Saturday, April 22, 2017

SƠN TRUNG * SÚC VẬT TRẦM TƯ



SÚC  VẬT TRẦM TƯ TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM
SƠN TRUNG
 

Trong kho tàng văn chương thế giới, truyện ngụ ngôn của Aesop ( 620-564 ) là những truyện loài vật rất hay khiến cho nhà văn Pháp Jean de La Fontaine (1621 – 1695) phải bắt chước. Truyện Ngụ ngôn của La Fontaine là túi khôn của loài người. Tại Anh, truyện "Trại Súc Vật"( Animal Farm) của George Orwell được in ở Anh ngày 17 tháng 8 năm 1945 và một năm sau thì nổi tiếng. Đó là một truyện châm biếm Cộng sản.

Ở Việt Nam ta từ đời Trần đã có truyện loài vật nhưng it được chú ý.Từ đời Trần cho đến hiện đại, truyện loài vật cứ tiếp tục ra đời. Đó là tiếng nói của văn nghệ sĩ, của nhân dân chống bạo quyền. Mỗi con vật cũng như con người đều có suy nghĩ và hành động chống bọn phản quốc, hại dân. Đó là mặt trận văn hóa, nghệ thuật khởi đầu cho cuộc cách mạng lật đổ bạo quyền để bảo vệ độc lập, giành tự do, dân chủ cho Tổ quốc Việt Nam.

I. TRUYỆN TRÊ COC

Truyện loài vật đầu tiên của ta là truyện Trê Cóc là một truyện ngụ ngôn Việt Nam bằng chữ Nôm của một tác giả khuyết danh, không rõ năm ra đời, dài 398 câu thơlục bát có xen mấy tờ đơn và trác bằng văn xuôi.




Theo danh sĩ Bùi Huy Bích, thì tác giả truyện Trê Cóc là một gia khách nhà An Sinh vương Trần Liễu. Bởi ông đã chứng kiến việc "cướp vợ đoạt con" (Thái sư Trần Thủ Độ ép vua Trần Thái Tông lấy vợ của anh ruột là An Sinh vương Trần Liễu) mà nảy hứng viết ra câu chuyện này. Theo Thanh Lãng, thì Trê Cóc không thể là một tác phẩm thuộc đời Trần. Vì so với văn ở đời này, truyện Trê Cóc có lối văn mới mẻ quá , nhưng theo thiển kiến, phương pháp này sai là vì tác phẩm cũ nhưng được đọc nhiều, và sửa chữa nhiều nên đã được hiện đại hóa. Thí dụ rõ rệt nhất là những bài thơ của Lê Thánh Tông được truyền tụng thì dễ hiểu, nhưng những bài thơ mới phiên âm của bản Hồng Đức Quốc Âm thi tập thì cổ lỗ quá. Đó cũng là trường hợp Gia Huấn Ca của Nguyễn Trãi.

Tại Việt Nam cũng như tại nhiều quốc gia, một số có xuất xứ rõ ràng, nhưng một số thì mãi mãi là một ẩn số.

Theo Bùi Huy Bích, tác giả truyện Trê Cóc là một gia thần của An Sinh vương Trần Liễu, vì bất bình trước hành động của Trần Thủ Độ đã bắt Trần Thái Tông chưa có con lấy chị dâu là Thuận Thiên công chúa, vợ của Trần Liễu đang có mang để lấy con của anh làm con mình. Bùi Huy Bích đã căn cứ vào ba chữ '' đoạt nhân thủ tử '' mà định án.

Truyện xảy ra như sau :Vợ chồng Cóc vốn ở gần bờ ao. Đến khi đẻ, vợ Cóc xuống ao sinh ra một đàn nòng nọc. Trê ở dưới ao thấy nòng nọc giống mình, bèn bắt cả đàn về nuôi. Khi Cóc trở lại, thấy Trê chiếm đoạt con mình, mới đem việc đến kiện ở cửa quan. Quan truyền giam Trê lại. Vợ Trê ở nhà đến nhờ Triều Đẩu gỡ tội cho chồng. Triều Đẩu giới thiệu vợ Trê đến tìm Lý Ngạnh, một thủ hạ am tường việc quan. Lý Ngạnh lo lót lễ vật vào cáo quan để khiếu nại cho Trê. Quan cho sai nha đến tận nơi tra án. Trông thấy đàn nòng nọc, nha lại cho là con của Trê bèn về trình với quan. Quan liền ra lệnh thả Trê và bắt giam Cóc lại. Đến lượt vợ Cóc phải chạy lo cho chồng. Ếch giới thiệu cho vợ Cóc một thầy kiện trứ danh là Nhái Bén. Nhái Bén khuyên vợ Cóc cứ đợi đàn nòng nọc đứt đuôi tự nhiên sẽ về với mình, không cần phải kiện cáo gì cả. Quả nhiên ít lâu sau, khi ra bờ ao thì đàn cóc con theo mẹ về. Vợ Cóc cùng đàn con đến kêu oan. Trước chứng cứ rõ ràng, Trê phải thú tội và bị kết án "lưu tam thiên lý" (đầy xa ba ngàn dặm). Hai vợ chồng Cóc được kiện trở về, một nhà vui sướng vum vầy.

II. TRUYỆN TRINH THỬ

Truyện thứ hai là truyện Trinh Thử 貞鼠, ( Con chuột trinh tiết) là truyện thơ Nôm Việt Nam, dài 850 câu lục bát và 2 bài thơ thất ngôn luật Đường. Hiện chưa rõ tác giả là ai và thời điểm tác phẩm ra đời.
Trước đây, nhiều người (trong số đó có Dương Quảng Hàm, Bùi Kỷ) cho rằng truyện Trinh thử là của Trần triều xử sĩ Hồ Huyền Quy soạn.
        
Bản in sớm nhất truyện Trinh Thử hiện còn là lần in vào năm Đinh Tỵ (1875). Truyện kể rằng vào năm Long Khánh (niên hiệu của Trần Duệ Tông), đời Trần ở miền Lộc Đỗng có người Hồ sinh, học rộng biết nhiều, lại nghe được tiếng chim muông. Nhân ra chơi kinh thành, chàng ngụ ở gần nhà Thừa tướng Hồ Quý Ly. Đêm nằm bỗng nghe tiếng chó sủa. Chó sủa làm cho một con chuột bạch góa chồng đang đi kiếm ăn bên nhà Hồ Quý Ly kinh hãi chạy vào nấp ở hang chuột đực.

Theo nhà nghiên cứu Dương Quảng Hàm thì trừ đoạn mở đầu và đoạn kết, truyện có thể chia làm 3 đoạn và có nội dung đại để như sau.

Hồ sinh, học rộng biết nhiều, lại nghe được tiếng chim muông. Nhân ra chơi kinh thành, chàng ngụ ở gần nhà Thừa tướng Hồ Quý Ly. Đêm nằm bỗng nghe tiếng chó sủa. Chó sủa làm cho một con chuột bạch góa chồng đang đi kiếm ăn bên nhà Hồ Quý Ly kinh hãi chạy vào nấp ở hang chuột đực.
Chuột Đực quyến rũ Chuột Bạch, Chuột Bạch cự tuyệt và quyết liều chết để bảo toàn chữ trinh.
Chuột Cái về, nổi ghen, rầy rà Chuột Đực và sinh sự với Chuột Bạch.Chuột Bạch giãi bày, biện bạch rồi từ biệt ra về. Nhưng Chuột Cái không tin, nổi ghen, đay nghiến chồng, rồi còn đến nhà Chuột Bạch để xỉ vả. Mèo ở đâu chợt đến. Chuột Bạch chạy thoát vào cong gạo, còn Chuột Cái chạy lạc đường sa xuống ao.
Hồ sinh cứu vớt và khuyên nhủ Chuột Cái về đạo cư xử trong gia đình.


Theo thiển kiến, cả hai truyện có những tính chất sau:

1.Cả hai là truyện Nôm, truyện thuần túy Việt Nam, không vay mượn ở các truyện ký Trung Quốc, và ở vào thời kỳ đầu tiên của lịch sử tiểu thuyết Việt Nam.
2. Cả hai truyện đều là tác phẩm phê phán chế độ,chống lại sự thối nát , phi luân , phi pháp của triều đình nhà Trần.
3. Truyện Trê Cóc nhằm chỉ trich họ Trần coi thường luân lý đạo đức mà thủ phạm chính là Trần Thủ Độ, đã gây ra bao vụ loạn dâm. Ý kiến của Bùi Huy Bich là đúng, nhất là ông đã nói lên ý nghĩa của truyện là tố cáo Trần Thủ Độ đã phạm tội trong vụ án "cướp vợ đoạt con". Lẽ dĩ nhiên, truyện này là vũ khí bí mật của dân chúng nhằm chống bạo quyền nên không thể nói rõ, chỉ nói bóng bẩy thôi.
4. Truyện Trinh Thử đã có dấu tich "Trần Triều xử sĩ Hồ Huyền Quy ", và đề cập đến Hồ Quý Ly, nghĩa là phê phán triều mạt Trần, Hồ Quý Ly chiếm quyền. Tác giả trung thành với nhà Trần nên xưng là xử sĩ đời Trần, và châm biếm Hồ Quý Ly, gọi Hồ Quý Ly là " đồ rùa đen "( "Hồ Huyền Quy "- Hồ Rùa Đen).
Hai tác phẩm trên đều là những tác phẩm chỉ trich bạo quyền, phi luân, phi pháp.


III. THẾ LỮ (1907 – 1989)

Thế Lữ ở trong Tự Lực Văn Đoàn, nổi danh với bài thơ "Hổ nhớ rừng". Lời  con hổ bị giam cầm  trong khung sắt, tưởng nhớ rừng xanh  là chính là tâm trạng của Thế Lữ  và  dân tộc Việt Nam bị thực dân Pháp đô hô. Con hổ  nhớ rừng, nhớ khung trời tự do trước khi Pháp đến. Và con hổ mơ ước độc lập, tự do:

Gặm một khối căm hờn trong cũi sắt,
Ta nằm dài, trông ngày tháng dần qua.
Khinh lũ người kia ngạo mạn, ngẩn ngơ,
Giương mắt bé riễu oai linh rừng thẳm
Nay sa cơ, bị nhục nhằn tù hãm
Để làm trò lạ mắt, thứ đồ chơi.
Chịu ngang bầy cùng bọn gấu dở hơi,
Với cặp báo chuồng bên vô tư lự.

Ta sống mãi trong tình thương nỗi nhớ,
Thủa tung hoành, hống hách những ngày xưa.
Nhớ cảnh sơn lâm, bóng cả, cây già,
Với tiếng gió gào ngàn, với giọng nguồn hét núi,
Với khi thét khúc trường ca dữ dội
Ta bước chân lên, dõng dạc, đường hoàng,
Lượn tấm thân như sóng cuộn nhịp nhàng, 



 Bài Hổ nhớ rừng là một tiên tri cho số phận của ông. Là đồng chí của Nhất Linh sao ông lại theo Cộng sản để chịu cảnh xich xiềng nô lệ? Có lẽ ông bị kẹt vì một lý do gì đó mà phải cam tâm thân phận tù đày xiềng xich của Cộng sản. Lúc bấy giờ thời chiến tranh, nhiều gia đình phải tản cư nhưng it lâu sau phải "dinh tê" (về thành). Họ về cùng gia đình nhưng một số cho vợ con về trước. Họ đóng một tuồng vợ chồng cãi nhau, bà vợ giận chồng dắt con về thành! 

Thế Lữ đã cho vợ con về thành, sau vợ con ông sang Pháp. Sau 30-4-1975, ông đi "công tác" Vũng Tàu" bị công An bắt về tội vượt biên. Ông bị bắt một lúc với giáo sư Lê Hữu Mục. Sau cơ quan can thiệp, ông được trả tự do. Từ đấy ông thực sự là một con hổ nhớ rừng!



IV.  VÔ DANH

Thế Lữ xem ông là một con hổ trong Sở Thú, một người khác lại coi toàn thể nước ta là một sở thú. Loài vật trong vườn Bách Thú tượng trưng cho xã hội Việt Nam thời Pháp thuộc, bọn  vua quan no ấm, dân chúng đói khổ, có bọn nịnh thần nô lệ luôn luôn tỏ dạ trung thành với chủ, và những bọn quan  gian tham giành giật, chém giết nhau. Lão nhân đã vẽ một bức tranh xã hội sống động. ,Loài vật ở đây đã suy tư và hành động như một xã hội loài người. Ông có bài thơ:


VỊNH VƯỜN BÁCH THÚ

Dưới tán cây xanh một dẫy chuồng
Trong chuồng nuôi đủ Thú, Chim muông
Khù khì vua Cọp no nằm ngủ
Nhớn nhác dân Hươu đói chạy cuồng
Lũ Khỉ được ăn bày lắm chuyện
Đàn Chim chực miếng hót ra tuồng
Lại còn Gấu dại vài ba chú 
Hì hục tranh nhau một cục xương ! 

 V. PHAN KHÔI    (1887-1959)


Phan Khôi là một nhà văn bất khuất và trung trực. Thời Pháp thuộc, trên Đông Pháp Thời Báo, số 726, tại Sài Gòn ngày 2-8-1928, đã xuất hiện một bài thơ mới của Phan Khôi. Phan Khôi mượn câu chuyện truyền kỳ dân gian về việc quạ bắc cầu Ô thước, để sáng tác một bài thơ ngụ ngôn, nhan đề “Dân quạ đình công” với mục đich đề cao lòng yêu nước của nhân dân chống thực dân cướp nuớc và bóc lột:

Mồng bảy tháng Bảy năm Mậu Thân,
Chiếu lệ bắc cầu qua sông Ngân,
Hằng hà sa số cu-li quạ,
Bay bổng về trời dường trẩy quân.
Hai bên bờ sông đậu lóc ngóc,
Con thì kêu đói, con kêu nhọc.
Đường sá xa xuôi việc nặng nề,
Phần lũ con thơ ở nhà khóc.
Bỗng nghe lệnh Trời truyền khởi công,
Nào con đầu cúi, con lưng cong,
Thêm bầy lý bẻo đứng coi việc,
Đụng đâu đánh đó như bao bông!
Ngán cho cái kiếp làm dân thiệt,
Làm có ăn không, chết cho chết,
Cắn cỏ kêu Trời, Trời chẳng nghe.
Một con bay lên đứng diễn thuyết,
“Hỡi đồng bào nghe tôi nói đây:
Dân quyền thạnh nhất là đời nay,
Việc mà chẳng phải việc công ích,
Không ai có phép đem dân đày.
Trối kệ Hoàng ngưu với Chức nữ,
Qua được thời qua, không thời chớ.
Quốc dân ô thước tội tình chi,
Mà bắt xâu bơi làm khổ sở?
Anh em ta hè về quách thôi! ”
Luôn thể kéo nhau vào cửa trời,
Dộng trống đăng văn ầm đế tọa,
Ngai vàng bệ ngọc rung rinh rơi.
Nghe tin dân quạ nổi cách mệnh,
Trời sai thiên lôi ra thám thính,
Đầu đen máu đỏ quyết hy sinh,
Ngừng búa thiên lôi không dám đánh.
Tức thì chiếu Trời vạch mây ra,
Đánh chữ đại xá Trời ban tha,
Dân quạ ở đâu về ở đó,
Từ nay khỏi bắc cầu Ngân Hà.
Ờ té ra:
Mềm thì ai cũng nuốt!
Cứng thì Trời cũng nhả.
Hằng hà sa số cu-li quạ,

Bay về hạ giới kêu “khá, khá”
 
Đến thời Nhân Văn Giai Phẩm, truyện loài vật được nói đến nhiều.Người dùng biểu tượng súc vật nhiều nhất là Phan Khôi.Phan Khôi mang cái tính cương trực của dân Quảng và khí tiết Nho gia nên đã chống cộng sản lạm quyền, bất công và nịnh hót.Trong vụ Giải văn học 1954-1955, mà “ở Hà Nội dư luận bàn tán xôn xao, nhiều người không phục, cho rằng có mấy tác phẩm trong đó không xứng đáng được giải.”

 Trong bài phê bình lãnh đạo văn nghệ Phan Khôi viết: “Dưới chế độ tư sản, sự đối lập là thường,  nhân dân đối lập với chính phủ, công nhân đối lập với chủ xưởng, học sinh đối lập với nhà trường, nhưng ở dưới chế độ của chúng ta, về mọi phương diện, yêu cầu phải không đi đến đối lập, hễ còn đối lập là cái hiện tượng không tốt, cái triệu chứng không tốt..”. “Trường thi phong kiến thưở xưa tuy có ám muội gì bên trong, chứ bên ngoài họ vẫn giữ sạch tiếng: một người nào đó con em đi thi, thì người ấy có được cắt cử cũng phải “hồi tị”, không được đi chấm thi. Bây giờ cả đến chính mình đi thi mà cũng không “hồi tị” một lẽ ở thời đại Hồ Chí Minh, con người  đổi mới, “liêm chính” cả rồi, một lẽ là trán trơn vì thấy mọi cái “miệng” đã bị “vú lấp”. Bài báo gây dư luận sâu rộng tại Hà Nội “có người thốt lên rằng chín mười năm nay mới nghe tiếng nói sang sảng của cụ Phan Khôi” (Hoàng Văn Chí, sđd 26)


Ông còn viết một truyện ngắn nói lên tình trạng bất công và bè phái trong Cộng đảng:
Một dạo, giữa loài dở cạn dở nước, mở cuộc thi sắc đẹp. Nhân có sự tranh chấp, ba con ếch, cóc, ễnh ương đấu khẩu với nhau, tiếng cóc nhỏ hơn hết, nhưng mà động đến trời. Trời phán: – Chỉ có mày là đồng loại với chúng nó, mày sẽ làm vừa ý ta, không được từ chối.
Sau khi cực chẳng đã phải làm trọng tài, Nhái bén tâu kết quả:
– Ễnh ương giải nhất, ếch giải nhì, cóc không ở giải nào cả? Trời tỏ dáng không vui, bảo Nhái bén: Mày cố hết sức tìm ra ưu điểm cóc xem.
Nhái bén tâu:
– Cóc có mụt nằm khắp cả người, con không tìm ra ưu điểm nào.
Trời phán:
– Thôi cho mày đi về. Mấy hôm sau, có nghị định của Hà Bá sức về: – Nhái bén bị đày vĩnh viễn ở dưới nước, không được lên cạn nữa. Nhái bén gặp cá trê, kể cảnh ngộ của mình, cá trê bảo:
Mày dại lắm đi đâu chẳng biết con cóc là cậu ông Trời. Tao đây mà cũng còn thua kiện nó nữa là..”
 Từ những thực tế trên, Ông cho rằng sống trong chế độ cộng sản, thân phận người dân chẳng khác gì con heo bị "bịt mồm bịt miệng", và bị "cái đao" khủng bố...Ông đã viết một bài thơ có đoạn:
Đánh đùng một cái
Kêu éc éc ngay
Bịt mồm, bịt miệng
Trói chân, trói tay……
Từ dây đến cái đao
Chẳng còn bao xa
Phan Khôi có tinh thần chống Cộng cao độ. Nhà nước Hà Nội muốn lấy lòng Phan Khôi vì ông là nhà văn miền Nam có danh tiếng, nên cử Phan Khôi đi dự lễ kỷ niệm lần thứ 20 ngày mất của Lỗ Tấn (1881-†1936) tại Bắc Kinh (Peking), dù nước đàn anh cộng sản giáo điều, nhưng Phan Khôi tranh luận cãi với cán bộ Trung Cộng về chủ nghĩa Mác xít (Marxist), Phan Khôi phê bình khi tới thăm nhà máy An Sơn như sau:
Ngày xưa ông Mác nói “lao động sáng tạo nhưng tôi nghĩ rằng nên nói trí thức và lao động sáng tạo mới đúng”.
Cán bộ Tàu lễ phép chữa lại:

“Thưa cụ, ông Mác nói là lao động là bao gồm cả trí thức trong đó chứ ạ!” 
Cụ Phan trả lời ngay:
“Không đâu, ý ông Mác chỉ muốn nói công nhân thôi, còn trí thức thì sau nầy người ta mới thêm thắt vào đó”.

Ông đưa bản thảo "Nắng Chiều" cho hội Văn Nghệ in nhưng họ từ chối. Bài báo của Đoàn Giỏi cho biết Nắng chiều gồm hai phần: truyện ngắn và tạp văn.  Phần thứ nhất gồm ba truyện ngắn” “Cầm vịt”, “Tiếng chim”, và “Cây cộng sản”.  Phần thứ hai gồm bốn tạp văn mà Phan Khôi cho là đã chép lại sự thực chứ không phải tiểu thuyết.  Đó là “Thái Văn Thu”, “Ông Năm Chuột”, “Chuyện ba ông vua Kiền Long, Quang Trung và Chiêu Thống”, và “Nguyễn Trường Tộ”.
Tập Nắng Chiều dù không được xuất bản, nhưng nhờ Đoàn Giỏi trích dẫn phê bình, chúng ta thấy Phan Khôi chủ đích chính trong bài là chỉ trích chế độ cộng sản độc tài cai trị tại miền Bắc Việt Nam lúc bấy giờ. Nắng Chiều thất lạc, chỉ còn ba truyện ngắn: Cầm Vịt – Tiếng Chim – Cây Cộng Sản.Nói về chuyện Cầm Vịt “Tôi thấy làm cái nghề này tuy vất vả mà ăn ở như thế thì đầy đủ lắm, giữa chủ và bạn cũng không có chi khác nhau. Ông chủ nói rằng nếu không thế thì không thuê được người, chẳng những phải trả tiền thuê mỗi tháng mà cuối mùa còn phải chia hoa hồng cho anh em nữa, vì thế tuy được lãi nhiều mà vào tay người chủ không còn mấy..”
Tiếng Chim: “Một lần ở Cẩn Nhân, tôi ngồi nơi nhà sàn, thấy hai con quạ rình bắt gà con kia bị gà mẹ chống cự, bắt không được cũng bay đi tuốt, nó không hề nói “Mầy phải cho tao với!” Cây Cộng Sản “Có một thứ thực vật, cũng như sen Nhật Bản ở xứ ta, trước kia không có mà bây giờ có rất nhiều. Đâu thì tôi chưa thấy, chỉ thấy ở Việt Bắc không chỗ nào không có.”  Theo Phan Khôi có nơi gọi loại cây trên là “cỏ bù xít” hoặc “cây cứt lợn” hoặc “cây chó đẻ”. Ông nói rằng những tên cây đó đều không nhã tí nào, người có học không gọi như vậy mà gọi là “cây cộng sản”... Phong trào cộng sản cũng lan tràn nhanh chóng như thứ cây ấy, cũng không trừ khử được như thứ cây ấy, cho nên bọn Tây đồn điền đặt tên nó là “herbe communiste” đáng lẽ dịch là cỏ cộng sản. Nó còn một tên rất lạ hỏi ông già Thổ tên nó là cây gì, ông nói tên nó là “cỏ cụ Hồ”. Thứ cỏ nầy trước kia ở đây không có, từ ngày cụ Hồ về đây lãnh đạo cách mạng, thì thứ cỏ ấy mọc lên, không mấy lúc mà đầy cả đường sá đồi đống, người ta không biết tên nó là gì, thấy nó cùng một lúc với cụ Hồ về thì gọi nó là như vậy”. Như vậy là Phan Khôi gọi Hồ Chí Minh là "chó đẻ"!

VI. PHÙNG CUNG (1928 - 1997)

 Con ngựa già của Chúa TrịnhDạ Ký, ngụ ý đả kích chế độ và những văn nghệ sĩ bẻ cong ngòi bút, không dám nói thật tiếng nói của mình, bị lưu đày trong cõi tung hô.


Trong Nhân Văn Giai Phẩm có lắm anh hùng,  và văn thi sĩ tài ba. Phùng Cung là một chiến tướng xuất sắc với truyện ngắn Con ngựa già chúa Trịnh .Ông chỉ trich đám văn nô là những con ngựa già nua, bất tài, mắt bị che kín, chỉ cúi đầu đi dưới ngọn roi của cộng đảng.


VII. VŨ TÚ NAM



Trong thời gian vụ án Xét lại hiện đại bùng lên,, một số nhà văn bị tai bay vạ gió bởi vì những con vật của họ đã lên tiếng chống đối cộng sản hoặc bị vu là chống đảng.
Trước tiên, ta nói đến Vũ Tú Nam , năm 1963, cái truyện Văn Ngan tướng công của ông  vừa được Nhà xuất bản Kim Đồng cho xuất xưởng thì đã lọt vào cặp mắt xanh của nhà văn Marian Tkachov, ông này đã dịch truyện đó sang tiếng Nga và xuất bản ở Liên Xô. Thời điểm ấy bên Liên Xô đang có vấn đề “xét lại” nên tất cả những gì liên quan đều bị xem xét. Văn Ngan tướng công đã không tránh được  cái án "yêu thư".
Viện Văn học tổ chức một cuộc hội thảo về Văn Ngan tướng công. Nhà văn Vũ Tú Nam biết có cuộc hội thảo, ông đề nghị Ban tổ chức cho ông tham dự. Sau khi tranh luận và tranh biện, đến phần Vũ Tú Nam phải nói thì ông trả lời rất giản dị:
Tôi quan sát cuộc sống của bầy ngan  thấy có những điểm hay thì tôi viết chứ không có ý ám chỉ ai. Mọi người có vẻ chịu lý, nhưng sau hội nghị không khí căng thẳng vẫn chưa hề thuyên giảm.
Phải tới một cuộc họp về đề tài nông nghiệp ở Thái Bình, đại tướng Nguyễn Chí Thanh nói với những người có trách nhiệm định đoạt cho số phận những tác phẩm văn học rằng Văn Ngan tướng công viết tốt, người lớn hay trẻ con đều đọc được. Dư luận từ đó lắng đi...
Trong truyện Cuộc phiêu lưu của Văn Ngan tướng công, Vũ Tú Nam đánh giá thấp loài Ngan:
-Ngan kiêu ngạo:
- Ngan bất tài:
-Ngan tham lam
-Ngan dối trá

VIII. KIM LÂN

Truyện này kể vợ ông mua một con chó,  một con chó quá xấu vì:
-quá ốm
-quá nhỏ

Nhất là những hôm đang lạnh bỗng dưng trở nắng, con chó nhà tôi ra sân ngồi sưởi thì, giời đất cha mẹ ơi, không còn thể sao khươm được. Bẩn mắt quá! Nó ngồi gù gù ngoài bóng nắng như anh nghiện thiếu thuốc. Cái mặt gục xuống, rớt rãi chảy ra, hai con mắt ướt nhoèn hai cục nhử trắng nhã. Cái lưng khòm khòm nổi lên từng đốt, từng đốt xương sống. Cái con chó khốn khổ ấy nó không còn đủ cả lông để che kín thân thể nữa. Lông nó lường ăn rụng từng đám lơ phơ, nham nhở và đỏ bẻm như

đám cỏ ấy. Da lưng, da bụng, da cổ trật ra sần sùi, cóc cáy, đến cả cái đuôi cũng không đủ lông. Đuôi nó thun lủn một mẩu xám xịt như đuôi con chuột cống già. Dưới ánh nắng mùa hanh rát ràn rạt, lớp da răn rúm bọc ngoài cái thân hình gầy gùa, lủng củng những xương của nó, lúc lúc lại thấy rùng lên. Nó khẽ rên ư ử một cách sung sướng và thê thảm… Tôi bảo nhà tôi đem mà vứt mẹ nó đi, không có cho ai thì cho.
 Khi quân Pháp đổ bộ, tác giả và gia đình tản cư lên núi, bỏ con chó lại cho một ông lão nuôi. Con chó sút dây xich, bỏ về nhà, đói khổ, nằm chết đói ở nhà chủ. Khi chủ về nó mừng rỡ rồi chết! Đây là câu chuyện một con chó trung thành.

 Người ta giải thích rằng Kim Lân ví Ðảng như ông chủ, còn trí thức như con chó. Ông chủ hắt hủi con chó khi nó ghẻ lở gày còm, ông chỉ quan tâm tới nó khi thấy nó hứa hẹn những đĩa luộc, đĩa dồi và nồi nhựa mận bốc mùi ngào ngạt. Con chó khốn khổ thì cứ một mực trung thành với chủ cho đến chết. Miêu tả thân phận con chó còi cọc đói khổ trên nền xám của nông thôn Việt Nam Kim Lân có ngòi bút cực hay. Còn Văn Ngan Tướng Công thì bị buộc tội ám chỉ Ðảng bay không biết bay, bơi không biết bơi, chỉ nỏ mồm cạc cạc.

Người ta hỏi Kim Lân về việc ông bị "đánh ", ông trả lời:"
 
 “Con chó xấu xí” là ông viết để tự bạch tâm trạng của mình với mọi người lúc bấy giờ?
– Đúng thế! Tôi chỉ muốn nói rằng, tuy tôi có là con chó xấu xí nhưng vẫn trung thành với chủ. Nguyễn Công Hoan đọc xong bảo “thằng này ngu bỏ mẹ, tự nhận mình là con chó!”. Ông Văn Cao thì nhận xét “gớm cậu viết võ kín quá!” làm tôi sợ.
– Nhưng ông đâu có bị “đánh” mà kêu oan?
– Cũng bị đánh chứ, vì khi đó tôi có viết một truyện ngắn Ông lão hàng xóm, ngày ấy cũng là chuyện nói về sai lầm trong cải cách ruộng đất. Lúc bấy giờ in ra, nhiều người thích vì cho rằng viết thế là dữ dội. Cộng với mình lại thêm tội “không chịu viết bài để đánh Nhân văn Giai phẩm” thế là người ta cũng không ưa chúng tôi luôn…(…trích “Cuộc trò chuyện cuối cùng với nhà văn Kim Lân” – Bá Kiên)

 IX. . NGUYỄN ĐÌNH THI

 Năm 1962, hoặc 1963 tôi không còn nhớ rõ, Nguyễn Ðình Thi cho ra vở kịch Con Nai Ðen. Đây là một vở kịch thần kì phỏng theo một vở kịch thần kì khác,  kịch Vua hươu của Gozzi  một nhà văn Italia.
Nguyễn Đình Thi là một tay "lọt trời rơi xuống đất". Ông tránh sáng tác mà vay mươn truyện truyền kỳ ngoại quốc. Lúc bấy giờ ở Liên Xô, người ta sợ sáng tác vì sáng tác dễ chết như chơi cho nên kịch TV, cinema đều lấy truyện cổ tich, truyện thần thoại. Vở kịch Vua hươu của Gozzi đã được diễn ở Nga. Ở Nga, sáng tác của Gozzi cũng được đáng giá cao, đặc biệt từ đầu thế kỉ XX đã cổ vũ những thử nghiệm cách tân của một số văn nghệ sĩ lỗi lạc (Prokofiev, Vakhtangov, Obraztsov). Vở diễn Vua hươu,được nhà đạo diễn Serguei Obraztsov dựng trên sân khấu nhà hát múa rối Moskva sau này mang tên ông, trong vòng mấy chục năm liền được công chúng khán giả mọi lứa tuổi lũ lượt đến xem và từng được đưa đi trình diễn ở nước ngoài. Chính sau khi được xem vở diễn ấy trong một chuyến đi công tác ở Nga, chứ không trực tiếp đọc Gozzi, Nguyễn Đình Thi đã bắt tay vào sáng tác kịch Con nai đen . Khôn như thế cũng không xong. Đây là một bi hài kịch. Nếu nói về cốt truyện cơ bản, với cái hình tam giác nhân vật chính: ông vua đôn hậu cả tin, người vợ một lòng một dạ trung thành với ông và tên gian thần vì mê say hoàng hậu đã dùng ma thuật đội lốt vua chiếm đoạt ngai vàng nhưng cuối cùng đã thất bại nhục nhã - mà chính Gozzi đã cấu tạo nó bằng cách kết hợp những môtíp của truyện cổ tích Ý, truyện cổ tích A rập và Ba Tư - thì Nguyễn Đình Thi đã vay mượn gần như nguyên vẹn của Gozzi.
Vở kịch Con Nai Đen bị đảng đánh vì cho rằng có chất ngụ ngôn nói bóng gió chuyện những người thành đạt quay lưng lại với bè bạn thời gian khổ. Sự bóng gió trong vở kịch, theo anh em cầm bút đánh giá, nhẹ tới mức bằng không, thế nhưng những nhà lãnh đạo vẫn không hài lòng và vở kịch bị đánh.

Ở   các xứ sở khác, những truyện như thế chẳng ai chú ý nhưng các ông công an văn nghệ cố gắng lập công nên  đã nặng tay với các văn nghệ sĩ! Hơn nữa, cộng sản chủ trương chuyên chế, dùng bạo lực cai trị nhân dân cho nên việc khủng bố, tàn sát là phổ biến. Chính trong các chế độ tham nhũng, thối nát, vô luân, vô pháp thì các súc vật trở thành có tiếng nói phản kháng vang dội.Và từ đó, ta thấy tinh thần tranh đấu của văn nghệ sĩ Việt Nam rất cao.




No comments: