Sunday, May 28, 2017

NGUYỄN HUY * ÂM DƯƠNG ẨM THỰC II



10
Ăn chay và sức khỏe


            Ai cũng biết ăn chay giúp cho tránh được một số bịnh liên quan đến thịt động vật, thí dụ như bệnh bò điên (Creutzfeldt-jakob), cúm gà, chất mỡ cholesterol xấu. Còn ăn nhiều rau quả thì ngăn ngừa sự phát triển chứng xơ cứng động mạch, giảm nguy cơ bệnh tim mạch, chứa nhiều chất (pectin, beta carotene, lycopen v.v.) chống oxyd hóa (anti oxydants) làm giảm bớt các gốc tự do (radical libre). Tuy nhiên người ăn chay vẫn có thể bị bịnh nếu không chú ý đến các điều sau :
- Thiếu chất dinh dưỡng hoặc sinh tố khoáng chất vì tuổi già, sanh đẻ… nên tạng phủ nhất là bao tử suy yếu nên sự hấp thụ các chất đều suy giảm ;
- Lạm dụng khí thực phẩm không hạp với tạng khí ;
- Qui nạp các độc tố do sự biến chế kỹ nghệ.

1. Ăn chay tùy cơ


             Như Ngài Bảo Pháp Nguyễn Trung Hậu khuyên ăn chay cũng không nên tuyệt đối,  việc ăn chay cũng như việc tu hành, không nên thái quá mà cũng không nên bất cập. Có nghĩa là người ăn chay nên áp dụng nguyên tắc «tùy cơ, bất biến». Người tu Đạo ăn chay là căn bản (bất biến) nhưng đôi khi vì sức khỏe hay giao tế với xã hội thì « tùy cơ ». Vậy người ăn chay phải « tùy cơ » nếu mắc chứng rối loạn dinh dưỡng như giảm cân, mệt mỏi, người xanh mét, cử động yếu ớt…Trong những trường hợp này, nếu bác sĩ không tìm thấy căn nguyên, thì việc đầu tiên phải tìm hiểu rối loạn dinh dưỡng thường sảy ra có thể do ăn chay không đúng cách, thiếu chất đạm, sinh tố, khoáng chất, hấp thụ không đủ chất dinh dưỡng vì tuổi già, có thai, bệnh dạ dày, ăn nhiều hóa chất độc hại…

            Nếu ăn chay mà người cứ giảm cân, xanh mét, áp xuất huyết thấp, chóng mỏi mệt, sức khỏe suy giảm… thường là do nồng độ calo tương đối thấp của một chế độ ăn chay thì phải gia tăng số lượng chất dinh dưỡng (bằng đồ chay, sữa, trứng, sinh tố…) trong các trường hợp sau.
            - đàn bà có thai, cho con bú,
            - trẻ nhỏ chậm lớn, chậm phát triển
            - tuổi già, khả năng hấp thụ suy giảm nên thiếu chất dinh dưỡng,
            - sau cơn bệnh nặng cần bồi dưỡng chất bổ của động vật (sữa, trứng…)
            - người bị loét dạ dày không hấp thụ được dinh dưỡng đầy đủ vì rau củ chứa nhiều gluten.
            Nếu có những rối loạn dinh dưỡng như trên thì người ăn chay thiếu hụt chất dinh dưỡng nào thì tùy cơ ứng biến như Ngài Bảo Pháp dạy. Thí dụ thiếu sinh tố B12 thì uống thêm sữa, ăn trứng, nếu giữ chay trường thì uống viên B12, B complex. Không nên ăn chay nếu có lời khuyên của bác sĩ hay chuyên viên dinh dưỡng, lý do vì một bệnh nào đó thí dụ dị ứng với tất cả loại đậu, loại hạt …


2. Thiếu chất gì?

Chất đạm[1]

Vì có sự giới hạn chất amino-acids nên người ăn chay phải dùng nhiều chất đạm thảo mộc. Ăn chay ít chất đạm hơn ăn thịt nên đôi khi thiếu hụt chất đạm với các dấu hiệu sau: luôn luôn mệt mỏi, chậm tiêu hóa, đi đứng uể oải, thiếu tập trung, kháng viêm yếu kém…
            Khi xuất hiện triệu chứng thiếu chất đạm, thì phải gia tăng tiêu thụ các thực phấm cho nhiều chất đạm như: đậu hũ, rau đậu (đậu nành, đậu lăng (lentils), đậu lima, gạo, bánh mì, đậu hà lan, nước uống đậu hũ, các loại hạt như mè, hạt điều, hạt dẻ, óc khỉ… 
So sánh với cân lượng (100g), các chất dinh dưỡng giữa sữa đậu nành và sữa bò


Sữa đậu   nành
       100g
 Sữa bò
   100g
Nước
Chất đạm
Chất béo
Đường

Calcium
Phosphore
Sắt
Thiamine
Riboflavine
Niacine
92.5 g
 3.4  g
 1.5  g
 2.1  g

21  mg
47  mg
7   mg
09 mg
04 mg
3   mg
87.0 g
  3.5 g
  3.9 g
  4.9 g

118     mg
  93     mg
    0.1  mg
     0.04 mg
    0.17mg
    0.1  mg

Cần bao nhiêu chất đạm? Theo RDA (recommended dietary allowance) của mỗi cá nhân, chất đạm cho đàn ông là 60 gram và đàn bà 50 gram (người hoa kỳ). Cách tính chất đạm cho người Việt chẳng hạn thì phải phụ thuộc vào yếu tố tuổi, trọng lượng cơ thể, khí hậu, hoạt động…

Báo động

Đậu hũ và vài phó sản khác của đậu nành cho nhiều chất đạm và giúp đàn bà mãn kinh bớt bực bội khi lượng hormone oestrogene giảm. Tuy nhiên, đàn bà có tạng khí quá âm hàn (người lạnh, tim yếu, hay tiểu tiện, tiêu chảy…) thì phải thận trọng vì đậu hũ chứa nhiều khí âm và có thể làm cho bệnh âm nặng thêm. Trong trường hợp đó, nên ăn đậu hũ chiên cho thêm dương bớt âm.

Sinh tố

 Ăn chay có thể thiếu hụt sinh tố nhất là B12 và D.

Thiếu B12
  Cơ thể cần mỗi ngày  khoảng 3mcg sinh tố B12. Theo các khảo cứu khoa học, những người thường thiếu B12 là:
- Phụ nữ mang thai và cho con bú, làm bào thai chậm lớn. Triệu chứng thiếu B12: bắp thịt yếu, mắt mờ, thiếu máu sẽ biến mất nếu uống thêm các supplements có chứa B12.  Ngày xưa tại Việt Nam, sản phụ có thể bại suội, đêm ngủ cảm thấy có luồng khí lạnh quái dị chạy trong người. Ăn tô cám là hết hoặc ngày nay thì uống viên sinh tố B.

            - Người ăn chay trường hay bị thiếu sinh tố nhất là sinh tố B12. Lý do, sinh tố B12 chỉ có ở các thực phẩm động vật. Một khảo cứu của Đức nhận thấy 60% người ăn chay thiếu B12 ở cấp 3. Đến cấp 4, hệ thống thần khinh có thể bị hư hại.
- Người cao tuổi thường ăn thiếu đa dạng, ăn ít, hay bị viêm teo bao tử mãn tính (gastrite atrophique chronique) khiến nồng độ của acide chlorhydrique suy giảm và vi khuẩn đường ruột gia tăng.Triệu chứng thiếu B12 ở người lớn hoặc tuổi già là hay quên, lẫn, tứ chi như kiến bò, suy nhược, tai ù, thiếu máu, đi đứng thiếu thăng bằng. Từ trên 60 tuổi ngay cả người ăn mặn cũng có thể thiếu B12. Lý do bao tử yếu không tiết ra đủ suc gastrique để làm nhuyễn đồ ăn nên cơ thể thiếu B12 dự trữ trong gan và bắp thịt.

Thiếu sinh tố D
            Mỗi ngày cần 400 IU đến 1000 IU. Nhưng theo các khảo cứu gần đây, rất nhiều người thiếu sinh tố D trầm trọng nên phải thử máu để ấn định liều lượng mỗi ngày có thể tăng lên 2 hay 3000 IU. Sinh tố D có nhiều trong hải sản, trứng sữa  và do tia cực tím B (UVb) của nắng mặt trời cấu tạo trên da. Sinh tố D giúp chuyên chở chất vôi, phosphore để cấu tạo xương.
Triệu chứng thiếu D: Người lớn đau nhức xương còn trẻ nhỏ bệnh xương (rachitisme).     
Ăn chay sau 5 năm hay chay trường nếu không ăn trứng, sữa, thiếu sinh tố B12 có thể sảy ra và thiếu sinh tố D nếu sống xứ lạnh ít phơi nắng.

Thiếu kẽm (zinc).
            Chất kẽm có trong động vật và các hạt, ngũ cốc, rất cần thiết cho con bú, thai nghén, trẻ đang lớn vì kẽm giúp đổi mới tế bào.

            Nếu ăn chay đa loại, đúng cách thì các sinh tố khác C, A, E và các khoáng chất sắt, kẽm, magnésium, calcium … có rất dồi dào trong các món chay rau trái, ngũ cốc, hạt nên chỉ có quan ngại hai điều:
- Từ 50 tuổi sức hấp thụ của bao tử suy giảm dần nên thường có triệu chứng thiếu sinh tố B, E, A, C và khoáng chất nhất là magnésium;
- Dù ăn nhiều rau trái mà vẫn có triệu chứng thiếu hóa chất, lý do là rau trái trồng tỉa trên đất cằn cỗi dùng nhiều phân hóa học nên cung cấp ít khoáng chất.

Vai trò khí âm-dương của khoáng chất

Khoáng chất
Khí âm-dương
Nhu cầu mỗi ngày
Triệu chứng thiếu hụt
Calcium
dương
800mg
Bệnh về xương, chậm lớn
Magnésium
âm
300 đến 350mg
Bệnh cơ bắp, chuột rút
Sodium
dương
3 đến 5g
Tim đập, áp huyết thấp, mệt…
Potassium
âm
100mg
Áp huyết cao, tim yếu, buồn nôn

Báo động

Báo động 1: thiếu sinh tố

            Với người có sức khỏe tương đối bình thường thì chỉ có thử máu là cho ta biết chắc chắn sinh tố nào thiếu. Một khi có triệu chứng thiếu một sinh tố nào đó thì sự thiếu hụt đã khá trầm trọng, tốt nhất là uống viên thuốc sinh tố thiếu hụt và phải thận trọng vì có thể sanh bệnh vì qui nạp quá nhiều một sinh tố (survitaminose).
            Bình thường chúng ta thường nói tôi ăn uống đầy đủ làm sao thiếu được ! Nhưng chúng ta quên hay không biết điều này: tạng phủ suy yếu nên hấp thụ không đủ sinh tố và khoáng chất dù ăn uống đầy đủ trong các trường hợp sau :
            - Tuổi già, tạng phủ cũng già theo. Từ 50 tuổi đôi khi nước bao tử (suc gastrique) tiết  không đủ để nghiền nát thực phẩm mà cung cấp sinh tố cho cơ thể ; da cũng già nua nên tiếp nhận kém ánh nắng mặt trời nên thiếu sinh tố D ;
            - Thai nghén, cho con bú, bệnh nặng…khiến cho hấp thụ thấp kém mọi chất.
Giải pháp là thử máu để uống thêm sinh tố thiếu hụt và người già uống thêm thuốc đa sinh tố (multivitamines).
           
Báo động 2: khoáng chất

               Vài cơ sở tôn giáo dạy ăn chay thường hay dựa vào phép dinh dưỡng Ohsawa gạo lức, muối mè, dùng vị mặn để rửa chất acid… Không ai có thể phủ nhận được nhiều điều hay và ích dụng của phương pháp này; thí dụ trường hợp một em bé quá âm, Ohsawa khuyên cho ăn một muỗng gomasio (3/4 hạt mè xay +1/4 muối) sẽ làm dương khí tăng, em bé sẽ vui tươi. Phương pháp này chữa được nhiều bệnh về suy nhược cơ thể, ăn tạp loại chứa độc tố, bất quân bình khí âm dương. Trong thời gian ăn chay gạo lức muối mè, cơ thể được nghỉ ngơi nên có sức sa thải các độc tố mà trở nên khỏe mạnh lại. Nhưng độc giả nên thận trọng vài điều về người rao giảng phương pháp này:
            - Thiếu hiểu biết về khí âm dương và khoa học thực phẩm nên ít uyển chuyển áp dụng phương pháp dinh dưỡng. Thí dụ cứ khuyên dùng muối, sì dầu tương mặn mà không biết rằng vị mặn dùng thái quá gây « thủy (thận) hỏa (tim) bất tương giao » nên làm hại người áp huyết cao, bệnh tim, thận;
            - Không biết rằng cặp khoáng chất potassium (âm)/ sodium (dương) là cặp khí âm dương. Lạm dụng chất mặn sodium là tạo bất quân bình khí âm dương, tức gây bệnh;
            - Đôi khi sách Ohsawa nói quá đáng là chữa mọi bệnh kể cả ung thư, cùi hủi, đậu mùa, giang mai… Chính nhờ nói quá đáng mà khiến nhiều người tin như « sấm », chẳng cần phân biện hợp lý hay không.
            Vậy, bất cứ lời khuyên hay sách nào về thực phẩm mà không làm cho sức khỏe gia tăng, chứng bệnh cũ không suy giảm mà còn sanh ra chứng bệnh mới, có nghĩa là các điều đó không hạp với tạng khí thì xin độc giả hãy thận trọng suy nghĩ lại.

3. Nguy cơ hóa chất trong phụ gia

            Hóa chất độc hại gây bệnh có thể chứa trong thực phẩm thiên nhiên hoặc do hóa chất kỹ nghệ được xử dụng như chất phụ gia thêm vào thực phẩm để tạo màu sắc, mùi thơm, bảo quản cho lâu hư. Dù hóa chất thiên nhiên hay nhân tạo, nếu  dùng lâu, quá phân lượng đều rất nguy hiểm cho sức khỏe.

 Độc chất thiên nhiên

            Măng tre (tươi hay khô) và khoai mì (Cassava) chứa acid cyanhydric (dùng để giết người của Đức quốc xã) ăn nhiều lại không rửa kỹ có thể gây ói mửa, ngộp thở, đau đầu... Trong măng tươi, chất đắng là dấu hiệu chất độc hại. Muốn giảm bớt chất độc hại, măng phải lột vỏ, cắt thành lát nhỏ ngâm trong nước (vôi, muối...) rồi luộc 2 hay 3 lần cho hết chất đắng.
            Xưa các cụ thường khuyên phụ nữ ăn ít khoai mì để tránh bệnh huyết trắng (perte blanche) là vì chất acid cyanhydric.
            Một số củ trong đất (âm), sinh chất độc khi đụng chạm đến môi trường dương. Thí dụ như khoai tây để ngoài ánh sáng hay nắng sẽ làm mất sinh tố B phát sinh những mảng xanh độc phải cắt bỏ khi ăn.

Thực phẩm biến chế tại hải ngoại

            Một số đồ chay mặn làm sẵn tại tiệm thường chứa một phân lượng quá cao các chất phụ gia nên có thể gây xáo trộn khí âm dương hoặc gây bệnh nếu ăn nhiều và hàng ngày các chất này.
            - Bột ngọt. Hiện tượng lạm dụng bột ngọt trở thành độc nếu bạn thấy cứ khát nước sau khi ăn phở, bún bò huế, suông… hoặc nhức đầu sau khi ăn ở tiệm tàu (người tây phương gọi là syndrome du restaurant chinois). Đã có triệu chứng này lại « trưa phở tối cơm tàu » thì độc giả phải suy nghĩ lại.
            - « Cơm tám giò chả ». Giò, chả, rau dưa muối dòn ngon thường chứa quá nhiều bột ngọt, đường, muối và nhất là độc tố hàn the (Borax) vì chất hàn the sẽ hại gan, thận và vấn đề sinh dục. Phải ngừng hấp thụ chất hàn the (trong giò, dưa muối) nếu đã có triệu chứng thận suy nhược (tiểu nhiều, tình dục suy giảm vì khí dục khởi sanh từ thận khí, viêm prostate…).
            Độc tố dầu ăn. Tàu hũ chiên sẵn trong dầu cũ chiên đi chiên lại nhiều lần trở thành độc tố làm suy yếu gan và tăng chất béo xấu (cholesterol LDL), một trong nguyên nhân gây tai biến mạch máu não, đột qui (heart attack, strokes). Mỡ, dầu cũ, dầu dừa (coconut milk), dầu cọ (palm oil) chứa chất béo bão hòa[2] (saturated fat) không tha một ai hết dù ăn chay ở nhà hay thánh thất.
            - Món chao lên men cổ truyền phải mất nhiều tháng. Để lên men nhanh, nhà sản xuất nhúng tào phớ vào acid cực mạnh để vào hũ một ngày sau là lên men.
            - Muối diêm thuộc nhóm nitric bị cấm ở Hoa Kỳ, Gia Nã Đại…là chất gây ung thư được dùng nhiều  trong nem chua, lạp xưởng để làm cho thịt heo đỏ đẹp.

Phụ gia độc hại của thực phẩm nhập cảng

            Nấu chay hay mặn đều dùng gia vị nhất là nước tương, dầu hào, nước mắm. Nhiều gia vị xuất xứ từ những hãng biến chế Trung Quốc, Việt Nam có chứa hóa chất độc[3]. Xin kể vài thí dụ sau.

            Độc tố trong tương
            Food standard Agency (Trung ương FSA) cho biết có 22 loại tương trên 100 loại gây ung thư. Có loại vì chứa hóa chất quá cao 3-MCPD theo tiêu chuẩn âu châu,  2/3 loại nước tương chứa hóa chất 1,3-CPD không nên có trong thực phẩm. Các hiệu nước tương nên tránh: Golden Moutain, Jammy Chai, Pearl River Bridge, Lee Kum Kee, Wanjashan, King Imperial, Goldem Mark, Sinsin, Golden Swan, Tung Chun, Kim Lan.

              Độc tố trong nước mắm
            Trước đây chưa có hóa chất nên chỉ dùng muối và nắng để bảo quản tôm cá. Nay thì dùng chất đạm trong phân ure ướp cá chứa trên ghe nhiều ngày mà vẫn tươi để bán lại cho hãng nước mắm.

            Độc tố Formol
            Chất Formol (khí formoldehyde tan trong nước) để ngâm xác chết cho sinh viên thực tập. Chất độc hại này đã được người Trung Hoa dạy cho người Việt dùng trong kỹ nghệ ướp cá không bị hư thúi hoặc pha trộn với thực phẩm (bánh phở, bún…) để tránh meo mốc.
            Chính tôi đã tự kiểm chứng bằng để ra ngoài trời một miếng cá bông lau đông lạnh sản xuất từ Việt Nam và một con cá tapilia xuất cảng từ Trung Quốc, cả mấy tháng sau cá không hư thúi mà chỉ cứng lại như khúc gỗ. 
            Chất  formol cũng được bỏ vào bột bánh phở, bánh tráng, miến sẽ không meo mốc. Trong 20 mẫu bánh phở của Việt Nam đem đi phân tích, 16 mẫu có hàm lượng formol khá cao (Phỏng vấn Trà Mi với giáo sư Huỳnh Chiếu Đẳng). Sau khi chọn một hiệu bánh tráng hay bánh phở, bạn hãy kiểm nghiệm bằng ngâm một miếng trong nước sau mấy ngày mà miếng bánh vẫn đẹp cứng như plastic tức là chứa quá nhiều formol đó. Và hãy suy nghĩ về lời nói của TS Nguyễn Bá Đức ở bệnh viện ung bướu trung ương: « Tại Việt Nam mỗi năm có thêm 150 000 người bị ung thư, đa số vì thực phẩm».

            Độc tố trong thực phẩm
            Nếu thấy bánh chưng do Việt Nam xuất khẩu vào dịp Tết mà lá gói có màu xanh tươi bất thường tức người gói đã dùng Pin chứa chì, thủy ngân, thạch tín rất tai hại cho sức khỏe.
            Nấm khô trung quốc chứa thuốc trừ sâu carbon disulfide nên để cả nhiều năm cũng không mốc meo, hư thúi. Tôi đã tự kiểm nghiệm bằng để nấm khô ra ngoài cả năm mà nấm vẫn trẻ đẹp như thuở nào.Trước khi xào nấu, phải ngâm trước, nấu qua rồi đổ nước đi vì chất hóa học, thuốc trừ sâu bọ. Tốt nhất là nên ăn nấm tươi nhưng cũng phải nghĩ đến tại Trung Quốc và Việt Nam, nhiều loại nấm được cấy trong các bình chứa chất hóa học.
            Khi chọn đồ ăn khô thì phải để ý tôm khô đỏ tươi không mốc là nhờ dùng hóa chất trừ kiến (tôm khô phơi nắng tự nhiên có màu xanh xám dễ mốc). Bì heo khô xắt nhỏ trắng tinh là nhờ « óc sáng tạo » rửa bì heo bằng eau de javel của người Trung Hoa.


            « Món ăn chay giả mặn »

            Trong những năm gần đây tại Việt Nam, theo tác giả Huỳnh Ngọc Thu[4], một tín đồ Cao Đài, thức ăn chay của tín đồ Cao Đài còn đa dạng hơn « với việc xuất hiện các món chay công nghiệp được nhập từ Đài Loan, như gà chay nguyên con, heo quay chay, vịt tiềm chay, thịt bò chay, thịt heo chay… Những món ăn này được tín đồ Cao Đài mua về từ các siêu thị, chế biến lại dùng để đãi tiệc». Các món chay giả mặn này « có thể » tiềm ẩn những hiểm họa khôn lường cho sức khỏe và tu Đạo:
- Món chay chứa chất phụ gia tạo mùi vị, định hình, phẩm màu, chất bảo quản độc hại…
 - Món chay « có thể » chứa thịt động vật (khiến người tu phá giới). Năm 2004, báo chí tại Đài Loan công bố kết quả điều tra các món ăn chay giả mặn gây ra cái chết một phật tử ăn chay trường từ 30 năm nay. Bác sĩ chẩn đoán cái chết của bà là do thịt của bò điên (Creutzfeldt-jakob) vì bà ăn những đồ chay giả thịt bò, thịt heo xay. Các sản phẩm này là thịt viên chay (meatballs), cá viên chay (imitation fish balls), bánh cá chay (imitation fish cake), hoành thánh cá chay (imitation fish dumplings), tempuras chay.

           Tóm lại,  người nấu chay hay mặn đều phải lắng nghe những lời khuyến cáo chính thức do phòng thí nghiệm công bố về độc tố trong các phụ gia và thực phẩm biến chế của Trung Quốc và Việt Nam. Còn nếu chúng ta nghi ngại về hóa chất độc hại trong thực phẩm nào đó thì nên tự kiểm nghiệm những thực phẩm nghi ngờ đó như vài thí dụ sau.
           Thử nghiệm cá đông lạnh, tôm khô, bì heo trắng tinh… nhập khẩu từ Trung Cộng và Việt Nam. Nếu các thực phẩm này có chứa hóa chất độc hại ( Formol, eau javel…) thì  để cá ra ngoài trời cả tháng, cá và tôm khô cứng lại không hôi thúi, tôm vẫn đỏ tươi không hôi mốc; còn nếu kho, nướng, nấu canh chua… cá có mùi tanh đặc biệt. Kiểm nghiệm một hiệu bánh tráng hay bánh phở bằng ngâm một miếng trong nước sau mấy ngày mà miếng bánh vẫn đẹp cứng như plastic tức là chứa quá nhiều formol đó.  

Điều ghi nhớ:
Sau khi khám bác sĩ, thử nghiệm máu, tiểu, phân, kết quả đều tốt mà bạn vẫn có triệu chứng này triệu chứng khác thì đừng chỉ nghĩ rằng « tôi ăn uống đầy đủ, tập thể dục điều hòa…» là đủ mà bạn hãy nghĩ đến:
- Tuổi đời, tạng phủ suy yếu: Từ 60 tuổi, bao tử hấp thụ suy giảm nên thiếu sinh tố, vì da già nên thiếu sinh tố D dù phơi nắng nhiều.
- Ẩm thực trái với tạng khí thí dụ tạng nhiệt mà cứ ăn uống đồ nóng (rượu, bia, soài, sầu riêng…) thì bệnh nhiệt sẽ nặng thêm (trĩ, mụn nhọt, áp huyết…).
- Các độc tố hóa học trong phụ gia làm cho Tinh thực phẩm ô nhiễm đang âm thầm tàn phá cơ thể để gây bệnh chết người.



  11

Vài trị liệu bằng khí âm dương


             Sau khi đọc xong cuốn sách này, các bạn hãy áp dụng phương pháp của người xưa tìm hiểu khí vô hình bằng QUAN SÁT VÀ CẢM NHẬN, rồi tự làm thí nghiệm cảm nhận tác động khí âm dương trên cơ thể để mà chọn thực phẩm thích hợp cho chính mình.
            Đã biết quan sát và cảm nhận khí thì biết cách quân bình khí âm dương. Khi có triệu chứng bất quân bình khí âm dương, chúng ta bắt đầu cảm nhận bằng quan sát dấu hiệu:
- Âm bịnh (táo bón, chảy máu cam, tiểu rát đau, đại tiện (trĩ) ra máu, người khô ráo…) vì dương thịnh phát hỏa đốt âm khí thì dùng thực vật bổ âm hạ hỏa như nước lạnh, trái cây, dưa leo, dưa hấu, hoa cúc…Theo kinh nghiệm của tôi, thực phẩm trị liệu thần sầu là bột sắn nguyên chất[5];
- Dương bịnh (tiêu chảy, hay ớn lạnh, hồi hộp, tiểu nhiều lần…)  bởi âm lấn át thì dùng thực vật cho nhiều khí dương như gạo rang, gừng, quế, sâm đỏ...
Sau khi đã quan sát tình trạng khí âm dương, chúng ta sẽ lựa chọn thực vật tái lập quân bình khí âm dương. Dưới đây tôi nêu vài thí dụ dùng khí âm dương của thực vật để trị vài bệnh khí thông thường như khó ngủ, tiêu chảy, táo bón, áp huyết cao, tắt kinh… Các trường hợp nầy thường gây ra bởi thực phẩm quá âm hay quá dương gây ra.

·       Giấc ngủ

            Lý do mất ngủ hay khó ngủ rất nhiều nhưng ở đây tôi chỉ đề cập đến lý do thuộc về khí mà ta thường gặp.

            Giấc ngủ theo khí âm dương

            Thức ban ngày, ngủ ban đêm là cơ thể hòa nhịp cùng khí âm dương của trời đất. Ban ngày, cơ thể ở trạng thái « dương » nên ta thức hoạt động, là lúc vệ khí[6] luân lưu mạnh bên ngoài tức trong da. Ban đêm, lúc ngủ thì vệ khí rút vào bên trong giúp cho cơ thể ở trạng thái « âm », tạng phủ nghỉ ngơi.
            Quan sát
            Nếu ban đêm, vì một lý do nào đó, vệ khí chạy ra bên ngoài làm cơ thể ở trạng thái dương khiến ta thức giấc hay khó ngủ. Thí dụ, ta khó ngủ vào mùa hè oi ả lại thiếu khí mát của quạt, máy lạnh nên vệ khí vẫn ở bên ngoài để điều hòa nhiệt độ (đổ mồ hôi). Hoặc là ăn uống rượu, gia vị… khí nóng của thực phẩm dương này đẩy vệ khí ra ngoài khiến ta khó ngủ vì cơ thể ở trạng thái dương.
            Điều hòa khí
            Vậy muốn ngủ ngon thì làm cho vệ khí lui vào trong bằng dùng khí âm lạnh của máy lạnh, quạt, ăn uống thực phẩm âm.               

            Giấc ngủ của Ngũ Thần

          Ngũ Thần tức Chơn Thần ngụ tại ngũ tạng: Hồn (gan), Thức Thần (tim), Ý (tì), Phách (phế), Chí (thận). Ban ngày, Hồn ngụ ở mắt nên khiến ta thức và ban đêm rút vào gan để cho ta ngủ.

         Quan sát
          Hễ chè chén say sưa là khó ngủ sau khi ăn uống. Chúng ta biết rằng ban đêm gan phải nghỉ để cho Hồn an tịnh thì ta mới ngủ yên. Nếu ăn quá độ khiến gan phải hoạt động ban đêm để đào thải chất độc khiến cho Hồn thức giấc chạy ra mắt nên ta thức.

         Giữ Hồn an tịnh
         Vậy muốn ngủ yên, phương pháp tốt nhất là ăn chay nhẹ. Còn nếu đã rượu thịt, trước khi đi ngủ nên uống một ly nước lạnh vắt vào nửa trái chanh. Nước lạnh (âm) làm hạ hỏa, vị chua của chanh đi vào gan kích thích gan sa thải nhanh chóng độc tố để cho Hồn an tịnh ở lại trong gan.

  Táo bón

Táo bón vì ăn quá ít chất sơ (fiber), thuốc trụ sinh làm xáo trộn môi sinh trong ruột già như thiếu bacilles lactiques, người quá suy yếu vì bệnh nặng, thì chữa trị theo cách khác.
Quan sát
Với người khỏe mạnh, táo bón thường gây ra bởi  khí dương thực phẩm làm khô kiệt tân dịch trong ruột với triệu chứng : phân khô, cứng, rặn mạnh lâu mới đẩy được cục phân, không đại tiện được lúc mình muốn, môi nứt hay khát nước, mặt đỏ miệng hôi, rêu lưỡi vàng và khô. Trong trường hợp nguyên tắc chữa trị tự nhiên là dùng thực phẩm nhiều khí âm lạnh để quân bình với khí dương quá thịnh.
             Cách quân bình khí
Sáng sớm ngủ dậy, vắt 2 trái cam vào một ly nước lạnh uống trước khi ăn sáng để rửa ruột bằng khí âm cho tới khi hơi tiêu chảy;
Uống nhiều nước lạnh ăn nhiều dưa chuột, dưa hấu, rau xanh lá, củ cải đường chứa nhiều khí âm lạnh.
  
Tiêu chảy 

             Sau khi dùng trụ sinh không kết quả, kết quả thử nghiệm phân thì bình thường không phải do khuẩn, vi khuẩn, nhưng tiêu chảy không ngừng là đến lúc nghĩ đến ẩm thực không hợp khí âm dương.
            Quan sát rồi thử nghiệm
            Khí âm quá lạnh của thực phẩm thường gây ra bệnh của bộ tiêu hóa nhất là tiêu chảy với phân lỏng như nước, bụng đau và có cảm giác bị đè, không ăn ngon lại khó tiêu, mất kí và suy nhược.
 Trước nhất xem nguyên nhân có phải là khí âm của thực phẩm không thì làm cái test:
- Ngừng ăn các thực phẩm âm như: nước lạnh, đồ ăn sống hay để lạnh và chỉ ăn và uống nóng ;
- Chườm nước nóng khoảng 20 phút chung quang rún.
 Tiêu chảy bớt dần, người dễ chịu là dấu hiệu xác nhận khí âm hàn của thực phẩm là nguyên nhân.

Nguyên tắc trị liệu 
Bồi bổ khí dương bằng thực phẩm dương có khí nóng và ngừng hẳn các thực phẩm âm tức ngược lại cách trị liệu táo bón.
Dùng khí dương của các thực phẩm sau để hóa giải âm hàn bên trong:
- Nước uống nóng: 1. Nước gừng: dùng các nhát gừng rang vàng pha với nước sôi; 2. Nước cà rốt: nấu cà rốt, pha với đường muối (vị ngọt bổ tì khí, vị mặn bổ thận khí);
- Đồ ăn : gạo rang vàng nấu cháo với gừng, khí dương nóng của đồ ăn uống tái lập quân bình âm dương bên trong, nên tránh rượu, đồ ăn nhiều sơ làm hại màng ruột.  
           Khi khí âm dương đã quân bình thì trở lại chế độ dinh dưỡng bình thường.
           

Cảm gió

            Quan sát
            Nếu cảm lạnh do thời tiết biến đổi đột ngột lúc ngưới mệt nhọc thì có triệu chứng nước mũi chảy tong tong, hắt xì, hơi nhức đầu và ho, sợ gió lạnh, thích uống nóng, bạn thử dùng khí nóng của thực phẩm và nước uống theo như phương pháp cổ truyền của người Việt. Nguyên tắc chữa trị là dùng khí nóng chống khí lạnh, bổ khí bên trong và làm đổ mồ hôi cho khí lạnh đi ra theo lỗ chân lông.
            Trị liệu: dùng khí dương tống xuất phong hàn.
Khi bị cảm lạnh, người Việt dùng phương pháp xông : ngồi bên cạnh một nồi nước sôi lớn chứa  lá thơm có tinh dầu để khử phong thông khiếu như lá chanh, lá sả, tía tô, bạc hà, lá gừng, lá tre… rồi phủ cái chăn lên người cho đổ mồ hôi. Sau đó ăn bát cháo chứa vị cay (tiêu, ớt, tỏi, gừng) thật nóng. Phương pháp xuất hạn này không áp dụng được cho người suy yếu vì tuổi già hay bệnh tim (mồ hôi là tân dịch của tim), bệnh cảm thực (ra nhiều mồ hôi, hoa mắt chóng mặt...).
            Ở hải ngoại ta có thể tắm hơi nóng cho đổ mồ hôi, rồi ăn tô súp rau thật nóng hoặc bát cháo như trên. Sau đó pha một ly nước sôi với lá khô romarin, thym, sauge, pha mật ong, uống thật nóng để bổ phế khí, giảm ho và bớt cuống họng rát.
 Cùng một phương pháp này, người Jamaïque uống trà hạt tiêu (poivre de la Jamaïque) thiệt nóng chữa cảm lạnh, đau bao tử, kinh nguyệt đau

 Đàn bà tắt kinh

            Từ 40 tuổi, đàn bà mãn kinh thường có triệu chứng như bốc hỏa nhất là ban đêm, xáo trộn tinh thần như lo âu. Lý do là vì khí âm giảm nhận thấy ở œstrogène ít, buồng trứng ngừng rơi… do đó khí dương bốc lên.
            Phương pháp trị liệu: dùng khí âm của đậu hũ, sữa đậu nành để quân bình với khí dương vì đậu nành có chứa œstrogène végétal. Nghiên cứu khoa học nhận thấy đàn bà á châu ít khổ sở lúc mãn kinh là nhờ ăn nhiều đậu hũ.
 
 Áp huyết cao

            Nếu kết quả khám nghiệm y khoa bình thường không phải do chất béo, động mạch, hoặc bệnh tim, thận…, áp huyết cao có thể do khí bốc thái qua lên đầu.
Quan sát
Nhìn thấy triệu chứng  ở mắt ( nhìn mờ hoặc lóe, đôi khi đứng không vững, tính tình giận dữ…) có thể là do khí dương (tướng hỏa) của can bốc lên bởi ăn nhiều thực phẩm quá dương như rượu, chocolat, vị cay dương làm nóng lưỡi như tiêu, bột cà ri, ớt v.v.
 Nguyên tắc chữa trị
Dùng khí âm thực phẩm để hạ can hỏa, nén giận dữ, stress.
Thực phẩm âm xử dụng:
- Mỗi ngày nuốt 2 đến 3 nhánh tỏi tươi[7] hoặc tỏi chế biến thành viên. Uống nước hoa cúc khô;
- Nấu nồi súp gồm một nửa bắp cải cuộn, 3 củ tỏi, một củ rutabaga hầm 20 phút lấy nước uống;
- Hoa cúc[8], trà cúc (hao cúc+đường phèn+cam thảo+trái xí muội chua), trà cung đình (sản xuất tại Huế theo bí truyền của cung đình xưa kia?).

« Cái già sồng sộc nó thì theo sau »

            Lúc còn trẻ, tạng phủ tốt thì ăn theo khoái khẩu mà cũng chẳng sao. Nhưng đến tuổi già hưu trí, bệnh này bệnh kia xuất hiện là lúc làm ta suy nghĩ không những cuộc đời đã qua mà cả vấn đề ẩm thực cho sức khỏe của những năm còn lại.

             Theo Hoàng Đế Nội Kinh, từ 40 tuổi khí trong người bắt đầu suy giảm dần. Đến tuổi già, tạng phủ suy kém, nhất là bao tử không làm đầy đủ nhiệm vụ như ghiền nát thực phẩm, hấp thụ chất dinh dưỡng nhất là sinh tố cho nên người già hay thiếu sinh tố mặc dầu ăn uống đầy đủ. Lúc già yếu, dù là ăn chay hay mặn chúng ta cũng phải quan tâm đến giúp đỡ bao tử bằng cách chọn thực phẩm tốt và ẩm thực theo tình trạng khí mỗi ngày.
            Thực phẩm tốt cho tuổi già là do chính chúng ta tự chọn lấy. Thực phẩm tốt là những thực phẩm nào tiêu hóa nhanh và giúp dễ ngủ.
            Tình trạng khí thay đổi trong ngày nên ẩm thực cần phù hợp với tình trạng khí. Ban sáng là mùa xuân của Chơn Khí. Chơn Khí bắt đầu tăng trưởng mà cần nhiều khí thực phẩm. Đến trưa, Chơn Khí bắt đầu suy giảm nên ăn vừa phải, đến chiều tối là lúc cơ thể cần nghỉ ngơi nên ăn ít hơn nữa như lời khuyên bóng bẩy : Ban sáng ăn như ông vua, ban trưa ăn như hoàng tử, ban chiều ăn như kẻ bần cùng.
            Vì khí thăng giảm trong ngày mà xưa kia các cụ uống chút rượu ban chiều lúc khí suy giảm. Vị cay của rượu chạy vào phổi kích động khí cho dễ ngủ. Sáng sớm, một chén trà nóng. Vị đắng của trà đánh thức khí của tim nơi cư ngụ của Thần nên tinh thần tươi mát, sáng suốt. «Bán dạ nhất bôi tửu, Bình minh sở trản trà » là diễn tả ý đó.
            Đến đây thì tôi muốn tâm sự với các bạn già sấp sỉ bát tuần như tôi là hãy nghe tổ sư y khoa tây phương Hyppocrate nói: « Trước tiên, hãy lấy thực phẩm làm dược liệu ». Hy vọng các bạn sẽ thấy chí lý các câu nói về thực vật của cơm chay như là dược liệu chữa và phòng ngừa bịnh nhất là bịnh của khí và sống khỏe mạnh nhờ biết ẩm thực đúng cách chứ không phải sống được vì uống thuốc như ăn kẹo.
         Các vị đông y Việt thường nói: « Thực phẩm và dược liệu cùng chung một gốc rễ »;
          Tác giả cuốn kinh điển Hoàng Đế Nội Kinh của y khoa đông phương khuyên: Thày thuốc giỏi thì ngừa bịnh chưa phát, dở là chữa bịnh khi đã phát.

          Lời khuyên lúc tuyệt vọng

            Lời khuyên lúc khỏe mạnh là « Phòng bịnh hơn chữa bịnh », nhưng khi bác sĩ, nhà thương bó tay trước bệnh nan y như cancer chẳng hạn, bạn hãy nghe lời khuyên của bạn bè, bà con dùng thử thực vật như dược liệu mặc dầu chẳng có thực nghiệm của khoa học hay thiếu hiểu biết tạng khí, nhưng cũng chẳng mất mát gì.
            Các lời khuyên thường trao đổi với nhau là:
            - Ăn chay, ngồi thiền, tập dịch cân kinh hoặc loại khí công trị liệu,
            - Uống nước lá đu đủ phơi khô, hai loại cỏ bách hoa xà và bán chi liên (bán tại tiệm thuốc bắc), ăn nhiều măng tây…
























Lời kết
 


           Với những độc giả không tin cái gì vô hình thí dụ như khí mà chỉ tin vào cái gì nhìn thấy, sờ thấy, thực nghiệm được, tác giả muốn hỏi nước nào có khoa học thực nghiệm bằng Hoa Kỳ thế mà chẳng ai nhìn thấy Thượng Đế nhưng người dân nào cũng nâng niu tờ dollar in chữ lớn IN GOD WE TRUST.


Lạp Chúc Nguyễn Huy
蠟燭阮輝



Phụ lục 1

 Khí trái cây

          Phép dinh dưỡng nào cũng khuyên ăn nhiều trái cây tươi hay khô. Các phân tích khoa học chỉ cho chúng ta biết mỗi loại trái cây cung cấp cho ta số lượng những chất dinh dưỡng gì (nước, sinh tố, khoáng chất, chất xơ …). Để bổ túc cho phân tích khoa học, chúng tôi trình bày khía cạnh khí vô hình của trái cây và nhắc nhở độc giả rằng vài loại khí trái cây có thể gây bất quân bình âm dương.

            Giai đoạn biến dịch của khí trong trái cây

            Hoa là bộ phận sinh dục của cây nên có nhụy đực+ nhụy cái, hoa đực (nhụy chứa phấn) + hoa cái (nhụy chứa trứng). Nhụy đực nhụy cái kết hợp với nhau mà sanh trái. Khi hoa thụ trái, Đức Chí Tôn ban cho một điểm nguyên hồn tạo nên sự sống: Như loài thảo mộc cũng có thọ nơi Thầy một điểm nguyên hồn… Vậy từ thảo mộc có một phần hồn (sanh hồn).

            Từ khị thụ trái đến lúc chín, biến dịch không ngừng của khí âm dương trong trái cây trải qua 4 giai đoạn chính: thụ trái, phát triển, chín, héo tàn. Lấy thí dụ là trái cam, trái ổi.

Thời kỳ thụ trái. Lúc trái còn xanh, khí âm thịnh (để giúp trái nảy nở) nên trái có vị chua hay chát (âm) mà ít có mùi (dương);

Thời kỳ nảy nở. Khí âm của trái xanh phát triển phần vật chất (cân nặng) vàTinh của trái để biến dịch sang trái chín;

Thời kỳ chín. Trái chín đánh dấu biến dịch của khí đã đến cực điểm, biểu lộ bởi:
- Màu sắc vàng, đỏ, mùi thơm (khí dương), vị chua hay ngọt (khí âm) [9];
- Khí âm dương quân bình như cam, đào, nho, táo…lúc chín thì có mùi thơm nhẹ (dương) và vị ngọt (âm)), hoặc biến dịch từ âm thịnh (vị chua, không mùi) sang dương thịnh (mùi thơm nức);

Thời kỳ héo tàn. Sau khi chín mùi rồi thì khí trái cây bắt đầu suy giảm đúng theo luật âm dương thịnh rồi suy. Sự suy thoái của khí kéo theo tàn héo của các tế bào nên vỏ và thịt của trái xám lại, mất mùi vị, làm mồi cho vi khuẩn rồi sau cùng là hư thối, nát rữa trở về đất như xác phàm của con người.  
 
            Biến dịch từ khí âm thịnh sang âm dương điều hòa

            Trong trái cây, biến dịch này của khí được quan sát thấy từ vị chát biến đổi sang vị ngọt mát và tỏa khí dương qua mùi thơm, màu sắc khi trái chín. Độc giả có thể thấy hiện tượng biến dịch này trong các trái cây như chuối, ổi, hồng. Lúc còn xanh, các trái này chứa nhiều tannin có vị chát biến dịch sang vị ngọt và dịu mát (khí âm ) và tỏa mùi thơm (khí dương). Lúc trái chín thơm ngọt là lúc khí âm dương điều hòa.
Trái chuối cho ta những nhận xét gì? Chuối xanh thì cứng có vị chát (dấu hiệu âm thịnh) bởi chất tannin và amidon. Chuối xanh để trong nhà hay trong bọc kín, chất tannin biến mất dần tức là dấu hiệu khí âm biến dịch sang khí âm dương điều hòa là chuối chín mềm và thơm ngọt.

Cách ăn chuối của người Việt

            Chúng ta thường nấu nướng chuối xanh với các loài động vật lạnh nhiều khí âm như ốc, lươn để phòng tiêu chảy. Lý do, vị chát của chất tannin có tác dụng làm co rút các thớ thịt và làm giảm bài tiết tân dịch. Xưa kia, sau khi nhậu nhoẹt đã đời là buồn ói, ruột quặn đau… ăn mấy miếng chuối xanh là hết, chính là nhờ tác dụng của vị chát chất tannin.
            Trái lại ăn chuối chín rất tốt nhờ khí âm dương bình hòa, vị chát của tannin (âm) biến mất để lại nhiều potassium (âm), chất amidon biến thành đường ngọt cho nhiều chất xơ. Vì vậy mà chuối xanh chống tiêu chảy, chuối chín chống táo bón. 

Trái hồng (kaki)
Các cụ hay nói: Thứ nhất quả na, thứ nhì quả hồng. Thật là tuyệt diệu khi thưởng thức trái hồng chín mọng đỏ tươi, ngọt mát là lúc khí trái hồng đã biến dịch từ khí âm thịnh (chất tannin chát) đến khí âm dương điều hòa (thơm, đỏ, ngọt). Cũng như trái chuối, trái hồng còn xanh rất chát, hơi đắng vì độ tannin cao làm giảm bài tiết tân dịch trong ruột, gây táo bón hoặc đau bao tử nếu ăn nhiều hồng xanh và ăn vỏ[10].

Trái ổi
Cũng giống như chuối và hồng, sự biến dịch khí âm (vị chát tannin) sang khí âm dương bình hòa lúc trái chín (chất tannin tan thành potassium, cho mùi thơm, vị ngọt). Chỉ ăn ổi xanh để trị tiêu chảy (nhờ chất tannin) hoặc bụng quặn đau vì ăn lạnh.

Chuyển dịch từ đa âm sang đa dương: soài, dứa, sầu riêng

Các trái xanh thì chua, chín thì thơm ngát mũi biểu lộ hiện tượng chuyển hóa khí âm sang khí dương, thí dụ soài, khóm…
            Soài
            Trái soài còn xanh thì chua, thịt trắng hay phớt vàng biểu lộ khí âm thịnh. Càng chín thì khí âm càng chuyển sang khí dương thịnh qua mùi thơm và màu vàng hay đỏ của vỏ.
            Lúc có bàu thường cần nhiều âm chất để nuôi dưỡng bào thai nên các bà bầu Việt Nam thích ăn đồ chua (âm) như soài xanh chấm muối ớt (dương) là vì lý do đó.
            Trái soài chín mùi thơm nhỏ rãi, thịt vàng đầy ngọt lịm được coi như « hoàng hậu của trái cây xứ nóng ». Nhưng các bạn phải coi chừng bà hoàng hậu này, vì ăn quá nhiều lại có tạng khí nóng là có triệu chứng « hỏa thịnh » như da nóng, khó ngủ, lưỡi rát đỏ…

            Dứa hay khóm
            Khí âm thịnh của trái dứa xanh được nhận thấy qua vị rất chua, ít calo (52 cal/ 100 g), nhưng nhiều potassium âm (250 mg/ 100 g). Cũng như trái soài, càng chín thì khí âm càng biến đổi sang khí dương khiến trái dứa thơm ngọt, da vàng đậm là dấu hiệu khí dương rất thịnh. Tiến trình biến dịch khí âm sang khí dương tiếp tục sau khi hái cho đến khi chín ngọt vì amidon biến thành đường.
            Dứa xanh chua được dùng nhiều trong món ăn của người Việt như canh chua, bò xào… Những ai thích ăn nhiều dứa chín thì phải ngừng lại nếu có triệu chứng « bốc hỏa » như da có mụn đỏ, khô, miệng lưỡi rát khó chịu, mắt nhìn hơi mờ đục, bao tử bứt rứt, tiêu hóa nhanh vì khí nóng của dứa[11].

            Tóm lại lời khuyên ăn nhiều rau trái rất là thích đáng nhưng với điều kiện là ăn đa loại và chú ý đến các triệu chứng gây ra bởi khí vì ăn quá nhiều một loại trái cây dương thịnh hay âm thịnh.



Phụ lục 2

Thực vật qua thi ca Việt

GS Tiến Sĩ Thái Công Tụng



LGT. GS Thái Công Tụng nguyên là giáo sư của nhiều trường đại học ở Việt nam, tác giả của nhiều sách và bài khảo cứu rất giá trị về Việt Nam. Sau khi nghỉ làm chuyên viên cho ACDI (Agence Canadienne du Développement International), GS Thái Công Tụng hiện ngụ tại Montréal, Canada và vẫn tiếp tục khảo cứu, sáng tác. Cuốn sách mới nhất của giáo sư là Việt Nam văn hóa và môi trường do Viện Việt Học Cali xuất bản[12]. Với sự đồng ý của GS Thái Công Tụng, tôi trích ra đây một đoạn trong một bài khảo cứu của giáo sư để cống hiến bạn đọc.


            Trong thế giới thực vật, riêng về nông nghiệp, có thể kể cây lương thực, cây cho sợi, rau cải...

Cây lương thc bao gồm các cây ngũ cốc, cây cho củ, cây đậu ăn hạt 

-cây ngủ cốc như bắp, lúa miến, lúa mì, lúa mạch, lúa mạch đen (rye, tiếng Pháp là seigle), lúa đại mạch (barley, tiếng Pháp là orge), yến mạch (oat, tiếng Pháp là avoine), lúa ruộng. Bắp nguồn gốc Trung Mỹ du nhập vào Á Châu cũng là một cây lương thực chủ yếu. Lúa miến hay bo bo, hình thái như cây bắp, cây kê 

Lúa ruộng  cũng có nhiều loài:

Vụ chiêm em cấy lúa di,

               Vụ mùa lúa dé, sm thì ba giăng.

Thú quê rau cá đã tng,

                           Gạo thơm cơm trắng chi bằng tám xoan.


Các giống lúa trồng có hai loại chính: đó là lúa tẻ sản xuất ra gạo nấu cơm, bột gạo làm nhiều loại sản phẩm khác nhau như bún, bánh tráng, bánh cuốn. Lúa nếp có hạt gạo dẽo dùng nấu xôi, gói bánh chưng, bánh tét, làm rượu nếp, cơm rượu v.v. Ca dao cũng dùng lúa tẻ, lúa nếp để giải bày tâm tình trai gái:

 Anh thưa với mẹ cùng cha
           Nếp mà lộn tẻ, lựa ra hay đừng?
Đò đưa đến bến đò ngừng
                                 Anh thương em thuở trước, nửa chừng lại thôi!

Cây lúa có nhiều giai đoạn phát triển khác nhau như khi còn non thì gọi là cây mạ, rồi nhảy bụi, trổ đòng đòng, ra bông kết hạt:

Anh đi lúa chửa chia vè,
          Anh về lúa đã đõ hoe đầy đồng.
Anh đi em chửa có chồng,
          Anh về em đã tay bồng tay mang.

-cây cho củ như : khoai lang (Ipomea batatas), khoai mì (Manihot esculenta), khoai sọ (Colocasia antiquorum) có tên khác là khoai môn, củ dùng làm thức ăn, cuống (dọc) có thể muối dưa, khoai nưa (Amorphophallus rivieri) cũng cùng họ Ráy (Araceae) như khoai sọ, có củ ăn hơi ngứa, khoai nước (Colocasia esculenta), còn gọi là môn nước, củ và cuống đều ăn được, khoai từ (Dioscorea esculenta) trồng phổ biến nhiều làng mạc.

-cây họ đậu như : đậu nành tức đậu tương Glycine max ( họ Fabaceae), chứa nhiều protein, có thể biến chế ra đậu hủ, chao, xì dầu; đậu cowpea Vigna unguiculata họ Fabaceae;  đậu đen (Vigna cylindrica), thường sử dụng nấu chè, dễ tiêu, giải nhiệt; đậu Hà lan (Pisum sativum) quả non và hạt dùng để ăn, đậu ngự ( Phaseolus lunatus), đậu ván (Dolichos lablab), đậu xanh green gram còn gọi là Mung bean ( Phaseolus aureus), dùng làm giá trong chopsuey, đậu lùn haricot nain (Phaseolus vulgaris)..  Vài vùng có đậu triều (Cajanus indicus).

Ngoài các cây lương thực, còn có rau .Nói về rau, câu ca dao sau đây kể ra:

Ai đâu mà chẳng biết ta
                Ta ở Xóm Láng, vốn nhà trồng rau
         Rau thơm, rau húng, rau mùi
            Thì là, cải cúc, đủ loài hành hoa
     Mồng tơi, mướp đắng, ớt cà
            Bí đao đậu ván
vốn nhà trồng nên

Về phương diện phân loại thực vật, rau có thể là rau ăn lá (leaf vegetable crops), rau ản quả (fruit vegetable crops), rau ăn củ (root vegetable crops)
Rau ăn lá như rau muống (Ipomea aquatica), rau dền, rau mồng tơi, rau đay, rau diếp (tên khác: rau xà lách) Lactuca sativa với nhiều giống (xà lách cuốn, xà lách giòn, rau xà lách xoăn ăn hơi đắng), cải bẹ (Brassica campestris), cải thìa (Brassica sinensis), cải bắp còn có tên bắp cải, bắp su (Brassica oleracea), cải tần ô (Chrysanthemum coronarium, còn gọi cải cúc).. Mồng tơi (Basella rubra) vì là dây leo nên trồng trên hàng rào, quanh nhà:

Nhà nàng ở cạnh nhà tôi
                       Cách nhau một giậu mồng tơi xanh rờn
    Hai người sống giữa cô đơn
               Nàng như cũng có nỗi buồn như tôi
                                            (thơ Nguyễn Bính)

Rau muống có mặt trong ao mọi làng mạc, nhất là tại miền Bắc và đã gặp trong ca dao:
Anh đi anh nh quê nhà,
                          Nh canh rau muống, nh cà dầm tương.

Rau ăn qủa (ăn trái) : Trong suy nghĩ thông thường thì trái thường ngọt, ăn tráng miệng còn rau dùng trong bữa ăn nhưng về phương diện thực vật, trái là kết quả sự thụ phấn và trong trái có hột: quả (trái) cà chua Lycopersicon esculentum,  quả (trái) ớt Capsicum annuum, quả (trái) dưa leo Cucumis sativus; quả (trái) dưa tây melon Cucumis melo (melon-concombre); Courgette Zucchini squash Cucurbita pepo; quả (trái) dưa hấu Citrullus lanatus; quả (trái) đậu bắp Abelmoschus esculentus;  quả (trái) bí đỏ Courge poivrée Cucurbita pepo hoặc bí rợ Cucurbita maxima trồng ăn quả, ăn ngọn non, lấy hạt rang ăn.

Râu tôm nấu với ruột bầu
                    Chồng chan vợ húp gật đầu khen ngon.

Solanum melongena,  cũng là một loại rau ăn quả :

Bồng em đi dạo vườn
                Trái non bỏ mắm, trái già làm dưa
  Làm dưa ba bữa dưa chua
              Để dành ăn cấy, khỏi mua tốn tiền

Mướp có nhiều loại như mướp huơng (Luffa acutangula), mướp đắng (Momordica charantia), mướp ta (Luffa cylindrica) khi non để ăn, khi già cho xơ rửa bát. Bầu (Lagenaria vulgaris) trồng quanh vườn nhà, thả trên dàn leo ăn quả lúc còn non. Bí có thể là bí đao (Benincasa cerifera), trồng lấy quả ăn và làm mứt.
Trong bài thơ 'Bạn đến chơi nhà' của Nguyễn Khuyến có mô tả sơ qua về quang cảnh một khu vườn nhà miền Bắc như sau :

 Ao sâu nước cả, khôn chài cá,
      Vườn rộng rào thưa khó đuổi gà.
Cải chửa ra hoa, chửa nụ,
           Bầu vừa rụng rốn, mướp đương hoa.

Cà và rau muống thông dụng nhất là tại miền Bắc và đã gặp trong ca dao: 
 
Anh đi anh nhớ quê nhà,
            Nhớ canh rau muống, nhớ dầm tương.

Rau ăn củ (root vegetable crops) như củ cà rốt, củ cải, củ ra đi, su hào, khoai tây v.v.
Cây gia vị như gừng (Zingiber officinale), ớt (Capsicum annuum), tiêu (Piper nigrum), hành,  tỏi, sả, ngò, húng quế, rau răm ( Polygonum odoratum), rau diếp cá, rau thơm tức húng Láng (Mentha aquatica), ngò om ( Limnophila aromatic)

-Ai ơi chua ngọt đã từng,
Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau.
-Ớt nào là ớt chẳng cay,
Gái nào là gái chẳng hay ghen chồng.
-Ăn tiêu nhớ tỏi bùi ngùi,
Ngồi bên đám hẹ nhớ mùi rau răm,
Hỡi người quân tử trăm năm,
Quay tơ có nhớ mối tằm hay không ?

Cây cũng có mặt trong thơ, nhạc, ca dao… từ cây khế, cây soài, cây cau, cây nhãn vv.
Cây ăn quả như cam, quít, chanh, bưởi (Citrus sp.)

Thân em như thể trái chanh,
       Lắt lẻo trên cành lắm kẻ uớc  mơ.

Người con trai than thở xem cô thiếu nữ có chút tình với mình hay không  qua câu :

  Đầu năm ăn quả thanh yên,
                 Cuối năm ăn bưởi cho nên đèo bòng.
cam cho quýt đèo bòng,
              Vì ai nhan sắc cho lòng nhớ thương.

Phật thủ (Citrus medica var. sarcodactylis) là giống cây ăn quả thuộc chi Cam chanh.
 Tên gọi của loài cây này xuất phát từ hình dáng của quả chia nhánh trông như bàn tay Phật.
Cây phật thủ là loại cây thân gỗ nhỏ, cao từ 2 m đến 2,5 m, ra hoa kết quả quanh năm.
Quả phật thủ dùng ăn tươi, làm mứt. Loại quả này thường có mặt trong mâm ngũ quả trên bàn thờ ngày Tết của người Việt.
Phật thủ được ví như bàn tay Phật che chở, mang an lành, sung túc đến cho gia chủ. Vì quan niệm đó, nhiều người mua phật thủ về bày lên bàn thờ, với mong muốn được hưởng những điều tốt lành, khiến loại quả này khá được ưa chuộng.

Cây bưởi
Cây bưởi cũng có mặt trong ca dao:

Trèo lên cây bưởi hái hoa
                 Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân
   Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc
      Em lấy chồng anh tiếc lắm thay

Cây khế.
Cây khế gắn liền với ngôi nhà xưa, với vườn sau ao trước; đó là nơi trẻ em vui đùa, trèo hái
 mỗi ngày, là nơi chôn dấu bao kỷ niệm đẹp như nhà thơ Đinh Hùng đã tâm tư:

Độ em còn trèo cây khế
      Vin hái quả xanh bên tưòng
     Có phải chúng mình còn bé
       Cho nên đời rất thơm hương?
                   (thơ Đinh Hùng)

Cây xoài
Xoài cũng gợi nhớ vườn nhà ở nông thôn:

        Quả xoài xưa mẹ thích,
       Cứ gợi mãi trong con;
            Cái hương thơm chin nức,
     Cái quả bé tròn tròn;
         Khi cây xoài trưóc ngõ,
    Lấp ló trái vàng hoe,
      Đủ nhắc cho con nhớ,
Mùa hạ đã gần về.
          (Thanh Nguyên)

Cây vải

            Mùa vải năm nay chừng đến muộn,
    Chưa nghe tu hú giục xuân đi.
    Nóng lòng cây gạo lìa hoa đỏ,
Trổ búp tơ xanh đón gió hè.
                        (thơ Nguyễn Bính)
  
Cây cho thuốc (dược thảo)
Trong thiên nhiên có vô vàn dược thảo. Xưa kia, ngành Đông Y chỉ dùng toàn thuốc nguồn gốc thực vật. Gừng, tỏi, artichaut, lá dâm bụt, rau thơm v.v. đều sử dụng trị các chứng đau. Ngày nay, vào trong tiệm thuốc Tây cũng có thể bắt gặp  nhiều thuốc chế biến, pha chế  từ lá cây, rễ cây, vỏ cây, hoa của nhiều loại thực vật trị cảm cúm, đau xương, tiểu đường v.v . Trước kia, con người sử dụng nhiều các sản phẩm hoá học nhưng ngày nay, mới thấy hoá học đưa đến những phản ứng phụ gây nguy hại cho sức khoẻ nên càng ngày nhân loại chú trọng nhiều về sinh học (Bio): nào là biocosmetics với nhiều công ty mỹ phẩm ngày nay sử dụng các tinh dầu thực vật để làm phấn, son, nước hoa v.v, nào là bioremediation, sử dụng thực vật hoặc vi sinh vật để cải tạo môi trường bị ô nhiễm
 Đời sống tình dục của thực vật
Nếu trong giới động vật, tính dục xem như rất đơn giản như đàn ông, đàn bà; con đực, con cái v.v. thì ở giới thực vật, tính dục phức tạp hơn vì có thể :
- Có cây chỉ mang hoa đực, hoặc chỉ mang hoa cái trên hai thân cây khác nhau (dioique) .Ví dụ: cây bạch quả (Ginkgo), cây Actinidia cho trái kiwi, cây chà là, cây đu đủ.. Trồng các loại cây đơn tính này phải luôn luôn trồng cả cây đực lẫn cây cái trong một đám thì mới có quả.
Cũng có thể là hoa cái và hoa đực không cùng chin một lần do đó hoa cái phải cần hoa đực từ các cây khác để thụ phấn.Ví dụ: cây hồ đào (walnut, noyer). Hiện tượng này trong thực vật học gọi là biệt giao (dichogamie)

- Có cây hoa đực và hoa cái riêng nhưng cùng trên một thân cây (monoique). Ví dụ: cây bắp, cây lúa mì …
- Có cây trong đó mỗi hoa có cả nhị đực và nhị cái như cây hoa hồng, cây hướng dương. Đó là cây lưỡng tính
Hoa đực có nhị hoa chứa đầy phấn; hoa cái có nhụy hoa chứa trứng.
 Nhờ gió, ong bướm mang phấn hoa đi rắc lên các đầu nhụy hoa có chất dính; hạt phấn nẩy mầm và bò tới buồng trứng; hạt phấn sẽ chạm phải quả trứng để từ đó tạo ra hạt giống.
Hô hấp và Quang hợp thực vật
            Trong sinh quyển, các chất cacbon, nitơ và oxy rất nhiều. Những chất khác như photpho, calci và kali cũng có nhưng ít hơn. Các chất trên đều cần thiết cho đời sống. Mỗi chất đó trong hệ sinh thái được chuyển hoá từ vô cơ sang hữu cơ và trở lại vô cơ. Đời sống cũng phụ thuộc vào mặt trời. Hiện tượng quang hợp chuyển hoá ánh sáng thành năng lượng hoá học với sự hình thành glucose và oxy. Nhờ glucose, nhiều sinh vật mới có năng lượng giúp cho sự hô hấp tế bào thực vật. 
Trong sự hô hấp, các khí khổng của lá hút oxy ở ngoài vào cơ thể, chuyển đường và tinh bột thành năng lượng và nhả khí cacbonic ra ngoài:

                   C6H12O6 + 6O2____________à   6CO2+6H2O + năng lượng hoá học

Năng lượng sinh ra giúp cho các hoạt động của cây như hút dưỡng liệu, hút nước. .. để giúp cây tăng trưởng, ra hoa, kết trái.
Khí cacbonic sinh ra được cây hút lại, sử dụng trong quá trình quang hợp để tạo thành các chất đường và tinh bột:

                      6CO2+6H2O +năng lượng mặt trời ____________à  C6H12O6 + 6O2   

Hai tiến trình quang hợp và hô hấp song song diễn ra vào ban ngày còn ban đêm thì chỉ có hô h ấp, không có quang hợp.
Do đó có 2 nhóm cây:
-nhóm cây ban ngày vừa quang hợp, vừa hô hấp ; ban đêm chỉ có hô hấp. Như vậy, hiệu suất quang hợp thường thấp vì phải bù trừ cho hô hấp. Đó là nhóm cây C3
-nhóm cây ban ngày chỉ quang hợp còn hô hấp rất ít hoặc không hô hấp trong ánh sáng .Như v ậy, hiệu suất quang hợp cao vì vậy năng suất chất khô /hecta cũng cao hơn . Đó là nhóm cây C1. Ví dụ: bắp, mía

                                                          Thái Công Tụng


Phụ lục 3

Ý kiến của danh nhân về ăn chay


Mohanda Gandhi 
Trong lịch sử Ấn Độ vào thập niên 1940 và 50, nhà cách mạng bất bạo động Mohanda Gandhi đã dành lại chủ quyền cho đất nước từ trong tay thực dân Anh Quốc. Ông đã từng vào tù ra khám và được nhân dân nước Ấn tôn thờ là bậc Thánh nhân, cũng là người đã ăn chay từ thuở nhỏ. Thân sinh của ngài vốn theo đạo Hindus nên gia đình của ngài là một gia đình đạo đức và tất cả đều ăn chay theo giáo lý tốt lành của tôn giáo đó. Song dưới sự cai trị của Anh Quốc, những tư tưởng tân tiến Tây phương đã ảnh hưởng mạnh mẽ và dần dần đánh bạt một số phong tục cổ truyền của nước Ấn.
 Một số thanh niên thời bấy giờ đã chê bai việc ăn chay trường và thờ đạo bản xứ là hủ lậu nên họ học đòi theo lối sống Tây phương trong đó có việc ăn thịt được họ hăm hở chấp nhận hơn cả. Số người này còn khuyến dụ ông Gandhi theo trào lưu mới như bọn họ, nhưng đã bị ông từ chối. Do đó ông đã trở thành nạn nhân của sự chê bai gièm xiễm. Họ bảo rằng ăn thịt sẽ tăng cường sức khỏe, nghị lực và lòng can đảm. Nhưng ông Gandhi vẫn khăng khăng giữ vững lập trường của mình không hề xao xuyến. Không những thế ông còn viết tất cả 5 quyển sách chuyên về đề tài ăn chay và khuyên mọi người trì giới. Ông bảo: "Đã đến lúc chúng ta cần phải sửa sai một số tư tưởng lầm lẫn cho rằng ăn chay sẽ làm cho tinh thần chúng ta bị bạc nhược, thụ động và nhụt chí phấn đấu. Dù trong tình huống nào, tôi vẫn không xem việc ăn thịt là cần thiết.
 Hàng ngày ông Gandhi thường dùng giá lúa mạch, bột hạnh nhân, rau xanh, chanh và mật ong trong những bữa ăn thanh đạm. Chính ngài bảo đã tìm thấy những nguyên lý và giá trị đạo đức của sự ăn chay qua các tác phẩm của nhà văn Tolstoi. Trong quyển Moral Basis of Vegetarianism (Căn bản đạo đức của chủ thuyết ăn chay), ngài viết: "Tôi khẳng định rằng thịt không phải là thức ăn thích hợp với con người. Chúng ta không nên sai lầm chạy theo lối sống của các loài cầm thú, nếu chúng ta tự coi mình cao thượng hơn các loài cầm thú đó". Ngài cũng bảo chính lòng từ bi là nguyên động lực khiến người ta ăn chay và tránh sát sinh hơn là vì lý do sức khỏe. Ngài bảo sự tiến bộ về tâm linh đến một mức nào đó, con người sẽ tự ý thức và thương hại mà không giết chóc những sinh vật bạn bè của chúng ta để thỏa mãn nhu cầu của khẩu vị.

Albert Einstein
Albert Einstein (1879 - 1955), nhà bác học nổi danh của thế kỷ thứ 20. Người đã phát minh ra thuyết tương đối và được tặng giải Nobel về vật lý học năm 1921 cũng là một người ăn chay trường. Tuy ông chánh thức không theo tín ngưỡng nào nhưng là một người rất sùng đạo. Ông tin có Thượng Đế và vũ trụ này được điều khiển bởi một cơ Trời huyền diệu. Nếu không thì mọi sự vận hành trong vũ trụ sẽ loạn lên và không theo một quy luật nhất định. Ông là một người yêu chuộng hòa bình, tôn trọng sự sống của muôn loài và đã từng phát biểu: "Không gì ích lợi cho sức khỏe của con người để có cơ hội sống lâu trên quả địa cầu này bằng cách ăn chay".

Pythagore
Ông Pythagore, nhà toán học lừng danh trên thế giới đã từng khuyên nhủ: "Này bạn, xin đừng làm nhơ nhớp thân thể của mình bằng những thức ăn tội lỗi. Chúng ta đã có bắp, bôm, lê, rau trái thừa thải, sữa và mật ong ngọt lịm. Quả đất này đã cung ứng cho chúng ta những thức ăn vô tội một cách dồi dào, đã khoản đãi chúng ta bằng những bữa tiệc không can dự vào máu. Chỉ có loài thú này mới ăn thịt loài thú khác vì bản năng tự nhiên và vì đói. Nhưng không phải tất cả loài thú nào cũng vậy. Bởi vì trong số đó cũng có các loài như bò, ngựa và trừu... đều ăn cỏ".
Sử học gia Diogenes kể rằng, ông Pythagore dùng điểm tâm buổi sáng bằng bánh mì và mật ong và dùng bữa ăn chiều với nhiều loại rau quả. Ngài cũng đã thể hiện lòng từ bi bác ái qua những hành động thực tiễn bằng cách nhiều lần trả tiền cho một số ngư phủ để phóng sanh những con cá mà họ đã bắt được trở về lòng biển cả.

Ông Plutarch, triết gia người Hy Lạp nhận xét về ông Pythagore như sau: "
Theo tôi sự từ tâm là lý do chính khiến ông Pythagore kiêng thịt. Ông không nỡ nhìn cảnh dẫy dụa và kêu rống thất thanh của những con vật khi bị người ta phanh thây xẻ thịt. Người ta giết những con vật đó không phải vì lý do chúng là thú dữ có khả năng nhiễu hại loài người, mà chính vì mục đích để thỏa mãn khẩu vị của họ mà thôi. Người ta bức tử những con vật ngây thơ không móng vuốt để tự vệ mà đáng lý ra theo luật Tạo Hóa, chúng cũng có quyền sinh tồn, bình đẳng và hiện diện để làm đẹp quả địa cầu này như tất cả mọi loài". Ông còn nhấn mạnh: "Nếu bảo rằng bản tính tự nhiên của loài người là ăn thịt các loài thú, thì thử hỏi chỉ với hai bàn tay trắng do Tạo Hóa sinh ra, mà không cần đến sự trợ lực của dao, mác, hèo, gậy, con người đã làm được gì các loài thú đó».

Leonard Da Vinci 
Ông Léonard Da Vinci (1452 - 1519), nhà danh họa và điêu khắc gia người Ý, đồng thời cũng là một thi sĩ nổi tiếng trên thế giới quan niệm ăn chay là đạo đức của con người. Sự ăn chay sẽ tránh được những tội ác về sát sinh. Ông còn nhấn mạnh rằng những ai không biết quý trọng sự sống của những sinh vật khác là những kẻ không đáng sống. Cơ thể của những người ăn mặn không khác gì những bãi tha ma để chôn vùi xác chết các thú vật mà họ đã ăn vào. Trong các quyển vỡ nhật ký, ông thường viết đầy những câu danh ngôn về lòng từ bi bác ái và luôn luôn có những hành động quí thương các loài sinh vật khác. 

Jean Jacques Rousseau
Ông Jean Jacques Rousseau (1712 - 1778), triết gia và là một văn hào người Pháp đã có những tác phẩm giá trị về mặt tư tưởng đã ảnh hưởng sâu xa đến nền văn học và cuộc cách mạng lịch sử tại quốc gia này. Ông là người chủ trương bênh vực sự hiện hữu của thiên nhiên và cổ xúy sự ăn chay. Ông nhận xét rằng phần đông những loài thú ăn thịt có bản tính hung tợn hơn những loài thú ăn cỏ. Và dĩ nhiên những người ăn chay trường sẽ hiền từ hơn những người ăn mặn. Ông còn đề nghị những người hành nghề đồ tể không được mời vào làm bồi thẩm đoàn tại các tòa án.

Adam Smith
Kinh tế gia Adam Smith (1723 - 1790), trong quyển The Wealth of Nations xuất bản vào năm 1776 đã khuyến khích loài người ăn chay và đã thuyết minh về sự lợi ích của việc thọ trì trai giới. Ông bảo rằng việc ăn mặn xét ra không cần thiết cho nhu cầu dinh dưỡng của con người. Chúng ta đã có ngũ cốc, rau quả, phó mát, dưa và dầu thực vật. Đó là những thức ăn cung cấp cho chúng ta những chất dinh dưỡng dồi dào. Thịt đối với chúng ta sẽ không nghĩa lý gì nếu chúng ta ăn chay đầy đủ và đúng cách

Benjamin Franklin
Cùng một quan niệm trên, ông Benjamin Franklin (1706 - 1790), một khoa học gia và là một chính trị gia nổi tiếng của Hoa Kỳ, người đã bắt đầu ăn chay từ năm 16 tuổi đã bảo rằng nhờ ăn chay mà cơ thể của ông được trong sạch, tinh thần của ông được minh mẫn, trí óc của ông được tiến bộ và sự hiểu biết của ông được nhanh chóng hơn. Trong một bài tự thuật, ông có bình phẩm những người ăn mặn là những kẻ cố sát.

Peter Burwash
Một hôm nọ, nhà vô địch quần vợt Peter Burwash đến viếng một lò sát sanh. Khi ra về ông đã bất nhẫn mà viết những cảm nghĩ của mình trong một quyển sách nhan đề là A Vegetarian Primer (Sách dạy ăn chay). Có đoạn ông viết: "Tôi không nỡ bóp nát một cánh hoa mong manh. Tôi đã chơi hockey với hết sức bình sanh của mình. Tôi cũng đã từng vùng vẫy và dọc ngang trên các sân quần vợt trong những trận thư hùng. Tôi không phải là loại người yếu đuối. Nhưng trước cảnh tượng mà tôi đã chứng kiến tại lò sát sanh, tôi thấy mình kinh khiếp và lòng mình mềm yếu vì thương hại".

"Khi tôi rời khỏi lò sát sanh, sự tội nghiệp đã dày vò lương tâm tôi. Tôi thầm nhủ sẽ không bao giờ có đủ can đảm đi sát hại một con vật dù lớn dù nhỏ. Tôi hiểu rằng có những nhân vật lỗi lạc trên thế giới họp nhau để bàn cãi về các vấn đề vật lý, kinh tế và môi sinh. Cũng có một số người có quan điểm tán đồng với chủ thuyết ăn chay. Song điều làm cho tôi chọn lấy con đường chay lạt không phải chạy theo chủ thuyết này hay chủ thuyết nọ mà chính vì những cảnh dã man mà con người đã đối xử một cách tồi tệ với các loài vật không phương tự vệ mà tôi đã tận mắt chứng kiến". Trong thời kỳ cổ Hy Lạp và cổ La Mã, lòng từ bi và những quan niệm về sự đối xử đạo đức luôn luôn là những nguyên động lực chủ yếu khiến một số danh nhân khép mình trong việc thọ trì trai giới.

Percy Bysshe Selley
Thi sĩ Percy Bysshe Shelley (1792 - 1822) cũng là người ăn chay trường. Ông chủ trương chống báng việc sát hại súc vật để cung cấp thịt cho dân chúng tiêu thụ. Ông đã có lòng vị tha và bắt đầu ăn chay trường từ hồi còn là một sinh viên tại trường Đại học Oxford. Sau này ông thành hôn với bà Harriet. Cả hai vợ chồng đều chấp nhận một cuộc sống chay lạt thanh khiết. 

Trong một bức thư đề ngày 14-3-1812, bà Harriet đã tâm sự với một người bạn: "Vợ chồng chúng tôi đã kiêng thịt và ăn chay trường như ông Pythagore vậy". Một số thi phẩm của ông Shelley thường mang tính chất vị tha bác ái, khuyên nhủ mọi người tránh việc sát sanh, nên ăn chay và sống một cuộc đời thanh cao tốt đẹp.

Leon Tolstoi
Văn hào nước Nga Léon Tolstoi (1828 - 1910) đã thọ trường chay từ năm 1885. Ông chống đối thú săn bắn của một số giai cấp quý tộc và trưởng giả. Ông cũng chủ trương không sát sanh, chủ trương chủ thuyết hòa bình và ăn chay, tôn trọng sự sống của các loài sinh vật khác kể cả con ong và loài kiến. Ông tiên đoán những bạo động xảy ra triền miên trên thế giới chỉ vì loài người không biết tự chế tham vọng của mình.  
Sự kiện càng ngày càng tệ hại hơn và có thể xảy ra những cuộc chiến tranh khốc liệt làm xáo trộn cuộc sống an bình của nhân loại. Trong bài tham luận The First Step (Bước đầu tiên), Léon Tolstoi bảo rằng những người ăn thịt là những kẻ phản đạo đức và "phạm tội sát sinh". Ông nói thêm: "Sự sát sinh đã làm cho những người vốn có một tâm hồn cao thượng, có lòng vị tha đối với mọi người như đối với chính bản thân mình, trở thành những kẻ hung bạo».

Richard Wagner
Nhà soạn nhạc Richard Wagner tin tưởng mạnh mẽ rằng sự sống của mọi loài đều có tính cách bất khả xâm phạm. Ông bảo: "ăn chay là một sự dinh dưỡng thuần hợp với bản chất thiên nhiên, cứu vớt con người xa lánh những tâm địa và hành động tội lỗi, đồng thời ông cũng mong ước sau này sẽ được hóa sinh về nơi an lạc đời đời".

Henry David Thoeau
Ông Henry David Thoreau (1817 - 1862), văn hào Hoa Kỳ có khuynh hướng chống áp bức nô lệ, chủ trương một cuộc sống thanh bình và thuận lý thiên nhiên. Ông là người ăn chay định kỳ từ thuở nhỏ, đã bảo rằng: "Chúng ta không có trách cứ những người ăn mặn. Thực ra vì sự sinh tồn, loài người có thể sát sinh trên một bình diện nào đó. Nhưng đây là một biện pháp bất khả kháng và rất đáng thương tâm. Những người ăn mặn cần phải được hướng dẫn để cải thiện dần đường lối mưu sinh của mình, để họ tự ý thức và tự chọn lựa cho mình những thức ăn chay thanh đạm và cao khiết hơn. Theo sự suy nghiệm của bản thân tôi thì những sự kiện đó can dự một cách quan trọng vào vấn đề vận số của con người. 
 Tôi tin rằng điều kiện ăn uống có thể cải thiện được. Xuyên qua tiến trình lịch sử của nhân loại, chúng ta há chẳng thấy những bộ lạc ăn thịt người từ thuở xa xưa, ngày nay họ không còn ăn thịt lẫn nhau vì đời sống càng ngày càng văn minh hơn và con người trong những bộ lạc đó đã có ý thức hơn ».

 Bernard Shaw
Kịch tác gia nổi tiếng Bernard Shaw (1856 - 1950) đã được giải thưởng về văn học nghệ thuật Nobel năm 1925. Ông cũng ăn chay trường từ năm 25 tuổi. Ông bảo chính những thi phẩm của Shelley đã làm cho ông thức tỉnh và thấy được sự đạo đức trong vấn đề chay lạt. Ông bảo có lần ông bị bịnh. Bác sĩ khuyến cáo ông hãy bỏ "cái tật xấu ăn chay" đó đi. Nếu không ông sẽ toi mạng vì kiệt sức. Nhưng ông vẫn bất chấp. Ông cũng mặc kệ trước những mỉa mai của bàng dân thiên hạ, vô công rổi nghề. Ông bảo chúng ta không nên quan tâm về sự dèm pha của số người chuyên ăn các thây ma của thú vật ấy. Ông thường trước tác những kịch bản và những văn phẩm liên hệ tới hành vi đạo đức của con người, tới sự sát sanh và những bạo động trên thế giới.
 
Isaac Bashivis
Văn hào Isaac Bashivis Singer (sinh năm 1904), từng đoạt giải thưởng văn học nghệ thuật Nobel năm 1978 đã thọ chay trường từ năm 1962. Lúc đó ông vừa đúng 58 tuổi. Ông bảo ông rất lấy làm hối tiếc vì đã kéo dài thời gian ăn mặn quá lâu. Nhưng thà muộn còn hơn chẳng bao giờ ăn chay cả. Ông nghĩ rằng thuyết ăn chay để tránh sát sanh cũng cũng cùng hòa hợp với sự uyển chuyển huyền vi của Do Thái giáo. Ông bảo: "Chúng ta đều là con cái của Thượng Đế. Trong khi chúng ta cầu xin Thượng Đế tha tội cho chúng ta, thì ngược lại chúng ta cứ tiếp tục phạm tội sát hại sanh mạng của những động vật khác ».
Đề cập tới tình trạng sức khỏe có thể bị ảnh hưởng bởi sự ăn chay, ông bảo rằng đó là hoàn toàn dựa trên ý thức của loài người. Ông cương quyết bảo: "Ngay cả việc ăn mặn có tốt cho cơ thể như thế nào chăng nữa, tôi sẽ không bao giờ chấp nhận. Rất nhiều triết gia và các nhà truyền giáo trên thế giới đã rao giảng với tín đồ của họ rằng loài thú chẳng qua chỉ là những cái máy không linh hồn và không cảm giác. Những lời rao giảng như vậy là một sự nói láo, là sáng kiến và chủ trương của bọn ma vương và tà đạo mà thôi".

n Chay

Bác sĩ Trần Xuân Ninh

Tại các nước kỹ nghệ phát triển, thịt cá là một phần quan trọng trong đồ ăn. Riêng tại Hoa Kỳ giàu có, thịt là món ăn chính trong bữa đối với nhiều người. Nhưng trong những thời gian gần đây, ăn chay đã trở thành một phong trào. Đồ chay chế biến đủ loại bày bán trong các tiệm thực phẩm sức khỏe (health food stores). Trong khung cảnh này, người ta ăn chay vì những lý do khác nhau: Bảo vệ môi sinh, chăm lo sức khỏe, thương yêu súc vật, lý do thời thượng, và cả vì lý do thương mại.

Khi có người ăn chay thì có người chế tạo đồ chay theo phương pháp kỹ nghệ đem bán. Và dĩ nhiên để gia tăng doanh số cũng như lợi tức thì người ta đề cao ích lợi của ăn chay nhằm gia tăng số người tiêu thụ đồ chay. Ở đây đề cập đến ăn chay như là một hiện tượng xã hội Âu Mỹ này, mà chỉ suy nghĩ về ăn chay trong Phật giáo, và dưới khía cạnh dinh dưỡng tổng quát.

Ăn Chay Trong Đạo Phật:

Người Việt Nam thường cho rằng ăn chay là một yêu cầu tu tập của các tăng sĩ và các Phật tử. Các tăng sĩ phải ăn trường chay, tức là hoàn toàn không trong trường hợp nào được ăn thịt cá. Các tín đồ thì tùy tâm nguyện mà ăn chay một hay nhiều ngày trong tháng hoặc theo trường chay. Nói cho đúng thì yêu cầu ăn chay chỉ áp dụng với các tăng sĩ theo Phật giáo Đại thừa, truyền từ Trung Hoa sang, gọi là Phật giáo Bắc Tông, các tăng sĩ Phật giáo Nguyên Thủy, hay Nam Tông, có truyền thống khất thực, thì không bắt buộc ăn chay, mà ăn các thực phẩm do quần chúng tùy duyên trao tặng.

Sự khác biệt này đã khiến một số nhà nghiên cứu tìm tòi sách vở để xem lời Phật dạy đối với vấn đề ăn chay ăn mặn ra sao, nhằm phân định phải trái. Những dẫn chứng dĩ nhiên là khác nhau tùy theo nguồn kinh sách và tùy theo định kiến cá nhân đối với ăn chay.

Phật giáo Nguyên Thủy cho rằng Đức Phật không phải là người ăn chay, không đặt vấn đề chay mặn, và hàng tỳ kheo đi khất thực đón nhận, không phân biệt, thực phẩm dân chúng đóng góp cúng dường. Ngược lại ăn chay là một nhu cầu tu tập bắt buộc trong các kinh điển Phật giáo Đại thừa Trung Hoa. Vì thế, nhiều người cho rằng ăn chay là một nét đặc thù của Phật giáo Đại thừa. Thực sự thì ta nên biết rằng một số tu sĩ Nhật Bản thuộc Phật giáo Đại thừa cũng ăn thịt. Ngoài ra, một giáo phái Đại thừa Tây Tạng (áo đỏ) cũng ăn thịt. Ngay một số để tử Đức Đạt Lai Lạt Ma lúc sang Mỹ thuyết giảng khi được hỏi về thực phẩm cũng không đặc vấn đề chay mặn. Trong sách "Quan Điểm Về An Chay của Đạo Phật" tác giả Tâm Diệu đã viết rằng "ăn chay không phải là nét đặc thù của Phật giáo Đại thừa nói chung và của Phật giáo Đại thừa Trung Hoa nói riêng". Tâm Diệu đã dẫn chứng một số tài liệu để khẳng định "ăn chay đã có trong thời kỳ Phật còn tại thế và được phát triển mạnh mẽ vào thời đại Asoka, vị hoàng đế Ấn Độ trị vì từ n ăm 274 đến năm 232 trước Thiên Chúa giáng sinh".

Tác giả Tâm Diệu vừa viện dẫn kinh sách, vừa lý luận dựa trên một số tài liệu khoa học và bài viết hiện đại về môi sinh để cổ võ việc ăn chay. Bài này không nhằm mục đích đó mà chỉ muốn đưa lên một số suy nghĩ về ăn chay, trên cơ sở hiểu biết cá nhân về đạo Phật cũng như về dinh dưỡng.

Các tu sĩ Phật giáo Nguyên Thủy cho rằng sự giải thoát không do nơi ăn uống, mà do nơi thanh tịnh ba nghiệp thân khẩu ý. Ăn chay mà thân khẩu không lành, ý chứa gươm đao, giới luật không giữ thì không lợi ích gì. Luận cứ này không khác gì mấy lối nghĩ của người bình dân "ăn mặn nói ngay còn hơn ăn chay nói dối". Cái lý luận bình dân này xét ra cũng hơi có tính bài bác ăn chay.

Ngược lại, theo Phật giáo Trung Hoa, ăn chay là một phần của việc thì hành giáo pháp. Triều đại nhà Lương (thế kỷ thứ 6 sau Thiên Chúa), nhà vua cấm thịt cá trong các yến tiệc hoàng cung, kêu gọi dân chúng ăn chay và cấm giết thú vật trong các nghi lễ Đạo giáo. Thời Minh (thế kỷ 16-17), hòa thượng Vân Thế Châu Hoằng là người cổ võ ăn chay mạnh mẽ, vì thế có người đã cho rằng ăn chay bắt đầu từ thời này. Bênh vực cho yêu cầu ăn chay trong việc hành trì đạo pháp, có nhiều luận cứ trong kinh sách Đại thừa, như Lăng Già, Lăng Nghiêm, Đại Bát Niết Bàn? Chủ yếu coi ăn chay là thi hành giới cấm sát sinh, và cũng là thực hành hạnh từ bi.

Ngoài ra, ăn chay cũng là để tránh ăn thịt lẫn nhau, trong đó có thể có người thân thích cật ruột của mình bị trầm luân theo luật luân hồi. Nếu nhận rằng giới cấm sát sinh và hạnh từ bi không chỉ áp dụng với người mà còn phải áp dụng với mọi loài từ con sâu cái kiến trở đi, thì ăn thịt sinh vật không thể nào biện giải được. Nếu tin tuyệt đối vào luân hồi, làm kiếp người hay kiếp thú vật hoàn toàn tùy duyên nghiệp nhân quả quyết định, thì rõ ràng ăn thịt động vật cũng là ăn thịt con người. Tuy nhiên cái lòng tin tuyệt đối này cũng như sự diễn dịch giáo lý của Phật có khác nhau, tùy theo văn hóa và trình độ phát triển của từng dân tộc cũng như tùy sự hiểu biết cá nhân.

Truyện kể lại rằng vào đời nhà Trần trong một bữa tiệc do hoàng thái hậu Nguyên Thánh Thiên Cảm thết đãi có cả món chay lẫn món mặn, thì Tuệ Trung Thượng Sĩ, người sáng lập ra Thiền Phái Trúc Lâm Yên Tử Việt Nam, đã điềm nhiên ăn thịt cá. Thái hậu ngạc nhiên hỏi: "Anh tu thiền mà ăn thịt cá thì thành Phật sao được?" Ngài cười đáp: "Phật là Phật, anh là anh. Anh không cần làm Phật. Phật không cần làm anh". Tuệ Trung Sĩ là một bậc tu hành giác ngộ. Lời nói của Ngài không phải là lời kẻ tục tử đáp xằng. Việc ăn thịt cá của Ngài Tuệ Trung dĩ nhiên là trái hẳn kinh sách Đại thừa. Vậy thì sự thật ở đâu? Ăn chay là phải, hay ăn mặn là phải trong việc tu hành theo Phật pháp?

Câu trả lời của Tuệ Trung Thượng Sĩ hàm ý cho thấy cái quan trọng của tâm tu và cái phá chấp trong phương tiện tu hành.

Thời nay, ta thấy có những trường hợp các bữa cơm chay trong chùa đầy rẫy các món như giò, chả, thịt kho, cá hấp, tôm xào? làm bằng đồ chay. Về vật chất, đúng rằng các món này thuần làm bằng rao đậu, không có cá thịt. Nhưng về tinh thần, cái ý thức ăn giò, chả, thịt kho, cá hấp? rõ ràng biểu lộ sự trói buộc vào trong những ý niệm quy ước nặng nề thân khẩu ý, không giúp ích chút nào cho sự tu trì. So với một tu sĩ Phật giáo Nguyên Thủy, đón nhận tự nhiên mọi thực phẩm dân chúng cúng dường, không chú ý tìm cái ngon trong đó, coi ăn như một nhu cầu bình thường và tự nhiên để sống và tu hành, thì người ăn chay với các món cầu kỳ sửa soạn để phục vụ khẩu vị, sắc hương?, chưa chắc đã là người tiến gần hơn đến chỗ giác ngộ. Nói như vậy cũng không phải để bênh vực những kẻ cố tình khai thác cái ý "phá chấp", "cốt ở tâm tu" để mà sa đà ăn mặn, dối mình, gạt người.

Ăn Chay Và Dinh Dưỡng:
Ăn, khởi thủy vốn là một yêu cầu tự nhiên để sống còn, nhưng dần dần đã trở thành một cái dục thú lớn ở đời, và là một trong những động lực thúc đẩy con người vật lộn đấu tranh. Từ chỗ sống nhờ ăn, người ta trở thành khổ vì ăn. Khổ trong sự tìm kiếm đồ ăn đã đành, khổ còn vì ăn không đúng mà trở thành đau bệnh. Trong cái mạch suy nghĩ này, nếu giữ cho cái ăn không trở thành một ám ảnh, với những yêu cầu phức tạp thêm thắt quanh đó thì đã là một bước diệt dục. Người Mỹ có câu "you are what you eat", ý nói rằng thực phẩm ảnh hưởng nhiều vào con người. Một cách đơn giản, ăn đường mỡ béo bổ nhiều thì dễ mập phì, sinh bệnh tim mạch hay ung thư v.v? Câu này thường nêu lên bởi những nhà dinh dưỡng, mục đích là nhằm khuyên con người để ý về việc chọn đồ ăn tốt cho sức khỏe mà tránh những thức độc hại dầu ngon miệng, hợp khẩu vị.

Các cụ ta ngày xưa không nói như người Mỹ nhưng cũng có quan niệm rằng những giống vật ăn thịt thường là bạo tạo tợn, như hổ báo, còn các giống ăn cỏ thường là hiền lành như hươu nai trâu bò. Nền văn hóa của những giống dân du mục, sống bằng săn thú và thịt động vật cũng có những nét hung dữ năng nổ hơn là văn hóa của những giống người sống bằng nông phẩm trồng trọt. Đối với con người thì rượu nồng dê béo? thường được coi là những món ăn khích động thú tính con người. Và không lấy gì làm lạ là những người tham dục thường tìm đến nào là huyết chim sẻ, máu rắn hổ mang, thịt dê đực vân vân, chứ ít ai tìm ăn rau cỏ trái cây. Tóm lại thức ăn ảnh hưởng quan trọng đến cơ thể và tinh thần con người. Sự quan trọng này của thực phẩm đã được trường phái dưỡng sinh Osawa gạo lức muối mè khai triển triệt để trong cách phòng bệnh cũng như chữa bệnh nan y, và được chú ý tại Việt Nam thập niên 60-70. Tuy nhiên, những luận lý chứng minh đưa ra của trường phái này đã trộn lẫn những dữ kiện khoa học Tây phương với những dữ kiện y lý và huyền bí Đông phương như ngũ hành sinh khắc, hàn nhiệt? gán cho các loại thực phẩm một cách tùy tiện. Vì thế người theo Osawa không chỉ dựa trên lý luận và tri thức mà còn phải có cả yếu tố lòng tin ở những phán truyền này.

Nhiều người, trong sự hăng say cổ võ ăn chay, đã đi tới chỗ khẳng định ăn chay tốt hơn và làm con người khỏe hơn ăn mặn (tức là ăn thịt cá?) Ngược lại, những người tin tưởng mù quáng vì không hiểu nhiều y học Tây phương lại cho rằng cá thịt? là những thực phẩm không thể thiếu để làm cho cơ thể khỏe mạnh. Thực sự vấn đề không đơn giản như thế. Có nhiều người Ấn Độ ăn chay từ nhỏ đến lớn mà vẫn khỏe mạnh không tật bệnh. Có nhiều người chỉ ăn thịt cá mà bệnh tật ốm đau đủ thứ. Nói chung, ăn mà không đúng cách thì bất kể chay mặn đều là không tốt. Riêng nói về ăn chay, thì có thể khẳng định rằng các thực phẩm chay đủ cung cấp cho người ta các yếu tố dinh dưỡng cơ bản cần thiết cho cơ thể, gồm chất bột, chất béo, chất đạm, chất sơ và các chất sinh tố cũng như muối khoáng. Ngày nay người ta đã phân biệt ra ba loại ăn chay. Loại thứ nhất gồm các loại nông phẩm như rau, đậu, hạt, trái cây, trứng sữa và phó sản (như bơ, kem, phó mát?). Loại ăn chay thứ hai cũng gồm các thực phẩm như trên, trừ trứng. Loại thứ ba chỉ gồm có rau đậu trái cây mà không có trứng và sữa cùng các phó sản. Người Việt Nam trước đây, vì không phát triển chăn nuôi, ít có sữa và ít dùng sữa, và coi trứng là có đời sống, nên ăn chay thuộc loại thứ ba. Về phương diện khoa học, trứng chỉ là một tế bào trong một môi trường dinh dưỡng. Nếu có thụ tinh thì trứng mới trở thành một bào thai và phát triển thành sinh vật khi có nhiệt độ thuận lợi do ấp trứng thiên nhiên hay trong máy ấp. Một cách thực tế là gà nuôi kỹ nghệ để cho đẻ lấy trứng thì không có thụ tinh và trứng chỉ là một tế bào, như nhiều người tế bào khác loại ra hằng ngày. Nói chung, lối ăn chay có trứng sữa không ngại thiếu dinh dưỡng nếu không biết đặc tính của từng loại thực phẩm để mà chọn lựa sử dụng theo những tỷ lệ thích hợp. Thực vậy, trong các loại đậu, đặc biệt là đậu nành thì có chất đạm, các hạt như hạt vừng (mè), hạt điều thì có nhiều chất béo? Nếu ăn chay nhà nghèo theo kiểu Việt Nam ngày xưa chủ yếu toàn rau mà thiếu đậu cùng các loại hạt và những phó sản (đậu phụ, dầu, sữa, đậu nành?) thì suy dinh dưỡng là chắc chắn. Ngược lại, người Việt tại Mỹ hiện nay, trong cách sửa soạn đồ chay thường rộng rãi sử dụng dầu, mè (vừng), đậu phụng, nước cốt dừa, đường v.v để cho các món ăn ngon lành, bùi béo. Do đó đã tạo nên một loại dinh dưỡng không thăng bằng, không tốt cho cơ thể. Lý do chỉ vì dùng chất béo và chất đường quá nhiều, là những thứ dễ sinh bệnh tim mạch và tiểu đường. Tóm tắt lại thì nếu biết rõ đặc chất dinh dưỡng của từng loại đồ chay để mà chọn lựa ăn chay một cách quân bình theo những hiểu biết khoa học, thì ăn chay có khả năng dinh dưỡng không khác gì ăn mặn, mà còn có những lợi điểm giúp con người trầm tĩnh xuống, thích hợp cho sự tu hành yên lắng của tâm hồn.

Ăn Chay Và Tu Hành Phật Pháp:
 
Nếu cứ viện dẫn và diễn dịch kinh điển để nói rằng tu hành theo Phật giáo là phải hay không phải ăn chay thì cuộc luận bàn tìm đúng sai này sẽ không bao giờ chấm dứt. Bởi vì như trên đã nói, kinh điển khác nhau tùy theo nguồn gốc Đại thừa hay Nguyên thủy. Những luận cứ Đại thừa cũng như Nguyên thủy đều có những cái lý của chúng. Đạo Phật lại đã trải qua một thời kỳ trầm lắng gần ba thế kỷ sau khi Đức Phật viên tịch khiến cho sách vở cũng như những diễn truyền không tránh khỏi khác nhau. Vả lại những kỳ tập kết của các đệ tử trong khoản vài trăm năm sau khi Phật viên tịch để thảo luận về giới luật đã không có sự hoàn toàn thống nhất ý kiến.

Ở đây chỉ xin trình bày một cách nhìn thực tiễn về ăn chay, không mang tính cách trường phái, giáo điều. Như đã tóm lược ở trên, thực phẩm chay có đầy đủ các chất chính cần thiết cho nhu cầu dinh dưỡng của con người (chất đạm, chất béo, chất bột, chất sơ, sinh tố và các khoáng chất). Cho nên ăn chay đúng cách không khác gì ăn mặn về khía cạnh dinh dưỡng. Ngoài ra nhìn chung thực phẩm chay còn có những ảnh hưởng tĩnh lặng lên phản ứng con người, ngược với những đồ ăn gốc động vật.

Đứng về phương diện khẩu vị, tất cả chỉ là thói quen. Nếu quen ăn nhiều mỡ và thịt cá thì không thể thích các đồ ăn chay nhiều chất bột chất sơ. Ngược lại, nếu không ăn thịt cá quen thì chỉ thấy ngon miệng với rau đậu. Con người vốn thuộc loại ăn tạp (omnivore), nghĩa là ăn đủ thứ, nếu bỗng nhiên chỉ ăn có một loại thực phẩm chay thì sẽ có khó khăn. Vượt qua khó khăn này chính là một nỗ lực tu hành, gạt bỏ những trói buộc của thân khẩu ý. Tuy nhiên, khi đã ăn chay mà còn bày vẽ vọng tưởng, nào là giò, chả, cá, thịt, thì tinh thần này lại làm cho con người bị trói buộc mà giảm mất ý nghĩa của sự chọn lựa ăn chay.

Nhìn ra như vậy người cư sĩ Phật giáo sẽ chọn được cho mình một thái độ thích hợp đối với vấn đề ăn chay trên con đường tìm đến thân tâm an lạc. Một cách dung dị và thực tế, có thể nói ăn chay là một phương tiện tu hành hữu ích./.

Lời nguời chuyển :
Cách đây mấy tháng, tôi đi đám ma của một người bạn cũ (thời ĐH Vạn Hạnh ở Sàigòn), Cô là đệ tữ của thầy HT. Tôi không biết Cô ăn chay trường từ hồi nào, nhưng cách đầy gần 4 năm, Cô qua Dallas, TX thăm 1 người bạn, thấy Cô ốm yếu, xanh xao, Cô bạn đưa Cô đến một BS về dinh dưỡng (nuitritionist), BS khám, thử máu, hẹn vài ngày sau đến gặp. BS hỏi về ăn uống, thì Cô cho biết Cô ăn chay. BS khuyên Cô đên thay đổi cách ăn uống, nếu không, Cô sẽ chết trong vòng hai năm. BS giaỉ thích : Cô ăn quá nhiều đậu nành (soy bean), máu của Cô bị nhiễm độc (quá nhiều độc tố từ đậu nành), không tốt cho sức khỏe của Cô. Trỡ lại Nam Cali, tôi không hiểu Cô có thay đổi cách ăn uống hay không, nhưng khi đi đám ma của Cô, gặp bạn cho biết, vài tuần cuối đời, Cô rất đau đớn, nằm ở nhà thương trên Long Beach, họ không thể rút máu của Cô từ mạch máu (tôi nghe kể lại) mà xẻ đùi của Cô để lấy máu, lọc đi, rồi truyền vào cơ thể trở lại, nên rất đau đớn. Tôi không chứng kiến việc này, mà chỉ đến thăm Cô lần cuối ở nhà quàn.
Tôi cũng có đọc một bài trên internet (khá lâu rồi) về đậu nành, nếu dùng vừa phải thì tốt, protein thay cho thịt cá, nhưng lạm dụng thì không tốt. Tôi thấy tất cả món ăn chay, đều làm từ đậu nành, khi đã nguyện ăn chay, thì tại sao phải ăn thức ăn giống ăn mặn ? (chà giò, bún bò Huế, giò, chả, thịt kho, cá kho.....tất cả những thứ này làm từ đậu nành. Khi đã nguyện "ăn chay" mà tại sao vẫn muốn ăn giống món mặn, tức là lòng chưa thanh tịnh, tại sao không không ăn uống bình thường (tốt cho sức khỏe) mà lòng thanh tịnh. Đạo Phật không bắt buộc ăn chay.

Tóm lại, tôi thấy "ăn chay" như là một phong trào (thời thượng), nhưng ít ai nghỉ tới lợi ích thiết thực của việc ăn chay. Tôi xin có mấy lời.
Bác sĩ Trần Xuân Ninh



--
                   Danh từ Đạo

Âm quang: Âm : khí âm nguyên thủy do Thái Cực phân ra, Quang : ánh sáng. Khí chất hỗn độn chưa có ánh thiêng liêng (Dương quang) của Đức Chí Tôn rọi đến. Âm quang được tích trữ tại Diêu Trì Cung, phát xuất từ Diêu Trì Kim Mẫu và tượng trưng bởi chữ Khí sau tượng Đức Hộ Pháp ở CửuTrùng Đài. Khoảng âm quang nào thọ lãnh dương quang thì sẽ thối trầm trở thành cơ quan sanh hóa vạn linh. Theo Bát Nương: «Khiếm khuyết ánh sáng thiêng liêng là Âm Quang »
Bí Pháp: Pháp luật bí ẩn, vô hình chi phối sự tiến hóa Chơn Linh đi đến đắc Đạo.
Bí Tích: Pháp thuật huyền diệu khồng dùng trí phàm hiểu biết hết được. 
Chí Tôn: Thượng Đế cấu tạo càn khôn vũ trụ. Ngài còn mang nhiều danh hiệu khác : Thái Cực, Đại Linh Quang, Đại Hồn, Thiên Hồn, Đại Từ Phụ, Thầy, Trời, Đấng Thanh Cao, Đại Bồ Tát Ma Ha Tát, Ngọc Hoàng Thượng Đế, Cao Đài Ngọc Đế, Đức Ngọc Đế, Vô Danh Tiên Trưởng, Cao Đài Tiên Ông, Cao Đài Bồ Tát… Lễ vía của ngài vào ngày 9 tháng giêng.
 Chơn Linh (linh hồn, thần hồn) : Tiểu linh quang được chiết ra từ Đại linh quang của Thượng Đế ban cho mỗi người khí giáng sanh nhập vào xác phàm để làm đệ tam xác thân. Nhờ có tánh thánh, vô tư, Chơn Linh có phép giao thông với các Đấng Thiêng Liêng qua cơ bút nhận Thánh Ngôn mà lập nên Đạo Cao Đài.
Chơn Thần: (Thần Hồn, Linh Thân, Chơn Thân, Pháp Thân, Phách, cái Vía, Tướng Tinh, Hào quang) do Đức Kim Mẫu dùng nguyên khí nơi Diêu Trì Cung để tạo thành. Chơn Thần hiệp với Chơn Khí tạo thành Đệ nhị xác thân. Chơn Thần ngụ trong ngũ tạng thì gọi là Ngũ Thần: Thức Thần trong tim, Ý trong tì,  Phách  trong phế, Chí trong thận, Hồn trong can. 
 Diêu Trì Kim Mẫu: (Kim Bàn Phật Mẫu, Đại Từ Mẫu, Bà Mẹ Sanh, Mẹ, Đức Mẹ, Phật Mẫu, Đức Diêu Trì, Đức Kim Mẫu…), là hóa thân của Đức Chí Tôn, chưởng quản Diêu Trì Cung, điều khiển bát hồn, chúng sanh. Đức Phật Mẫu thâu điểm Linh Quang của Đức Chí Tôn làm linh hồn, rồi dùng nguyên khí âm-dương trong Diêu Trì Cung tạo ra một Chơn Thần làm xác thân thiêng liêng bao bọc điểm linh hồn này và tạo thành một con người nơi cõi thiêng liêng. Ngày lễ vía của ngài là rằm tháng tám.
Chính khí : Chơn Khí ; Chính khí trong kinh mạch gọi là dinh khí, ở ngoài da gọi là vệ khí
Đại Ân Xá : Trong thời kỳ Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, Thượng Đế mở Đại Ân Xá giúp các
đẳng Chơn Hồn và chúng sanh dễ đắc Đạo trong một kiếp tu mà có thể về với Thầy
 Khí Hậu Thiên : Khí của thời kỳ hình thành thế giới vật chất,
Khí Tiên Thiên  (Hạo Nhiên Khí, Hư vô chi khí, Tiên thiên nhứt khí, Nhứt dương chi khí, Khí Sanh Quang…) : Khí chất  châu lưu trước khi có trời đất.
Linh quang (Sanh quang) : Ánh sáng thiêng liêng của Thượng Đế, phát ra từ Thái Cực để tạo
 nên sự sống và sanh hóa.
Luân hồi: Kiếp sống sanh sanh, tử tử, cứ thế nối tiếp nhau giống như cái bánh xe quay đi rồi trở lại như thế.
 Lục dục : 6 điều ham muốn: Sắc dục, thính dục, hương dục, vị dục, xúc dục, pháp dục
Mệnh Môn : Khí dương Tiên Thiên ngụ tại huyệt mệnh môn, trên xương sống đối diện với rún
Minh thệ : thề giữ chắc lời phải theo đúng điều đã nguyện.
 Ngũ Hành: Hỏa, Thổ, Kim, Thủy, Mộc trong Hậu Thiên Cơ Ngẫu, tương ứng với ngũ tạng trong con người : tâm, tì, phế, thận, can.
 Ngũ Khí : Trong Tiên Thiên Cơ Ngẫu, Ngũ Khí là năm chất khí vô hình thuộc thời Tiên Thiên, nhưng khi ngưng kết lại thì có hình ảnh thuộc thời Hậu Thiên, tạo thành Ngũ Hành. Khí đen tụ trên không thành nước (thủy), khí đỏ thành lửa (hỏa), khí xanh thành mộc, khí trắng thành kim, khí vàng thành đất.
Ngũ Thần : Ngụ trong ngũ tạng : Thức thần (tim) sanh ra tình cảm vui ; hồn tức vía (can), sanh ra giận ; Phách (phế) sanh ra buồn ; Ý (tì) sanh ra lo âu ; Chí (thận) sanh ra sợ hãi.
Nội hàn : Lạnh phát ra từ bên trong cơ thể phát xuất từ sự suy nhược nội tạng; (ngoại hàn là lạnh của khí hậu ngoài trời)
Phách : Kết hợp của Chơn Khí với Chơn Thần,  tùy theo bối cảnh Phách có nghĩa là :
- 7 lớp tinh khí của 7 cõi bọc ngoài Chơn Thần, Đức Hộ Pháp: Đức Phật Mẫu dùng 7 ngươn
khí tạo thành Chơn Thần ta, tức nhiên tạo Phách ta
- Chơn Thần
Kinh đệ Nhứt Cửu: Phách anh linh, ắt phải anh linh
Kinh khi đi ngủ: Trong giấc mộng ngủ yên hồn phách
- phàm thân;
Gởi hồn phách cho chàng định số (Kinh tụng khi chồng qui vị)
TNHT: Thủ cơ hay là chấp bút phải để cho Thần, tâm tịnh mới xuất Chơn Thần ra khỏi Phách, đặng đến hầu Thầy nghe dạy.
Tân Luật : Bộ Luật tu hành thời Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, gọi là Thiên Điều tại thế
Thất tình: Ái (yêu thương), ố (ghét), hỉ (mừng), nộ (giận), ai (buồn), lạc (vui sướng), cụ (sợ hãi).
Xác phàm : Còn gọi là hình thể, thể xác, xác trần, xác thân, mảnh hình hài, giả thân
 Vệ Khí : Chơn Khí lưu hành bên ngoài để bảo vệ thân thể thì gọi là vệ khí





Thư mục

Tủ sách Đại Đạo, eBook trong www.daocaodai.info

DÃ TRUNG TỬ, Phương dinh dưỡng xác thân và kiến thức mới về ăn chay
HT NGUYỄN VĂN HỒNG:  Bước đầu học Đạo, Quyển 1 và 2, Hoa Thịnh Đốn 2004,
HT. THIỀN TÂM, Ăn chay, nguồn http://thuvienhoasen.org
TÂM DIỆU, Quan điểm về ăn chay của Đạo Phật, Hoa sen xb, Hoa Kỳ, 2009
THUẦN ĐỨC, Ăn chay, Saigon, 1928
TRẦN ANH KIỆT, Ăn chay và sức khỏe, Úc Châu, 2000

 Sách ngoại ngữ

CARPER, Jean, les aliments et leur vertu, Les Éditions de l’homme, Québec, 1994
CASTLEMAN, Michael, Les plantes qui guérissent, Mordu Vivendi, Canada, 2002
CHEE Soo, Le Tao de la longue vie, un guide pratique de l’alimentation Ch’ang Ming, 1983, Éd. Le Jour, Montréal,
CHEN Jun et Pierre Sterckx, Diététique des quatre saisons, Presses universitaires Quang Ming, Suisse 2002.
CHEN, You Wa, La diététique du yin et du yang, Éd. Robert Laffont, Paris, 1995
 EYSSALET, J .M . Guillaume, G. et al. Diététique énergétique et médecine chinoise, Éd. Présence, France, 1984
LACASSE, Odette, Plantes médicinales et aromatiques de nos jardins, Broquet, Canada, 1994
OSSIPOW, Lảuence, Le végétalisme:vers un autre art de vivre, Paris Montréal, Cerf Fides, 1989
MẺRY, André, Les végétariens : raison et sentiments, Paris, La Plage éd, 1998
NGUYEN Van Nghi, Hoang Ti Nei King So Quenn, 4 tomes, Socedim, Marseille, 1973 et 1991
NGUYEN Van Nghi, TRAN V.D. et C. NGUYEN Recours, Huang Di Nei Jing, Ling Shu, 3 tomes, Marseille, 1994, 1995, 1999
OHSAWA, Georges, Le zen macrobiotique, Librairie philo. J. Vrin, Paris, 1980
 Sélection du Reader’s Digest, — Secrets et vertus des plantes médicinales, 1er Édit. Canadienne, 1991
                                                  — Aliments santé, Aliments danger, Canada, 1997
SIONNEAU, Philippe et Zagorski, Richard, La diététique du Tao, Éd. Guy Trédaniel, Paris, 2001
TREMBLAY, Nicole, Le Tao de l’alimentation, Les Éditions Québécor, Canada, 2002

  









                                                       Về tác giả Lạp Chúc Nguyễn Huy

                                               IMG_0326

      

          Trước năm 1975, giáo sư tại Đại Học Cao Đài Tây Ninh và Đại Học Văn Khoa Sài Gòn,
          1981-1992, chuyên viên nghiên cứu tại đại học Laval, Québec, Canada.
           Từ 1995, viết sách và vẽ tranh.
            Email. nguyenhuyquebec@yahoo.ca


                                           


 


Sách Kính Biếu
 Free book

Published by
Thánh Thất Seattle
Địa chỉ
Printed by


[1] Chất đạm giữ vai trò chủ yếu trong mọi tế bào của cơ thể. Tất cả các enzymes (phân hóa tố) đều là chất đạm. Các kháng thể, kích thích tố, xương cốt đều chứa chất đạm. Chất đạm sản sinh ra năng lượng giúp chuyển vận chất mỡ và sinh tố, giúp điều chỉnh hệ thống tự điều hòa của cơ thể (homeostasis).Chất đạm được thành lập bởi những chuỗi soắn dài amino acids, trong đó có chứa chất nitrogen. Cơ thể chứa 20 loại amino-acids trong số này cơ thể tự tao ra 11 loại gọi là non essential amino acids. Còn 9 loại kia do thực phẩm cung cấp gọi là essential amino acids

[2] Chất béo bão hòa tìm thấy trong sản phẩm động vật và thực phẩm chế biến, không tốt cho tim vì chúng làm tăng
     cholesterol xấu  LDL
[3] Hãy đọc Peter Navarro, Death by China: Confronting the Dragon- A global call to action, Kindle Edition, USA, 2011 để
     biết rõ hơn về độc tố trong thực phẩm tại Trung Quốc và Việt Nam
[4] Huỳnh Ngọc Thu, Đời sống tôn giáo của tín đồ Đạo Cao Đài trong bối cảnh văn hóa Nam Bộ, 2010, Trang 162

[5] Mỗi ngày uống một muỗng bột sắn pha trong tách nước lạnh. Sau hai ba lần là hạ hỏa. Bột sắn mua ở chợ phần nhiều là giả
     hoặc có pha thêm bột khác, nên mua chỗ quen biết
[6] Khi Chơn Khí luân lưu bên ngoài bảo vệ cơ thể thì gọi là vệ khí (énergie défensive), còn Chơn Khí trong kinh mạch thì gọi
    là chính khí (énergie nourricière)
[7] Nhai lá húng, hột cà phê, lá persil sẽ làm mất mùi tỏi
[8] Hoa cúc khô là một dược liệu rất âm tính nên người có tạng khí âm phải rất cẩn thận khi dùng hoa cúc, tức là tránh xử  
    dụng nếu có triệu chứng âm (ngủ nhiều, người lạnh, bạc nhược…)
[9] Với khoa học, các thay đổi về màu sắc, mùi vị phản ánh biến dịch của hóa chất trong tế bào trái cây.
[10] Trái hồng còn xanh chứa nhiều tannin và pectin hợp với acid dạ dày có thể tạo ra những cục sạn trái hồng (gastric persimmon stone) nếu ăn nhiều

[11] Theo giải thích của khoa học là vì enzyme broméline phá hủy nhanh chóng chất đạm nhất là chất đạm động vật
[12] Có thể liên lạc với dolehuong@gmail.com hoặc Amazon để mua

No comments: