Saturday, April 1, 2017

SƠN TRUNG * VÔ SẢN ĐOÀN KẾT



SƠN TRUNG


VÔ SẢN ĐOÀN KẾT



I. CỘNG SẢN VÀ VÔ SẢN

Kết thúc Tuyên Ngôn Cộng Sản, Marx kêu gọi:Vô sản tất cả các nước, đoàn kết lại!

Thời Marx cho đến Lenin,Stalin, chỉ có nước Anh với cách mạng khoa học, kỹ thuật, đã tiến lên thành một nước tư bản chủ nghĩa, còn Pháp, Nga, Đức, Trung Quốc vẫn còn là những quốc gia chậm tiến với kinh tế nông nghiệp lạc hậu. Nói đúng ra, Pháp, Đức, Nga... đang bắt chước nước Anh mà khởi đầu xây dựng tư bản chủ nghĩa. Nhìn chung, giai cáp thợ thuyền các nước chỉ chiếm khoảng 1% dân số.Chính Marx cũng công nhận điều này khi ông viết trong Tuyên Ngôn Cộng sản "Trong những nước như nước Pháp, ở đó nông dân chiếm quá nửa dân số..(TNCS III.B. Chủ Nghĩa Xã Hội Tiểu Tư sản)


Theo Đào Duy Anh, lực lượng thợ thuyền Việt Nam thời Pháp có khoảng 150 ngàn (Việt Nam Văn Hóa Sử Cương, 68). Theo Nguyễn Thế Anh , lực lượng thợ thuyền có khoảng 200 ngàn kể cả trẻ con.

Nguyễn Thế Anh cho rằng những con số trên chỉ có một giá trị tương đối: chúng chỉ bao gồm số công nhân được dùng trong các xí nghiệp tư bản Pháp chứ không kể đến số người làm việc trong những xí nghiệp kỹ nghệ, thương mãi hay nông nghệ Hoa kiều hay của người Việt, chúng lại không bao gồm các công nhân giao thông. hầu hết là phu bắt ở các đia phương, trả theo công nhật. Mặt khác, đa số công nhân không phải là thợ chuyên nghiệp, mà chỉ làm phu, làm thợ theo từng giai đoạn mà thôi. ( Việt Nam Dưới Thời Pháp Thuộc, Lủa Thiêng, 1970, 256).

Lúc bấy giờ dân số Việt Nam là 20 triệu. Theo như tài liệu Nguyễn Thế Anh, giai cấp công nhân Việt Nam chỉ chiếm khoảng 1% dân số. Nếu tính theo Marx và Engels, nghĩa là loại bỏ công nhân nông nghiệp, công nhân thương mại, giai cấp công nhân Việt Nam chỉ có khoảng 100 ngàn mà thôi, tức là chiếm tỷ lệ 0,5% dân số . Giai cấp công nhân Nga và Trung Quốc có lẽ cũng tương tự.Ngay tại Nga và Trung Quốc đều chưa có giai cấp tư sản và vô sản như Marx quan niệm. Và cuộc khởi nghĩa tháng 10 Nga là do toàn dân, lực lượng chủ yếu là trí thức và nông dân nổi dậy lật đổ Nga hoàng chứ không phải là cách mạng vô sản vùng lên tiêu diệt tư sản như Marx mong muốn.


Về con số thì quá ít mà về ý chí tranh đấu cũng không có. Chính giai cấp tiểu tư sản, hay nói đúng hơn giai cấp trí thức đã kích thích, xúi dục thợ thuyền đứng lên tranh đấu. Bọn trí thức và con quan lại đã dùng công nông làm lực lượng quân sự mà chiếm quyền. Họ cũng dùng chiêu bài dân tộc để kêu gọi quần chúng. Cộng sản chỉ thành công tại các nước nghèo đói và bị thực dân cai trị. Còn tại các nước văn minh , giàu mạnh, công nhân thờ ơ với chủ thuyết cộng sản.


Trong hàng ngũ cộng sản đầu tiên, hầu hết là con cái địa chủ, phong kiến, hay thợ thuyền cá thể. Ấy thế mà nhờ tài tuyên truyền xảo quyệt, Marx đã đưa "hồn ma " cộng sản trở thành những âm binh,những  cương thi, những con thú  khủng bố và tàn  hại nhân loại.

Cộng sản là một đảng phản loạn, gồm những tay phiến loạn chuyên nghiệp (1) và lưu manh, với đường lối  bất chấp nhân nghĩa. (2)


Người Trung Quốc và Việt Nam nghĩ giai cấp vô sản là giai cấp nghèo (ai mà chẳng nghèo). Người cộng sản còn lợi dụng danh từ giai cấp lao động ( ai mà chẳng lao động). Người cộng sản còn gọi vô sản là giai cấp thợ thuyền cho nên thợ mộc, thơ nề, thợ hoạn lợn...) đều cho mình là giai cấp tiên phong lãnh đạo cách mạng. Trong kháng chiến, đa số người Việt tin rằng mình là giai cấp vô sản được đảng chiếu cố, nhưng sau 1954, mâm cỗ bày ra, họ bị gạt ra ngoài, vì họ không được đảng cho là giai cấp vô sản.Trong kháng chiến, đa số người Việt tin rằng mình là giai cấp vô sản được đảng chiếu cố, nhưng sau 1954, mâm cỗ bày ra, họ bị gạt ra ngoài, vì họ không được đảng cho là giai cấp vô sản. Đảng Cộng sản bây giờ mới đem định nghĩa của Engels, giai cấp vô sản là giai cấp công nhân. Giai cấp công nhân là giai cấp vô sản có trình độ lao động công nghiệp cao, là đứa con của nền đại công nghiệp hiện đại (C. Mác và Ph. Ăngghen: Toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 1995, tập 2, trang 393).


Nói rõ ra giai cấp vô sản là một số người phải có nhiều kiện, chứ không phải ai cũng là thợ, ai cũng là vô sản, ai cũng là giai cấp công nhân.

(1). Làm việc cho tư bản trong lãnh vực công nghiệp là giai cấp công nhân công nghiệp. Như vậy, thợ thiến heo ( như bác Đỗ Mười) , thợ quét vôi ( như cụ Võ Chí Công) , thợ mộc, thợ nề là thợ cá thể, làm việc trong các xóm làng, không phải trong các hãng ,các công xưởng như làm trong nhà máy dệt Nam Định hay hãng Bason? Bác Hồ con nhà phong kiến, làm bồi tàu, không phải là công nhân. Trần Quốc Hoàn nguồn gốc là vô sản lưu manh! Cộng sản kê khai lý lịch láo toét. Thân phụ bác Hồ làm quan say rượu sai lính đánh chết người lại bảo là ông bị sa thải vì chống Pháp.


Phải có tay nghề cao. Như vậy đàn bà, trẻ con phụ việc, không phải là công nhân.

Về thành phần giai cấp, ta thấy có nhiều điều trớ trêu:


(1). Như đã nói, bọn trí thức, con nhà tư sản, địa chủ, phong kiến thành lập đảng cộng sản chứ đảng cộng sản lúc đầu không do công nhân đích thực lãnh đạo. Đa số lãnh tụ đảng đều không thuộc giai cấp vô sản. Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng con nhà quan lại, không phải là công nhân...Một số đảng viên con nhà bình dân như Tôn Đức Thắng, Đỗ Mười, Võ Chí Công, Trần Quốc Hoàn...là về sau mới được kết nạp cho có mùi vô sản, và cũng vì bọn này có thành tích giết người hơn tất cả!


(2).Đảng cộng sản do trí thức con nhà tư sản, phong kiến mà lại kết tội tư sản, phong kiến và trí thức như Marx, Engels, Lenin, Hồ, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng , Pol Pot..Họ cũng trí thức, con nhà tư sản, phong kiến thì họ có quyền gì giết, bỏ tù các trí thức, các gia đình quan lại, các nhà tư sản,và địa chủ ?
Hàng chục ngàn đảng viên cộng sản bi giết và thanh trừng trong CCRD và Chỉnh huấn đau phải là ngụy quân, ngụy quyền và tư bản bóc lột?

Khoảng một triệu người bị giết, tra tấn, tù đầy và vợ con họ cũng bị trừng trị trong CCRD thì họ có tội tình gì?Nhất là trong số đó có những tư sản dân tộc, tư sản cách mạng, và trung nông, bần nông bị đôn lên cho đủ chỉ tiêu 5% dân số, là "dấu tranh giai cấp" ư?

Cộng sản khác vô sản vì Marx cho rằng cộng sản lãnh đạo, và giáo dục vô sản ( vì vô sản ngu quá phải không?), còn vô sản là tay sai, là nô lệ của đảng, là thành phần bung xung cho cộng sản lợi dụng.


Trong phần IV Tuyên Ngôn Cộng Sản, Marx viết:" ở tất cả các nước, là bộ phận luôn luôn thúc đẩy phong trào tiến lên[7] về mặt lý luận, và về mặt thực tiễn, những người cộng sản là bộ phận kiên quyết nhất trong các đảng công nh bộ phận còn lại của giai cấp vô sản ở chỗ là họ hiểu rõ những điều kiện, tiến trình và kết quả chung của phong trào vô sản.


Mục đích trước mắt của những người cộng sản cũng là mục đích trước mắt của tất cả các đảng vô sản khác: tổ chức những người vô sản thành giai cấp, lật đổ sự thống trị của giai cấp tư sản, giai cấp vô sản giành lấy chính quyền.

Những người cộng sản bảo vệ và đại biểu cho tương lai của phong trào... Nhưng không một phút nào Đảng cộng sản lại quên giáo dục cho công nhân một ý thức hết sức sáng rõ về sự đối kháng kịch liệt giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản (Tuyên Ngôn Cộng Sản).

Qua tuyên bố trên của Marx, ta thấy Marx đã phân biệt công sản với vô sản. Cộng sản là chủ, công nhân là nô, cộng sản là giai cấp cai trị, công nhân là giai cấp bị trị.


Tuy vậy, trong văn bản cũng nhưng trong thực tế, Cộng sản nhập nhằng và giả dối khi vỗ ngực xưng là giai cấp công nhân. Thực tế công nhân ngàn đời vẫn là công nhân, giai cấp bị bóc lột ngay cả trong chế độ cộng sản, mặc dầu một số công nhân, nông dân đã gia nhập đảng cộng sản rồi trở thành tư sản đỏ!

Ở đây, chúng ta chỉ nói đến cộng sản. Vô sản đoàn kết nghĩa là cộng sản đoàn kết! Đây là một ý niệm tốt vì đoàn kết là sống, chia rẽ là chết! Nhưng đoàn kết để xây dựng hòa bình và phát triển thì tốt, còn đoàn kết để giết người cướp của là tội ác. Cộng sản nói rất hay nhưng thực tế khác hẳn. Thực tế cộng sản chia rẽ nhau, tranh giành nhau và tàn hại nhau. Lịch sử đảng Cộng sản là lịch sử máu tanh. Người cộng sản giết đồng bào và giết cả đồng chí của họ gây nên cảnh núi xương, sông máu, tàn ác gấp mấy Đức Quốc xã. Thành tich của họ theo Sách Đen (Le Livre noir du communisme) khoảng 100 triệu người đã bị giết dưới các chế độ cộng sản, cao hơn cả dưới chế độ Đức Quốc xã là 25 triệu người.

II. ĐOÀN KẾT BẰNG CÁCH NÀO?

Các tôn giáo, đảng phái, thế lực quân sự dùng lời hay ý đẹp để quảng cáo. Cộng sản cũng quảng cáo và tuyên truyền tuyệt đỉnh dối trá.  Nhưng phần lớn họ không dấu diếm chủ trương tàn ác của họ như " đấu tranh giai cấp", " vô sản chuyên chính"...Một số trí thức chứ không phải dân ngu như Trần Đức Thảo, Nguyễn Mạnh Tường,  Albert Camus, J. Paul Sartre chạy theo cộng sản trong khi đa số nhân dân và đảng viên chống đối cộng sản. Lenin, Stalin biết đa số loài người thù ghét cộng sản cho nên tìm cách trói buộc cộng sản thành một khối "đoàn kết". Cộng sản sợ phản động, sợ chống đối, sợ diễn biến hòa bình bằng cách dùng tuyen truyền xảo trá và bạo lực để bắt dân chúng và đảng viên cúi đầu.
 Cộng sản cần kỷ luật sắt, cần bàn tay sắt, cần bịt miệng người khác, cần thanh toán tất cả mọi người vì họ nghĩ rằng họ theo đúng chủ trương bạo lực cách mạng của Marx, và vô sản chuyên chính của Lênin. Đó là họ theo đường lối bá đạo của Tần Thủy hoàng và các bạo chúa khác dùng võ lực và thể chế hà khắc để cai trị nhân dân. Tập trung tài sản, tập trung quyền lực là sức mạnh vô đich, Stalin, Mao Trạch Đông, Hồ Chí Minh đã cùng chung một chí hướng.Nói chung, Cộng sản bắt nhân dân và đảng viên phục tòng tuyệt đối trong cái vòng kim cô "đoàn kết".

1. KỶ LUẬT SẮT

Lenin và Stalin mượn cớ kỷ luật để bắt mọi người tuân phục họ.Lenin đặc biệt nhấn mạnh điều này trong tiến trình cách mạng (Trong Luận cương Hội nghị thứ II Quốc tế cộng sản, phần “Điều kiện kết nạp vào Quốc tế Cộng sản”):

“Trong giai đoạn nội chiến khốc liệt hiện nay đảng cộng sản chỉ có thể thực hiện được nhiệm vụ của mình nếu được tổ chức một cách tập trung nhất, trong đảng phải có kỉ luật sắt, bên cạnh kỉ luật thời chiến, nếu ban chấp hành trung ương là cơ quan quyền lực có uy tín, được giao quyền lực rộng rãi và nhận được sự tin cậy của các đảng viên”

Stalin còn nói thêm:
“Trong điều kiện cuộc đấu tranh trước khi giành được chính quyền chuyên chính, kỉ luật đảng đã là như thế. Sau khi giành được chính quyền kỉ luật đảng càng phải được nâng cao hơn nữa. Tinh thần cảnh giác cách mạng, những đòi hỏi cấp bách về sự thống nhất về mặt tư tưởng, tính đặc thù về chính trị và tư tưởng, chủ nghĩa tập trung, tất cả những điều đó đã không biến mất sau khi giành được chính quyền mà ngược lại ngày càng trở thành gay gắt hơn, trầm trọng hơn.”(GIAI CẤP MỚI II,3).

2.THỐNG NHẤT TƯ TƯỞNG

Bên cạnh việc nêu cao kỷ luật, cộng sản còn hô hào việc thống nhất tư tưởng. Đó cũng là một cách nói văn hoa để che đậy tính độc tài của Cộng sản.

Milovan Djilas viết:"

Hậu quả của sự thống nhất về tư tưởng thật là tai hại: nền chuyên chế của Lenin dĩ nhiên là khắc nghiệt, nhưng nó chỉ trở thành toàn trị dưới trào Stalin. Việc chấm dứt cuộc đấu tranh tư tưởng trong nội bộ đảng đã dẫn đến sự tiêu diệt tự do trong toàn xã hội. Sự bất dung đối với các trào lưu tư tưởng khác và việc khăng khăng khẳng định tính khoa học giả tạo của chủ nghĩa Marx-Lenin đã tạo ra sự độc quyền tư tưởng của ban lãnh đạo chóp bu của đảng và cuối cùng là sự thống trị tuyệt đối của nó đối với xã hội. [. .].

Việc diệt trừ các quan điểm khác nhau trong ban lãnh đạo đảng tự động dẫn đến việc loại bỏ các trào lưu, xu hướng trong nội bộ phong trào và như vậy đồng nghĩa với việc giết chết dân chủ trong các đảng cộng sản. Trong chế độ cộng sản “lãnh tụ là người biết tuốt” đã trở thành nguyên tắc: những kẻ có quyền dù ngu dốt đến đâu cũng đều trở thành nhà tư tưởng hết. [.. ]. Nhiệm vụ này khó khăn đến nỗi nó đòi hỏi không chỉ thái độ không khoan nhượng đối với các tư tưởng khác và các nhóm xã hội khác mà còn đòi hỏi sự khuất phục của toàn xã hội và sự cố kết của chính giai cấp cầm quyền. Đấy chính là lí do vì sao đảng cộng sản cần một sự ổn định vững chắc về tư tưởng. (GIAI CẤP MỚI IV, 10)

3. TUÂN PHỤC LÃNH TỤ

Cộng sản nói dân chủ nhưng thực chất là độc tài, mà lại là độc tài của ngu dốt. Marx, Lenin, Stalin dù đỗ bằng cấp gì đi nữa cũng không phải là kinh tế gia chuyên nghiệp ấy thế mà bày ra kế hoạch này, kế hoạch nọ là chết hàng chục triệu người! Nói chi đến Mao Trạch Đông, Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, Pol Pot và bọn cán bộ tỉnh, huyện, xã thôn!
Họ ngu nhưng lại tư cao, tự đại, cho họ là trí tuệ đệ nhất hành tinh. Họ tin vào chủ nghĩa Marx là cây gậy thần và họ cũng tin họ có khả năng di sơn đảo hải. Họ bày ra phê và tự phê nhưng cái đó chỉ dành cho tội nhân trước cuộc kiểm thảo. Còn lãnh tụ là anh minh, không bao giờ sai lầm. Do đó họ thù ghét những chỉ trich của nhân dân và đảng viên.

Chủ trương chuyên chính vô sản đã đưa đến việc tôn sùng cá nhân và lãnh tụ trở thành độc tài. . Mao Trạch Đông cũng vậy. Thời quân chủ Á Đông, trong triều có những vị ngự sử có bổn phận chỉ trích vua quan. Trong chế độ dân chủ Tây phương, báo chí có quyền phê bình chính phủ. Trái lại, trong chế độ cộng sản, dân chúng và đảng viên đều phải cúi đầu im lặng.
Quy phục tuyệt đối lãnh tụ là đường lối chung của cộng sản. Đó là tính thống nhất, là mệnh lệnh của đệ tam quốc tế. Trên hết, đảng Cộng sản các nước phải phục tòng Kremlin , coi Lenin, Stalin là đại đế của chủ nghĩa cộng sản quốc tế, và ở các nước, lãnh tụ cộng sản là bậc thiên tử, đảng viên phải tuyệt đối tuân lệnh. Chủ tịch, Tổng bí thư có quyền tuyệt đối, nhân dân và đảng viên không có quyền dân chủ. Dân chủ của dân do cộng sản nắm giữ, là  chủ trương mà Stalin gọi là dân chủ tập trung- theo điều 12 của Comintern  - . Đây là việc đưa đến độc tài, bóp chết dân chủ, tạo ra việc nịnh hót, tôn sùng cá nhân.


Theo điều 9 của Nội lệ của ECCI năm 1928, liên hệ giữa các đảng hội viên và các cơ quan trung ương của Đệ Tam Quốc Tế theo nguyên tắc thống nhất và kỷ luật vô sản. ECCI là thượng cấp và các đảng là thuộc cấp, chớ không bình đẳng.Như vậy, Việt Cộng tham gia Quốc Tế III nghĩa là cam tâm làm nô lệ Nga và Trung Cộng, coi Stalin và Mao là đại đế trong  Đế quốc Cộng sản. Họ bắt chư hầu phục mệnh và đảng viên cúi đầu cho nên họ thấy họ cao vút mây xanh.


Milovan Djilas viết về niềm tự hào đỉnh cao trí tuệ của họ như sau:

Cách làm đó dựa trên cơ sở lí luận như sau: các lãnh tụ cộng sản tin tưởng rằng họ nắm được các qui luật kinh tế và có thể quản lí sản xuất trên cơ sở các qui luật đó. Nhưng sự thật lại không phải như thế, sự thật là: họ đã chiếm được nền kinh tế và cũng giống như họ đã giành được thắng lợi của cách mạng, một lần nữa điều đó tạo cho họ ảo tưởng dường như tất cả mọi chuyện xảy ra đều là kết quả của phương pháp khoa học tuyệt vời của họ (GIAI CẤP MỚI V ,6)


Nếu ai chỉ trích thì họ nổi giận, cho là chống đối cách mạng, là phản động, là gián điệp CIA, và sẽ bị giết hoặc bị giam trọn đời trong ngục tối.

Họ mang tâm lý của nhà thờ thời trung cổ, tự cho họ là chân lý, còn kẻ khác là tà giáo, cần thanh trừ cho đẹp lòng thượng đế, dù phải lấy máu để tô điểm thiên đường.

Marx cuồng tín và nhiều ảo tưởng.Ông tin rằng vô sản sẽ thành công, sẽ đem lại tự do, ấm no và hòa bình. Người cộng sản lại càng cuồng tín và tự hào về chủ nghĩa Marx bách chiến bách thắng cho nên họ càng say sưa thực hiện các chương trình không tưởng bất chấp tốn nhân tài vật lực và sự phản đối của nhân dân.

Nhưng ảo tưởng lớn nhất chính là ảo tưởng rằng cùng với việc công nghiệp hoá và tập thể hoá nghĩa là cùng với việc thủ tiêu sở hữu tư bản chủ nghĩa, Liên Xô sẽ trở thành xã hội phi giai cấp. Năm 1936, nhân dịp công bố Hiến pháp mới, Stalin tuyên bố rằng ở Liên Xô đã không còn giai cấp bóc lột, nhưng trên thực tế người ta không chỉ thực hiện xong quá trình thủ tiêu các nhà tư sản và các giai cấp khác của chế độ cũ mà còn thiết lập một giai cấp hoàn toàn mới, chưa từng có trong lịch sử (GIAI CẤP MỚI III , 1)


Một khi không thấy mộng trở thành sự thực, bọn lãnh đạo sẽ tìm cách bưng bít, dối trá, còn bọn thủ hạ thì tìm cách nịnh hót, lừa chủ và lừa nhân dân. Lúc này hai bộ phận được sử dụng Thứ nhất là báo chí, đài phát thanh, truyền hình và nhà trường ra sức ca tụng đảng và các chính sách của đảng. Thứ hai, họ dùng quân đội và công an để trừng trị những ai lên tiếng, dù chỉ là tiếng thở dài.


Richard Pipes viết như sau:

. . . tháng 12 năm 1925, đấy là lúc đại hội Đảng thông qua cương lĩnh đầy tham vọng tức là công nghiệp hoá bằng vũ lực. Mà công cuộc công nghiệp hoá này, vì những lí do sẽ được trình bày dưới đây, được hiểu là tập thể hoá nông nghiệp. Vì cả hai mục tiêu này đều có những khó khăn vô cùng to lớn cho nên phải bịt miệng những người bất mãn. Chủ nghĩa Stalin trở thành một lí thuyết nhất quán từ đó và chỉ đứng vững được khi không ai được động đến các thành phần cấu thành ra nó (CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN III , 3)

4.BẠO LỰC, KHỦNG BỐ

Kỷ luật là một cách nói hoa mỹ mà thực tế là bạo lực và khủng bố.

Thường thường, tại các quốc gia khác, sau khi đã cướp được chính quyền, nhà nước mới sẽ nới lỏng bàn tay, trả tự do lại cho nhân dân. Người ta quan niệm việc này rất cần thiết để xây dựng niềm tin cho nhân dân và xây dựng hòa bình. Trái lại cộng sản vẫn tiếp tục dùng bạo lực đối với tất cả mọi người dù cả sau khi cướp chính quyền thành công. Stalin cũng gần như Trotsky quan niệm " cách mạng thường trực", " cảnh giác cách mạng", nghĩa là luôn luôn trấn áp và đề phòng mọi người. Thành thử suốt bao thời kỳ, cộng sản đối xử với đảng viên và nhân dân bằng roi vọt.

Richard Pipes cũng nói đến tính chất cuồng tín đưa đến việc tàn sát, việc diệt chủng của người cộng sản:Đúng như định nghĩa của George Santayana rằng cuồng tín là những người cố gắng gấp đôi sau khi đã quên mục đích chính của mình, những người cộng sản đã lao vào những vụ chém giết điên cuồng. Kết quả là, đi từ Lenin đến Stalin, từ Stalin đến Mao và Pol Pot, chủ nghĩa cộng sản đã để lại trên đường đi của mình cả biển máu những người vô tội.(CHU NGHĨA CỘNG SẢN VI, 4)

Người cộng sản cuồng tín, tin tưởng vào đường lối của Marx, Lenin nhưng khi họ thấy dân chúng không theo họ thì ác niệm nổi lên, họ ra tay tàn sát những ai chống đối họ, hoặc không đứng cùng chiến tuyến với họ. Tâm trạng của họ là tâm trạng của nhà thờ thời trung cổ , và cuộc thánh chiến muốn tiêu diệt những ai chống thượng đế hay không cùng đường lối phụng thờ thượng đế như mình. Và đó cũng là tâm lý khiếp sợ cho nên họ phải tàn sát để trấn áp nhân dân và lòng họ. Simon Sebag Montefiore [5] viết:Năm 1917 Lenin giành được chính quyền ở nước Nga. Sau khi phát hiện ra rằng hàng triệu công nhân và nông dân không chấp nhận tư tưởng mác-xít, ông ta quyết định rằng chỉ có thể giữ được quyền lực cho đảng cộng sản bằng vũ lực, bằng khủng bố và áp bức. Cuối cùng mục đích đã biện minh cho phương tiện. Lenin chính là một tín đồ cuồng nhiệt của chủ nghĩa Marx và vì vậy ông ta đã hạ lệnh bắn giết hàng ngàn người và bỏ cho chết đói hàng triệu người khác, ông ta đã dùng tư tưởng của Marx về tính tất yếu của cách mạng để biện hộ cho những quyết định đó của mình. “Cho bọn nông dân chết đói đi”, Lenin đã nhiều lần nói như vậy. Ông ta còn nói: “Muốn hoàn thành cách mạng mà không bắn giết được ư?”(QUAI VẬT KARL MARX .2)

Trần Độ kết án cộng sản dùng công an trị để đàn áp nhân dân:
một hệ thống các cơ quan an ninh của Bộ công an, Tổng cục II Bộ quốc phòng, Cục an ninh bảo vệ của tổng cục chính trị. Hệ thống này tha hồ lộng quyền theo sát hành vi từng công dân, được trang bị rất hiện đại (và tốn tiền) để tổ chức nghe trộm điện thoại, phá hoại thông tin của công dân. Đảng cộng sản Việt Nam ( TRẦN ĐỘ * NHẬT KÝ RỒNG RẮN IV ,3)


Milovan Djilas nhận định về điểm này:
Để tiến hành cách mạng và công nghiệp hoá một cách nhanh chóng phải cần rất nhiều hi sinh, cần phải có những cuộc thanh trừng dã man, lí trí không thể nào tưởng tượng nổi, để buộc người ta tin vào lời hứa “xây dựng thiên đàng trên trái đất”(GIAI CẤP MỚI, II, 1)

Milovan Djilas viết về chủ nghĩa quân phiệt Liên Xô:

Nhà nước cộng sản được xây dựng trên cơ sở bạo lực và đàn áp, luôn luôn xung đột với nhân dân, cho nên ngay cả khi không có tác nhân bên ngoài thì vẫn là một bộ máy nhà nước quân phiệt. Không ở đâu sự tôn sùng sức mạnh, đặc biệt là sức mạnh quân sự, lại được đề cao như trong các nhà nước cộng sản. Chủ nghĩa quân phiệt là nhu cầu nội tại của giai cấp mới, là một trong những hình thức tồn tại của nó và đồng thời cũng là tác nhân củng cố đặc quyền đặc lợi của nó.
Là một tổ chức mang tính bạo lực, và khi cần thì chỉ thực hiện vai trò bạo lực, nhà nước cộng sản khởi kì thuỷ là một nhà nước quan liêu. Hoàn toàn phụ thuộc vào một nhóm nhỏ những kẻ cầm quyền chóp bu, cơ quan nhà nước, không ở đâu bằng chế độ cộng sản, tràn ngập đủ các thứ văn bản pháp qui. (GIAI CẤP MỚI 5 ,3)


III. MẶT THẬT ĐOÀN KẾT CỘNG SẢN

Công sản cũng đã hô hào đoàn kết toàn dân nhưng đó chỉ là đoàn kết dân tộc một cách giả dối vì "chuyên chính vô sản" thì đâu có chỗ cho tư sản, trí thức, tính đồ các tôn giáo, thơ thủ công, buôn bán cá thể và nhân dân lao động nói chung. Hơn nữa, điều 2 đệ tam quốc tế quy định   đảng đó phải từ bỏ những quan điểm cải lương, hòa bình, và quốc gia. Theo điều 2 của Quy chế Đệ Tam Quốc Tế, tổ chức nào xin gia nhập Đệ Tam Quốc Tế "phải loại trừ tất cả những người có quan điểm cải lương và "đứng giữa" và thay thế họ bằng những người cộng sản". Theo điều 17, Đệ Tam Quốc Tế "cương quyết tuyên chiến với toàn thể thế giớí trưởng giả (bourgeois), và tất cả các đảng dân chủ xã hội". Và theo điều 6, một đảng xin gia nhập Đệ Tam Quốc Tế phải "khước từ mọi tinh thần ái quốc, và cả tinh thần chuộng hòa bình về mặt xã hội". Người cộng sản phải từ chối "dân chủ tiểu tư sản" và phương thức không cách mạng (không bạo động). Do vậy, hòa hợp, hòa giải là không bao giờ có trừ khi cộng sản quá yếu phải dùng tạm chủ trương này để lừa bịp kẻ non dạ.! Vì vậy, Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp, Trường Chinh, Nguyễn Văn Trấn...giết nhân dân trong vụ Ôn Như hầu, tàn sát các giáo phái và các đảng phái quốc gia, CCRD, Mậu thân Huế...trong suốt chiến tranh Việt Nam là theo đúng sách vở và chủ trương  sắt máu Mác -Lê.  Nhưng cái quan trọng hơn cả, đặc biệt hơn cả là Cộng sản tàn hại các đồng chí của họ một cách quyết liệt, " không khoan nhượng". Họ xem đồng chí của họ cũng là kẻ thù! Sau đây là một số tội ác cộng sản đối với các đồng chí của họ.

 

1. QUỐC TẾ CỘNG SẢN

Cộng sản là một tổ chức Quốc tế, cho đến cuối thế kỷ XX có 4 tổ chức Quốc tế cộng sản:
1.Đệ Nhất Quốc tế tên đầy đủ là Hội Liên hiệp Lao động Quốc tế, tiếng Anh The International Workingmen's Association (IWA, 1864–1876), là tổ chức tranh đấu đầu tiên của các nhóm xã hội quốc tế, được thành lập ở Luân Đôn vào ngày 28 tháng 9 năm 1864, mục đích là để đoàn kết các nhóm xã hội khuynh tả, cộng sản, các nhóm vô chính phủ và các tổ chức công đoàn. Trong thời gian tồn tại, Đệ Nhất Quốc tế tiến hành năm đại hội, thông qua các nghị quyết quan trọng: tán thành bãi công, thành lập công đoàn, đấu tranh đòi ngày làm 8 giờ, đòi cải thiện đời sống công nhân. Do sự ảnh hưởng của Đệ Nhất Quốc tế, công nhân các nước tích cực tham gia vào phong trào đấu tranh chính trị. Vào điểm cao, theo như tường trình của cảnh sát liên hiệp có tới khoảng 5 triệu hội viên Theo những tài liệu chính thức của IWA thì họ có khoảng 8 triệu hội viên.
Năm 1876, tại Philadelphia, Hoa Kỳ, Đệ Nhất Quốc tế tuyên bố giải tán vì sự đối nghịch giữa khuynh hướng Marxism và Chủ nghĩa cộng sản vô chính phủ mà lãnh tụ là Bakunin.

2. Quốc tế 2 hay là Đệ Nhị Quốc tế tức Liên minh Quốc tế các Đảng Xã hội thành lập tại Paris năm 1889.Đệ Nhị Quốc tế còn gọi Quốc tế thứ hai là liên minh quốc tế, với sự kết hợp của các đảng xã hội chủ nghĩa và một số tổ chức công đoàn trên thế giới - chủ yếu là tại châu Âu, được thành lập ngày 14 tháng 07 năm 1889 ở Paris, được phục hưng lại vào các năm 1923 và 1951. Tham dự đại hội thành lập có hầu hết đại biểu các tổ chức công nhân của các nước châu Âu, Mỹ (Gồm 400 đại biểu với 22 quốc gia). Phái vô chính phủ bộc lộ sự bất đồng ý kiến ngay từ đầu, nhưng sau đại hội London (thủ đô Anh) năm 1896, bị loại bỏ hoàn toàn ra khỏi tổ chức quốc tế này.
Đệ Nhị Quốc tế thông qua các nghị quyết quan trọng: nêu lên sự cần thiết phải thành lập các chính đảng của giai cấp vô sản, đề cao vai trò đấu tranh chính trị, lấy ngày 1/5 hằng năm làm ngày Quốc tế lao động.... Đệ Nhị Quốc tế có nhiều đóng góp quan trọng vào việc phát triển phong trào công nhân thế giới. Do không thống nhất về chiến lược, chia rẽ về tổ chức Đệ Nhị Quốc tế tan rã khi Chiến tranh thế giới I bùng nổ. Marx, Lenin thân Đức nhưng nhiều đảng viên yêu nước chống phát xit Đức xâm lược, vì vậy mà Đệ nhị quốc tế tan.

Đệ tam Quốc tế, còn gọi là Quốc tế cộng sản hay Comintern, là tổ chức của những người cộng sản, được thành lập vào tháng 3 năm 1919 ở Moskva và giải tán năm 1943, được tái sinh lại năm 1947 và giải tán năm 1956, sau Đại hội XX của Đảng Cộng sản Liên Xô. Cương lĩnh hoạt động của Đệ Tam Quốc tế là đấu tranh lật đổ chế độ tư bản chủ nghĩa, xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa, thiết lập chuyên chính vô sản. Dưới sự lãnh đạo của Vladimir Ilyich Lenin, Đệ Tam Quốc tế đã tiến hành 7 lần đại hội, qua đó vạch ra chiến lược, sách lược chỉ đạo phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, phong trào giải phóng dân tộc và đề ra biện pháp đấu tranh chống chủ nghĩa phát xít.

Vào ngày 15 tháng 5 năm 1943 Ủy ban hành động của Quốc tế Cộng sản tuyên bố quyết định giải tán tổ chức mình vào ngày 10 tháng 6 năm 1943. Ngay cả các cán bộ của Quốc tế Cộng sản cũng rất ngạc nhiên về loan báo này

Sau khi 31 đảng Cộng sản trong liên minh trả lời đồng ý, các cơ sở của Quốc tế Cộng sản đã chấm dứt hoạt động.

Người ta cho là sự giải tán này là quyết định của Iosif Vissarionovich Stalin. Trong một cuộc phỏng vấn với thông tấn xã Reuters vào ngày 28 tháng 5 năm 1943, Stalin cho biết, việc giải tán của tổ chức Quốc tế Cộng sản có 2 vấn đề chính:
Moskva không xen vào vấn đề riêng của các nước khác.
Các đảng Cộng sản của các nước xử sự theo quyền lợi của công dân nước mình chứ không phải theo lệnh từ bên ngoài

Thực tế việc giải tán Quốc tế Cộng sản là một mánh khoé giả trá được cho là nhượng bộ của Stalin đối với đồng minh phương Tây, Hoa Kỳ và Anh, do Liên Xô cần sự giúp đỡ để chống lại cuộc tấn công của Adolf Hitler.

Đệ tứ quốc tế theo khuynh hướng "cách mạng thường trực" do Trotsky đưa ra từ sau khi Lenin qua đời (1924) để chống lại đường lối "cách mạng vô sản trong một quốc gia" của Stalin. Kể từ năm 1953, Đệ Tứ Quốc tế phân hóa ra nhiều nhóm nhỏ. Vì Trotsky chống Stalin cho nên Stalin ra lệnh giết Trotsky năm 1940 và triệt hạ Đệ tứ Quốc tế. Vì vậy các ôngTạ Thu Thâu,Phan Văn Hùm, Phan Văn Chánh, Trần Văn Thạch bị Việt Minh giết.


  2. MENSHEVIKS VÀ BOLSHEVIKS



Bolshevism và Menshevism, hai chi nhánh chính của chủ nghĩa xã hội Nga từ năm 1903 cho đến khi sự hợp nhất của chế độ độc tài Bolshevik dưới thời Lenin trong cuộc nội chiến năm 1918-20. Đảng Lao động Xã hội Dân chủ Nga, bí mật thành lập tại một đại hội tại Minsk năm 1898, dựa trên các học thuyết của chủ nghĩa Mác. Tại Đại hội Đảng lần thứ hai, tổ chức tại Brussels và sau đó là Luân Đôn năm 1903, hai phe tranh cãi rồi chia rẽ. Cuộc Cách mạng Nga năm 1905 là một nỗ lực chung của tất cả các phong trào cách mạng và cải cách. Trong Duma đầu tiên của năm 1906, do Đảng Dân chủ Xã hội tẩy chay, Đảng Dân chủ Hiến pháp tự do là đảng mạnh nhất, nhưng năm 1907, đảng Dân chủ Xã hội tham gia vào cuộc bầu cử. Năm 1912 các Bolsheviks và Mensheviks chính thức trở thành các bên riêng biệt. Trong Thế chiến I, Bolsheviks hy vọng cho sự thất bại của Nga hoàng và Nga đã tìm cách biến đổi cuộc xung đột thành một cuộc nội chiến quốc tế sẽ đưa giai cấp vô sản lên nắm quyền.

Cánh phải của Mensheviks ủng hộ chiến tranh của Nga; Cánh trái kêu gọi hòa bình.Trong Cách mạng Nga năm 1917, Mensheviks tham gia vào chính phủ lâm thời Kerensky. Lenin, trở lại từ lưu vong vào tháng Tư, tuyên bố rằng Nga đã chín muồi cho một cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ngay lập tức. Bolsheviks đã giành được đa số trong các chính phủ quan trọng và lật đổ chính phủ trong Cách mạng tháng Mười. Mensheviks đã phản đối cuộc đảo chánh này và tham gia vào Hội đồng Lập hiến ngắn ngủi (tháng 1 năm 1918), nhưng họ thường từ chối không tham gia vào lực lượng chống Bolshevik trong cuộc nội chiến. Mensheviks bị đàn áp vào năm 1921. Trong khi đó, vào năm 1918, Bolsheviks trở thành Đảng Cộng sản Nga.

Lãnh tụ của Mensheviks là Julius Martov ( L. Martov (1873 – 1923). Ông là bạn của Trotsky.
Khởi đầu tại Nga, Martov là bạn thân của Lenin. Ông đã cùng Lenin thành nhóm nhỏ trí thức Marxist thành lập Liên đoàn Đấu tranh cho Giải phóng Phong trào Lao động ( League of Struggle for the Emancipation of the Working Class ) vào năm 1895. Các lãnh tụ phong trào này bị bắt, Martov và Lenin bị đày Siberia. Sau Martov bị lưu đày khỏi nước Nga, ông tham gia Đảng Lao động Dân chủ Xã hội Nga (Russian Social Democratic Labour Party- RSDLP) và, vào năm 1900, cùng với Lenin, là những thành viên sáng lập, của tạp chí đảng Iskra.Năm 1903, trong đại hội lần hai của Đảng Lao động Dân chủ Xã hội Nga, Lenin và Martov cãi nhau, và Lenin rút lui khỏi đảng và viết bàiWhat Is to Be Done? bày tỏ ý kiến mình. Martov từ chối hợp tác với tờ Iskra.

Bolsheviks và Mensheviks tách đôi.Lenin tự xưng là phe đa số (Bolsheviks) mà gọi phe Martov là phe thiểu số ( Mensheviks). Mensheviks có đường lối ôn hòa trong khi Bolsheviks chủ trương bạo lực.

Martov được xem là một trí thức và chính trị gia tốt, gắn chính trị với triết lý.

Martov sau hợp tác với Trotsky ở Paris năm 1914 xây dựng tờ Nashe slovo ("Our Word").Năm 1914, Martov chống đệ nhất thế chiến.

Ông tham gia cách mạng tháng mười 1917, và trở thành lãnh tụ Mensheviks ở Quốc hội.Ông theo Hồng Quân chống Bạch Quân. Ông chống đối Khủng bố đỏ. Năm 1920, Martov và các đồng chí Mensheviks bị bắt buộc rời Nga đi Đức rồi chết ở Schömberg, Germany, tháng tư 1923.

3. STALIN VÀ KHỦNG BỐ ĐỎ

Ngay từ lúc đầu của cuộc cách mạng Nga, dùng cảnh sát mật để trấn áp những kẻ có quan điểm chống đối là một công cụ của những người Bolshevik để giữ vững quyền lực. Trong suốt nửa thập niên cuối của 1920, Joseph Stalin đã dùng công cụ này để giành được quyền lực tuyệt đối chống lại những thành phần đối lập với ông trong đảng Cộng sản Liên Xô. Những nạn nhân đầu tiên là những người trong bộ chính trị Leon Trotski, Grigori Zinoviev, và Lev Kamenev, mà đã bị đuổi ra khỏi đảng cuối năm 1927. Stalin sau đó quay lại chống cả Nikolai Bukharin, mà đã ủng hộ ông dành lấy quyền lực, bởi vì ông này đã chống đối chính sách áp buộc tập thể hóa nông nghiệp và kỹ nghệ hóa nhanh chóng mà người nông dân phải trả giá đắt.

Stalin đã loại trừ tất cả những kẻ có thể đối đầu với sự lãnh đạo của mình vào cuối năm 1934 và trở thành một lãnh tụ tuyệt đối trong đảng và chính quyền. Tuy nhiên ông ta tiếp tục thanh trừng mọi tầng lớp trong đảng và khủng bố cả nước với những cuộc bắt giam và xử bắn tập thể. Trong suốt thời kỳ đại khủng bố, mà bao gồm những vụ án trình diễn đối với những đối thủ trước đó trong đảng 1936-1938 mà cao điểm là giữa 1937 và 1938, hàng triệu công dân vô tội Liên Xô đã bị đi đày tại các trại tù lao động hay bị giết trong tù. Theo ủy ban Shatunovskaja năm nghiên cứu tại văn khố Nga, trong số 7 người trong bộ chính trị của Lenin, chỉ có Stalin thoát khỏi tòa án "Tschistka". Trong số 19 thành viên của bộ chính trị 1934, năm 1938 chỉ có 7 người còn tại chức, từ 139 thành viên ủy ban trung ương 1934, chỉ có 41 người sau năm 1941 vẫn chưa chết hoặc bị bắt giam.
13 thành viên cũ của bộ chính trị đảng Cộng sản Liên Xô:

Bubnov:là một trong 7 thành viên bộ chính trị năm 1918, bị bắt vào tháng 10 và trục xuất khỏi ủy ban trung ương đảng vào tháng 11 năm 1937, bị kết án tử hình ngày 1 tháng 8 năm 1938 và bị bắn chết cùng ngày. Bubnov được phục hồi nhân phẩm vào năm 1958.

Bukharin: từ 1917 thành viên ủy ban trung ương, từ 1917 đến 1929 chủ nhiệm báo Đảng Sự thật, từ 1920 thành viện bộ chính trị, 1929 bị trục xuất khỏi bộ chính trị vì chống lại chính sách tập thể hóa nông nghiệp của Stalin, 1937 bị bắt vì tội làm gián điệp và âm mưu lật đổ Stalin, 1938 bị tử hình.

Kamenev:từ 1917 đến 1926 thành viên ủy ban trung ương, và từ 1919 tới 1926 trong bộ chính trị, cùng với Sinowjew và Stalin lập thành bộ 3 cô lập Trotzky. Vì phản đối việc sùng bá lãnh tụ Stalin, bị mất ghế bộ chính trị và cuối năm 1927 bị đuổi ra khỏi đảng. 1936 bị bắt và bị xử tử.

Kossior: 1925-28 bí thư ủy ban trung ương, 1930-38 thành viên bộ chính trị, mặc dù là người thâm cận của Stalin, nhưng vì bị vu khống từ Kiev, vẫn bị xử tử năm 1938, 1956 được Chruschtschow phục hồi nhân phẩm.

Krestinski, Rudsutak, Rykow, Serebrjakow, Sokolnikow, Sinowjew, Tomski, Trotzki (bị ám sát ở Mexico), Tschubar và 3 ứng cử viên bộ chính trị (Eiche, Jeschow và Postyschew)
98 người trong số 139 ủy viên chính thức và dự khuyết của Ban Trung ương do Đại hội thứ XVII bầu ra, nghĩa là 70 %, đã bị bắt giữ và bị xử bắn (phần đông vào những năm 1937-38) (Trong diễn văn Về sùng bái cá nhân và những hậu quả của nó)
Trên 15 người là thành viên của chính phủ, không kể những người đã nêu trên Radek, Yagoda, Jeschow, Krylenko, Rosenholz, Grinkow, Brjuchanow, Anatow, Meshlauk
3 trong số 5 Nguyên soái Liên bang Xô viết đầu tiên: Tukhachevsky, Blyukher, Yegorow
13 trong số 15 tướng Hồng quân
16 ủy viên chính trị của quân đội
25 trong số 28 giám thị quân đội
Tất cả các phó giám thị bộ quốc phòng
98 trong số 108 thành viên hội đồng quân sự tối cao.


4. TỘI ÁC MAO TRẠCH ĐÔNG

Đại nhảy vọt được đa số mọi người, kể cả trong và ngoài Trung Quốc, coi làmột thảm họa kinh tế mà ảnh hưởng của nó vẫn tác động lên Trung Quốc trong nhiều năm sau đó; nhiều người ví von nó với cái tên "Đại nhảy lùi". Những chính sách không đúng đắn, cùng với những điều kiện tự nhiên khắc nghiệt (lũ lụt, hạn hán) là nguyên nhân dẫn đến Nạn đói lớn ở Trung Quốc giai đoạn 1958-61.Theo nhiều nguồn thống kê khác nhau, số người chết do thiếu đói dao động từ 20 triệu đến 46 triệu (khoảng 5% dân số, tổng dân số Trung Quốc bấy giờ là 600 triệu), trở thành nạn đói khủng khiếp nhất lịch sử nhân loại.[69] Ngoài chết đói, khoảng 2,5 triệu người bị tra tấn đến chết do phản đối những chính sách của Mao: "họ bị chôn sống hoặc đánh tới chết." Lần đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc trong suốt 6 thế kỷ, dân số giảm đi một cách rõ rệt.

Trong những Đại hội Đảng năm 1960 và 1962 sau đó, Mao Trạch Đông đã bị chỉ trích trước Đại hội do những hậu quả mà Đại nhảy vọt để lại. Điều này đã khiến cho những đảng viên dung hòa như Lưu Thiếu Kỳ và Đặng Tiểu Bình được lợi và dành được quyền lực nhiều, và Mao bị mất đi tiếng nói. Chính điều trên đã khiến cho Mao khởi xướng cuộc cách mạng văn hóa năm 1966, một cuộc thanh trừng chính trị quy mô lớn cùng với giai đoạn hỗn loạn và vô chính phủ trên toàn lãnh thổ Trung Quốc, kéo theo hàng triệu người trở thành nạn nhân của cuộc bài trừ những đổi thủ chính trị của Mao, bao gồm cả Lưu Thiếu Kỳ và Đặng Tiểu Bình.
Cách mạng văn hóa (1966–1976):Sau khi kế hoạch Đại nhảy vọt thất bại, Mao Trạch Đông dần mất đi tiếng nói trong Đảng Cộng sản. Để củng cố lại quyền lực, Mao khởi xướng cuộc cách mạng văn hóa năm 1966 với mục đích loại bỏ những "tư sản tự do" để tiếp tục cuộc cách mạng vô sản, đồng thời cũng loại bỏ những người bất đồng ý kiến với Mao, bao gồm các quan chức khác như Lưu Thiếu Kỳ, Bành Đức Hoài và Đặng Tiểu Bình.


4. TỘI ÁC CỘNG SẢN VIỆT NAM

Việt Cộng đã thủ tiêu các đồng chí của họ. Họ giết nhiều lắm, chúng tôi chỉ kể vài vụ. 
Khởi đầu Lý Thụy đã bán các đồng chí của ông cho Pháp để lấy tiền xài.
Trong những năm 1931-1935, ông đã bị Trần Phú và sau đó là Hà Huy Tập phê phán về đường lối cải lương, không đúng đường lối đấu tranh giai cấp của Quốc tế Cộng sản. Hà Huy Tập đã viết trên tạp chí Bônsơvích (số 8/12-1934).
Năm 1935, ngày 20-4, Hà Huy Tập, tân bí thư Cục Hải ngoại của ĐCSĐD, gởi cho QTCS một bức thư tố cáo trước đây NTT biết Lâm Đức Thụ là một tay mật thám nhưng vẫn làm việc với Thụ.  Hậu quả là cảnh sát của Tưởng Giới Thạch có hình và bắt hàng trăm đảng viên An Nam Cọng Sản đảng của Hồ Tùng Mậu, những hình này do trước đó các đảng viên đã nộp cho NTT  ( Hồ sơ lưu trữ Mạc Tư Khoa, hồ sơ mang ký hiệu số RC. 459, 154, 586 ).(3)
Ngoài ra những cái chết bí ẩn, bề ngoài là do Pháp giết nhưng sự thật là Hồ Chí Minh mượn dao giết các đồng chí cộng sản như là  Hà Huy Tập, Trần Phú, Nguyễn Văn Cừ, Lê Hồng Phong, Nguyễn Bình ...

-Lâm Đức Thụ (1890-1947), tên thật là Nguyễn Công Viễn, Thư Ký Thường Trực Tổng Bộ Việt Nam Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội, là một trong mấy người sáng lập tổ chức Tâm Tâm Xã (1923), Việt Nam Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội (1925), người cùng Hồ Chí Minh bán cụ Phan Bội Châu. Bị HCM vu cho là chỉ điểm, mật thám, tay sai thực dân đế quốc… để rồi kết thúc cuộc đời trước họng súng của dân quân vào năm 1947 tại quê hương Vũ Trung, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình mà có lẽ vì bép xép chuyện bán cụ Phan và biết quá nhiều về HCM.

– Đại Biểu QH Dương Bạch Mai (1904-1964), từng du học Pháp, Liên Xô, bị đột tử khi uống ly bia giữa 2 phiên họp Quốc Hội trước khi đọc diễn văn phản đối xã hội kiểu trại lính của Trung Quốc.

Đại Tướng Nguyễn Chí Thanh (1914-1967), Ủy Viên Bộ Chính Trị, Bí Thư Trung Ương Cục Miền Nam, kiêm Chính Ủy Quân Giải Phóng Miền Nam, bút hiệu Hạ Sĩ Trường Sơn (Con trai út là Nguyễn Chí Vịnh, năm 2010 là Trung Tướng, nguyên Tổng Cục Trưởng Tổng Cục 2, Thứ Trưởng Bộ Quốc Phòng, từng bị tố cáo về tư cách và những thủ đoạn chụp mũ phe đối lập. Vợ là Nguyễn Thị Cúc, có 4 con, nhưng khi hoạt động trong Nam có vợ 2 và thêm con trai là Nguyễn Hữu Nghĩa, Nghĩa được đưa về thành phố sinh sống, khi lớn đi sĩ quan VNCH, tỵ nạn CS qua Canada, làm báo Làng Văn…). (*) Ghi chú thêm xem bên dưới.Nguyễn Chí Thanh bị chết thình lình sau khi dùng cơm chia tay với HCM ở Phủ Chủ Tịch về nhà, thì đêm hôm đó, gần sáng ngày 6/7/1967 bị ói ra máu chết, đúng ngày định trở lại miền Nam lần thứ 2 (nhà cầm quyền nói chết vì bệnh tim).

-Đại Tướng Chu Văn Tấn (1909-1984), nguyên là Bộ Trưởng Bộ Quốc Phòng trong Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, bị cho là theo phe Hoàng Văn Hoan.

– Đại Tướng Tham Mưu Trưởng Hoàng Văn Thái (1915-1986), có mặt trong đội Việt Nam Tuyên Truyền Giải Phóng Quân, sui gia với Võ Nguyên Giáp. Khi chuẩn bị lên làm Bộ Trưởng Quốc Phòng thay thế Văn Tiến Dũng thì chết đột ngột chết ngày 2/7/1986. Trước khi chết, chính Hoàng Văn Thái nói với vợ “Người ta giết tôi.”. Có tin là bị Lê Đức Thọ sát hại vì e ngại người khác phe sẽ khui ra nhiều chuyện của Dũng và Thọ… để đưa Đại Tướng Lê Đức Anh lên vào tháng 2/1987.


– Thủ Tướng CSVN Phạm Hùng? (1912-1988), tên thật là Phạm Văn Thiện, tại nhiệm 1987-1988. Chết đột ngột (vì bệnh tim) ngày 10/3/1988 tại Sài Gòn, khi đang tại chức.

Thượng Tướng Công An Thi Văn Tám (1948-2008), đặc trách tình báo gián điệp đột tử trong lúc khỏe mạnh và đi công tác đó đây liên tục vào ngày 12/12, mà ngày 15/12, các cơ quan truyền thông mới được đồng loạt loan tin là chết sau một thời gian dài lâm bệnh, mà không nói bệnh gì!?… Nhiều tin đồn cho rằng bị đầu độc?

Tóm lại, chủ nghĩa cộng sản vô cùng dã man, tàn ác. Một mặt họ dùng ngoa ngôn xảo ngữ để tuyên truyền dối trá, một mặt họ theo chủ trương bá đạo, không không giấu diếm các thủ đoạn của họ với những chính sách " vô sản chuyên chính", bãi bỏ tư hữu, cưỡng bách lao động, Giết lầm hơn bỏ sót",
Cộng sản là lang sói, chúng giết nhân dân và giết cả đồng chí của họ chỉ vì tính ác, vì tham quyền lợi địa vị. Nhân dân đã biết tội ác cộng sản, một ngày bão tố sẽ nổi dậy quét sạch rác rến và và sâu bọ ra khỏi vùng trời tự do.

----
CHÚ THÍCH

(1). This struggle must be organised, according to “all the rules of the art”, by people who are professionally engaged in revolutionary activity. The fact that the masses are spontaneously being drawn into the movement does not make the organisation of this struggle less necessary. On the contrary, it makes it more necessary.

Lenin, The Primitiveness of the Economists and the Organization of the Revolutionaries (1901)

This struggle must be organised, according to “all the rules of the art”, by people who are professionally engaged in revolutionary activity.

Lenin, What Is To Be Done?, “The Primitiveness of the Economists and the Organization of the Revolutionaries” (1901)

(2). There are no morals in politics; there is only expedience. A scoundrel may be of use to us just because he is a scoundrel. Vladimir Lenin
(3).Ngày nay nhiều tin tức cho biết Hồ Chí Minh ( Nguyễn Ái Quốc, Lý Thụy) đã chết năm 1932 tại Hương Cảng, Trung quốc đưa Hồ Tập Chương, người Khách gia-Đài Loan lên thay  vai Hồ Chí Minh. Việt Cộng không phủ nhận. Việc đưa Hồ Tập Chương thế Hồ Chí Minh được giữ kín cho nên  Hà Huy Tập, Trần Phú cũng không biết.


No comments: