Sunday, May 28, 2017

NGUYỄN HUY ÂM DƯƠNG ẨM THỰC I



Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ
              





         Âm Dương
         Ẩm Thực
                    陰 陽

                                           

                              Lạp Chúc Nguyễn Huy
                                                                                                Cựu giáo sư Viện Đại Học Cao Đài Tây Ninh
                                                                                                                   Cựu chuyên viên khảo cứu  Đại Học Laval, Canada

                                                                              




                  Thánh Thất Seattle
                    Ấn tống năm 2015-Hoa Kỳ












Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ




Âm Dương
Ẩm Thực
陰 陽

                    Lạp Chúc Nguyễn Huy
                                                                                 Cựu giáo sư Viện Đại Học Cao Đài Tây Ninh
                                                                             Cựu chuyên viên khảo cứu  Đại Học Laval, Canada







Thánh Thất Seattle publisher

Xuất bản lần thứ nhất
Năm 2015 tại Hoa Kỳ


















Nhớ đến ăn chay
năm xưa tại Viện Đại Học Cao Đài,
và nay tại Thánh Thất nơi hải ngoại,
mà viết tặng quý Hiền Tỉ, Hiền Muội
cuốn sách này đây.
Lạp Chúc














                 

                              Tác phẩm của Lạp Chúc Nguyễn Huy
         
                   Sách sắp in
                   Thiên Thư Tòa Thánh  
                   Thiên Nhơn Hiệp  Nhứt
                  
                   Sách đã in
                   2005   Le Caodaïsme, Théorie des Trois Trésors et des Cinq Fluides, Chân Tâm Publisher, California.
                   1995         Triết Lý Đạo Cao Đài, Minh Thiện xuất bản, Canada.
                   1994         Văn Hóa Việt, Nắng Mới xuất bản, Canada.
                   1992  Religion et adaptation: les réfugiés vietnamiens au Canada, Université Laval, Canada. *
                   1990          Fleur de lotus et feuille d'érable, la vie religieuse des Vietnamiens du Québec, Département d'Anthropologie,     
                               Université Laval, doc. de recherche No. 7, Canada *.
                   1988          Exile in a cold land, a vietnamese community in Canada, Yale Center, U.S.A. *
                   1984          Les Vietnamiens du Québec: profil sociolinguistique, Centre international de recherche sur le bilinguisme,
                               B.136, Québec *.
                  1972    Hịên tình kinh tế Vịêt Nam, 2 tập, Lửa Thiêng xuất bản, Saigon.
                 
                  Bài khảo cứu
                   2008   Des poids et des mesures dans les campagnes du Vietnam, École française d’Extrême-Orient,  (Institut de 
                               Recherche sur le Sud-Est Asiatique, T.2, Paris*
                   1998          Le Thờ Mẫu, un chamanisme vietnamien?, Anthropologie et Société, Université Laval, Québec *
                   1993     De quelques usages du sel dans la culture vietnamienne, Collection Grand Sud No 4,  Prince of Songkhla
                               University, Thaïland
                   1987          Les Vietnamiens à Québec et leurs problèmes d'intégration, Centre international de recherche sur le bilinguisme,
                               publication B-164, Canada *.
                   1985          The survival of the vietnamese language in Quebec, The Vietnam forum No.6, U.S.A. *
                   1974          Les marais salants de la province de Bạc Liêu, Société des Études indochinoises, T.XLIX.
                   1968          Les formations latéritiques à Bình Dương, Société des Études indochinoises, T.XLIII.
                   1962          Une agglomération de sampans habités à Saigon, C.O.M., T.XV, Bordeaux. *

                         *        Đồng tác giả














Cảm tạ


Tác giả chân thành cảm tạ :

Thánh Thất Seattle đã giúp đỡ việc ấn loát và phổ biến,
Quý Đồng Đạo đã yểm trợ công sức, tài chánh,
Hiền Tài Mai Văn Tìm đã và đang giúp đỡ tác giả trên đường khảo cứu Đạo.
                             
Mục lục


                                           Trang
Chương dẫn nhập
                 1. Hành vi tôn giáo… ……………………………. . 6                                             
                 2. Tri bỉ, tri thực… ………………………………..  9                                              
                 3. Mục đích và đường lối cuốn sách……………. ..  9

            Phần 1. Khí âm dương
1. Khái niệm về khí
2. Khí âm dương trong thực phẩm
                1. Phương pháp tìm hiểu khí âm dương ……. …..                   
                2. Luật âm dương…………….. …………………
                3. Kiểm nghiệm khí âm dương……………………                               
                4. Phép tăng khí lực……… ………………………
3 Nhận diện khí âm dương
                1. Khí âm dương trong thực vật………………….
                2. Khí âm dương trong động vật…………………
                3. Biến chế nhân tạo
                4. Nhóm thực phẩm khí âm dương………….. …   
4. Tạng khí
                1. Tạng thái dương rất nóng……………………. . 
                2. Tạng thái âm lạnh……………………………
5. Hương vị
                1. Mùi……………………………………………..  
                2. Khí âm trong ngũ vị …………………..  ……..
                3. Nguyên tắc và cấm kỵ………………………... .
                4. Tác động ngũ vị lên Ngũ Thần……………….. .

            Phần 2. Phép dinh dưỡng Cao Đài

6. Lời khuyên tôn giáo
                1. Lời khuyên tránh sát sanh……………………. 
                2. Tránh luân hồi quả báo…………………….. …
                3. Suy nghĩ về ăn mặn……………………….. …. 
7. Ăn mặn và bí pháp
                1. Chơn Thần……………………………………. .. 
                2. Chơn Khí……………………………………… . 
                 3. Tại sao không ăn mặn?................................ …..  
8. Cao Đài ẩm thực
                 1. Ăn chay………………………………………..  
                 4. Điều cấm kỵ…………………………………… 
                 5. Trai kỳ và món chay ….……………………. ..
9. Thực phẩm chay
                 1. Thực vật theo chất dinh dưỡng………………..  
                 2. Thực vật theo khí âm dương…………………..  
                 3.  Ăn chay đúng cách…………………………….  
                 4. Nguyên tắc ăn chay……………………………   
10.  Ăn chay và sức khỏe
                1.  Ăn chay tùy cơ
                2. Thiếu chất gì?......................................................   
                3. Nguy cơ hóa chất trong phụ gia…………………
9. Vài trị liệu bằng khí âm dương
                 Giấc ngủ, Táo bón, Tiêu chảy, Cảm gió,
                 Đàn bà tắt kinh, Áp huyết cao, Tuổigià………… 

                Kết luận
            Phụ lục 1: Khí trái cây………………………
            Phụ lục 2: Thực vật qua thi ca Việt…………
              Phụ lục 3: Ý kiến các danh nhân về ăn chay…….
                Danh từ Đạo
              Thư mục








Dẫn nhập
«Hình chất con người vẫn là thú, phải ăn uống mới sống »
Thánh Ngôn

        Sống trên cõi trần,   ẩm thực bản năng sanh tồn của vạn linh, là khuôn luật tự nhiên của Đấng Tạo Đoan. Nhưng với tín đồ Cao Đài,  ẩm thực còn là một hành vi tôn giáo :
            - Ăn thì phải «bất sát sanh » là vì «Mỗi mạng sống đều hữu căn hữu kiếp… Nếu ai giết mạng sống, đều chịu quả báo không sai [1]».  
            - Uống thì phải «bất tửu nhục » là vì ăn uống quá độ làm rối loạn tâm thần. Uống rượu vào là khí huyết vận chuyển không điều hòa, bốc lên đầu óc: « Óc là nguồn cội của khí, mà óc cũng bị huyết vận động vô chừng, làm cho đến đỗi loạn tán đi, thì Chơn Thần thế nào đặng an tịnh điều khiển, thân thể phải ra ngây dại, trở lại chất thú hình, mất phẩm nhơn loại»[2].


1. Hành vi tôn giáo
           
Hành vi tôn giáo của ẩm thực được qui định trong giáo lý là:
• Về nghi thức : Đọc kinh khi ẩm thực,
• Về phép dinh dưỡng : Ăn chay[3]

          a) Nghi thức ẩm thực

            Khi được dự cơm chay ở một Thánh Thất, cảm nhận gì khi thấy tín đồ đọc kinh trước và sau bữa ăn? Nếu hòa đồng vào câu kinh và tâm tư của người đọc kinh chúng ta mới cảm nhận được ý nghĩa ẩm thực là một hành động « chánh niệm »[4] khiến nghi thức ăn uống trở nên tích cực cho việc tu Đạo, giúp đời mà nó còn khiến thực phẩm ta ăn trở nên dinh dưỡng cho cả linh hồn và thể xác.
            Trước khi ăn, tín đồ vừa đọc «Kinh Vào Ăn Cơm » vừa quán tưởng[5] đến:
            - Nuôi sống xác phàm (Đệ nhất xác thân) cho Chơn Thần và Chơn Linh tá túc mà tu Đạo trên trần thế:

Giữa vạn vật con người một giống,
Phải uống ăn nuôi sống thây phàm.

            - Nhớ ơn Đức Phật Mẫu (Cửu Thiên Huyền Nữ) đã bảo vệ mạng sống để mượn xác phàm tu hành trở về cõi Thiêng Liêng:

Nhớ ơn bảo mạng Huyền Thiên,
Con mong mượn xác đoạt quyền vĩnh sanh.

            - Hàm ân Thượng Đế ban cho ta ngũ cốc (5 thứ hột), nuôi dưỡng thân phàm để Chơn Thần tu dưỡng mà trở về với Thượng Đế:

Từ bi ngũ cốc đã ban,
Dưỡng nuôi con trẻ châu toàn mảnh thân.

            Ăn cơm xong, tín đồ đọc «Kinh Khi Ăn Cơm Rồi» mà quán tưởng đến:
            - Ăn trong chánh niệm, cảm hàm ân đối với người cấy lúa, giã gạo, khiến hột gạo đến được bàn ăn:

Nguyện nhớ ơn nông canh nhằn nhọc,
Nguyện ơn người lúa thóc giã xay.

            Ăn uống trong quán niệm sau này sẽ đem tài sức làm lợi ích cho nhơn sanh:

Con cầu xin mảnh hình tráng kiện;
Giúp nên công xây chuyển cơ đời.

            Với lời hứa theo Đạo Trời, thương yêu chúng sanh:

Trên theo pháp luật Đạo Trời,
Dưới thương sanh chúng một lời đinh ninh.


            Nghi thức ẩm thực chay tịnh trong chánh niệm trên diễn tả cả một tâm hồn đạo đức, quảng diễn một cách cụ thể tôn giáo Cao Đài là như vậy.

b) Ăn chay là thực hành giáo lý

            Mục đích tối hậu của tu Đạo là hiệp Tam Bửu (Tinh, Khí, Thần), qui Ngũ Thần (Thức Thần, Hồn, Phách, Ý, Chí) để trở về nguồn cội trong cõi Thiêng Liêng. Muốn trang bị hành trang cho cuộc hành trình thiên lý đó, người tu Đạo phải sửa soạn ngay cả việc ẩm thực ăn chay để hưởng được bí pháp của Thượng Đế và tu dưỡng ba xác thân.

            Hưởng bí pháp

            Tín đồ Cao Đài giữ tròn Minh Thệ, gìn giữ Luật Đạo, ăn chay được 10 ngày mỗi tháng, thì trong thời kỳ phổ độ lần thứ ba này, Chơn Hồn được hưởng ân huệ của Đại Ân Xá và các phép Bí Tích của Thượng Đế truyền cho Đức hộ Pháp để giúp tín đồ mau được giải thoát khỏi luân hồi trả quả[6]. Đức Chí Tôn dạy: « Vì vậy Thầy buộc các con trường trai mới đặng luyện Đạo [7]».

            Nuôi dưỡng ba xác thân

            Ẩm thực là nuôi dưỡng cơ thể không những bằng các chất dinh dưỡng của thực phẩm cho Xác Phàm mà còn phải quân bình và thanh lọc khí âm dương để Chơn Thần thanh nhẹ (Đệ Nhị Xác Thân), Chơn Linh an tịnh (Đệ Tam Xác Thân). Ba nhiệm vụ đó không thể tách rời nhau được mà gắn liền với người tu Đạo Cao Đài. Do đó mà ăn chay là nhằm nuôi dưỡng cả ba xác thân:
            - Phàm thể: Tinh rau trái, ngũ cốc là nguyên liệu thanh nhẹ sản xuất ra huyết (âm) và Chơn Khí (dương). Chơn Khí là động cơ thúc đẩy huyết lưu chuyển nuôi dưỡng cơ thể,
             - Khí thể: Chơn Khí rút ra từ thực phẩm thanh nhẹ hiệp với Chơn Thần tạo thành Đệ Nhị Xác Thân tinh khiết; Chơn Thần thanh nhẹ giữ vai trò động cơ cho Tinh và Chơn Linh di chuyển, và chìa khóa chính của người tu Đạo bước vào Hiệp Thiên Đài (Thiên Môn) trên hành trình qui hồi cựu vị,
             - Thần thể: Chơn Linh trong sáng, qui Tam Bửu, hiệp Ngũ Thần được là nhờ ẩm thực tôn trọng giáo lý như ăn chay, giới tửu, giới sát để tránh luân hồi quả báo …
  
2. Tri bỉ, tri thực

            Việc chọn thực vật cho cơm chay là một nghệ thuật bảo vệ sức khỏe của ba xác thân bằng:
            - Phép dinh dưỡng quân bình giữa các chất dinh dưỡng hữu hình (chất đạm, đường, béo, sinh tố…) của thực phẩm,
            - Phép dinh dưỡng quân bình giữa khí âm dương (vô hình)
            Thượng Đế dạy: « Đạo của Thầy là Thần với Khí, Âm với Dương » mà thấy dụng ý rõ rệt của cuốn sách này là hướng dẫn người tu Đạo cũng như người ngoại Đạo cảm nhận được khí âm dương trong ẩm thực để áp dụng được phép dinh dưỡng quân bình khí âm dương (cái Không vô hình) cho hài hòa với phép dinh dưỡng theo khoa học (cái Có hữu hình) đúng theo lời Thượng Đế dạy:«  Ðạo Thầy là vô hình, vô dạng.  Nhưng cái lý vô-vi ấy cần phải nương với hữu hình, chẳng nên lấy cái CÓ mà bỏ cái KHÔNG, mà cũng chẳng nên gìn cái KHÔNG mà quên cái CÓ.  Vậy thì «Có » «Không » phải đi cặp nhau. 

            Vậy, nấu cơm chay là công việc « tri bỉ, tri thực » nhằm nuôi dưỡng cả ba xác thân của người tu Đạo. «Tri bỉ» là biết được nhu cầu dinh dưỡng vật chất của thể xác và tạng khí của Chơn Thần  mà «tri thực», có nghĩa là nấu cơm chay phải quan tâm đến cái « Có » (thực vật) và cái « Không » (khí âm dương) của thực phẩm.               


3. Mục đích và đường lối cuốn sách

Như chúng ta đều biết, trong mỗi cơ thể có 2 phần: phần vật chất hữu hình tức xác phàm và phần vô hình khí và linh hồn.
Phát triển và nuôi dưỡng xác phàm để phát huy sức lực thể xác tức phần hữu hình, chúng ta có thể dựa vào các công trình khảo cứu dinh dưỡng rất đầy đủ của tây phương. Còn nuôi dưỡng phần vô hình là Đệ Nhị Xác Thân (Khí) trong cơ thể, chúng ta phải quay về đông phương. Đó là đường hướng nội dung cuốn sách đề cập đến khí vô hình của thực phẩm qua sự tìm hiểu ăn chay của Đạo Cao Đài:
            - Ăn chay nhằm bồi dưỡng Đệ Nhị Xác Thân (Chơn Thần, Khí) cho tinh khiết. Lý do là trên hành trình thiên lý ngoại sau khi qui tiên, Chơn Thần là chiếc xe chở Chơn Linh qui hồi cựu vị. Chơn Thần (chiếc xe) càng tinh khiết, Chơn Linh càng thăng lên cao. 
    - Cũng như phép dinh dưỡng của ăn mặn, ăn chay dựa nhiều vào kết quả nghiên cứu của khoa học dinh dưỡng, để quân bình chất dinh dưỡng nuôi dưỡng xác phàm.
Để hoàn tất nội dung trên, cuốn sách được chia làm hai phần và trình bày tuần tự như sau.

Phần 1 đề cập đến khí âm dương ngũ vị liên quan đến ẩm thực chung của mọi người dù ăn chay hay mặn, theo Đạo hay không.
Nội dung phần 1 là trình bày phương pháp tìm hiểu khí của người xưa: QUAN SÁT + CẢM NHẬN qua 4 giai đoạn sau.
- Cảm nhận khí trong cơ thể (chương 1),
- Quan sát dấu hiệu khí âm dương trên thực phẩm bằng cách dựa vào luật âm dương mà phân biệt thực phẩm âm với dương (chương 2),
- Tiêu chuẩn giúp mọi người biết tạng khí của mình để qui nạp khí thực phẩm theo tạng khí mà bồi bổ Đệ Nhị Xác Thân (chương 3),
- Với luật ngũ hành, tìm hiểu liên hệ khí giữa ngũ tạng và ngũ vị để biết phép qui Ngũ Thần trong ngũ tạng (chương 4).

Phần 2 thuộc về phép dinh dưỡng có tính cách tôn giáo của Đạo Cao Đài. Nội dung phần 2 trình bày giáo lý ăn mặn (chương 5), ăn mặn và bí pháp (chương 6), lý do ăn chay (chương 7) và phân định thực phẩm chay theo khí âm dương (chương 8). Nêu vài thí dụ trị bịnh thông thường bằng dùng khí âm dương của thực vật (chương 9).
Mục đích cuốn sách sẽ đạt được nếu độc giả biết áp dụng:
- Phương pháp quan sát và cảm nhận khí âm dương của người xưa để tự kiểm nghiệm được sự hiện hữu của khí thực phẩm và tác động của khí lên tạng khí của chính mình,
-  Phối hợp phép ăn chay quân bình khí âm dương với phép dinh dưỡng theo khoa học quân bình về các chất dinh dưỡng chất đạm, béo, đường, sinh tố, khoáng chất… 

Ngoài lý do tín ngưỡng ra, cuốn sách « chỉ » cần thiết và hữu ích cho ai muốn phòng bịnh và cho những độc giả nào đang áp dụng phương pháp dinh dưỡng quân bình theo khoa học, dinh dưỡng theo Ohsawa, nhịn ăn, tập dịch cân kinh, khí công… mà vẫn suy yếu, hết bịnh này đến bịnh kia.
 Sau cùng, tác giả mong nhận được ý kiến, phê bình của độc giả để cuốn sách được hoàn chỉnh hơn nếu được tái bản.

  















   Phần 1

Khí âm dương


             Phương pháp dinh dưỡng tây phương chú trọng đến số lượng calo[8], chất béo, chất đường, chất đạm, sinh tố đủ loại… mà chẳng quan tâm đến phía bên kia của những yếu tố vật chất hữu hình đó còn có sự hiện diện của yếu tố vô hình là « khí thực phẩm » trong chén cơm hàng ngày của chúng ta. Phát triển và nuôi dưỡng xác phàm để phát huy sức lực thể xác tức phần hữu hình, chúng ta có thể dựa vào các công trình khảo cứu dinh dưỡng rất đầy đủ của tây phương. Còn nuôi dưỡng phần vô hình là thể khí trong cơ thể, chúng ta phải quay về đông phương để tìm hiểu khí thực phẩm. Phương pháp ẩm thực lý tưởng là phối hợp cả hai phương dinh dưỡng Đông-Tây. 




   1 
Khái niệm về Khí 


Khi người tu Đạo Cao Đài nhớ đến lời dạy của Đức Chí Tôn: Đạo của Thầy là Thần với Khí, Âm với Dương, thì hiểu được luật căn bản của tạo hóa là hai khí âm dương hiện diện trong mọi sự vật trong vũ trụ. Cho nên, trong mỗi thực phẩm đều chứa 2 phần: phần hữu hình (âm) và phần vô hình (dương).

Phần hữu hình, vật chất tức phần âm của thực phẩm do khí âm tạo nên là trọng tâm các nghiên cứu khoa học thực nghiệm về ẩm thực trên thế giới. Phần này được các khoa học thực phẩm nghiên cứu chính xác và khá đầy đủ và cho chúng ta biết mỗi thực phẩm thí dụ như trái táo cho chúng ta bao nhiêu calo/100g, số lượng nước, sinh tố, chất dinh dưỡng, và có thể chống bệnh gì…

Phần vô hình tức là phần khí. Khí có mặt âm và mặt dương[9] vô hình làm động cơ cho phần âm hữu hình (huyết) di chuyển để cấu tạo và nuôi dưỡng xác phàm. Chúng ta chỉ quan sát và cảm nhận được phần vô hình qua phản ứng của khí thực phẩm trong cơ thể sau khi qui nạp. Khi đọc cuốn sách này, xin độc giả tạm quên các hiểu biết khoa học thực nghiệm mà chú trọng đến phần khí vô hình trong thực phẩm bằng cách cùng với tôi áp dụng phương pháp quan sát và cảm nhận khí vô hình của người xưa, rồi sau đó tự làm thí nghiệm trên chính cơ thể của mình để kiểm nhận sự hiện diện và tác động của khí vô hình trong cơ thể.

            Để diễn tả ý nghĩa Khí[10], chữ nho Khí  gồm:
- chữ chỉ hình ảnh hơi nước bốc lên và biến thành vô hình trong không khí,
-chữ mễ  chỉ bó ngũ cốc.
            Đó là hình ảnh nếu đốt ngũ cốc (thực phẩm) sẽ cho khí vô hình.
            Trong vũ trụ cũng như trong cơ thể con người, Khí là động lực lưu chuyển không ngừng nghỉ do tác động hai mặt âm-dương của Khí.        

Khí trong cơ thể
            Trong cơ thể mỗi người đều có hai luồng khí: khí Tiên Thiên và khí Hậu Thiên[11]. Hai khí này hiệp làm một tạo nên Đệ Nhị Xác Thân, châu lưu khắp cơ thể biểu hiệu cho sự sống.

 - Khí Tiên Thiên (khí bẩm sinh, nguyên khí) hay Khí Sanh Quang phát xuất từ cõi vô vi, vô hình, là nguồn gốc của muôn loài. Đạo Cao Đài gọi là Chơn Thần do Đức Diêu Trì Kim Mẫu ban cho khi thụ thai.

 - Khí Hậu Thiên hay Chơn khí rút ra từ tinh ba thực phẩm và khí trời trong cõi hữu hình. Khí Hậu Thiên hiệp với khí Tiên Thiên tạo thành chính khí lưu chuyển trong 12 kinh mạch chính, 12 kỳ kinh, lạc kinh v.v. và biểu hiệu cho sự sống.  Tuy chỉ một chính khí duy nhất luân lưu khắp cơ thể nhưng chính khí được gọi nhiều tên khác nhau tùy theo nhiệm vụ, vị trí lưu hành của chính khí. Thí dụ, chính khí trong kinh mạch gọi là dinh khí, ở ngoài da bảo vệ cơ thể gọi là vệ khí…

             Khí Tiên Thiên được nuôi dưỡng và bọc trong khí Hậu Thiên. Cả hai di chuyển cùng với máu trong động mạch và tĩnh mạch tạo thành cặp âm dương: huyết (âm) nuôi dưỡng các tế bào của cơ thể, khí (dương) là động cơ chuyển động của máu. Cho nên có câu : Khí tới đâu, máu tới đó. Khí huyết lưu chuyển lên xuống, ra vào không ngừng nghỉ cho đến lúc chết. Khí huyết ví như chiếc xe đi nuôi dưỡng cơ thể, khí là động cơ, huyết là dầu xăng (Tinh). Nếu không có khí thì huyết ngừng đọng, là lúc khí thoát khỏi xác phàm (chết), thì máu vẫn còn đó nhưng ngừng chảy vì thiếu khí làm động cơ.

Cấu tạo khí hậu thiên

            Khi thực phẩm vào đến trung tiêu (tì, vị, tiểu trường), chính khí khởi động cơ quan tiêu hóa gạn lọc lấy Tinh của thực phẩm rồi vận chuyển Tinh lên thượng tiêu (tim, phổi) hiệp với khí trời mà biến Tinh thành Khí và máu huyết. Từ đó khí huyết trải ra khắp cơ thể lưu chuyển trong các huyết mạch hữu hình đi nuôi dưỡng các tế bào của nhục thể.  
            Muốn đốt cháy thực phẩm để gạn lọc lấy Tinh rồi biến Tinh thành Khí, động cơ sản xuất trông cậy vào nhiệt năng xuất phát từ 2 nguồn: nhiệt và hỏa.
            - Nhiệt từ khí dương Tiên Thiên cư ngụ tại thận dương và huyệt mệnh môn trên xương sống đối diện với rún ở bụng tạo thành.  
            - Hỏa thuộc về khí Hậu Thiên được phân biệt: tướng hỏa trong can, quân hỏa trong tim. Hỏa Hậu Thiên dễ dàng bị xáo trộn bởi ngoại cảnh, tình cảm, thực phẩm. Thí dụ nóng giận, uống rượu, bất bình là làm can hỏa bốc lên, mặt mày đỏ ké, chân tay run rẩy…

 Hình ảnh khí

            Nhờ Chơn Khí (khí Hậu Thiên rút ra từ Tinh thực phẩm) bao bọc Chơn Thần nên Đệ Nhị Xác Thân (Khí) «bán hữu hình có thể thấy đặng mà cũng có thể không thất đặng». Phần không thấy đặng là Chơn Thần  (khí Tiên Thiên do Đức Phật Mẫu ban); phần thấy đặng là nhờ Chơn Khí tức phần bán hữu hình của Chơn Thần phản ánh mọi thể, mọi lẽ của phàm thể. Vì vậy chữ  Khí  gồm chữ  chỉ vô hình và chữ mễ    chỉ hữu hình.

 Đức Cao Thượng Phẩm dạy: Chơn Khí là sự tiết khí của Chơn Tinh hoặc trong sạch, hoặc ô trược mà đổi nên hình sắc.Vì lẽ nhờ trung gian của Chơn Khí mà  ta có thể nhìn thấy được Chơn Thần  phát ra nhiều loại màu ánh sáng dưới dạng hào quang (aura), biến đổi tùy theo tâm địa, sức khỏe hoặc theo sự tu luyện. Thí dụ: Hào quang sáng chói là bậc chí Thánh, màu hồng là người thường, màu tím là người ô trược. Ngôn ngữ dân gian gọi màu sắc đó là thần sắc, khí phách. Ai nhìn được hào quang (aura)?

 - Huệ nhãn. Người mở được Huệ nhãn nằm trên trán ở gốc sống mũi và giữa hai lông mày. Đó là những người tu đắc đạo, tu thiền bậc thượng thừa hay người bẩm sinh có huệ nhãn.
-  Hình Chơn Thần (aura) tức rung động của khí dưới dạng màu sắc phát ra từ cơ thể. Hiện tượng rung động của khí có thể chụp được ra hình bằng máy hình kirlian do một người Nga Semyon và Valentina Kirlian sáng chế.

Cảm nhận khí qua nhiệt độ

            Theo lý thuyết âm dương, khí biểu lộ qua nhiệt độ. Nóng ấm là khí dương, mát lạnh là khí âm. Thí dụ sau khi ăn uống thực phẩm chứa nhiều khí dương (rượu, quế, ớt…) người bốc nóng tức là ta cảm nhận được khí dương đó. Muốn làm cơ thể mát trở lại thì uống một ly nước chanh lạnh hay ăn dưa hấu…là cảm thấy khí âm mát trong người.

Cảm nhận khí qua huyết

            Trong cơ thể khí huyết là cặp âm (huyết) dương (khí) nên ẩm thực là dinh dưỡng khí huyết tức cả thể xác lẫn thể khí. Hai thể không thể tách rời nhau được lúc con người còn sống và chỉ phân ly khi xác phàm chết.
            Lúc sống, cặp khí huyết có thể giúp ta nhìn thấy khí vô hình qua hiện trạng  màu sắc của máu hiện ra trên da. Mặt hồng hào biểu hiệu khí huyết tốt nhưng đỏ ké bất thường là triệu chứng khí bốc lên, có thể nguy hiểm (stroke, ACV) thí dụ như lúc uống rượu hay lúc áp xuất máu cao nhất là ở người cao tuổi.
            Đứng lâu ngoài trời nắng hay lạnh, là cảm thấy khí dao động qua màu sắc của huyết trên da: màu đỏ là khí bốc ra ngoài, màu xanh mét vì lạnh là dấu hiệu khí rút vào trong.

Cảm nhận khí qua mùi vị

 Khí âm dương của thực phẩm biểu hiện qua hương vị mà mũi và lưỡi cảm nhận được. Hương có ngũ hương (hôi mốc, khét cháy, thơm, khai, thối) là khí dương nên bốc lên trời do mũi ngửi thấy. Vị có ngũ vị (chua, cay, mặn, ngọt, đắng) là khí âm sinh ra từ khí của đất và được lưỡi nếm nhận được.

 Cảm nhận khí qua đau nhức

            Con người sao chẳng có lúc đau chỗ này chỗ kia, mà khám nghiệm y khoa, thử nghiệm đủ thứ mà không tìm ra nguyên nhân nào cả. Tuy vô căn theo khoa học, nhưng cái đau đó có thể là do: khí yếu (chứng hư), khí bế (chứng thực); vì vậy mà xoa bóp, cạo gió, xức dầu nóng, ngải cứu, châm cứu có thể hết đau vì khí lưu thông.



2

Khí âm dương trong thực phẩm

  Trong trời đất, thảo mộc và động vật hấp thụ tự nhiên khí âm dương tạo nên thực phẩm cho loài người. Mỗi thực phẩm đều chứa sẵn khí âm dương nguyên thủy của trời đất. Ẩm thực của con người là nhằm qui nạp khí âm dương đó.Tùy theo môi trường phát triển, khí thực phẩm có các khuynh hướng qui nạp nhiều nhiệt độ nóng hoặc ấm (thực phẩm dương), hoặc nhiều nhiệt độ mát hay lạnh (thực phẩm âm) của trời đất, giữa hai khuynh hướng trên là thực phẩm quân bình âm dương chiếm nhiều nhất về số lượng.

            Ở trạng thái tự nhiên, mỗi thực phẩm đều có 2 cực khí: Cực âm gốc là đất hướng về nhiệt độ mát lạnh và cực dương gốc là trời nên thiên về nhiệt độ ấm nóng. Cường độ phân phối nhiệt độ giữa hai cực là tiêu chuẩn ấn định thực phẩm âm hay dương. Thí dụ, cường lực cực dương mạnh hơn cực âm thì sẽ cho thực phẩm dương hoặc ngược lại.

Đến đây, chúng ta cùng nhau áp dụng phương pháp quan sát và cảm nhận khí vô hình của người xưa rồi sau đó tự làm thí nghiệm trên chính cơ thể của mình để kiểm nhận sự hiện diện và tác động của khí vô hình trong cơ thể.

  
1. Phương pháp tìm hiểu khí âm dương


            Cách đây khoảng 5000 năm, các cao nhân quan sát vũ trụ bao quanh mà nhận xét thấy có hiện tượng khí từ trên trời đi xuống như ánh sáng, gió… và khí từ đất bốc lên như hơi nước. Hai luồng khí lên xuống giao nhau không ngừng nghỉ mà sanh ra các hiện tượng vật chất hữu hình trên thế giới. Các cao nhân vẽ một gạch thẳng Lignepleinepetite[1] tượng trưng cho khí dương từ trời đáp xuống, một gạch đứt đoạn Lignebriseepetite[1] biểu tượng khí âm đi lên từ đất. Hai gạch âm dương tác động lên nhau mà sanh ra các hiện tượng mà ta quan sát được trong vũ trụ. 

            Từ hai gạch biểu tượng âm dương mà các cao nhân diễn tả luật âm dương làm động cơ cấu tạo thế giới như Kinh Dịch chỉ dạy.
            Tiếp theo, các cao nhân quan sát khí âm dương và các hiện tượng xuất hiện trong chính cơ thể của mình thì cảm nhận thấy con người là hình ảnh đại vũ trụ để đi đến kết luận con người là tiểu vũ trụ.
            Và cũng từ hai gạch âm dương mà các cao nhân đã viết nên quyển Kinh Dịch không chữ viết diễn tả tiến trình của đời người trong đại vũ trụ.
Nay, muốn tìm hiểu phần vô hình tức khí của thực phẩm, chúng ta phải dùng phương pháp tìm hiểu âm dương của người xưa là QUAN SÁT rồi CẢM NHẬN.

2. Luật âm dương


Trước khi muốn nhận diện khí âm dương trong thực phẩm, tôi nhắc lại ba điều căn bản của luật âm dương là hỗ căn, hỗ tương và tương đối.

Hỗ căn
Từ một gốc Thái Cực mà ra nên trong âm có dương, trong dương có âm có nghĩa là mỗi thực vật đều chứa khí âm dương, có khác chăng là thực vật này thì thịnh âm, thực vật kia thì thịnh dương ; dựa vào khác biệt này mà ta phân định thực vật âm với thực vật dương.

Hỗ tương 
Tuy đối lập, mâu thuẫn nhau nhưng lại chế ước và đấu tranh lẫn nhau để lập quân bình hài hòa. Cho nên khí âm dương vận hành theo luật tiêu trưởng không ngừng chuyển hóa lẫn nhau tạo thành một vòng dinh, hư, tiêu, trưởng có nghĩa là đến cực âm chuyển sang dương, đến cực dương thì chuyển sang âm, tuần hoàn như ngày và đêm, bốn mùa trong năm. Điều này giúp ta hiểu được chuyển biến khí âm dương trong thực vật như lấy trái soài làm thí dụ cụ thể. Trái soài khi còn xanh thì không mùi và chua (khí âm) chuyển dần sang vị ngọt và mùi thơm (khí dương thịnh). Đến khi chín quá (dương cực thịnh), lại không chuyển sang khí âm được nên trái soài hư thối vì không tuân theo luật tiêu trưởng hỗ trợ nhau tái lập quân bình âm dương. Điều này sẽ giúp ta hiểu nội dung các chương sau giải thích tại sao phải tái lập quân bình khí âm dương, nếu không thì sanh bịnh vì thiếu sự hỗ tương âm dương để tái lập quân bình.
           
            Luật tương đối
            Nhìn khí âm dương giữa 2 vật, ta phải nhìn một cách tương đối; thí dụ 2 chén nước nóng đều là dương, nhưng chén nước nóng 80 độ lại là âm so với chén nước bên cạnh nóng 100 độ. Nhìn một miếng thịt bò, phần thịt là dương thịnh (màu đỏ) so với phần âm là mỡ. Củ cà rốt là thực phẩm dương nhưng là âm nếu để bên cạnh củ gừng.
            Nếu quan sát một thực vật, ta phải nhìn khí âm dương trong thực vật đó như hai mặt của môt tờ giấy để biết mặt dương thịnh hay thiểu so với mặt âm, hoặc ngược lại. Nhìn một trái chanh, vỏ chanh chứa tinh dầu nên rất dương, trong khi đó nước của múi chanh rất âm.

3. Kiểm nghiệm khí âm dương

Muốn cảm nhận dễ dàng khí âm dương trong thực phẩm, việc thử nghiệm phải dựa trên các điều kiện sau:
- Chọn thực vật thí nghiệm là những thực phẩm thịnh dương (rượu, quế ớt…)) và thịnh âm (nước lạnh, dưa hấu…),
- Hấp thụ một số lượng thực vật nào đó đủ làm cho con người cảm nhận được khí. Thí dụ phải ăn nhiều sầu riêng, dứa khóm hoặc chỉ uống một xị rượu là cảm thấy tác động của khí dương bốc lên và phản ứng của cơ thể sau khi ăn.  

  Khí âm dương trong thực phẩm mà ta có thể cảm nhận được là nhờ cảm giác nhiệt độ và di chuyển của khí.
            Khí dương thực phẩm cho ta cảm giác:
            -  nhiệt độ nóng hay ấm,
            - hướng khí bốc lên đầu (trời) và xuất ra ngoài da.

Còn khí âm thực phẩm làm ta cảm nhận ngược lại:
            - khí thực phẩm âm làm nhiệt độ cơ thể lạnh hay mát,
            - hướng khí âm giáng xuống phía đất và thu nhập vào trong cơ thể.

Cảm nhận khí dương

Thực phẩm làm thí nghiệm: rượu, hương liệu quế, tiêu, ớt, gừng…
Sau khi uống ly rượu, ăn tô phở nóng đầy tiêu ớt cay xè, chúng ta có cảm giác gì?
Cảm giác nhiệt độ nóng của khí dương qua triệu chứng: cơ thể nóng hay ấm, mặt đỏ, khí huyết lưu chuyển nhanh làm tăng áp xuất;
Cảm giác khí dương bốc lên đầu (phía trời) và tiết ra ngoài da thể hiện bởi mặt đỏ, đầu váng, da nóng đổ mồ hôi.
Các cảm giác trên là dấu hiệu tác động của khí dương thực phẩm lên cơ thể và làm cho ta hiểu ngay rượu, quế, gừng… là thực phẩm dương.


 Cảm nhận khí âm
           
            Thực phẩm thí nghiệm: nước chanh, dưa hấu
            Mùa hè nóng bức, sau khi chạy bộ, tập thể dục… người nóng ướt mồ hôi, miệng khô ráo, bạn hãy uống một ly nước đá lạnh, nước chanh hay ăn một miếng dưa hấu, cơ thể cảm thấy gì sau đó ?
             Cảm giác cơ thể mát mẻ, tâm hồn thư thái, nhiệt độ giảm. Đó là tác động của khí âm mát lạnh của nước chanh, dưa hấu.
Nếu tiếp tục uống nước lạnh, ăn dưa hấu quá nhiều khiến khí âm quá thịnh đi xuống làm lạnh tì khí và gây cảm giác người choáng váng, mềm nhũn, tiêu chảy. Đó là hiện tượng khí âm quá nhiều hướng vào trong tạng phủ và làm suy nhược khí dương.  Các cảm giác trên xác nhận nước lạnh, chanh, dưa hấu là thực phẩm thịnh âm. 

            Các thí nghiệm tiên khởi này không nhằm thuyết phục mà muốn làm độc giả suy nghĩ về khí âm dương để tiếp tục đọc sách. Nếu mặc dầu đã tự thí nghiệm và có những cảm giác trên mà bạn vẫn không muốn suy ngẫm về hiện tượng khí âm dương thì đến đoạn này tôi trân trọng xin bạn ngừng đọc vì cuốn sách sẽ làm bạn mất thì giờ vô ích.
      Sau khi đã cảm nhận được nhiệt độ của khí, và nếu bạn tiếp tục dùng chính thân thể của mình làm phòng thí nghiệm để điều hòa sức khỏe và quân bình khí âm dương thực phẩm thì cuốn sách này mới hữu dụng và mời bạn đọc tiếp.


4. Phép tăng khí lực

             Ngoài ăn uống bình thường để sống, con người còn tìm cách ẩm thực để làm tăng khí lực theo phương pháp tây phương hay đông phương.

Phương pháp tây phương

            Phép dinh dưỡng tây phương đặt nặng nên 2 tiêu chuẩn:
            - Phát triển hài hòa thể xác: Ẩm thực dựa trên chế độ cân bằng số lượng chất đạm, chất béo, đường, các loại sinh tố và khoáng chất;
            - Phát triển thể khí bằng hấp thụ một số lượng calo hàng ngày cần thiết cho hoạt động của mỗi người.
            Tại sao calo làm gia tăng khí lực?  Khi quan sát các nhà thể thao, tập thể dục, chúng ta nhận thấy càng đốt được nhiều calo thì càng có nhiều khí. Calo (nhiệt lượng) ví như dầu xăng được đốt lên thì cho nhiệt năng (khí) làm cho xe chạy. Ẩm thực là nguồn cung cấp calo để cho cơ thể đốt lấy khí làm động cơ chuyển động của cơ thể. Các calo dư thừa sẽ biến thành mỡ làm nguyên liệu dự trữ để sản xuất khí mỗi khi cần.

Tăng khí theo Đông phương

            Ẩm thực bình thường cung cấp calo để con người sản xuất ra khí. Với những gia đình Việt còn giữ truyền thống ẩm thực thì còn chú trọng đến quân bình khí âm dương. Thí dụ như sào nấu thì thêm ít gừng cho thơm dễ tiêu hóa, ăn thực phẩm âm như ốc, thịt vịt (âm) thì quen chấm nước mắm gừng, ớt (dương) để tránh tiêu chảy. Thói quen này là bắt nguồn từ quan niệm quân bình âm dương của tổ tiên ta. Ngoài ra, chỉ những người có hiểu biết và phương tiện vật chất là lo đến bổ khí dương hay âm bằng nhiều thứ thực phẩm đặc thù và phương thức tập luyện cường khí.

Tăng dương khí
Về thực vật, có 2 loại thực vật cường dương 
 Loại tác động nhanh và tạm thời: rượu, hương liệu ớt khơi động nhanh dương khí (kích thích dâm khí) và vệ khí ngoài da (mặt đỏ, đổ mồ hôi)…
Loại tăng cường khí dương chậm nhưng bền bỉ: sâm, nước đậu rang (đậu đen, đỏ), Maca, noni …
 Sâm tượng trưng dược thảo bổ khí rất thịnh hành ở Á Châu. Trên thị trường có 3 loại sâm.
Sâm đỏ (Panax ginseng) chứa rất nhiều khí dương nên bổ ích cho người suy yếu vì bệnh, tuổi già, bất lực. Ai không nên dùng sâm đỏ? Trai tráng khỏe mạnh dưới 30 tuổi, người có áp huyết cao (trên 130/90), nhức đầu kinh niên, tính tình cau có hay mất ngủ…
Sâm trắng (Panax quinquefolium) và sâm Sibérie (Panax quinquefolium) ít dương khí hơn sâm đỏ nên hạp với đàn bà, người áp huyết cao.
Maca (Lepidium meyenii )Maca là sâm của người Nam Mỹ. Cây maca được trồng nhiều trên cao nguyên Andes (cao độ 3500 đến 4500 mét), nóng cháy ban ngày, giá lạnh ban đêm. Từ xưa dân Incas coi maca là thực vật linh thiêng và dùng làm bổ khí. Xứ Pérou sản xuất rất nhiều củ maca dưới hình thức bột hay viên. Theo kinh nghiệm của tôi, maca tương đương với sâm lại rất rẻ (nhất là mua ở Pérou) lại không có cấm kỵ như sâm nhưng nếu uống mà khó ngủ tức không hạp. Rất nhiều huyền thoại về maca, năm 2003 đội túc cầu Cienciano thắng giải vô địch Nam Mỹ, đa số cầu thủ trên 30 tuổi, được giải thích là đã uống thường xuyên maca.
Trái noni (Morinda citrifolia ). Cách đây 2000 năm, tại một số đảo trên Thái Bình Dương, người Polynésiens đã dùng trái cây noni làm thuốc bổ khí. Trên thị trường, trái noni dược bán dưới hình thức nước và viên. 
Còn dân ăn mặn thì tìm ăn cật heo bò, thịt dê, dái dê, hải cẩu v.v

Tăng âm khí của đàn bà: cao, nhung…
Lộc hươu, nai, mu rùa, được cạo rửa sạch sẽ rồi đem nấu rút lấy chất tinh túy đọng lại thành cao để bổ âm chất.
Nhung là lộc non của hươu, nai phơi khô tán thành bột.

Tập luyện tăng khí
 Tập dịch cân kinh, khí công, Tai Chi, thiền định đều tập trung vào luyện khí cường tráng. Khí cường tráng sẽ lưu thông mạnh mẽ, khí lưu thông mạnh mẽ thì máu sẽ lưu thông theo, máu lưu thông thì thân thể được nuôi dưỡng đầy đủ, các độc khí sẽ được tiêu trừ nhanh chóng.





3
Nhận diện khí âm dương


 Thực phẩm được cung cấp hàng ngày cho chúng ta đều xuất phát từ ba môi trường sống.
Môi sinh khí dương thịnh trên trời của điểu thú, chim trời, chim muông,
Môi sinh khí âm thịnh dưới nước của sông, hồ, biển: tôm, cá, hải sản rong biển, rong biển;
Môi sinh trung gian trên mặt đất: động vật có vú, loài bò sát, rau, trái, ngũ cốc…
            Từ những môi sinh trên mà thực vật và động vật sanh trưởng và khác biệt nhau về cường độ khí âm dương theo tứ khí (thái dương nóng, thiếu dương ấm, thái âm lạnh, thiếu âm mát) và ngũ vị (ngọt, cay, mặn, chua, đắng[12]).

            Tiếp theo, chúng ta quan sát khí âm dương của thực phẩm qua tiêu chuẩn phân định (tương đối) khí âm dương nhìn từ bên ngoài (màu sắc, hình dạng, vị trí tăng trưởng…), chất cấu tạo bên trong (chứa ít hay nhiều nước, chất béo, số lượng calo…). Ngoài ra, còn phải quan tâm đến sự biến đổi nhiệt độ nguyên thủy của khí âm dương do nấu nướng biến chế, phương pháp tồn trữ (tủ lạnh).
            Các tiêu chuẩn dựa theo nguyên lý âm dương nêu nên dưới đây chỉ cho chúng ta một ý niệm tổng quát để phân định khí âm dương trong thực vật và động vật và giúp chúng ta thứ nhất là tự làm thí nghiệm nhận định khí âm dương trong mỗi thực vật, thứ hai là chiết giải những mâu thuẫn giữa các tác giả trong phân định thực phẩm âm và dương.

 1. Khí âm dương trong thực vật

            Tiêu chuẩn màu sắc, tính chất, hình dạng…

Nhiệt độ khí âm dương của thực vật phát triển trên đất và dưới nước biểu lộ qua màu sắc, tính chất, hình dáng như bảng chỉ dẫn dưới đây.


Tiêu chuẩn
Dương
Âm
Màu sắc bên ngoài
Đỏ, cam, vàng (cà chua, ớt, dứa khóm…)
Xanh, tím, trắng (cà tím, cải bắp, chanh)
Tính chất
Khô, nhẹ (các loai hương liệu như quế, tiêu)
Nhiều nước hoặc chất béo (các loại trái dưa, đậu phọng, các loại hạt cho dầu ăn)
Hình dáng
Dài, nhọn (củ cà rốt, ớt tiêu)
Tròn, lớn : các loại củ, khoai phát triển trong đất (âm)

Tiêu chuẩn mùi hương

Phổi chủ về khí, mũi là cửa sổ của phổi. Mùi bốc lên thuộc khí dương nên tỏa vào mũi, hòa với khí của phổi. Nhờ vậy mà chúng ta có thể biết cường độ khí dương trong trái cây mà xếp loại theo khí. Thí dụ, các trái cây mít, sầu riêng, soài, khóm…thuộc trái âm khi còn xanh (không thơm), nhưng được coi là trái có khí thái dương nóng phát ra mùi thơm bít mũi khi chín mùi.

Tiêu chuẩn dầu

Hai loại chất dầu (tinh dầu bốc hơi và chất béo) giúp ta phân biện thực vật âm hay dương. Thực vật như đinh hương, đậu khấu, quế… thuộc về loại khí thái dương nóng vì chứa rất nhiều tinh dầu bốc lên và hòa tan trong nước. Trái lại các loại hạt thuộc về khí âm như đậu phọng, hạt dẻ… vì cho dầu dưới dạng chất béo.

Tiêu chuẩn calo và nước

Calo là dương, nước là âm. Dựa vào kết quả phân tích của khoa học về số lượng calo (dương) và nước (âm) trong mỗi thực phẩm, ta phân biệt được :
Thực phẩm dương : nhiều calo ít nước.
 Thực phẩm âm : nhiều nước ít calo.
Thí dụ phân tích 100g của vài thực phẩm sau đây,

100 g
calo
Nước (g)
Thực phẩm dương
Chocolat
Thịt bò
Thịt cừu
Thực phẩm âm
Dưa leo
Dưa hấu
Sà lát
Bình âm dương
Táo
Nho

500
165
225

13
30
21

64
74

1
70
60

95
90
94

83
79


Tiêu chuẩn khoáng chất

Cơ thể cần dùng nhiều khoáng chất chính (calcium, phosphore, potassium, soufre, chlore, magnésium) và khoảng 12 loại vi khoáng chất (oligo- éléments)  chứa nhiều trong rau trái.
 Theo luật âm dương, ta có khoáng chất âm và dương đi từng cặp với nhau. Thí dụ cặp magnesium (âm)/calcium (dương), cặp potassium (âm)/ sodium (dương). Potassium là âm vì  nằm bên trong tế bào, có nhiều trong rau trái, tác động làm mát cơ thể. Trái lại khoáng chất sodium là dương nên nằm bên ngoài tế bào, làm khí bốc lên và tăng áp huyết.


2. Khí âm dương trong động vật

            Cả ba môi sinh trên trời, dưới đất trong nước đều có động vật sanh sống. Nhiệt độ khí âm dương của thực phẩm động vật thì dựa trên hai yếu tố:
            - Màu sắc của thịt: đỏ là dương, trắng là âm,
            - Tính chất: Thịt là dương đối với mỡ là âm.

·         Trên trời (dương)

            Tính chất rất dương của thực phẩm điểu thú hiện ra qua màu đỏ của thịt. Thí dụ như chim bồ câu, chim sẻ, chim cút… 

·         Dưới đất : bò cừu, gà vịt v.v.

Cường độ khí âm dương biểu lộ qua màu sắc của thịt :
- màu đỏ đậm chỉ nhiệt độ khí dương rất nóng thí dụ thịt bò, cừu, dê ;
- màu xám  nhạt và trắng chỉ quân bình khí âm dương của thịt động vật thí dụ thịt gà ít gây xáo trộn khí huyết.
Tiêu thụ quá nhiều thịt màu đỏ sẽ gây ra bệnh dương của khí (mụn nhọt, nóng nảy, táo bón) và quá nhiều phần âm mỡ heo hay bò là nguồn gốc của bệnh âm hiện ra trong thể xác (béo mập, chất béo trong máu)

·         Trong nước (âm) : tôm cá, hải sản
           
Các loại cá tôm sống trong môi trường âm (nước) nên cung cấp nhiều nhiệt độ âm mát lạnh cho cơ thể. Vì vậy để quân bình âm dương, con người dùng khí dương nóng của vài hương liệu như gừng, ớt, làm nước chấm hay ăn kèm thí dụ như khi ta ăn gỏi cá sống, ốc, ngao, hến, sò huyết, sushi. 
Riêng về hải sản sò nghêu, tôm, cua… thì chia ra làm 2 loại theo nhiệt độ âm dương
- Loại nhiệt độ âm lạnh : sò, nghêu, ngao, hàu, ốc, mực ;
- Loại nhiệt độ dương nóng : tôm hùm, tôm rồng, cua biển (khí dương hiện ra với màu đỏ sau khi luộc chín).


 3. Biến chế nhân tạo
Các thực phẩm biến chế nhân tạo bởi kỹ nghệ, nấu nướng, tồn trữ (đông lạnh, ướp muối phơi khô, hun khói …) thuộc nhóm thực phẩm âm dương bất quân bình. Khí âm dương thay đổi tùy theo phương thức tồn trữ thực phẩm như sau.

Làm tăng khí dương bằng hơi nóng (dương) và rút nước (âm)
Thực phẩm tươi được rang lửa, phơi khô, sấy, hun khói, ướp muối sẽ làm tăng khí dương. Vì khí âm (nước) bị mất, thực phẩm này rất dương nên có thể làm nặng thêm những bệnh gây bởi dương khí nóng như da khô, mụn nhọt, cao áp huyết.

Làm tăng khí âm
Xưa kia ở Việt Nam, các cụ chôn rượu trong đất (âm) để làm giảm khí dương của rượu còn người Âu trữ lâu trong hầm rượu. Ngày nay, tồn trữ thực phẩm bằng hơi lạnh (tủ lạnh) hay đông lạnh làm gia tăng một cách nhân tạo nhiệt độ âm của thực phẩm không hề gì với người khỏe mạnh nhưng có hại cho ai bị bịnh âm thí dụ như tiêu chảy, da dẻ luôn luôn lạnh, xanh ngắt, tiểu tiện không ngừng.

4. Nhóm thực phẩm âm dương

Nội dung sách sẽ nặng nề và phức tạp nếu liệt kê tất cả thực phẩm rồi phân chia thành nhóm theo khí âm dương. Tốt nhất và đơn giản nhất là độc giả xử dụng các tiêu chuẩn ở trên và vào sự cảm nhận của mỗi người mà chia thực phẩm làm 5 nhóm tương ứng với nhiệt độ khí âm dương. Trong bảng chỉ dẫn, chúng tôi chọn một số thực phẩm tiêu biểu và chú trọng đến :
- Các thực phẩm của người Việt thường dùng ở hải ngoại,
- Dùng mầu đỏ để nhắc nhở các thực phẩm có thể gây xáo trộn Chơn Khí nếu lạm dụng ăn nhiều, hàng ngày và không hạp tạng khí.


















[1] « Cái sống của cả chúng sanh Thầy phân phát khắp Càn Khôn Thế Giới, chẳng khác nào như một nhành hoa trong cội, nó phải đủ ngày giờ Thầy nhứt định mới trổ bông và sanh trái đặng trồng nữa, biến hóa ra thêm; nếu ai bẻ hoa ấy nửa chừng thì là sát một kiếp sanh không cho biến hóa. » TNHT, Q2, tr.57
[2]« Như rượu vào tì vị, nó chạy vào ngũ tạng lục phủ hết, thì trái tim con người chẳng khác nào như cái máy chánh để trữ sự sống, cũng phải bị thâm nhập vào làm cho sự lao động quá chừng đỗi thiên nhiên đã định, thôi thúc huyết mạch phải vận động một cách vô chừng, mà làm cho sanh khí nơi phổi chẳng đủ ngày giờ nhuận huyết tinh sạch cho đặng. Trược huyết ấy thối lại cùng trong thân thể, để vật chất vào trong sanh vật, mỗi khối ăn nhằm phải bịnh, một ngày thêm một chút, hết cường tráng, cốt tủy lần lần chết thì thân thể các con phải chết theo,TNHT, Q2, tr.60
[3] Theo Điều 21, Chương IV của Tân Luật
[4] Chánh niệm là tập trung tư tưởng vào đạo đức đi đến nhất tâm nhất niệm)
[5] Quán tưởng:xem xét tưởng nghĩ
[6] TNHT/Q2, tr.92: Nói cho cùng, nếu trọn kiếp, dầu gây lắm tội tình mà phút chót biết ăn năn tự hối, cầu Khẩn Chí Tôn độ
  rỗi, thì cũng lánh xa khỏi cửa Âm Quang, lại còn hưởng đặng nhiều ân huệ của Chí Tôn, là các Chơn Hồn đặng tự hối hay
  là đặng giáo hóa mà hiểu trọn chơn truyền lập phương tự độ, hay là con cái của các Chơn Hồn cầu rỗi
[7] TNHT/Q1/tr.30
[8]  1 calo (chữ c không viết hoa) là đơn vị tương ứng với số nhiệt cần thiết làm cho 1gr nước tăng lên 1 độ.

[9] Chữ dương gồm hai phần: bên trái là bộ phụ là núi đất, bên phải có chữ nhựt nhật là mặt trời đứng trên hàng ngang, ý
   nói mặt trời đã mọc lên khỏi đường chân trời, bên dưới là chữ vật vật  vẽ hình các tia sáng rọi xuống;
  Chữ âm , bên trái có bộ phụ là núi đất, bên phải phía trên là chữ kim có hình như cái nóc nhà, bên dưới chữ vân mây
   ý nói che khuất
[10] Khí phiên âm từ tiếng trung hoa Qi hay Tchi
[11] Khí Tiên Thiên: Khí hiện hữu trước thề giới hữu hình; khí Hậu Thiên: Khí có sau sự hình thành thế giới vật chất. Nếu chỉ nhìn hai khí Tiên Thiên và Hậu Thiên đứng cạnh nhau thì khí Tiên Thiên là dương và Hậu Thiên là âm. Nếu chỉ quan sát riêng khí Tiên Thiên thì khí dương này chứa bên trong: yếu tố âm tức Ngươn Khí hay Chơn Thần do Đức Phật Mẫu cấu tạo và yếu tố dương tức là Ngươn Thần phát xuất từ Thượng Đế. Nếu trở lại quan sát khí Hậu Thiên, thì Ngươn Khí (trước là âm đối với khí Tiên Thiên) thì lại tở thành yếu tố dương đối với Chơn Khí (âm). Điều này cho ta hiểu rằng bất cứ khí chất nào hay vật thể nào cũng đều có yếu tố dương và yếu tố âm tương phản và tương liên giống như hai mặt của một tờ giấy không lìa nhau được. Vì vậy phân định Âm dương phải hiểu theo nghĩa tương đối giữa 2 vật thể đi chung với nhau; thí dụ nước nóng là dương bên cạnh nước lạnh (âm); nhưng chén nước nóng (80 độ C) thì lại coi là âm nếu để bên cạnh chén nước nóng (100 độ C). Vậy, khí âm dương được quan sát và hiểu trong ý niệm tương đối.

[12] Thêm 2 vị phụ : vị lạt và vị chát



Thực phẩm
Hương liệu,nước
Rau, củ, cốc loại
Trái cây
Thịt động vật
Khí dương nóng
Quế, đinh hương, gừng, tiêu, cà ri, hồi anis, rượu, bia, chocolat

Sâm đỏ
Sầu riêng, nhãn, vải, soài, mít, dứa khóm


Bò, cừu, dê, ngan (vịt xiêm)
Khí dương ấm
 rau thơm : húng, thì là, tía tô, kinh giới, rau ôm, ngò mùi, hành, tỏi, củ kiệu

     Cà rốt

ổi, lựu, hồng, chôm
chôm, quýt
thỏ, chim trĩ , cút,  tôm cua Lobster tôm hùm;
Nai, hươu,  heo rừng


Khí âm lạnh

Nước lạnh, hoa cúc, tim sen,
Lá verveine, tilleul


Khổ qua, bắp cải,
Củ sắn,

Bưởi chua, chanh,
dâu da, chanh dây,
 khế, me
ếch, rắn, rùa, hàu sò, nghêu, ngao, hến; ốc,( ốc bưu, óc gai, ) bào ngư, sứa biển, hải sâm, sò lông , sò hến nghêu; sò huyết, hàu, trai, mực ống, mực nang, bạch tuộc

Khí âm mát

Sữa đậu nành
Các loại khoai củ, bí, mướp, mồng tơi, cà tím, khoai tây, củ sen, rong biển, rong câu, cỏ biển[1]

Thanh long, cam, nho, mận, dâu tây

Vịt, các loại cá, rùa, lươn, cá chim
bơ, phó mát

Bình âm dương


Sữa,

Ngũ cốc, đậu, các loại rau cải, sà lát, măng tre

Mãng cầu, măng cụt, chuối, roi mận, dừa, lê, na, táo, cerise, nectarine
Gà, cá rô, cá tra, chép, tép; rùa, bống, cá sặc; cá chạch, cá đối;cá nục cá giếc, cá bông lau; hải sản cá tuyết, cá hồi, trứng


 Trong bảng sắp xếp này, nếu độc giả nào đã đọc hoặc theo phép dinh dưỡng khác có thể nhận thấy những điều trái nghịch trong phân loại thực phẩm âm, dương. Thí dụ trong sách của Ohsawa[2], cà phê, sô cô la, bia, rượu vang, gừng… được xếp vào loại thực phẩm âm (thay vì thực phẩm dương như trong sách này). Và xứ lạnh (âm) sản xuất ra thực vật và động vật dương, trái lại xứ nóng cho thực vật và động vật âm. Vì vậy, tác giả có lời nhắn nhủ là muốn tìm sự thật về khí âm dương thực phẩm không gì bằng cách áp dụng  phương pháp nghiên cứu khí vô hình (quan sát+cảm nhận) của người xưa rồi tự kiểm nghiệm sự tác động của khí theo các tiêu chuẩn tương đối khách quan trên và chỉ tin vào kết quả thực nghiệm trên chính cơ thể mình mà phân định khí âm dương thực phẩm.








 




4

   Tạng khí

               Quân bình âm dương là nguyên tắc
               căn bản trong phép dinh dưỡng thể Khí



            Qua câu chuyện, đôi khi nghe ông A nói tôi có tạng nhiệt nên phải kiêng đồ nóng còn bà B thì lại kiêng đồ lạnh vì tạng hàn. Đó là cách diễn tả tạng khí tức nhiệt độ của khí qua tạng nhiệt hay tạng hàn.
            Nhiệt (nóng) và hàn (lạnh) là khí tự nhiên trong trời đất nhưng theo luật âm dương, nhiệt tăng đến tối đa có thể biền thành hỏa (lửa) gây ra hiện tượng bất thường trong trời đất. Thí dụ vào mùa nắng hạn, khí nóng của trời biến thành hỏa gây cháy rừng. Trong cơ thể, người tạng nhiệt ăn uống quá nhiều thực phẩm nóng có thể làm nhiệt biến thành hỏa gây ra hiện tượng bất thường là mụn nhọt, táo bón, đổ máu cam… giống như cháy rừng.  Hiện tượng bất thường này của khí được tìm hiểu qua tạng khí thái dương và tạng khí thái âm. Hai tạng khí này hay mắc bệnh về khí nếu dùng quá nhiều khí thực phẩm không phù hợp với tạng khí. Còn tạng thứ ba là bình tạng (khí âm dương tương đối điều hòa) không đề cập đến vì rất ít mắc bệnh về khí gây ra bởi thực phẩm.

1. Tạng thái dương rất nóng


Nhiệt diễn tả khí nóng, ấm áp bình thường của trời đất, nhưng nhiệt thái quá như ngày nóng hạn mùa hè, thì có thể biến thành hỏa đốt cháy cây cỏ (âm) cũng như can hỏa bốc lên thì đốt cháy tân dịch (âm).
Tạng thái dương bẩm sinh biểu lộ qua 2 trạng thái của khí:
- Trạng thái sức khỏe bình thường : người ấm áp, không có triệu chứng khí bốc lên và tản ra ngoài da;
- Trạng thái nhiệt biến thành hỏa : các thực phẩm thái dương, sức nóng mặt trời dễ làm nhiệt bình thường biến thành hỏa khiến âm bịnh.

Tạng thái dương biểu lộ bởi dấu hiệu tản khí dương ra bên ngoài như da đỏ nóng làm tưởng lầm rằng mắc bệnh dương khí. Nhưng, thực sự thì âm khí mắc bệnh bởi khí dương quá nóng làm khô kiệt âm khí bên trong nên có triệu chứng như táo nhiệt, chảy máu cam, trĩ. Dương quá thịnh khiến âm bịnh[3].

Quan sát chân dung tạng thái dương nóng

Chân dung người có tạng thái dương hiện ra rõ rệt sau khi ẩm thực quá nhiều thực vật dương quá nóng (rượu, gia vị cay…) khiến nhiệt biến dễ dàng và nhanh chóng thành hỏa. Hiện tượng này dễ nhận diện qua các dấu hiệu sau:
·         da nóng đỏ cùng với chất âm (mồ hôi) bị đẩy ra ngoài,
·         bên trong thì có triệu chứng khí âm khô kiệt như táo bón, khát nước.
            Từ hai dấu hiệu chính đó mà ta có thể biết được tạng phủ nào bị khí dương (hỏa) đốt cháy thí dụ như:
            - Tạng phổi thì da nóng, màu hồng hay đỏ, hơi thở ồn ào, đầu và ngực ướt mồ hôi, dễ chịu với khí trời lạnh;
            - Tạng tim: màu đỏ rất rõ hiện ở đầu lưỡi và trên mặt (trừ trường hợp hư nhiệt vì âm suy), tính tình cáu gắt, bồn chồn, nóng nảy;
            - Tạng tì: dấu phát hỏa hiện ra trên môi, lưỡi đỏ và sưng, rêu lưỡi vàng, dày, miệng hôi, lợi răng sưng đỏ;
            - Phủ ruột già khô ráo tân dịch nên táo bón;
            - Phủ bàng quang (bọng đái) bị nhiệt nên nước tiểu ít, lại có màu đậm, nặng mùi, đường tiểu nóng rát;
            - Tân dịch bị khí nóng thái dương đốt nên da khô héo, môi lưỡi mỏng và khô, khát nước hoài và thích uống lạnh;
            - Hỏa khí thái dương vào máu gây ra chảy máu cam, trĩ, mụn đỏ, nhọt chứa mủ, mũi hay phân dính máu.


           Cảm nhận dấu hiệu phạm khí âm


            Triệu chứng gì sảy ra khi Khí dương quá thịnh biến thành hỏa? Suy nhược và bệnh âm khí.          
            Suy nhược vì khí dương bốc lên, thoát ra làm hao tổn khí, thí dụ như người uống rượu quá chén mình mẩy nóng đỏ (khí thoát ra ngoài) nên mệt mỏi sau khi say rượu.
            Khí dương quá thịnh sẽ làm khí âm khô kiệt mà sanh bệnh dưới dấu hiệu sau :
- Âm bị đẩy ra ngoài : mồ hôi, xuất huyết (trĩ, máu cam),
- Âm khô kiệt : tân dịch khô cạn nên hay khát nước, táo bón, tinh thần giao động, tiểu ít.

          Thủ phạm

Các triệu chứng trên đều là nạn nhân của thực phẩm nhiều khí nóng thái dương  làm hư tổn âm khí. Thực phẩm này có 2 loại : Thực phẩm đa khí nghèo chất dinh dưỡng và thực phẩm nhiều khí dương lẫn chất dinh dưỡng.

·         Thực phẩm đa khí nghèo chất dinh dưỡng
Các thực phẩm này là :
- Nước uống như rượu, la ve,
-Trái cây chín như sầu riêng, mít, nhãn, thơm khóm, soài
- Hương liệu cay nóng, rát lưỡi như (quế, bột cà ri, gừng, tiêu, ớt tiêu, đinh hương, hồi, moutarde cay …),
             Nếu ăn quá nhiều và hàng ngày thực phẩm trên, hậu quả là gây bất quân bình âm dương trên dưới, trong ngoài vì khí dương quá thịnh bốc lên với những triệu chứng của khí như đầu váng nóng hay đau, khó hay mất ngủ, nóng nảy khó tính, tiểu rát.
 
·         Thực phẩm nhiều khí dương lẫn chất dinh dưỡng
Khí thái dương của các thực phẩm này như thịt bò, cừu, dê, thú rừng tác động lên máu. Các bệnh như sưng khớp, bệnh ngoài da lở loét nóng đỏ có mủ, không có kết quả với  thuốc trụ sinh, cortisone và antifongique… là triệu chứng của khí dương thái quá.  

Cách trị liệu

Triệu chứng viêm (da lở loét, tiểu tiện rát đau, viêm đường tiểu…) có thể do 2 nguyên nhân : vi trùng và khí thái dương.
Việc đầu tiên là ngừng ăn các thực phẩm quá nhiều khí thái dương trên và thay vào bằng ăn thực phẩm âm. Nếu sau vài ngày triệu chứng hỏa không suy giảm thì hãy nghĩ đến bác sĩ và trụ sinh[4].

          Báo động quí ông
  
Trong vấn đề bổ dưỡng sức khỏe, nhiều người Việt hay thích nghe những lời mách nước chơn thành của bạn bè, thân thuộc hoặc trong báo chí mà người viết kém hiểu biết về khí âm dương. Thí dụ như thấy bạn mình có bệnh hoặc suy nhược thể xác là có những lời khuyên máy móc như : uống sâm, bột quế mật ong, thang thuốc Minh Mạng[5], nước ớt cay, đinh hương v.v. Các thực vật này chứa nhiều khí thái dương nóng rất tốt cho người thiếu khí dương nhưng lại làm hại người có tạng khí thái dương, có thể gây bệnh về khí hoặc làm bệnh nặng thêm. Vậy, trước khi làm theo lời khuyên chơn tình thì phải hiểu tạng khí của mình và những triệu chứng của khí dương thiếu hay thịnh.

2. Tạng thái âm lạnh

                                                                                                                                 
         Nếu người có tạng khí thái âm, dấu hiệu thiếu khí dương hiện ra bên ngoài (da xanh, lạnh, nói yếu ớt) và bệnh khí dương bên trong (tiêu chảy, đầy hơi, sợ lạnh…).   Âm thịnh thì dương bịnh[6] như chân dung đưới đây.


Quan sát chân dung tạng thái âm

   Tạng thái âm hàn thường gặp trong các trường hợp sau:
            - Người bẩm sinh tạng hàn,
            - Bệnh nặng, già yếu, sau giải phẫu, dâm dục quá độ, sanh đẻ nhiều.
Nguyên nhân chính là do khí thái âm lấn át khí dương làm khí dương bệnh mà sanh ra nội hàn. Triệu chứng khí dương bệnh hiện ra ở ngoài da và trong tạng phủ.
            Vì khí dương bệnh, suy yếu  nên có triệu chứng hơi thở ngắn, thích ăn uống nóng, da xanh xám, hay ớn lạnh, vọp bẻ, chân tay giá lạnh, thiếu hăng say ; tinh thần ủ rũ, tiếng nói yếu ớt, biếng ăn, tiểu tiện nhiều, buồn ngủ cả ban ngày,
            Dương khí của tì vị bịnh nên da lạnh, trắng, chân tay lạnh không sức lực, mập phì nhiều mỡ, tĩnh mạch sưng, bụng mềm, phình lớn, hay tiêu chảy, lưỡi trắng, dày rộng ẩm ướt nhiều, ngủ nhiều ngay cả ban ngày
            Còn thận khí dương bị hàn khí lấn át thì tiểu tiện nhiều và trong, dấu hiệu lãnh cảm hay tình dục suy (nếu còn trẻ) gây lo sợ, mặt tái xanh, bải hoải yếu ớt ở lưng quanh vùng mệnh môn.
Bạn nào có chân dung của tạng khí này thì phải tránh ngay các thực phẩm thái âm để tránh làm bệnh nặng thêm.

Cảm nhận thực phẩm sanh khí thái âm lạnh
 
Thực phẩm thái âm thường gặp là :
- Động vật : vịt, ếch, rùa, rắn, nghêu sò, mực, cá sống (gỏi cá, shusi) …
- Rau và rau củ : khổ qua, mồng tơi, rau đay, dưa chuột, dưa leo, bắp cải cuộn, khoai  tây,  củ cải ngọt màu tím, rong biển …
- Trái cây : chanh, chanh dây, bưởi (chua), dưa hấu, dưa chuột …
- Lá trà : hoa cúc, nhị hạt sen, verveine, tilleul, passiflore, camomille
- Nước lạnh

            Vài thực phẩm thái âm tô đỏ là để nhắc độc giả phải cẩn thận khi nạp dụng quá nhiều có thể làm cho khí dương bịnh, thí dụ trà hoa cúc, nước lạnh.
            Hoa cúc rất âm hàn là dược phẩm của đông y trị áp huyết cao, làm cơ thể mát dịu dễ ngủ. Người Việt sức khỏe bình thường nên cẩn thận nếu lạm dụng hoa cúc bằng uống trà cung đình, trà cúc (hoa cúc+quả xí muội+cục đường phèn+5 nhát cam thảo) cho dễ ngủ.
            Tại phương tây, chúng ta thường nghe khuyến cáo uống nhiều nước vì nước chiếm 75% cơ thể, 60% tế bào, 92% máu huyết… Không ai có thể phủ nhận vai trò tối quan trọng của nước sau dưỡng khí cho mọi hoạt động của cơ thể.
            Trái lại đông y cũng như phép dinh dưỡng đều khuyên cáo uống nước vừa đủ, khi khát nếu uống quá độ có thể gây bệnh do khí âm của nước. Tại sao ?
            Khí của nước là lạnh. Nếu uống quá nhiều nước, người tạng thái âm sẻ mất rất nhiều khí dương để hâm nóng nước lạnh lên 37o nên khí dương đã thiếu lại càng thiếu thêm ;
            Nhất là đàn bà (âm) lại uống quá nhiều nước (âm), âm khí quá thịnh làm hại thận dương nên tiểu nhiều, người lạnh ;
            Bệnh (đau bao tử, đầy hơi…) bởi nước hay gặp là khí bao tử (vị khí) bị lạnh bởi uống quá độ nhất là vừa ăn vừa uống nước lạnh. Vì vậy tiệm ăn trung hoa tiếp ta trà nóng khi ăn.
             Uống nước là tối cần thiết nhưng hết sức phi lý nếu cố gắng uống thiệt nhiều nước khi cơ thể thừa nước lại mang bệnh âm (phù thủng, tiểu tiện mỗi 15 phút làm mất giấc ngủ đêm, đầy hơi, lãnh cảm…).

          Báo động quí bà

            Sau dưỡng khí là nước tối cần thiết cho sự sống. Ta có thể nhịn ăn nhiều ngày nhưng không thể không uống nước. Nước tối cần cho cơ thể (75% là nước), tế bào (60% nước), máu (95% nước)… Từ những nhận xét đó mà Tây y thường hay khuyên uống nhiều nước (2 đến 3 lít mỗi ngày) và đổ tội tại thiếu nước nên da khô, táo bón mặc dầu vẫn nghe lời uống nước nhiều. Lời khuyên đó áp dụng cho mọi người mà chẳng quan tâm đến vấn đề đàn bà thường là tạng âm mà lạm dụng khí lạnh của nước có thể làm mệt thận (tiểu nhiều, lãnh cảm, sợ lạnh…), hại tì khí (chân tay nặng, ứ nước…), khí dương suy vì phải dùng nhiều sức nóng của khí (calo) để hâm nước lên 36 độ C…
            Phải uống nước nhiều khi dùng loại thuốc theo toa bác sĩ, khi đổ mồ hôi nhiều sau khi tập dượt và vào những ngày nóng hạn. Nếu không thì tốt nhất là uống nước vừa đủ lúc khát cũng đủ bài tiết các chất dư thừa. Nguy hại nhất là ăn uống nhiều đồ lạnh sau khi sanh nở là lúc thiếu khí dương để tẩy rửa huyết hư. Vì vậy mà ngày xưa, đàn bà mới «nở nhụy khai hoa »  chỉ ăn uống nóng, nằm trên than hồng trộn muối và hột tiêu để da thịt ở bụng thắt lại như thời con gái và tránh bướu tử cung.

            Trong tình trạng bình thường, uống nước khi khát, vừa đủ để sa thải các chất dư thừa (urée, acide urique, créatine, ammoniaque…). Nếu uống quá nhiều nước, số lượng máu gia tăng thận phải làm việc nhiều để sa thải số nước dư thừa trong máu để giúp tim. « uống mà không khát, ăn mà không đói là hai điều hại cho sức khỏe ».
            Khi nào biết là cơ thể thiếu nước ? Hypothalamus trong óc gởi tín hiệu khát, nếu thiếu nước. Khi đã hết khát thì phải ngừng, nếu không nghe tiếng nói của cơ thể, hypothalamus bị xáo trộn cho tín hiệu sai vì vậy nhiều bà uống rất nhiều mà vẫn khát, người thì phù thủng.
            Vai trò của thận là điều hòa nước trong cơ thể. Uống quá nhiều nước, thận sẽ suy yếu và có các triệu chứng sau:
- Tứ chi lạnh, lưng và đầu gối ê ẩm thiếu sức, bất lực vì khí lạnh của nước làm giảm thiểu khí dương, thận dương suy, bịnh khí dương xuất hiện, như phù thủng, da dày.
- Phổi (thượng tiêu) và thận (hạ tiêu) là hai thủy lộ và luôn luôn giao tiếp nhau (bằng chứng : thận di động lên xuống theo nhịp thở hô hấp). Cho nên nếu phổi bệnh sẽ khiến cho thận suy yếu rồi bịnh theo luật tương sinh. Thí dụ hen xuyễn lâu ngày làm thận suy, sinh ra bất lực lãnh cảm.
Bao tử : uống nhiều nước lạnh nhất là vừa ăn vừa uống làm nguội lạnh khí nóng của bao tử mà sanh ra bụng đầy hơi, hay ợ chua[7] tiêu chảy, khó tiêu.

           
            Tóm lại, nguyên tắc dinh dưỡng theo tạng khí là giữ quân bình giữa khí âm, khí dương của thực phẩm bằng ghi nhớ hai điều căn bản sau :
- Thức ăn dương thích hợp tạng âm hàn, thức ăn âm hợp với tạng dương nhiệt,
- Dùng nhiều thức ăn âm thì hại dương, ăn nhiều thức ăn dương thì khô kiệt chân âm ;
- Tránh lạm dụng ăn quá nhiều, hàng ngày một thực phẩm thịnh âm hay thịnh dương.
 Nếu bất quân bình âm dương gây ra bịnh, lúc đó ta hãy nên dùng khí cuả thực phẩm trị liệu. Thí dụ như âm hàn nội tạng làm bụng đau, người lạnh, buồn ói, cảm hàn, tiêu chảy, kinh nguyệt đau… ta có thể dùng hương liệu củ (gừng), quả (tiêu, ớt), vỏ cây (quế), hạt (tiêu, đinh hương, hồi, muscade). Tóm lại, duy trì quân bình âm dương bằng biết dùng thức ăn thịnh âm hay thịnh dương thì sẽ tránh được một số bệnh của khí.

            Sau cùng, tác giả muốn nhắc độc giả một điều là bạn bè, bà con hay khuyên ta ăn trái cây này, rau cỏ kia rất tốt. Tuy lời khuyên rất thành thực nhưng bạn phải biết :
-Tạng khí của mình thuộc loại khí nào;
- Nhận diện khí âm dương của thực phẩm theo lời khuyên để xem có thể tiếp nhận hay không;
- Sau khi qui nạp thực phẩm nên theo dõi phản ứng bất thường của cơ thể. Thí dụ sau khi uống nước rau má, bụng hơi quặn đau lại hơi tiêu chảy có nghĩa là rau má (âm) không hạp với tạng khí (âm) của bạn.





  5

Hương vị

Rau thơm, rau húng, rau mùi,
Thì là, cải cúc, đủ loài hành hoa.


Mỗi lần được mời dự cơm chay tại một Thánh Thất Cao Đài, thực tình tôi chẳng thấy chay lạt mà chỉ thấy mùi thơm ngát bốc vào mũi, vị chua cay thấm dịu dàng trong lưỡi. Đó là lúc tôi  hấp thụ khí âm dương  qua hương vị. Hương có ngũ hương là khí dương do mũi ngửi thấy, vị có ngũ vị (chua, cay, mặn, ngọt, đắng)[8] sinh ra từ khí âm của đất và được lưỡi nếm nhận được.


1. Mùi

            Ngũ hương (5 mùi) [9] do mũi đón nhận, thuộc khí dương nên bốc lên trời và nhập vào khí của phổi vì tạng phổi chủ về khí và mũi là cửa của phổi thông với bên ngoài. Tuy nói là có ngũ hương, nhưng thường nhật trong bếp nước, con người chỉ quan tâm đến mùi thơm.

Mùi thơm trong tín ngưỡng

            Hầu như mọi tôn giáo và tín ngưỡng dân gian đều dùng mùi thơm tỏa lên trời của hương nhang, gỗ trầm để cầu khấn, tiếp xúc với thế giới vô hình. Theo tập tục thờ cúng tổ tiên, người Việt tin rằng khói nhang trầm và các dĩa cơm canh nóng bốc mùi thơm vào cõi vô hình khiến hồn người đã khuất cảm nhận được lòng thành kính của con cháu. Còn trong ẩm thực hàng ngày, chúng ta ưa tìm thưởng thức mùi thơm của hoa trái, rau cỏ mà làm đồ ăn thức uống.
            Về khía cạnh trị liệu, mùi là khí dương chạy thẳng vào phế vì phế chủ về khí[10]. Cho nên y khoa cũng như cách trị liệu cổ truyền bằng cách dùng mũi hít vào phổi mùi của vài dược liệu dưới dạng tinh dầu như chất menthe (chữa ho), và thông thường nhất là buồn ói mửa người Việt hít dầu cù là.

 Nhận diện khí dương bằng mùi

             Nhờ mũi ngửi thấy mùi mà ta cảm nhận được khí dương của thực vật. Dưới sức nóng của bếp lửa hay của nắng mặt trời, mùi thơm tức khí dương sẽ bốc lên từ thực phẩm và tỏa ra từ hoa trái. Tùy theo nồng độ của mùi mà ta có thể biết rau trái nào chứa nhiều hay ít khí dương. Thí dụ trái dứa, soài, sầu riêng là trái cây rất dương nên thơm bít mũi khi chín.

            Mùi thơm trái cây

            Hạt mè chứa rất nhiều khí âm dưới dạng dầu mè và khí dương bốc thơm nức mũi khi rang chín, cho nên gạo lức (chất bổ dưỡng, sinh tố, khoáng chất), muối (dương), mè (khí âm dương tràn đầy) làm khỏe cơ thể là vậy.

Trái cây
Giữa các tác giả đôi khi có những dị đồng trong phân loại trái âm, trái dương. Lý do là không quan tâm đến sự biến hóa khí âm dương trong trái cây như những thí dụ sau.
           
            Khí biến đổi từ lúc còn xanh đến lúc chín

            Trái cây lúc còn xanh, khí âm thịnh nên có vị chua.Trên tiến trình trái chín, vị chát của âm chất (tannin, amidon) biến dịch sang vị ngọt, một phần khí âm (biểu hiệu bởi vị chua) chuyển biến sang khí dương (mùi thơm, màu đỏ, vàng), thí dụ dứa, mận, cam, quýt.
            Có trái cây còn xanh chứa nhiều vị âm (tannin, amidon) biến dần sang khí bình âm dương (thơm, ngọt), thí dụ như trái hồng, chuối.  
           
            Khí giữa trái và vỏ, lá
            Trái chanh chứa khí thái âm rất lạnh, còn lá chanh thì rất dương qua mùi thơm chứa tinh dầu trong lá. Người Việt sắt nhỏ lá chanh ăn với thịt gà luộc hoặc ướp với gà đồng (chuột đồng) để nướng, lá chanh đun trong nồi nước xông chữa cảm cúm.
            Vỏ trái bưởi, trái tắc, trái quất…   chứa tinh dầu rất dương nên đàn bà Việt dùng vỏ bưởi nấu nước gội đầu cho sạch, cho tóc óng ả, vỏ trái tắc, vỏ trái quất trộn với mật ong trị liệu ho hàn.

            Mùi thơm của trái cây khi chín

            Các trái cây thơm ngào ngạt khi chín được xếp vào loại khí thái dương như: sầu riêng, mít, khóm, nhãn… Chỉ cảm nhận được khí dương của các loại cây này khi nào ăn nhiều và hàng ngày nhất là những người có tạng thái dương, lúc đó mới thấy triệu chứng khí thái dương quá nóng phát ra như lở môi, mụn nhọt, đại tiện ra máu hoặc táo bón. Thí dụ vào mùa nhãn chín,  như ai đã về « giồng nhãn » của người Tiều ở Bạc Liêu đều biết sau khi được chủ vườn mời ăn nhãn thả cửa thì sẽ được chủ mời một ly nước mưa trong veo múc từ lu mái để «giải hỏa » của nhãn.

            Mùi thơm hương liệu

            Các hương liệu và lá thơm có mùi thơm bốc lên, chứa tinh dầu bay hơi, hòa tan trong nước thì được xếp vào thực vật chứa khí thái dương nóng, thí dụ như quế, gừng, đinh hương, anis, muscade  dùng để chữa trị. Ngoài ra nhiều loại rau thơm như thìa là, húng quế, basilic, estragon…cũng chứa một ít tinh dầu.

            Trị liệu bằng mùi thơm

            Quế, đinh hương cho tinh dầu dùng để uống hay xoa bóp làm cho da nóng, chống bệnh âm (chậm tiêu, chậm kinh nguyệt, đau bụng, ói mửa). Lạm dụng tinh dầu của quế có thể sanh bịnh, vì vậy, kỹ nghệ thực phẩm âu châu ấn định 2mg mùi thơm chất coumarine của quế trong 1kg thực phẩm. Tại Đức, các em nhỏ (dưới 15Kg) được khuyến cáo không nên ăn quá 4 cái bánh chứa quế Zimtsterne mỗi ngày để tránh chảy máu cam.

            Gừng chứa 1 đến 3% tinh dầu trong tế bào bốc ra mùi thơm, được dùng để trị liệu và điều hòa khí âm dương trong thực phẩm. Trong vấn đề trị liệu, gừng được xử dụng rất nhiều như:
- gừng rang pha nước sôi hoặc đun với cháo để chữa bệnh tiêu chảy,
- Khi bị cảm phong hàn, người Bắc giã gừng trộn với mớ tóc để đánh gió,
- Kẹo gừng hay ngậm miếng gừng nếu bạn buồn ói bởi giao thông say sóng, máy bay.
- Trong nấu nướng, dùng gừng để tăng vị giúp tiêu hóa nhất là để điều hòa khí âm khi ăn các động vật âm như món thịt vịt luộc, hàu, sò nghêu, ốc hấp bọc lá gừng…

2. Khí âm trong ngũ vị
           
Ngũ vị là đắng, ngọt, cay, mặn và chua[11] là khí âm nên đi vào trong cơ thể.   Cây cỏ hấp thụ khí của đất rồi biến hóa ra các vị trong tinh thực phẩm[12]. Nguồn gốc của đất là từ kim thạch tan rữa, cho nên Luật Tam Thể giải thích ngũ vị: Các thứ cây đều có tế bào của kim thạch… Chất ngọt do đạm khí và lân chất, chất đắng do kim khí, chất mặn do kim và thạch khí lộn với đạm khí và lân khí; chất chua do thạch khí và thổ khí lộn với thủy khí[13].


Cảm nhận khí ngũ vị

Ai trong chúng ta mà lưỡi chẳng cảm nhận thấy dễ dàng ngũ vị (đắng, ngọt, cay, mặn và chua). Theo luật ngũ hành, ngũ vị liên hệ mật thiết với ngũ tạng (tim, tì phế, thận, can) và  ngũ thần (Thần, Ý, Phách, Chí, Hồn). Muốn kiểm chứng rõ ràng sự liên hệ này, chúng ta hãy cùng nhau tự làm thí nghiệm như sau ngay trên cơ thể của chúng ta.

Phổi «cay»

Vị cay chạy về phế. Phế chủ về khí (vệ khí) và da.
- Kiểm nghiệm. Sau khi dùng vị cay (uống rượu, ăn ớt tiêu cay…), vệ khí của phế lưu chuyển nhanh làm cho da nóng, đỏ, đổ mồ hôi.
- Ứng dụng trong dân gian. Quan sát thấy khí nóng của vị cay (ớt, rượu, tiêu) kích động vệ khí của phế lưu chuyển nhanh, người dân Việt bị cảm phong hàn thường ăn vị cay (cháo nóng nhiều tiêu, ớt…) sau khi đánh gió hoặc « xông »[14] cơ thể cho ra mồ hôi.  Mồ hôi sẽ tống xuất tà khí ra ngoài để trị liệu vài bệnh liên quan đến phế khí như cảm cúm, phong hàn. 
        
Thận «mặn»

 Vị mặn đi vào thận nơi cư ngụ  khí âm dương Tiên Thiên. Trong cơ thể, chất mặn giúp thận giữ quân bình giữa tỉ lệ nước với chất mặn thu nạp. Chất mặn thặng dư được sa thải qua nước tiểu và mồ hôi. Một phần tư chất mặn cung cấp cho cơ thể rút ra tự nhiên trong thực phẩm. Nồng độ mặn cao trong thịt, cá, hải sản nhưng thấp trong rau trái. Vị mặn còn lại nằm trong nấu nướng, thêm muối khi ăn, thực phẩm biến chế kỹ nghệ.
- Kiểm nghiệm. Thiếu chất mặn (sodium) sẽ gây suy nhược và ngất sỉu thí dụ như đổ mồ hôi quá nhiều sau khi tập dượt, chạy bộ. Một ly nước chanh muối hay coke pha muối là trở lại bình thường vì vị mặn bổ thận để tái lập quân bình giữa nước và chất mặn trong máu. 
            - Ứng dụng. Vào mùa hè nóng bức mồ hôi nhễ nhại, dân Việt hay uống chanh muối, ăn dưa hấu sát ít muối vừa cho vị đậm đà vừa bổ khí thận bằng vị mặn.

Gan «chua»

Vị chua chạy về can.  Can chủ bắp thịt, gân cốt, móng tay, móng chân.
 Kiểm nghiệm.  Can không làm tròn nhiệm vụ điều hòa khí huyết thì sẽ có triệu chứng «can lười » nên ít đói, khó tiêu, hay ợ chua, móng tay móng chân nứt, gãy…  Trước bữa ăn dùng vài tráí cây hơi chua (bưởi, táo, mận, quít) hoặc một dĩa sà lát trộn giấm chua sẽ giải quyết vấn đề nhờ vị chua thúc đẩy gan sa thải chất dơ và giúp bao tử làm việc.
 Ứng dụng. Vì nhận xét thấy vị chua làm tiểu tiện nhiều và giảm mỡ, vài phương pháp giảm cân khuyên dùng vị chua (bưởi chua, chanh, nước bưởi, giấm) để làm tan mỡ thịt, giúp tiểu tiện. Nguy hiểm của phương pháp này là lạm dụng vị chua có thể làm dãn gân cốt giữ bọng đái, tiểu tiện nhiều có thể đi đến sa bọng đái.
           
 Tim «đắng »

Vị đắng của caféine từ ly cà phê, trà, cacao, cola… bổ khí tim và làm tăng lưu thông của huyết vì tim chủ về huyết mạch. Người tây phương ưa thích vị đắng caféine của cà phê và cacao còn ngưới á đông thiên về vị đắng của trà.
 Thử nghiệm lên chính cơ thể của bạn bằng uống một hay hai ly cà phê đậm đặc, bạn cảm thấy gì? Có cảm giác tim đập, tinh thần sảng khoái tỉnh ngủ hơn. Đó là hiện tượng vị đắng đi vào tim.
            Bạn hãy nhìn cảnh này trên đồng ruộng Việt Nam. Dưới nắng thiêu đốt của mặt trời, mồ hôi chảy có hột vậy mà khi ngừng cày bừa một lúc, bác nông dân việt uống một bát trà tươi, nhóm một điếu thuốc là trở lại khỏe mạnh tỉnh táo, hết chảy mồ hôi. Tại sao? Đó là tác động vị đắng của trà và thuốc điếu bổ khí của tim và Thần.
            Tại sao trà làm mất ngủ, tiểu nhiều?    Vì lạm dụng vị đắng, tim hoạt động mạnh hơn bình thường làm xáo trộn nơi cư ngụ của Chơn Linh (tim) nên mất ngủ. Vị đắng còn làm tăng áp xuất và lượng máu trong huyết mạch gây bất quân bình giữa tim thận (thủy hỏa bất tương giao). Để tái lập quân bình, thận phải thải bớt nước trong huyết quản cho nên tiểu nhiều và nói lái gọi trà ngon, đậm đặc là trà « thái đức » là vậy.


Tì « ngọt»

 Vị ngọt (đường, bánh, kẹo, nước ngọt, cà rem) đi thẳng vào tạng tì. Tì khí chủ về thịt cơ thể và hoạt động trí óc. Vị ngọt cung cấp khoảng 60% số calo cần dùng mỗi ngày. Lúc nào cảm nhận được vị ngọt chạy vào tì khí? Đó là lúc:
- Mỏi mệt sau những giờ học, suy nghĩ, đọc sách là vì Thần trong tì là Ý thiếu bồi dưỡng;
- Cảm thấy bắp thịt rã rượi, ý tản mác lo âu là triệu chứng tì khí suy giảm là vì tì khí chủ về thịt và tì là nơi cư ngụ của Ý.   
Vài bánh ngọt, li kem hay li cà phê sữa sẽ làm trí óc hăng hái làm việc trở lại, ý tràn đầy đó là vì vị ngọt đã bổ tì khí và khích động khí Tiên Thiên (Ý) trong tì.
  
3. Nguyên tắc và cấm kỵ

Tuy là bổ ích cho tạng liên hệ, các vị cũng có thể gây ra bịnh hoặc làm cho bịnh thêm nặng nếu xử dụng vị không theo một số nguyên tắc và cấm kỵ.

a) Nguyên tắc

Bổ khí
 Dùng vị để bổ khí cho một tạng có nghĩa dùng liều lượng vừa phải kích thích và điều hòa khí của tạng đó. Thí dụ dùng vị ngọt vừa đủ thì bổ khí của tạng liên hệ là tạng tì. Hãy nghe tiếng nói của cơ thể bằng cảm giác thèm hay đủ[15]. Thí dụ thèm ăn ngọt thì ăn vì tì khí suy, khi hết thèm phải ngừng nếu không, lại cứ lạm dụng vị ngọt thì với thời gian, tiếng nói của cơ thể không trung thực và trở thành dấu hiệu của bịnh như những người mập phì hay thèm ngọt.

Lạm dụng
Một vị được qui nạp quá nhiều và hàng ngày sẽ làm cho tạng liên hệ bị hại. Vài thí dụ về hậu quả của lạm dụng vị:

  Tim chủ về huyết và là nơi cư ngụ của Chơn Linh và Thức Thần. Cảm thấy gì sau khi uống quá nhiều cà phê hay trà? Chất đắng caféine làm tim đập mạnh, hồi hộp, mất ngủ, lo âu, bàn tay ướt. Đó là vị đắng quá nhiều làm kích động ThứcThần. Nếu lạm dụng vị đắng hàng ngày có thể gián tiếp gây bệnh cho tim.

Khi nào vị ngọt hại tì khí ? Khi lạm dụng vị ngọt hàng ngày. Tì khí chủ về bắp thịt nên hậu quả của lạm dụng vị ngọt là: mập phì, cảm thấy thân thể nặng nề, bắp thịt đau hơn lên với vị ngọt v.v. Điều này dễ nhận thấy trong người tây phương.

Trái lại nếu có triệu chứng khí phổi suy yếu (hơi thở ngắn, hay đổ mồ hôi, ho yếu ớt kinh niên, sau cơn bệnh nặng), nên tránh ăn quá cay, vị cay thay vì bổ khí phổi lại làm tán khí, bệnh phổi nặng thêm.

Trong trường hợp bệnh tim, áp huyết cao, mòn xương (khí thận chủ về xương), ăn quá mặn hàng ngày làm thận khí xung lên gây thủy (thận) hỏa (tim) bất tương giao, bịnh sẽ nặng thêm vì vậy mà y khoa hạn chế hoặc cấm dùng muối.
 
            Nên nhớ khí của can liên hệ trực tiếp đến gân cốt và phải coi chừng những lời khuyên cá nhân hay của các phép dinh dưỡng giảm mập bằng ăn nhiều vị chua (bưởi, giấm, chanh). Thí dụ phương pháp giảm mập Scarsdale khuyên ăn nửa trái bưởi chua mỗi ngày, và phương pháp ăn chanh, uống giấm. Rất đúng, ăn chua «đúng cách » giảm cân, tan mỡ nhưng đôi khi phải trả giá mắc vì lạm dụng và không có chuyên viên dinh dưỡng theo dõi. Là vì, vị chua quá tải làm cho gân nhất là gân giữ bọng đái suy yếu dãn ra nên mắc bệnh sa bọng đái, hay són đái hoặc tiểu tiện liên hồi, dương vật mềm nhũn[16].

b) Cấm kỵ
Không dùng vị để bổ tạng liên hệ bị bịnh nặng;
Nếu cơ thể có bịnh về khí, các bạn hãy suy nghĩ về lời khuyến cáo của Hoàng Đế Nội Kinh (Linh Khu, chương 78 và Tố Vấn, Ch. 23) ngừng ăn vị nào liên hệ đến tạng bị bịnh như sau :
Vị chua nếu có bệnh cơ, bắp thịt (can chủ về gân, bắp)
Vị cay nếu có bệnh về khí (phế chủ về khí) thí dụ phổi bị ho lao hay ho kinh niên không nên dùng vị cay vì vị cay làm phân tán khí của phế và bệnh nặng thêm.
Vị đắng nếu có bệnh về huyết (tim chủ về huyết)
Vị mặn nếu có bệnh về xương (thận chủ về xương)
Vị ngọt nếu có bệnh về thịt như mập phì, đau cơ bắp (tì chủ về bắp thịt)

Nếu không nghe lời cấm kỵ trên ?

Ngũ khí của ngũ tạng tuân theo luật ngũ hành. Theo luật tương khắc của ngũ hành: ngũ khí của ngũ tạng có quan hệ tương khắc ức chế lẫn nhau để duy trì quân bình giữa ngũ tạng. Khí thận thủy khắc khí tâm hỏa, khí tâm hỏa khắc khí phế kim, khí phế kim khắc khí can mộc, khí can mộc khắc khí tì thổ. Ngoài ra còn có luật tương thừa (khí tạng này khắc khí tạng kia quá mạnh) và luật tương vũ (khí tạng này quá yếu không khắc được tạng kia). Các luật này dành cho các đông y sĩ xử dụng vì rất phức tạp. Tôi chỉ lấy một thí dụ đơn giản của luật tương thừa: thủy (thận) khắc hỏa (tim), ăn mặn nhiều làm thủy (thận khí) xung mãn lấn áp hỏa (tim) thái quá nên khiến khí của tim bị nhiễu loạn. Bảng tóm tắt dưới đây cho ta vài ý kiến về các tạng khác theo luật tương thừa.

Vị quá độ

Tạng bị kích động
Tạng bị phạm
Triệu chứng tạng bị bịnh
Mặn
Thận
Tim
Tim đập, áp huyết cao
Chua
Can
Thịt co lại, môi nứt
Đắng
Tim
Phế
Da khô, rụng lông
Ngọt
Thận
Đau xương, rụng tóc
Cay
Phế
Can
Bắp thịt co rút, móng tay khô héo

Khi nắm vững được tác động của mỗi vị đặc biệt lên một tạng ứng đối, thực phẩm sẽ trở thành dược liệu bảo trì sức khỏe.
  
4. Tác động ngũ vị lên Ngũ Thần

            Ngũ Thần tức Chơn Thần ngụ trong ngũ tạng: Thức Thần trong tim, Ý trong tì, Phách trong phế, Chí trong thận, Hồn trong can. Mỗi Thần cảm ứng với một tình cảm và một mùi vị như bảng chỉ dẫn dưới đây.
  
Ngũ hành
Ngũ tạng
Ngũ Thần
Tình cảm
Ngũ vị
Hỏa
Tim
Thức Thần
Vui, mừng
đắng
Thổ
Ý
lo âu
ngọt
Kim
Phế
Phách
buồn
cay
Thủy
Thận
Chí
Sợ hãi
mặn
Mộc
Can
Hồn
Giận
chua

Mặc dầu xác phàm cũng sinh hoạt riêng theo bản năng tự động không đợi sự sai khiến của Linh Thân ; thí dụ tim đập, máu huyết lưu thông… nhưng vẫn phụ thuộc vào điều kiện hài hòa của Ngũ Thần (Chơn Thần). Sau thất tình[17], mùi vị thực phẩm cũng có thể làm xáo trộn cung điệu thiên nhiên của Ngũ Thần và cản trở việc qui Ngũ Thần để đắc đạo. Dù ăn mặn hay ăn chay tu Đạo, ai trong chúng ta cũng có thể tự kiểm chứng được thất tình thái quá hại Ngũ Thần như thế nào.

             Sau đây, chúng ta cùng nhau dùng vị để tự kiểm chứng  sự liên hệ giữa các vị và  Ngũ Thần trong ngũ tạng với vài thí dụ sau.
  
             Vị đắng lay động Thức Thần trong tim

            Vị đắng cảm ứng với khí của tim. Sau khi uống cà phê quá nhiều lại đậm đặc, tại sao tim  đập mạnh, đầu óc tỉnh táo, bàn tay ướt mồ hôi, mất ngủ. Lý do là vị đắng  cà phê đi về tim, kích thích quá mạnh khí của tim, làm xáo trộn nơi cư ngụ của Chơn Linh và Thức Thần (Chơn Thần) nên mới có những triệu chứng đó. Thánh Ngôn dạy: Ngươn Thần thì sáng suốt, ưa thanh tịnh vô vi, nhưng bổi có Thức Thần nên mới hay động tác[18].

            Tì khí suy sanh lo âu

            Sau khi làm việc mệt nhọc trí não hay lo âu, người sẽ cảm thấy uể oải, bủn rủn chân tay, thiếu sáng kiến. Đó là triệu chứng khí Tiên Thiên (Chơn Thần) trong tì là Ý suy nhược vì thiếu khí Hậu Thiên (Chơn Khí) bổ dưỡng. Ăn vị ngọt (kem, bánh ngọt…) vào để bổ khí Hậu Thiên trong tì là Chơn Thần (Ý) trở lại bình thường ngay. Lý do là vị ngọt nuôi dưỡng tì khí.

            Phế khí yếu nhược 

            Phế khí suy nhược sẽ có triệu chứng: tiếng nói và hơi thở yếu ớt, hay đổ mồ hôi, ho xuyễn. Phách trong phế gây trạng thái chán đời, yếm thế… Trong trường hợp có bệnh phổi như ho kinh niên, xuyễn, lao phổi… thì nên kiêng vị cay vì vị cay làm tản khí của phế và bệnh nặng thêm.

             Vị mặn bồi bổ Chơn Thần Chí

            Vị mặn bồi bổ thận khí (Chơn Khí) và Chí (Chơn Thần trong thận). Nếu độ mặn trong máu xuống quá thấp vì đổ mồ hôi quá nhiều nhất là sau khi đi bộ, tập dượt thể xác, con người có thể ngất xỉu hoặc suy giảm Chí phấn đấu sinh ra sợ hãi. Đó là dấu hiệu thiếu khí Hậu Thiên (vị mặn của muối) bồi bổ cho Chơn Thần (Chí)… Một ly chanh muối là hồi phục.

              Vị chua làm Hồn thất tán

            Nếu can khí suy yếu vì lạm dụng vị chua[19], Hồn trong can sẽ bạc nhược mà sinh ra sợ hãi, nhút nhát, thần kinh suy nhược, yếm thế, chân tay không sức lực được diễn tả qua ngôn ngữ là thiếu can (gan) đởm (mật). Biện pháp là giảm hay kiêng ăn vị chua …

            Sau khi đã cảm nhận được Ngũ Thần trong ngũ tạng, chúng ta mới hiểu tại sao giáo lý Cao Đài dạy phải kềm chế thất tình lục dục, tam thi cửu cổ[20].










Phần 2
Phép dinh dưỡng
 Cao Đài




             Ăn chay là trọng tâm phép dinh dưỡng Cao Đài. Tại sao? Lý do chính thuộc về tín ngưỡng là:
- Tránh quả báo luân hồi,
- Chơn Thần tinh khiết: trên hành trình qui hồi Thượng Đế, Chơn Linh phải dựa vào Chơn Thần để thăng thiên; tốc độ và mức độ  của Chơn Linh vượt qua các tầng Trời phụ thuộc vào phẩm chất tinh khiết của Chơn Thần.
            Theo giáo lý, muốn có một Chơn Thần tinh khiết thì tín đồ phải ăn chay, tại sao? Trên trần thế, Chơn Khí bao bọc và nuôi dưỡng Chơn Thần. Chơn Khí rút ra từ thực vật thì tinh khiết sẽ làm cho Chơn Thần tinh khiết và thanh nhẹ. Đó là lý do ăn chay nhằm tinh khiết hóa Chơn Thần.



6
 Lời khuyên tôn giáo


            Ăn mặn[21] là ăn thực vật lẫn thực phẩm từ động vật phi cầm, tẩu thú, thủy tộc. Theo Tân Luật (Chương 4, Điều 21) của Đạo Cao Đài, tín đồ nên ăn chay, tránh ăn mặn để đạt hai mục đích chánh yếu của tu đạo là:
            - Tránh luân hồi quả báo,
            - Qui hồi Thượng Đế với một Chơn Thần thanh khiết.

 1. Lời khuyên tránh sát sanh

            Tất cả các tôn giáo nào tin vào luân hồi quả báo thì giáo lý đều khuyên giới sát sanh. Phàm những con vật nào thuộc về loài tứ sanh[22] biết bò bay, máy cựa thì đều có sanh mạng cả, ăn thịt nó là phạm tội sát sanh. Vì vậy mà có lời khuyên của:

Thượng Đế:
Nếu muốn an vui theo lẽ Đạo,
Từ từ đừng vọng cao lương.
…cao lương mỹ vị hại thân phàm[23].

Thịt thà, xương máu tanh hôi,
Cỏ, cây, rau, cải cũng rồi bữa ăn.
Đức từ bi thường hằng thể hiện,
Không sát sanh long thiện ta còn[24].

Đức Diêu Trì Kim Mẫu trong bài Khuyến Nữ Hồi Tâm:
Lắm phen rồi mẹ khuyên chay lạt,
Gốc gì đâu sanh sát cấm ngăn,
Cũng tình liên lạc đồng bằng,
Thú cầm cũng thể linh căn Thượng Hoàng.
Tuy chẳng nói thân hình giống tạc,
Cũng biết ăn, biết khát, biết đau,
Phơi da nóc thịt làm sao,
Con ơi sao uống huyết đào đàn em.

2. Tránh luân hồi quả báo

            Giới sát sanh đặt trên định luật nhơn quả, của tác động và phản động. Chúng sinh hữu tình đều trải qua vòng sinh tử luân hồi và thấy rõ những mối liên hệ với nhau qua nhiều dạng thể khác nhau. «Mỗi mạng sống đều hữu căn hữu kiếp… Nếu ai giết mạng sống, đều chịu quả báo không sai; ai biết đâu là cái kiếp sanh ấy chẳng phải là Tiên, Phật bị đọa luân hồi mà ra đến đỗi ấy[25] ».

 Giáo lý Cao Đài giải thích giới sát là vì nhiều lý do sau.

a) Đi ngược lại luật tiến hóa tự nhiên

               «Cái sống của cả chúng sanh, Thầy phân phát khắp Càn khôn Thế Giới, chẳng khác nào như một nhành hoa trong cội… nếu như ai bẻ hoa ấy nửa chừng thì là sát một kiếp sanh không cho tiến hóa[26]». Thánh Ngôn muốn nhắc nhở chúng ta là những con vật dưới dạng thấp kém có thể là:
             - Trước đây là con người bị tội tam đồ mà trở thành con vật, đang tiếp tục tu tiến lên nhơn hồn;
              - Theo luật tiến hóa của Thượng Đế dạy, con vật đang tiến lên hóa nhân có nhơn hồn như chúng ta, rồi tiếp tục tu tiến lập vị nơi cõi Thiêng Liêng.

Súc sanh thiệt trước vốn người xưa,
Người, vật xoay vần kiếp rước đưa[27].

            Vậy, sát sanh là cưỡng đoạt sự sống nối tiếp, là phạm tội giết một Điểm Linh Quang đương tiến hóa trong cơ thể đó.
             Mọi sinh vật đều tham sanh, thế thì đâu đặng giết thân nọ để nuôi miệng này. Giết hại một con vật là tạo thành một ác nghiệp, oan oan tương báo, mạng mạng xoay vần.

b) Con cái Thượng Đế tránh ăn thịt lẫn nhau

            « Thầy lại phân tánh Thầy mà sanh ra vạn vật là: vật chất, thảo mộc, côn trùng, thú cầm, gọi là chúng sanh[28]». Có nghĩa là tất cả sanh linh, phi cầm, tẩu thú, thủy tộc cùng với nhơn loại đều thọ nơi Thầy một điểm Linh, đều sẽ tiến hóa, tu đạo trở về cùng Thượng Đế. Giáo điều đã dạy « Vạn vật đồng nhất thể » thì tất cả sinh vật đều là con cái của Thượng Đế, cùng một nguồn cội Hư Vô Chi Khí, cùng bản thể tiếp được điểm Linh, đều có khả năng thành Thần Thánh, vậy tại sao lại ăn thịt lẫn nhau? Làm sao chúng ta có thể thương yêu Thượng Đế mà không thương yêu con cái của Ngài?  Càng ăn mặn, càng lún sâu vào ác nghiệp, sinh ra nghiệp chướng nặng nề làm cản trở sự giải thoát của Chơn linh.

c) Phát triển hạt giống từ bi

Thực hành giới luật cấm sát sanh đặt trên cơ sở bình đẳng nơi các chúng sanh, nơi lòng từ bi của con người và hiểu liên đới giữa vạn linh, tôn trọng sự sống, chủ trị phàm tâm, phát huy thiên tánh, phương tiện giúp trì giới. Lòng từ bi tạo thanh điển cho Chơn Thần kề cận Chơn Linh, từ việc làm tịnh hóa tâm hồn cho đến giảm dần sân si, mới đạt đến trạng thái an nhiên tự tại.

 3. Vài suy nghĩ về ăn mặn

Trăm ngàn năm lại bát canh ngon,
Oán sâu như núi, hận khó mòn.
Muốn biết vì đâu nạn binh lửa?
Lò thịt, nửa đêm vọng tiếng hờn[29].

Thường ngày cá thịt dọn đầy bàn,
Thú vật vì mình bị thác oan.


Sát khí thấu trời sanh giặc dã,
Như nghe tiếng thảm lúc lâm sàng[30].

Nếu cả chúng sanh không sát hại,
Mười phương đâu có động đao binh[31].

Đức Phật khuyên:
Này bốn ông Thiên Vương! Nếu gặp kẻ sát hại sinh vật, thời dạy rõ quả báo vì vương lụy đời trước mà phải bị chết yểu;
Nếu gặp kẻ dùng nước sôi hay lửa, chém, chặt, giết hại sanh vật thời ngài dạy rõ quả báo phải luân hồi thường mạng lẫn nhau[32].

Kinh Lăng Già có câu: Ăn thịt vào bụng một lát, thịt ấy hóa ra vật dơ dáy, thân thể ta hấp thụ vật ô uế ấy mà to lớn: vậy cái thân thể hôi tanh, có chi là thanh tịnh?
 7
Ăn mặn và bí pháp



            Sau khi qui tiên, Chơn Thần là chiếc xe chuyên chở Chơn Linh qui hồi Thượng Đế; mức độ thăng thiên của Chơn Linh phụ thuộc vào tính chất thanh hay trược của Chơn Thần. Sống nơi trần thế, Chơn Thần được bao bọc và nuôi dưỡng bởi Chơn Khí (khí Hậu Thiên) rút ra từ tinh ba thực phẩm, khí trời[33], vì vậy mà   Chơn Khí sẽ làm cho Chơn Thần thanh nhẹ hay ô trược tùy theo phẩm chất của thực phẩm mà chúng ta ăn hàng ngày. Mục đích của chương này là trình bày liên quan giữa Chơn Thần, Chơn Khí và thực phẩm nhằm giải thích tại sao tu Đạo thì tránh ăn mặn để có một Chơn Thần thanh khiết.

1. Chơn Thần
  

             Nguyên căn sản xuất ra Chơn Thần là Khí Sanh Quang[34] (Ngươn Khí) lưu hành trong trời đất. Trong cõi Thiêng Liêng vô hình, Đức Phật Mẫu đã dùng Khí Sanh Quang trong lành và thanh nhẹ nơi Diêu Trì Cung để tạo thành một xác thân thiêng liêng tức Chơn Thần để ban cho mỗi người khi đầu thai xuống trần[35].

Lưỡng Nghi phân khí Hư Vô,
Diêu Trì Kim Mẫu nung lò hóa sanh.
Âm dương biến tạo Chơn Thần,
Lo cho nhơn vật về phần hữu vi[36].


            Chơn Thần được tạo tác trong các cơ quan huyền diệu dưới quyền chưởng quản của Đức Phật Mẫu nên Chơn Thần là một thể vô hình bất tiêu bất diệt, luôn luôn tiến hóa hay ngưng trệ, do mỗi lần tái kiếp được dày công hay đắc tội.

 a) Chơn Thần trên trần thế

Lúc sống nơi trần thế, vai trò của Chơn Thần là:
- Trung gian liên kết giữa xác phàm và Chơn Linh,
- Yếu tố quyết định đầu kiếp hay thăng thiên,
- Giữ cho ba xác thân tinh khiết thanh nhẹ.

Nhiệm vụ trung gian

Sau khi nhập vào xác phàm, Chơn Thần luân lưu khắp cơ thể con người, làm trung gian liên kết giữa thể xác và linh hồn[37] và mang phận sự dìu dắt phàm thể hành động theo thiên lý và làm động cơ lưu chuyển của linh hồn tức biểu tượng cho sự sống[38].
Đầu kiếp

            Chơn Thần nhờ Chơn Linh ngự trị ban cho thiện ý chế ngự dần dần ác tính. Nếu không làm tròn nhiệm vụ lại chiều theo đòi hỏi của xác thân và lục dục thất tình, thì Chơn Thần bị ô trược, oan nghiệt chồng chất. Vì vậy mà chỉ có Chơn Thần phải đi đầu kiếp trả quả vì trong Chơn Thần có chứa nhiều tính cũ và mới. Tính cũ là những tính nhiễm tạo từ nhiều kiếp trước (lưu tính), còn tính mới là những tính nhiễm tạo trong kiếp hiện tại. Trước khi xuống trần đầu kiếp, chư Phật nơi Tạo Hóa Thiên dùng huyền diệu biến đổi cái Chơn Thần cũ thành cái Chơn Thần mới theo đúng nghiệp lực của nó, rồi phủ lên đó một tấm màn bí mật che lấp hết các ký ức cũ. Chơn Thần mới chỉ là biến tướng của Chơn Thần cũ.Trên trần thế, Chơn Thần đã quên kiếp trước mà đi lập công bồi đức, phụng sự vạn linh nhằm lánh kiếp luân hồi.

b) Chơn Thần về cõi vô hình

            Sau khi lìa khỏi xác phàm, Chơn Thần làm động cơ chuyên chở Chơn Linh về Trời như Thượng Đế dạy:

Chơn Thần xuất khỏi xác phàm phu,
Nương gió bay lên cảnh tuyệt mù.[39]

            Tốc độ của Chơn Thần như là ánh sáng. Chớ Linh Hồn mà bỏ đặng xác thịt nầy rồi thì trong bốn biển nháy mắt đến nơi tận chốn[40]. Chơn Thần có khả năng đến và đi một cách nhẹ nhàng, nhanh như làn sóng điện, nhẹ như đám mây bay.

Năng lai năng khứ khinh khinh,
                Mau như điển chiếu, nhẹ thành bóng mây.

            Mức độ thăng thiên của Chơn Thần phụ thuộc vào phẩm chất thanh nhẹ hay ô trược của Chơn Khí rút ra từ thực phẩm.

   2. Chơn Khí


             Từ thực phẩm và khí trời, xác phàm sản xuất ra Tinh, Tinh biến ra Chơn Khí, Chơn Khí nuôi dưỡng Chơn Thần và cơ thể. Phẩm chất Chơn Khí sẽ làm Chơn Thần thanh khiết hay ô trược. Để có một Chơn Thần tinh khiết: Cái Chơn Thần ấy mới đặng phép đến trước mặt Thầy[41] thì người tu Đạo ý thức được rằng ẩm thực hàng ngày rất quan hệ đến phẩm chất Chơn Khí và Chơn Thần.

           
 a) Chơn Khí theo Đạo

            Cấu tạo

            Cơ thể lọc lấy Chơn Tinh của thực phẩm, Chơn Tinh được Hỏa Tinh đốt nóng, bốc hơi trở thành Chơn Khí.  Hỏa tinh là sức nóng của Dương quang tạo thành. Nhờ sức nóng ấy nung nấu Chơn Tinh mới bốc thành Chơn Khí[42]. Chơn Khí bao bọc và nuôi dưỡng Chơn Thần[43].
                 Các vật thực vào tì vị lại biến ra khí, khí mới biến ra huyết. Nó có thể hườn ra nhơn hình mới có sanh sanh, tử tử của kiếp nhơn loại[44].


            Nhiệm vụ

            Chơn khí bao bọc và nuôi dưỡng Chơn Thần tạo thành đệ nhị xác thân. Đồng thời Chơn Khí trở thành điển quang làm trung gian tiếp điển của Chơn Thần và Chơn Linh[45]. Chơn Khí cũng là sợi dây ràng buộc xác phàm với Chơn Thần. « Chơn Khí tiết ra bởi bảy dây oan nghiệt, mà người ta gọi là thất phách »[46]. Lúc tín đồ qui tiên, chức sắc Cao Đài cắt đứt những sợi dây Chơn Khí bằng hành Phép Đoạn Căn để giải thoát Chơn Thần khỏi xác phàm.


            Hình ảnh

            Chơn Khí là sự tiết khí của Chơn Tinh thực phẩm, khí trời, trong sạch hoặc ô trược mà hóa nên hình sắc hào quang (aura) như Đức Cao Thượng Phẩm tả « Như Chơn Khí toàn trong trắng, chí Thánh, thì nó là một hào quang sáng chói, còn chưa được Thánh chất thì nó màu hồng; còn như ô trược, thì nó lại là màu tím. Những hào quang ấy bao phủ lấy thể xác đặng tiếp điển cùng Chơn Linh hay Chơn Thần ».
            Hào quang của Chơn Khí tỏa ra có thể nhìn thấy được bởi:
- Đấng Thiêng Liêng nhìn màu sắc hào quang biến đổi mà biết được tâm ý người đó như thế nào,
- Hình ảnh hào quang được chụp ra hình bằng máy chụp hình Kirlian do một người Nga sáng chế.

b) Ý nghĩa thông thường

            Theo đông y, Chơn Khí được gọi là chính khí rút ra từ tinh ba thực phẩm, khí trời. Tuy chỉ một chính khí duy nhất luân lưu khắp cơ thể nhưng chính khí được gọi nhiều tên khác nhau tùy theo nhiệm vụ, vị trí lưu hành của chính khí. Thí dụ, chính khí trong kinh mạch gọi là dinh khí, ở ngoài da bảo vệ cơ thể gọi là vệ khí…
            Chính khí hợp với nguyên khí (Chơn Thần) di chuyển cùng với máu huyết khắp cơ thể. Chính khí có thể bịnh vì thực phẩm, khí trời và tình cảm thái quá.
            Về nguồn nhiệt năng, động cơ sản xuất trông cậy vào rất nhiều nguồn nhiệt năng xuất phát từ 2 nguồn: nhiệt và hỏa.
            - Nhiệt từ khí dương Tiên Thiên[47] (Hỏa tinh) tạo thành. Nhờ sức nóng ấy nung nấu, Chơn Tinh mới bốc thành Chơn Khí [48] .
            - Hỏa thuộc về khí Hậu Thiên được phân biệt: tướng hỏa trong can, quân hỏa trong tim. Hỏa Hậu Thiên dễ dàng bị xáo trộn bởi ngoại cảnh, tình cảm, thực phẩm. Thí dụ nóng giận, uống rượu, bất bình là làm can hỏa bốc lên, mặt mày đỏ ké, chân tay run rẩy…
            Khi thực phẩm vào đến trung tiêu (tì, vị, tiểu trường), nguyên khí âm và nguyên khí dương khởi động cơ quan tiêu hóa gạn lọc lấy Tinh của thực phẩm rồi vận chuyển Tinh lên thượng tiêu (tim, phổi) hiệp với khí trời mà biến Tinh hóa Khí (chính khí hay Chơn Khí) và Ngươn Tinh (máu huyết). Từ đó khí huyết trải ra khắp cơ thể. Huyết vận chuyển trong các huyết mạch hữu hình đi nuôi dưỡng các tế bào của nhục thể. Huyết di chuyển được là nhờ Khí làm động cơ chuyển vận nên có câu «Khí tới đâu huyết tới đó »[49].


3. Tại sao không ăn mặn?
             
            Ăn mặn là ăn thực phẩm từ động vật. Vì chứa nhiều chất đạm và chất độc làm tiêu hóa chậm hay khó, thực phẩm động vật cung cấp Tinh ô trược. Tinh ô trược sản xuất ra Chơn Khí ô trược. Chơn Khí ô trược bao bọc và nuôi dưỡng Chơn Thần khiến Chơn Thần ô trược theo. Vì vậy, trong vấn đề ăn uống, bản năng thú tính[50] của xác phàm thích ăn mặn có thể cản trở con đường tu Đạo[51] tại thế là vì: trong thịt đã chứa sẵn các thú chất, do đó làm cho tinh thần thường bị mê muội[52].
   Người luyện Đạo cầu thanh tịnh không nên ăn mặn là vì những lý do sau.

            Khí Hậu Thiên nặng nề

            Ăn mặn nhiều huyết nhục nên sản xuất ra nhiều khí Hậu Thiên (Chơn Khí, âm) uế trược bao phủ Chơn Thần (khí Tiên Thiên) khiến Chơn Thần ô trược, hào quang mầu tím, u tối mờ đục che lấp Chơn Linh. Chơn Linh bị che lấp, Chơn Thần sẽ không kềm chế được đòi hỏi của xác phàm nên chẳng tránh khỏi thất tình lục dục[53] sai khiến mà gây ác nghiệt, oan khiên.  Chớ ăn mặn, bị cơ ngẫu Hậu Thiên do ở khí chất nặng nề trọng trượt hóa sanh ra, thì người tu hành dùng nó ắt luyện Đạo bị âm khí Hậu Thiên mà Chơn Thần mờ ám, không xuất ra khỏi xác thân[54].

Xác phàm chất trượt nặng nề,
Linh hồn chôn chặt không bề nhảy ra[55].

            Gây tội ác, tổn công đức

            Tất cả các thứ thịt đều là chất tinh huyết ô uế còn chứa lòng uất hận của con vật bị giết nên biến thành độc khí lưu trữ trong tế bào. Hơn nữa, chất đạm chứa nhiều chất độc nên tiêu hóa chậm hay khó[56], làm cho xác phàm và Tinh ô trược.  « Vì vậy Thầy buộc các con trường trai mới đặng luyện Đạo [57]».

          Khó ra khỏi xác phàm

             Trên đường thiên lý ngoại, Chơn Thần là động cơ chuyên chở Chơn Linh thăng lên các tầng Trời. Tốc độ thăng thiên phụ thuộc vào bản chất thanh tịnh hay ô trược tạo bởi khí chất rút ra từ Tinh thực phẩm. Nếu bổ Khí Hậu Thiên để nuôi dưỡng khí Tiên Thiên bằng ăn mặn sẽ làm cả xác phàm lẫn Chơn Thần ô trược. Lúc qui liễu, Chơn Thần và Linh Hồn khó thoát khỏi xác phàm. Vì vậy mà Thượng Đế ban cho bí pháp Phép Đoạn Căn cứu giúp tín đồ lúc qui tiên.

           
            Không vào được Thượng Giới

            Ăn mặn sẽ làm xác phàm và Chơn Thần ô trược khiến Linh Hồn khó bề thăng thiên, sẽ không vào được Thượng Giới: «Các con nếu ăn mặn mà luyện Đạo thì Chơn Thần bị Khí Hậu Thiên làm cho nhơ bẩn nặng nề mà khó thể xuất ra khỏi vùng Trung Giới được[58]».

            Tiếp tục kiếp đọa trần

            Nếu ăn mặn thì hãy nghe Thượng Đế dạy: « Nếu như các con còn ăn mặn luyện Đạo rủi có ấn chứng thì làm sao giải tán cho đặng? Như rủi bị hườn, thì đến khi đắc Đạo, cái trược khí vẫn còn, mà trược khí là vật chất tiếp điển thì chưa ra khỏi lằn không khí đã bị sét đánh tiêu diệt. Còn như biết khôn thì ẩn núp tại thế làm một bậc « Nhân Tiên », thì kiếp đọa trần chưa mãn.

            Tân Luật

            Vì những lý do trên mà Tân Luật cấm dùng vật thực cúng tế vong linh mà phải dùng toàn đồ chay[59]. Người bổn đạo chuyên nghệ gì làm sát sanh, hại vật cũng như người buôn bán rượu mạnh, a phiến thì phải đổi nghề[60].

            Tóm lại, Tinh của thịt thú cầm làm Chơn Khí uế trược. Chơn Thần được nuôi dưỡng bởi Chơn Khí uế trược thì cũng bị uế trược theo mà gây tội lỗi. Trái lại, thảo mộc cho tinh ba làm Chơn Khí thanh nhẹ nên khí Tiên Thiên (Chơn Thần) sẽ tinh khiết. Khi qui hồi Thượng Đế, người tu phải nhớ rằng Thái Cực là khối khí Chơn Dương, mà chỉ có thanh khí tức Chơn Thần thanh khiết như khí Tiên Thiên mới có thể đến được khối khí Chơn Dương, vì vậy mà chỉ có một Chơn Thần tinh khiết thì mới được đến trước mặt Thầy.

           





8
Cao Đài ẩm thực



với tín đồ Cao Đài, mục đích tối hậu của tu Đạo là qui hồi Thượng Đế. Trong các hành trang được sửa soạn cho của cuộc hành trình này thì có hành trang ăn chay. Ăn chay để tinh khiết hóa Chơn Khí tức tinh khiết hóa Chơn Thần. Và, sau khi qui tiên, nhờ ăn chay mà Chơn Thần thanh nhẹ chuyên chở nhanh chóng Chơn Linh về Thượng Giới.


1. Ăn chay và tín ngưỡng

           
Một xác phàm tinh khiết

Việc quan trọng của tu Đạo là phải có một xác phàm tinh khiết. Tại sao? Đức Chí Tôn trả lời: «Phải có một thân phàm tinh khiết mới xuất Chơn Thần tinh khiết, nó phải có bản nguyên chí Thánh, chí Tiên, chí Phật mới xuất Thánh Tiên Phật đặng »[61].

Muốn có một xác phàm tinh khiết thì phải ăn chay «Còn hoa quả, thảo mộc lại hấp thụ khí âm dương trời đất mà sống mãi, nên người tu hành phải ăn thảo mộc cho có khí chất nhẹ nhàng[62]».
Tại sao xác phàm thanh khiết nhờ ăn chay?
Các loại thực vật cung cấp Tinh thực phẩm bồi bổ thể xác (Đệ Nhất Xác Thân). Tinh (hữu hình) này sẽ chuyển biến sang dạng vô hình là Chơn Khí (khí Hậu Thiên) nuôi dưỡng khí Tiên Thiên Chơn Thần (Đệ Nhị Xác Thân). Chơn Khí hiệp cùng Chơn Thần làm động cơ cho Tinh và Chơn Linh luân lưu.
Trong guồng máy chuyển biến của Tinh thực phẩm thì thực vật cung cấp Tinh thanh khiết. Tinh thanh khiết sản xuất ra Chơn Khí thanh nhẹ nuôi dưỡng Chơn Thần. Nhờ vậy mà Chơn Thần tinh khiết và sẽ giữ cho Chơn Linh (Đệ Tam Xác Thân) trong sáng, thánh thiện, an tịnh, tinh tấn huyền diệu: « phải trường trai mới đặng linh hồn tinh tấn[63]». Vì vây mà tín đồ Cao Đài tuân theo giáo lý và tôn trọng nguyên tắc của ăn chay.

Đến trước mặt Đức Chí Tôn

Thánh Ngôn nói rõ là chỉ Chơn Thần tinh khiết mới đến được trước mặt Thầy[64], còn Chơn Thần nhiễm ô trược trần thế, không kiềm chế được xác thân mà gây tội lỗi thì đi chuyển kiếp, đầu thai.
            Đức Cao Thượng Phẩm giáng cơ giải thích [65]: «Khi thể xác đã mất sự sống của nó thì điển của âm dương trong thể xác bay ra cùng Chơn Thần, hễ là xác trong sạch thì khí dương hợp với Chơn Thần bay về cõi Thiêng Liêng và do nơi nê hườn cung là cửa. Còn thể xác ô trược thì khí âm tiết ra hợp với Chơn Thần mà giáng xuống vật chất đặng chờ chuyển kiếp mà do nơi đầu ngón chân cái là cửa ».

          Biến tính Hậu Thiên thành Tiên Thiên

Khí Tiên Thiên (Chơn Dương và Chơn Âm) hiện hữu trước khi có trời đất hữu hình. Đặc tính: thanh nhẹ, tinh khiết tự nhiên.
 Khí Hậu Thiên tức Chơn Khí rút ra từ khí trời và Tinh thực phẩm có nhiệm vụ bao bọc và nuôi dưỡng khí Tiên Thiên. Đặc tính: có thể tinh khiết hay ô trược tùy theo thực phẩm hấp thụ của người tu Đạo.
Mục đích biến Hậu Thiên Thành Tiên Thiên. Hai thể khí phải có cùng bản chất tinh khiết, thanh nhẹ thì mới hòa hiệp với nhau được vì vậy mà khí Hậu Thiên (Chơn Khí) phải thanh khiết như khí Tiên Thiên (Chơn Thần) thì mới có thể hiệp với khí Tiên Thiên (Chơn Dương tức Thượng Đế).
Tiến trình biến tính Hậu Thiên (Chơn Khí) thành tính thanh nhẹ của Tiên Thiên (Chơn Thần) trông cậy vào ăn chay như Thánh Ngôn dạy: Mượn cái xác phàm này mà lấy ngươn tinh (khí, huyết) rồi luyện ngươn tinh cho thành ngươn khí thì tính Hậu Thiên trở thành Tiên Thiên… Luyện ngươn khí là nuôi lấy ngươn Thần cho sáng suốt[66]. Diễn biến này giải thích :« Sự ăn chay là bổ cho Tiên Thiên, còn ăn mặn lại bổ cho Hậu Thiên[67]» tại sao «Thầy buộc các con trường trai mới đặng luyện Đạo[68]».  

          Thăng thiên dễ dàng

            Trên đường thăng hoa qua các tầng trời và các cõi của thể tinh khí, mức độ và tốc độ thăng hoa của Chơn Linh tăng theo tỉ lệ thuận với phẩm lượng tinh khiết của Chơn Thần mỗi người lúc sống ở trần thế. Chơn Thần vốn là chất dương hiệp với Khí Tiên Thiên có chứa điện quang. Đó là lý do Chơn Thần buộc phải tinh khiết, thanh nhẹ hơn Khí Hậu Thiên thì Chơn Thần mới vượt ra khỏi được vòng càn khôn vạn vật hữu hình và tránh bị điện quang của Khí Tiên Thiên tiêu diệt[69].
            Bát Nương giáng cơ chỉ dạy: Muốn qua khỏi cửa Âm Quang thì phải ăn chay. Vì vậy Thượng Đế buộc ăn chay là để qua cái quan ải ấy.
            Nếu xác phàm trường chay, Chơn Thần xuất ra trong sáng nhẹ nhàng, dễ dàng bay ra khỏi bầu khí quyển (siêu thăng) có hào quang trắng, sáng chói trong suốt.

           Giữ được giới cấm

            Nhờ ăn chay, con người kềm chế được thất tình lục dục, giữ được ngũ giới cấm: không sát sanh, không tửu nhục, không tà dâm, không du đạo, không vọng ngữ. Nhờ ăn chay, lòng dục lắng xuống mà «bất tà dâm »,  không ăn thịt động vật, không giết hại chúng, vì thế tránh được sát sanh. Không ăn thịt ắt hẳn sẽ không dùng rượu nhiều nên có thể tránh được tửu nhục, tránh được tà dâm, lòng tham vật chất chẳng còn, nên «bất du đạo », tâm hồn thanh cao mà « bất vọng ngữ » tức tránh nói dối, lường gạt người khác để đem lợi ích về cho mình .

           Luyện tập Bi, Trí, Dũng

            Ăn chay không giết hại động vật là Bi; biết động vật sẽ tiến hóa thành người nên không giết là Trí; khước từ được cám dỗ của rượu thịt, của dục vọng… là Dũng.

          Tránh luân hồi quả báo

             Thảo mộc và ngũ cốc là hai thứ sanh vật được Thượng Đế dành để nuôi người.

Từ bi ngũ cốc đã ban,
Dưỡng nuôi con trẻ châu toàn mảnh thân.

            Ăn chay là thuận theo Thiên Ý để mở rộng vòng nhân ái từ bi, chủ trị phàm tâm, phát huy thiên tánh, tránh tạo nghiệp ác báo, hỗ trợ cho trì giới, nhất là giới sát sanh[70]. Khi sống ăn thảo mộc, chết thì xác phàm trở về đất: Nhục thể thổ sanh hoàn tại thổ[71] và thảo mộc ăn lại xác thân thế là hòa không ai nợ ai mà tránh được quả báo luân hồi. Ăn chay và làm công quả mới đạt ngôi vị Tiên, Phật là thế.

          Tôn trọng luật hóa sanh

« Vì vạn vật do Đức Từ Bi mà sanh hóa trong cả thế gian, vậy vạn vật đồng nhứt thể. Tánh háo sanh của Đức Đại Từ Bi cũng nhân đó mà vô biên, vô giới. Còn chúng ta là một loài trong vạn vật, thì chúng ta cũng ở trong luật hóa sanh ấy. Vì vậy mà hễ giết một mạng sống thì đau lòng Đức Đại Từ Bi, mà hễ đau lòng Đức Đại Từ Bi, thì Thiên sầu Địa thảm[72]… ».
           
            Tóm lại, Tinh rút ra từ thực phẩm, khí trời ô trược sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến phẩm lượng của khí Hậu Thiên (Chơn Khí). Chơn Khí ô trược sẽ làm cho Chơn Thần gây tội lỗi. Muốn có một Chơn Thần trong lành thì con người phải lo hành trang Chơn Khí. Hành trang này được sửa soạn bởi tín đồ Cao Đài là ăn chay để sản xuất ra Tinh trong lành, Tinh trong lành sẽ chuyển hóa ra Chơn Khí thanh nhẹ để nuôi dưỡng Khí Tiên Thiên (Chơn Thần).

 Hậu quả chay mặn trong cõi Thiêng Liêng

            Sau khi lìa khỏi xác phàm, Chơn Thần làm động cơ chuyên chở Chơn Linh về Trời như Thượng Đế dạy:

Chơn Thần xuất khỏi xác phàm phu,
Nương gió bay lên cảnh tuyệt mù.[73]

  Chơn Thần có khả năng đến và đi một cách nhẹ nhàng, nhanh như làn sóng điện, nhẹ như đám mây bay.

Năng lai năng khứ khinh khinh,
                Mau như điển chiếu, nhẹ thành bóng mây.

            Trong cõi vô hình, tốc độ bay và vượt qua các đoạn đường khó khăn đều phụ thuộc vào sự thanh nhẹ của Chơn Thần. Cuộc đăng trình qui hồi sẽ dễ dàng nếu xác phàm ăn chay khiến cho Chơn Thần xuất ra trong sáng nhẹ nhàng, dễ dàng bay ra khỏi bầu khí quyển (siêu thăng). Bát Nương giáng cơ chỉ dạy: Muốn qua khỏi cửa Âm Quang thì phải ăn chay. Vì vậy Thượng Đế buộc ăn chay là để qua cái quan ải ấy. Cho nên Thượng Đế dạy: Vì vậy, Thầy buộc các con trường trai mới đặng luyện Đạo[74].
            Tóm lại, xác phàm cùng Chơn Thần thanh hay trược là tùy thuộc vào phẩm chất của tinh ba thực phẩm chay hay mặn. Thường thì ngũ cốc, thảo mộc cho tinh ba thanh, thú cầm cho tinh ba trược. 


2. Điều cấm kỵ

            Thực phẩm thảo mộc nào nên tránh ăn? Đạo Cao Đài chỉ đề cập đến ngũ vị tân (ngũ huân) tức là 5 mùi cay, nồng[75] : hành, hẹ, tỏi, kiệu, nén[76] có chất kích thích, mùi hôi. Bởi vậy như loại ngũ huân, loại ăn vô có thể làm cho yếu ớt linh hồn thì lẽ nào không cữ [77]?

            Theo Tân Luật các vị chức sắc còn nhiệm vụ phổ độ chúng sanh không bị bắt buộc cữ ngũ vị tân. Nhóm tu thượng thừa luyện Đạo trong tịnh thất thì phải cữ[78]. Tu theo Tiên giáo thì không kiêng kỵ ngũ vị tân, hễ là thảo mộc thì ăn được.

            Còn các tín đồ thì nên nghe Ngài Bảo Pháp Nguyễn Trung Hậu. Trong quyển sách Thiên Đạo, Ngài Bảo Pháp khuyên ăn chay cũng không nên tuyệt đối, viết : Cái nguyên tắc của sự ăn chay là ăn toàn những chất thuộc thảo mộc, thì năm thứ hành, hẹ, tỏi, kiệu, nén gọi là ngũ huân cũng là thảo mộc. Có cữ chăng là những bậc công cao quả dày, tham thiền nhập định, vì nó có tính cách kích thích và thương tổn tinh thần. Vậy, việc ăn chay cũng như việc tu hành, không nên thái quá mà cũng không nên bất cập.

            Trong kinh Lăng Nghiêm Q.8, Phật dạy: Các chúng sanh cầu Thiền Định không nên ăn năm món cay nồng của thế gian là hành, hẹ, tỏi, kiệu, nén[79]. Vì năm món cay nồng đó nếu ăn chín thì phát dâm, ăn sống thì sinh nóng giận.

 3. Trai kỳ[80] Món chay

          a) Trai kỳ

            Ăn chay một số ngày nhất định trong mỗi tháng âm lịch, ngày còn lại thì ăn mặn. Theo Tân Luật, hai loại trai kỳ cho các tín đồ cấp hạ thừa: lục trai và thập trai.
            Lục trai: 6 ngày mỗi tháng âm lịch (1, 8, 14, 15, 23, 30 hoặc 29 nếu tháng thiếu) để tín đồ tập sự quen dần ăn chay để tiến lên thập chay. Tín đồ chỉ được hưởng làm bạt tiến trong tang lễ (bạt tiến: lễ đề cử dâng lên các Đấng Thiêng Liêng xin cứu giúp vong hồn cho được siêu thăng).
            Thập trai: 10 ngày mỗi tháng (1, 8, 14, 15, 18, 23, 24, 28, 29, 30 hoặc 27), mới được nhìn nhận tín đồ chánh thức của Đạo Cao Đài và được thọ hưởng các bửu pháp khi qui liễu, thí dụ như phép bí tích Độ Hồn.
            Trường trai
            Các tín đồ bực thượng thừa ăn chay mỗi ngày (không ngày nào ăn mặn)

          b) Món chay

            Các thức ăn chay của tín đồ Cao Đài chỉ là thảo mộc như rau cải, hoa quả, đậu hũ, tương chao, các loại nấm… giống như cách ăn chay của tín đồ Phật giáo Bắc truyền ở Nam Bộ.Tín đồ Cao Đài có thể hút thuốc, ăn trầu, nhưng không được khuyến khích vì cho rằng có hại cho sức khỏe, có thể dùng bơ, sữa động vật và trứng gia cầm không trống (trứng không được thụ tinh) để chế biến thức ăn chay nhất là đối với những tín đồ khi đau ốm, cần nhanh chóng phục hồi sức khỏe để lo công quả .
            Thức ăn chay của tín đồ Cao Đài trong ngày thường được chế biến đơn giản, nhưng trong các ngày lễ, tết lại rất cầu kỳ, khéo léo. Các món ăn thường thấy trong các ngày này là:
 -gỏi được làm từ ngó sen, cà rốt, đậu hũ, nấm rơm… ăn với bánh phồng chay,
 -Ra gu được nấu với các loại củ như cà rốt, cải trắng, khoai lang, khoai tây, nấm các loại, đậu hũ… ăn với bánh mì.
-Trộn được làm từ phù chúc cọng (luộc xé như thịt gà xé phay), trộn với rau răm, hành củ, muối tiêu chanh.
-Canh chua, canh khổ dồn nhân vào trong (nhân được làm từ nấm mèo, đậu hũ). Trong các bữa tiệc, còn có thêm món lẫu chay, bún xào chay…
Trong dịp lễ, tết, làm thêm bánh tét chay, bánh ít chay, vịt tiềm chay, các loại mứt như khổ qua, dừa, bí… hết sức tinh xảo, đẹp như bánh bươm bướm, các loại bánh có hình dáng trái cây nhân đậu xanh, cho nên, ngoài khía cạnh tôn giáo, ẩm thực của tín đồ Cao Đài có những yếu tố đặc trưng rất « nghệ thuật » thể hiện qua hình thức, cách chế biến… Điều này đã đóng góp thiết thực vào văn hóa ẩm thực của người Việt.





8
Thực phẩm chay



 An mặn[81] là ăn cả thực vật rau trái lẫn động vật phi cầm, tẩu thú, thủy tộc. Còn ăn chay hay trai (thanh tịnh sạch sẽ) là ăn các loại thực phẩm phát xuất từ thảo mộc, ngũ cốc, rau trái cung cấp Tinh thực phẩm thanh nhẹ.  
            Thực phẩm chay được chia làm 2 loại nhằm quân bình khí âm dương và chất dinh dưỡng.
- Thực vật dinh dưỡng Đệ Nhất Xác Thân (tinh)
- Thực vật theo khí âm dương liên quan đến Đệ Nhị Xác Thân (thể khí),


 1. Thực vật theo chất dinh dưỡng

            Khi nói đến các chất dinh dưỡng là đề cập đến nuôi dưỡng thể xác. Về các chất dinh dưỡng trong thực vật, Tây phương đã nghiên cứu rất tường tận và khoa học, hướng dẫn dân chúng theo phép dinh dưỡng quân bình và đo lường giữa các chất đạm protid, chất béo lipide, chất đường glucid, sinh tố, chất khoáng, sợi xơ (cellulose), vôi calcium, lân (phosphor), chất ma nhê (magnesium), chất i ốt (iodine), natri (sodium), kali (potassium) v.v.
            Riêng về chế độ ăn chay, đậu nành là thực phẩm nồng cốt của dinh dưỡng vì đậu nành chứa một tỷ lệ chất đạm cao nhứt (trên 30%) và chứa nhiều chất béo không bão hòa[82]. Đậu nành là vật liệu cơ bản để sáng tạo các món chay như tàu hũ chiên, kho, xào, hấp, nấu canh, tương, miso, chao, xì dầu, sữa đậu nành….
            Muốn nuôi dưỡng xác phàm bằng thực vật một cách hợp lý và khoa học, độc giả có thể dựa vào cả ngàn cuốn sách và các nghiên cứu khoa học. Cuốn sách này chú trọng đến phần nuôi dưỡng thể khí vì rất ít người nghiên cứu và đề cập đến.

2. Thực vật theo khí âm dương

            Nhóm thực phẩm này nhằm giúp khí lực dồi dào tức bổ dưỡng thể khí. Tuy nhiên thực phẩm theo khí âm dương cũng có thể làm ta suy nhược nếu ẩm thực không tương xứng thiếu cân đối vì chọn khí hoặc nấu nướng không đúng cách.
            Trong bảng dưới đây, thực vật được sắp xếp theo cường độ nóng lạnh của khí trong mỗi thực phẩm. Độc giả cần lưu ý đến các điểm sau:
            - Các thực vật viết chữ đỏ giữ một vai trò quan trọng trong sự chuyển động khí. Là vì, chỉ khí của các thực vật đó tác động mạnh lên thể khí làm bất quân bình âm dương (nếu ăn nhiều lại không phù hợp với tạng khí) hoặc dùng để tái lập quân bình âm dương;
- Thường gặp mâu thuẫn giữa các tác giả trong việc phân chia thực phẩm theo khí[83]. Đâu là sự thực? Sự thực tìm thấy trong việc tự làm thí nghiệm trên cơ thể mình và biết quan sát những triệu chứng bất quân bình âm dương như đã trình bày trong chương về tạng khí.

            - Những chữ viết đen chỉ thực phẩm không gây xáo trộn khí, nên ăn hàng ngày và thường xuyên thì ích khí dưỡng tạng mà không quan ngại bất quân bình âm dương. Còn chữ viết màu xanh chỉ thực vật mà người Việt ít dùng


Thực phẩm

Hương liệu, nước

Rau, củ, cốc loại

Trái cây


Khí dương nóng
Vỏ quế, đinh hương, gừng, tiêu, cà ri,  bột đậu khấu, ngũ vị hương, ớt bột, ớt sa tế, cumin ; rượu, bia, rượu đế, nếp than, trà gạo lứt rang, trà sâm, chocolat





Sầu riêng, nhãn, vải, soài, mít, dứa khóm



Khí dương ấm
 rau thơm : húng, thìa là, tía tô, kinh giới, rau ôm, ngò mùi, hành, hẹ, kiệu, xả trắng, lá lốt Sauge, romarin, thym, sariette, origan, menthe


Cà rốt, hành, kiệu

ổi, lựu, hồng, chôm
chôm, quýt, đào

Khí âm lạnh
Nước lạnh,Nước khoáng,hoa cúc, tim sen,
verveine, tilleul, camomille

Khổ qua, bắp cải, su bắp lá quấn, rau mồng tơi, rau đay, rau răm, củ sắn, củ sen, củ cải đường sugar beet

Bưởi chua, chanh, dưa hấu
dâu da, chanh dây, đu đủ,
 khế, me, dưa tây muskmelon


Khí âm mát


Sữa đậu nành, tỏi, rau răm,
Bí, mướp, mồng tơi, rau dền ,rau bẹ, su hào,su su, đậu bắp, rau diếp, sà lách búp rau má, cải ngọt, cà tím; Các loại khoai củ[84], củ cải đường khoai tây ; Dầu[85] : mè, ô liu, bắp, đậu phụng, canola



Thanh long, cam, nho, mận, dâu tây dưa tây






Bình âm dương

Cốc loại : gạo, lúa mì, bắp, lúa mạch, kiều mạch; loại đậu (lăng ti, đậu đũa, ván, ngự, nành, phụng, xanh, đen đỏ,) ;Hạt : sen, óc khỉ, hạt điều, hạt dẻ, hạnh nhân, hạt thông, mè, quả hồ đào pecans, quả hồ trăn pistachios,
các loại rau cải, sà lát, măng tre củ cải, bắp chuối, rau muống, mướp, rong biển salad soong, rau khoai, diếp quấn đắng, nấm; khoai sọ, khoai môn, khoai lang, khoai mì, khoai từ; bí đỏ, bí rợ, bí đao ; đậu đũa, đậu ván ; bí đao xanh, bầu, mướp đắng,cà pháo, cà tím, rong biển, rong câu




Vú sữa, anh đào sơ ri, chôm chôm, lựu, tắc, trái mơ, trai bơ, mãng cầu, lựu pomegranate, sapodilla hồng xiêm; măng cụt, chuối, roi, dừa, lê, na, táo, cerise, nectarine
             

            Lúc ta còn trẻ, khỏe mạnh, ẩm thực được lựa chọn theo khẩu vị cá nhân. Đến một tình trạng sức khỏe và tuổi nào đó, mặc dầu ngoan ngoãn ăn uống đúng phép cân bằng các chất dinh dưỡng, sinh tố, khoáng chất theo đúng tiêu chuẩn khoa học mà chúng ta vẫn suy yếu, hết bệnh này đến bệnh kia. Lúc đó, dù là ăn chay hay mặn, là lúc chúng ta suy nghĩ cách chọn lựa và nấu nướng thực phẩm để quân bình khí âm dương và giảm nhẹ công việc của tạng phủ già yếu bằng cách ăn thực vật nhiều hơn.

            Sau khi đã tìm thực phẩm cho chính mình, vừa thỏa mãn nhu cầu dinh dưỡng theo khoa học, vừa thích hợp với tạng khí âm dương, là lúc ta ý thức rõ ràng cân lượng chất dinh dưỡng (hữu hình) theo khoa học và phép quân bình khí âm dương (vô hình) đi bình hành như bóng với hình bảo vệ sức khỏe con người.



 3. Ăn chay đúng cách

            Dù mục đích ăn chay là phòng bệnh, trị bệnh hay tu hành thì ăn chay vẫn phải đúng cách, nghĩa là:
            - Biết ăn đa loại thực vật, biết phối hợp nhiều loại thức ăn với nhau, thay đổi tùy theo tuổi tác, tùy theo nếp sinh hoạt chuẩn bị kỹ lưỡng dựa trên cơ sơ dinh dưỡng quân bình để tránh thiếu chất đạm, sinh tố, khoáng chất…
            - Quân bình khí âm dương và chất dinh dưỡng có nghĩa ăn nhiều thực vật quân bình khí âm dương (rau, trái, củ, ngũ cốc…) và ăn thực vật hạp với tạng khí, - Xem chừng các thực vật có khí quá nóng (như rượu, gia vị cay…không hạp với tạng dương) hay quá lạnh (nước lạnh, dưa hấu… gây bệnh cho người tạng âm),  
            - Quân bình giữa qui nạp và tiêu thụ của khí dưới hình thức calo bằng dựa vào cách tính của khoa học số calo cần thiết cho mỗi hoạt động, tuổi tác… của mỗi người,
            - Ẩm thực vừa theo một lý tưởng tôn giáo giữa đồng đạo vừa khoái khẩu với sự khéo léo dùng mùi vị (rau thơm, ớt, tiêu…) làm cho tô canh chua ngọt ngào, nấm sào tươi mát…

Ăn chay đúng cách = quân bình âm dương+đa loại+tín ngưỡng+thú vị

Ăn chay không đúng cách nghĩa là :
- Khí thực vật không thích ứng với tạng khí. Thí dụ các triệu chứng lâm sàng của tạng âm (người lạnh xanh xao, áp xuất huyết thấp, tiểu nhiều, tim đập mạnh, lãnh cảm…) sẽ gia tăng nếu lạm dụng thực phẩm âm như dùng dưa hấu, nước lạnh, uống trà cúc, lá verveine…
- Ăn không đủ chất dinh dưỡng (chất đạm, béo, đường), sinh tố, chất khoáng nên có triệu chứng người ốm yếu, thiếu sức lực thể xác...


4. Nguyên tắc ăn chay

               Nhờ tiến bộ khoa học tìm ra các loại sinh tố và chất dinh dưỡng nên ngày nay những bệnh do thiếu sinh tố và dinh dưỡng không sảy ra trầm trọng chết người như ngày xưa, nhưng vẫn âm thầm hại người nếu người không quan tâm đến thì rối loạn dinh dưỡng vẫn có thể sảy ra.  Do đó, tôi kể lại truyện các bệnh chết người hoặc bệnh nan y của ngày xưa  gây ra bởi thực phẩm để diễn tả mức quan trọng của 5 nguyên tắc ăn chay dưới đây.

 Ăn rau trái, ngũ cốc toàn vẹn ở thể tự nhiên

               Về khía cạnh khí, tại sao nên ăn thực vật toàn vẹn ở thể tự nhiên ? Theo quan niệm về khí, mỗi hạt thóc, mỗi hột đậu đều chứa sẵn một số lượng khí Tiên Thiên vô hình, không thay đổi từ hạt cho đến khi thành cây lớn. Vậy ăn một hạt đậu nguyên vẹn hoặc nảy mầm là hấp thụ số khí Tiên Thiên của cả một cây trưởng thành. Theo thuyết này, ăn một hộp đậu giá hay một hộp hạt luzerne nảy mầm bằng hấp thụ khí Tiên Thiên của cả ngàn cây đậu đã lớn.
               Một thí dụ về sinh tố, ăn một hột gạo lức nguyên vẹn thì ích lợi gì ? Năm 1878, Takati tìm ra nguyên nhân bệnh béribéri (suy nhược, xáo trộn thần kinh, mất ký, liệt, chết…) của thủy thủ là vì ăn gạo trắng không cám nên thiếu sinh tố B1 ; Năm 1898, do ảnh hưởng của Hoa Kỳ, dân Phi Luật Tân ăn gạo trắng xay nên mắc bệnh béribéri trầm trọng. Ăn lại gạo lức nên hết bịnh. Tốt nhất là hãy tránh hay giảm bớt nạp dụng rau trái nhất là cốc loại biến chế. Ví dụ như gạo mất đi chất dinh dưỡng sau mỗi lần chế biến cho trắng.

Nên ăn rau trái tươi và ăn sống

               Khoái khẩu biết bao khi thưởng thức các đĩa rau tươi vừa cắt, trái cây chín vừa hái ! Rau trái tươi cho ta nhiều loại sinh tố và khoáng chất nhất là sinh tố C. Thực phẩm thiếu đồ tươi, chỉ ăn đồ nấu chín quá hay đồ đóng hộp làm mất sinh tố C có thể sanh bệnh không ? Năm 1448, trên một hải trình 10 tháng với thực phẩm là thịt ướp muối, bánh biscuit, đoàn tàu thám hiểm của Vasco de Gama mất 100 trên 160 số thủy thủ khi đến mũi Hảo Vọng (Cap de Bonne Espérance) bởi thiếu sinh tố C nên mắc bệnh scorbut (răng rụng và viêm lợi răng, xuất huyết nội tạng, chân phù thủng và sau cùng là chết). Mãi đến thế kỷ 18, bác sĩ Lind mới tìm ra căn bệnh là vì thủy thủ không ăn rau trái tươi. 
               Khoa học cũng khuyên ta nên ăn rau trái tươi vì nhận xét thấy rau trái hái xong là bắt đầu mất đi một phần dinh dưỡng, sinh tố nhất là sinh tố C.

Ăn đa loại rau trái, cốc loại, hạt…
               Ăn đa loại để tránh thiếu chất dinh dưỡng nhất là sinh tố và khoáng chất. Từ thức ăn đến nước uống, không có loại nào có thể dùng thường xuyên một cách đơn loại và lâu ngày được, vì sẽ thiếu chất này hay chất khác mà sanh bịnh. Nếu chỉ ăn một hay hai loại thực phẩm (gạo, bắp…), đến lúc nào đó con người sẽ bịnh. Thí dụ năm 1740 tại Ý quốc, phát hiện một bịnh lạ «pella agra», da khô, viêm miệng và tứ chi, xáo trộn thần kinh dẫn đến điên khùng. Bệnh chỉ sảy ra trong dân nghèo chỉ ăn bắp và phó sản của bắp. Sau khi cho uống sữa, ăn rau trái, bệnh biến mất.
 Ăn đa dạng khí âm đương

            Nguyên tắc căn bản của ẩm thực là quân bình khí âm dương của thực phẩm bằng ăn đa loại và phù hợp vởi tạng khí. Dương thịnh, âm suy hay ngược lại là sinh bịnh. Thí dụ, độc giả nào có tạng khí nóng tức dương thịnh mà ăn nhiều thực phẩm chứa khí nóng như rượu, gia vị, soài, sầu riêng, nhãn…bệnh khí nóng như chảy máu cam, trĩ chảy máu, huyết áp cao, nóng nảy… sẽ phát sinh hoặc nặng thêm. Bệnh giảm ngay sau khi ăn uống thực phẩm khí âm lạnh như nước lạnh, các loại dưa ngọt, dưa hấu, rau trái tươi nhưng phải cắt giảm thực phẩm dương.
 Ăn khô, tránh uống lúc ăn
               Ăn khô, nhai kỹ, tránh bội thực là rất cần thiết cho tiêu hóa. Khi ăn nên tránh uống nước lạnh vì khí lạnh của nước làm nguội khí nóng của bao tử khiến khó tiêu và lâu ngày làm đau bao tử. Thí dụ, sau khí uống thuốc bao tử chống acid mà vẫn đau, bệnh có thể giảm và hết (trừ trường hợp bao tử lở loét, ung thư, lo âu thái quá) sau khi chỉ ăn uống đồ nóng kiêng mọi thứ đồ lạnh. Nên nhớ bao tử bịnh khiến sức hấp thụ sinh tố và chất dinh dưỡng giảm.

             Vậy, khi suy yếu, già cả, bịnh hoạn thì phải xét lại phương ẩm thực mà diệt trừ  thói quen xấu hay một thành kiến ẩm thực và hãy nghe nhà bác học Albert Einstein nói :«Không gì ích lợi cho sức khỏe con người, và cũng đồng thời làm tăng cơ may sanh tồn trên quả địa cầu bằng việc tiến hóa đến một chế độ ăn chay[86]» và cũng suy nghĩ về lời than của Einstein «Thời đại này thật buồn vì phá vỡ một nguyên tử dễ hơn phá vỡ một thành kiến».










[1] Thực vật sống trong biển : rong câu (Gracilaria) thuộc nhóm tảo biển mọc rất nhiều ở biển Việt Nam Như tại đầm Ô Loan ở
    Phú Yên, cỏ biển  (seagrass)
[2] Le zen macrobiotique, Lib. Philo. J. Vrin, Paris 1980, tr. 53 và 56
[3] Hoàng Đế Nội Kinh, Tố Vấn, ch.5
[4] Đa số bác sĩ vì thiếu hiểu biết về khí nên áp dụng máy móc phương trình: Viêm=vi trùng, vi trùng=trụ sinh. Nếu không phải
   do vi trùng mà dùng trụ sinh, bệnh không hết mà còn làm hại các vi khuẩn trong ruột…
[5] Toa thuốc ngự tửu Minh Mạng thang. Một số người Việt truyền tay nhau toa thuốc bổ khí của vua Minh Mạng với phụ đề «
    nhất dạ lục giao sanh ngũ tử ». Không biết đó là nguyên bản hay không, nhưng một điều mà tôi biết chắc chắn là các vị
    trong toa (do một người bạn trao lại) đều bồi bổ khí dương (lại ngâm trong rượu) hơi thái quá nên người uống cảm thấy
    sung sức kích thích. Nếu đàn ông khỏe mạnh hay có tạng dương mà nghe lời bạn bè dùng toa thuốc này sẽ gây dương quá
    thịnh, âm suy sanh bệnh.
[6]  Hoàng Đế Nội Kinh, Tố Vấn, ch.5
[7] Có thể do ăn đồ ngọt tráng miệng sau khi ăn cơm vì chất đường chỉ ở trong bao tử chừng 20 phút lên men, hơi bốc ra không
    đi xuống mà lại bốc lên cuống họng vì có lớp đồ ăn (thịt cá, ngũ cốc)    dưới ngăn chận. Biện pháp kiểm chứng tốt nhất là
    thử ngừng ăn đồ ngọt sau bữa ăn
[8] Theo tây phương, các vị mà lưỡi nếm thấy là những chất hóa học nhận được bởi lưỡi
[9]  Ngũ hương: hôi mốc (gan), khét cháy  (tim), thơm (tì),  khai (phế), thối (thận)
[10] Tim chủ về huyết, thận về xương, tì về thịt, can về gân
[11] Có thể thêm vị dương khác là chát
[12] Hoàng Đế Nội Kinh, Tố vấn, Ch.9 : Đất cung cấp ngũ vị cho con người…cây cỏ sản xuất ra ngũ vị
[13] Tập san Thế Đạo, số 58, tr.47
[14] Cách xông: ngồi trước một nồi nước sôi rồi trùm chăn khắp người
[15] Tiếng nói này phát xuất từ hypothalamus  trong óc
[16] Bộ Y Tế Canada chính thức khuyến cáo không được uống nước bưởi khi dùng thuốc chữa bệnh dương vật mềm nhũn
[17] Thất tình biểu lộ thái quá thì hại Ngũ Thần : Giận quá thì làm mờ Hồn trong can nên ngu dại, xúi giục làm điều trái đạo;
    buồn thái quá hại đến Chơn Thần ở phế (Phách) khiến khó thở, tinh thần suy nhược, tuyệt vọng; vui thái quá làm Thức
    Thần trong tim muốn hóa điên cuồng…
 [18] ĐTCG, tr.22
[19] Thường sảy ra ở những người theo phép giảm ký bằng đồ chua thái quá (giấm, chanh, bưởi chua…)
[20] Xem cuốn Thiên Nhơn Hiệp Nhứt của cùng tác giả
[21] Khởi đầu thì nói là « ăn mạng » rồi đổi thành ăn mặn. Ăn chay hay ăn mặn đều có vị mặn, vì vậy ăn mạng (sống) có ý nghĩa
    hơn là ăn mặn
[22] Tứ ssanh là: Thai sanh, loài sanh ra bằng bào thai; noãn sanh, sanh ra bằng trứng; thấp sanh, sanh ra do chỗ ẩm thấp như
    trùng, dế; hóa sanh loại hóa hình như đuông, nhộng
[23] TNHT/Q1/tr.110
[24] Trích: Cẩm nang thập thiện khuyến tu
[25] TNHT, tr. 171
[26] TNHT, tr. 170
[27] Ngài Giác Minh Diệu Hạnh Bồ Tát
[28] TNHT, tr. 170
[29] Nguyện Vân thiền sư
[30] Bài thi giới sát trong kinh « Lão nhơn đặc ngộ »
Thiên bá niên lai, hoản lý canh,
Oan thâm tợ hải, hận nan bình.
Yếu tri thế thượng đao binh kiếp,
Đang thính đồ môn, bàn dạ thinh.
[31] Nhất thế chúng sanh vô sát nghiệp,
   Hà sầu thế giới động đao binh
[32] Trong kinh Địa Tạng, phần thứ tư, Nghiệp cảm của chúng sanh
[33] Còn theo đông y, chính khí (Chơn Khí)  hợp với nguyên khí (Chơn Thần) luân lưu cùng với máu huyết khắp cơ thể. Chính
    khí có thể bịnh vì thực phẩm, khí trời và tình cảm thái quá
[34] Khí Sanh Quang được tượng trưng bởi chữ Khí (bùa) vẽ sau lưng tượng Đức Hộ Pháp tại Tòa Thánh
[35]« Từ ngôi Diêu Trì Kim Mẫu, xuất tích một khối Linh quang gọi là Thần. Do nơi khối ấy, chuyển đi cho các Chơn Linh đặng
    phối hiệp với các thể chất, mà làm nên đệ nhị xác thân, ấy là Chơn Thần đó vậy  » Bát Nương, Luật Tam Thể, tr.23.
[36] Kinh tán tụng Công Đức Diêu Trì Kim Mẫu 

 [37] Điều này được cụ thể hóa bởi kiến trúc Hiệp Thiên Đài
[38] Chơn Thần bao bọc thân thể như khuôn bọc vạy, nơi trung tim của nó là óc, nơi cửa xuất nhập là mỏ ác nê hoàn cung (vi hộ)
 [39] ĐTCG, tr. 100
 [40] ĐTCG, tr.24
[41] Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Q1, tr.6
 [42] Luật Tam Thể, tr.27
[43] « Cả Chơn Khí và Chơn Thần thì gọi là Phách; còn riêng về Chơn Thần thì gọi là Vía đó vậy » Luật Tam Thể, tr.20
[44] TNHT/Q1/tr.33
[45] Luật Tam Thể, tr.19: Chơn Khí là một điển quang của thể xác bốc ra, nên nó dung hợp với điển âm dương trong thể xác.
   Bởi cớ, nó là trung gian tiếp điển của Chơn Thần, là của Phật Mẫu và Chơn Linh của Đức Chí Tôn»
[46] Luật Tam Thể, tr.22
 [47] Khí dương Tiên Thiên cư ngụ tại thận dương và huyệt mệnh môn trên xương sống đối diện với rún ở bụng
 [48] Luật Tam thể, tr.27
 [49] Khí lưu hành trong các kinh mạch vô hình làm nền tảng lý thuyết đông y
 [50] «Hình chất con người vẫn là thú, phải ăn uống mới sống » TNHT/Q1.
 [51] «Thân thể con người là một khối Chơn Linh cấu kết, những Chơn Linh ấy đều hằng sống, phải hiểu  rằng:
 Hình chất con người là thú, phải ăn uống mới nuôi sự sống… để vật chất ô trược vào trong, sanh  vật  mỗi khối ăn nhằm phải bịnh, một ngày thêm một chút, hết cường tráng, cốt tủy lần lần phải chết, thì  thân thể các con phải bị chết theo» TNHT/Q/2/tr.65
 [52] Thánh Giáo Đức cao Thượng Phẩm, ngáy 9- 12-Tân Mão (1952)
 [53] Thất tình là ái, ố, hỉ nộ, ai lạc, cụ; lục dục là 6 điều ham muốn: Sắc dục, thính dục, hương dục, vị dục, xúc dục, pháp dục
 [54] ĐTCG. tr.11
 [55] NT, tr.99
 [56] Theo quan sát của khoa học: trái cây ở trong bao tử chừng 20 phút, ngũ cốc 2 giờ, thịt từ 4 đến 6 giờ
 [57] TNHT/Q1/tr.30
 [58] NT, tr.46
[59] Thế Luật, Điều thứ mười bảy: Trong việc cúng tế vong linh không nên dùng hi sanh, dùng toàn đồ chay…
[60] Thế Luật, Điều thứ hai mươi: Người bổn đạo chẳng nên chuyên nghệ gì làm cho sát sanh hại vật…không  được buôn bán
    các thứ rượu mạnh và a phiến
 [61] TNHT/ Q1, tr.30
 [62] ĐTCG, tr.11
 [63] TNHT/Q1/tr.7
 [64] Cái Chơn Thần ấy mới được phép đến trước mặt Thầy »(TNHT/Q1/tr. 6
 [65] Luật Tam Thể, tr.20
 [66]TNHT, tr.20
 [67] NT. tr.46
 [68]TNHT, tr.27
 [69] Nó vẫn là khí chất, tức là hiệp với Khí Tiên Thiên, mà trong Khí Tiên Thiên thì hằng có điển quang. Cái  Chơn Thần buộc
    phải  tinh tấn, trong sạch mới nhẹ hơn không khí, ra khỏi càn khôn đặng. TNHT/Q1, tr.29-30.
 [70] HT Lê văn Thêm, Bí pháp dâng tam bửu, bí pháp giải thoát, Ban Thế Đạo Hải Ngoại, Hoa Kỳ, 2013, tr.31
 [71] Câu đối trên thuyền Bát Nhã do Ngài Bảo Pháp Nguyễn Trung Hậu sáng tác và được Đức Lý Giáo Tông giáng cơ chỉnh
     văn: Vạn sự viết vô, nhục thể thổ sanh hoàn tại thổ
[72] TNHT-Q.2-bài 79 (21-4-1933 Quí Dậu
[73] ĐTCG, tr. 100
[74]TNHT, tr.27
[75] Hà Tiên Cô dạy:
Chay lạt là điều khử trược thanh,
Nhưng có mấy thứ hại thân sanh:
HÀNH hay khắc THẬN khôn tu tập,
HẸ vốn thương CAN, khó luyện phanh.
TỎI phạm vào TÂM, tâm tuyệt khổ,
KIỆU sa TỲ THỔ, Thổ tan tành.
NÉN và KHÓI THUỒC là tên giặc,
Công phá PHẾ KIM, Đạo khó thành.
[76]  Hưng cừ (Allium fistulosum) có hình dáng và mùi vị tương tự củ nén không có ở Trung Quốc và Việt Nam (từ điển Phật
    học Hán-Việt, NXB KHXH, tr. 806)
[77] TNHT, tr. 36
[78]Tân Luật, Tịnh Thất, Điều thứ sáu: Nhập tịnh thất rồi phải tuyệt trầu thuốc và không được ăn vật chi ngoài mấy bữa cơm. Lý do là hành hẹ cay, nồng, kích thích bộ phận sanh dục, khó tập trung mà có dâm ý thúc đẩy, dù không làm gì, nhưng ý nghĩ làm mơ tưởng việc dâm dục. Kiệu cay, nồng tác dụng bao tử ít tiết dịch vị, sình bụng, lúc đó khó công phu hay công phu không kết quả, chận Tứ Tổ qui gia nên khó tác dụng vào Ngũ Khí triều nguơn. Nén cay, nồng như Tỏi, làm hôi miệng hơi thở trược cộng thêm khói của thuốc điếu làm cho phổi dơ, còn khi hấp Hư Vô chi khí mà mùi hôi của nén làm khí Hư Vô bị trược, chẳng những không chiết Khảm đem lên điền LY mà còn bị chận khi Khí Hư Vô (Đạo) qua cửu khiếu. Ai tu lúc bá nhựt thì mồ hôi có mùi trược hôi lắm! 
[79] Thánh Ngôn sưu tập/q1, đàn cơ 16-1-1926, theo Ông Quí Cao thì Ngũ kỵ là hành, tỏi, sả, ớt, tiêu; Theo Phật giáo thì kỵ,
   Tiên giáo thì không
[80] Trai kỳ:Ăn chay một số ngày nhất định trong mỗi tháng âm lịch, những ngày còn lại thì ăn mặn
[81] Ngày xưa thì nói là ăn mạng rồi đổi thành ăn mặn
[82] Chất béo không bão hòa trong thực vật có lợi cho tim vì làm giảm cholesterol (xấu) LDL và làm tăng cholesterol HDL (tốt)
[83] Thí dụ 1: Đồ chay thuộc dương… Đồ mặn thuộc âm. theo Thuần Đức, Ăn chay, Saigon, 1928, Tr.27. Thí dụ 2, Theo
   Ohsawa, rượu vang, bia, gừng … là thực phẩm âm
[84] khoai sọ Colocasia  esculenta taro), khoai môn, khoai lang Sweet potato,  khoai mì Manihot esculenta Cassava, khoai từ (Dioscorea esculenta Potato yam ), Khoai nước (Colocasia antiquarum Aroid) Khoai mỡ Dioscorea alata Greater yam, củ đậu Pachynrhizus erosus , khoai riềng (củ dong) Maranta edulis Canna, Khoai mùng Xanthosoma sagittipolium Tannia, sắn dây Purraria thomsoni, khoai mài Dioscorea persimilis Yam
[85] Phải tránh ăn chất dầu chứa nhiều chất béo bõa hòa rất xấu nếu có vấn đề tim mạch, áp huyết động mạch thí dụ dầu chiên đi
   chiên lại nhiều lần, dầu dừa (Coprah oil, coconut oil) và dầu cọ (palm oil) trong thực phẩm banh kẹo..

[86] « Nothing will benefit human health and increase chances for survival of life on Earth as much as the evolution to a
    vegetarian diet »






No comments: