Wednesday, May 31, 2017

PHƯƠNG DUY * LẶN LỘI ĐƯỜNG XA

 

Truyện tù cải tạo
Lặn lội đường xa

Vào truyện – Trên khu cải tạo Bù Gia Mập có một con đường đất đỏ dài trên dưới hai mươi cây số, chạy dài từ khu kinh tế mới Minh Hưng, quận Bù Đăng, đi vào sóc Bombo,vòng qua Đức Hạnh, Bù Đốp. Con đường được thiết lập từ thời Đệ Nhất cộng Hoà của Chính Phủ Ngô Đình Diệm với dự tính khẩn hoang lập ấp, thành lập các khu dinh điền, vừa để chế ngự một an toàn khu của phe Cộng Sản VN. Kế hoạch đã bị bỏ dở sau sự sụp đổ nền Đệ nhất Cộng Hoà. Con đường bị bỏ hoang. Nhiều đoạn, cây rừng mọc lan ra che phủ hết,đi dưới đường nhìn lên không thấy bầu trời.. Con đường nắng lên đầy bụi đỏ, mưa xuống lại lầy lội trơn trợt. Đàn bà con gái lặn lội thăm con thăm chồng, tất cả đều phải ba lô trên vai, dép guốc cầm tay mới ráng lết đi được... Trong truyện ngắn này, người viết xin ghi lại một vài hình ảnh nhỏ bé như một lời tri ân của đứa con đến các bà mẹ, lòng biết ơn của người chồng đến các bà vợ Việt Nam tuyệt vời, một đời vất vả hy sinh cho người thân yêu của họ trong khoảng thời gian cùng quẫn khó khăn nhất của xã hội miền Nam.
X X X


Nhận được thư của Thoại gửi về qua tay chị Trang, chị mới đi thăm chồng về, Giang cảm thấy lo lắng. Nói là lá thư cho có vẻ trang trọng. Thực ra, đó chỉ là một mảnh giấy nhỏ nhàu nát. Trong thư, Thoại thăm hỏi gia đình và mẹ con nàng vài câu, thêm vài câu vắn tắt cho biết anh đang bệnh nhiều, cần thuốc thang chữa trị. Thời buổi khó khăn, tìm kiếm cái ăn cho hai mẹ con đã thật vất vả. Mà cả nước đều thế, chứ đâu riêng gì gia đình nàng. Mấy năm trời đi tù cải tạo, Thoại biết hoàn cảnh gia đình không khá, anh chưa bao giờ đòi hỏi xin xỏ gì. Nay tình hình chắc phải tồi tệ lắm mới có chuyện viết thư nhắn gửi như vầy. Vậy nàng phải thu xếp lên rừng một chuyến. Không đi, lỡ chồng có mệnh hệ gì, có lẽ sẽ ân hận suốt đời. Công việc làm ăn của Giang bây giờ càng lúc càng khó khăn. Ngành may mặc lúc trước gia công cón có đồng ra đồng vào.

Kể từ khi bị buộc vào tổ hợp, rồi tiến lên hợp tác xã, chỉ còn đồng lương cố định chết đói hàng tháng cộng với ít tem phiếu mua gạo hẩm, nước mắm thối. Dạo sau này, đến gạo hẩm cũng không còn. Tháng tháng mang tem sổ đến chỉ mua được khi thì ít mì sợi, lúc vài ký bo bo loại thực phẩm cho ngựa ăn. Nhà nước gọi nó là cao lương, nhưng nuốt vào miệng thế nào thì ỉa ra nguyện hột thế ấy. Vậy mà có khi cũng không có, phải nhận mớ ngô vàng cứng như đá hoặc bao củ lang củ sắn (khoai mì) hư thối hơn nửa. Thời những năm bốn mươi lăm, nghe nói miền Bắc người chết đói hàng loạt, nhưng hồi ấy nàng chưa sinh ra nên chẳng biết. Còn lớn lên ở cái miền Nam nhiều lúa lắm gạo này, nàng chưa thấy có thời kỳ nào thế thảm như vậy.

 Lại còn cái vụ phải xin phép nghỉ vài ngày để đi thăm chồng. Rắc rối chứ đâu có đơn giản. Có nên về nhờ vả bố mẹ tí chút nào không? Cả hai bên bố mẹ đều đã già, ruộng vườn co cóp mấy chục năm đã bị tịch thu hết ngay từ những ngày đầu xã hội chủ nghĩa. Số còn lại giờ cũng phải vào tập đoàn làm ăn tập thể, chả còn gì mà trông mong. Lấy gì để mua sắm lên thăm Thoại đây? Giang đành ngó quanh quất trong nhà coi có gì còn tí chút giá trị, có thể tải được ra chợ. Của đi thay người, nàng ngẫm nghĩ. Cái khánh vàng với bốn chữ Trăm Năm Hạnh Phúc lớn có con rồng và con phượng bao quanh thật lộng lẫy. Quà cưới của bạn bè tặng Thoại ngày xưa, dễ có được vài chỉ, đem bán đi chắc Thoại buồn, nàng cũng buồn. Nhưng thời buổi, cái khó bó cái khôn. Túng phải tính cứ biết làm sao? Giang ngậm ngùi lôi nó ra khỏi cái khung kiếng. 
 
Kể từ ngày “giải phóng”, số phận nó cũng giống như Thoại, phải chui vào nằm trong một xó kín trong nhà, không được ngồi trong tủ chè nữa. Chưng ra cho chúng nó dòm ngó, có mà chết. Hôm nay trong lúc túng cùng, thôi thì vĩnh. biệt. Giang gói nó lại bỏ vào giỏ rồi đem ra chợ. Vấn đề tài chánh coi như giải quyết xong. Không phải cầu cứu tới ai, nhưng cũng nên cho bố mẹ Thoại biết một tiếng. Thoại đang đau ốm cần giúp đỡ. Bố Thoại có nghề y tá dạo, ông biết về thuốc men, thế nào chả có chút đỉnh cho con, còn mẹ ít nhất cũng có ít thức ăn cây nhà lá vườn cho con trai bà sống cầm cự qua ngày. Tiện thể, nàng kéo thằng Quốc, em trai nàng đi theo. Nó còn trẻ, mạnh khoẻ nhanh nhẹn đỡ đần tay chân chút ít bớt vất vả. Kinh nghiệm của kỳ đi thăm nuôi lần trước vẫn còn nguyên trong trí. Dạo ấy Giang đi cùng mẹ chồng, may mắn liên lạc được ít gia đình rủ cùng đi chung, nương tựa, giúp đỡ khuyến khích nhau. Nếu không chắc đã bỏ về nửa đường. 
Xe đò từ Sài Gòn đi Phước Long, tới ngã tư Minh Hưng là điểm dừng cuối. Từ đây không còn xe chở khách, ngoại trừ xe bộ đội. Nhưng xe của “quân đội nhân dân” thường ít khi cho nhân dân đi quá giang. Có lẽ có muốn cũng không còn chỗ, vì hàng ngày chả có mấy chuyến. Và chuyến nào trên xe cũng thường đầy ắp. Tới Minh Hưng trời đã xế chiếu. Muốn vào tới các trại cải tạo lao động ở trong rừng còn phải cuốc bộ rất xa theo con đường Mười.

Trại của Thoại ở gần nhất cũng cách trên mười cây số. Tay xách nách mang, có gia đình còn mang theo con nhỏ không biết làm sao để đi. Cuối cùng phải nhờ vả đến người dân địa phương, những người trong vùng kinh tế mới. Họ rành rẽ đường đi nước bước. Họ, có lẽ, trước đây cũng từ các thành phố đến, nhưng sau một thời gian cực khổ, đã quen lam lũ. Vả lại, đó là cơ hội cho họ kiếm thêm được ít đồng tiền đã trở nên rất hiếm hoi quý giá trên rừng này. Trẻ nhỏ thì dẫn đường.
Người lớn thì nhận chuyên chở giùm hành lý. Họ chịu hy sinh nhiều giờ để vừa giúp đỡ vừa có thêm phần phụ giúp gia đình. Giá cả thỏa thuận xong. Có gia đình cả nhà cùng đi làm hướng dẫn viên một loạt.
Đoàn người bắt đầu cất bước từ lúc xế chiều, khi nắng còn đổ gay gắt. Thi thoảng, một chiếc molotova chạy ngang làm tung bụi đỏ mịt mù. Cứ cách quãng dăm bảy trăm thước, đoàn người phải dừng lại nghỉ. Đến được láng trại đầu tiên thì trời đã tối mịt. Mọi người mệt mỏi rã rời. Đoạn đường chỉ hơn mười cây số mà đi tới gần năm tiếng. Đã vậy, khi còn choạng vạng trời lại đổ ập cơm mưa. Đường đồi lên xuống đã gập ghềnh, bây giờ thành trơn như bôi mỡ. Người đi thăm nuôi toàn là đàn bà con gái chưa quen với những con đường đất trơn trợt, guốc dép cởi ra cầm trên tay mà vẫn té lên ngã xuống, thật khổ ải.

Lần này, chuyến đi đột xuất, không có ai cùng đi, Giang nghĩ mình nên chuẩn bị kỹ lưỡng. Nàng về quê mang theo lá thư của Thoại cho bố mẹ đọc, cũng may quê Thoại gần thành phố, chỉ chừng hơn tiếng đồng hồ đi xe đò, có thể đi về trong ngày. Gần như dự đoán của Giang, Bố Thoại biết tình trạng sức khoẻ của con, có dự trữ sẵn mớ thuốc Thoại cần, nàng sẽ mua thêm. Ông gửi kèm theo mấy hộp sữa đặc, một mặt hàng khá hiếm lúc này, cho con trai bổi dưỡng. Bà mẹ thì chuẩn bị một ít ruốc, một hộp mỡ, đậu phộng cây nhà lá vườn. Bà còn bảo mang theo ít cây trái trong vườn. Giang bảo mẹ chồng: - Mẹ đã thấy rồi. Đường xá đi lại rất khó khăn, Con đâu thể mang vác nhiều. - Thì cũng phải có gì cho nó chứ. Chả lẽ lên thăm nuôi chồng tay không.

Bây giờ thế này. Mẹ biết gia đình con, con cái còn nhỏ dại, đời sống cũng khó khăn lắm. Bố mẹ bây giờ già quá rồi. Thời buổi này chẳng làm gì ra tiền. Thằng Thoại cũng cần chút ít phòng thân. Mẹ không có tiền cho, con cố mang ít quà của mẹ. Phần mày không cần mua sắm nữa, ráng chạy vạy dấm duí cho nó vài đồng. Bà nói mãi. Giang đành chấp nhận mang theo quà của mẹ, ngoại trừ trái cây hoa quả quá nặng nề. Nhưng bà bắt buộc cầm đi mấy cân bột, đậu xanh và ít đường thẻ. Bà bảo trong tù chúng nó thiếu thốn nên thèm ngọt. Nhà có sẵn, ráng mang đi cho bạn bè anh em nó có dịp “liên hoan”. Thằng Quốc đang lúc rảnh rỗi, cũng sẵn sàng lên rừng. Có nó đi theo giúp đỡ, Giang quyết định cho con đi cùng.

Thằng Xuân chưa đầy ba tuổi nhưng lanh và ngoan, có thể yê n tâm. Nên cho nó biết mặt bố. Kỳ trước lên rừng, nó chưa được đi vì nàng chưa biết rõ đường đi nước bước. Bây giờ đã có kinh nghiệm, thêm thằng Quốc bên cạnh. thêm tay thêm chân. Thoại chỉ mới gặp con một lần ở Trảng Lớn. Lúc ấy, thằng Xuân mới mấy tháng chưa biết gì. Hai cái ba lô đã chất cứng, đồ đạc bên ngoài vẫn còn nhiều, không biết nhét vào đâu. Thứ nào nàng cũng thấy cần cho chồng. Quà cáp của bố mẹ và thuốc men tối cần thiết không thể thiếu, dầu ăn, bột ngọt,tôm khô mặt hàng tồn trữ chiến lược không thể bỏ lại. Còn mấy gói thuốc lá và bánh thuốc lào này thì tính sao?

Giang thấy dạo sau này Thoại ngày càng ốm yếu, ho hen luôn miệng, muốn khuyên chàng bỏ hút thuốc đi mà biết nói như thế nào? Rừng núi khí hậu thời tiết lạnh lẽo, thân phận người tù, xa vắng gia đình, cha mẹ vợ con đã nhiều năm, rượu chè đã không có, chỉ còn làn khói thuốc cho ấm lòng, vơi đi nỗi nhớ nhung gia đình. Bỏ thì thương, vương thì tội. Vả lại, không có thuốc lào thuốc lá thật thì họ lại đi hút vớ vẩn những lá cây rừng độc hại thì còn nguy hiểm hơn. Thoại đã chẳng từng kể anh và các bạn tù đã dùng xác bã trà làm thuốc hút đó ư? Trà khô được pha uống đến khi nước pha trắng gần như nước lã mới đem phơi khô, tẩm vào nước điếu đen thui để thành thuốc hút, chẳng ngon thì, “không mỡ xài đỡ đèn cầy”, cũng tạm ấm lòng “ngục sĩ trong khi vắng nhà”. Xong được mấy món đồ lại lo chuyện giấy tờ.

Việc làm trong tổ hợp và đơn nghỉ phép đã có Thu lo giùm. Con nhỏ bạn gái chưa chồng, còn thong thả nên giúp bạn nhiệt tâm. Còn lại cái giấy phép đi đường từ mấy ông ‘kẹ’ ngoài phường là khá rắc rối. Ai đời cả năm mới xin phép đi thăm nuôi chồng một, hai lần mà y như rằng, cứ thấy nàng ló mặt ra tới là chúng hạnh hoẹ đủ thứ. Nào là mọi việc đã có nhà nước lo, cô không phải lo, phải để cho chồng yên tâm học tập mới có kết quả, cứ thậm thụt lên xuống thăm nuôi thế thì làm sao tiến bộ? Nào là đi hoài như thế mất bao nhiêu công lao động. Ai cũng như cô thì còn ai xây dựng đất nước? Lần nào cũng phải đấm mõm cho bọn chúng, khi thì vài gói Samít, lúc dăm bao trà Thái Đức chúng mới chịu cấp giấy cho, còn ra giọng nhân nghĩa: - Nể lắm mới ký cho đó. Mấy phường khác thì còn lâu nghe chửa…

 Ra khỏi cánh cổng ủy ban, nàng còn nghe tiếng cười đểu của bọn chúng: - ĐM lũ nguỵ quân Sài Gòn Chúng nó ăn bơ thừa sữa cặn của đế quốc quá nhiều. Hèn chi vợ con chúng đứa nào cũng trắng da dài tóc. Từ nay cho chúng bay chết cả nút… Xong xuôi giấy tờ, Giang chuẩn bị đi ngay. Nàng cùng em và con ra bến xe thật sớm. Thời buổi này, cái gì cũng của dân, do dân làm chủ, nhưng chủ chỉ đuợc phép ngó, không được phép rờ. Phải ưu tiên cho đầy tớ của dân là cán bộ, bộ đội. Bỏ tiền ra mua vé xe cũng ưu tiên cho cán bộ, thừa ra mới tới dân. Không sao, Giang biết cách xoay xở. Chỉ cần bỏ ra ít tiền lẻ cho người bán dạo hàng quanh bến xe là có vé chợ đen. Bọn cửa hàng thông đồng với đám viên chức cán bộ lợi dụng sự ưu tiên để mua giành hết vé, đem tuồn ra ngoài kiếm lời chia nhau, thành ra dân có chầu chực ba bốn ngày liền cũng chưa chắc có vé.

Chuyện đểu cáng thế nhưng lúc nào bọn chúng cũng giả bộ liêm chính, miệng lưỡi toàn là đạo đức cách mạng. Rặt một bọn vô liêm sỉ. Chiếc xe khách dồn người nêm như cối, không còn chỗ cựa. Hành khách leo lên ngồi cả trên mui, mừng vì may mắn có được một chỗ. Chị em Giang và con bị nhét vào giữa lòng xe nên không nhìn thấy quang cảnh bên đường. Của đáng tội, sau vài năm “giải phóng”, đất nước rặt một màu xám tro. Có còn gì khác để mà nhìn ngắm. Đâu đâu cũng một cảnh nhà cửa điêu tàn, cây cối xác xơ. Càng đi xa Sài Gòn càng thấy sự hoang sơ tiêu điều của những vùng được mệnh danh là vùng kinh tế mới. Thật là thành quả. Giang nghĩ: hoa hôi kết thành quả đắng. Chiếc xe cũ kỹ già nua, bò ì ạch, thở hổn hển. Mãi rồi cũng lết được tới khu kinh tế mới Minh Hưng, điểm đến cuối cùng khi mặt trời đã bắt đầu ngả về Tây. Xuống xe, Giang cùng em và con bước vào một quán nước bên đường.

Nỗi lo lắng bắt đầu dâng lên. Khi còn ở nhà, vì hăm hở muốn gặp chồng để biết đau ốm ra sao, phần vì những lo âu khác, nàng quên đi cái khó khăn này: đường còn xa, phương tiện chuyên chở không có, phải xoay xở ra sao? Phải ngủ trọ lại một đêm rồi sáng mai lên đường? Vùng này kiếm ra một chỗ trọ cho ba người không dễ. Thằng Quốc liều mạng bàn là cứ đi, mười giờ đêm đến là cùng chứ gì? Thấy được nỗi khó khăn của người đàn bà trẻ, người chủ quán thương hại:

  - Để tôi hỏi thằng con trai tôi coi nó chịu dẫn đường giúp không? Nó vẫn hay giúp đỡ bà con mình ở thành phố lên. Có nó quen đường quen xá ở xó rừng này mới đi được. Tội nghiệp thằng nhỏ. Lâu nay chịu cực chịu khổ đã quen. Có hôm nó phải đi suốt đêm, gần sáng mới về tới nhà. Giang mừng rỡ theo chủ nhà đi điều đình với người con. Giá cả thoả thuận xong xuôi, họ ăn uống qua loa rồi chuẩn bị lên đường ngay. Cậu con trai dẫn đường cùng Quốc mỗi người một ba lô, còn Giang bế con.


Thỉnh thoảng mỏi tay lại cho thằng Xuân xuống đi bộ. Chỉ mới hơn năm giờ chiều mà trời đã choạng vạng. Ở rừng trời mau tối, người ta bảo vậy. Nàng rất mệt mà vẫn không dám nghỉ nhiều, con đường như dài vô tận. Hai chị em lúc này luân phiên thay đổi, khi thì đeo ba lô, khi bồng thằng Xuân. Nàng hơi hối hận đã mang con theo. Hai tay mỏi rã rời, hai chân như buộc chì không cất lên nổi. Đoạn đường, theo cậu dẫn đường chưa được phần ba. Trời đã thẫm màu. Cậu dẫn đường đi chặt nứa làm đuốc. Kinh nghiệm đi rừng, lúc nào cũng phải có dao trên tay, cậu bảo thế. Đêm đã về,thằng Xuân sợ hãi không rời mẹ ra nữa. May mắn có một chiếc xe chạy ngang. Chiếc xe quân đội trên sư (đoàn) đi công tác bị hư dọc đường, khách đã chuyển qua xe khác về trước. Bây giờ xe mới sửa chữa xong quay về. Chiếc xe trống rổng dừng lại cho quá giang.

Người bộ đội lái xe còn đủ tình người để thông cảm cho đám người bơ vơ giữa rừng đêm. Giang cám ơn và trả tiền cho cậu bé dẫn đường để cậu quay về nhà, còn ba người leo lên xe. Đến trại cải tạo Thoại đang ở, trời đã hoàn toàn tối mịt, sương đêm rơi xuống ướt lạnh bờ vai, người lái xe dừng lại cho ba người xuống. Giang không quên lục tìm gói thuốc thơm biếu, cám ơn anh đã giúp đỡ. Người bộ đội cười nói không có chi, chúc gặp người thân vui vẻ rồi từ giã phóng xe đi. Anh về sư, còn phải đi thêm một quãng nữa. Giang nhìn quanh. Bên tay phải ngay chỗ xuống xe, mấy dãy nhà lợp tôn. Là bộ phận khung (khung=ban chỉ huy một trại cải tạo thường cấp tiểu đoàn).

Những tấm tôn mà kỳ thăm nuôi trước, Thoại đã kể cho nàng nghe: đó là những tấm tôn vấy máu anh em cải tạo. Số là khi còn ở tại trại tập trung cải tạo Trảng Lớn, trại tù này trước đây do sư đoàn 25 bộ binh Mỹ thiết lập, sau năm 1972, họ rút về nước đã trao lại cho sư đoàn 25 bộ binh quân lực VNCH sử dụng làm căn cứ. Sau tháng Tư 1975, quân chính quy Bắc Việt tiếp thu đã sử dụng làm một trong những trại tập trung cải tạo Sĩ Quan Miền Nam VN trình diện tại Sài Gòn và vùng phụ cận. Gần hai năm trời tại trại với rất nhiều biến chuyển, những ông cai tù, người từ phía bên kia nhìn thấy cảnh ‘phồn vinh giả tạo’ của miền Nam đã có rất nhiều sáng tạo. Khởi đầu là phong trào “tam đê” gồm có đài, đồng, đạp. Mỗi người phấn đấu để có một xe đạp làm chân, một đồng hồ trên tay và cái đài trên vai. Đó là thế hệ xã hội chủ nghĩa nhuốm màu tư bản sơ khởi. Khi phong trào đã lắng dịu thì đến chiến dịch “bốn vê”: vào, vơ,vét, về.

Sau một thời gian vơ vét hết mọi thứ, kể cả những mảnh vụn kim khí từ những chiếc trực thăng, mang về cho một lực lượng lao động”chùa” khổng lồ, đám sĩ quan tù cải tạo giũa gọt, vẽ khắc, đánh bóng, làm thành những món quà quý giá như gương lược, kẹp trâm, những bộ điếu cày chạm trổ tinh vi. Đến cả những tấm ghi sắt lót làm sân bay cũng được gỡ sạch để phục vụ cho các “anh hùng cách mạng.” Khi không còn gì để vơ vét, đêm nằm vắt trán suy nghĩ, nhìn lên nóc nhà họ thấy toàn là tôn. Hướng mắt về phía cửa sổ, bên ngoài là những bãi mìn phòng thủ nằm giữa những lớp kẽm gai, cỏ tranh mọc tốt cao quá đầu người. Lại suy nghĩ. Cỏ tranh này miền Bắc có lợp nhà thật tốt. Ở đây bọn Mỹ Nguỵ toàn lợp mái bằng tôn. Giời ơi!

 Nghĩ ra rồi, của ở trên đầu này chứ còn ở đâu nữa. Trong đầu của người cán bộ, những tấm tôn đã biến thành những hòm lớn hòm nhỏ, mai này đi phép mang về nhà thì quý vô cùng, tiện lợi lại bền hơn gỗ. Miền Bắc hiếm tôn thì chắc chắn có giá. Đúng là sáng tạo. Cụ Mác cụ Lê nói thì chẳng sai. Cám ơn các cụ. Nhờ tư tưởng của các cụ đã soi sáng cho đàn cháu biết tư duy. Bộ phận khung nhất trí soạn thảo kế hoạch. Chỉ tiêu được đề ra: thi đua lao động lập thành tích mừng sinh nhật ‘Bác’. Quyết tâm đạt được mười ngàn bó tranh. Sau khi đã cắt hết tranh phía trong trại, kể cả quanh sân bay cũng chỉ được một phần ba, bộ phận cho lệnh tiến công ra ngoài rào, tức đi vào khu vực có gài mìn bẫy. Tranh tai đây cao và rất dầy. Cắt được hết thì không phải tới mười nghìn, mà có thể năm bẩy chục nghìn cũng có dư. Còn mìn bẫy thì sao? Có người hỏi. Dễ lắm, thủ trưởng nói: bảo đám tù cẩn thận, vừa cắt tranh vừa để mắt cảnh giác một tí có sao.

Chính trị viên tiểu đoàn còn mạnh miệng hơn: Bọn nguỵ quân nguỵ quyền tội ác ngập đầu, được tha chết đã may mắn nhiều. Chúng mình ngày trước còn gian lao nguy hiểm gấp vạn lần ấy. Rồi có sao đâu. Thôi. cứ thế mà làm. Lên giao ban nhận lệnh từ khung, anh em tù giật nẩy mình. Vài người đi vào bãi có sơ đồ, có dụng cụ dò mìn còn lo lắng, huống chi hàng mấy trăm con người hỗn độn đi vào lao động trong một vùng cỏ dầy chi chit che kín hết các dấu hiệu mìn bẫy, lẫn vào cỏ không nhìn thấy nhau, chết là chắc. Lệnh trên đưa ra không thể không thi hành, bị ghép vào tội nổi loạn, chống lại cách mạng tập thể cũng chết. Thi hành thì. Mọi người vô cùng lo lắng, cầu trời khấn phật sao cho tai hoạ không xảy đến cho mình. Thật ích kỷ nhưng trước một cái chết vô lý chắc chắn biết nói gì? Hậu quả của buổi sáng lao động hôm ấy thật kinh hồn: chỉ sau hai giờ làm việc, một tiếng nổ long trời lở đất, tám mạng người ra đi, không ai trong số còn nguyện vẹn thi thể.

 Sự sợ hãi lên đến cao độ khi nhận lệnh đi thu nhặt xác bạn bè tử nạn. Cũng may tiếng nổ làm quang đi vùng cỏ chung quanh. Buổi lao động được hủy bỏ. Sau ít ngày nghỉ ngơi cho công tác chôn cất những người xấu số, người sống sót lấy lại tinh thần, cán bộ khung vẫn tiến hành kế hoạch với một phương thức khác an toàn và nhân đạo hơn. Họ dùng xe chở đán người tù cải tạo đi về phía Cà Tum,Núi Bà. Ở vùng này có rất nhiều đồi tranh, xa xôi, tốn kém xăng dầu nhưng đỡ tốn máu.

 
Dù mở miệng ra là nêu cao chuyên chính vô sản, ca tụng sự tốt đẹp cũa con người xã hội chủ nghĩa, bản năng tham tư của cán bộ bộ đội ngày càng phát triển mạnh hơn. Càng ở lâu thì càng tham. Khi có lệnh chuyển trại lên rừng, các doanh trại được giao lại cho đơn vị khác, số tranh chưa cắt đủ thay thế tôn, nhưng tôn vẫn được tháo gỡ xuống hết để mang theo. Số tranh có sẵn được giàn trải ra thật mỏng cho đủ che kín mái. Vì vậy, khi hoàn thành, ở trong nhà không khác chi ở ngoài trời.  

Khi đơn vị mới tới, làm sao họ ở? Có anh ngứa miệng hỏi. Đó là việc của họ, cán bộ trả lời, dĩ nhiên, họ lại sáng tạo, lao động vinh quang là ở chỗ này. Tôn mang lên rừng để lợp mái cho bộ phận khung, để gò thành hòm lớn hòm nhỏ cho cán bộ. Làm nhà cho khung xong mới tranh thủ dựng trại cho anh em. Lại sáng tạo. Không có cỏ tranh, nhưng rừng có đầy tre nứa, lồ ô. Đốn tre đốn gỗ về dựng nhà, mái và vách lợp bằng nứa đập dập đan vào nhau thành những tấm phên.
 Đó là cảnh những ngày đầu mới lên rừng lao động. Thoại đã kể cho nàng nghe như thế. Nàng đã ngậm ngùi thương cảm những người bất hạnh và gia đình của họ. Những người thân mãi mãi không bao giờ trở về chỉ vì những tấm tôn chẳng đáng giá là bao. Giờ sau vài mùa mưa nắng, những tấm tôn lợp trên khung đã bắt đầu han rỉ, trông như một chứng tích đẫm máu của tám người bạn tù nằm xuống trên đất Trảng năm nào. Giang bước vào dãy nhà lợp tôn được gọi là bộ phận khung, hay ban chỉ huy trại để trình giấy tờ xin thăm nuôi đột xuất. Được biết thật bất ngờ là hầu hết anh em tù cải tạo đã có nhiệm vụ mới, được chuyển đến một vị trí sâu hơn phía trong cho công tác chuẩn bị xây dựng một nhà máy làm bột củ sắn (khoai mì) lớn nhất Động Nam Á Châu. Họ đã di chuyển cách đây hai ngày, chỉ còn một số ít anh em ở lại phụ giúp tháo gỡ (lại tháo gỡ) bộ phận khung mang đến vị trí mới. Hoàn tất xong sẽ đi sau. 

Họ cho phép gia đình nàng tạm trú ngụ trong khu nhà thăm nuôi gọi là nhà khách, đồng thời khuyến cáo hôm sau nên quay trờ về vì đợt thăm nuôi chính thức chưa đến. Thật đau lòng biết bao. Chịu đựng đũ mọi gian khổ cốt để gặp chồng lại không toại nguyện. Giang ôm con vào lòng mà khóc. Có lẽ trời còn thương. Một số anh em cải tạo còn ở lại thấy khu nhà khách có ánh lửa thì họ mò đến. May mắn hơn nữa, trong đó có Quang, người bạn lính cùng đơn vị với Thoại ngày xưa. Chính hai người đã cùng nhau đi trình diện cải tạo, do đó đang ở tù chung một trại. Quang sắp xếp chỗ ăn ở cho gia đình nàng. Cơm nước của tù chẳng có gì, ít bo bo và củ mì ăn với nước muối và lá tàu bay. Giang đem con xuống dòng suối rửa ráy qua loa. Nước suối lạnh như nước đá, dù bụi bám đầy người cũng chẳng tắm rửa nổi. Thấy bọn Quang loay hoay với nồi sắn luộc, nàng bảo Quốc lấy trong ba lô ra con gà rán sẵn thơm phức, gói xôi đậu xanh cùng ít bánh nếp mẹ chồng làm, bà biết Thoại thích bánh này của mẹ. - Mời anh Quang, các anh đến dùng cơm với chúng em. - Thôi chị ạ! Gia đình chị cứ tự nhiên đi, Quang nói. 

Tụi tui kham khổ quen rồi. Với lại, để phần cho thằng Thoại nữa chứ. Vợ con lên thăm mà không có gì nó buồn chết. - Đừng ngại các anh ạ! Các thứ này Giang mang theo để dùng trong ngày thôi. Đến mai sẽ thiu thối hết. Các anh ăn thì cũng như anh Thoại thôi. Ảnh không được ăn là tại số ảnh xui không có mặt hôm nay. Vả lại, em có ít thuốc men và đồ khô, không gặp được chồng thì có lẽ phải nhờ mấy anh chuyển đến giùm. Quốc ơi! chị có mang cà phê trong túi, em mang ra pha mời các anh uống đi em. Quang và các bạn không khách sáo nữa. Tất cả cùng ngồi xuống vừa hỏi thăm chuyện thành phố, tin tức bên ngoài, vừa thưởng thức cái bùi của nắm xôi, miếng thịt gà vừa béo vừa thơm. Thích nhất vẫn là hương vị của ly cà phê đen thật đậm kèm theo điếu thuốc thơm ấm cúng. Nước sôi nấu trong hộp qui gô có quai xách, vợt lọc cà phê làm bằng bao cát, vẫn không kém phần thú vị giữa cái lạnh núi rừng. 

Tin tức vẫn chẳng có gì lạ. “Vũ như Cẫn” Thời gian như ngưng lại. Đời sống khó khăn hơn. Mọi việc ngày càng xấu đi. Quang thấy mẹ con nàng lặn lội thật vất vả mới lên được tới đây mà không gặp đuợc chồng thì quá tội nghiệp. Anh nhất định cùng các bạn bàn cách để hai người gặp gỡ nhau. Họ bàn thảo một hồi. Cuối cùng đi dến quyết định. Ngày mai Quang thức dậy thật sớm, khoảng bốn giờ sáng đi lên trại mới. Đường đất khá xa, đi và về cũng mất hơn ba giờ. Quang sẽ báo cho Thoại biết có gia đình lên thăm. Trại mới chưa có nhà cửa rào dậu gì, chắc chắn mọi người đang trong công tác chặt cây, lấy gỗ về làm nhà. Quang bảo: - Tao sẽ ráng đi nhanh chân để về sớm trước giờ lao động. Tuy nhiên, lỡ có về muộn chút đỉnh thì tụi bay tìm cách bao che. Được rồi, chị Giang chuẩn bị ngay một mớ đồ dùng vào ba lô tôi mang đi trước cho Thoại. 

Riêng chi sau tám giờ lên khung xin lấy lại giấy tờ, cho họ biết không gặp được chồng, chị quay trở về nghe không? Nhớ làm sao đừng để họ nghi ngờ và đoán biết kế hoạch của chúng ta, lôi thôi lắm. Sau đó chị giả vờ đi ngược trở về phía Minh Hưng. Khi đã đi xa thoát khỏi tầm mắt của họ, tôi sẽ đón chị đi vào rừng, chúng ta dùng lối mòn mà chúng tôi thường đi lao động ở phía sau trại, khoảng chừng hai cây số lại trổ ra con lộ lớn. Tới đây đã khá an toàn.Tôi đưa chị đi thêm một quãng đường nữa rồi quay trở lại. Chị cứ tiếp tục đi tiếp. Trong khi Thoại ở đầu bên kia đi ngược trở lại. Trên đường đi, chị sẽ gặp một trại cũ, anh em cải tạo đã dơì đi, bây giở trở thành một đơn vị sửa chữa công xa. Bộ đội đóng ở đây ít khi hỏi han tới tù cải tạo, dường như họ không có nhiệm vụ với tù. Sát lề đường gần cổng trại này có một quán nước gọi là căng tin.

 Chủ quán là người dân thường được phép đến làm ăn liên hệ với bộ đội, thỉnh thoảng tiếp cả khách cải tạo nếu ai có dịp đi qua., bộ đội cũng không ngăn cấm. Chị vào quán ngồi uống nước quay mặt ra đường. Ai hỏi chuyện cứ bịa đại là thăm chồng đi nghĩa vụ. Khi nào Thoại đi qua, nó liếc vào quán sẽ thấy chị ngay. Tôi sẽ dặn nó khi đi qua quán, nhìn thấy chị rồi cứ tiếp tục đi thẳng. Chờ cho Thoại đi xa khoảng hơn trăm mét, chị hãy trả tiền rồi ra khỏi quán đi theo. Làm sao để nếu có người ngồi trong quán lúc đó không nghi ngờ. Ở một vườn sắn thật rậm rạp um tùm cách đó khoảng nửa cây số có một cái chòi nhỏ nằm rất sâu bên trong. Cái chòi do bọn tù cải tạo chúng tôi dựng lên tránh mưa nắng khi đi lao động, bây giờ bỏ hoang, có sửa sang lại để làm điểm hẹn bí mật cho những chuyện thăm nuôi đột xuất như vầy. Chòi nằm giữa rẫy nên rất kín đáo. 

Thoại sẽ đón chị vào đó. Nhớ đừng để ai nhìn thấy chị gặp Thoại. Cũng nhớ nhìn trước nhìn sau truớc khi bước vào bìa rừng. Bây giờ bọn mình về trại cho chị và cháu nghỉ ngơi. Cố làm theo đúng kế hoạch. Bây giờ chị đưa ba lô hành lý đây tôi mang đi truớc. Quang và các bạn chào tạm biệt ra về. Kế hoạch được tiến hành như dự định. Quang báo cho Thoại biết trước và trở lại kịp giờ lao động, rồi đưa gia đình Giang đi vào lối mòn tắt trong rừng. Sau đó ra lộ đi kèm thêm một đoạn nữa rồi phải từ giã. Hai chị em tiếp tục con đường. Thằng Quốc dường như qua một ngày vất vả hôm trước, không còn bao nhiêu sức, Giang phải chia bớt túi đồ cho nó, trong khi vẫn phải trông chừng con. Đường đồi lên đèo xuống dốc thật khổ. Đi vài chục bước lại phải dừng lại thở. 

Mãi rồi cái quán bên đường cũng hiện ra. Mừng vui hiện lên khoé mắt, Giang dẫn em và con vào giải khát, nghỉ ngơi, chờ chồng. Bên trong có mấy người bộ đội ngồi uống nước trà hút thuốc đưa đẩy cười nói với cô gái bán quán trông còn rất trẻ. Thấy bọn Giang bước vào, họ ngưng nói, mắt hướng về nàng có ý nghi ngờ. Nhưng họ không nói gì. Giang ngồi vào cái bàn ngay cạnh cửa, giả bộ chăm sóc con ăn uống. Kỳ thực, đôi mắt cứ liếc nhìn ra đường trông ngóng. Thỉnh thoảng, một hai người tù cải tạo ăn mặc rách rưới, trông thật tang thương, trên tay ai cũng có một dao rựa lớn đi lướt qua nhưng không phải Thoại. Ngồi đã khá lâu, nàng cảm thấy bồn chồn. Đám bộ đội cũng đã bỏ đi. Đến lúc ấy, Thoại mới chợt hiện ra, cũng áo quần rách bươm, cũng con dao rựa trên tay. Anh liếc nhẹ vào quán rồi tỉnh bơ đi thẳng. Quốc thì thầm: “Ảnh tới rồi đó, chị thấy chưa?” - Thấy rồi! Đừng nói gì hết. Để anh đi một quãng xa đã, kẻo tụi nó nghi. 

  Nhìn thân hình tiều tuỵ trong bộ đồ ăn xin của chồng, Giang thật mủi lòng. Những kỳ thăm nuôi chính thức trước dù sao cũng còn khá tươm tất. Lúc này đang giờ lao động, phải ăn mặc như người đi lao động không thì lộ chuyện. Thật là buồn. Vợ lên thăm chồng mà gặp nhau không dám gọi. Nàng muốn bật khóc mà không dám, chỉ đưa nhẹ khăn tay lên lau mắt như có hạt bụi vướng vào. Ôi! Có thời đại nào người hãi sợ người như cái thời đại này. Vợ chồng thân yêu đầu ấp tay gối, gặp nhau phải làm ngơ như người xa lạ. Chờ cho Thoại đi khuất, nàng mới trả tiền bước ra khỏi quán. Tính đi ngược lại với hướng của Thoại một đoạn rồi mới băng rừng trở ra như dự tính, nhưng sao chân lại cứ theo bước chân chàng. Thì, một liều ba bảy cũng liều, đến đâu hay đến đó. 

  Thoại dường như cũng không kiềm chế nổi tình cảm, anh đã quay lại, đến gần vợ con, nắm lấy cái túi xách trên vai nàng kêu khẽ: - Em! Con! Giang thổn thức: “ Anh ơi!” rồi nước mắt tuôn rơi. Thoại vội lên tiếng an ủi: - Đừng khóc, tụi nó nghi ngờ là khổ cả lũ. Để anh xách túi đồ đi trước vào vườn sắn. Em cứ thế mà đi theo nhé! Rồi anh bỏ đi trước. Vườn sắn bỏ hoang, cỏ dại cao hơn đầu người mọc chằng chịt xen lẫn với cây sắn. Đang cố vạch đường tìm vào cái chòi giữa vườn, anh bỗng giật nẩy mình dừng lại. Loáng thoáng có tiếng người ở phía chòi. Hoá ra là mấy tay bộ đội đi săn. Bọn họ lần theo dõi dấu heo rừng về đào phá củ mì và tìm ra cái chòi. 
Thật là tiện cho họ, có chỗ để ẩn nấp rình mồi. Thật may, Thoại nghĩ, gia đình mình chưa vào tới, không thì đã lộ tẩy. Không thể dùng chòi được nữa. Anh quay lui lại bảo Giang đừng tiến vào sâu nữa. Đáng buồn, vợ con lên thăm mà không có một nơi chỗ yên ổn để mừng rỡ, thăm hỏi, nói gì đến san sẻ tình nghĩa yêu thương. Đưa nhau đi đâu bây giờ? Trở lại căng tin, mỗi cách ấy. Vừa đi vừa nói chuyện. Anh dặn nàng nếu bị tra hỏi cứ trả lời túi xách nặng quá nhờ anh mang hộ nên đãi anh ly nước, hai người không có quan hệ, Một tên bộ đội chạy đến trước mặt anh lên tiếng hạch sách rất hách dịch như muốn ra uy: - Anh kia là cải tạo phải không? Đang giờ lao động sao lang thang ở đây? Có phải móc nối với gia đình thăm nuôi lén lút chứ gì? 

  Thoại tránh tiếng. Anh đưa con dao rựa ra trước mặt: - Tôi đang đi lao động trong rừng kiếm cây về làm cột. Gặp chị ấy con nhỏ lãi mang xách nặng nề nên giúp một tay, chứ không có liên hệ. Giang cũng đỡ lời: - Em lên sư đây cán bộ ơi! Sắp tới sư chưa? Cán bộ chỉ giùm. Đang mang xách nặng quá chưa biết làm sao thì có anh này giúp mang hộ. Tính lại quán mời ảnh cốc nước trả công ý mà! Anh chàng bộ đội được người đàn bà gọi là cán bộ, ra vẻ mát lòng đổi thái độ: - À cũng sắp tới rồi, đi vài quãng nữa thôi. Chị có cần tôi giúp một tay? - Thôi, gần tới rồi thì không dám làm phiền cán bộ. Hắn bỏ đi miệng lầm bầm: “cha nào trên sư tốt số thế! Cứ như múi mít ấy”. Thoại không nói gì, nhìn chăm chú vào ly nước trên tay. Chờ hắn đi xa, anh nói nhỏ: - Đi đâu cũng gặp kỳ đà cản mũi, chán thật. Trong quán này tai vách mạch rừng, nói chuyện nguy lắm. 

Thôi mình đi ra, vừa đi vừa nói chuyện được đâu hay đó. Thuốc men đồ dùng Quang đã đưa cho anh rồi. Gặp nhau lén lút thật bất tiện. Bố mẹ ra sao? Cả bố mẹ em nữa? Quốc lớn bộn ha?Làm ăn thế nào? Cho anh gửi lời thăm hỏi sức khoẻ mọi người. Nói ông bà cứ yên tâm, anh sẽ ráng giữ gìn sức khoẻ, ráng sống để về với em và con, với gia đình. Thôi, đưa em và con về. Có ở thêm cũng không gặp gỡ nói chuyện được. Theo anh biết, hàng ngày quán này có chuyến xe ra vào thị xã, không biết phía Minh Hưng hay Đức Hạnh. Em thử lại điều đình với chủ quán xem sao? - Đã lâu không gặp anh. Chưa nói với nhau gì hết đã bảo đi về? Anh đau ốm ra sao?Nói thật cho em biết để em liệu. Giang khóc, “Chả lẽ vừa gặp nhau đã từ biệt ngay?” - Đành chịu vậy! Hoàn cảnh này em biết. Anh thèm muốn được ôm em và con vào lòng một chút mà đâu dám. 

Tụi nó bắt gặp là cùm chân biệt giam, khổ vô cùng. Em hãy về. Chủ yếu mang thuốc men đến được tay anh để có hy vọng chống chỏi bệnh tật, mới có ngày về với em. Thôi chịu thua số phận đi, đợi dịp thăm nuôi chính thức mình gặp nhau lâu hơn. Nói bố mẹ đừng lo lắng thái quá. Anh nhất định sẽ trở về. Thoại đã nói thế, Giang còn biết nói sao. Nàng đứng dậy trả tiền, tiện thể hỏi thăm về chuyến xe hàng sắp tới để xin đi theo. Sáng mai mới có. Vậy lại phải cuốc bộ ra thị xã chiều nay. Giữa rừng, chỗ đâu mà trú.

Mọi người kéo nhau ra khỏi quán. Đi bộ một quãng,nhìn chung quanh vắng lặng không có ai, Thoại choàng tay qua vai vợ hôn nhẹ lên mái tóc đượm mùi cháy nắng của nàng, ghì vội con vào lòng thì thầm với nó: Xuân con ơi! Ba nhớ thương mẹ và con thật nhiều. Con lên thăm mà ba không thể nói chuyện với con ba thật đau lòng. Thôi con về nhớ ngoan ngoãn cho mẹ vui nghe không? Nói với ông bà nội ngoại là ba nhớ ông bà lắm. Mi tạm biệt ba cái coi nào! 

  Thằng bé còn đang ngẩn ngơ dãy dụa trên tay anh, người đàn ông đối với nó vẫn còn xa lạ, gầy gò, rách rưới, lôi thôi như người ăn xin nó thường thấy ngoài chợ. Ông lại còn ôm mẹ con nó vào lòng. Chưa kịp cất tiếng khóc, bỗng dưng xuất hiện lù lù hai người bộ đội, một người hai mẹ con mới gặp lúc sáng. Anh này quắc mắt lên: - A ha! Láo lếu thật. Lũ nguỵ dám qua mặt cách mạng. Vậy mà chúng nó bảo là không có quan hệ. Tội lừa dối nhân dân, lừa gạt nhà nước nặng lắm có biết không? Đúng là bản chất Mỹ Nguỵ khó mà gột rửa. Cần phải cho đi cải tạo mút chỉ mới sáng mắt. 

Cách mạng đã cách ly gia đình để tạo cơ hội yên tâm học tập, mà còn lén lút móc ngoặc với nhau. Này anh kia! Vi phạm nội qui của trại là mang tội có âm mưu chống đối cách mạng, không thành tâm hối cải… Hắn còn đang thuyết giảng, Thoại vội buông thằng bé xuống đất, quay qua nói nhanh với vợ, “Kiếm đường về đi”, rồi chụp vội con dao dưới chân nhãy phắt vào buị rậm trước mặt. Giang ôm lấy con, cùng đứa em trai đứng ngơ ngác, bơ vơ giữa con đường đất đỏ bụi mờ. Thoại có lủi kịp không? Về trại có sao không? Còn nàng, con nhỏ trên tay, về đâu đêm nay giữa núi rừng bao la với sương đêm lạnh buốt?


Phương Duy 
Cuối năm 2002( sửa chữa 05/2008)




NGUYỄN UYÊN * KÝ ỨC THUYỀN NHÂN

Ký ức của một thuyền nhân

01 Tháng Năm 201710:40 SA(Xem: 175)
 Nhiều người Việt đã bỏ nước ra đi trên những con thuyền nhỏ mong manh trên biển sau ngày 30/4/1975, tạo thành làn sóng thuyền nhânExpress Newspapers/Getty Images
 Nhiều người Việt đã bỏ nước ra đi trên những con thuyền nhỏ mong manh trên biển sau ngày 30/4/1975, tạo thành làn sóng thuyền nhân


"Trái bom nổ rất gần làm má hết hồn nên má bỏ chạy," má tôi kể thế khi bà hồi tưởng lại về tính đãng trí của mình giữa cuộc giao tranh. "Chạy chừng 30 thước rồi mới phát hiện là má đang ôm cái gối, chớ không phải ôm con," bà bẽn lẽn khúc khích cười.
Đó là vào khoảng ngày 30 tháng Tư năm 1975, tại Đà Nẵng, một trong những thành phố chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của chiến tranh Việt Nam.

Tôi thích thú nghe bà kể chuyện. Tôi chưa hề có giây phút nào cảm thấy bị bỏ rơi hay thiếu tình thương của má, nên chuyện má quên ôm tôi theo không làm tôi thắc mắc. Tôi chỉ kinh ngạc khi nghĩ tới má chạy vào vùng bom đạn để cứu đứa con gái mới 2 tháng.

Đây là câu chuyện đầu tiên về đời mình tôi được biết - câu chuyện của một đứa bé kẹt ở khúc quanh lịch sử; câu chuyện về tình thương vô điều kiện giữa mẹ với con; và câu chuyện trong giờ phút đất nước đổi chủ, con người trải qua những hệ lụy của chiến tranh.

Tôi đã biết sẽ mất má ngay cả trước khi bà ra đi. Không phải là tôi tiên tri gì. Hồi nào tới giờ, như anh tôi vẫn thường nói, tôi luôn luôn "để ý rất kỹ, nhiều khi tới mức làm người khác khó chịu."

Đó là 10 năm rưỡi sau khi tôi sinh ra đời.

Chúng tôi đang bập bềnh đâu đó ngoài khơi Việt Nam, trên một chiếc thuyền rách nát và quá nhỏ để cưu mang 31 mạng người, quá thiếu an toàn để vượt biển, chứ đừng nói tới mục tiêu đầy tham vọng là đến được nước Mỹ.

Má ôm cơ thể gầy gò và khô cằn của đứa em gái 1 tuổi rưỡi vào lòng, dưới ánh nắng nhiệt đới thiêu đốt. Bà nhìn nó chằm chặp một cách tuyệt vọng, làn da bị nứt nẻ của đứa bé do sức nóng, nước biển và khát. Má lúc đó đã mất ba đứa con rồi, và tôi thấy bà vuốt ve em tôi nhè nhẹ, dường như mong rằng hơi ấm và sự săn sóc dịu dàng của bà có thể giữ em tôi sống thêm vài phút nữa.

Khi em tôi trút hơi thở cuối cùng, mặt của má tôi chuyển từ một người mẹ bám víu vào niềm hy vọng mong manh, đến một người phụ nữ không còn lý do để sống nữa.

Má có thể nói bằng ánh mắt, và khi bà ngẩng mặt lên từ đứa em lúc đó đã chết để chuyển chầm chậm sang nhìn tôi, cho đến giờ phút này tôi chưa thấy cặp mắt nào buồn như thế, và tôi biết tôi sẽ mất luôn cả má. Tôi khóc dữ dội không kềm được, gần như tới độ bị co giật.

Bề ngoài, có vẻ như tất cả sự khổ đau của tôi là do cái chết của đứa em, nhưng tôi biết mình đang khóc cho cả em lẫn má.

Má luôn luôn là một người kiên cường - dẻo dai tuy trầm lặng - nhưng mặt bà lúc này không còn dấu hiệu kháng cự gì nữa. Con là tất cả, và bị mất bốn đứa con trong mấy ngày, cùng với viễn tượng sẽ mất thêm cả hai đứa con trai và tôi, là điều quá sức chịu đựng của bà.

Anh tôi phát hiện má đã chết trong giấc ngủ hai ngày sau đó. Bà lúc đó bằng tuổi tôi bây giờ. Em trai tôi cũng qua đời đêm đó. Và tôi mừng là má đã không phải chứng kiến cảnh em trai tôi chết.

Ngày 30 tháng Tư với tôi chưa bao giờ có ý nghĩa thắng hay bại.

Nó chỉ tượng trưng cho những cái chết oan uổng, cho những hy vọng và ước mơ bị dập tan.

Có người muốn tôi ủng hộ hay kết án phe này hay phe kia, Việt hay Mỹ.

Tôi không làm thế. Thay vào đó, tôi vững vàng sống trong một thế giới mà tôi không muốn mang chiến tranh đến với ai, và tôi làm những gì trong khả năng của mình để ngăn ngừa các hành động ác độc xảy đến cho người khác.

Đôi khi vì chúng ta đã từng làm nhân chứng cho cái chết, chúng ta trở nên sáng suốt hơn về cuộc sống. Tôi nghĩ điều đó đúng với tôi, và đã được lập lại nhiều lần.

Chúng ta nên vận động cho mọi người trên thế giới này đạt được một mục đích chung - sống một cuộc đời có ý nghĩa. Những gì còn lại chẳng có giá trị bao nhiêu, kể cả tiền bạc, quyền lực và danh vọng.

SON TRUNG * CUỘC LUẬN KIẾM TRÊN NON TẢN


CUỘC LUẬN KIẾM TRÊN NON TẢN 
 SƠN TRUNG

Cứ ba năm một lần, vào ngày rằm tháng hai âm lịch, các bộ tộc ở miền núi xứ Bắc thường tập trung tại núi Tản viên để luận kiếm. Tại miền Bắc có khoảng 50 bộ tộc sinh sống như Thái , Thổ, Mán, Mường, Mèo, Nùng, Hmong, Tày, Dao, Lô Lô, PuPéo, Rơ-măm, Brâu, Pà Thẻn, La Hủ, Vân Kiều, Sán Dìu, Khơ Mú... . .Sự phân loại rất khó khăn và phức tạp. Ngay cả trong bộ lạc Thái còn có Thái Trắng, Thái Đỏ, Thái đen; giống Mán có Mán đồng tiền, Mán Hòa Bình; giống Tày Có, Tày Hay, Tày Men, Tày Mười, Tày Xang; giống Mường có Mường Thanh Hóa, Mường Hòa Bình. Trong các bộ lạc trên, Thái , Thổ, Mán, Mường, Mèo, Nùng, Hmong, Tày là tám bộ lạc nổi tiếng hơn cả, đuợc gọi là bát đại sắc tộc.Tất cả dân tộc miền núi này sống hoà hợp trong quốc gia Văn Lang, dưới sự lãnh đạo của vua Hùng. Chính các dân tộc miền núi đứng ra tổ chức cuộc luận kiếm và họ mời vua Hùng làm chủ tọa và làm trọng tài.


Võ nghệ thì có nhiều môn phái khác nhau nhưng trong thập bát ban võ nghệ, kiếm được coi là đứng đầu cho nên cuộc tranh tài của các đại cao thủ tại núi Tản đã lấy kiếm mà luận tài thử sức. Các bộ lạc đều được tham dự nhưng mỗi phái đoàn thường mang theo năm, mười người kể cả ngưởi tùy tùng.


Ngày luận kiếm đã đến. Trên một khoảnh đất rộng rãi trước đền thờ đức thánh Tản, người ta đã dựng một khán đài bằng gỗ lợp tranh để vua Hùng và các tộc trưởng các bộ lạc ngồi xem. Trước mặt khán đài là một đấu trường, là khoảnh sân cỏ rộng bằng một gian nhà, được vẽ một vòng tròn bằng vôi. Ở trước đấu trường, người ta làm một cái cổng tam quan kết bằng hoa và lá, xung quang cờ đuôi nheo bay phất phới. Trống điểm thùng thùng lúc khoan, lúc nhặt. Khi vua ngự đến, ban bát âm cử nhạc thánh thót. Các công chúa, các tiểu thư ngồi trên khán đài; còn các thiếu nữ người Mán, Mường, Mèo, Thái. . . mặc áo quần sặc sở tạo thành một bức tranh sống động ở xung quanh đấu trường. Các vệ binh phải cầm roi xua liên tiếp và nạt nộ ầm ĩ vì bọn thanh niên nam nữ xô đẩy nhau và đùa giỡn ở trước võ đài . Tiếng kêu gọi nhau ơi ới, tiếng khóc, tiếng cười, tiếng chửi rủa nghe lanh lảnh là đặc thù của ngày lễ hội.


Theo lệ cũ, bát đại tù trưởng thay nhau chủ trì cuộc luận kiếm. Người đứng ra phụ trách việc tổ chức kỳ này là Nông Vạn Phúc, tù trưởng người Nùng. Trước khi tham dự cuộc luận kiếm, mỗi bộ lạc phải chọn một kiếm khách tài giỏi nhất, và một kiếm khách dự khuyết. Các kiếm khách các bộ lạc từng đôi thi tài, cuối cùng lấy ra tám đại cao thủ. Trước hết bốn cặp đấu với nhau, sau đó thành hai cặp đấu với nhau, và cuối cùng là một cặp đấu với nhau. Ai thắng sẽ trở thành đệ nhất cao thủ của Văn lang quốc.


Khởi đầu, có 30 đấu thủ bắt thăm đấu từng đôi một. Đợt hai còn bảy cặp đấu với nhau. Đợt ba còn bốn cặp đấu với nhau.
Khởi đầu đợt ba, Đèo Vân Long đấu với Uông Thanh Lâm. Sau khi bái tổ và cúi đầu chào nhau, cả hai liền trổ tài. Cả hai là tù trưởng, là thanh niên trai tráng khoẻ mạnh. Đèo Vân Long người Tày sử dụng song kiếm, tiến thoái nhịp nhàng và múa như vũ bão. Uông Thanh Lâm, người Thái trắng dùng trường kiếm, thủ nhiều hơn công. Cả hai đều đóng khố, ở trần trùng trục như hai con bò mộng. Đấu hơn nửa buổi không phân thắng bại. Ban tổ chức phải ra lệnh đình hoãn để hai bên nghỉ ngơi và dùng bữa trưa. Giờ mùi, hai bên tiếp tục lên võ đài. Uông Thanh Lâm thay đổi chiến thuật. Chàng tấn công như vũ bão khiến Đèo Thanh Long phải lùi bước. Vì bất cẩn, Đèo Thanh Long trợt chân té xuống. Trong nháy mắt, Uông Thanh Lâm kề kiếm vào cổ khiến Đèo Thanh Long phải đầu hàng.

Hiệp tiếp theo, Nông Xin Phát, người Nùng đấu với La Hiêu Xình người Thổ. Cả hai đều đóng khố, để đầu trần, đI chân đất. Cả hai dùng song kiếm. La Hiêu Xinh thuộc phái hầu kiếm, y nhảy tả sang hữu, rồi lăn lộn dưới đất chém vào hạ bộ của Nông Xìn Phát những nhát kiếm ác liệt khiến Nông Xìn Phát nhiều phen luống cuống. Cuối cùng La Hiêu Xinh nhảy từ trên cao xuống chém đứt tai Nông Xìn Phát và kết thúc trận đấu.

Trận tiếp theo nữa là Ra Com Xay người Mán đấu với Giàng A Sáo người Mường. Cả hai là tù trưởng già nua tóc bạc nhưng còn vẻ tiên phong đạo cốt. Ra Com Xay mặc áo cộc đỏ, quần cộc xanh, đầu trùm khăn lam. Giàng A Sáo thì đóng khố, đi chân đất. Sau khi chào hỏi nhau xong, cả hai rút kiếm và thủ thế. Sau vài khắc, cả hai vẫn ghìm kiếm và im lặng gườm nhau. Bỗng Ra Com Xay hét lên một tiếng và xông vào Giàng A Sáo . Cả đấu trường, người ta nghe một tiếng thét rùng rợn. Đồng thời người ta thấy cả hai người rời nhau ra và ngã xuống đất. Cả hai đã bị chém vào đầu. Cuộc đấu kết thúc bằng cái chết của hai tù trưởng kiêu hùng.

Trận cuối do Cầm Thanh Khao lão nhân người Hmong đấu với Lò Xây Xây đạo nhân người Mèo. Cầm Thanh Khao lão nhân mặc trường bào trắng , thắt lưng đỏ, đi chân đất còn Lò Xây Xây mặc áo ngắn màu xanh, quần đen, thắt lưng đen, đi hài tía. Sau khi bái tổ và chào hỏi nhau, cả hai tiến đánh như vũ bão. Sau một ngày trời bất phân thắng bại, cả hai được ban tổ chức cho nghỉ ngơi để hôm sau tái đấu. Khoảng giờ thìn hôm sau, cuộc đấu tiếp diễn. Cầm Thanh Khao vừa ôm bầu rượu vừa tấn công đối thủ trong khi Lò Xây Xây ung dung cầm quạt phe phẩy như đang dạo chơi trên bờ sông. Đến giờ ngọ, cả hai vẫn đồng cân sức. Mặt trời lên cao, không khí oi bức. Cầm Thanh Khao nâng bầu rượu lên uống một hớp như đang làm thơ trong một vườn hoa.

Bỗng một thoáng, Cầm Thanh Khao nhảy chồm tới, miệng phun rượu vào mắt Lò Xây Xây đạo nhân, tay múa kiếm quyết chém ngang lưng đôi thủ . Cùng lúc này, Lò Xây Xây đạo nhân chỉ quạt về phía Cầm Thanh Khao lão nhân, người ta thấy năm sáu mũi kim từ quạt bay ra. Trong khi Cầm Thanh Khao lão nhân co rúm người và run bần bật thì Lò Xây Xây đạo nhân nhảy lùI ra sau ôm mặt nhăn nhó. Một bên trúng kim độc, một bên trúng rượu độc, ban tổ chức phải đem cả hai vào hậu trường cấp cứu. Sau đó ban tổ chức tuyên bố bãi bõ tư cách kiếm khách cả hai vì đã dùng hành vi ám toán đối thủ.


Chung kết là Uông Thanh Lâm đấu với La Hiêu Xình. Cuộc long tranh hổ đấu xảy ra hai ngày vẫn bất phân thắng bại. Ban tổ chức phải đưa ra ý kiến là tổ chức thi văn bổ túc.

Cuộc thi võ đã kết thúc, ngay chiều hôm đó, võ đài đã biến thành một quang cảnh mới. Ngay trước ngự tọa, người ta trải bốn năm chiếc chiếu cạp điều. Ở chiếu giữa là chỗ ngồi của hai đấu thủ, còn xung quanh là chiếu của các giám khảo. Trên các chiếu người ta bày hương trầm, hoa, rượu, trà, bánh trái và thuốc lào. La Hiểu Xinh bốc thăm ưu tiên nên có quyền ra câu hỏi trước:

-Trên thế gian, cái gì mạnh nhất?
Uông Thanh Lâm đáp:
-Thanh kiếm là mạnh nhất.
La Hiêu Xinh nói:
-Thanh kiếm không mạnh nhất. Nếu thanh kiếm trở nên oai hùng là do sức lực toàn thân, nhất là sức mạnh cánh tay, và trí óc con người. Thanh kiếm chỉ là một công cụ vô tri, vô năng, vô lực.

Uông Thanh Lâm chất vấn La Hiêu Xình:
-Tôi trả lời, ông bảo là sai. Vậy theo ông cái gí có sức mạnh nhất trên đời?
La Hiểu Xinh đáp:
-Theo tôi, tình yêu mạnh nhất trên đời.
Uông Thanh Lâm nói:
-Tình yêu là sức mạnh nhưng không phải là nhất. Tình yêu chưa chắc tạo được hạnh phúc vì bao nhiêu người yêu nhau mà vẫn bỏ nhau. Vả lại, tình yêu chỉ có sức mạnh trong trong khoảng 18-50 mà thôi. Hơn nữa một số không cần tình yêu đò là hạng chân tu và người bất lực hoặc bệnh hoạn.

Theo tôi, tiền bạc mạnh nhất vì ai cũng cần tiền. Đứa trẻ mới sanh cho chí người già sắp chết, người tu hành cho đến nhà từ thiện, ai cũng cần tiền. Mãnh lực đồng tiền rất lớn, nó làm cho con người bán danh dự, bỏ đạo đức, bán đất đai tổ tiên đã ngàn năm xây dựng. Kẻ lưu manh tham tiền đã đành mà nhà tu hành hoặc bậc trí thức cũng bất chấp liêm sỉ, chạy theo đồng tiền mà đổi trắng thay đen. Nhân dân ta có câu tục ngữ: “ Có tiền mua tiên cũng được”. Và ngày nay khắp nơi có bài ca chiến thắng:

Tiền là tiên, là Phật,
Là sức bật của tuổi trẻ,
Là sức khỏe của tuổi già
Là cái đà tiến thân,
Là cái cân công lý.
Tiền! Hết ý!

Ban tổ chức nhận định rằng về nan đề thứ nhất, cả hai ngang nhau. Đến lượt Uông Thanh Lâm ra đề:
-Ông có phải là người oai phong nhất không?
La Hiêu Xình đáp:
-Dưới vua, tôi là người oai phong nhất vì tôi là tù trưởng, có 500 mẫu ruộng, hai ngàn con bò, năm trăm con trâu, và ba trăm cô vợ trẻ đẹp.
Uông Thanh Lâm cười đáp:
-Vậy thì ông còn thua tôi. Tôi đây có 600 mẫu ruộng, năm ngàn con bò, năm ngàn con trâu và năm trăm cô vợ trẻ đẹp. Ngoài ra tôi có 80 đứa con, gồm 50 trai và 30 gái. Nhưng những cái đó chưa ăn thua gì, vì có tiền thì mua bao nhiêu vợ cũng được. Mà nhiều vợ thì lắm con Cổ nhân nói : “Cả sông đông chợ, lắm vợ nhiều con”. cũng chỉ là chuyện thường thế gian Ông xem đây, những người hầu cận của tôi đây. Rất đặc sắc, rất đặc sắc, trong thế gian, ngoài vua ra, không ai bằng tôi! Trong khi bao nhiêu người khoái sưu tầm vàng ngọc, gấm vóc, tranh cổ, bình xưa, tôi đây chỉ thích sưu tập nhân tài trong thiên hạ.

La Hiêu Xình nói:
-Những điều ông nói là không thể kiểm soát được. Ông muốn nói bao nhiêu mà chả được. Làm sao biết ông có 600 mẫu ruộng, năm ngàn con bò, năm ngàn con trâu và năm trăm cô vợ trẻ đẹp? Còn mấy tên hầu cận của ông thì cũng giống mấy tên hầu cận của tôi, có khác gì đâu?

Uông Thanh Lâm nói:
-Ông lầm rồi! Mấy thằng đầy tớ của tôi rất chiến! Rất cừ! Tôi hiện nay có hàng ngàn đầy tớ, thuộc đủ hạng người, mà người nào cũng xuất chúng, Không một tên nô lệ nào trên thế gian lại có một lịch sử, một quá khứ oai hùng như chúng nó. Tất cả chúng nó có ba đặc tính chung:
-Thứ nhất, chúng nó trước đây tích cực chống tôi và dân tộc tôi. Nay chúng quay ra ca tụng tôi, cam tâm làm nô lệ cho tôi.
-Thứ hai, chúng nó là những người có danh vọng.
- Thứ ba, những nô bộc của tôi mang tính quốc tế và đa dạng. Trong nước, ngoài nước đều có người của tôi. Nước nào cũng có người của tôi. Chúng ở ngoại quốc nay về hẳn với tôi chầu chực hôm mai bên cạnh tôi. Cũng có kẻ sáu tháng ở với tôi, sáu tháng về thăm nhà bên đó. Cũng có kẻ nằm vùng ở nước ngoài. Đầy tớ của tôi rất đa dạng, nào là y sĩ, thầy kiện, học giả, văn sĩ, thi sĩ, ca sĩ, nhạc sĩ, giáo sĩ, hoà thượng, đạo sĩ, sinh viên, học sinh, giáo sư, tiến sĩ. . .

Trong đám đầy tớ của tôi, hai thằng A Tam và A Tứ đây vốn là người dân Miêu. Thằng A Tam, lúc nhỏ là lưu manh đệ nhất ở xứ Đoài, gặp thời loạn nhảy lên làm đại tướng, còn thằng A Tứ là đệ nhất đàng điếm và cũng là đệ nhất nhạc công của Miêu tộc, sáng tác cả trăm bản nhạc, được dân Miêu ca tụng là thánh tổ nhạc..

La Hiêu Xình nói:

-Ông đánh thắng rồi bắt chúng làm nô lệ, đó là chuyện thường xưa nay, chứ có gì lạ đâu mà ông khoe!
Uông Thanh Lâm cười mà rằng;
-Ông nói sai. Bậc đại nhân, đại nghĩa không bao giờ dùng bạo lực. Dùng vũ lực thì làm cho người miễn cưỡng tuân phục nhưng tâm bất phục. Phải làm sao mà chúng tâm phục, khẩu phục, phải bò đến trước mặt mình năn nỉ, van xin thì mới tỏ là bậc đại trượng phu, oai phong đệ nhất. Trường hợp của tôi rất đặc biệt cơ! Hai thằng này có quyền thế nên đã nhanh chân chạy sang xứ Cỏ Hoa trước khi Miêu tộc bị tôi xâm chiếm.

Dân Miêu khốn khổ phải vượt biển, kẻ bị cướp biển, người bị cá ăn thịt , một số rất ít đến Cỏ Hoa và các nước ngoại quốc, còn hai tên này đi tàu bè rất ung dung và sống vênh vang ở xứ Cỏ Hoa. Tôi phải dùng mấy trăm lượng vàng và mất công thuê người dụ dỗ mấy năm trời chứ đâu có dễ. Hai thằng này thời trước cao ngạo lắm, nay thì rất ngoan, bảo chúng nó quỳ xuống làm chó sủa gâu gâu, chúng cũng nghe theo.

 Dù tốn mấy trăm lạng vàng, khi đi đó đi đây, có thằng mang giày cởi dép, có đứa đấm lưng, bóp chân, có đầy tớ hầu điếu đóm, có nô lệ bưng trà, rót rượu thì tôi rất là sung sướng, rất là oai phong! Các bậc vua chúa đi ra ngoài thường mang theo bọn vai u thịt bắp làm kẻ tả hữu, còn tôi, tôi là người trí tuệ đỉnh cao cho nên tôi dùng nô lệ cũng dùng thứ thượng hạng. Có như vậy mới quý hiếm và tăng giá trị mình. Tôi nay cho chúng sướng gấp mười ngày trước khi chúng làm quan ở Miêu tộc. Chúng nay đuợc ở nhà cao cửa rộng, rượu nồng dê béo, tiền xài hàng vạn, gái đẹp hằng trăm, dù tôi vác gậy đuổi chúng, chúng cũng không đi. Tôi cho chúng mọi thứ, tôi chẳng bắt chúng làm một công việc gì cả. Khi tôi đi đó đi đây,nhất là lúc tiếp các đại thần hay tiếp khách ngoại quốc, tôi chỉ cần chúng đứng khoanh tay hầu bên cạnh tôi là đủ.

Tôi rất yêu chúng nó vì chúng nó đem lại vinh dự và oai phong cho tôi. Mai sau khi tôi chết, tôi sẽ chôn hài cốt hai đứa bên cạnh để kiếp sau và sau nữa, chúng sẽ hầu hạ tôi. Và ở cổng lăng tôi, thay vì phải làm hai con chó đá. như cổ tục, tôi sẽ cho thợ đắp hình chúng nó theo dạng đầu người mình thú như con Sphinx bên Hy Lạp.. Ông có thấy dưới hoàng đế, tôi là người oai phong nhất không?

Nói xong, ông quay sang A Tam, A Tứ cười:
-Tao nói vậy có đúng không, chúng bay?
Cả hai tên nô bộc tuổi 70-80 cúi đầu khom lưng rất lễ phép và thưa :
-Dạ đúng, bẩm đại nhân!

Kết cuộc, ban tổ chức đồng ý chọn Uông Thanh Lâm làm đệ nhất kiếm khách nước Văn Lang. Vua Hùng thưởng cho Uông Thanh Lâm 500 lượng vàng, ban áo mão cân đai, và giữ lại kinh đô làm Cửu môn Đề đốc quản lĩnh quân đội trong kinh thành.

HIẾU ĐỆ * CON CHUỘT CẦN THƠ



Con Chuột Cần Thơ
HIẾU ĐỆ

hững năm đi dạy học ở Cần Thơ, tôi thường theo mấy em học sinh rủ về quê hưởng cái thú đốt đồng. Có nghĩa là sau mùa gặt hái xong, người ta đốt ruộng để lấy phân tro. Trong khi đốt đồng, người ta đặt lưới đuổi chim, đuổi chuột rất vui. Con chuột lông vàng vào tháng đốt đồng trông có vẻ béo tốt hơn mọi ngày. Nó trở thành một món nai đồng quê hay cầy tơ ở Sài Gòn. Vào mùa này, những ai đi qua cầu bắc Mỹ Thuận mà quên mua về thành phố một xâu chuột Cần Thơ thì quả là một sự thiếu sót, nhứt là đối với bợm nhậu. Trong buổi đốt đồng reo hò theo ngọn lửa để đuổi chim, đuổi chuột, có lúc chúng tôi cũng thường bị rắn hổ và con chuột cống nhum thứ lớn tấn công trở lại mình. Do đó phải có cái cây có chán hai để đè cổ con rắn.




Con cống nhum thường ở dưới hang với cả chục con chuột cái nên nó phải nổi máu anh hùng trước cả chục người đẹp, đóng vai anh hùng cứu mỹ nhân. Hơn nữa, nó lớn gấp ba lần con chuột đồng. Người ta nói ở đường Thoại Ngọc Hầu nổi tiếng với món cháy cạnh nhưng thật ra chuột đồng ướp nướng và rắn hổ cháy cạnh còn ngon hơn nhiều. Nhưng các món này chỉ xuất hiện có vài tháng vào mùa đốt đồng thôi, còn quanh năm làm gì có. Khi hết mùa này, chúng tôi quay sang giở chà và câu cá, câu tôm. Nhưng đùng một cái có em học sinh chạy vào trường cho tôi hay trò Khải bị Bảo An bắn chết đêm qua vì đang đêm nó làm du kích Việt cộng. Hôm sau thì trò Lộc bỏ đi chiến khu. Ở xóm Cái Răng - Cái Tắc, người ta rải truyền đơn và phát động bản Cương lĩnh thành lập Mặt trận Giải phóng miền Nam. Đúng là:


Tình chỉ đẹp khi còn dang dở".
"Đời hết vui khi chưa vẹn câu thề,




Tôi về trường lại nhận sự vụ lịnh bị đổi đi Huế. Nghe người ta bảo là tôi bị cái tội chơi với Việt cộng nên bị đày một ngàn cây số. Nhưng Tái Ông mất mã đi Huế ra dạy ở trường Đồng Khánh, chưa nằm ngủ cũng đã thấy được giấc mơ đẹp rồi. Các em Đồng Khánh lửng thửng đi về trên đường Cổ Ngư, hai hàng cây long não thắp nến trên vai gầy giữa buổi chiều nắng quái vàng rực lên. Cậu Cẩn dù có dữ cách mấy, tôi nhịn cậu ta một chút cũng chẳng sao. Trở lại mối duyên với con chuột vàng, một lần sau cùng, tôi gặp lại con chuột này trên rừng Trường Sơn ở trại cải tạo Phước Long, rừng Bù Gia Mập.

Con chuột Trường Sơn lớn gấp ba lần con chuột vàng ở Cần Thơ. Lông nó óng ánh như con nai, con mển và mắt nó to và sáng hở. Tôi thấy nó chạy có bầy. Cộng sản khai thác lý thuyết của Báp Lốp, dùng thực phẩm để tiêu diệt quân thù. Ở đô thị, chúng phát động chánh sách ngăn sông cắt chợ để trị dân, bắt phải độn cao lương củ mì. Tù cải tạo dĩ nhiên phải bị bỏ đói. Quanh năm, chúng tôi không thấy mặt miếng thịt heo là gì. Do đó, chúng tôi làm chừng chục cái bẫy sập cũng có chim, có chuột ăn mệt nghỉ. Chỉ chịu khó thay phiên nhau xách đèn đi quanh rẫy bắp, rẫy lúa để giải tỏa mấy cái bẫy cho con khác chui vào. Thật sướng như đàn bà đi chợ, khiến bọn vệ binh và cán bộ cũng phải bắt chước làm theo. Thì ra mình lại cải tạo bọn Cộng sản.

Ông Trời thật bất công, đã sanh con chuột lại còn sanh thêm cái đuôi. Người ta dùng cái đuôi lôi nó lên bếp lửa để thui lông. Khi cháy hết lông chuột rồi, chúng tôi cắt bỏ bốn cái chân, dùng dao rạch một đường từ cổ xuống rún, như kéo đường dây "fermeture". Cắt miếng da ngoài sau ót rồi lột bộ áo da của nó như người ta lột bộ áo của anh chàng hiệp sĩ Batman trong phim ảnh. Người sành điệu làm thịt chuột thường cắt bỏ bốn cái hạch ở trong nách, nơi bốn cái chân con chuột. 

Mổ bụng rửa sạch sẽ rồi ướp hành, tiêu, tỏi, ớt... đem nướng lên thơm phức. Đi làm lao động về nghe cái mùi thịt ướp nướng với khói bốc lên thơm ngát khiến có đứa lại thèm một xị đế. Nhưng ở giữa rừng bát ngát mênh mông như thế này làm gì kiếm ra một xị rượu đế. Thế mà một ngày chúa nhựt hôm nọ, anh chàng Thuận lại xách về trại đến cả một lít. Hỏi ra mới biết anh ta cởi chiếc áo montagu đem vào sóc Thượng đổi lấy lít rượu đem về chiêu đãi cho cả đại đội, khiến mỗi đứa chỉ được không đầy nửa cái xây chừng. Có đứa cười lăn ra nói:


- Cũng có hơn bốn năm rồi mới nhắp được ngụm rượu thật thần tiên vô cùng. Lý Bạch xưa kia đâu được thưởng thức mùi rượu đế như thế này. Vì ổng uống nhiều quá, vả lại uống say rồi đâu có thấy rượu quí như vàng. Vừa uống vừa thèm kiểu này mới thấy rõ rượu ngon với lại bạn hiền.
Đến một hôm nọ có đợt thăm nuôi, vợ của anh chàng Thuận mới hỏi chồng:


- Anh à! Em đi ngoài bìa rừng thấy một đoàn người Thượng, sao có anh chàng Thượng già mặc cái áo montagu màu tím giống cái áo kỷ niệm quà sinh nhựt em tặng cho anh ngày anh về phép năm xưa. Cả phố Nguyễn Huệ em lựa được có mỗi cái áo đó là vừa ý thôi?
Biết không thể nào giấu vợ được, Thuận đành phải khai đầu đuôi sự thật là anh đã đổi lấy lít rượu rồi:

- Ở tù bởi Việt cộng thì còn biết ngày nào ra. Nay đổi trại này, mai đổi trại khác, anh em đồng cảnh đâu biết ngày nào gặp lại nhau. Chúng anh vui với nhau được bữa nào hay bữa nấy. Lít rượu đó là một kỷ niệm để đời. Có thương bọn anh thì xin em đừng buồn...

Ngừng một vài giây, chàng ta nói tiếp như để thuyết phục vợ:

- Không có gì đẹp bằng tình đồng đội trong đời lính cũng như trong đời của người cải tạo.



Lũ chuột ở rừng Trường Sơn dường như chỉ có một đợt trong vòng một hai tháng thôi, nhứt là vào tháng tư tháng năm, trời bắt đầu mưa. Có lẽ loại chuột nầy ăn cỏ non hay rễ cây như thỏ. Đội tôi chỉ có năm cái bẫy sập thôi mà thực phẩm có hoài, ăn không hết, có khi đem biếu cho những đội bạn. Đang đêm chỉ cần giải tỏa mấy cái bẫy để con khác có chỗ mà chui vào thôi. Món chuột cũng khá phong phú. Khi thì ướp nướng, khi thì kho xã ớt, khi thì xào lăn... Thường thì anh em chúng tôi cắt bỏ dái của con chuột đực. Lão già Xuân ra cái điều rành đông y lại đi nhặt nhạnh cái món nầy. Lão nói:

- Con dê là ông thầy, dái của con dê kêu bằng ngọc dương. Con chuột cũng là bậc thầy không kém con dê. Nơi một hang chuột đực, người ta bắt được hai ba chục con chuột cái. Món ngọc dương của con chuột là đại bổ. Ngâm rượu thì ông uống bà khen, đúng là cường dương đại bổ.


Mà bị nhốt trong trại cải tạo ở Bù Gia Mập - Bù Đăng - Bù Đốp này không có bóng dáng phụ nữ thì bà ở đâu mà khen. Chỉ có mấy thằng cán bộ chuyên môn xách hạch anh em chưởi lên chưởi xuống... thôi chán bỏ xừ.
Dũng và Sơn trốn trại vượt biên giới sang Campuchia gặp quân Pôn Pốt bắt, chuẩn bị báo cáo cấp trên, rồi đem ra giết. Thấy ngán quá, hai đứa khiếp vía lại trốn trại một lần nữa, quay ngược trở lộn về xin đầu thú. Cả hai bị biệt giam vào Connex và bị bỏ đói. Anh em lén lút tiếp tế cho hai đứa. Đến khi thả về, chúng nó cười bảo là nhờ chuột Trường Sơn nuôi chúng nó.

Dũng kể lại đời sống trong hàng ngủ Cộng sản Pôn Pốt còn khiếp vía hơn nữa. Lính tráng không một ai được nấu bếp riêng, không một ai được tăng gia riêng, nếu sơ sẩy là bị khép vào tội phản động và bị giết ngay. Dĩ nhiên là không ai được làm bẫy chuột để kiếm thêm lương thực kiểu tụi này. Dũng và Sơn bị bắt ở Tam Biên nơi một đồn biên giới được hơn một tuần. Thừa lúc chúng kéo nhau đi ăn Tết tháng tư và liên hoan ngày lễ lớn, chỉ để lại một tên coi trại, Dũng giựt súng và chạy trốn. Về đến trại, anh ta vất súng, cởi bỏ bộ đồ bà ba đen của lính Miên và xin đầu thú, chịu tù trở lại với Cộng sản Việt Nam.


Chúng tôi thường gặp nhau ở chợ Sài Gòn và nhứt là công viên Thống Nhứt (nay được mang tên là đường Lê Duẩn) ở trước mặt sở Ngoại vụ. Nơi đây thường được coi là Câu Lạc Bộ Xuất Cảnh. Anh em diện H.O. thường tùng tam tụ ngũ tán láo ở đây chờ ngày ra đi. Tôi và Dũng kéo nhau lên quán Nai Đồng Quê ở đường Thoại Ngọc Hầu ôn lại những kỷ niệm xưa. Dũng nói:

- Bây giờ thì không có nhậu thịt chó thịt chuột gì nữa cả. Nhậu tức là mình ủy lạo, mình vui mừng về cái thân xác của mình còn lại. Mình không đãi nó cái món thật quí thật sang thì chớ, nhất định tớ không ăn ba cái vớ vẩn này nữa. Chỉ tội nghiệp cho cái thân xác của mình!


Hiếu Đệ

Tuesday, May 30, 2017

TUẤN THẢO * NHẠC NGOẠI LỜI VIỆT

Nhạc ngoại lời Việt : Dòng nhạc François Feldman






Nhạc ngoại lời Việt : Dòng nhạc François Feldman
Francois Feldman phát hành 7 album từ 1987 đến 2004
 



Cách đây 30 năm, một ngôi sao chớm mọc trên vòm trời nhạc Pháp. Album đầu tay của François Feldman (mang tựa đề Vivre, Vivre) phát hành vào năm 1987, giúp cho anh trở thành một trong những ca sĩ tiêu biểu nhất những năm 1980. Dòng nhạc của François Feldman khá quen thuộc với người Việt : nhiều ca khúc của anh từng được đặt lời Việt trong đó có Magic’ Boulevard (Ngày vui năm ấy) hay Les Valses de Vienne (Luân vũ ngày mưa).
 
 Gần đây, chương trình Zone Interdite của đài M6 có quay phóng sự với nhan đề : Các thần tượng những năm 1980 nay về đâu ? Trong phần phỏng vấn, François Feldman đưa khán giả trở về nơi mà ‘‘mọi chuyện đã bắt đầu’’. Đó là căn hộ nghèo ở vùng ngoại ô Paris (Clichy sous Bois, vùng 92) nơi mà cậu bé François tập hát với các bạn học trong một căn hầm thiếu ánh sáng, tuy gian nan nhưng vẫn bền chí tự lập do từ nhỏ anh rất mê các thần tượng nhạc soul, nhạc funk như Marvin Gaye, Stevie Wonder hay James Brown …… 


Đó cũng là nơi anh gặp các thành viên ban nhạc Yellow Hand, họ bắt đầu ghi âm từ đầu những năm 1980, phát hành năm đĩa đơn nhưng mỗi lần đều gặp thất bại. Để kiếm sống, François Feldman đi hát thêm trong các phòng trà hộp đêm, mặt khác anh được tuyển vào hãng đĩa Barclay nhưng với tư cách là chuyên viên phối khí hoà âm. Đây sẽ là sở trường giúp cho nam ca sĩ sau này ‘‘hái ra tiền’’, anh phải tìm cho ra những nhạc khí chẳng những tương xứng với mỗi giai điệu mà còn thích hợp với từng giọng ca của người diễn đạt …..

Cơ hội ngàn vàng đến với François Feldman vào năm 1986, sau khi anh gặp Jean Marie Moreau, tác giả này sau khi thành công trong việc lăng xê Julie Pietri thành một ca sĩ nổi tiếng (nhờ bài Magdalena), đồng ý làm việc với François Feldman. Cặp bài trùng này hợp tác với nhau để cho ra đời tổng cộng là 7 album từ năm 1987 đến năm 2004.



Thành công của album đầu tay giúp cho tên tuổi của François Feldman lên như diều gặp gió. Chỉ trong vòng 6 năm (1987-1993), François Feldman hầu như không có đối thủ trên thị trường Pháp. Anh có 15 đĩa đơn lọt vào Top 20, và là ca sĩ duy nhất trong giai đoạn cuối những năm 1980, đầu thập niên 1990, có tới ba ca khúc đứng đầu bảng xếp hạng (Les Valses de Vienne 1989/ Petit Frank 1990 / Joy 1992) nhờ vào hai tập nhạc Une Présence và Magic’ Boulevard ……

Giới yêu chuộng nhạc Pháp đặc biệt biết tới François Feldman trong cái giai đoạn huy hoàng này. Còn khán thính giả người Việt biết tới dòng nhạc của Feldman do các bài chuyển ngữ. Riêng nhạc phẩm Les Valses de Vienne có tới ba phiên bản khác nhau …..

Đầu tiên là phiên bản Cõi Mơ lời Việt của Lữ Liên, do con trai ruột của tác giả là nam ca sĩ Anh Tú trình bày. Phiên bản thứ nhì mang tựa đề Luân vũ ngày mưa, lời Việt của Khúc Lan ăn khách qua tiếng hát của Ngọc Lan. Phiên bản thứ ba gần đây hơn được ghi là của nam ca sĩ Bằng Kiều, anh ghi âm bài này với tựa đề Điệu Valse buồn cho em …… Nội dung của cả ba tác phẩm lời Việt đều ít liên quan với bản nguyên tác tiếng Pháp.
Sông có khúc, người có lúc, tên tuổi của François Feldman cất cánh mau chóng mà hạ cánh cũng rất nhanh. Từ năm 1993 trở đi, anh băt đầu cuộc hành trình băng qua sa mạc, cho dù không có lý do gì giải thích vì sao báo chí truyền thông hay công chúng không còn quan tâm tới giọng ca này. François Feldman bị người ta gán cho cái danh hiệu của một hiện tượng nhất thời, giới phê bình ở Pháp cũng không mặn mà với anh cho lắm, trong mắt họ, anh chưa được công nhận là một tác giả thực thụ, mà chẳng qua chỉ là một ca sĩ biết theo thời, biết khai thác dòng nhạc thương mại …..




Nói như vậy cũng hơi oan cho François Feldman do anh đam mê ca nhạc như mối tình đầu đời, đeo đuổi nghiệp hát từ thuở thiếu thời. Mãi đến năm 2015, anh mới bắt đầu xuất hiện trở lại trước khán giả hâm mộ qua đợt lưu diễn Stars 80 khắp nước Pháp, anh được mời để thay thế Jean Luc Lahaye sau khi nam ca sĩ này bị truy tố do các vụ bê bối tình dục.

Giữa công chúng và ca sĩ François Feldman, dường như vẫn còn một vài chuyện hiểu lầm. François Feldman nuôi tham vọng gầy dựng một sự nghiệp của một ca sĩ chuyên hát nhạc funky & nhạc soul như các thần tượng của anh là Marvin Gaye, nhưng trong tâm trí của công chúng, François Feldman vẫn là một ca sĩ chuyên hát các bản tình ca lãng mạn : điệu valse thành Vienne không phải là câu chuyện tình xẩy ra ở thủ đô nước Áo, mà lại nói về  kỷ niệm một thời của một đôi tình nhân : cảnh vật còn đó năm nào, nhưng người xưa giờ ở nơi đâu ?

Trong nhạc phẩm Les Valses de Vienne, có một đoạn không được chuẩn cho lắm. ‘‘Maintenant que deviennent, que deviennent les valses de Vienne ? Dis-moi qu'est-ce que t'as fait, pendant ces années’’. Cách dùng văn nói trong bài hát như vậy không sai xét về mặt chính tả, nhưng về ngữ pháp văn phạm thì câu chữ lại nặng nề. Theo lối viết "mệnh đề nghi vấn gián tiếp’’ (proposition subordonnée interrogative indirecte), có lẽ nhóm tác giả François Feldman và Jean Marie Moreau nên dùng câu như sau : ‘‘Dis-moi ce que t'as fait pendant ces années’’ …… đúng văn phạm mà vẫn không sai ngữ điệu !




Tuy gọi là điệu valse của kinh thành Vienne, nhưng viết cách viết nhạc của François Feldman cũng như cách hoà âm phối khí lại mang đậm ảnh hưởng các nước Đông Âu, một điều mà theo lời của chính tác giả là do ảnh hưởng của gia đình và nhất là của ông bố nguyên là người gốc Nga.
Bộ ba ca khúc Slave, Les Valses de Vienne và đặc biệt là Les Violons Tziganes đều từng được phối với bộ đàn dây, một cách để cho François Feldman nhấn mạnh trên cái nguồn gốc Đông Âu và Trung Âu của gia đình hay nói cho đúng hơn là các dân tộc du mục sống ở miền Đông.

Bản nhạc Les Violons Tziganes ‘‘Dàn Vĩ cầm Du mục’’ được phát hành vào năm 2004 để tưởng niệm thân phụ quá cố, thế hệ ông đã trải qua bao năm tháng loạn lạc, chiến tranh, cuộc đời đã hứng chịu nhiều mất mát thiệt thòi. François Feldman viết lên những gì mà bố anh thường nói : đừng quá tự hào trong lúc vầng hào quang đang sáng chói, càng nên giữ vững niềm tin khi trong tim chỉ còn nỗi buồn lẻ loi.
  http://vi.rfi.fr/van-hoa/20170527-nhac-ngoai-loi-viet-dieu-valse-thanh-pho-vienne

TẠ QUANG KHÔI * NHỮNG NGƯỜI BẠN VĂN NGHỆ

NHỮNG NGƯỜI BẠN VĂN NGHỆ
                                           
Tạ Quang Khôi
Inline images 1


Tôi may mắn được tham dự sinh họat văn nghệ, báo chí miền Nam Việt Nam suốt hai mươi năm. Vì thế, tôi biết khá nhiều chuyện về các văn nghệ sĩ lẫn ký giả nổi tiếng trước năm 1975.
Hồi học Chu Văn An, Hà Nội, tôi chỉ làm thơ, chưa viết văn, thỉnh thoảng mới viết một truyện ngắn đăng báo. Vì không bao giờ nhận được nhuận bút nên tôi không tha thiết với việc viết văn. Thơ của tôi ở mức trung bình nên cũng được nhiều báo đăng. Nhờ vậy, tôi bắt đầu quen biết một số các văn nghệ sĩ Hà Nội.

Tôi quen Hoàng Song Liêm trong một kỳ thi Tú tài 1. Liêm tuy còn đang học trung học nhưng đã là chủ bút tờ tuần san Chiếu Bóng và giữ mục giải đáp tâm tình với bút hiệu Người Xứ Mộng.
Vì cả hai chúng tôi cùng làm thơ nên có ý định xuất bản chung một cuốn thơ, tựa là “Nắng Mới”. Thơ đã chọn lựa xong, tiền in cũng đã để dành đủ. Một hôm, để ăn mừng tác phẩm văn chương sắp ra lò, chúng tôi vào một nhà hàng ở gần bờ hồ Hoàn Kiếm, tên là Tùng Linh. 
Nhà hàng này có một món rất đặc biệt là pâté chaud. Vì món ăn ngon quá, ngày nào chúng tôi cũng tới để ăn mừng cuốn sách sắp ra lò. Vì chúng tôi tin rằng cuốn thơ “Nắng Mới” sẽ gây nên một xúc động lớn trong giới văn học thủ đô Hà Nội, chắc chắn những người yêu văn nghệ phải hâm mộ chúng tôi triệt để, nên chúng tôi càng phải “ăn mừng” nhiều hơn. Rồi đến một hôm, chúng tôi kiểm điểm lại số tiền in thì thấy hao hụt trầm trọng, không còn đủ để đưa nhà in nữa. Thế là ý định in thơ của chúng tôi nguội lạnh, trong khi đó pâté chaud vẫn nóng hổi. Thì ra chỉ vì cái tật tham ăn của chúng tôi mà hội đồng giám khảo giải văn học Nobel lỡ dịp tuyên dương một tác phẩm để đời.

Sau đó, nhờ Liêm tôi quen anh của ông là Hoàng Phụng Tỵ. Ông Tỵ lúc đó đã có thơ xuất bản, cuốn “Hương Thơ Mùa Lọan” được nhiều người ái mộ. Ông là một sĩ quan, bị thương ở mặt vì cánh quạt trục thăng nên mặt có sẹo. Vì thế, ông thường đến thăm tôi vào buổi tối và không chịu vào nhà có đèn sáng, chỉ thích đứng cửa nói chuyện văn chương, thơ phú.


Nguyễn Quốc Trinh cũng là một nhà thơ mà tôi thân. Nhưng chúng tôi chỉ liên lạc với nhau một thời gian ngắn, Trinh bỗng bỏ Hà Nội để trốn ra vùng kháng chiến vì muốn được gần ông chú là thi sĩ Nguyễn Ðình Thi.

Vào thời đó, có hai người cũng làm thơ đều tên Ngư mà tôi quen là Ðặng Bá Ngư và Lê Nguyên Ngư. Ðặng Bá Ngư có bút hiệu là Song Nhất Nữ. Lê Nguyên Ngư, khi di cư vào Nam, đổi thành Hồ Nam và Vương Tân (khi làm thơ). Song Nhất Nữ khá nổi tiếng vì thơ của ông ngày nào cũng xuất hiện trên nhật báo Tia Sáng. Rồi bỗng một hôm, thơ Song Nhất Nữ biến mất. Hỏi ra mới biết ông xuống Hải Phòng lo làm ăn nuôi gia đình. Bút hiệu của ông làm nhiều người thắc mắc. Ông là phái nam sao lại ký là Song Nhất Nữ ? Một hôm, tôi hỏi ông về bút hiệu này, ông giải thích :”Song Nhất là hai, Nữ là con gái. Vậy Song Nhất Nữ là Cô Hai.” Phải chăng ông yêu một người con gái tên Hai hay người con gái thứ hai trong gia đình nào đó ?


Khi di cư vào Nam năm 1954, vì sinh kế, tôi phải viết truyện đăng báo hàng ngày. Có một thời, tôi phải viết ba truyện dài cho ba nhật báo. Chỉ khi bắt đầu học đại học sư phạm tôi mới bỏ bớt hai báo để có thì giờ đèn sách.


Văn, thi sĩ miền Nam rất nhiều, tôi không có hân hạnh quen biết hết. Tôi làm hai nghề một lúc, vừa dạy học vừa viết báo nên không có nhiều thì giờ giao du, chỉ được gặp một số nhỏ.
Sau khi nhật báo Tự Do đóng cửa, tôi được ông Hồ Anh Nguyễn Thanh Hòang mời viết cho nhât báo Ngôn Luận và tuần báo Văn Nghệ Tiền Phong. Ðồng thời tôi trúng tuyển kỳ thi biên tập viên tin tức của đài phát thanh Saigon. Khi viết cho Văn Nghệ Tiền Phong và Ngôn Luận, tôi được gặp Hoàng Hải Thủy và Thanh Thương Hoàng. Sự liên lạc của chúng tôi đến nay vẫn mật thiết dù đã hơn nửa thế kỷ.


Thanh Thương Hoàng ở xa, San José (CA), nên chúng tôi chỉ có thể liên lạc với nhau qua email. Dù ít gặp nhau, nhưng mỗi lần nghĩ đến ông, tôi lại không thể quên cái công của ông với làng báo Saigon khi ông lập ra Làng Báo Chí gần Thủ Đức. Làng báo chí nằm bên tay trái xa lộ Biên Hòa nếu đi từ Saigon. Có nhiều ký giả, nhà văn đã được cấp nhà, chấm dứt tình trạng đi ở thuê. Sau này, gặp ông ở hải ngoại, ông cho biết đa số người được cấp nhà trong làng báo chí không chịu trả tiền nên khi miền Nam “đứt phim” ông còn nợ Nha Kiến Thiết 350 triệu.


Làm đài phát thanh Saigon, tôi quen thân với ban Tao Ðàn của thi sĩ Ðinh Hùng. Ngoài ông trưởng ban đã thân từ những ngày làm báo Tự Do, tôi bắt đầu quen biết các nhân viên trong ban, như : Huy Quang, Thanh Nam, Thái Thủy và Tô Kiều Ngân,


Ngay từ những ngày còn ở Hà Nội, tôi đã đọc truyện của Huy Quang, Vào thời đó, các nhà văn trẻ mới nổi, có Nguyễn Thiệu Giang, Huy Quang, Thanh Nam, Nguyễn Minh Lang…Truyện của Huy Quang đã được nhà xuất bản Văn Hồng Thịnh in và phát hành..Thanh Nam cũng đã có truyện xuất bản. Tôi đọc “Lỡ Một Đời Hoa” của ông rất say mê. Đó là một truyện tình lãng mạn, rất bay bướm. Nguyễn Thiệu Giang viết nhiều truyện ngắn hấp dẫn.vì cách hành văn rất lạ và bay bướm. Nguyễn Minh Lang có tác phẩm “Hoàng Tử Của Lòng Em” để tặng riêng một nữ ca sĩ xinh đẹp đang nổi tiếng ở Hà Nội. Ngay trang đầu của cuốn sách có hình một trái tim màu đỏ tươi và một dấu hỏi cũng màu đỏ. Có người giải thích trái tim và dấu chấm hỏi là tên nữ ca sĩ mà tác giả đang yêu : Tâm Vấn.


Vào Nam, khi làm cho đài phát thanh Saigon, tôi được biết trụ sở của đài phát thanh Saigon cũng là trụ sở tạm của đài phát thanh quân đội. Văn phòng của đài phát thanh quân đội chỉ là một phòng nhỏ ngay chân cầu thang. Một hôm, tôi thấy một trung úy đang ngồi viết bài trong phòng đó. Tình cờ nhà văn Thanh Nam cũng đang lên lầu với tôi nên tôi hỏi nhỏ ông về viên trung úy đang hí hoáy viết. Thanh Nam cho biết đó là Huy Quang. Thì ra chính là nhà văn mà tôi hâm mộ từ ngày còn ở Hà Nội. Bỗng Thanh Nam nắm tay tôi kéo xuống thang, dắt tôi đến trước mặt Huy Quang để giới thiệu. Tình bạn giữa Huy Quang và tôi thân thiết nhanh chóng vì hợp tính hợp tình.


Khi Huy Quang là trung tá, được thủ tướng Nguyễn Cao Kỳ bổ nhiệm làm tổng giám đốc Nha Vô Tuyến Truyền Thanh Việt Nam. Ông gửi văn thư sang bộ Giáo dục xin tôi về làm phó tổng giám đốc. Bộ Giáo Dục liền chuyển tôi sang bộ Thông Tin. Vì không hiểu thủ tục hành chánh, tôi lên bộ Giáo dục để hỏi ông giám đốc nha Nhân viên sao không chuyển thẳng về đài phát thanh lại cho tôi sang bộ Thông Tin. Ông giám đốc giải thích rằng bộ nọ liên lạc với bộ kia, không thể liên lạc trực tiếp với tổng nha được. Tôi băn khoăn hỏi thêm về thủ tục hành chánh, ông giám đốc cho biết khi tôi đã trình diện bộ Thông Tin, tôi sẽ là người của bộ này. 
Nếu ông Vũ Đức Vinh không còn làm tổng giám đốc Nha Vô Tuyến Truyền Thanh nữa, tôi sẽ phải về bộ Thông Tin vì tôi là người của bộ này. Lúc đó rất phiền cho tôi vì tôi là công chức ngạch A, trong khi đó đa số nhân viên bộ Thông Tin thuộc ngạch B hoặc phù động. Nếu tôi không có vây cánh, người ta có thể bổ nhiệm tôi vào một chức vụ nào đó xa Saigon, tôi không có quyền từ chối. Nghe giải thích như vậy, tôi hoảng sợ, không dám trình diện bộ Thông Tin nữa. Tôi đành phụ long tốt của ông Vinh.


Sau này, khi đã ở Mỹ, cuối năm 2004, tôi bay sang Seattle (WA) thăm ông Vũ Đức Vinh và một số bạn định cư ở đó. Ông Vinh lại trách tôi đã không chịu làm phó cho ông vì ông tin rằng nếu ông trở về quân đội, tôi sẽ lên thay. Tôi không tin như vậy vì tôi không có vây cánh ở bộ Thông Tin. Trong dịp thăm viếng này, tôi thấy ông Vinh mập quá nên khuyên ông phải cố gắng ăn “diet” và tập thể dục cho xuống cân. Ông chỉ cười tỏ vẻ không đồng ý. Vào cuối năm 2005, tôi nghe tin ông phải làm “by-pass” và trong khi cuộc giải phẫu đang tiến hành thì ông bị nhồi máu cơ tim nên đã qua đời.


Người thứ hai trong ban Tao Đàn tôi thân và quý mến là Thanh Nam. Ông tên thật là Trần Đại Việt, người Thái Bình. Ông hiền lành, dễ tính. Ông nghiện thuốc lá và bia.Tật của ông là hay rung đùi. Vào những năm cuối thập niên 1950, bọn tôi thường đến bar Hòa Bình, gần chợ Bến Thành, để nghe hát. Thanh Nam yêu một nữ ca sĩ và cũng được nàng yêu lại. Ông hỏi cưới người yêu, nhưng không được toại nguyện. Sau đó, ông kết duyên với nữ văn sĩ Túy Hồng, người Huế. Túy Hồng cũng là một nhà giáo, dạy ở trường trung học Mạc Đĩnh Chi, Saigon. Trước biến cố 30 tháng 4 năm 1975, gia đình Thanh Nam được Mỹ bốc ra khỏi Việt Nam vì ông làm cho đài phát thanh Tự Do của Mỹ, mà ông Vũ Quang Ninh làm giám đốc.


Năm 1982, gia đình tôi vượt biên, rồi được đinh cư ở Mỹ. Vào giữa năm 1984, khi tôi ở Sacramento (CA) thì liên lạc được với Thanh Nam ở Seattle (WA). Lúc đó ông đã bị ung thư cổ và đã giải phẫu cắt chỗ bị ung thư nên không còn nói được nữa. Khi biết địa chỉ tôi, ông gửi tặng tôi cuốn thơ “Đất Khách” với lời khuyến khích :”Cầm bút lại đi nhé !”


“Đất Khách” có hai mươi mốt (21) bài, bài nào cũng hay và cảm động khi nhắc tới quê hương xa xôi nửa vòng trái đất. Riêng tôi, tôi thích nhất bài “Khúc Ngâm Trên Đất Tạm Dung”.


Uống say mai sớm bạn lên đường
Thân lại nương nhờ chốn viễn phương
Trăm hận nghìn đau nào sánh nổi
Tấm lòng lưu lạc nhớ quê hương ?
Ta như going bão tan rồi hợp
Trôi dạt còn hơn song đại dương
“Lận đận bên trời chung một lứa…”
Say càng chua xót, tỉnh càng thương
Tháng năm xa mãi thời hoa mộng
Râu tóc thêm gần với tuyết sương.




Đầu tháng 2 năm 1985, Huy Quang Vũ Đức Vinh gọi dây nói báo tin Thanh Nam đã ra đi.

Người bạn Tao Đàn khác mà tôi thân là thi sĩ Thái Thủy, tác giả bài thơ “Thư gửi Mẹ” được nhạc sĩ Nguyễn Hiền phổ nhạc :
Mẹ ơi, thôi đừng khóc nữa
Cho lòng già nặng sầu thương
Con đi say tình viễn xứ,
Đâu có quên tình cố hương…

Tôi không hiểu Thái Thủy làm đài phát thanh từ bao giờ mà rất thông thạo về ngành vô tuyến truyền thanh. Chuyện gì ông cũng biết, mà biết rất tường tận. Có người gọi đùa ông là Kissinger.

Thái Thủy lấy vợ rất muộn. Người vợ đầu tiên của Thái Thủy là con gái nhỏ của nhà văn Mặc Thu Lưu Đức Sinh. Tôi không rõ ai đã làm mai hay làm sao hai người quen biết nhau để có thể trở thanh vợ chồng. Trong đám cưới, ngâm sĩ Hoàng Thư của ban Tao Đàn lên máy vi âm nói đùa là từ nay Thái Thủy phải gọi ông là bác vì ông cùng tuổi và là bạn của nhà văn Mặc Thu.

Khi cộng sản chiếm miền Nam, Thái Thủy phải đi tù cải tạo, bà vợ lấy chồng khác. Ít lâu sau, ông được đi Mỹ theo diện HO cùng với bà vợ mới. Khi ông bị ung thư phổi vào giai đoạn cuối cùng đã vội vã bay về Việt Nam để thăm mẹ. Cụ là một sĩ quan trong ngành Quân Nhu của Việt cộng. Ông qua đời vào tháng 4 năm 2011.

Tô Kiều Ngân cũng là một nhân viên ban Tao Đàn, nhưng tôi không thân nên không biết gì nhiều về ông. Tôi thường gặp ông trong quán ăn trước cửa đài phát thanh Saigon. Ông nói giọng Huế, mặc quân phục, đeo lon trung úy. Khi nói chuyện, ông hay cười với bạn bè. Năm 2012 ông qua dời ở Huế, thọ 86 tuổi.

Về nhà văn Văn Quang, tôi cũng có chút kỷ niệm. Khi tôi đang làm đài phát thanh Saigon, ông cưới bà vợ đầu tiên. Tiệc cưới tổ chức ở nhà hang Động Phát, Chợ Cũ. Khi tôi vào nhà hang, một nhân viên đài phát thanh Saigon kéo tôi ngồi cùng bàn ngay. Nhưng tôi chỉ mới ngồi được vài phút, Văn Quang từ trên lầu xuống, ghé tai tôi nói nhỏ : ”Tao ở trên lầu, sao mày lại ngồi đây ?”

 Lúc đó tôi mới biết một nhân viên đài phát thanh cũng cưới vợ, nhưng không mời tôi. Người nhân viên quen thuộc tưởng tôi cũng đến dự đám cưới của bạn ấy nên mới muốn tôi ngồi cạnh. Thế là tôi vội vàng theo Văn Quang lên lầu. Sở dĩ tôi nói Văn Quang cưới bà “vợ đầu tiên” là vì ông đã ở chung với bảy bà khác nhau. Nếu tôi không lầm, Văn Quang chỉ làm hôn thú với bà thứ nhất. Sau khi ly dị với bà này, ông không làm hôn thú với ai khác nữa.

Tôi gặp Hoàng Hải Thủy và bắt đầu quen ông năm 1956. Khi báo Tự Do đóng cửa, tôi được ông Hồ Anh Nguyễn Thanh Hoàng mời viết báo Ngôn Luận, rồi Văn Nghệ Tiền Phong với truyện dài “Mưa Gió Miền Nam”. Hoàng Hải Thủy viết cho Ngôn Luận phóng sự “Vũ Nữ Saigon”. Tôi không còn nhớ tôi viết cho Ngôn Luận những truyện gì, chỉ nhớ truyện cuối cùng là “Thầm Lạng”, một truyện tình cảm rất ướt át. Sau đó, tôi tạm ngưng viết truyện dài cho các báo để học sư phạm.

Về chuyện đi Mỹ của ông bà Hoàng Hải Thủy, tôi được biết ông bà sang Mỹ theo diện tỵ nạn chính trị. Khi biết tin ông bà đã tới Mỹ và tạm trú tại nhà bà Khúc Minh Thơ, cũng ở Virginia, tôi liền tới thăm và đưa ông đi chơi một vòng quanh thủ đô Washington DC. Chỉ ít lâu sau ông được chuyển vào nhà già khi building Elmwood vừa xây xong năm 1996. Từ đó, các bài viết của ông được ghi “Viết ở Rừng Phong”. Tám năm sau, khi con tôi, vì công việc làm, phải chuyển xuống Houston (TX), tôi không đi theo vì không muốn xa vùng thủ đô Hoa Thịnh Đốn có khí hậu ôn hòa, tôi xin vào nhà già. Tình cờ tôi được làm hang xóm của ông Hoàng Hải Thủy trong building Rừng Phong.

Năm 1982, tôi cùng các con vượt biên và được định cư ở Mỹ. Nơi tôi đến đầu tiên là San José. Chúng tôi mới chân ướt chân ráo tạm trú tại nhà vợ chồng cô em nhà tôi thì ông Lê Thiệp đã biết tin, vội đến mời tôi đi ăn. Sau bữa ăn, ông đưa tôi về tòa soạn báo Kháng Chiến của Mặt trận Hoàng Cơ Minh và đề nghị tôi ở luôn trong tòa báo để lo bài vở cho tờ báo. Tôi cho biết tôi có ba con nhỏ đi cùng, phải cho tôi có thời gian thu xếp chuyện gia đình đã. Ngay buổi tối hôm đó, tôi gọi dây nói cho một ông bạn ở Nam Cali. Ông trước kia là đàn em thân tín của bác sĩ Trần Kim Tuyến Ông liền khuyên nên chuyển đi nơi khác vì Mặt Trận là một trò bịp để moi tiền đồng bào tỵ nạn. Thế là tôi vội đưa các con lên Sacramento.

Tôi mới chỉ ở Sacramento được vài tháng, ông Hồ Anh Nguyễn Thanh Hoàng bay từ Bắc Virginia sang thu tiền báo của các đại lý. Ông đề nghị tôi chuyển sang Virginia để làm báo Văn Nghệ Tiền Phong. Lúc đó gia đình tôi đang hưởng trợ cấp AFDC của chính phủ. Tính tôi không thích nhờ vả, ăn welfare là một chuyện bất đắc dĩ. Thế là tôi nghe lời ông lếch thếch đưa các con sang Virginia bằng xe buýt Greyhound. Ông Hồ Anh không chịu trả tiền phí tổn di chuyển cho tôi, viện cớ tôi có ba con nhỏ đi theo. Làm việc cho ông Hồ Anh là một bất đắc dĩ. Lương đã thấp lại không có bảo hiểm sức khỏe.

Không những thế, khi tôi mới làm được ba tháng rưỡi, ông nghe ông Lê Triết đuổi tôi với lý do tôi nằm vùng cho Mặt Trận Hoàng Cơ Minh. Một nách ba con nhỏ nơi xứ lạ quê người lại bị thất nghiệp thì không còn gì đau khổ cho bằng. Tôi đành xin ăn welfare trở lại. Đồng thời, tôi ráo riết tìm việc làm cho sở Mỹ. Nhưng chưa đầy một tháng, ông Hồ Anh đến tận nhà tôi xin lỗi vì đã đuổi oan tôi, nay ông đã biết tôi không có liên lạc gì với Mặt Trận. Vào dịp này, ông Hồ Anh xuất bản tờ “Tiểu Thuyết Nguyệt San”, cho tôi làm chủ bút. 
Nhưng tờ Tiểu Thuyết Nguyệt San mới ra được 11 số thì tôi được một sở Mỹ gọi đi làm. Tôi liền báo cho ông Hồ Anh biết và nghỉ việc ngay tức khắc. Ông giao tờ Tiểu Thuyết Nguyệt San cho thi sĩ Hoàng Anh Tuấn phụ trách. Nhưng không hiểu sao ông Hoàng Anh Tuấn bỏ ngang, nhường cho ông Hà Bỉnh Trung thay thế. Sau đó, tôi không liên lạc gì với báo chí Việt Nam nữa. Lương sở Mỹ gấp ba lương Văn Nghệ Tiền Phong, lại có bảo hiểm sức khỏe cho cả gia đình.

Tôi làm cho sở Mỹ đến cuối năm 1998 thì xin về hưu. Lúc đó tôi đã gần 70, sợ không còn đủ sức khỏe để làm những chuyện cần thiết cho riêng mình trước khi ra khỏi cõi đời này. Chính nhờ thời gian rảnh rỗi này, tôi đã viết được nhiểu truyện ngắn, truyện dài, khảo cứu văn học và hồi ký. Truyện cuối cùng la truyện “Bể Dâu” tôi viết xong vào tháng 8 năm 2013.

Tôi không nhớ tôi quen nhà văn Doãn Quốc Sỹ trong trường hợp nào, tôi chỉ nhớ hồi còn ở Saigon thỉnh thoảng tôi đến thăm ông. Nhà ông ở trong một ngõ hẻm đường Thành Thái. Mỗi lần đến chơi, tôi đều được bà Sỹ đàn dương cầm cho nghe. Bà là con gái nhà thơ trào phúng Tú Mỡ Hồ Trọng Hiếu, trong Tự Lực Văn Đoàn.


Ông Doãn Quốc Sỹ cũng là một nhà giáo. Ông đã có bằng cao học giáo dục ở Mỹ. Ông rất hòa nhã và lúc nào cũng vui vẻ với bạn hữu. Ông hơn tôi 6 tuổi nên tôi coi ông là bậc đàn anh cả về văn nghệ lẫn giáo dục. Nhưng ông lại vẫn coi tôi ngang hang như bạn.
Khi cộng sản chiếm miền Nam, ông phải đi tù cải tạo, rồi sau này gia đình ông được sang Mỹ theo diện HO. Ở Mỹ, tôi chỉ được gặp ông có một lần khi hội Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại họp đại hội ở Virginia. Sau đó, tôi không bao giờ được gặp ông nữa. Cách đây mấy năm, tôi nghe tin bà Sỹ qua đời.


Trong thời gian làm cho Văn Nghệ Tiền Phong, tôi được gặp và quen biết nhà văn Sơn Tùng. Lúc đó, ông ở tiểu bang khác, chỉ gửi bài cho cả Văn NghệTiền Phong lẫn Tiểu Thuyết Nguyệt San. Lối viết của ông đặc biệt, dí dỏm. Ông Hồ Anh rất thích văn của ông nên mời ông về Virginia làm chủ bút Văn Nghệ Tiền Phong. Tòa báo chịu mọi phí tổn di chuyển và tạm thời cho ông Sơn Tùng ở trong ngôi nhà mới mua của ông Nguyễn Thanh Hoàng tại McLean. Tình bạn của tôi với Sơn Tùng vẫn thân thiết cho đến ngày nay. Ngoài bút hiệu Sơn Tùng, ông còn hai bút hiệu khác nữa là Sương Lam và Thợ Hồ.

Năm 2007, ông Sơn Tùng, lúc đó là chủ tịch Văn Bút Việt Nam Hải ngoại, cho biết Đại Hội Văn Bút sẽ họp váo tháng 10 ở Bắc Virginia và có ý định tuyên dương ba người trong vùng thủ đô Mỳ, đó là : Vũ Hối, Vương Đức Lệ và tôi, Tôi từ chối cái vinh hạnh đó vì tự xét không xứng đáng..Thế là chỉ có hai ông Vũ Hối và Vương Đức Lệ được tuyên dương.


Về nhà văn Phan Nghị, tôi biết ông từ hồi còn ở Hà Nội khi ông viết phóng sự “Bờ Lờ” cho báo Tia Sáng. Tôi hiểu “bờ lờ” là buôn lậu, nhưng có người lại giải thích khác. Bờ lờ là…bổ lẻ. Ở ngoài hậu phương, trong thời gian chống Pháp, khi phải di chuyển xa, nếu có đường thủy thuận tiện, người ta đi thuyền cho đỡ mệt. Về đêm, khách đi thuyền thường phải ngủ chung trong khoang, cả nam lẫn nữ. Rồi chuyện “bất thường” có thể xảy ra. Đến sang, khi lên bờ, mỗi người đi một nẻo, không cần biết nhau nữa. Có phải như vậy là bổ lẻ (bờ lờ) không ?

Một hôm, tôi đang đi trên vỉa hè phố Huế,gần chợ Hôm với một người bạn cùng học Chu Văn An, một người đi xe đạp, miệng ngậm điếu thuốc lá, tay áo sơ mi ngắn vén cao lên, trông rất tay chơi, ghé vào vỉa hè để nói chuyện với một người đang đứng đợi. Bạn tôi nói nhỏ với tôi :”Ông Phan Nghị, tác giả Bờ Lờ đấy.”

Tôi không có hân hạnh quen Phan Nghị ngay hồi đó. Mãi về sau này, khi di cư vào Nam, tôi tham gia sinh hoạt văn nghệ mới quen ông. Một hôm, tôi đến tòa báo Ngôn Luận để đưa bài, gặp ông ở đó. Ông là một nhân viên tòa soạn. Trông thấy tôi, ông vừa cười vừa nói :”Mày đen như ống khói ấy.” Tôi tưởng ông chỉ nói đùa cho vui, không ngờ cuối tuần đó, trong mục Tin Văn Nghệ của báo Bông Lúa, ông gọi tôi là Tạ Ống Khói. Thế là tôi có hỗn danh từ đó (1957). Tôi không giận ông vì biết tính ông hay đùa vui, không có ác ý.

Phan Nghị viết phóng sự hay nên được thủ tướng Nguyễn Cao Kỳ có cảm tình đăc biệt. Có lần ông được ông Kỳ cho ngồi máy bay khu trục đi theo đoàn máy bay ra Bắc vĩ tuyến 17 để oanh tạc đất Bắc. Khi có hội nghị Paris, ông cũng được ông Kỳ cho sang Pháp theo dõi để viết phóng sự cho báo Chính Luận.
Bạn bè ai cũng biết ông có tính “phổi bò”, nghĩa là biết gì nói đó, không cần giữ ý. Ông dặn bạn bè là có gì cần giữ bí mật thì đừng cho ông biết.


Tôi quen thi sĩ Vương Đức Lệ rất tình cờ. Vào cuối thập niên 1990, tôi bắt đầu liên lạc với Văn Quang bằng email. Một hôm, người trả lời thư tôi không phải Văn Quang mà là Vương Đức Lệ. Ông viết :”Anh Khôi ơi, tôi là Vương Đức Lệ.đây. Tôi đọc truyện anh từ hồi anh viết cho báo Tự do.” Tôi vừa ngạc nhiên vừa thích thú. Tôi biết tiếng Vương Đức Lệ từ lâu. Ông là một thi sĩ đã được giải thưởng văn chương toàn quốc cùng với thi sĩ Mai Trung Tĩnh. Tình bạn của chúng tôi bắt đầu từ ngày đó. Rôi khi gia đình ông được các bà em Lê Thị Ý, Lê Thị Nhị bảo lãnh sang Mỹ, lại cùng ở Virginia, chúng tôi thân nhau hơn. Thỉnh thoảng các bạn văn nghệ trong vùng họp nhau thì tôi lại được gặp ông.

Ông nghiện thuốc lá rất nặng, mỗi ngày hút trên 20 điếu. Có lần tôi đề nghị ông giảm bớt dần, rồi bỏ luôn. Nhưng ông không đồng ý. Rồi chỉ khi ông bị ung thư phổi, phải thở bằng dây oxy thì mới bỏ được thuốc lá, nhưng đã quá trễ. Một hôm, tôi đến thăm, ông nằm trên giường bình tĩnh nói với tôi :”Xong rồi, ông ạ.” Mấy hôm sau, nhà văn Hoàng Hải Thủy gọi dây nói báo tin :”Vương Đức Lệ đi rồi.”,

Hồi còn ở Saigon, tôi không có hân hạnh quen nhà văn Uyên Thao. Thỉnh thoảng đến báo Chính Luận, tôi gặp ông, nhưng không ai giới thiệu cho chúng tôi quen nhau. Vì thế, tôi không biết ông làm cho báo nào. Mãi khi ra hải ngoại, tôi mới được quen ông. Hôm gia đình ông đến Mỹ theo diện HO, các bạn ở vùng Falls Church (VA) rủ tôi ra phi trường đón ông..


Uyên Thao là người có nhiều công với giới văn học hải ngoại khi ông sang lập Tủ Sách Tiếng Quê Hương. Khi bị ung thư bao tử, trước khi vào phòng mổ, ông gửi email chào vĩnh biệt các bạn. Nhưng cuộc giải phẫu thành công mỹ mãn.
Cuốn tiểu thuyết dã sử “Trong Ánh Lửa Thù” của ông được nhiều nhà phê bình văn học ca tụng nhiệt liệt. Tôi không rõ thi sĩ Nguyên Sa và gia đình từ Pháp về Việt Nam bao giờ, một hôm, nhà văn Thanh Nam rủ tôi đến thăm ông. Nhà ông ở trong một hẻm gần chợ Thái Bình. Từ ngày đó tôi mới bắt đầu quen thi sĩ.

Năm 1960, Nguyên Sa xuất bản nguyệt san Hiện Đại, Thái Thủy làm thư ký tòa soạn. Nguyên Sa đề nghị tôi viết bài cho nguyệt san. Hồi đó tôi đang học sư phạm nên không có nhiều thì giờ, thỉnh thoảng mới có thể đóng góp một bài. Tôi không nhớ Hiện Đại ra được bao nhiêu số thì ngưng.

Ngoài việc làm thơ, viết văn, Nguyên Sa còn là một giáo sư Triết của Chu Văn An. Sau này, ông mở một trường tư riêng của ông, tên là Văn Học. Trường sở nằm trên đường Phan Thanh Giản. Gia đình ông ở ngay trong trường. Một hôm, chúng tôi tình cờ gặp nhau ở giữa đường. Ông lái xe Peugeot 403 màu xám nhạt, tôi đi xe Nhật. Thấy tôi, ông vẫy tay gọi. Chúng tôi ngừng lại ở giữa đường.

Ông nói nhanh :”Đến moa ngay nhé.” Tôi không biết có chuyện gì, nhưng nhận lời vì đang rảnh. Ông đợi tôi ở ngay cửa trường Văn Học, đưa tôi vào nhà, phía sau trường. Ông đưa cho tôi một tập bản thảo và đề nghị tôi đem về đọc. Trước khi chia tay, ông cho biết cuốn sách này bị sở Kiểm duyệt bộ Thông Tin không cho xuất bản. Về nhà tôi mở bản thảo ra, tựa sách là “Vài Ngày Làm Việc Ở Chung Sự Vụ”. Khi bị động viên vào Thủ Đức, Nguyên Sa ra trường với lon chuẩn úy. Ông được bổ nhiệm vào Chung Sự Vụ, nơi lo việc mai tang các chiến sĩ bị tử trận. Ông đã chứng kiến những chuyện đau lòng của thân nhân những người quá cố. Sở Kiểm duyệt bộ Thông Tin coi cuốn sách có tinh thần phản chiến, nên cấm xuất bản.

Sau này tôi không rõ gia đình Nguyên Sa sang Mỹ bằng cách nào. Ông định cư ở Nam Cali và xuất bản tở tuần san Đời. Vào dịp đó, tôi không rõ vì lý do gì mà ký giả Lê Triết viết bài công kích Nguyên Sa, với lối viết rất độc địa, bới móc cả thân phụ thi sĩ. Tôi không được đọc báo Đời nên không biết Nguyên Sa có trả lời không ?

Hậu quả lối viết độc địa của Lê Triết là cả hai vợ chồng ông đều bị bắn chết trên xe hơi ở trước cửa nhà. Vụ ám sát này không được làm sang tỏ vì cảnh sát Mỹ không chịu điều tra đến nơi đế chốn nên không biêt ai là thủ phạm. Người ta chỉ phỏng đoán Mặt Trận Hoàng Cơ Minh chủ mưu. Lê Triết đã viết nhiều bài tố cáo Mặt Trận lừa bịp những người yêu nước chống cộng ở hải ngoại để quyên tiền..

Trong thời gian Lê Triết bới móc gia đình Nguyên Sa, tôi đang làm cho Văn Nghệ Tiền Phong nên bị Nguyên Sa ghét lây vì tưởng tôi về phe Lê Triết. Khi nghe tin thi sĩ bắt đầu bị ung thư. Tôi bay xuống Nam Cali để thăm ông, nhưng ông không tiếp vì cho tôi về phe với Lê Triết.. Thật đáng buồn đã không được gặp ông trước khi ông ra khỏi cõi đời này.


Tôi không về phe với Lê Triết vì chính tôi cũng là nạn nhân của ông, như tôi đã đã kể ở trên.
Khi ông Hồ Anh xuất bản tờ Thời Thế thay cho Ngôn Luận mới bị đóng cửa vì không kịp nộp tiền hối lộ (300 ngàn) cho ông bộ trưởng Thông Tin mới là tướng Đỗ Mậu, tôi làm phụ tá cho chủ bút là nhà văn Lê Xuyên, tác giả cuốn tiểu thuyết rất nổi tiếng “Chú Tư Cầu”.. Ông Lê Xuyên là người Nam, có một thời hoạt động cách mạng, theo đảng Ðại Việt nên đã từng ra Bắc và lấy vợ Bắc. Ông hiền lành, dễ tính, nói năng từ tôn, khác hẳn các nhân vật trong truyện của ông. Sau năm 1975, khi tôi dã sang Mỹ, nghe tin ông phải bán thuốc lá ở một góc đường Khổng Tử trong Chợ Lớn để tạm sống cho qua ngày. Cách đây khoảng 7 hay 8 năm, bạn hữu ở Saigon báo tin ông đã từ trần.

Vế các nhà văn nữ, tôi chỉ quen một số ít. Tôi có bốn bà em kết nghĩa. Mấy bà gọi tôi là Anh Hai. Cô Ba là Trần Thị Lai Hồng, một nghệ sĩ chuyên về tranh trên lụa, nên lấy tên email là Art On Silk. Tôi quen Lai Hồng khi cùng làm đài phát thanh Saigon vào cuối thập niên 1950. Cô Tư không viết văn mà cũng không hoạt động trong ngành nghê thuật, nhưng có liên hệ mật thiết với nghệ thuật. Cô là em kết nghĩa của nữ danh ca Thái Thanh và ở chung nhà với gia đình Thái Thanh. Khi Lê Quỳnh ghen với Mai Thảo, rút súng bắn vợ.

Thanh Sơn liền đứng vào giữa hai người để hừng đạn cho bà chị kết nghĩa. Thanh Sơn không chết, chỉ bị mất một lá phổi nên bị xuyễn nặng. Thanh Sơn đã từ trần, thọ 79 tuổi. Người em kết nghĩa thứ ba là Cô Năm, tức Đặng Mỹ Dung, Yung Krall, tác giả cuốn “Ngàn Giọt Lệ Rơi.” (A Thousand Tears Falling). Em út là Đỗ Dung, tác giả tuyển tập truyện ngắn “Như Một Thoáng Mây Bay”.Có lần Đỗ Dung nói đùa với tôi :”Chỉ mình em là út thôi đấy nhé, không có út thêm hay út hai, út ba gì nữa đấy.” Tôi thân với Đỗ Dung vì khi gia đình Dung vượt biên, tôi gửi thằng con thứ hai đi cùng. Mỗi khi liên lạc qua email, Dung gọi tôi là Anh già và xưng Út.


Trong vùng Virginia có một số nữ văn nghệ sĩ, như : Lê Thị Ý, Lê Thị Nhị, sang lập và chủ trương tờ nguyệt san Kỷ Nguyên Mới, Hồng Thủy, tác giả cuốn “Những Cánh Hoa Dại Màu Vàng”, Ngọc Hạnh với tác phẩm “Du Ngoạn Đó Đây”...Dù thân, tôi cũng ít liên lạc với các bà vì tôi đã lớn tuổi, không còn thích tham dư các buổi họp mặt.
Ngoài ra, tôi cũng còn quen biết một số văn nghệ sĩ khác nữa, nhưng tôi không muốn nhắc tới họ với những lời tiêu cực.

TQK
__._,_.___