Saturday, May 20, 2017

NGUYỄN THIÊN-THỤ * BÙI NGỌC TẤN TRONG CHẾ ĐỘ CỘNG SẢN




BÙI NGỌC TẤN TRONG CHẾ ĐỘ CỘNG SẢN

NGUYỄN THIÊN-THỤ


BÙI NGỌC TẤN (1934-2014) sinh  tại Câu Tử, Hợp Thành, Thủy Nguyên, Hải Phòng. Ông bắt đầu viết văn, viết báo từ 1954, làm phóng viên báo Tiền Phong, Hà Nội, được nhiều giải thưởng trong khoảng 55-60. Ông thuộc lớp văn nghệ sĩ đồng thời với Lê Bầu, Lê Mạc Lân (là con Lê Văn Trương), Vũ Thư Hiên, Nguyên Bình, Vũ Bão. Sau ông về tỉnh nhà làm báo Hải Phòng Kiến Thiết. Sau bị mất tín nhiệm về việc mất lập trường, phải đi làm việc hành chánh cho công ty thủy sản Hải Phòng. Năm 1968, ông bị bắt trong vụ án xét lại hiện đại, bị tù năm năm (1968-1973), và bị treo bút 20 năm. Ông đã trở lại văn đàn với bài Nguyên Hồng, Thời đã mất đăng trên tap chí Cửa Biển tại Hải Phòng năm 1993 ( tài liệu khác ghi 1989). Khoảng tháng 4-2001, ông được giải nhân quyền Hellman-Hammett của HRW về tác phẩm Chuyện Kể Năm 2000. Ông bị cộng sản gây rắc rối nên chưa nhận được tiền thưởng. Ông viết thư cho Hội NhàVăn về việc nhận giải thưởng này:Tôi được tặng giải là do tập tiểu thuyết Chuyện Kể Năm 2000 của tôi, trong đó tôi thuật lại trung thực cuộc đời tù tội oan ức của tôi với một thái độ chân thành và xây dựng[.]. Nếu đó là quyển sách phản động, chắc chắn tôi không nhận giải.


Tác phẩm : Một thời để mất, hồi ký, 1995; Những người rách việc, tập truyện ngắn, 1996; Chuyện kể năm 2000, tiểu thuyết, 2000; Rừng xưa xanh lá, ký chân dung, 2004; Kiếp chó, tập truyện ngắn, 2007; Biển và chim bói cá, tiểu thuyết, 2008 .

Bùi Ngọc Tấn đã sống trong chế độ cộng sản, làm việc với cộng sản, đã ngồi tù cộng sản cho nên ông rất hiểu cộng sản. Tác phẩm của Bùi Ngọc Tấn cho chúng ta thấy một xã hội công sản độc đoán, tàn bạo với nhiều cảnh sắc khác nhau:

-Nhà tù cộng sản
-Xã hội cộng sản.
-Văn nghệ sĩ cộng sản
-Nhân dân cộng sản.






I.NHÀ TÙ CỘNG SẢN



Chân dung nhà văn Bùi Ngọc Tấn (họa sĩ Đỗ Phấn, 2008)


CHUYỆN KỂ NĂM 2000 xuất bản ngày 13-6 nhưng đến ngày16/3/2000, Bộ Văn Hóa Thông Tin đã ra quyết định đình chỉ phát hành và thu hồi, tiêu hủy. Tác phẩm này được chuyển ra ngoại quốc, Thời Mới, ( Toronto , Canada) tái bản năm 2000. Sau Trăm Hoa, USA tái bản gồm hai tập, dày khoảng 600 trang.

Bản này cũng được dịch ra Anh ngữ và các ngôn ngữ khác. Nguyên bản thảo viết trên ngàn trang giấy pelure với chữ rất nhỏ, khởi thảo từ tháng 6/1990 đến 30/11/91, rồi được xem lại lần cuối vào tháng 8/98. Đây là công phu và tâm tư một đời tác giả, đã đi viết lại 9 lần trong tám năm. Nhân vật chính là Nguyễn Văn Tuấn, tù số CR880, và các tù nhân khác trong trại của ông là tiêu biểu, là tổng hợp của nhiều lớp tù nhân của chế độ cộng sản từ 1945 cho đến nay. Cũng như các trại giam của cộng sản, được dán nhãn hiệu học tập cải tạo, trại của ''hắn'' có khoảng một ngàn tù nhân Qua Bùi Ngọc Tấn, chúng ta thấy trại gồm nhiều thành phần: Dân tộc thiểu số và Trung Quốc,quân đội miền Nam,Việt kiều, văn nghệ sĩ trong đó có tác giả. Vũ Lượng là một nghệ sĩ thổi kèn clarinette, bị bắt về tội ''chính trị''. Đa số bị tù vì "lập trường tư tưởng" và "thái độ chính trị", "phản cách mạng, tuyên truyền chống chế độ" .




Phần lớn là những bộ đội, đã tham gia chống Pháp, hân hoan trong ngày trở về Hà Nội, nhưng vì tính yêu thích tự do, độc lập, không nịnh hót cho nên bị cơ quan coi là những thành phần nguy hiểm, báo cáo công an, đem nhốt tù vô thời hạn. Mọi thành phần ở chung một nhà giam, một xã hội xã hội chủ nghĩa. Có thể nói là rất đông dân chúng là tù nhân, hết lớp này đến lớp kia liên tiếp vào những trại tù khác nhau.


Già Đô tiêu biểu cho những người Việt Nam yêu nước từ ngoại quốc trở về cứu nước. Già Đô cũng là một nhân vật đại diện cho nhiều tầng lớp nhân dân Việt Nam chóa mắt vì các danh từ độc lập, tự do, dân chủ của cộng sản. Già Đô yêu nước, bỏ nước Pháp, bỏ vợ con mà về giúp nước dù ông chỉ là một tên lính quèn! Rồi già biết quê nhà được độc lập. Niềm sung sướng lớn lao và nỗi nhớ quê hương, nỗi sầu biệt xứ bỗng cồn cào trong lòng không chịu nổi. Càng không chịu nổi khi biết tin hiệp nghị Genève đã ký kết. Một nửa đất nước được độc lập. Lại thêm thôi thúc vì chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh đạo đất nước là người từng lâu năm ở Pháp, cũng từng là một mạch lô. Già về nước. . Đất nước đang cần những bàn tay như già. (33-34). ..Già Đô đã tự hào về công lao của mình: Mấy năm sống gian khổ, nhưng già sung sướng vì đã toại nguyện. Già đã được làm việc cho Tổ quốc. (35)


Và cũng như nhóm Nhân Văn Giai Phẩm, già Đô đã lên tiếng chỉ trích tên giam đốc tham nhũng. Ông quên rằng ông là cái gai của chế độ. Ông là lính của Pháp, ở Pháp về, ông có thể bị nghi là gián điệp. Ông ở Pháp về sau 1954, chưa hiểu cuộc sống ở Bắc Việt là một cuộc sống đầy dối trá, phải giấu nguồn gốc, thân phận có liên quan phong kiến, thực dân Pháp và tư sản. Thế mà trước mặt nhiều người, già Đô dám nói tiếng Tây, hát tiếng Tây! Ông bị sa thải và bị bắt giam vô thời hạn vì ông có rất nhiều tội, trong đó có tội dám phê bình lãnh đạo.
Già Đô tiêu biểu cho đám Việt kiều yêu nước. Họ là con ông cháu cha chế độ quân chủ thời Pháp thuộc. Họ được cha ông cho đi Pháp trong khi bao thanh niên phải ở lại quê nhà hứng bom đạn và mã tấu Việt Cộng. Đám này nhiều lắm, kể cả con cháu cận thần Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu thế mà chạy về Hà Nội làm kẻ hàng thần!Họ được Việt Cộng phong là "Việt kiều yêu nước". Trong đó có những kẻ là lính"mạch lô" như già Đô mà cũng có lắm trí thức như Trần Đức Thảo, Nguyễn Khắc Viện...


Dù trí thức, dù vô sản, bọn họ đều so sánh họ với "Bác Hồ" vì họ cũng đã xuất dương tìm đường cứu nước, cũng sống ở Pháp và cũng như Bác về nước tranh đấu chống thực dân ! Nhưng họ đã lầm. Họ là cái quái gì mà dám so sánh với Bác?Trần Đức Thảo dù là chuyên thâm về Marx, dù được thế giới ca tụng là triết gia nhưng sao sánh được với Bác? Bác đã sống và chiến đấu với chủ nghĩa Marx, đã từng nộp đơn cầu xin Pháp cho học trường thuộc địa để làm tay sai Pháp, đã nhận tiền cộng sản để rải truyền đơn và thi hành bao nhiệm vụ bí mật khác, đã lăn lóc cầu cạnh Stalin, Mao Trạch Đông, làm mọi việc từ hạ lưu cho đến lưu manh như chôm tên Nguyễn Ái Quốc của nhóm Phan Chu Trinh,
 
 Dù bác lưu manh hạ tiện đến đâu, Việt Cộng nhà bác vẫn ca tụng tư tưởng và đạo đức của bác.Theo nội dung "Điểm đỉnh The Zenith" tác giả giới thiệu đời thực của "Bác", và phân khúc từng đoạn văn màu đỏ, bao gồm cả việc không bình thường của "Hồ Chí Minh, dùng kim tiêm thuốc độc, ám sát tình nhân!". Nội dung còn tiết lộ "long trời lở đất", "Bác Hồ" có lần hiếp dâm một em bé bốn (4) tuổi, tên là Tuyền (), và ăn ở người phụ nữ khác đã hạ sinh cho Hồ hai đứa con.(Huỳnh Tâm.Hồ Chí Minh, một gián điệp hoàn hảo - Kỳ 10 ), và Vũ Thư Hiên tố bác và Trần Quốc Hoàn trong vụ hiếp Nông Thị Xuân rồi quăng xác cho xe cán.  Dương Thu Hương ca tụng Bác là Đỉnh cao chói lọi (Au Zénith -The Zenith). Còn Trần Đức Thảo có thành tich nào ghê gớm như thế không? Cái học của Thảo chỉ là học lóm tư bản, là cái học kinh viện vô giá tri thế mà Thảo dám về cộng tác với Bác để chống Pháp và xây dựng XHCN ư? Đom đóm mà sánh với mặt trời. Đó là cái tội ngạo mạn khi quân phạm thượng! Sau này, Thảo kể chuyện với một người tên Đa, anh ta " lắc đầu nói:

- Vậy là anh chẳng hiểu gì về “ông cụ” và đám người chung quanh “ông cụ” cả sống ở gần “trung ương” mà không hiểu gì về lãnh tụ là điều nguy hiểm lắm đấy! Vì trong đầu “ông cụ” đầy ắp cuồng vọng quyền lực tối cao. Anh phải biết là cho tới nay, những ai đã từng coi thường “Người”, từng tỏ ra ngang hàng với “Người”, thì sau đều đã vinh viễn bị loại trừ ra khỏi tầm mắt của “Người”. Không ít người đã mất mạng, mất cả xác vì dám có ứng xử tay ngang như thế đấy.
- Tôi không hiểu nổi tại sao lại có thể tàn nhẫn khủng khiếp đến thế?
- Vì vậy mà phải biết giải mã lãnh tụ. Phải hiểu rằng “ông cụ” có tâm thức mình là bên trên tất cả, là một bậc kỳ lão gia trưởng, luôn luôn toả sùng bái một thứ hào quang thần thoại đúng với truyền thuyết lịch sử “con rồng, cháu tiên”… Và đám quần thần chung quanh “ông cụ” không tha thứ cho một ai dám tỏ mình là ngạng hàng với “Người”. Từ những tay trí thức nổi tiếng tâm huyết như Nguyễn An Ninh, Phan Văn Hùm… cho tới kẻ được đào tạo chính quy như Trần Văn Giàu, và biết bao nhiêu trí thức có uy tín khác nữa… đều là những nạn nhân của thái độ ngang hàng như thế. Tất cả đều đã bị loại bỏ một cách tàn nhẫn và vĩnh viễn. Người ta ưa kể cho nhau nghe rằng Tạ Thu Thâu đã chết mất xác vì câu nói: “Ngoài bắc có cụ, trong nam có tôi!( Tri Vũ, Những Lời Trăng Trối, Ch.XII)


Cái đám con cháu tướng"Ngụy" đầu hàng về Hà Nội trước 1975 cũng phạm tội này và thêm một tội nữa là bị Việt Cộng nghi ngờ là tay CIA Mỹ trá hàng. Đám Việt Nam Thương Tín yêu nước nhớ nhà, đã bị giam, và đám Giải Phóng Miền Nam bị đánh đuổi bởi vì chúng nó không phải con đẻ của Cộng sản!

Bùi Ngọc Tấn cũng gần như vậy. Sau này khi ra tù, tác giả khiếu nại và được biết lý do: Hắn chẳng thể nào khen được cách mạng văn hoá Trung Quốc. [. ]. Hắn mâu thuẫn với bí thư chi bộ. Hắn không muốn vào Đảng, hắn trọn đời là một nhân sĩ yêu nước và tiến bộ. Hắn không giống mọi người. Hắn lại còn nói sẽ bẻ bút không viết nữa. Bất mãn quá rồi còn gì.[ .]. Sau này hắn còn được biết ông bí thư thành ủy K rất ghét hắn. Vì ông nghe tin là hắn khinh ông, coi thường ông. (Không biết có kẻ nào đặt điều bảo rằng hắn nói ông K mồm thối. Điều ấy đến tai ông K. Thật là một sự bịa chuyện bẩn thỉu, giết người) (245).

Theo tác giả, đa số tù nhân đều chung một tội ''Sự ngây thơ. Nhẹ dạ. Cả tin. Và đều phải trả giá ''(26).
Tuấn, nhân vật trong truyện là một nhà văn, là chân dung tác giả. Họ tra khảo Bình, bạn của Tuấn: Có chuyện gì mà anh và anh Tuấn không nói với nhau. Anh Tuấn viết truyện ấy là viết xỏ xiên. Những con gián chuyên sống trong bóng tối, béo nức hôi sì là ai. Anh đừng tưởng chúng tôi không biết đâu (106). Nghe tin Phương bị bắt, những người khác hoảng sợ vì ai cũng có thể bị bắt giam. Họ nhận thấy cái phi lý và dã man của cộng sản độc tài:'Tuyên truyền phản cách mạng" tội danh của Phương cũng là tội danh của hắn. Điều đó có nghĩa là gì? Điều đó chỉ có thể là Phương đã nhìn thấy và báo động về những cái xấu xa đang mọc lên trên lưng chế độ như nạn móc ngoặc đang hình thành và bắt rễ trong các ngành mậu dịch. Nạn cửa quyền trong các cơ quan tiếp xúc với dân.. [. . ]. Và như vậy là nhìn đời đen tối. Là bất mãn. Là chống đối. Là vào rừng ch? nhìn thấy cây mà không thấy rừng. [..].Chẳng lẽ mình không còn có quyền yêu nước. Chẳng lẽ lòng yêu nước cũng bị độc quyền ? (64).


Tác giả nói rất đúng. Cộng sản muốn giữ độc quyền tất. Vì muốn độc quyền yêu nước, độc quyền cai trị mà cộng sản tiêu diệt Quốc dân đảng, Đại Việt đảng, không cho ai phát biểu ý kiến mình.
Vào truyện, tác giả cho biết thân phận người tù và thời gian ngồi tù:
Người một lệnh, người hai lệnh, người ba lệnh. Nhiều người tới sáu, bảy lệnh. Mỗi lệnh ba năm. [. . ] Nhưng chưa ai tù một lệnh (ba năm) mà được trở về. Chưa hết bọp này đã được dí thêm bọp khác. Cái án cao-su. Cái án tù mù. (2).

Số phận người tù không phải là do công an một mình quyết định, mà còn do đảng, và cơ quan văn hóa (161, 267). Hơn nữa là do thái độ của tội nhân, nếu than khóc, nhận tội có lẽ đuợc về sớm, còn không nhận tội, tỏ vẻ cứng đầu, thế là ngồi tù mãi. Họ đã gọi anh lên, trước mặt vợ anh, tên công an đã dò xét thái độ anh và anh đã trả lời họ: Trước hết anh phải xác định được những sai lầm của mình. Phải nhận thức được thiếu sót của bản thân. Chúng tôi giam giữ anh không ngoài mục đích ấy . Còn gì trắng trợn hơn. Gian dối hơn. Đạo đức giả hơn. Đểu hơn. Hắn bình tỉnh :


- Thưa ông. Cho đến giờ tôi chưa được biết tội của tôi. Chưa ai nói cho tôi biết tôi có tội gì.

Ông Lan cười nhạt, quay về phía Ngoc và như thanh minh : "Đấy. Anh ấy cứ thế! " (98).

Ông cho biết bọn tù nhân ( cũng như bọn địa chủ) không được đảng cộng sản xem là con người. Họ là những nô lệ, những súc vật biết nói, phải xưng con với công an, quản giáo, phải gọi cả đứa trẻ con bằng ông, bằng bà mỗi khi gặp. Quân chủ và phát xít không đến nỗi tàn ác và khinh khi con người đến thế! Sự việc này gây ra những cảnh hài hước. Bà công an với con nhỏ hóa ra như vợ chồng: Gặp ai cũng phải gọi là ông, là bà. Gặp bà công an kế toán bế con trai lên bốn đi chơi, là phải kính cẩn:

-Bà với ông đi chơi ạ!" (31)

Trong trại giam, nhất cử nhất động, tù nhân phải báo cáo với cán bộ, ngay cả việc tiểu, tiêu:
- Báo cáo ! Tôi, Nguyễn Văn Tuấn, số tù CR880. Dậy hút điếu thuốc.
- Tôi, Nguyễn Văn Dự, số tù BM229, dậy bắt cái tóp của anh Tuấn.(33)
-Báo cáo ông, tôi, Lê Bá Di, tù số 127 vào nhà mét đi đái (38).



Thứ hai, Cộng sản dùng cái đói để hành hạ bao gồm hành hạ tinh thần và thể xác để giết chết tù nhân, hoặc làm cho họ chết dần, chết mòn. Bên cạnh cái đói, cộng sản còn dùng lao động và khí hậu lạnh lẽo, thiếu quần áo, cùng sơn lam, chướng khí để giết tù nhân. Phần lớn truyện, tác giả đều nói việc này. Ngoài ra, nhà tù cộng sản tàn ác hơn nhà tù thực dân. Cộng sản đã nâng cấp dã man cho nhà tù của họ. Nhiều người đã phát biểu như vậy. - Ông cộng sản bị tù đày nhiều, ông ấy cải tiến nhà tù khiếp thật. Đúng là nhà tù của ta đã cải tiến rất nhiều. Những khe hở của nhà tù đế quốc đã bị bịt kín. Một cái bánh chưng gửi vào cũng được cắt ngang dọc, xem có tài liệu gì trong ruột bánh không.[. .] Trong tù rất thận trọng.[. .]. . tù chính trị ai cũng giữ mồm giữ miệng. Chỉ cởi mở với rất ít người đã qua thử thách (21).
Trặi tù là xã hội nhỏ, xã hội là trại tù lớn. Trong trại tù còn có những  nhà giam nhỏ nữa.Trong trại tù có lắm giai cấp, nhất là trại tù hình sự. Chúa ngục là những tay đại du côn, cầm đầu băng đảng, vào trong tù vẫn là chúa đảng, chúng và bè đảng tạo thành một giai cấp đặc quyền đặc lợi, sống trong sự bóc lột và hành hạ bọn tù hình sự khác.

   “Người Chăn Kiến”  là câu chuyện của ông giám đốc xí nghiệp chẳng may bị tù oan. Đã bị tù oan ông còn là nạn nhân được tuyển chọn của tay anh chị trong đám tù. Thông thường một tay thảo khấu rơi lưới pháp luật chẳng hề chịu thất thế, ngoài đời nhờ liều lĩnh mà hắn sống thì vào tù hắn cũng dùng cái hung bạo nghề nghiệp đê xử sự. Vớ được tên tù mới nhập trại có vẻ công tử, tay anh chị thích thú nghĩ ngay ra cách hành hạ: ông ta có nhiệm vụ giả dạng nữ thần tự do cho sếp giải trí.

Làm tượng nữ thần tự do thì phải ở truồng trùng trục, tay giữ một vật tượng trưng cây đuốc và đứng bất động trên cao.  Một ngày ông ta thấy tay anh chị sau hồi xuất trại lao động trở về, mở gói thuốc lá rỗng tháo ra mấy con kiến, bày trò cho quần thần chăn bầy kiến, thay nhau gìữ kiến không cho chúng bò ra khỏi những vòng tròn vẽ trên giấy thì ông đâm thèm thuồng công tác ấy – tất nhiên là còn danh giá hơn làm tượng thần tự do nhiều– bèn nhân ra ngoài kiếm được con kiến về dâng lên cho chủ tướng tỏ lòng muốn tham gia công tác, nhưng tay anh chị kia thì diễn dịch ý kiến ông ra cách khác, bèn nổi giận ra lệnh phạt mới. Lần này ông phải làm con chim đậu trên cành cao cho người ta bắn. Ông trèo lên thang vẫn trần truồng chờ cú đạn bắn tới và phải giả vờ ngã lăn xuống. Sợ té đau, ông không đóng trọn vai trò, bị bắt làm đi làm lại… cho kỳ đúng mới được.

Cuối cùng được minh oan, ông giám đốc trở về giữ chức vụ mình tại một xí nghiệp khác ở miền Nam. Thế là qua cơn ác mộng chăng? –Không, trí óc ông hằn khắc dấu ấn của thời gian tù đày nên những buổi nghỉ trưa của xí nghiệp, ông giám đốc khóa trái cửa, sống một mình trong phòng với mấy con kiến mà ông dùng mấy tấm cartes de visite của khách hàng ngăn không cho chúng bò ra khỏi vòng vẽ bằng bút trên giấy. Có khi ông còn đánh truồng trèo lên bàn tay giang lên trần như thuở còn đóng vai tượng thần tư do dưới lệnh của tay anh chị trong tù!Ra tù nhưng người đảng viên, người dân vẫn không thoát khỏi ám ảnh tù!


Một số ít tù nhân đã dùng nhiều phương thức để đối kháng. Một trong những phương thức được dùng là mộng mơ, là tin tưởng, là ý chí. Mộng mơ đã dẫn dắt con người qua những tháng năm đen tối và hãi hùng của địa ngục.Truyện Kể Năm 2000 ban đầu có tên là Mộng Du. Mộng du, hay mộng mơ, hay tưởng tượng là phương pháp nối hiện tại với quá khứ, gia đình với trại tù. Tác giả gọi đó là "mặc niệm tới gia đình" (25). Ông già Đô kể lể:


Đêm qua, tôi mơ thấy con bé con bên Pháp. Nó vẫn như lúc tôi từ biệt nó. Tôi mơ thấy quán rượu của bà Jeannette. (22)

Tác giả buồn lắm vì từ lâu không mơ thấy gia đình:

- Tôi mất khả năng nằm mơ rồi. Đã bao lần tôi ao ước nằm mơ thấy vợ, thấy con. Nhất là các cháu (22)


Tác giả đành dùng phương pháp tưởng tượng và hồi tưởng về người vợ :


Đầu gối lên cùm sắt rỉ han
Nghĩ tóc em xanh mười chín tuổi
Mái sương đêm những vì sao Hà Nội
Trong nhật ký anh.
Tóc em xanh trang nhật ký
Trong hồ sơ mật an ninh
Cả đến tình yêu chúng ta cũng bị nhục hình
Cắn răng lại, em ơi, đừng khóc ( 67).


Sống trong tù và khi ra tù, tác giả căm hận chế độ cộng sản phi nhân, đã giết hại không những một người mà toàn gia đình người ta theo kiểu tru di tam tộc:


Tịch thu hàng nghìn trang bản thảo của mười năm lao động miệt mài. Vợ đang học đại học, bị gọi về. Còn con nữa, chắc chắn vào đại học sẽ khó khăn... Những điều đó xảy ra trong chế độ ta, chứ đâu ở chế độ cũ. Điều không chịu được chính là chỗ ấy. . .Nhức nhối lắm. Uất lắm. Hận lắm. Đau lắm (243)



II. XÃ HỘI CỘNG SẢN


Bùi Ngọc Tấn không những viết về nhà tù nhỏ, ông còn viết về nhà tù lớn. Nhà tù là địa ngục mà xã hội chủ nghĩa cũng là một địa ngục, chỉ khác là một bên là địa ngục nội và một bên là địa ngục ngoại. Một to, một nhỏ khác nhau nhưng tất cả là địa ngục và con người là tù nhân, là súc vật. Người tù được thả, nghĩa là bước ra khỏi nhà tù nhỏ để đến nhà tù to lớn hơn, trong đó có làng xóm, thành phố, bạn bè và gia đình anh. Đoạn cuối tác giả viết về Già Đô rất xuất sắc. Già Đô được trả tự do, nhưng già yếu, không hộ khẩu, không nơi cư trú, ông tìm cách trở lại nhà tù. Tác giả muốn nói nhà tù khắc nghiệt nhưng xã hội, nhà tù lớn lại khắc nghiệt hơn cho nên con người đã chọn nhà tù. Đó là cái bi đát của người dân trong chế độ cộng sản. 

Sống quả thực khó khăn vất vả, nhất là với những người như già, không một ai thân thích. Không nơi nương tựa. Không một chỗ đặt ba-lô một chốn dung thân. Người bình thường đã khó.Với cái lý lịch đi tù, lại là tù chính trị, với tuổi tác như già, cuộc sống thật là một con đường hầm tối tăm, tắc tị (252). Già Đô cuối cùng đã nằm yên trong một cái đình bỏ hoang.

Từ khi chiến tranh bắn phá, thành phố sơ tán, người ta không đưa lợn về đây nữa. Ngôi đình hoàn toàn hoang phế. Không một dấu vết thờ phượng. Cứt lợn cũng hết lâu rồi. Chỉ còn dơi treo mình lủng lẳng.Thật là một chỗ nằm yên tĩnh lý tưởng để phiêu diêu. (262).


Tác giả cũng gặp khó khăn nhưng được vợ hiền, bạn tốt giúp đỡ mà qua được hiểm nghèo. Ra khỏi tù, anh đi dạo phố và nhận ra phần lớn là những khuôn mặt quen thuộc trong tù. Đó là một điều kinh khủng. Cảm giác này, ấn tượng này luôn theo tác giả mỗi khi ra phố. Khi ra tù, người cựu tù nhân thấy dường như đâu cũng là bạn tù:


Gặp ai, ở đâu hắn cũng tưởng như gặp lại bạn tù cũ. Nhìn những người đi trên đường, hắn giật mình : "Quái nhỉ, ở trại nào nhỉ. Quen quá. Không biết đã gặp ở đâu rồi. Được về bao giờ nhỉ [.. .]. Hắn luôn gặp những khuôn mặt tù quen quen. Những khuôn mặt tù ngờ ngợ. Không biết ở trại nào. Hẳn họ cũng như hắn. Mới được ra trại (165).


Kết thúc buồn nhưng mang một ý nghĩa lớn lao: Xã hội cộng sản nhân danh tự do dân chủ nhưng đã giết chết con người dù nó ở trong tù hay ra ngoài tù. Dự, Min, Giang (220-223), già Đô ra tù còn khổ hơn ở trong tù (169).
     Trong chế độ cộng sản, ai cũng là tù nhân dự bị. Một số người không hoặc chưa bị ngồi tù nhưng bị thất sủng, bị kết tội là vi phạm kỷ luật,  đi trái lập trường, quan điểm, bị kiểm điểm,trừng phạt, theo dõi.Truyện “Kiếp Chó” kể về cuộc đời ngắn ngủi của con Kiki, rơi vào nhà của một ông làm nghề mật vụ bị thất sủng. Chính vì bị thất sủng nên chủ và tớ mới sống thân thương mật thiết và ngày ông chủ ra đi cố vận động cấp trên để tự minh oan cho mình nhưng thất bại ông bèn bỏ nhà luôn, con chó vì quá thương chủ đã lặn lội đi tìm và bị tai nạn. Nó lết về nhà khi hai chân sau đã quị và bị bán cho người xẻ thịt.
Trong truyện Kiếp Chó, ông chủ là nạn nhân cộng sản đã phải sống kiếp chó, và con chó lại tượng trưng con người chó của xã hội cộng sản . Nó trung thành với đảng và cuối cùng bị phanh thây xả thịt.

Đầu tháng 4-1973, đúng 2 tháng 7 ngày sau khi Hiệp Định chấm dứt chiến tranh Việt Nam ký kết tại Paris, Bùi Ngọc Tấn được ra khỏi nhà tù. Tuy nhiên, những ngày sống ngoài nhà tù lại u ám ghê hãi hơn cả cảnh sống giữa những bức vách nhà tù — như ông ghi lại:
“Trong những năm tháng hậu tù thất nghiệp đi bốc vác, kéo xe bò… thoi thóp kinh hoàng ấy, tôi có làm một cuộc khảo sát đời sống: Ra đầu phố những giờ đi làm và tan tầm, nhìn những người đạp xe qua Ngã Sáu và phát hiện một điều: Tất cả những người trên đường không một ai cười. Giống nhau. Xam xám. Đăm chiêu. Đồng phục quần áo. Đồng phục mặt người ……
Khi tôi kêu lên: “Các ông ấy bần cùng hóa nhân dân ghê quá”, Nguyên Bình nghiêm mặt bảo tôi: “Cuộc sống này gần với cuộc sống loài vật. Đâu phải cuộc sống con người.”(Hâu ChuyệnKể Năm 2000)

Trong chế độ cộng sản,  chế độ coi  con người  ngang loài vật ấy, Bùi Ngọc Tấn lại  được coi thua cả loài vật. Ông và đám cựu tù nhân và nhân dân sống cực nhọc lam lũ bởi nhu cầu cơm áo,  sống bên lề xã hội phải lao vào đủ loại việc mưu sinh khổ ải  lại bị bao vây bởi mạng lưới công an mật vụ . Bùi Ngọc Tấn không ngừng bị cách ly, bị theo dõi, bị kiểm tra, bị dọa nạt… dưới nhiều hình thức khiến không tránh khỏi mối ám ảnh luôn bị đeo bám bởi một “người vô hình” : “… Người vô hình luôn bên cạnh mỗi người như hình với bóng, cả trong giấc ngủ …
Tôi thấy rợn hết cả người khi nghĩ đã có mấy thế hệ theo dõi tôi, săn đuổi tôi, vu cáo tôi. Họ đã già đi. Đã về nghỉ, hưu trí an nhàn. Nhiều người đã chết. Một thế hệ khác tiếp tục việc theo dõi. Rồi một thế hệ tiếp theo nữa. Đời này sang đời khác.
Tất cả đều là Gia-ve. Những Gia-ve với lòng dạ đen tối, không phải tìm sự thật mà chỉ nhăm nhăm hãm hại người lương thiện…”(Hâu ChuyệnKể Năm 2000)


III. VĂN NGHỆ SĨ CỘNG SẢN      

RỪNG XƯA XANH LÁ là một tập truyện ngắn do Hải Phòng, Việt Nam, xuất bản năm 2003, 86 trang. Gồm 8 truyện, viết trong khoảng 1997-2000. Toàn tập là một bức tranh về đời sống của các nhà văn xã hội chủ nghĩa trong khoảng 1980. Đó là một cuộc sống khốn khổ về tinh thần và vật chất.


Trước tiên, ông cho chúng ta biết tổng quát tình hình xã hội, một xã hội đói khổ cuối thập niên 80: Cơm áo không đùa với bất kỳ ai. Lại càng không đùa với các nhà văn nhà thơ. Nhất là vào cái thời cuối thập niên 80 (của thế kỷ trước) nền kinh tế cả nước đang chuyển từ hệ thống bao cấp sang kinh tế thị trường. Biến động mạnh từ suy nghĩ, quản lý, hàng hóa, giá cả tới bản thân giá trị đồng tiền (1).


Sau đó, ông vẽ nên những mảnh đời khốn khổ của văn nghệ sĩ. Đinh Kính, đại úy, nhà văn quân đội, phải nuôi bố mẹ và hai con nhỏ, đã làm một nghề mới, là viết thuê, ca tụng nông trường. Các giám đốc, chủ nhiệm muốn đạt thành tích, muốn được danh vọng, đã bỏ tiền thuê người ca tụng mình, công ty mình. Đồng tiền chi phối con người. . Phải có tiền. Tiền là tiên, là Phật , sức bật tuổi trẻ, sức khỏe tuổi già. Và chỉ còn mỗi cách kiếm tiền: Viết thuê..


Thật ra đây không phải nghề mới, và Đinh Kinh không phải là người đầu tiên làm nghề này trong chế độ dân chủ cộng hòa. Trong chế độ ưu việt này, các văn thi sĩ, văn công họa sĩ, nông dân, nông dân, chiến sĩ đều là kẻ làm thuê, làm muớn, nếu không nói là nô lệ cho chủ nhân ông cộng sản.

Ông cũng tả một xã hội lưu manh từ giám đốc công ty cho đến đám gái đứng đường (Rừng xưa thay lá, 1-6). Nhiều người bị cấm viết phải viết thuê, nghĩa là viết cho người khác, là những mầm non văn nghệ hay mầm già nhưng không có tiếng tăm để được chia tiền nhuận bút. (22). Cũng có văn hữu hảo tâm, đứng dùm tên cho bạn có tiền sống.


Đám văn nghệ sĩ ngoài việc vắt óc viết bài theo lệnh đảng để kiếm tiền sinh nhai, nhưng không đủ. Tiền thù lao thường xuyên bị đe dọa. Có.Nhưng ít. Và muộn (28). Họ còn phải làm nhiều nghề khác. Về tinh thần, họ là những người bị cấp trên cho là có vấn đề, bị công an theo dõi, bị bạn bè, thân thuộc xa lánh. Vấn đề của họ đơn giản thôi. Mạc Lân ăn nói không giữ gìn, luôn khen ngợi Nhân Văn Giai Phẩm.


Nguyên Binh bị trừng phạt vì tác phẩm của ông đã tố cáo tính dã man, vô nhân đạo của cộng sản: Trong Cô gái mồ côi và hòn đảo, anh bắt những kẻ xấu phải lộ mặt. Những kẻ xấu mới gian manh quỷquyệt làm sao! Chúng đều nấp sau cái vỏ đạo đức, chúng đều nhân danh đạo đức, nhân danh những người đang làm điều thiện trong khi chúng dồn mấy đứa trẻ mồ côi cả cha lẫn mẹ (bố chết dưới bom đạn Mỹ) phải thôi học, phải về một nơi "nghỉ ngơi", thực chất là một thứ tù giam lỏng (56).


Lê Đại Thanh vì bạn bè ông tham gia Nhân Văn Giai Phẩm, và người ta tìm thấy tên anh ủng hộ nhóm này 20.000 đồng, người ta đày ải ông, Mọi người dần dần xa lánh ông (62). Cuối cùng, ông phải xin nghỉ hưu non. Mạc Lân, Lê Bầu, Lê Đại Thanh bị chuyển công tác. Họ phải làm lao động, hay một công tác khác, không báo nào đăng, không nhà xuất bản nào in tác phẩm của họ. Họ bị tuyệt thông. Bị bao vây kinh tế, chính trị. Mạc Lân, Dương Tường đi bán máu. Mỗi người cân nặng 60-70kg. Tiền tính theo xê xê còn tem phiếu thì đồng loạt. Mỗi người được lĩnh tem 2 cân đường, 4 cân đậu phụ, 2 kí thịt, 2 hộp sữa. Thế là mất đi một ít máu nhưng túi nằng nặng tiền và tem phiếu.[...]. Bán máu êm ả là thế mà nhiều lúc vẫn giật mình. Ví như đang ngồi nhìn cả vào người y tá chờ gọi tên mình thì người ấy bỗng bật ra những cái tên bất ngờ nhất:
-Chính Yên!
-Phan Kế Bảo!
Hay đang bưng bát phở lên ăn, nghe tiếng gọi giật giọng:
-Phương Nam!
Toàn những người quen. Toàn những trí thức. Ngượng nghịu nhìn nhau. Rồi cũng quen dần.(Rừng Xưa Xanh Lá. Phần III).


Nội dung sâu thẳm của Bùi Ngọc Tấn đã nói lên cái ước muốn rất đơn giản của các văn nghệ sĩ là được tự do: tự do sống và tự do sáng tác. Phẩm chất rất khác thường, rất đặc biệt của văn nghệ sĩ đó là sự tự do thoải mái, điều không thể thiếu được là sự thoải mái. . .Chúng tôi cần nhất sự thoải mái. Văn nghệ sĩ mà..(44).


Và ông muốn nói nữa là tinh thần bất khuất của văn nghệ sĩ: Vòng kim cô không xiết được đầu ông vì trong đó đầy ắp thi ca, đầy ắp tình yêu cuộc sống (66).


Bùi Ngọc Tấn kể cho ta nghe đời cô Nguyễn Thị Hoài Thanh. Hình như Nguyễn Thị Hoài Thanh sinh ra là để gặp những rắc rối, chịu đựng những rắc rối và vượt qua những rắc rối khó khăn. Chịu đựng và vượt qua một cách thản nhiên bình tĩnh, không kêu ca như cuộc đời vốn là như vậy.

Tốt nghiệp trường công nhân kỹ thuật Hải Phòng, chi ghi vào mục nguyện vọng: Tình nguyện đi bất cứ nơi nào trừ Hà Nội, Hải Phòng. Bởi vì lúc đó chị vừa li dị và mới sinh cháu gái đầu lòng. Bà mẹ trẻ tuổi hai mươi ấy không muốn gặp lại người chồng cũ và chỉ mong được yên tĩnh ở một nơi nào đó. Cầu được, ước thấy. Chị được về Cẩm Phả, coi một trạm điện đầu trục 2 thuộc mỏ Lộ Trí. Chị và cháu gái mới sinh ở ngay trạm, liền với nhà đề-bô rộng thênh thang, nhà đề-bô đã có người chết ở đó. Ngày ấy nơi đây là chim kêu vượn hú. Ngày ấy hai mẹ con suốt đêm nghe gió thổi qua mái nhà đề-bô, nghe mưa rơi, nhìn nước đổ như thác cuồn cuộn bên ngoài trạm...

Thế rồi từ Cẩm Phả chị lại về Hải Phòng khi sóng gió trong lòng đã dịu. Rồi chị sang Kiến An. Chị về Vĩnh Bảo. Có biết việc gì không trải qua. Hãy kể những việc chính: Công nhân xi măng, thợ điện Hải Phòng điện khí, thợ điện công ty xây lắp, công nhân bóc lạc công ty xuất nhập khẩu, đứng máy bào cuốn xí nghiệp gỗ Trương Công Định, công nhân công ty xếp rỡ, cấp dưỡng công ty vật liệu kiến thiết, súc sạc ắc-quy Quốc doanh đánh cá Hạ Long... Đó là chưa kể còn đi giao bánh rán, bánh mì, kẹo lạc, làm và bán nước mắm... Đồng lương không đủ nuôi mình mà chị còn phải nuôi con. Cuộc sống tưởng chừng không có thời gian để thở, đó là chưa kể những chấn thương tinh thần sau hai lần li dị, ấy thế mà Nguyễn Thị Hoài Thanh vẫn làm thơ.(Rừng xưa xanh lá, Phần V)



Nhìn chung, ngoại trừ các cai văn nghệ như Tố Hữu, Hoài Thanh,Nguyễn Đình Thi...,đa số văn nghệ sĩ bị đảng, bà mẹ ghẻ đanh ác ghét bỏ, căm thù. Bùi Ngọc Tấn đã làm một quan sát tổng quát cái đám văn nghệ sĩ Cộng sản nạn nhân:

Phù Thăng, thằng Phu, chien de vie, vie de chien ( trong một sáng tác của Phù Thăng, một nhân vật kêu ca cuộc đời con chó, và Phù Thăng bị phê là con chó cuộc đời). Châu Diên xin ra biên chế, về nhà máy xi măng làm công nhân, rồi chuyển hẳn sang làm hợp đồng cho ngành giáo dục. Tôi bị tù 5 năm. Vũ Bão sau bao năm lao đao vì Sắp cưới, gượng lại được với phương châm chiến lược “mãi cũng tới bờ” .Sau Sắp cưới, không nơi nào in cho Vũ Bão nữa. Rất nhiều năm sau Nhà xuất bản Phụ nữ đã mở đầu, in cho anh tập truyện Mãi cũng tới bờ, Vũ Bão kêu lên sung sướng: “Mãi cũng tới bờ”), Nguyễn Trí Tình chuyển sang ngành thông tin, Tất Vinh phải đổi tên là Hồng Dương từ phương án ba bông hồng ( tên một tác phẩm của Tất Vinh) định đi lên bỗng chết đột tử. Cũng có thể đánh vài dấu chấm lửng ở đây. (Một thời để mất).

Đám văn nghệ ghẻ bị theo dõi chặt chẽ, nhất là những người "có vấn đề".Bùi Ngọc Tấn viết:
 Vốn bị giám sát chặt chẽ nhiều thập kỷ, giờ đây căn buồng tôi ở càng bị giám sát chặt chẽ hơn không chỉ vì những bức thư. “Tù ta” đồng nghĩa với thứ người “mạt hạng xấu xa, đáng muôn đời phỉ nhổ.” Tôi dùng từ tù ta bởi đã nghe Phạm Xuân Nguyên kể chuyện anh được mời đi dự một cuộc họp của quân đội bàn thảo về nghệ thuật. Một sĩ quan xem danh sách thấy tên anh, chất vấn ban tổ chức: Thằng này tù ta. Sao lại mời?
 Kể lại chuyện này để thấy những người "tù ta" như tôi thường xuyên sống trong khinh bỉ, cảnh giác, thù địch của cả xã hội như thế nào. Không chỉ tù ta, khi được tha rồi, tôi vẫn chứng nào tật ấy, chống đối, viết sách chửi lãnh đạo, chửi chế độ, chửi cả lãnh tụ như người ta phổ biến rộng rãi trong các cuộc họp. [...].Người ngồi bán hàng ngay đầu ngõ, những người làm ở hiệu ảnh liền bên, thậm chí người phô-tô cop-py bên kia đường cũng biết nhà tôi bị theo dõi. Xóm láng quanh nhà, bên này đường, bên kia đường, cùng tổ nhân dân hay không cùng tổ, cùng phường cùng quận hay khác phường khác quận… đều biết tôi là một kẻ chống đối, đi tù về, được chính quyền ghi sổ đen. Họ nói bóng nói gió, thậm chí có người nói thẳng với Nguyễn Công Nam: 
– Ông còn đến cái ngõ số 10 ấy làm gì. Nhà ấy đang bị công an theo dõi đấy. Thôi đừng ra ra vào vào đấy nữa. Nguy hiểm lắm.
Nhưng Nguyễn Công Nam đâu có sợ nguy hiểm. Đọc tôi, anh hiểu tôi và mừng rằng “văn học nước nhà vẫn còn người trung thực.” Anh đã đốp chát với một cán bộ thuộc PA 25, khi anh công an này đến cơ quan anh làm việc:
– Các anh vẫn theo dõi nhà anh Bùi Ngọc Tấn số 10 Điện Biên Phủ đấy à? Tôi thấy thật buồn. Thì đã có người rất thân với tôi, thương tôi, sợ tôi vướng vào những chuyện lôi thôi, khổ vợ khổ con tôi, khuyên tôi đừng đến nhà anh Tấn 10 Điện Biên. Người ta nói thẳng với tôi như thế mà. Ở một đất nước mà công an theo dõi ngày đêm những người tiến bộ, những người yêu nước, những người không có mong muốn nào khác là mong muốn đất nước tiến lên và bất chấp hiểm nguy, đóng góp hết sức mình vào sự tiến bộ thì thật đáng buồn. Các anh đi phố hẳn thấy chỗ nào cũng ka-ra-ô-kê. Đứng đón khách ngay ngoài cửa là các cô gái còn rất trẻ, ăn mặc hở hang. Bao nhiêu thanh niên đã vào đấy, đang vào đấy, và sẽ tiếp tục vào đấy. Mà đâu phải chỉ thanh niên. Phần lớn những người vào đấy là cán bộ công nhân viên chức. Phần lớn là các thủ trưởng. Cả mấy thế hệ đang hư hỏng. Văn hóa đấy. Bảo vệ văn hoá trước hết là bảo vệ các giá trị văn hoá đang bị xâm hại. Có biết bao nhiêu băng đĩa trôi nổi. Bao nhiêu băng đĩa độc hại. Băng sex. Băng bạo lực. Có băng nào không có bán. Phải ngăn chặn, tiêu diệt những hiện tượng ấy để bảo vệ lối sống tốt đẹp của cha ông ta. Những việc đáng làm không làm. Lại đi theo dõi một nhà văn không có gì trong tay ngoài ngòi bút dũng cảm viết sự thật, nói lên những điều đáng báo động của xã hội...[...].
Nhà tôi là “điểm nóng.” Tên tôi được ghi trong sổ đen. Loại sổ chỉ ghi thêm chứ không gạc bớt và chỉ gạc bớt khi đương sự đã chết. Nó được truyền từ đời ông bí thư này sang đời ông bí thư khác, từ ông chủ tịch trước đến ông chủ tịch sau, từ thế hệ an ninh này sang thế hệ an ninh khác như một cuộc chạy tiếp sức đường trường mà điểm kết thúc là nấm mồ của đối tượng. Năm nào nhà tôi cũng được tiếp đón các ông an ninh văn hóa, các ông công an phường, công an quận. Vào các dịp tết Tây, tết Ta, mồng 1 tháng 5, mồng 2 tháng 9, bầu cử quốc hội, bầu cử hội đồng nhân dân, đại hội Đảng quận, đại hội Đảng thành phố, đại hội Đảng toàn quốc, tổng thống Mỹ Bill Clinton đến thăm Việt Nam, khi trên mạng có cuộc vận động ký kiến nghị ngừng dự án khai thác bô-xit ở Tây Nguyên, ký kiến nghị về vụ bắt Phương Uyên… Và câu mở đầu của những vị khách đều giống nhau: Hai bác khỏe chứ ạ? Bởi thế nên những cuộc thăm viếng “đều như vắt chanh” ấy được gọi là những cuộc “hỏi thăm sức khỏe.” Tôi cũng ghi nhận sự đổi mới lớn lao ở đây nếu so với những cuộc đến chơi nhà của đội chuyên tu tại chức nâng cao tay nghề tra tấn của ông An ngày trước cùng lời giới thiệu đầy tự tin:
– Chúng cháu ở phòng anh An, phòng chống phản động đến thăm hai bác.
Giờ đây nhẹ nhàng hơn, lịch sự hơn, khen chè ngon như những người sành điệu. Ngay cả câu hỏi đinh, câu hỏi chốt, có cả cán bộ tăng cường từ đâu về chưa gặp một lần, cũng là không đến nỗi nào:
– Bác ký kiến nghị xử lại Cù Huy Hà Vũ đấy à?
– Vâng.
– Sao bác lại ký?
– Đảng dạy tôi như thế mà. Đảng dạy tôi chế độ ta là chế độ công bằng nhất thế giới v.v..
Với cái kiến thức được dạy dỗ về sự phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật, tôi nghĩ những biện pháp theo dõi tôi đã khác, không phải là cái hòm gỗ quang dầu cồng kềnh như hồi tôi cùng Đinh Chương đi học chính sách cải tiến quản lý hợp tác xã năm 1967 nữa, trong nhà chúng tôi có thể có rệp. Rệp rất bé, có thể gắn hoặc bắn từ xa vào bất kỳ đâu trong nhà, có khi vào ngay quần áo mình đang mặc. Những điều quan trọng chúng tôi chỉ thì thào. Nhiều người nói với tôi rằng khi đến nhà đại tướng Võ Nguyên Giáp, đại tướng đã giơ tay làm hiệu ngay: Chuyện trò cẩn thận. Có máy ghi âm. Chúng tôi cũng giữ mồm giữ miệng. Không thì thào ở xa lông mà kéo nhau vào một góc. Chúng tôi nói thẳng với bạn bè về cái sự có thể có rệp. Điện thoại chắc chắn bị nghe lén, bị ghi âm. Nói chuyện điện thoại với Mạc Lân trên Hà Nội là khổ nhất. Ấp úng, cân nhắc, khiến Lân không chịu được. Anh phát khùng. Anh văng ra tất cả. Tôi thông cảm với anh. Đúng là khi nói chuyện mà biết chắc có người nào đó đang rình nghe một cách chăm chú và thích thú, thật khó mà bình tĩnh, mà chịu đựng.
Ai cũng khuyên tôi nên hạn chế và phải rất cẩn thận khi đi ra đường. Người ta lấy cái chết của vợ chồng Lưu Quang Vũ – Xuân Quỳnh ra để thêm thuyết phục. Không chỉ vụ Lưu Quang Vũ dân chúng xì xèo, báo chí còn nói ông chánh văn phòng thủ tướng phủ bố trí xe tải để cán chết bà tổng cục trưởng tổng cục Du Lịch nhưng việc không thành. Đồng chí với nhau cùng chung lý tưởng, cán bộ cao cấp đạo đức sáng ngời sát cánh bên nhau chiến đấu dưới cờ còn thế nữa là tôi.
Tôi không chỉ có một kẻ thù mà có nhiều cấp kẻ thù. Với vĩ mô tôi là kẻ chống phá chế độ, chống phá sự cai trị của đảng. Cấp này là không thể chống đỡ. Chỉ còn mỗi cách ở lỳ trong nhà mới có cơ may sống sót. Dưới vĩ mô là vi mô. Cấp này rất nhiều. Từ ông Trần Đông, tới ông An, ông Quang… Những ông đang là kẻ chăn dắt con dân, bốn năm mươi năm tuổi Đảng, thương yêu người hết mực bỗng bị tôi lột truồng, hiện nguyên hình đao phủ. Những ông với rất nhiều chân tay. Con cái. Những cấp dưới tri ân mang đầu rô-bốt. Những kẻ đâm thuê chém mướn, chỉ cần một tép hê-rô-in hay một bát phở cũng đủ để nổi hứng giết người… Nguy hiểm ở cấp này cũng chỉ có cách phòng ngừa là hạn chế đi ra đường. Với cả hai cấp vĩ mô, vi mô, đều phải không cho họ biết quy luật sinh hoạt của mình và thật hạn chế dùng điện thoại.
Vốn ham sống sợ chết, tôi chỉ “tham gia giao thông” khi thật cần thiết như đi cắt tóc, đi mấy bước trên vỉa hè sang nhà Giáng Hương ăn cơm ngay ngõ liền bên. Phải bỏ thú đi bộ buổi sớm mai — ngày ấy chân tôi chưa bị đau, còn đi bộ được. Một thói quen rèn luyện thân thể, hơn thế, một sự hưởng thụ cuộc sống. Với tôi mỗi buổi sớm là một thời khắc sống khác cuộc sống thường ngày chờ tôi ngoài đường phố. Tinh mơ trở dậy, lặng lẽ đánh răng rửa mặt, rời khỏi căn buồng chật chội bốn bức tường vây quanh, cửa đóng kín phòng trộm, lúc nào cũng phảng phất hơi người cộng với mùi than tổ ong, mùi thịt tẩm húng lìu nướng chả, mùi cá tầu ướp lạnh rán ôi ôi ung ủng, mùi mỡ cháy… của những nhà bán hàng quà vỉa hè bên dưới xông lên.(Bùi Ngọc Tấn. Hậu Chuyện Kể Năm 2000)

 Bùi Ngọc Tấn được cử đi Trung Quốc được mời dự tiệc tại sứ quán Trung Quốc nhưng chưa có hộ chiếu, nghĩa là việc đi Trung Quốc chỉ  được quyết định vào phút chót. Ông đã dự tiệc  chiêu đãi ở khách sạn Daiwoo mà người ta khám xét  đám văn nghệ sĩ khi vào khách sạn như khám xét hành khách lên máy bay vậy. Rồi bao nỗi lo chết người. Người ta sợ bị đầu độc.

 Bùi Ngọc Tấn kể:
Trong đại hội nhà văn năm 2005 — 4 năm sau khi tôi đi Trung Quốc — có một người mấy lần kéo tôi đi chụp ảnh với ông ta. Tôi hỏi Bầu ai đấy. Bầu cười: Ông V.D.T. đấy!
Nhiều người nói với Trường cũng như nói với Bầu rằng trong một cuộc họp của Ban Tư Tưởng Văn Hoá với các tổng biên tập các báo, người ta phổ biến rằng tôi đã chính thức không nhận giải Nhân Quyền, không nhận một cách tế nhị là tạm hoãn việc nhận tiền! Chắc chắn sẽ có nhiều diễn biến khó lường, nhưng tôi không sợ. Đối phó với tất cả các thủ đoạn ấy là sự trung thực của mình, trung thực khi mình đối diện với chính mình. Hãy cứ đi đã. Rồi khi về sẽ ra một cái tuyên bố, hay thư ngỏ.
Trường dặn: Anh đi một bước, nó theo dõi một bước đấy. Sang Trung Quốc phải hết sức cẩn thận. Thằng con trai em là luật sư. Nó bảo: Bác Tấn đi với Hữu Thỉnh thì được. Đi với người khác còn phải xem đã. Đi với Hữu Thỉnh là ngang giá. Đi được. Anh nhớ mang theo đủ thuốc. Đừng bao giờ uống thuốc của bất kỳ ai. Nước uống cũng vậy. Trường dặn dò tôi, lo lắng cho tôi như một người em gái. Có thể những gì chúng tôi lo là thừa. Nhưng điều đáng nói không phải là sự quá lo xa của chúng tôi. Điều đáng nói ở đây là Nhà Nước này đã làm gì để người dân suy nghĩ như vậy, lo xa như vậy?(HẬU CHUYỆN KỂ NĂM 2000 -Thời biến đổi gien .Kỳ 27)

Năm 2004, Bùi Ngọc Tấn được mời đi Pháp.Ông lại bị hăm dọa. Ông viết:
Mùa thu năm 2004, tôi đi Pháp theo giấy mời của ông Vũ Quốc Phan. Trước khi sang Pháp, tôi phải nhiều lần làm việc với các cơ quan hữu quan. Những câu hỏi thăm dò, những lời khuyên, kể cả những hăm doạ bóng gió xa xôi (HẬU CHUYỆN KỂ NĂM 2000 -Thời biến đổi gien .Kỳ 27)


Bùi Ngọc Tấn có cái may mắn là được đi Trung Quốc và Pháp. Ông khám phá ra hai xã hội Cộng sản và tư bản khác nhau rất xa:
Sau mười ba giờ bay, là người cuối cùng nhận hành lý, tôi một mình kéo chiếc va-li có bánh xe lăn, tìm ra cửa sân bay Charles de Gaulle và thật thú vị làm sao khi thấy không chỉ Đặng Tiến, Nguyễn Ngọc Giao mà cả Dương Thụ nữa đứng đón tôi. Nếu như ở Trung Quốc luôn phải trịnh trọng, luôn nghe những câu như tình hữu nghị do Mao chủ tịch và Hồ chủ tịch dầy công xây đắp, đất này là đất địa linh nhân kiệt…, thì những ngày Châu Âu của tôi là cuộc sống của người đi du lịch, hơn thế cuộc sống giữa những vòng tay bè bạn, những người thân thiết (HẬU CHUYỆN KỂ NĂM 2000 -Thời biến đổi gien .Kỳ 27)

Việc ông đi ngoại quốc là một quyết định khó khăn cho an ninh Việt Cộng. Người ta tra khảo ông, sợ ông bỏ trốn không về. Ông trả lời:
Có lẽ các anh sợ tôi ra nước ngoài rồi tôi ở hẳn bên ấy, không về nữa. Các anh đừng bao giờ nghĩ về tôi như vậy. Nghĩ như thế là các anh không hiểu tôi. Tôi đã gần bẩy mươi, làm sao có thể rời gia đình, bỏ vợ con bạn bè tổ quốc mà đi sống lưu vong cho được. Cảnh sống lưu vong ở cái tuổi sắp chết không phải là điều tôi lựa chọn. Năm 1979, nhiều bạn tù gốc Hoa đóng tầu, vào Sở Dầu mua dầu vượt biên. Họ đến nhà tôi hỏi tôi có đi không. Tôi đi thì không phải đóng tiền. Nhưng tôi không đi. Tôi không hình dung được mình sẽ sống lưu vong như thế nào.[....].
Anh Vũ Thư Hiên là bạn tôi đang sống lưu vong bên Pháp. Tôi rất thương anh ấy. Già rồi. Dân đầu đen sống bên ấy hẳn rất buồn. Viết văn mà rời xa tổ quốc khó viết lắm, nếu không nói rằng không viết được. Bao nhiêu nhà văn gốc Việt ở nước ngoài có viết được cái gì thật xuất sắc, thật hay đâu. Mà họ là những người đọc rộng tài cao. Độc giả đích thực là ở trong nước. Nguyên liệu để mình viết là những gì xẩy ra trong nước. Đó là cái núm nhau, cái vú sữa nuôi mình. Rời ra là khô kiệt. Các anh cũng đừng sợ tôi ra nước ngoài rồi sẽ bị lợi dụng. Tôi là người viết văn, nghĩa là một trí thức, tôi không để cho ai dùng tôi, dù là phía bên này hay phía bên kia. Tôi là một con người chứ không phải một công cụ, một cái khăn lau để người ta lau rồi quẳng vào một chỗ. Tôi thừa biết chính trị là như thế nào. Nói thật với các anh, tôi chưa bao giờ coi trọng chính trị, coi trọng những người làm chính trị. Những người làm chính trị sau khi giành được chính quyền luôn mắc đúng những điều mà họ chống, mà họ giương cao thành một ngọn cờ để tập hợp quần chúng, tập hợp nhân dân đi theo họ. Giữa Napoléon và Victor Hugo tôi chọn Hugo. Giữa Lê Lợi và Nguyễn Trãi tôi chọn Nguyễn Trãi. Giữa Quang Trung và Nguyễn Du tôi chọn Nguyễn Du.
Kiên vẫn với tầm nhìn xa trông rộng:
– Rồi anh sẽ nhận được nhiều tài trợ đấy. Nếu một tổ chức nước ngoài tài trợ cho anh, anh có nhận không?
Tôi đáp:
– Tôi in tập sách này hết mấy chục triệu. Cũng may vợ chồng tôi tích cóp được một số tiền. Tiền của các con tôi cho chúng tôi. Cho vợ tôi đi lễ. Cho tôi ăn quà. Gần đây là năm triệu tiền đầu tư sáng tác của Hội Nhà Văn, năm triệu tiền giải thưởng của tạp chí Văn Nghệ Quân Đội. Tôi đi tù không án không lời kết tội. Thế nhưng khi làm thủ tục hưu, những năm tháng trước đây của tôi bị cắt hết, kêu xin các nơi không ai giải quyết. Tôi chỉ được tính số thời gian đi làm trở lại, mà không biết bao nhiêu năm tôi ăn lương khởi điểm. Trong khi ấy anh Hoàng Trừ, đại tá, phó giám đốc sở công an án nặng, bị kết án tù hai mươi năm hay chung thân tôi không nhớ rõ, tù ít năm đã được ra, lại được lương hưu, lại lương đại tá, lại lão thành cách mạng. Anh Tảo giám đốc sở lương thực bị án tù cũng là hai mươi năm hay chung thân tôi không nhớ. Ra tù, cũng lại hưởng lương hưu của giám đốc sở, cũng lại hưởng tiêu chuẩn lão thành cách mạng. Những chuyện này các anh biết hơn tôi. Các anh biết rõ luật pháp là như thế nào hơn tôi. Còn tôi không có tội gì thì bị cắt tất cả. Lương hưu tôi khi làm sổ có 160 nghìn. Vợ tôi hơn tôi mấy nghìn, không thể nào đủ sống. Cho nên bất kỳ cá nhân hay tổ chức nào tài trợ cho tôi mà không kèm theo điều kiện gì tôi đều nhận.(Bùi Ngọc Tấn. Hậu Chuyện Kể Năm 2000)

Trong cuộc sống, văn nghệ sĩ cũng như nhân dân phải luôn luôn phòng thủ. Ông viết:

Tôi cố gắng để giữ được cái văn hoá ứng xử của mình. Một thái độ giao tiếp bình thường đơn giản nhưng đòi hỏi mình luôn phải dè chừng cái phản xạ bản năng: Sự sợ hãi. Nhất là khi nói chuyện điện thoại với các bạn đọc ở nước ngoài, những nhà văn nhà thơ chống Cộng, những người đã sống trong lao tù Cộng Sản hàng chục năm, những người chắc chắn nằm trong sổ đen của nhà nước. Tất nhiên người đối thoại với tôi chỉ nói về tập sách, không bao giờ đẩy tôi vào tình thế khó khăn để tôi có thể bị phiền hà sau câu chuyện.(HẬU CHUYỆN KỂ NĂM 2000 -Thời biến đổi gien .Kỳ 27)


Trong địa ngục Cộng sản, các văn nghệ sĩ rất thương mến nhau, giúp đỡ nhau. Bùi Ngọc Tấn cũng có lòng nhân hậu, bao dung, kể lể cặn kẽ mối giao hảo giữa ông và các văn nghệ sĩ đương thời. Trong số đó ông quý trọng Nguyên Hồng nhất. Ông trân trọng viết về Nguyên Hồng:


Những ngày thơ ấu khi tôi đọc ở báo Tiền Phong đã hoàn toàn chinh phục tôi. Cho đến bây giờ tôi vẫn giữ ý kiến cho rằng đấy là tác phẩm hay nhất của Nguyên Hồng. Một tác phẩm như Thạch Lam đã nói: "ghi lại những rung động cực điểm của một linh hồn trẻ dại". Và Vũ Ngọc Phan thì cho rằng khi viết quyển truyện này, Nguyên Hồng đã "trút bỏ hết những thành kiến", "đặt mình lên trên tất cả dư luận".

Còn một nhà phê bình thì nói rằng với Những ngày thơ ấu Nguyên Hồng "đã đạt tới cái tầm chân thực mà thường chỉ các nhà văn Anh hay nhà văn Nga mới đạt tới. Làm sao các đồng nghiệp đương thời khỏi sửng sốt về cái khả năng chân thực ghê gớm mà cũng là cái gan góc tự do kiểu ấy? Các thế hệ sau còn sửng sốt nữa!". Nhân đây cũng xin phép được nói lạc đề một suy nghĩ của tôi. Hình như "cái khả năng chân thực ghê gớm", "cái gan góc tự do kiểu ấy" của Nguyên Hồng về cuối đời ít dần đi, cả trong con người lẫn trong tác phẩm.

Tôi đọc Bỉ vỏ lần đầu cũng vào thời gian ấy. Quyển truyện làm tôi sững sờ. [...].Tôi sững sờ vì tập tiểu thuyết đó được viết khi Nguyên Hồng mới mười sáu tuổi. Đó thực sự là nhà văn của những người đau khổ. Mười sáu tuổi, Nguyên Hồng đã có cái nhìn thấu đáo vào nguyên nhân tội ác, là trạng sư bào chữa cho lớp người cặn bã, bị khinh bỉ, bị lên án, làm đảo ngược những nhận định của xã hội về họ, những nhận định đã thành quy tắc, thành luân lý. Nguyên Hồng quả là nhà văn của những người dưới đáy. [...]. Tôi nghĩ có lẽ cần bổ sung: Những bài học của Bỉ vỏ vẫn còn nguyên giá trị thời sự. Nguyên Hồng vẫn là nhà văn của hôm nay. Nguyên Hồng còn là nhà văn của ngày mai nữa. Nguyên Hồng hôm nay vẫn đang nói cùng ta, "cái văn Nguyên Hồng vẫn còn rên rỉ" (Xuân Diệu). Mà không chỉ cái văn, trái tim Nguyên Hồng vẫn còn rên rỉ. ( Một Thời Để Mất)


Quả thật Nguyên Hồng là người đáng kính trọng.Sống trong chế độ cộng sản phi nhân, ông vẫn giữ cái tiết tháo của Nho gia. uy vũ bất năng khuất. Tô Hoài cho biết tình trạng Nguyên Hồng trong thuở Nhân Văn Giai Phẩm: Tôi đưa tờ báo Nhân Dân ngày 12 tháng ba năm 1958 in bài của tôi đề là Nhìn lại một số sai lầm trong bài báo và trong công tác. Nguyên Hồng cầm xem, chỗ qua loa, chỗ chăm chú...
Nguyên Hồng buông tờ báo xuống. Rồi Nguyên Hồng xua xua tay, nói như hét vào mặt tôi:
- Tiên sư mày, thằng Câu Tiễn! Ông thì không, Nguyên Hồng thì không!
Nguyên Hồng quỳ xuống trước tôi, rồi cứ phủ phục thế, khóc thút thít. Chị ấy bỏ chảo nem, chạy đến.
- Thầy nó làm sao? Lại làm sao thế?
Tôi đỡ Nguyên Hồng lên. Bà cụ có lẽ nặng tai, vẫn ngồi rờ rẫm vá víu chỗ áo rách. Dưới sân, trẻ con đùa cười nắc nẻ, lại cành cạch tiếng giã cua. Như không có gì mới xảy ra. Chúng tôi ngồi trở lại, yên lặng như từ nãy vẫn thế.
Nguyên Hồng nói khẽ:
- Tao tính cả rồi. Trông đây này.
Gian phòng vẫn bề bộn màn mùng như mọi khi. Nhưng để ý thì thấy có khác. Mọi thứ đã được gói, buộc lại như dạo trước tôi đã quen mắt thấy sáng sớm các thứ trong các nhà sắp sẵn để quẳng ra bờ rào tránh máy bay. Tôi gật gù, nhưng thật cũng chưa hiểu ra như thế nào.
-Tao về Nhã Nam.
- Về Nhã Nam?
-Ừ, Nhã Nam. Đủ, đủ lắm rồi. Ông đéo chơi với chúng mày nữa. Ông về Nhã Nam.” (Cát Bụi Chân Ai, trang 129).
Đặng Văn Long kể chuyện ông về Việt Nam, gặp Nguyên Hồng và hỏi:
– Năm 36, 37, 38, 40 thuộc Pháp, cậu còn viết Bỉ Vỏ. Sao bây giờ không viết đi. Nó còn ghê hơn Bỉ Vỏ ấy chứ.
Nguyên Hồng bảo tôi:
– Kệ mẹ chúng nó anh ạ. Đến khi tôi chết người ta sẽ biết tất cả. Bây giờ có rượu anh em mình uống đã.(HẬU CHUYỆN KỂ NĂM 2000 -Thời biến đổi gien .Kỳ 27)

IV. NGƯỜI DÂN CỘNG SẢN


Trước 1975, Việt cộng nói rằng nửa triệu phụ nữ Saigòn là gái điếm. Một vài người thiên cộng cũng theo tài liệu Việt Cộng cũng viết theo vậy. Nguyễn Tà Cúc viết:

"Lúc ấy, nếu người viết nhớ không lầm thì Sài gòn chỉ có khoảng 2 triệu dân, nhưng theo Germane Greer thì cứ 10 người dân Sài gòn (kể cả nam phụ lão ấu) thì có 1 cô gái điếm và khi tin tức này sang được đến tay mấy bà nữ quyền Hoa kỳ thì cứ 4 người Sài gòn lại có 1 người hành nghề mại dâm. Nếu tính chung chung là số phụ nữ thường bằng nửa dân số thì như vậy, cứ 2 phụ nữ Sài gòn là có 1 người bán dâm. Suy ra, nếu cứ theo cái kiểu tam đoạn luận (và động trời) này, chúng ta có thể kết luận rằng gia đình Sài gòn nào cũng sẽ có ít nhất là một bà ngoại, bà nội, bà mẹ hay một cô con gái (không cần biết lớn bé cỡ nào) bán dâm dưới nhiều hình thức khác nhau nhưng nói nôm na vẫn là "làm điếm":

-"Theo số thống kê do Liên đoàn Sinh viên Sài gòn cung cấp, có khoảng 200.000 gái bán bar, gái điếm và vợ tạm thời của người Hoa Kỳ. Hà nội quả quyết là 400.000. ("According to the statistics supplied by the Student’s Union in Saigon, there are 200,000 bar-girls, prostitutes and irregulars wives of Americans. Hanoi claims that there are 400,000...")" [Germaine Greer,"Saigon-Xuất hiện lần đầu trên tờ Sunday Times, ngày 5.tháng chạp. 1971-Đăng lại trong The Mad Woman’s Underclothes, trang 97, The Atlantic Monthly Press, Hoa Kỳ, 1986]

Không hiểu cái "Hiệp hội sinh viên" này ở đâu và làm cách nào mà có con số 200.000 để cung cấp cho Germaine Greer? Bằng cách …mua dâm?! Li kỳ hơn nữa, mấy chục năm sau khi quân đội Hoa Kỳ đã rút về nước mà số gái điếm vẫn bành trướng lên thành nửa triệu:

-"Trong khoảng thời gian Hoa Kỳ có mặt tại Miền Nam, có (tới ) hơn 500.000 gái điếm chỉ tại Sài gòn và cả quân đội Hoa Kỳ lẫn chính phủ Thiệu đã đẩy mạnh việc mãi dâm cũng y như dưới thời thực dân Pháp. […] Gái điếm được trả 1 mĩ kim mỗi lần tiếp khách và 80 % số tiến ấy vào túi của chính phủ trung ương (Miền Nam)…" ("During the US presence in outh Vietnam, there were over 500,000 prostitutes in Saigon alone, and prostitution was promoted by both the American military and the Thieu regime as it had been during the French colonial days. Prostitutes were paid $1 per client and 80% of their earning went to the central (South) government...") [Sisterhood is Global: The International Women’s Movement Anthology, trang 725, Chủ biên: Robin Morgan, Nhà xuất bản Anchor Books, 1984] (Nguyễn Tà Cúc.Trăm năm Mặc Đỗ: Những "con người hào hoa" của Cõi tự do. http://damau.org/archives/32187 )


Riêng tôi, sau 1975 đọc báo Nhân Dân thấy có bài bình luận nói Sài gòn có nửa triệu gái điếm .Tôi còn nhớ dân số Saigon trước 1975 là triệu rưỡi, sau 1975, dân Băc Kỳ xâm lược kéo vào con số lên khoảng ba triệu. Nay xem lại Wikipedia thì Saìgòn:

-1949, dân số 1,200,000

-1954, Bắc Kỳ di cư , 2,000. 000
 Năm 1975,  dân Saigon chết do Việt cộng,  tù đày, vượt biên , di tản.. hơn một triệu người thì đã có dân miền Bắc đổ vào, nên dân số đột biến

-1975: khoảng 4 triệu.

- 2012,  gần 7.750.900 người,

- 2015, Thành phố có 8.224.000 người
( Mỹ Ngụy xấu xa nhưng vàng bạc, đô la, nhà cửa, đất đai, nhà máy, các cửa hàng, nhất là con gái điền chủ, tư sản, và phụ nữ miền Nam nói chung  thì thơm lắm!)

Cứ cho trước 1975, dân Saigon hai triệu, phụ nữ chiếm một triệu, trừ bà già một nửa, thế là một nửa là gái điếm. Các ông Việt Cộng quen thói lếu láo, chuyên vu khống mạ lị kẻ thù nhưng họ quên rằng "đánh chó phải ngó mặt chúa", không được "vơ đũa cả nắm". Không lẽ vợ con các đồng chí Cộng sản nằm vùng và thân cộng là Kiều nữ của thời Mỹ đến Việt Nam? Không lẽ vợ con Nguyễn Hữu Thọ (con gái Nguyễn Hữu Thọ được Thiệu nuôi dưỡng), Huỳnh Tấn Phát, Thiên Giang, Vũ Hạnh, Trần Thúc Linh, Trần Tuấn Khải, Tôn Thất Dương Kị, bà Trần Bá Thành, bác sĩ Dương Quỳnh Hoa, ni sư Huỳnh Liên, vợ Thich Nhất Hạnh, LM.Phan Khắc Từ, và các sinh viên tranh đấu như vợ Nguyễn Hữu Đống,Nguyễn Hữu Thái, Cao Thị Quế Hương ..xuất thân là gái đứng đường hay sao?


Với tư cách kẻ chiến thắng, Dương Thu Hương đã chỉ trích miền Nam như trong CHÂN DUNG NGƯỜI HÀNG XÓM.Với tập truyện này, Dương Thu Hương được giải thưởng báo Văn Nghệ. xuất bản 1985 tại Hà Nội, và do Văn Hiến in lần thứ nhất , tại Hoa Kỳ năm 1997, dày 285 trang gồm 11 truyện ngắn, viết trong những thời gian khác nhau từ 1975 đến 1980. Trong tập truyện này, tác giả vẽ nên những cuộc sống ở hai miền Nam Bắc. Tác giả đã nhìn miền Nam sau ngày tan rã với cặp mắt của người chiến thắng.


Nguyễn Khải và nhiều tác giả đã nhìn miền Nam lúc đó bằng cặp mắt bề trên nhưng thái độ của Dương Thu Hương thì khinh thị rõ rệt hơn.Trong Loài Hoa Biến Sắc, Dương Thu Hương đã vẽ ra hai cảnh trái ngược. Cô bộ đội miền Bắc quê mùa, xấu xí không biết chưng diện nhưng là người cán bộ của đảng, là một công dân tốt, và là một kẻ chiến thắng giữa một thành phố chiến bại.


Trong khi đó một cô gái sang trọng quý phái lại là một gái bao của một cán bộ! Điều đó cũng là một phần sự thực. Tại đâu trên thế giới cũng có những phụ nữ làm nghề mại dâm. Trước 1975, miền Bắc cũng có gái điếm như trong truyện của Hoàng Lại Giang ( Ký Ức Tình Yêu , Nỗi Bất Hạnh Tình Yêu) và Nguyễn Huy Thiệp ( Thương nhớ đồng quê ). Nhưng Việt Nam cả Nam và Bắc sau 1975 cho đến hiện nay, con số phụ nữ hành nghề ' thân xác' như bia ôm, karaoké ôm, tắm ôm. .. và xuất khẩu sang Trung Quốc, Thái Lan rất đông. Một số cộng sản huynh hoang đạo đức cách mạng, chửi rũa miền Nam đồi trụy nhưng tại miền Bắc con đĩ lên ngôi và vào nội các chính phủ. Đó là Nguyễn Thị mà Trần Đăng Mạnh đã kể việc cô được bác Hồ đón tiếp bằng câu nói thân mật và bình dân đại khái như :  Em có buồn đái không ? bác dẫn em đi đái nhé!" Bác cháu ta cùng nhau hành quân  nhé!" và  Dương Thu Hương nhấn mạnh“Cô Tuyển vác đạn, con đĩ Hằng lên ngôi". http://dcvonline.net/2013/10/18/nhung-co-che-cua-su-nham-lan-3/


Có điều là nhân vật Mỹ Dung trong Loài Hoa Biến Sắc tiếp khách trong các nhà hàng hay khách sạn cao sang, và cô Nguyễn Thị Hằng, người nhờ nhan sắc, nhờ ôm ấp kỹ ông Quang, chỉ huy quân khu tả ngạn, được đưa lên thủ đô. Ở thủ đô, sau khi trở thành bồ non của ông Lê Đức Thọ, cô lại được ông Lê khả Phiêu tổng bí thư đảng bổ nhiệm vào chức Bộ trưởng bộ thương binh xã hội. ”(Dương Thu Hương)


Con đĩ đã trở thành nhất nhị phẩm triều đình, còn nhân vật của Bùi Ngọc Tấn thì quá kinh hoàng, tìm khắp thế gian ở đâu cũng không thấy quang cảnh địa ngục XHCN như ở Việt Nam.

Chị Sợi bán các thứ linh tinh. Khách hàng là các ông ăn mày.Thúc Sinh, Từ Hải là những ông bị gậy và nơi hành lạc là nhà của chị, bên cạnh giường bệnh đầy phân và nước tiểu hôi thúi của bà mẹ, và đối diện là nhà xí công cộng. Nó dài đến non chục mét, phân, nước giải, nước mưa ngập ngụa ra đến sát hẻm. Mùi nó còn nặng hơn nhiều, nhất là những hôm có gió mạnh.cầu tiêu công cộng cầu tiêu![...]. Chị Sợi có một mẹt hàng bán các thứ linh tinh ở đầu hẻm: ấm nước chè, gói thuốc lào, bao thuốc lá, lọ ô mai, gói bánh bích quy. Mùa nóng chị bán cả bia hơi. Khổ nỗi là chị chẳng thể nào cạnh tranh nổi với các hàng quán san sát gần đó. Họ có lều quán. Họ có cái bán mái nhô ra. Họ có cả căn nhà mặt tiền của họ. Hàng của họ trông vui mắt, sạch sẽ, sang trọng, nhiều loại, mới tinh, đầy vẻ mời chào. Chứ không như hàng của chị. Vạ ra vỉa hè thì chớ. Lại còn bụi bậm, bạc phếch, cũ kỹ. Không biết bao Vinataba của chị bóc bán được chưa mà vỏ bao đã nhợt ra hết cả. Để làm bớt đi vẻ nghèo nàn tiều tụy của mẹt hàng, chị Sợi đã ngồi lảnh ra một nơi, cách xa cái đám phồn hoa kia. Khách của chị cũng muốn như thế. Đó là những người ăn xin. Vâng. Những người ăn mày là khách hàng chủ yếu của chị. Những người này cũng muốn có một lúc dừng chân sau khi đã rạc cẳng trên các vỉa hè. Những người này cũng muốn trở lại làm người, cất đi trong chốc lát bộ mặt nhăn nhó đau khổ của mình khi đi ăn xin. Họ cũng muốn chuyện trò đôi câu một cách bình đẳng ngang hàng với những người không phải là ăn xin như họ. Họ cũng muốn ăn một cái bánh bích quy, cũng muốn lấy cái điếu cày của chị kéo một hơi cho đã, rồi chiêu một ngụm nước chè trước nụ cười tán thưởng của chị. Sang hơn thì làm một điếu Vinataba. Để rồi lại đi. Chị Sợi quen rất nhiều ăn mày. Chị biết có những người đi ăn mày để có tiền bó cái bậc hè. để láng nốt góc sân còn dở dang. Để thêm vào xây cái bể. Chị biết có những người ăn xin vì không muốn làm nghề gì khác. Nhiều người trong số họ là những người tình chốc lát của chị. Cô điếm già, xấu, nhăn nheo, gầy gò còn có thể có khách nào ngoài đám ăn mày. Người ta đi tới, ngồi xuống, uống chén nước chị rót và khẽ nháy mắt, hất hàm về phía trong hẻm. Chị khẽ gật. Người ấy đi. đi thẳng hè phố để rồi lát nữa mới quay lại. Chị Sợi thu xếp tất cả hàng họ vào thúng, bưng về nhà, đổ chậu phân nước giải dưới gầm giường bà mẹ, rồi đi tắm rửa bằng xà phòng thơm, lại còn xịt vào người, xịt vào giường bà mẹ, xịt lên gác lửng tí nước hoa rẻ tiền, kéo tấm ri đô che khuất một phía chiếc giường có người mẹ đang nằm khô như một cái xác nặng mùi hôi thối tỏa ra.( Bùi Ngọc Tấn-Truyện không tên)


Sau chị Sợi là một nhân vật tên Hào, dân Bắc Kỳ vào đô hộ Nam Kỳ sau 1975. Ông là người chiến thắng, thuộc giai cấp thống trị mà sao lại sống như một kẻ bần cùng. Với phương châm nổi tiếng về ăn uống của ông là qua cổng vào làng, ông đi phục kích những xe ô tô chở rau cho Công ty thực phẩm, kiên nhẫn chờ đợi tới tận nửa đêm. Các chàng lái xe thế nào chẳng quẳng cho ông khi một túi nặng xu hào bánh xe, khi hàng ôm rau muống. Rau mậu dịch thường ôi, dập nát nhưng cũng tốt chán. Tiện chiều thứ bảy đèo về nhà. Còn không thì rải xuống gầm giường cá nhân, nấu dần, nhiều rau tức thì bớt gạo, lại dôi ra được mấy đồng thêm vào đong mạch, đong ngô viện trợ cho ba mẹ con. Ông thành thật suy nghĩ: giá con người ta không phải ăn thì sung sướng biết bao nhiêu. Cho nên khi anh em trong tổ sản xuất động viên nhau cai thuốc lá, ông bảo Các cậu không cai được thuốc là xoàng. Ông đang định cai cơm tẻ đây.(Bùi Ngọc Tấn- Những Người Đi Ở)


Bùi Ngọc Tấn cũng nói đến thảm cảnh của những người đi bán máu:

Cho nên những ngày đi bán máu rất vui. Con người mình bỗng nhiên tăng thêm giá trị trước gia đình và trước bao cặp mắt của cánh phe vé, bỗng nhiên mình được bao bọc quấn quít giữa những cái nhìn trìu mến, tình cảm, hò hẹn của đám đàn ông đàn bà chuyên sống bằng buôn bán tem phiếu lúc nào cũng có mặt ngoài cổng bệnh viện. Đội ngũ phe vé cũng đông xấp xỉ đội ngũ những người bán máu. Giá cả dễ thống nhất. Giá làng. Người trao tiền, người trao phiếu là xong. Điều gay go nhất là tiêu chuẩn bồi dưỡng còn được một bát phở tái bò, nhưng phải xếp hàng ăn ngay tại hành lang bệnh viện. Những lần đầu đứng ngồi xì xụp bát phở ngoài hành lang ngượng lắm. Cắm mặt mà và, mà xụp xoạp cho nhanh. Nhưng rồi quen. Nghĩ mình lương thiện. Quá lương thiện. Lương thiện gấp trăm lần những người khác. Chẳng có gì mà xấu hổ. Thế là dần dần cứ ăn bình tĩnh nhẩn nha. Chẳng nuốt vội nuốt vàng như trước. Để thấy chất bổ ngấm vào người, vào máu. Để thấy mình đang hồi phục. [...].Lương thiện thì rõ ràng là lương thiện rồi. Nhưng nó tố cáo bước đường cùng. Người bán máu nuôi con đi học. Người lương hưu ít ỏi không đủ sống. Quần áo chỉn chu. Tóc chải gọn gàng. Mặt mũi sáng sủa, đi lại rón rén nhẹ nhàng chỉ trông cũng biết là người có học. Đấy là một loại. Loại này đông nhất. Loại thứ hai ít hơn: Những nam nữ thanh niên còn rất trẻ, quần áo bít dít cười nói trò chuyện ồn ào. Đó là cánh thanh niên đua đòi ăn chơi tung tẩy rủ nhau đi bán máu lấy tiền mua nhẫn vàng mua đồng hồ quần bò áo phông. Còn dân bán máu chuyên nghiệp lại khác. Giống cánh trí thức. ít nói. Có nói cũng rất khẽ. Khuôn mặt đầy lo lắng ưu tư. Họ có nhiều sổ, bán ở nhiều nơi. Có khi lên cả Sơn Tây, Thái Nguyên. Về cả Thái Bình. Họ chưa đến hạn được bán. Họ sợ máu họ loãng. Họ sợ bệnh viện nhận ra sự gian dối của họ. Dân chuyên nghiệp bán máu xong là đổ xô đi mua viên sắt, uống nước cua sống. Hy vọng như vậy sẽ có đủ huyết sắc tố cho đợt bán sau. Dân chuyên nghiệp vén ống tay áo lên nhìn biết ngay. Chằng chịt vết kim. Lân bán máu sau Tường. Nhưng Lân là người theo đuổi cái công việc này lâu nhất. Khi kẻ viết bài này lang thang từ các miền rừng núi trở về, đã sẵn có nghề trong tay, Lân đi bán máu đột xuất, chiêu đãi y một bữa bún chả, ăn trong căn buồng hẹp nhà Lê Bầu phố Phùng Hưng. Một bữa ăn vĩnh viễn nằm trong trí nhớ. (Phần III) *



Biển và Chim Bói Cá là cuộn phim về sự tan rã của một xí nghiệp đánh cá theo phương thức XHCN, sự khốn cùng của lao động tập thể dưới sư bóc lột và đày đọa của Cộng đảng trong thời bao cấp. Và cũng là cáo trạng về sự băng hoại con người, nhất là lớp trẻ sẽ trở nên con đồ, du đãng, trộm cắp, mất nhân tính, mất niềm tin vào lớp cha anh, vào bọn lãnh đạo tàn ác và ngu dốt, và vì nền giáo dục của chủ nghĩa Marx.


Đây thuyền trưởng Trần Bôn, ngăn nắp, quy củ, yêu vợ và trung thành với vợ. Đây thuyền trưởng Trần Nhân Chơn, hào phóng, lãng mạn, yêu người cũ một cách nồng nàn. Nhạn, cô đánh máy xinh xắn, láu lỉnh, đùa cợt những đồng chí chuyên gia nước ngoài, trịnh trọng com-lê ca-vát, chế giễu thân mật các sếp, và không thân mật lắm các nhà chức trách. Cảnh, anh chàng phụ trách việc nhổ cỏ dại (trong cái xí nghiệp quốc doanh đang đi dần đến giai đoạn cáo chung ấy, có nhiều chức vụ mà ta khó tưởng tượng được nó có tích sự gì), thông minh, không chịu được chỗ đứng của mìnhThuyền trưởng Huy, một người sẵn sàng làm đủ mọi điều đê hèn, phản trắc, nịnh hót, để thỏa mãn tham vọng của mình. Ở cực bên kia, thuyền trưởng Lê Mây là một người ngay thẳng, nhưng lại không biết mềm dẻo với sự đời. Lại có Quán Mèo một gã xuất thân chăn vịt rồi đi đến giàu có, quyền thế, nhờ chăm chỉ, khôn khéo, mánh khóe, liều lĩnh, xét cho cùng, con người không ác, chẳng qua chỉ là biết lợi dụng nhân tình thế thái. Nhiều nhân vật được mô tả cả về hình dáng. Đây thuyền trưởng Lê Mây « khuôn mặt sạm nắng gió và muối mặn, vuông vức, râu ria, mắt dữ dội nhìn thẳng trên một nền trời biển ».



Tất cả các nhân vật đó vật lộn với đời, ở buổi giao thời, chính sách đổi mới chưa có kết quả, cái gì cũng thiếu. Trong quan hệ người với người, những hành vi bất lương, vô sỉ, cũng có. Nghèo đói là số phận của mọi người, trên bờ hay trên biển, cần cù mệt nhọc để chưa đủ nuôi vợ nuôi con. Sự liên đới giữa những người khổ sở đôi khi cũng dẫn đến những cảnh ngộ nghĩnh ; đọc đến đoạn cô gái chuyên ăn cắp dầu của cảng, đứng chửi anh công an vì anh ta khám tầu để tìm hàng lậu của những anh thủy thủ buôn về làm kế sinh nhai, mà phải buồn cười « Người ta đi vất vả, sông nước kiếm miếng ăn, lại kéo đến ăn hớt tay trên của người ta ». Ăn cắp là một nghề rồi.



Tình yêu, qua các nhân vật khác nhau, được xem dưới đủ mọi dạng. Thay vì tình yêu, nói về tình dục nam nữ đúng hơn. Đây là những anh thủy thủ thả lên bờ, từng đoàn hớn hở đi tìm thú vui xác thịt, nơi những cô gái đợi sẵn bên đường. Ở cực bên kia xã hội những ông tổng giám đốc rủ nhau tung tiền đi những nơi trụy lạc xa hoa. Tình yêu cũng có. Đây anh thuyền trưởng mê vợ, luôn luôn nhớ đến vợ. Đây anh bác sĩ đi buôn trích vốn ra mua một loạt quần trong kích dục để về ngắm vợ. Cũng có anh thủy thủ mê vợ, hãnh diện về vợ, rồi đi biển lên bờ cũng theo bạn ăn chơi dâm dãng.


Đời sống trên tàu đánh cá rất cực nhọc. Làm việc ba ca tám tiếng. Ban đêm cứ hai tiếng rưỡi lại phải thức dậy, hai tiếng rưỡi là thời gian một mẻ lưới : thả lưới, đi ngủ vội để cho tàu kéo, nhấc lưới, dỡ cá, cho ướp đá, rồi lại thả lưới… Tàu thì luôn luôn rầm rập máy nổ. Nhưng biển cũng có nguồn lợi cho người hưởng. Trong tình cảnh thiếu thốn thời bấy giờ, đặc biệt thiếu thốn về chất đạm, người đánh cá thật là may mắn, ăn tôm ăn cá suốt ngày, trong bữa ăn, ngoài bữa ăn, trong những buổi liên hoan tổ chức trên tàu.


Tác giả chỉ kể lại những điều có thật. Những lễ vật biếu các quan chức, từ vật nhỏ như con gà luộc, đến những cống hiến hàng trăm hàng ngàn đô-la. Những mánh khóe để chia nhau tài sản của Nhà Nước. Những sự chênh lệch giàu nghèo hiển hiện ra đấy. Tất cả được diễn tả một cách hồn nhiên. Thì có gì đâu ? Đời sống bình thường. Nhìn bởi con mắt sắc bén của tác giả.


Câu chuyện được kể với một nụ cười chua xót, nhưng trên hết, với đầy tình cảm, làm ta cười, ta khóc, theo từng hoàn cảnh. Một câu chuyện chan chứa tình người. Khiến độc giả quyến luyến với những nhân vật mà được thấy một mảnh đời trong đó.




Bùi Ngọc Tấn là một nhà văn trung thực và nghệ thuật của ông đã làm cảm động người đọc, đưa người đọc đi sâu vào điạ ngục trần gian, hiểu tổ chức của nó, hiện thực của nó và các ngõ ngách tâm hồn của giai cấp thống trị. Ông là một nhà văn lớn, một chứng nhân lịch sử như lời ông nói:

Thế hệ chúng tôi đã chứng kiến biết bao biến động của Lịch Sử. Một thế hệ nhiều năm rồi nằm trong tầm súng bắn tỉa của Thần Chết, đang biến mất khỏi hành tinh này không để lại một vết xước nào. Tôi chỉ muốn thật trung thực trong khi viết để góp phần vào việc lưu giữ ký ức của Dân Tộc."

NGUYỄN THIÊN-THỤ
OTTAWA, CANADA, 
20-5-2017



No comments: