo địa chỉ tìm tới tận nhà cô Bình. Chúng tôi đứng trước của nhà cô đã bị niêm phong, mỗi người một ý nghĩ riêng, rồi lẳng lặng ra về.


Một bác sĩ khác đã vượt biên thành công, nhưng thời điểm vượt biên của ông không hiểu vô tình hay cố ý đã đặt nhà trường vào một tình huống bối rối và chúng tôi được nở từng khúc ruột. Bs. Ân chuyên về tiết niệu là học trò cưng của Giáo sư Ngô Gia Hy, cả hai làm việc tại Bệnh viện Bình Dân. Người ta nói GS. Hy là cháu của Ngô Gia Tự, Bí thư Xứ ủy Đảng bộ Nam Kỳ. Bị Pháp bắt và đầy đi Côn Đảo cùng với Phạm Hùng năm 1933 và sau đó mất tích trong một chuyến vượt ngục vào đầu năm 1935. Tôi còn nhớ GS. Hy có vẻ thoải mái hơn các giáo sư và bác sĩ khác, và trong một lần nói chuyện với các sinh viên, ông chấm dứt bằng câu, “Các em hãy nhớ sau các em còn có tôi.” Tôi không hiểu ý ông muốn nói gì, mà lại nghĩ tới câu nói của Tổng thống Diệm, “Sau Hiến pháp còn có tôi.”


Hôm đó là buổi chót của một hội nghị báo cáo chuyên đề, Bs. Ân được chờ đợi lên trình bầy một đề tài về niệu khoa tại đại giảng đường vào hồi 2 giờ chiều với sự có mặt của đại diện Bộ Y tế, ban lãnh đạo trường, toàn thể cán bộ giảng và sinh viên. Đúng 2 giờ chúng tôi mới từ Bộ Môn đi xuống, tưởng đã trễ, nhưng tới cửa giảng đường nhìn lên bục giảng ở sân khấu vẫn trống trơn. Mọi người bắt đầu ngơ ngác, xì xào hỏi nhau. Đợi tới 2:30 thì một nhân viên lên lấy micro thông báo Bs. Ân bị bệnh bất ngờ không thể đến được. Đề tài sẽ được trình bầy vào một ngày khác. Ai nấy đều không tin, và quả thực hôm sau vào trường tôi được bác Thám báo tin nghe nói Bs. Ân đã vượt biên. Hiện nay Bs. Ân ở Montréal, Canada, rất tích cực hoạt động trong cộng đồng người Việt.


Sơn là đoàn viên trẻ, rất hoạt động, em trai Bs. Nguyễn Ngọc Phượng, y sĩ sản phụ khoa. Bà này có chồng cũng là một bác sĩ. Ông này đi Pháp tu nghiệp nhưng đã ở lại không về nước, bỏ cả vợ luôn. Bà Phương được chính quyền mới ưu đãi, cất nhắc lên làm giám đốc Bệnh viện Từ Dũ và liên tiếp đắc cử dân biểu Quốc Hội. Thời gian này ông Ngô Như Bình đã không còn là Khoa trưởng và đã xin nghỉ về mở phòng mạch tư ở Tân Định. Hiệu trưởng Trường Đại Học Nha Y Dược TpHCM là BS, Trung, một người Nam, nhưng người thực sự nắm quyền là bí thư đảng ủy Mười Năng, người Bắc, nắm giữ hiệu bộ.

Không rõ Mỹ Điền có vấn đề gì với hiệu bộ mà ông thường xuyên bị Sơn công kích, không phải với tư cách cá nhân mà với là đại diện đoàn trường. Cho tới khi tôi đã gần xin nghỉ để hoàn tất hồ sơ xuất ngoại năm 1983 thì Mỹ Điền tới khu làm việc thất thường. Hôm tôi chính thức nghỉ, bộ môn có tổ chức tiệc nhỏ tiễn tôi. Mỹ Điền không vào, nhưng viết mấy chữ từ biệt nhờ ông Thám đọc. Tôi còn nhớ ông Điền trước khi chúc tôi may mắn được xuất ngoại đoàn tụ với gia đình, đã nói lý do ông không tới dự “như một cách phản đối lề lối làm việc Mao-ít của ban lãnh đạo nhà trường.” Tôi chẳng hiểu Mao-ít với Mao-nhiều là sao, nhưng rõ ràng là hiệu bộ đã dùng Sơn để phá Mỹ Điền khiến ông này chán nản.



Mỹ Điền đối với Quảng và tôi rất lịch sự và tốt. Ngay từ lúc mới về nắm bộ môn, Mỹ Điền đã nhờ Quảng và tôi lo giúp về mặt chuyên môn. Vì Quảng ít nói và có vẻ xa cách nên Mỹ Điền thường chuyện trò với tôi nhiều hơn. Tôi được Mỹ Điển cho biết đã đi Pháp đi Anh trước khi về Bắc sau năm 1954. Mỹ Điền công tác ở cả bên Y tế lẫn Ngoại giao, có lẽ nhờ vốn liếng ngoại ngữ của mình. Mỹ Điền người Nam, tính tính cởi mở, dễ dãi với tất cả các giảng viên. Ngay mấy năm đầu Mỹ Điền đã mua được một thửa đất khá lớn ở ngay bên kia sông Thanh Đa. Khi Mỹ Điền mời một nhóm bọn tôi khoảng 5, 6 người trong đó tôi nhớ có Biện, Dũng, chị Chỉnh và chị Mỵ Khanh qua thăm trại thì đã thấy một ngôi nhà hoàn chỉnh khá đẹp xây bằng vật liệu nhẹ.

Khu đất đã có hàng rào, một phần đất dành cho căn nhà và vườn nhỏ bao quanh, hai phần còn lại đã được thuê người đào mương đắp vồn, nói để trồng cây nuôi cá. Mỹ Điền nói đây là kế hoạch quy điền sau này, tôi hỏi đùa không phải là phục viên hay sao. Bữa BBQ hôm đó thiệt vui, Mỹ Điền đem một chai đế quốc doanh ra mời, nói rất tiếc không có rượu tây. Mặt tôi hay đỏ, mới uống hai chung nhỏ đã đỏ ửng, chị Chỉnh bảo đừng uống nữa, rượu vào lời ra đó. Tôi tiện thể, mượn hơi rượu rỡn ngay, “Mình đánh đế quốc Pháp cũng thắng, đánh đế quốc Mỹ cũng thắng, chỉ thua có đế Quốc doanh.” Mọi người đều cười và Mỹ Điền là người cười to nhất.



Khi nhà trường tuyển thêm nhiều sinh viên vào học thì nhu cầu giảng viên Anh văn cũng tăng theo. Mỹ Điền hỏi tôi cho biết ý kiến về những người nạp đơn xin. Lần đầu tôi nói ngay chỉ có ý kiến về khả năng chuyên môn mà thôi, thì Mỹ Điền cười và nói ngay vấn đề chính trị thì “dưới nhà” họ lo, đâu đến lượt tôi, ý muốn nói Phòng Tổ chức ở dưới nhà. Thời gian này có nhiều giáo sư Anh văn thuộc Trường Sinh Ngữ Quân Đội hay một số nhân viên cao cấp cũ đã đi học tập trở về, nên bộ môn tôi đông hẳn lên. Tôi gặp lại các bạn cũ như Nguyễn Viết Long dậy Trung tâm Thính Thị Anh Ngữ và trước đó dậy ở Mỹ Tho với tôi từ đầu thập niên 60, Tô Cao Hoan bạn học từ thời ở Văn Khoa dậy ở Sinh Ngữ Quân Đội, Phước Tôn Tẫn – vì có tật ở chân -- và Phạm Văn Cung, giám đốc Innotech, và một vài người nữa mà tôi không còn nhớ tên. Phía nữ có chị Trần Thị Thức, vợ ông Đoàn Viết Hoạt. Cánh đàn ông chúng tôi sau giờ ăn trưa thường qua quán cà phê gốc me ở khu trại tạm cư kế bên ngồi nhâm nhi cà phê bí tất và nói đủ thứ chuyện trên đời.


Một hôm Nguyễn văn Niêm kéo tôi vào bureau, và khi tôi vừa ngồi xuống đối diên thì đột nhiên hỏi tôi tại sao không nói giống như các cán bộ khác, dùng các từ như “giản đơn, khẩn trương, hồ hởi …” vì muốn đề bạt tôi làm phụ tá giáo vụ bộ môn, lo giúp phần Anh văn. Chắc Niêm nghĩ nghe được như vậy tôi sẽ mừng lắm và nhận lời nên hỏi thẳng không rào đón gì cả. Niêm đã thoáng ngạc nhiên khi tôi trả lời ngay là tôi cám ơn nhưng không nhận lời đề nghị. Niêm hỏi tôi tại sao lại từ chối, tôi mỉm cười trả lời, “Lý do đơn giản là tôi chỉ thích dạy học, không thích công việc hành chính, điều khiển người khác, vì tôi nhiều khi không điều khiển được chính tôi. Vì lợi ích của sinh viên và của cả bộ môn, xin để tôi tiếp tục công tác giảng dạy thôi.” Niêm hỏi tiếp tôi, “Thế anh có đề nghị một người nào khác không?” Tôi nói ngay nếu cần một người có đầu óc tổ chức và thành thạo công việc hành chánh thì ở bộ môn có Biện là thích hợp nhất. Niêm cám ơn tôi và ít tuần sau Biện trở thành phụ tá của Niêm.


Tới khoảng năm 1979-80 thì tinh thần tôi xuống thật thấp vì những bạn bè thân quen nhất của tôi lần lượt vượt biên. Lã Hoàng Trung đi bán chính thức, rồi cô Liên Hoa thư ký bô môn có chồng tổ chức vượt biên, cả hai đều thoát. Mất anh Trung tôi thật hụt hẫng vì chúng tôi đi đâu cũng có nhau, các bạn bè mới thân thiết tôi có được hầu như đều qua anh Trung. Sau này liên lạc lại được với anh Trung, anh nói là lúc ở đảo chờ đi Mỹ thì gặp cô Hoa ở đó. Anh trách cô Hoa sao tổ chức vượt biên mà không cho tôi một vài chỗ, tôi không có cây thì qua được bên này sẽ trả sau. Cô Hoa nói chồng có chân trong tổ chức nhưng không có quyền quyết định. Sau này khi tôi sang được Canada, gia đình cô Hoa ở Montréal đã xuống Ottawa chơi với chúng tôi.


Thấy người ta đi thì tôi cũng muốn, nhưng tôi biết là mình rất nhát, thuộc nhóm mà thời đó gọi là “Trí thức 3 N,” nôm na là “nghèo, ngu, nhát.” Nghèo vì không có cây, ngu vì gần 30-4 người ta đôn đáo tìm đường chạy còn mình yên tâm đợi Trung lập, và nhát vì ngày 29 và 30-4 người ta chạy tứ tung, tới Tòa Đại Sứ Mỹ, ra Bến Bạch Đằng, qua Khánh Hội, tới Tân Cảng, thấy chỗ nào có tầu là chạy tới. Anh họ tôi là Lã Huy Qúy, người đầu tiên bơi qua sông Bến Hải năm 1955, và sau đó là nghệ sĩ Thanh Hùng, “ngâm sĩ” của Đài Phát Thanh Saigon, đều đi thoát hôm 30-4.

Anh Quý kể hôm 30-4 anh Thanh Hùng cõng con trên vai ở bến Bạch Đằng, vừa đi vừa khóc, vì nếu kẹt lại thì “chỉ có chết!” Vây mà anh đi thoát, trong khi tôi cố thủ trong nhà. Lắm lúc tôi nghĩ nếu sáng 29-4 tôi cứ đưa vợ con tới Toà TLS Mỹ với tờ điên tín bảo lãnh thì biết đâu đó. Nghĩ vậy thôi chứ nếu thực sự có cơ hội, chưa chắc tôi đã dám đi. Điều này có thể chứng minh được là một hôm bạn tôi là Đ Q Anh Thái đến nói với tôi là anh của chị Thức tổ chức vượt biên nhiêù lần thành công. Và đây là chuyến chót, cả Thái cũng đi, nếu muốn tôi được dành cho hai chỗ, qua bên đó trả tiền sau. Tôi nói để hỏi ý vợ tôi có để cho tôi đi trước với con trai lớn, còn vợ tôi và con gái ở lại chờ tôi nếu đi thoát sẽ bảo lãnh qua sau. Vợ tôi sợ lắm nhưng không có ý cản, nhưng tôi thì “rét” thực sự, ra nói với Thái rằng nếu đi thì đi cả bốn, cùng sống cùng chết với nhau, thay vì chia đôi. Thái đã dành hai chỗ đó cho cặp vợ chồng bạn chung của chúng tôi, và chuyến đó đã thành công.


Các giảng viên trong bộ môn cũng trước sau lần lượt ra đi. Chị Hiếu, có chồng là trung tá không quân còn đang đi học tập, đã đưa con đi trước. Tuần lễ trước khi đi, chị bảo tôi đến nhà và cho tôi bộ Bách khoa Từ điển Britannica. Chị không nói và tôi cũng không hỏi. Mấy ngày trước khi đi, chị thật căng thẳng, vào bộ môn buổi trưa nằm vật lên bureau, “thở hắt ra.” Đây là tiếng của chị dùng, chị nói với tôi, “Sao cứ thở hắt ra mãi thế này!”


Rồi đến lượt Long. Long phải đi hai lần mới thoát. Lần đầu đi đường thủy, ghe chết máy lênh đênh trên biển mấy ngày. Hết nước, may Long có chiếc bật lửa Dupont nên xé quần áo và gỗ vụn, đun nước biển sôi lên, lấy vải hứng hơi nước nhấm nhấm cho đỡ khát. Lúc bị bắt về, con trai út suýt chết vì mất nước, môi thâm xì, người đã lả đi, mắt nhìn chỉ thấy lòng trắng. Lần sau đi đường bộ qua Campuchia, đường đi gian khổ nhưng may mắn bình an vào được Thái Lan. Khi còn ở trại chờ qua Mỹ, vợ chồng Long có chụp ảnh gửi về cho vợ chồng tôi. Nhìn vợ chồng Long đứng mua hàng ở siêu thị mà buồn muốn khóc.


Tôi xin viết thêm về Long, phần vì thân quen quá lâu, phần vì đời Long có nhiều tình huống khiến ta phải nghĩ tới câu “Họa phúc khôn lường”. Long ra Sư Phạm Anh Văn sau tôi hai năm và cũng được bổ về dây ở Nguyễn Đình Chiểu, Mỹ Tho, nơi tôi lúc đó đang dậy. Cũng như Đính, tôi chơi thân với Long ngay. Long nhỏ tuổi hơn tôi nhưng đã lập gia đình và mới có con đầu lòng. Buổi tối tôi thường ghé lại nhà Long ngồi nói chuyện và nghe nhạc. Năm 1964 khi tôi lập gia đình, vợ chồng tôi càng chơi thân với vợ chồng Long hơn. Long có ông anh đại tá trong quân đội, nhờ quen biết lo cho Long về Saigon, không phải dậy học mà làm ở Bộ Thanh Niên, rồi sau xin được về dậy tại Trung Tâm Thính Thí Anh Ngữ . Năm 1969 có lệnh tổng động viên, các giáo sư đệ nhị cấp chỉ học chín tuần căn bản quân sự ở Quang Trung rồi được cho về nhiệm sở cụ phục vụ với cấp bậc trung sĩ.

Lúc chúng tôi về lại trường thì Long xách ba lô lên Thủ Đức học tiếp để mãn khóa ra chuẩn úy. Ông anh Long nghĩ làm như vậy là tốt cho Long, không giống chúng tôi nếu có lệnh gọi đi lính lại thì còn phải học nữa hoặc có thể đi tác chiến ngay. Quả vậy, với thời gian Long lên lon thiếu úy và tới năm 75 thì đã là trung úy. Cũng vì là sĩ quan mà Long phải đi học tập cải tạo, trong khi bọn tôi yên thân. Nhớ hồi Long lên Thủ Đức, cuối tuần nào không được về phép, tôi lại lấy xe Honda 67 chở chị Long lên thăm Long. Và sau 4-75, khi Long phải đi học tập cải tạo, chị Long ở nhà sanh cháu út. Hôm đón chị Long từ nhà bảo sanh về, tôi kéo được cả hai ông bạn bác sĩ Trung và Kiệt đi hộ tống lên tận apartment ở lầu 5 building đường Nguyễn Cư Trinh.


Còn nhớ trưa 1-5-75 khi tôi đang ở trong nhà cầu ở chung cư Nguyễn Thiện Thuật đốt từng cuốn Playboy mà Long đã cho tôi vì sợ tội tàng trữ văn hóa Mỹ Nguỵ thì có ai gõ cửa. Vợ tôi ra mở cửa thì hóa ra vợ chồng Long. Chúng tôi ôm lấy nhau mà chẩy nước mắt. Tôi tưởng gia đình Long đã đi thoát vì trưa 28-4 vợ chồng Long ghé nhà tôi từ giã, nói rằng ông anh Long là trưởng ban tổ chức di tản chỉ lo được gia đình Long mà thôi. Long đưa cho tôi tờ giấy ủy quyền lĩnh lương tháng cuối dậy ở Hội Việt Mỹ, nói rằng nếu tôi lãnh được thì cứ sài, rồi hai vợ chồng lên xe Vespa nói về đón các con đi vào Tổng Tham Mưu đợi. Không đợi tôi hỏi, Long giải thích là chiều hôm đó Long được ông anh cho vào ở một villa ngay trước cây săng Esso đối diện cổng Tổng Tham Mưu mà chủ nhân đã di tản, cho an toàn.


Nhưng sau khi Tân Sơn Nhứt bị dội bom, rồi thiết quân luật và pháo kích, vợ chồng Long đợi hoài không thấy ai tới đón, qua ngày 30-4 thì tuyệt vọng và sợ, phải bỏ villa trở về nhà cũ. Tình cảm tôi lúc đó thật lẫn lộn, vừa buồn cho Long không đi thoát, vừa có chút mừng vì còn có bạn tưởng không biết bao giờ thấy nữa. Chị Lan vợ Long mở ví lấy ra đưa cho tôi hai lượng vàng, Long nói là biết bọn tôi lúc này cần tiền nên cứ giữ để phòng về sau. Tôi rất xúc động và nói sao cho nhiều thế và trả lại một cây. Long bảo bọn tao biết sức có thể cho được bao nhiêu, cứ giữ lấy đừng thắc mắc gì cả. Tôi còn ngờ nghệch nói bây giờ Việt Cộng đã vào đây, đâu còn dùng tới vàng. Long cười và nói, “Để tao đưa mày đi xem vàng có còn dùng tới hay không.” Long bảo chị Lan ở lại với nhà tôi rồi cùng tôi đi xuống lầu lấy xe Vespa chở tôi đi vào đường Nguyễn Tri Phương, ghé vào một tiệm cơm tây nhỏ trước trạm xăng đối diện với tiệm Mì Hải Ký, kêu hai đĩa bí-tết và hai chai 33. Long bảo ăn đi, mai mốt nếu còn tiền kiếm mấy món này cũng khó.


Ăn uống xong, Long bảo tôi đưa lại cho Long một cây vàng rồi lấy xe chở tôi tới một nhà cũng ở gần đó bán lấy tiền mặt. Nhân thấy có người ngồi bán mấy thùng sữa bột SMA trên lề đường, Long bảo tôi mua một thùng cho ông cụ bà xã tôi vì hồi đó ông cụ đang bị ung thư, thứ này vừa lành vừa bổ. Đoạn Long chạy xe về về hướng Hồng Thập Tự gần rạp Olympic, nới bầy bán nhiều thứ được dân chúng hôi của từ building trụ sở của cơ quan USAID. Long bảo tôi thích gì Long mua cho, tôi nói không, Long chọn mua một ghế xoay còn mới toanh nói để ngồi làm việc. Thùng sữa để dưới chân Long, tôi ôm chiếc ghế về nhà Long cất đi, rồi Long mới về nhà tôi để đón chị Lan về. Cây vàng còn lại tôi đã dùng ngay cuối năm đó cùng với sợi giây chuyền vàng y nặng một lượng nhà tôi đeo trong ngày cưới, để mua căn nhà đâu lưng với mặt tiền đối diện với tiệm phở Tầu Thủy đường Nguyễn Thiện Thuật. Mua được căn nhà là chuyện không bao giờ tôi nghĩ tới vì bình thường tôi không bao giờ có đủ khả năng.


Sau này khi thiên hạ vượt biên rất nhiều, tôi biết Long có thừa khả năng để đi nên tôi cứ thấp thỏm, không biết lúc nào Long sẽ đi. Sợ nếu quá thân lúc Long đi tôi sẽ bị sốc nặng, nên tôi âm thầm chuẩn bị tâm lý bằng cách gặp Long ít hơn. Điều này làm tôi đau lòng, nhất là vợ chồng Long cũng để ý thấy và than với bà xã tôi. Tới khi qua Canada và liên lạc lại được với Long, mãi tôi mới có dịp thuận tiện và tự nhiên để giải thích cho vợ chồng Long hiểu, lòng tôi mới tạm yên ổn được phần nào. Sau này khi đi thoát qua Thái Lan bằng đường bộ, Long viết thư về cho tôi bảo tôi cứ yên tâm mà sống, chạy vạy nhiều như Long tuy cuối cùng may mắn thành công, nhưng phải nếm đủ thứ gian khổ mà tôi không thể biết được như tù cải tạo, vượt biên đường thủy suýt chết vì đói khát và còn tù tội, rồi vượt biên đường bộ cũng rất gian nan.


Rồi chị Chỉnh và chị Mỵ Khanh cũng lần lượt vượt biên thoát. Người cuối cùng là Đính. Chuyện vượt biên của gia đình Đính cũng gian khổ, giống như Long nhưng không may bằng Long. Lần đầu Đính đi dường Biển và cả nhà bị bắt ở Gò Công. Vợ con được thả nhưng Đính bị tù gần một năm. Được thả về, Đính không trình diện ở Y Khoa nữa. Vì nhà đã bị tịch thu nên không có chỗ ở, Đính trốn chui trốn nhủi ngoài đường phố. Vì vậy mới chạy xích lô, tối đến táp vào gồc cây nào đó ngủ. Đêm nào nhớ vợ con thì liều về nhà bà già ở Thị Nghè thăm, sáng sớm lại ra đi.

Vậy mà có lần CA địa phương cũng biết tới xét, bà xã Đính phải chạy tiền mới được tha. Sau tên công an ăn tiền quen, cho Đính về miễn là nộp tiền cho hắn. Sau tình cờ có người quen giới thiệu cho đi đường bộ qua ngả Campuchia giá rẻ, chỉ mất hai cây vàng. Lần này chỉ có Đính và cháu Sơn 10 tuổi đi thôi, không hiểu Đính chỉ còn đủ cây cho hai bố con, hay là đi đường bộ rất nguy hiểm nên chỉ có hai người đàn ông đi. Trước khi đi, Đính có đến rủ tôi, nhưng tôi nói không dám đi, Đính chửi quá nhưng tôi chỉ ngồi cười. Vì đã dặn trước, nếu bị lộ thì mạnh ai người ấy chạy, nên khi bị lính CS rượt đuổi tán loạn, Đính chạy thoát và cháu Sơn bị bắt và đưa về lại Saigon. Tôi còn nhớ hồi đó báo SGGP (Saigon Giải Phóng) có loan tin chuyện này, với tít: “Người Tù Mười Tuổi Trẻ Tuổi Nhất Khám Chí Hòa.” Đính qua được Thái Lan rồi qua Mỹ. Về sau chị Đính còn đưa cháu Sơn lại nhà tôi để tôi kèm Anh văn và nhờ tôi giới thiệu với Côn, huấn luyện viên tennis ở CLB Lao Động, dạy cháu chơi quần vợt.


Còn ở lại như tôi và Lê Anh Dũng đều chỉ hy vọng được bảo lãnh ra đi trong an toàn, không sợ bị công an bắt, hải tặc cướp và bão biển nhận chìm. Vì biết tính mình nên về sau tôi không còn bị bận tâm về chuyện vượt biên nữa. Tôi chờ đợi anh tôi ở Canada gửi giấy bảo lãnh cho tôi. Tôi thoải mái làm việc, giờ rảnh tôi dành cho tennis và mạt chược. Nhờ đã được dậy tư trở lại nên cuộc sống của chúng tôi thật dễ chịu, Sáng sớm tôi đi học Tài Chi tuần ba lần, ba buổi kia chơi tennis, khi ở Câu Lạc Bộ Lao Động, khi ở Sân Thoại Ngọc Hầu, Gia Định. Các buổi tối chơi mạt chược với bạn hay vợ con, cuối tuần đi coi đá bóng. Tôi và Lê Anh Dũng thường đi nhậu bia hơi ở đường Trần Hoàng Quân, tối về đã thấm hơi rượu, đứng ở góc tối xế nhà xác Bệnh viện Hồng Bàng, thoải mái nhìn sao trên trời.


Tính tôi hay nói rỡn, tưởng ai cũng hề hề như mình rồi xong, nhưng không ngờ lại đưa tới một vụ làm cho đám Ngụy trong bộ môn một phen rúng động. Thấy Phúc Anh Văn rất hăng hái làm việc một hôm tôi đùa bảo Phúc, “Nếu cậu cứ phát huy tích cực mặt này, tôi sẽ đề nghị cho cậu vào thẳng Đảng, khỏi phải qua Đoàn.” Nói xong tôi và Phúc cùng cười, vì thực sự chỉ là câu nói đùa. Nhưng đúng là “Họa do khẩu xuất.” Mấy tuần sau một hôm Mỹ Điền gọi tôi vào bureau, bảo tôi ngồi xuống rồi nghiêm mặt nói, “Anh có biết câu anh nói trong bộ môn tưởng là đùa nhưng đối với “những người dưới nhà” là một Lèse majesté hay không? Vì biết tính anh từ lâu nên tôi bỏ qua, nếu 'dưới đó ' họ biết thì nhẹ là anh mất việc, mà nặng là đi học tập cải tạo mút mùa. Anh không cần biết ai đã báo cáo cho tôi chuyện này, chỉ cần anh hãy hết sức cẩn thận lời ăn tiếng nói.”


Ra khỏi phòng Mỹ Điền đầu óc tôi còn lùng bùng, không phải vì cái tội Khi Quân tầy đình kia, mà không hiểu tại sao giữa đám Ngụy với nhau lại cạn tầu ráo máng như vậy.Tôi quyết định phải hỏi cho ra lẽ. Hai hôm sau Phúc có giờ dậy, hết giờ tôi rủ Phúc xuống cafeteria uống nước và hỏi Phúc tại sao biết tôi nói đùa mà lại lớn chuyện ra như vậy. Phúc nói ngay là Phúc không báo cáo với Mỹ Điền chuyện này, rồi bảo tôi là lúc nghe nói, Phúc cũng nghĩ chỉ là nói đùa, nhưng về nhà cứ suy nghĩ đâm ra bán tín bán nghi chẳng biết tôi đùa hay thật, nên mới hỏi 'cấp trên trực tiếp' vì nghĩ là bạn tôi chắc hiểu rõ tôi hơn. Phúc cũng không dám nói tên người mà Phúc đã hỏi, nhưng qua cách nói tôi biết không phải là Niêm, và chỉ còn Biện.


Hôm sau tôi vào bộ môn sớm, qua văn phòng nói chuyện với ông Thám và Cô Hoa và kể cho hai người nghe chuyện này. Càng nói tôi càng thấy bực thêm và khi thấy Biện vào tôi làm như không biết, tiếp tục nói lớn hơn. Tôi nói những quân làm antenne chỉ điểm, ở trại học tập sẽ bị nhét c...t vào miệng và chùm mền đánh cho như tử. Về sau nghe cô Hoa kể lại, nói, “Lúc ông Châu nói như thế, thấy ông Biện mặt tái đi và lình qua phòng giáo sư”

Nhưng tới trưa, sau giờ ăn ở cafeteria, chúng tôi lại như thường lệ kéo nhau sang quán cà phê gốc me ở khu kế bên uống cà phê. Hôm đó tôi nhớ có tôi, Biện, Dũng, Thạch và Cung. Thạch mới đi học tâp về, trước dậy ở trương Sinh Ngữ Quân Đội. Phúc Anh văn trưa hôm đó ở lại bộ môn không đi. Ngồi uống cà phê xong lúc gần về, tôi nói với tất cả biết sự vụ và hỏi thẳng Biện có phải Biện đã báo cáo cho Mỹ Điền hay không. Tôi nói tôi muốn biết để khỏi nghi người nọ ngưòi kia, còn Biện nếu có nói thì cũng chỉ là làm nhiệm vụ của mình thôi. Ngồi yên cả phút đồng hồ, Biện nói ngắn gọn, “Tôi nói.” Thấy mọi người đều im lặng, tôi nói, “Được rồi. Thế là không còn gì để thắc mắc nữa và coi như không có gì xẩy ra.”



Lúc về lại trường, Biện đi nhanh về bộ môn trườc, bọn tôi lững thững đi sau.Thạch là người đầu tiên nói, “Thật không thể tin được.” Cung nói tiếng Anh, “It's against my principle,” Dũng có vẻ bị xúc động nhất, nói, “ Thế này thì biết tin vào ai. Chỉ còn môt nhóm với nhau mà bây giờ ra cơ sự này.” Thế rồi mọi chuyện cũng qua đi, không khác gì “một trận bão trong chén trà,” và tôi vẫn giữ thái độ với Biện như cũ, vì dù sao nói chuyện với Biện vẫn thoải mái hơn là mấy giảng viên Nga văn. Nhưng trong số bạn bè ở trường thì hơi khác. Một hôm thấy tôi và Biện nói chuyện với nhau ở sân trường trên đường lên văn phòng, Bs. Ngà ở Khu Bệnh Lý hỏi tôi sao còn chuyện trò với người như thế. Tôi nói chuyện đã qua rồi, vả lại ngày nào cũng gặp nhau, nếu không thèm nhìn nhau nữa thì còn làm cho tôi khó chịu hơn.


Trong một buổi họp mặt ở nhà Phúc Pháp văn, sao khi nhậu ngà ngà, ngồi uống cà phê, Phúc coi chỉ tay cho một người nhờ xem là có đường nào xuất ngoại được không. Biện ngồi kế bên cũng giơ tay cho Phúc coi hộ hậu vận. Phúc nhìn bàn tay rồi khen hậu vận rất đẹp, không thua gì thởi trước 75, có điều là ngay cả đối với bạn bè, nếu cần là “hạ thủ bất lưu tình.” Mọi người hơi ngỡ ngàng, nhìn nhau rồi nói lảng sang chuyện khác.


Một hôm tôi hết giờ dậy ra về thì khi ra cổng, thấy Đính ngồi trên xe xích lô. Đính ngoắc tôi lại và hỏi tại sao không nói cho biết chuyện Biện, nếu muốn “tao đập cho nó một trận.” Đính ở tù gần một năm mới được về vì tội vượt biên, sống ngoài lề đường với chiếc xích lô. Tôi đùa bảo Đính bỏ qua đi Tám, mày muốn lãnh thêm tôi đánh cán bộ giảng hay sao. Đoạn tôi nói với Đĩnh hãy bỏ qua đi, dù sao thì chuyện cũng đã rồi, nuôi lòng oán hận thì mình làm mệt mình trước mà thôi.


Nói sao làm vây, hàng ngày gặp nhau ở bộ môn, tôi đối xử với Biện bình thường như không có chuyện gì đã xẩy ra. chúng tôi buổi trưa vẫn ra quán cà phê gốc me ngồi nhâm nhi chuyện trò, lâu lâu còn đến nhà một học trò cũ của Biện nhậu hay tới những quán cà phê mới mở tại tư gia các gia đình ở khu Phú Thọ. Rồi tới mùa sầu riêng, Biện rủ bọn tôi về Long Thành thăm vườn của mẹ Biện, và chúng tôi được dịp ăn mít tố nữ chín cây, và đặc biệt sầu riêng không hột mà Biện nói chỉ có một cây độc nhất trong vườn, và chỉ dành cho người trong nhà và thân hữu. Sau này khi tôi đã nghỉ dậy ở Y Khoa, được tin bạn bè trong bộ môn báo bà cụ Biện đã mất, tôi đi theo các bạn tới phúng viếng và ân cần chia buồn. Khi Biện hoạt động ở Hội Trí Thức Yêu Nước phụ trách việc sắp xếp giờ dậy cho các giảng viên Anh văn, đã xếp giờ cho tôi dậy hai lớp vào buổi tối và tôi đã dậy tới khi đi Canada. Về chuyện này, Dũng có lần nói đùa với tôi, “Biện nó thấy có nợ với ông nên tìm cách trả đấy.”


Cuộc sống ngày càng dễ chịu hơn vì thỉnh thoảng tôi được ông anh ở Canada gửi cho thùng quà, cái gì cần dùng thì giữ lại, còn không đem ra chợ trời bán mà tôi gọi là “ tái sản xuất.” Các lớp dậy tư ở nhà hay tới nhà học trò ngày một nhiều hơn. Đám học trò trường Tầu cũ tự tổ chức nhóm rồi tới mời Duỳn Sáng ( NguyễnSinh) tới dậy, có nhóm tôi dậy hơn mười năm tới khi người tổ chức nhóm được đi Mỹ.



Quảng chơi tennis ở Cercle Sportif với chị Nga, vợ Lý Quý Chung, từ trước đó, sau biết tôi đã chơi tennis được liền kéo tôi vào nhóm và gìới thiệu với chị Nga. Lúc chị Nga cần người dậy Anh văn cho năm đứa con, Quảng không dậy nên giới thiệu tôi. Tôi dậy cả nhóm này nhiều năm. Ngoài dậy học, tôi còn thường xuyên chơi mạt chược với chị Nga cùng với Quảng và vài người khác, trong đó cả cả nhạc phụ chị Nga là Lý Quý Phát, cựu phó đô trường Saigon. Ông này Tầu lai, nên tôi không phải là đối thủ mạt chược của ông được. Chị Nga làm các món ăn Tây ta cực giỏi, nhờ chị tôi biết ăn sôi và chè sầu riêng, mà trước năm 1975, khi được học trò biếu sầu riêng tôi đều chuyển cho ông anh họ.



Khoảng năm 1977-78, các bạn anh Trung là những bác sĩ quân y bị kẹt lại đi học tập tục tục trở về, tôi lại có thêm môt số bạn mới, như Tiến Cò, Nghĩa, Thịnh, Thụ và em của Lâm là Lai học trên anh Trung một lớp. Tất cả những người này khi về đều được làm bác sĩ trưởng phòng y tế phường, ai cũng được cấp nhà riêng, hay ở chung tại trụ sở y tế phường và đều ở khu Chợ Lớn. Trừ Nghĩa không được may mắn, mấy người kia phòng mạch rất đông khách, ngoài giờ làm ở phường, thời gian còn lại khám bệnh ở nhà, sáng sớm và chiều tối phòng mạch đông như chẩn y viện.

 Chồng khám bệnh, vợ bán thuốc, tiền thu vào không kể xiết. Riêng Thịnh và Lai nổi tiếng nhất ở khu vực đường Tản Đà và Tạ Uyên quận 11, đến độ đã có câu “ Nhất Thịnh, nhì Lai.” Tiến vẫn ở lại và làm lớn ở Bệnh viện Nhi Đồng, ba người kia đều ra đi. Gia đình Nghĩa không bao giờ tới bến bờ, còn Thịnh và Lai được đi chính thức theo diện H.O. Qua ở San Jose. Tôi cũng dậy Anh văn cho hai con của Thịnh và ba con của Lai nhiều năm trời và vì quá thân nên bọn nhỏ đều gọi tôi là Sư Phụ và hai con của Thịnh goị tôi là Bố Châu. Thụ về ở khu Lý Trần Quán, làm bác sĩ ở phường, phòng mạch ở nhà không có nhiều khách như vùng Chợ Lớn.


Vì có ba lớp Anh văn 'nòng cốt' này và mấy lớp học trò Tầu nên tôi không còn lo gì nữa, tới khi nghỉ dậy ở Y Khoa để chờ xuất cảnh vẫn bình chân như vại. Các con của chị Nga, Thịnh và Lai đều rất thành công. Chị Nga hồi đầu một thời gian mở tiệm cơm tấm ngon nổi tiếng ở khu Nguyễn Tri Phương, Chợ Lớn, về sau mở một Restaurant Café Thanh Niên tại sân quần vợt ở góc Nguyễn văn Chiêm và Hai Bà Trưng đông khách. Vợ chồng tôi trước khi đi Canada có ghé lại tiệm để ăn và từ biệt chị Nga.


Bạn mới và bạn cũ cũng lần lượt ra đi. Kiệt và Nghĩa trước khi đi đều qua trại của Trù ở Tân Qui Đông tập bơi cho thạo và tắm nắng cho đen, để khi đi về vùng biển trông không khác người địa phương, đỡ bị lộ. Kiệt trước khi đi còn ghé tôi cho một lô quần short, nói là cho con trai tôi, đồ này từ cửa hàng của cô bạn gái. Kiệt đi hai lần mới thoát, lần đầu ghe chìm, gần chết thì được ghe chài cứu. Nghĩa thì nói chẳng có gì, cho tôi ít thuốc bổ và trụ sinh kèm theo cái ống nghe, bảo tôi nếu Nghĩa đi thoát thì tôi bán ống nghe đi hoặc cho ai cũng được. Sau này tôi đã đưa cho Thịnh. Thụ cũng đi thoát, chúng tôi chỉ được tin do cô em họ còn ở lại cho biết.


Người bạn Y Khoa ra đi sớm do vợ bảo lãnh là Bs. Ngà. Chị Ngà và con trai vượt biên được tầu Đan Mạch vớt nên qua định cư ở nước này. Ngà thường kể chuyện vợ con cho tôi nghe, nào hai mẹ con được cấp nhà hai phòng ngủ, con trai được luyện cả bóng đá là môn cháu ưa thích. Khi chị Ngà đã đủ điều kiện bảo lãnh chồng thì được cấp nhà mới lớn hơn. Thời gian này Ngà tới nhờ tôi dượt Anh văn để chuẩn bị đi. Ngà qua Đan Mạch rồi sau đó xin được qua Mỹ, ở San Jose. Năm 2012 tôi qua San Jose dự Class Reunion ĐHSP '61, đã có dịp gặp lại, ăn nhậu và chơi tennis với Ngà và Lai, em của Lâm. Cũng tại San Jose, tôi đã nhiều lần gặp lại Hoan. Quảng và Lâm cũng sống ở đây, và mỗi khi tôi qua Đính cũng từ San Francisco lái xe xuống. Ở vùng Orange County thì có Lê Anh Dũng và Nguyễn Viết Long. Tóm lại qua được Cali thì Nam hay Bắc đều được gặp bạn cũ dậy ở Y khoa, bên ly rượu nhắc chuyện xưa, chẳng còn gì vui thú cho bằng.



Sau nhiều thập niên xa cách, cuối cùng bốn đứa cũng có cơ may được gặp lại nhau tại Bắc California

Tuy đời sống không còn những lo lắng như trước, nhưng trong thâm tâm tôi vẫn cảm thấy ở đây chỉ như tạm bợ. Chính tôi phải dạy học suốt tuần mới đủ ăn, khiến tôi đôi lúc thảng thốt không biết các con sau này chúng nó sống ra sao. Không có gan đi chui thì phải lo đường đi chính thức, nhất là sau khi con gái tôi, lúc đó mới lên tám, luyện tập thể dục dụng cụ tại Club Hippique cũ, được nữ huấn luyện viên từ Bắc vào tận tình hướng dẫn. Vì thấy cháu có năng khiếu nên cô này đã đề nghị cho cháu được đi tập huấn hai tháng hè ở ở Trung tâm Huấn Luyện Từ Sơn, Hà nội. Tôi phải lên Sở Thể Thao thành phố làm giấy tờ kèm theo giấy chứng nhận của công an phường. Nhưng cháu đã bị từ chối vì lý lịch Bắc Kỳ Di Cư của tôi.


Cuối năm 1978, anh tôi đã gửi cho tôi một giấy bảo lãnh. Nhưng vì hồi đó tôi chưa bị thôi thúc về chuyện ra đi và nhất là thấy trong tờ giấy chỉ có tên tôi nên tôi bỏ qua một bên. Tới đầu năm 1980, bạn thân của tôi và Dũng là Khôi, trước làm ở Nha Công Tác Quốc Tế thuộc Bộ Giáo Dục, được đi Canada theo diện đoàn tụ. Tôi bèn nhờ Khôi cầm thơ tay qua cho anh tôi nhắc tới chuyện bảo lãnh. Anh tôi bảo dùng giấy bảo lãnh đó đươc rồi và tôi làm theo, quả nhiên đơn được chấp thuận.


Yên tâm được phần nào, tôi tà tà dậy học, dành nhiều thì giờ hơn cho mạt chược và tennis. Vào chơi với nhóm chị Nga và Quảng, quần áo và giầy tennis phải phải nâng cấp vì trong nhóm nhiều người có thân nhân ở ngoại quốc gửi đồ xịn cho. Giầy mau hư nên hầu như ai cũng phải lót đế giầy bằng lốp xe hơi, thường là lót phía mũi và gót. Việc này có các thợ lành nghề lo, khâu và dán keo rất điệu nghệ, sài mãi mới mòn. Tôi còn đem cái bao vợt Wilson tới chỗ chuyên may túi xách, nhờ họ làm cho túi đeo vai đựng đồ nghề, phần ngoài may luôn túi đựng vợt này vào. Thế là tôi có túi đựng sách vở dậy học kèm theo cả chỗ đựng chiếc vợt Wilson 2000 cán ống nhôm, rất phổ biến thời đó.


Sở dĩ tôi làm túi này vì sau giờ dậy buổi trưa ở Y Khoa, tôi có thể phóng xe đi thẳng tới CLB Lao Động chơi tennis. Một hôm đang chơi ở sân Số 1 kề ngay hàng hiên lớn có kê bàn ăn uống giải khát, phía trên là ban-công một hội trường lớn. Khi tôi đang chơi thì trên hội trường có khóa họp cán bộ từ các nơi về dự. Tới giờ nghỉ, các cán bộ ra đứng ở ban công ngó xuống coi thiên hạ chơi tennis, từ sân Số 1 tới sân Số 4, rồi tới hồ bơi.


Tôi chợt nghe hai người nòi chuyện với nhau, một người như cố tình nói lớn để mấy người dưới sân có thể nghe được, “Tới bây giờ mà chúng nó vẫn còn chơi quần vợt được!” Từ đó tôi mới quyết định đem theo vợt tới trường xem họ khó chịu tới mức nào. Không biết các cán bộ có nghĩ gì về tôi hay không, chỉ thấy đám sinh viên gốc Ngụy có thiện cảm với tôi ra mặt. Một hôm dậy xong giờ cuối, tôi trở lại văn phòng soạn bài giảng. Lúc ra về đã gần sáu giờ. Lúc tới chỗ xuống cầu thang thì một nhóm sinh viên năm thứ hai vẫn còn ở đó sinh hoạt tổ. Một nữ sinh viên đang hát bài “Khúc hát Thanh Xuân”. Em này tôi cảm thấy rất Nguỵ, mặc áo trắng vải tuyn hở cổ rất rộng, đeo một cái thánh giá bạc thiệt lớn, đầy vẻ thách thức. Tôi dừng lại nghe em hát hết bài rồi mời đi tiếp. Các em giữ tôi lại và yêu cầu tôi hát một bài. Xúc động vì bài hát của em, lúc hát em mơ màng nhìn về một cõi xa xăm nào đó, tôi nói vì hát dở nên ngâm – đúng ra là đọc – một bài thơ cũ. Tôi nghĩ ngay tới bài Tiếng Hát Buổi Chiều Mùa Xuân của Thái Thủy mà tôi rất thích, đăng ở Sáng Tạo từ ngày tôi còn học ở Văn Khoa. Bài thơ dài nên chỉ ghi lại bốn câu đầu và bốn câu cuối:


Anh bỡ ngỡ trong chiều xuân nắng đẹp,
Người yêu nhau đầy đại lộ công viên.
Tiếng em hát đưa anh về quá khứ,
Những bước song hàng trên lối đi quen...

....

Mình không ngờ minh si mê đến thế,
Ba năm còn giữ trọn giấc mơ xưa.
Để chiều nay nghe tiếng hát em thơ,
Thấy môi mặn, ô hay mình vừa khóc!


Bài thơ về một cuộc tình lỡ, buồn và đẹp lung linh, sặc mùi tiểu tư sản. Cả nhóm sinh viên đều ngồi yên lặng, em lúc trước đó hát hai mắt rưng rưng lệ. Tôi cũng không ngờ mình xúc động đến như vậy, vội cười lớn nói, “Thôi, thầy về. Các em học tập tốt, lao động tốt nghe.”


Đơn xin xuất ngoại đã nộp rồi, việc quan trọng là phải tìm mối chạy mới nhanh được, quy luật muôn đời vẫn là “nhất thân, nhì thế, tam tài, tứ chế.” Thân và thế ngó quanh không thấy, thứ ba là tiền thì ít tôi còn lo được, nếu nhiều đành thua. Khoản thứ tư thì coi như chờ sung rụng. Vậy mà bỗng dưng tôi thấy có đường thoát. Một người bà con rất thân với gia đình bà xã tôi từ Bắc vào công tác, nói có bạn là công an làm ở Sở Ngoại Vụ lo về xuất cảnh, có thể nhờ giúp được. Một hôm bà này tới nói với vợ chồng tôi chỉ cần đưa cho bạn mình 3.000 đồng làm quà là được rồi. 
Tôi không còn nhớ nếu đổi ra vàng thì được bao nhiêu vào thời điểm 1980-81, nhưng lương tôi lúc đó là $60, sau được thêm $30 trợ cấp cho cán bộ khoa học. Sau khi bán vài món đồ, chúng tôi gom góp đủ số tiền và hí hửng chờ đợi vì nhờ được đúng tổ con chuồn chuồn. Mấy tuần sau người đó trở lại, nói cô chú chuẩn bị đi, một hai tháng nữa sẽ có xuất cảnh. Tôi mừng rơn và nghĩ phải thanh toán cái gì trước cho gọn nhà. Đầu tiên là tôi bán tủ sách, chỉ giữ lại mấy quyển thường dùng để dậy học. Đây là tù sách chọn lọc các sách giáo khoa Anh văn mà tôi đã mua từ thời học đại học cho tới khi đi dậy tính ra đã hơn hai muơi năm. Tôi gọi môt anh bạn quen bán sách ở chợ trời và anh này đề nghị $200, tôi bán ngay để giải quyết cho lẹ. Anh ấy bỏ sách đầy ba bao bố, xếp lên xích lô cao gần tới mặt người đạp xe.


Biết chuyện đi đứng của tôi có chiều hướng thuận lợi, Dũng bảo tôi đi coi bói xem sao. Dũng biết ông thầy bói Kim ở đường Võ Tánh, nổi tiếng về bói Dịch. Tôi theo Dũng tới nhà thầy bói Kim, xin coi một quẻ. Ông thầy đưa cho tôi mấy đồng tiền kẽm, tập trung ý nghĩ vào việc muốn biết, rồi thả mấy đồng tiền xuống bàn. Ông coi các mặt xấp ngửa, bấm đốt ngón tay tính toán, rồi phán một câu ngắn gọn nhưng dư lực làm tôi xìu như trái bong bóng hết hơi, “Theo quẻ này tôi không thấy có long có mã, nếu ông tính chuyện đi đứng thì tôi thấy không có đường nào đi cả!” Nhận $15 thù lao, ông thầy bảo tôi nếu dăm bẩy tháng chưa thấy gì thì trở lại xem có gì biến chuyển hay không. Ra về, tôi tuy thất vọng nhưng tự trấn an rằng biết đâu ông thầy chả bói sai trong khi mình nhờ được chỗ tin cẩn.


Mấy tháng sau Dũng lại đưa tôi tới một chỗ khác ở miệt Gia Định mà tôi chỉ còn nhớ nhà bà thầy bói ở trong một xóm, lối vào nhà qua một rặng tre. Bà thầy bói bài tây và xem cả chỉ tay, nhưng tôi thấy chỉ bói chung chung, không dứt khoát như thầy bói Kim. Tôi ra về, lo chuyện dậy học và chờ đợi thôi. Tôi dậy thêm mấy nhóm, và phải ra chợ trời chỗ người bạn mua lại mấy cuốn sách mà tôi đã bán cho anh ấy. Có điều mua có năm cuốn mà tôi đã phải trả gần bằng cả tủ sách mà trước đó mấy tháng tôi đã bán ra, vậy mà vẫn lấy làm mừng vì chưa bị ai mua mất.

Chờ đợi cả năm trời không thấy được gọi lên lấy xuất cảnh, mà người bà con bà xã đã ra lại ngoài Bắc, nên vợ chồng tôi bán tín bán nghi không biết mình có bị lừa hay không. Cho tới sau này khi được gọi lên bổ túc hồ sơ thì mới biết chắc mình đã bị lừa, vì theo thủ tục không thể có ngay xuất cảnh sau khi chỉ nộp đơn. Và tới nay chúng tôi vẫn không biết ai đã lừa, người bà con hay là người bạn bà này hay là cả hai!

Đến đầu năm 1983 khi tôi không còn mấy hy vọng nữa thì đột nhiên nhận được giấy báo bổ túc hồ sơ xuất cảnh. Chuyện nộp đơn xin xuất cảnh tôi chỉ nói bóng nói gió trong bộ môn, nhưng ai cũng biết chuyện là tôi đã tính đi. Một hôm chị Ngọc nói với tôi là có gặp ông Mười Năng, đảng ủy hiệu bộ, ông này nói với chị rằng tình hình này chắc ông Mỹ Điền sớm muộn sẽ không còn làm trưởng bộ môn nữa, và hỏi chị nghĩ sao về tôi. Chị Ngọc nói hình như tôi đã nạp đơn xin xuất cảnh đoàn tụ gia đình rồi. Mười Năng nói thế thì hỏng bét, phải tính lại chuyện khác thôi. Nghe chị Ngọc nói vậy, tôi bèn nói ngay là quả thực tôi sẽ xin nghỉ khi nhận được giấy báo bỏ túc hồ sơ, và nhắc lại chuyện Niêm đề nghị tôi làm phụ tá giáo vụ bộ môn nhưng tôi đã từ chối.


Tôi vào gập Mỹ Điền báo cho biết tôi sẽ nạp đơn xin nghỉ. Điền nói biết nếu có cơ hội là tôi cũng đi thôi và còn nói tôi là giảng viên cuối cùng trước 75 còn sót lại. Mỹ Điền lúc đó cũng có vẻ đã mệt mỏi và không còn tin tưởng gì nhiều sau khi những người mà ông ta coi là gương mẫu cho bọn tôi đã lần lượt trốn đi, và nhất là giữa ông và hiệu bộ có vấn đề. Ông chúc tôi may mắn và cám ơn tôi đã giúp đỡ ông nhiều từ lúc ông về làm chủ nhiệm bộ môn.

Hồi đó các giáo viên dậy trung học xin xuất ngoại khi được gọi bổ túc hồ sơ có thể xin khất với nhà trường cho tới khi nào nhận được giấy xuất cảnh mới chính thức nghỉ việc. Tôi không rõ các đại học khác thì sao, nhưng riêng Trường Y thì không chấp nhận chuyện này, nói rằng cán bộ giảng đào tạo cán bộ cho nhà nước, nên nếu đã tính bỏ đi thì phải nghỉ luôn, vì có ở lại thì cũng không công tác tốt được, nếu không nói là có ảnh hưởng tiêu cực đối với nhân viên khác, nhất là đối với sinh viên. Đơn xin nghỉ của tôi được chấp thuận ngay và tôi được trả ba tháng lương cuối, hình như lúc đó được 124 đồng một tháng.

Hơn một năm sau tới giữa năm 1984 tôi mới được giấy báo gọi lãnh giấy xuất cảnh. Dĩ nhiên sau vụ mất tiền lần trước, tôi không nghĩ tới chuyện tìm mối chạy chọt nữa. Tôi tà tà dậy học, mở thêm một hai lớp cho có thêm thu nhập, giờ rảnh ban ngày chơi tennis, buổi tối chơi mạt chược với bạn bè, chuyện đi đứng lúc nào tới thì tới. Chính nhờ tâm lý đã ổn định mà cuộc sống của tôi thật thoải mái. Tuy vậy, đợi ít lâu sốt ruột tôi cũng đi tìm thầy để hỏi xem sao. Lần này không phải là thầy bói chuyên nghiệp mà là hai thầy tài tử, đều là bạn tôi.


Bùi Thế San và Nguyễn Nhật Duật đều là giáo sư, một người dậy Vạn Vật, một người dậy Việt Văn. Sau 4-75 họ còn có thêm nghề tay trái là coi bói, San chuyên về bói Dịch và Duật xem tử vi. Nghề tay trái này giúp hai bạn tôi đỡ tốn tiền quà sáng rất nhiều, đôi khi tôi còn được ăn ké. Duật lấy ngày giờ sanh của tôi rồi bấm tử vi, phán rằng tôi chưa thấy có đường đi. San bảo tôi lấy lọ tăm, bốc ra một ít. Đếm xong rồi tính toán, San nói theo quẻ này thì tôi đáng lẽ đã phải lãnh xuất cảnh rồi, không hiểu sao bây giờ vẫn chưa có. Bán tín bán nghi, nhưng nghe San nói vẫn thấy an ủi hơn nhiều, và tôi yên tâm chờ đợi. Khi đã lãnh xuất cảnh, tôi thấy ngày tháng ký xuất cảnh trước hôm San coi bói cho tôi khoảng hai tháng. Tôi không nghĩ là San giỏi hơn Duật, mà tôi và San hợp với nhau hơn. Trước khi tôi bốc tăm, San bảo tôi phải tập trung vào điều mình muốn biết, tâm có động thì quẻ mới ứng.

Đợi đến đầu năm 1986 thì tôi được giấy gọi đi gặp phái đoàn Canada phỏng vấn. Vì bạn tôi là Khôi cũng đã có gia đình được đi trước đây nên tôi khá yên tâm sẽ được chấp thuận. Điều làm tôi lo nghĩ là vấn đề sức khỏe. Sợ nhất là vụ chụp hình phổi vì Canada xứ lạnh nên rất khó khăn cho những ai phổi có vấn đề, và đám chụp hình phổi ở bệnh viện Chợ Rẫy tìm đủ mọi cách để moi tiền. Kinh nghiệm những người đã đi trước cho biết là phải ăn uống tẩm bổ cho tốt để lên cân. Thế là phở nước béo với hột gà ăn hàng ngày. Họ còn nói tuần lễ trước khi đi khám sức khỏe phải uống nước dừa cho phổi trong. Sau này tôi bị cao Cholesterol chắc một phần cũng vì giai đoạn này.


Ngày phỏng vấn cả nhà ăn mặc chỉnh tề, riêng tôi mặc đồ lớn đeo cravate đàng hoàng, giấy tờ để trong chiếc cặp da còn rất láng. Vì anh tôi sống ở bên kia Sông Ottawa thuộc Quebec nên người phỏng vấn hỏi tôi nói được tiếng Pháp không. Tôi nói được nhưng không lưu loát vì ít sử dụng, xin được nói tiếng Anh. Cuộc phỏng vấn cả nhà kéo dài gần tiếng đồng hồ, nhân viên di trú hỏi tôi về nhiều vấn đề. Tôi mừng thầm trong bụng vì nghĩ rằng như vậy là xuôi xẻ, nhưng cuối cùng ông này đứng lên bắt tay tôi và cám ơn, nói rất tiếc là Canada hiện chỉ cần công nhân chuyên môn. Vợ chồng tôi choáng váng, lúc về nhà chân đi bước thấp bước cao.


Bị từ chối, tôi phải làm hai việc thật gấp: viết thư báo cho anh chị tôi biết tự sự và hỏi coi thể kiếm cho tôi một việc làm trước nào đó ở Canada hay không, nếu có được lúc tái phỏng vấn sẽ có nhiều cơ may được chấp thuận.


Mặt khác, tôi nộp một đơn xin chuyển cảnh qua Mỹ mà anh vợ tôi đứng ra bảo lãnh. Nếu được, bên nào cho đi trước thì tôi theo bên đó. Sau khi đơn xin chuyển cảnh qua Mỹ được chấp thuận, tôi liên lạc được với bà Bùi Thạnh, cựu Hiệu Trưởng Anh Văn Hội Việt Mỹ, xin cấp lại cho tôi giấy chứng nhận đã dậy ở Hội Việt Mỹ. Giấy cũ hôm 1-5-1975 trong cơn hốt hoảng tập thể, tôi đã đốt cùng với collection Playboy mấy chục số mà Nguyễn Viết Long đã mua dần cho tôi. Bà Thạnh đã rất sốt sắng viết giấy chứng nhận cho tôi với những nhận xét rất thuận lợi.

Ít lâu sau, anh chị tôi gửi về cho tôi giấy tờ chứng nhân đã xin cho tôi được làm superintendent cho một chúng cư gồm 22 đơn vị ở Laval, Quebec. Chị tôi nói công việc này dân Canada chính gốc ít làm vì vửa phải làm giấy tờ như sổ sách kế toán vừa phải làm việc chân tay như lo sửa điện và ống nước. Chị tôi cũng nói đã nhờ một người bạn Canada làm ở Immigration để ý tới trường hợp của tôi. Để chuẩn bị tôi cũng tới tiệm sửa đồ điện của một người bạn tuần hai buổi phụ giúp để cho quen với đồ điện, còn về ống nước thì thua vì không quen biết ai.


Tới giữa năm 1987 tôi được gọi đi phỏng vấn lần thứ hai. Lần đầu tôi cứ yên chí mọi chuyện sẽ tốt đẹp nên không nhờ San và Duật coi bói trước cho tôi. Bị một cú rồi như chim phải tên, nên tôi có ý nhờ xem trước để chuẩn bị tâm lý. Hai ngày trước khi đi phỏng vấn, San và Duật đến tôi. Duật nói lần trước có thể ngày giờ sanh của tôi không chính xác nên lần này Duật lấy tử vi của hai đứa con tôi, rồi chiếu vào tử vi của tôi, thì không thể sai được, vì ngày giờ sanh của hai con tôi nhất địng phải đúng 100%. Sau khi đối chiếu ba lá số tử vi của tôi và hai con, Duật nói lần này không thể xểnh nữa. Bà xã tôi ngồi cạnh, nhờ San bói dịch xem có đi được không, vì nếu bà xã tôi kẹt thì coi như bọn tôi kẹt theo luôn. San đưa cho bà xã tôi ba đồng tiền kẽm, bảo tập trung vào điều mình muốn biết rồi gieo tiền vào cái bát. San nhặt tiền lên, tính toán một lúc rồi nói theo quẻ này thì chưa thấy có đường đi. Chúng tôi đồng ý là cứ đợi hai hôm nữa sẽ biết.


Rút kinh nghiệm, lần này đi gặp phái đoàn bọn tôi ăn mặc vừa phải, sơ mi cravate cho đủ phép lịch sự thôi, chứ không lên khung như lần trước. Lúc gặp nhân viên phái đoàn, ông này lịch sự mời chúng tôi ngồi rồi mở hồ sơ ra coi. Ông nhìn tôi cười cười rồi hỏi có biết tại sao tôi được gọi đi phỏng vấn hay không. Ông tính nói gì nhưng lại thôi và bắt đầu hỏi tôi những câu hỏi mà tôi đã được hỏi lần trước. Ngồi nói chuyện hơn nửa tiếng tôi bắt đầu thấy lo vì để ý thấy các gia đình được chấp thuận thường hoàn tất cuộc phỏng vấn quanh mười lăm phút, trong khi lần trước cuộc phỏng vấn tôi khéo dài gần một tiếng. Quả nhiên một lúc sau, ông này cám ơn tôi và nói việc làm giám thị cho một chung cư không thích hợp với tôi vì tôi chỉ chuyên về dậy học . Dù tôi có biết về sửa điện, nhưng nhìn bàn tay tôi cũng biết tôi không thể nào sánh được với những người từ Đông Âu, nếu chọn tôi thì bất công đối với những người đó. Đoạn ông nói với bằng cấp và kinh nghiệm dậy học của tôi, hay nhất là nhờ anh chị tôi xin cho dậy học ở một trường nào đó.

Ra về tôi tuy thất vọng nhưng không buồn và bẽ bàng như lần trước. Tôi có cảm tưởng phái đoàn đã đọc trước hồ sơ và và các gia đình đã được quyết định từ trước tùy theo các tiêu chuẩn và chính sách di trú lúc đó. Việc phỏng vấn chỉ là một thủ tục nhận diện những người được chấp thuận. Sau khi bị từ chối hai lần liền, tôi không còn hy vọng gì nhiều về việc được đi Canada nữa, và chỉ chờ đợi được phía Mỹ gọi thôi. Đột nhiên vào đầu năm 1988 tôi được giấy gọi đi khám sức khỏe để làm thủ tục đi Canada vì cả nhà tôi đã được chấp thuận mà không cần phỏng vấn lại. Sau tôi mới biết là đầu năm 1988 Bộ Di Trú Canada cho một số đông những gia đình đã bị từ chối được phép nhập cư Canada và khoảng thời gian này chỉ kéo dài bốn tháng.


Tới giai đoạn cuối là khám sức khỏe để xuất ngoại của tôi vẫn có vấn đề. Hình phổi của tôi bị ghi “Sẹo lao ở đỉnh phổi trái đã ổn định.” và tôi phải đợi tái khám. Tôi gặp Bs. Bạch Cúc làm việc ở khu khám sức khỏe xuất ngoại ở Bệnh viện Chợ Rẫy hỏi chuyện. Bác sĩ Bạch Cúc ra trường cùng năm với anh Trung ở Khu Phẫu Thuật Thực Hành và chúng tôi thỉnh thoảng vẫn đi chèo thuyền với nhau ở Thanh Đa cùng với Bác sĩ Trưởng khu Thái Minh Bạch. Bác sĩ Cúc nói đã xem phim phổi của tôi và nói tôi không bị lao, nhưng họ đã phê như vậy là có y muốn mình phải chạy thôi. Bs. Cúc bảo tôi phải dùng hạ sách: cho tôi uống thuốc lao Rimifon trong một tuần lễ. BS.Cúc nói làm như vậy là bất đắc dĩ, nhưng tin chắc tôi qua Canada sẽ không bao giờ bị lao cả. Bác sĩ bảo tôi ăn uống tẩm bổ nghỉ ngơi cho tốt, muốn uống nước dừa “cho trong phổi” cũng được, hai tuần sau đi tái khám. Mọi chuyện còn lại để bác sĩ lo.

Cùng thời gian này tôi được giấy gọi gặp phái đoàn Mỹ và cuộc phỏng vấn đã êm xuôi như đi dạo công viên. Nhân viên phái đoàn coi qua hồ sơ của tôi, ngồi nói chuyện thêm khoảng mười phút rồi đứng lên bắt tay chúc mừng chúng tôi. Khi tôi ra về, mấy người ngồi đợi vào phỏng vấn hỏi chúng tôi sao ra nhanh vậy, chắc bị từ chối rồi phải không! Tôi mỉm cười không trả lời, muốn để họ nghĩ sao cũng được. Riêng tôi thì nghĩ nếu trước đó tôi không được Canada cho đi, chắc hẳn chúng tôi còn cảm thấy sung sướng hơn nhiều.

Kết quả khám sức khỏe đi Mỹ vẫn liên quan tới hình phổi của tôi, và lần này còn bị phê nặng hơn, “Lao đang thời kỳ tiến triển.” Được gọi tới Chợ Rẫy, tôi một lần nữa lại gặp may. Bác sĩ phụ trách hồ sơ sức khỏe của tôi là Bs. Thắng, một sinh viên cũ năm thứ hai mà tôi đã dậy năm 1973. Tôi không nhận ra học sinh cũ của mình, mà chính Bs. Thắng đã chào tôi và tự giới thiệu. Thắng nói tôi không bị lao gì cả và biết cách phê trong hồ sơ ra sao để tôi có thể được đi. Thắng nói thêm là về sức khỏe Mỹ không đòi hỏi khắt khe như Canada. Thắng bảo tôi cứ yên tâm ra về. 
Cám ơn Thắng xong, tôi chạy xe về thẳng nhà bố mẹ tôi báo tin. Mợ tôi cho biết Kim Khánh cũng vừa ra khỏi. Khánh là bác sĩ nha khoa, trưởng khoa Răng Hàm Mặt ở bệnh viện Chỡ Rẫy. Khánh là con gái đạo diễn Khương Mễ, người Nam tập kết ra Bắc. Khánh tốt nghiệp nha khoa Đại Học Hà Nội. Và lấy Thành, con trai anh họ mợ tôi. Mợ tôi có nói chuyện với Khánh về việc khám sức khỏe đi Mỹ của tôi đã gặp khó khăn, Khánh nói sẽ tới nhờ Bs. Lã Hỷ, y sĩ trưởng phụ trách việc khám sức khỏe người đi nước ngoài. Tôi cho bố mợ tôi biết chuyện đã được Bs. Thắng hứa giúp, mợ tôi bảo có thêm người giúp càng chắc ăn. Tôi về nhà thì cũng đúng lúc vợ tôi đi dậy Dưỡng Sinh về. Từ ngày tôi nghỉ vợ tôi cũng xin nghỉ dạy học luôn và chuyển qua dạy Dưỡng Sinh. Nghe biết chuyện, vợ tôi rất mừng và nói phải kiếm cái gì thật ngon ăn mừng cùng hai con.

Mấy hôm sau Khánh ghé nhà tôi cho tôi biết đã ngỏ lời nhờ Bs. Lã Hỷ và đã được nhận lời giúp. Khánh bảo tôi tối hôm đó tới nhà Bs. Hỷ để giới thiệu và cám ơn. Khánh nói chỉ đến người không vì Khánh cùng học và chơi thân với Bs. Hỷ ở Hà Nội như anh em. Tôi bảo Khánh để tôi biếu Bs. Hỷ một két bia Heineken như chỗ thân tình. Bs. Hỷ tiếp tôi rất niềm nở và Khánh giới thiệu tôi là anh họ chồng Khánh và là giảng viên ở Y Khoa cho tới năm 1983 mới nghỉ khi bổ túc hồ sơ xuất cảnh. Bs. Hỷ cười rồi nói đã coi hồ sơ của tôi và chẳng giúp được gì cả vì tất cả đều ghi là tốt, nên không dám nhận công. Tôi cũng cười và nói đây là chút quà làm quen, chứ không thể coi là trả công được. Bs. Hỷ nói tôi là anh họ Khánh thì cũng như anh em cả và để mừng gặp mặt khui ba lon cùng uống. Khi ra về, tôi cứ thắc mắc không biết Thắng đã phê gì vào hình chụp phổi của tôi.


Việc cuối cùng buộc tôi phải lựa chọn là vào đầu năm 1989 khi tôi được Sở Ngoại Vụ gọi lên lấy vé máy bay đi Canada thì tôi cũng được gọi đi làm thủ tục đăng ký chuyến bay đi Mỹ. Đã có vé đi Canada trong tay, nay tôi phải xem có nên đăng ký đi Mỹ hay không. Bình thường phải mất tối đa hai tháng sẽ có vé. Chúng tôi bèn làm một cuộc họp khẩn cấp đại gia đình và lấy ý kiến bạn bè, thì ai cũng khuyên là “Tam thập lục kế, dĩ đào vi thượng.” Hai tháng trời có thể có nhiều chuyện xẩy ra, nhất là trong chế dộ này cái gì làm được là phải làm ngay. Nhiều người được giấy xuất cảnh đã giấu tất cả mọi người để đề phòng bất chắc. Tuy hơi nghiêng về phía Mỹ nhưng chúng tôi quyết định đi Canada, sớm phút nào là ăn chắc phút đó. Đến nay chúng tôi thấy không ân hận chút nào về quyết định này.

Trước khi đi Canada, tôi bán chiếc Honda 67 được một cây vàng và ngôi nhà ở đường Nguyễn Thiện Thuật được hai cây. Nhà không thể sang nhượng cho ai khác, hoặc là giao cho chính phủ giữ hộ, bao giờ về sẽ trả lại, hoặc là bán đứt cho chính phủ. Dại gì “giao trứng cho ác,” chúng tôi quyết định bán, được đồng nào hay đồng đó. Sở Nhà Đất đã căn cứ vào giấy tờ mua nhà của tôi và trả cho tôi giá ăn cướp là hai cây vàng, quá thấp so với thời giá. Tôi tự an ủi là đã không mất tiền thuê nhà 14 năm trời. Về căn nhà này, người hàng xóm cũ kể lại là ngay buổi chiều ngày tôi đi, một thương phế binh đã bẻ khóa vào 'cắm dùi.' Sở nhà đất tới ' làm việc ' rồi thương lượng. Cuối cùng hóa giá căn nhà bán cho thương phế binh này với giá bốn cây. Hóa ra nhà nước làm kinh tế giỏi, đầu tư lời 100% trong vài ngày. Ông bà hàng xóm của tôi cuối năm đó mua lại căn nhà này với giá mười cây vàng. Xem ra ông thương phế binh còn giỏi hơn cả ông nhà nước.

Chúng tôi rời Saigon vào một ngày cuối Tháng 3. Lúc phi cơ bay vào không phận Thái Lan rồi chúng tôi mời cầm tay nhau, thở phào nhẹ nhõm, tuy còn lo ngại đôi chút là đi Hàng Không Việt Nam, nhỡ có chuyện gì không biết họ có ra lệnh cho phi cơ quay trở lại hay không. Ở lại trại chuyển tiếp hai ngày, chúng tôi đi máy bay KLM tới Amsterdam rồi bay tiếp qua Canada.

Phi cơ tới Vancouver thì chúng tôi làm thủ tục nhập cảnh rồi đổi qua Air Canada bay tiếp về Montréal, Anh chi tôi và vợ chồng cô em gái lên đón chúng tôi tối 29-3-1989 và đưa ngay về Ottawa tối hôm đó. Đến nay tính ra đã gần ba mươi năm chúng tôi chưa trở về lại Việt Nam lần nào. Có hai giấc mơ cứ ám ảnh tôi cho tới bây giờ: thỉnh thoảng tôi vẫn nằm mơ thấy bị mất chiếc Honda 67 -- gia tài của tôi -- và mơ thấy bị mất xuất cảnh, hoặc ra tới phi trường tìm mãi không biết để xuất cảnh ở đâu, hoặc về Việt Nam chơi nhưng bị mất cắp xuất cảnh không về lại Canada được. Vì mơ đi mơ lại nhiều lần nên trong những lần mơ sau, tôi còn tự nhủ đây chắc là thực chứ không phải là mơ nữa! Tỉnh dậy, mồ hôi lạnh đầy mình nhưng mừng vô kể.

Tuy bây giờ những giấc mơ này không còn thường như những năm mới qua nữa, nhưng tôi cảm nhận được những năm sau 4-75 đã ảnh hưởng tới tâm trí tôi như thế nào. Tình cờ tôi viết xong hồi ức này vào ngày cuối Tháng 4 sau hơn một tháng trời kể từ hồi sau Tết. Đã 42 năm trôi qua, sao cứ vào thời gian này là lòng lại buồn và nuối tiếc cái gì quý nhất đã mất vĩnh viễn. Ngày 30-4 năm nay lại mưa suốt ngày đêm kèm theo gió lạnh. Trời đất và lòng người cứ ảm đạm vào những ngày cuối Tháng 4 mãi hay sao?

Nguyễn Phong-Châu
Ottawa, 30-4-2017

No comments: