Saturday, April 29, 2017

SƠN TRUNG * NHỮNG VĂN THI SĨ VIỆT NAM KIỆT XUẤT TỪ THẾ KỶ XX





NHỮNG VĂN THI SĨ VIỆT NAM KIỆT XUẤT Ở THẾ KỶ XX 

SƠN TRUNG 



A.THI CA TIÊN TRI VẬN NƯỚC

1.TỨ THÁNH (Đầu thế kỷ XX)

Tiền nhân ta đã có cái nhìn xuyên suốt thế kỷ của thần thánh. Rõ rệt nhất là Tứ Thánh, một cậu bé 9 tuổi ở vùng Hòa Hảo vào đầu thế kỷ XX đã biết nói thơ về tương lai Việt Nam.

425. Thế gian chớ khá cỡi trâu
.Hai sừng nó nhọn nó đâu để mình.
Thương dân khuyên nhủ hết tình.
Mượn xác chín tuổi một mình ra thơ.


Người Việt Nam ta tin cậu bé đã được thánh thần nhập xác để cảnh báo cho nhân dân Việt Nam biết tai họa tương lai. Tứ Thánh cũng như Sư Vãi Bán Khoai và Nguyễn Văn Thới là bậc tiên tri của Bửu Sơn Kỳ Hương mà những lời truyền phán đã được xác nhận là đúng sau khi Việt Nam đã trải nghiệm với bọn "thằng ngốc làm vua"!(Sấm Trạng Trình của Bửu Sơn Kỳ Hương)

Ở đầu thế kỷ XX, Tứ Thánh đã biết cộng sản nổi lên
25. Chó thấy trời mọc phải tru.
Thảm thương chú cộng (3) công phu đợi chờ


Cộng sản Việt Nam lãnh nhiệm vụ một đội quân Lê dương , một lũ nô lệ cho Nga, Hoa (như Lê Duẩn đã thú nhận) gây chiến tranh Đông dương để mở đường cho Trung Cộng Nam tiến:

Phiên-bang, đảng Cộng đôi đàng,
Chiến tranh giành giựt xóm làng thác oan.

Tứ Thánh nói rõ tội phạm là một kẻ xưng danh "ái quốc"và giả dạng nhà khổ tu:

Tay chuông tay mỏ tu trì.
Tránh mưu ái- quốc tránh vì kế sâu.


-Kiến cơ nhi tác lập thân. 
Khuyên trong anh chị thôn lân xem chừng
.Phật rau xuống thế làm quan.
Súng đồng gươm giáo tưng bừng bồn phang.
355.Phật mà xuống thế làm quan.
Hại làng hại xóm dân gian khó nghèo.



Việt Cộng chiếm toàn thể Việt Nam, thay đổi, đảo lộn mọi sự . Đó là lúc Châu Đốc đổi thành An Giang:

Đổi chồng, đổi vợ, đổi con.
Đổi sông, đổi núi, đổi hòn Hà-Tiên.
Đổi Châu-Đốc, đổi Tịnh-Biên.
190. Thất- sơn lại đổi Hoa liên Nhà-Bàn.



Việt Cộng vỗ ngực xưng anh hùng nhưng với Tứ Thánh, Việt Cộng đã nhận lãnh chung cuộc thất bại vì mắc mưu người:

Thương công chú Cộng chan dầm,
Vào sanh ra tử lại lầm kế ai.


Sau loạn ly  là đến thời thịnh trị:

-Phật ra đời tại Thất sơn
-An Giang đổi lại Châu Đốc

Ngày sau có một không hai
450.Thất sơn duy nhất Như-Lai lập đời


455.An-giang sao (sau) lại đổi dời.
Đổi lên Châu-Đốc vậy thời mới yên.


2. NGUYỄN VĂN THỚI (1866-1927)



Ông Nguyễn-văn-Thới (tục gọi là ông Ba Thới) sanh năm Bính-dần (1866), đời vua Tự-Đức thứ 19. Quê-quán ở làng Mỹ-Trà, ấp Long-Hậu, tổng Phong-Thạnh quận Cao Lãnh (SaĐec. Mùa đông năm Binh-Ngọ (1906), ông Ba bỗng nhiên phát đạo tâm, ông từ-giã gia-đình rồi thẳng lên vùng núi Sam, vô trại ruộng Thới-Sơn (cạnh Thất-Sơn) để tầm sư học đạo (a). Đâu đâu ông cũng nghe người đời ca tụng đạo-đức cao-siêu của ông Hai Trần-văn-Nhu. Ông bèn trở xuống Láng-linh để tìm cho tận mặt, và sau khi biết rõ được giáo lý, ông xin quy-y với ông Hai. Trở về nhà ăn Tết xong, mùa xuân năm Đinh-Mùi (1907), ông Ba dời cả gia-đình về Láng cất nhà gần chùa Bửu-Hương Tự. Ở đây, ông siêng-năng trau-giồi hạnh đạo, chất-phác làm ăn, được ông Hai coi là đại đệ-tử.

Vì có sự tị-hiềm của Nguyễn-văn-Phẩm nên chùa Bửu-Hương Tự bị nhà cầm quyền Pháp bao vây (ngày 21 tháng 2 năm Quí-Sửu 1913). Lúc ấy tuy ông Ba thoát khỏi được, nhưng ông Hai thì phải xiêu-lạc khổ-sở còn con trưởng của ông là Nguyễn-văn-Tuấn lại bị bắt cùng một một lượt với 56 người đồng đạo đến cúng chùa.Thấy chùa Bửu-Hương Tự bị Pháp nghi-nan dò xét mãi, và liệu ở đấy không yên được nên vào khoảng tháng bảy năm Giáp-Dần (1914) ông Ba dời nhà về doi Lộ-Lở (làng Kiến-An, tổng Định Hòa, Long Xuyên), giả dạng người thường, ruộng rẫy làm ăn cho qua ngày.Tại đây, ông sang tác bộ Kim Cổ Kỳ Quan , gồm chín bổn viết trong khoảng từ 1907 đến 1926 :Kim Cổ.2- Giác Mê3- Cáo Thị 4- Vân Tiên7- Thừa Nhàn8- Tiền Giang9- Kiếng Tiên.

Đến năm giờ sáng (giờ dần), ngày mùng chín tháng tư năm Bính-Dần (1927), ông Ba tịch. Lúc ấy ông hưởng thọ vừa đúng 61 tuổi, sau khi đã để lại cho đời chín văn phẩm kiệt tác về đạo-đức lẫn văn-chương, và một tấm gương tiết-tháo kiên-trinh bất hoại.
Ông là bậc khải thánh, nhờ công phu tu tập thiền định nên nghe được lời Phật tổ, Phật Thầy mà ghi thành sách truyền hậu thế về thiên cơ. Tác giả là người được đức Phật giao cho sứ mạng truyền bá Phật pháp và cảnh tỉnh nhân loại:
Phật dạy tôi trước tỏ bày,
Bút thần ký tự để rày hậu lai.
(Kim Cổ Kỳ Quan , câu 634)

Tác giả nói nhiều lần rằng ông chỉ là người ngu dốt, tầm thường, được Phật cho phép ghi lại lời Phật dạy trong lúc hành thiền:
Phật cho nói việc cạn lời
Tôi nào có biết việc đời làm sao

(Thừa nhàn, 2301)
Ông có sứ mạng loan báo tai họa xảy đến để loài người thức tỉnh, đừng tham tiền bạc, danh lợi, đừng làm điều gian ác:
Phật cho kim bút đề câu
Giáo người thiện nghiệp đâu đâu hãn tường

(Thừa nhàn, 2595-96)


Ông Nguyễn Văn Thới là một nhà thơ, một Phật tử và cũng là một nhà tiên tri. Ông tiên đoán nhiều điều, chúng tôi chỉ trình bày một vài điều tiêu bỉểu.
Cũng như Tứ Thánh, Nguyễn Văn Thới vạch mặt Hồ Chí Minh giả dạng yêu nước, bình dân và khổ tu:
-Nhớ ngồi chiếu lác xưng bác xưng cô
Chẳng phải nam mô giấy chẳng thấy chư dưng
Bây giờ người xưng đam quí đạo
Ngỗ ngang nghịch bạo qui đạo học cho xuôi
Mặc kẻ tới lui mù đui con chuột
Học hành mới thuộc bạch tuột sa
o
.(Cáo thị, 424-429)


Ông Ba đã cho ta biết Hồ Chí Minh là một con cáo già. Tác giả đã dùng nhiều lần chữ " cáo" và hồ" chỉ Hồ Chí Minh và bọn cộng sản là bọn lưu manh, trộm cướp:
Tôi nay không phải Nhẩn-Hồ
Thọ tài oán trái làm đồ phi ân

(Thừa nhàn, 1769-1770)
Giận lũ cáo phá xóm làng.
(Kim cổ Kỳ Quan, c.349)
Nghỉ thôi nhiều nỗi cay co
Đêm khuya tuông lụy sầu lo việc đời
Mất mối trời tối rã rời
Lần lần nẻo tắc dò thời đường quanh
Cám phiền phận chị nỗi anh
Nhà trống không thức mà canh mất đồ
Mắc mưu chú Nhẫn chú Hồ ,

Từ khi Việt cộng chiếm miền Nam, chúng trở thành thực dân Bắc Kỳ. Nhân dân ta có câu ca dao:
Bắc kỳ cai trị Nam Kỳ
Chức gì cũng chiếm, món gì cũng vơ"
Khắp nơi dân miền Bắc vào cai trị, họ làm từ giám đốc, chủ tịch đến người quét rác. Cộng sản Bắc Việt đã thì hành chính sách thực dân tại miền Nam, ngay bọn Nam Kỳ tập kết, hồi kết cũng bị đá văng. Thành thử ông Ba dùng từ" Chúa Bắc Kỳ " rất đúng, rất hay.
Như đã nói ở trên, Bắc kỳ XHCN tự phụ đỉnh cao trí tuệ, văn chương, nghệ thuật cao siêu. Chúng  lăng xăng mồm năm miệng mười ( xuất tam thanh: năm ba giọng lưỡi) tuyên truyền khoác lác,kết tội văn chương miền Nam đồi trụy, còn văn chương của họ là tiến bộ văn minh. 

Trước lo chúa khổ Bắc Kỳ,
Sau lo Nam Việt bất tùy ngụy bang.
Văn chương Bắc địa hiển vang,
Nam Kỳ dốt nát gian nan chẳng lừa,
(Tiền giang, 203, cột17, câu 667)
         Nhưng dưới mắt ông Ba, văn chương cộng sản là đồ bỏ đi, đó là một thứ văn chương mất gôc, phá hoại văn hóa, đạo đức truyền thống:
Mắt đoái xem Bắc địa thương dà,
Văn chương chữ nghĩa sao mà không căn.
Xuất tam thinh mặc sức lăng xăng
(KT , 292, 47, câu 1890-92)

Sau 1975, dân XHCN miền Bắc cũng bỏ nước ra đi nhưng Bắc Nam khác nhau. Dân Nam vì ý thức hệ còn dân Bắc ra đi đa số là vì kinh tế, và đa số bọn họ là con cái cán bộ. Người Miền Nam nhất là Sàigon ( xứ Saigon) bỏ nước ra đi nhiều nhất. Họ bị cộng sản giết, bắt giam, đoạt tài sản và bỏ đói. Họ phải bỏ nước ra đi. Họ vượt biển trên những con thuyền mỏng manh và được các quốc gia thương tình cứu vớt ( các nước cảm thương vì thuyền nhân không nơi nương tựa). Nỗi khổ này, ông Ba đã thấy rõ:
Chín người đói có một người no
Gặp cơn bát loạn của kho chẳng còn
Thương đông đảo là xứ Sàigòn
Bể om việc trước hao mòn các nơi
Cũng như buồm ra biển chạy khơi
Cám thương các nước không nơi cậy nhờ
.

(KCKQ, 1916-1921)


Cộng sản xuất khẩu lao động, buôn người. .. Gái Việt Nam bị bán đi    lấy chồng    Đài Loan, Đại Hàn, đui què mẻ sứt cũng lấy miễn là thoát khỏi Việt Nam quang vinh, kể cả buôn son bán phấn ở Singapore, Thái Lan:
Trào nào kẻ oán, người ân gập ghình.
Người gái Nam Tây lấy lộng bình,
Một gái mười gã nước mình biết sao!
Chà và đống bạc trắng kim cao,
Gái Nam cũng lấy biết sao nỗi người!
Nước Chệt qua lấy hết tức cười,
Cành. . . tha thứ hỡi người nước Nam!
(KCKQ, 2473-78)

Sau khi Tây (Pháp Mỹ) về nước, Việt Nam hoàn toàn mất công lý và tự do vì Cộng sản chiếm nửa nước, và sau 1975, cộng sản chiếm toàn quốc.
Tây buồn cỡi ngựa về Tây.
Tòa án mất rồi chẳng ai hay.
Nam Việt đổi dời nay chi thế
(TG,tr. 263, cột 138, bài thơ 27)

Người Việt Nam ta vì lòng yêu nước mà chống Pháp nhưng mỉa mai thay thực dân Pháp còn tốt hơn người Việt Nam chúng ta, tốt gấp trăm lần cộng sản.Khi Pháp, Mỹ khỏi Việt Nam, chúng ta không có hòa bình mà trái lại phải chịu một ach thống trị mới, tàn bạo, dã man hơn thực dân  Pháp!
Theo tác giả, việc Pháp lui khỏi Việt Nam là do thiên định. Chúng ta đừng chửi mắng, kết tội thực dân. Và khi thực dân, đế  quốc về nước, ta  không   nên mừng vì Tây, Mỹ về    thì Viêt Nam đói khổ và    mât tư do  :

Ai dè là việc lạ kỳ,
Khi không Phật khiến Tây tùy quy Tây.
Tây về người cũng không hay,
Đừng sanh dạ dữ mắng Tây bây giờ!
(TG 212, 36, câu 1467-1471)
Càng thấy khổ ngày càng túm rụm,
Tây về Tây người khó bụm khu.
(KT 278, 19, câu , 740-41)


Sau cách mạng tháng mười Nga, cách mạng Nga truyền sang Trung Quốc. Việt Nam theo Nga, Tàu.
Ông Ba thấy ngay từ đầu Việt Nam phân hóa, kẻ theo Nga Tàu, người theo Pháp Mỹ:
Bầu Tây thêm vị bầu Tàu.
(TG, 231, 73, câu 3043)

Ông  Ba kết án Trung Cộng giúp Việt Cộng rồi xâm lược Việt Nam. Ông Ba Thới nhìn thấy sau khi ông chết, Việt Nam lại tôn Trung Quốc làm thầy , một ông thầy bất chánh khiến cho nhân dân và đất nước Việt Nam phải chịu bao khổ nạn từ Hồ Chí Minh cho đến sau này.

Líu lo nói chuyện Xiêm Lào,
An Nam đem dạ nghe Tàu bại gia
.. . . . .. . . . .. .. .
Cớ sao dạ bạc theo Tàu,
Minh sư bất chánh đạo nào mà ngay.

(Tiền giang, 202, cột 15, 611-616)

Ông ghét bọn Trung Quốc làm thầy cho bọn nô lệ Việt Nam:
Thương người biết đạo ra bài,
Ghét là thiệt ghét Tàu thầy An Nam.

(Tiền Giang tr.208, cột27, 1115-1116)

Bọn Trung Quốc đã quấy rối, xâm phạm Việt Nam:
Nên muôn dân kẻ dọc người ngang, Cũng vì bởi Tàu man quấy rối (KT, 278, 20)

Trước 1926, nghĩa là trước nửa thế kỷ, ông Nguyễn Văn Thới đã thấy bọn Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng phải theo Trung Quốc và Nga, tuân lệnh họ và chịu điều kiện của họ mà ký các văn tự bán nước. Họ che giấu sự thật. Hồ Chí Minh luôn miệng ca tụng " tình hữu nghĩ Việt Hoa / Vừa là đồng chí vừa là anh em", còn Mao và bọn La Quý Ba thì huyênh hoang" viện trợ vô điều kiện" ... Cộng sản Việt Nam cũng dối trá che đậy sự hèn hạ của chúng (Cây héo mà tươi thấy tươi mà héo) , luôn vỗ ngực đại thắng nhưng sau khi chiếm miền Nam (1975) thì bị Trung Quốc dạy một bài học (1979) , họ lo buồn vì phải trả nợ cho Trung Quốc. Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng đã đem biển và biên cương (Nam Quan, Bản Giốc) dâng cho Tàu trừ nợ:
Cây héo mà tươi thấy tươi mà héo
Muốn ăn cho béo nợ kéo mà trừ biên thùy giỏi nữa.
(Cáo thị, 712-713)


Nay Trung Quốc gian manh xâm lược thế giới, Việt Nam tình hình nguy ngập. Trung cộng chiếm biển, lấn biên cương, khai thác Trung nguyên, và làm thủy điện ở thượng lưu sông Cửu Long. Tương lai miền Nam sẽ không còn phù sa, không còn nước ngọt, nói chung là tài nguyên khô cạn. Bọn lãnh đạo một số bối rối vò tơ, mắt như đui mù đậm đầu vào lửa, một số phải chìu luồn Trung quốc:

Thế vô quan xử tử thị oan
Thế thị Tàu man gian năm mối
Sanh cờ phản bối rối vò tơ
Bất kiến thiên cơ trơ trơ lý
Bất tri giáp tí ý giáp dần
Nói chuyện lần xần trần bịt nhỉ
Mong lòng tranh thủy nghỉ không xuôi
Có mắt như đui lui vào lửa
Dạ mong ngồi giủ lừa cháy trùng
.
(Cáo thị, 1800-1809)

Việc trong lục tỉnh hao mòn,
Nam bang khô cạn chìu lòn hết hơi.
(Kim Cổ audio 2B, 1083-84)
 



Trong Sấm Giảng Người Đời, Sư-Vãi Bán-Khoai vui mừng là khi thời-kỳ Thượng-Nguơn đã lập, nước Nam sẽ là một nước diễm-phúc nhứt trên quả địa-cầu:

 Nước Nam như thể cái lầu,
Ngày sau các nước đâu đâu phục tùng.

 Ông Ba thấy sau này Việt Nam trở thành một cường quốc:
Nước Nam như thể cái chùa
Ngày sau các nước bốn mùa bán buôn

(Vân Tiên 749-750)

Sư Vãi bán khoai đã tiên đoán:

Chừng nào núi Cấm quá (hóa) lầu,
Thời là bá-tánh đâu đâu thái-bình.


Ông nhắc đi nhắc lại hiện tượng này cho chúng-sanh để ý:

Chừng nào Bảy Núi thành vàng,
Thì là mới được thanh nhàn tấm thân.



Nhưng điều mà ông Sư-Vãi Bán-Khoai vui mừng là khi thời-kỳ Thượng-Nguơn đã lập, nước Nam sẽ là một nước diễm-phúc nhứt trên quả địa-cầu.Sở-dĩ nước Nam được diễm-phúc là vì cơ Trời đã định cho nước Nam là cõi Trung-ương, nghĩa là trung tâm của nền văn minh Thượng-Nguơn sau này. Chính vì được cái diễm-phúc đó mà chư Phật,
chư Tiên đều lâm-phàm ở nước Nam:

Bấy lâu Phật ở xa ngàn,
Bây giờ Phật lại bước sang Nam trào.


Ông Nguyễn Văn Thới cũng tiên đoán như vậy:
Chừng nào Phật xuất An-Giang
Nhơn dân lục tỉnh thanh nhàn tấm thân
Bảo người niệm Phật cho cần
Việc đời đã tới hầu gần tới đây
(Giác Mê, 392-595)



B. VĂN CHƯƠNG VIỆT NAM  CẬN ĐẠI VÀ HIỆN ĐẠI


Trong thời đại búa liềm, mỗi giai cấp đều có một khổ ách và một nhiệm vụ chống lại sự gian manh,cuớp bóc và tàn ác của Cộng sản.

Có thể nói các văn nghệ sĩ là giai cấp tiên phong trong công cuộc chống cộng kể từ đầu thế kỷ XX là lúc cộng sản trên thế giới chưa ra đời. Bởi vậy mà khởi đầu cuộc bạo loạn Nghê Tĩnh, Cộng sản đã kết tội trí thức nặng nhất, đứng đầu sổ hành quyết, nặng hơn tư sản, địa chủ bóc lột:

"Trí phú địa, hào, đào tận gốc, trốc tận rễ!"

Ở đây, chúng tôi nêu lên hai hạng văn thi sĩ kiệt xuất ở hai lãnh vực Văn chương và Chính trị.
 
I. THỜI ĐẦU PHÁP XÂM LƯỢC

Khởi đầu cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp, quan quân triều đình đã hết lòng chiến đấu. Phan Thanh Giản, Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu đã nêu cao gương hy sinh cho Tổ Quốc. Bên cạnh quan quân, các sĩ phu Việt Nam đã đứng lên chống lại bọn cướp nước. Thủ khoa Huân, Trương Định,Nguyễn Trung Trực, Phan Tôn, Phan Liêm, Phan Đình Phùng... là những chiến sĩ anh dũng.

Bên cạnh những chiến sĩ anh dũng, ta thấy có những trí thức đã đốt sáng ngọn lửa đấu tranh. Ngọn lửa sáng nhất là ngọn lửa Nguyễn Đình Chiểu với các bài thơ và văn tế như Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, (1861); Mười hai bài thơ và bài văn tế Tướng quân Trương Định (1864); Thơ điếu Đông các Đại học sĩ Phan Thanh Giản ( 1867); Mười bài thơ điếu Ba Tri Đốc binh Phan Tòng (1868). Đó những áng văn chương tuyệt tác kết tinh từ máu và nước mắt của trí thức yêu nước căm giận quân cướp nước và xót thương những chiến sĩ đã hy sinh..

Những bài thơ của Phan Văn Trị , Huỳnh Mẫn Đạt, Lê Quang Chiểu bút chiến với Tôn Thọ Tường bán nước là những áng văn hay.

Tiếp theo là 10 bài Khuê phụ thán của Thượng Tân Thị thác lời bà Nguyễn phi thương nhớ vua Thành Thái cũng là một tuyệt tác.


II. VĂN CHƯƠNG ẢNH HƯỞNG ÂU MỸ TRƯƠC 1945


Khi Pháp đặt nền đô hộ tại Việt Nam, văn chương học thuật Pháp và Âu Mỹ đã ảnh hưởng đến thi ca và tiểu thuyết Việt Nam.

Về tiểu thuyết, ra thấy rõ cảnh trăm hoa đua nở.Hồ Biểu Chánh là một cây đại thụ trong nền văn học Việt Nam.Tiếp theo Tự Lực Văn Đoàn với Nhất Linh, Khái Hưng, Thế Lữ, và một số văn sĩ ngoại hạng như Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng, Nguyễn Công Hoan, Tô Hoài đã được nhân dân quý mến.

Bên cạnh tiểu thuyết, thi ca cũng phát triển vô cùng với hàng hàng lớp lớp thi sĩ trứ danh như Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Huy Cận, HồDzếnh, Nguyễn Bính, Nguyễn Nhược Pháp, Đoàn Phú Tứ, Hàn Mặc Tử, Bich Khê...

III. VĂN CHƯƠNG MIỀN BĂC CỘNG SẢN


Đến thời chiến tranh Đông Dương,trên bãi chiến trường đầy xương máu cũng nở những đóa hoa.

Bài Màu tím hoa sim của Hữu Loan là một bông hoa quý mà cũng là một viên ngọc. Nó có cái đẹp


của tình yêu mà cũng có cái đẹp, cái dũng của thi nhân chống lại cường quyền. Những bài thơ của Trần Dần viết trong "Những ngày ấy bao nhiêu thương xót " là nước mắt tình yêu, là nỗi oán hận một chế độ đã bóp nát con tim yêu đương của tuổi trẻ! Nhân Văn Giai Phẩm là một kho tàng văn chương và cách mạng. Hoàng Cầm với Lá riêu bông, Phùng Quán với Trăng hoàng cung là những ẩn dụ rất đẹp với nghệ thuật tượng trưng về trò đời giả dối của một tập thể bạo quyền, và sự tan vỡ thảm thương của lòng tin về công bằng, hạnh phúc và tự do...Phùng Quán cũng như Phùng Cung có những bài thơ hiện thực của thân phận tù đày, của những văn nghệ sĩ bị rút phép thông công. Hoàng Cầm, Lê Đạt có những bài thơ tình và những bài thơ tù rất đặc sắc. Tiếp theo đó, ngọn lửa đấu tranh vẫn bốc cao với Bùi Ngọc Tấn, Nguyễn Văn Trấn, Nguyễn Mạnh Tường, Trần Đức Thảo.

IV.VĂN CHƯƠNG MIỀN NAM TỰ DO 

Ở một mặt khác, một nơi bình an, mặc dầu có nhiều ma quỷ ẩn tuyên truyền, phá hoại, giật mìn,phá cầu, ném bom và lưu đạn,, ta thấy có Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng, Nguyên Sa, Cung Trầm Tưởng, Nguyễn Tất Nhiên, Bùi Giáng với những bài thơ như tơ lụa vàng óng.Trong thời này Tạp Chí Sáng Tạo, Đại Học, Tư Tưởng, Phổ Thông, Bách khoa ... là tiêu biểu cho tự do tư tưởng dù chưa phải là



 tuyệt đich.Thời này nổi bật nhất về tiểu thuyết là Doãn Quốc Sỹ, Mai Thảo, Võ Phiến,Nhã ca, Túy Hồng, Nguyễn Thị Thụy Vũ...

Ở đây, chúng ta chú ý đến những nhân vật xuất săc nhất, tiêu biểu nhất.

1  TRẦN TRỌNG KIM (1883 –  1953)

Trần Trọng Kim là một học giả giỏi nhất Việt Nam và là một người quốc gia chân chính. Các tác phẩm Việt Nam Sử Lược, Nho Giáo là hai công trình rất có giá trị. Hồi ký "Một Cơn gió Bụi" cũng là một tác phẩm có giá trị lịch sử, và các nhận định của ông rất đầy đủ tỏ ra ông không những có oc nghiên cứu sâu sắc mà còn có cái nhìn chính trị tinh tế. Tóm lược ta thấy   quyển này có những   điểm chính    như sau:

-Quân Tưởng Giới Thạch  muốn làm tiền cộng sản chứ chẳng giúp gì cho phe quốc gia(tr.34)
-Trong chính phủ liê hiệp, Việt Minh mạnh nhất, ã hội đảng và Dân chủ đảng là những đảng phụ thuộc của Việt Minh và không ó thế lực gì. Việt Nam Quốc Dân Ðảng và Việt Nam Cách Mệnh Ðồng Minh Hội tuy có thế ực là nhờ có quân đội Tàu bênh vực, nhưng  không có tính cách thống nhất và không có kỷ  luật chặt chẽ (tr.34)
- Việt cộng có   một siêu chính phủ   ở  đàng sau, gồm những ngừơi   sau:
Hà bá Cang, nhất danh là Quận Thọt, ngƣời Hưng  Yên Nguyễn LươngBằng, nhất danh
là Sao Ðỏ, ngƣời Hải Dương,    Bùi  Lâm, ngƣời Trung Bộ,Ðặng xuân Khu, người     làng Hành
Thiện, Nam Ðịnh,   Bùi công Trừng, ngƣời Quảng Bình, Trung bộ,  Pô   ngườiTrung Hoa
Tiêu Sung, nguòi Nhật (tr.36)
Ông nói rõ bản chất chủ nghĩa Marx và con người cộng sản mê muội , gian manh và tàn ác:
Cộng sản đảng, theo cách tổ chức và hành động của họ, là một thứ tôn giáo mới, giống
nhƣ các tôn giáo cũ cốt lấy sự mê tín mà tin, chứ không hoài nghi hay đi trệch ra ngoài. Song
các tôn giáo cũ nói có cõi trời, có thiên đƣờng là nơi cực lạc. Cộng sản giáo ngày nay thì hoàn
toàn duy vật, nghĩa là ngoài vật chất ra, không có sự tin tƣởng nào khác nữa, cho thiên đƣờng
không phải ở cõi trời mà chính ở cõi trần gian này. Ai tin theo đạo ấy là phải tin lý thuyết của
Các Mác và Lê Nin là tuyệt đối chân chính, đem áp dụng là đƣợc sung sƣớng đủ mọi đƣờng,
tức thực hiện đƣợc cảnh thiên đƣờng ở cõi đời. Còn về đƣờng tín ngƣỡng, thì đạo cộng sản là
đạo hoàn toàn duy vật, tất không ai thờ phụng thần thánh nào khác nữa, nhất thiết phải nghĩ
sùng bái những ngƣời nhƣ Các Mác, Lê Nin, Sử Ta Lin để thay những bậc thần thánh cũ đã bị
truất bỏ.
Ðã tin mê cái đạo ấy và đã coi lý thuyết ấy là chân lý tuyệt đối, thì ngoài cái lý thuyết
ấy ra, là tà giáo, là tả đạo. Ai không tin theo và phản đối những ngƣời đứng đầu đảng, tức là
những bậc giáo chủ, thì là ngƣời phản đạo, tất phải trừng trị rất nghiêm. Vì vậy mới có sự tàn
sát những ngƣời trong đảng cộng sản theo Trotsky, chủ Cộng Sản Ðệ Tứ Quốc Tế, là một chi
cộng sản phản đối Sử Ta Lin, chủ Cộng Sản Ðệ Tam Quốc Tế.
Vậy những tín đồ cộng sản phải là những ngƣời cuồng tín và chỉ biết có đời sống vật
chất mà thôi, ngoài ra không có gì nữa. Sống có một đời rồi hết, nên ai nấy chỉ lo làm cho
mình đƣợc mọi điều thắng lợi, sá chi những điều phúc họa thiện ác.
Về đƣờng thực tế, các đặc sắc của cộng sản là không nhận có luân thƣờng đạo lý,
không biết có nhân nghĩa đạo đức nhƣ ngƣời ta vẫn tin tƣởng. Ngƣời cộng sản cho cái điều đó
là hủ tục của xã hội phong kiến thời xƣa, đặt ra để lừa dối dân chúng, nên họ tìm cách xóa bỏ
hết. Ai tin chỗ ấy là ngƣời sáng suốt, là ngƣời giác ngộ, ai không tin là ngƣời mờ tối, là ngƣời
mê muội. Vì có tƣ tƣởng nhƣ thế, cho nên cha con, anh em, bè bạn không có tình nghĩa gì cả,
chỉ biết tôn trọng chủ nghĩa của cộng sản và phục tòng những ngƣời cầm quyền của đảng,
ngoại giả, giết hại lẫn nhau, lừa đảo nhau: Hễ ai làm những việc mà lợi cho đảng là ngƣời
giỏi, ngƣời tốt. Gia đình, xã hội, phong tục, chế độ cũ đều bỏ hết, bỏ đến tận cội rễ, để thành
lập xã hội mới. Cái xã hội mới ấy không tranh đấu cho quốc gia hay cho dân tộc. Dù có nói
tranh đấu cho quốc gia hay cho dân tộc nữa, cũng chỉ là cái phƣơng pháp dùng tạm thời trong
một cơ hội nào để cho đƣợc việc mà thôi, chứ mục đích cốt yếu là tranh đấu cho giai cấp vô
sản. Khi ở đâu sự tranh đấu cho giai cấp ấy đƣợc thắng lợi, thì cứ tranh đấu mãi để bảo vệ
quyền lợi của giai cấp ấy và xóa bỏ hết những cƣơng giới nƣớc nọ với nƣớc kia để thực hiện
một thế giới đại đồng, đặt dƣới quyền chỉ huy của giáo chủ cộng sản ở bên Nga. Vì vậy cho
nên bất kỳ nƣớc nào đã theo cộng sản là phải phục tùng mệnh lệnh bên Nga, còn nƣớc nào tuy
theo chế độ cộng sản, nhƣng còn muốn giữ tƣ tƣởng quốc gia nhƣ nƣớc Nam Phu Lạp Tƣ
(Yougoslavie) bên Ðông Âu là bị trục xuất ra ngoài Hội Nghị của các nƣớc cộng sản.
Cái phƣơng thuật của đảng cộng sản bên Nga không khéo chỗ ở ấy, tuy nói là bài trừ
đế quốc chủ nghĩa và tiêu diệt những chế đô độc tài áp chế đời xƣa, nhƣng lại áp dụng chế độ
độc tài áp chế hà khốc và tàn ác hơn thời xƣa, và gây ra một thứ đế quốc chủ nghĩa theo một
danh hiệu khác, để tự mình thống trị hết thiên hạ. Thành ra các nƣớc đã theo cộng sản đều
phải là những nƣớc phụ thuộc nƣớc Nga, cũng nhƣ bên Tàu ngày xƣa các nƣớc chƣ hầu phải
phục tùng mệnh lệnh thiên tử. Thì ra trong thế gian này chẳng có gì là mới lạ. So chế độ cộng
sản ở nƣớc Nga ngày nay có khác gì chế độ nhà Tần thời chiến quốc bên Tàu. Có khác là ở
những phƣơng tiện theo khoa học và những mánh khóe hiện thời mà thôi, còn thì cũng tàn
bạo gian trá nhƣ thế, và cũng dùng những quyền mƣu quỉ quyệt để thống trị hết cả các nƣớc.
Ðảng cộng sản đã có cái tổ chức rất đúng khoa học, đảng viên lại giữ kỷ luật rất nghiêm, rất
chịu khó làm việc và có tín lực rất mạnh. Ai theo đảng là đắm đuối vào chủ nghĩa của đảng,
có lâm nguy nan gì thì cho là một vinh hạnh đƣợc tuẫn tử vì đảng. Về sự hành động thì đảng
cộng sản chuyên dùng những thủ đoạn quỉ quyệt, nên tuy có thắng lợi mà những ngƣời trí
thức ít ngƣời theo. Cũng vì vậy mà họ bài trừ trí thức và chỉ ƣa dùng đàn bà, trẻ con và những
ngƣời lao động là hạng ngƣời dễ khuyến dụ, dễ lừa dối.
Ngƣời cộng sản, khi đã hành động, hay dùng đến chữ giải phóng. Theo việc làm của
họ, tôi vẫn chƣa hiểu rõ nghĩa hai chữ ấy. Có phải trƣớc kia có cái cũi giam ngƣời, bây giờ họ
đem cái cũi kiểu mới đến bên cạnh rồi bảo ngƣời ta chạy sang cái cũi mới ấy, thế gọi là giải
phóng không ? Nếu cái nghĩa giải phóng là thế, thì cũi cũ hay cũi mới cũng vẫn là cái cũi, chứ
có hơn gì ?
Cứ nhƣ ý tôi, thì giải phóng phải theo đúng cái lẽ công bằng, làm cho ngƣời ta đƣợc
ung dung thƣ thái, đƣợc hành động trong một cái khuôn khổ rộng rãi, ai nấy biết trọng quyền
lợi của mọi ngƣời theo pháp luật đã định, không bị đàn áp và lừa dối, không bị bắt bớ và giết
hại một cách ám muội, oan ức.
Ðàng này tôi thấy chế độ các nƣớc cộng sản giống nhau nhƣ in cái chế độ chuyên chế
thuở xƣa. Ngƣời nào nói xấu hay công kích những ngƣời cầm quyền của đảng là phải tội bị
đày, bị giết. Ai không sốt sắng theo mình thì bị tình nghi, phải chịu mọi điều phiền khổ. Nhân
dân trong nƣớc vẫn bị đàn áp lầm than khổ sở, riêng có một số ít ngƣời có địa vị to lớn là
đƣợc sung sƣớng. Nhƣ thế thì giải phóng ở đâu ? Giải phóng gì mà cả chính thể một nƣớc
phải nƣơng cậy ở những đội trinh thám để đi rình mò và tố cáo hết thảy mọi ngƣời. Hễ ai vô ý
nói lỡ một câu là bị tình nghi có khi bị bắt, bị đày v.v...thành ra nhân dân trong xã hội ấy lúc
nào cũng nơm nớp lo sợ, không biết ai là bạn là thù, mất hẳn sinh thú ở đời, thật trái với lời
nói thiên đƣờng ở cõi trần.
Trong những lời tuyên truyền của Việt Minh, thấy luôn luôn nói nào là hạnh phúc, nào
là tự do, bình đẳng, mà sự thật thì trái ngƣợc tất cả. Những lối họ dùng là nói dối, đánh lừa
cƣớp bóc, giết hại tàn phá, không kiêng dè gì cả, miễn làm cho ngƣời ta mắc lừa hay sợ mà
theo mình là đƣợc. Xem nhƣ lúc đầu Việt Minh tuyên truyền rầm rĩ lên rằng: ‘’Nƣớc Việt
Nam đã đƣợc các nƣớc Ðồng Minh cho hoàn toàn độc lập, và dân đƣợc tha hết các thứ thuế’’.
Thôi thì chỗ dân gian nghe nói thế chạy ùa ùa theo. Sau chẳng thấy độc lập đâu cả và dân lại
phải đóng góp nặng hơn trƣớc. Khi Việt Minh đã nắm quyền binh rồi, lại định các ngạch thuế,
có ngƣời hỏi họ: ‘’Sao trƣớc kia các ông bảo tha hết các thứ thuế rồi kia mà ?’’ Họ trả lời:
‘’Ấy trƣớc nói tha thuế, nhƣng bây giờ chính phủ cần có thuế để làm mọi việc’’. Nói thế thì
uy tín của chính phủ để đâu ?
Cái thủ đoạn của Việt Minh là dùng mọi cách bạo ngƣợc, tàn nhẫn, giả dối, lừa đảo để
cho đƣợc việc trong một lúc. Ngay nhƣ họ đối với Việt Nam Quốc Dân Đảng nay nói là đoàn
kết, mai nói đoàn kết, nhƣng họ vẫn đánh úp, vẫn bao vây cho tuyệt lƣơng thực. Khi họ đánh
đƣợc thì giết phá, đánh không đƣợc thì lại đoàn kết, rồi cách ngày lại đánh phá. Dân tình thấy
thế thật là ngao ngán chán nản, nhƣng chỉ ngấm ngầm trong bụng mà không dám nói ra. Nên
dân gian thƣờng có câu ‘’nói nhƣ Vẹm’’. Vẹm là do hai chữ Việt Minh viết tắt VM, đọc
nhanh mà thành ra.(tr.37-38)
So sánh với các yếu nhân chính trị quốc gia đương thời thì Trần Trọng Kim cao hơn Trần Văn Hương,  Phan Khắc Sửu, Phan Huy Quát, Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu, Trần Văn Tuyên, Nguyễn Ngọc Huy... một cái đầu! Còn nói về các nhà báo, triết gia, chính trị gia quốc gia  như   Hồ Hữu Tường, Đặng Văn Sung, Trần Tấn Quốc, Trần Chánh Thành   ...     không   ai  có được một góc kiến thức chính trị như ông và viết  rõ ràng và đầy đủ như ông!  Chính trị gia, văn gia như Hồ Hữu Tường tuyên bố ly khai cộng sản nhưng ông không nói vì sao, và đưa ra một nhận định về cộng sản. Toàn bộ công trình viết lách của ông nhạt nhẽo, vu vơ như đám lục bình nằm trên bờ sông cạn. Tệ hơn nữa, một số lãnh đạo lại âm thầm móc nối với Cộng sản!

  2. DOÃN QUỐC SỸ ,NGUYỄN MẠNH CÔN VÀ Ý THỨC HỆ


Trước 1954, dân Hòa Hảo căm thù Cộng sản nhưng  một số dân Nam tin Cộng sản. Đến 1954, dân Băc di cư vào Nam, dân Nam kỳ có người hỏi:Ngoài Bắc độc lập,tự do, các ông vào Nam làm gì? Đã thế, tại Sai gòn có hằng trăm ổ nhện Cộng sản như  là nhóm Chân    Trời Mới của Tam Ich,   Thiên

Giang  Thê Húc , Thiếu Sơn, Bách Việt, Hợp Phố...Có những kẻ hoạt động khác như Nguyễn Bính, Vũ Bằng, Vũ Anh Khanh, Vũ Hạnh...

 Khi nhóm Bắc di c ưvào Nam đã thổi lên một không khí mới. Nhóm này có Doãn Quốc Sĩ,  Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, Tô Thùy Yên, Nguyễn Mạnh Côn, Vũ Khắc Khoan, Nghiêm Xuân Hồng  và những người khác,  đã cho ra  đời tạp chí Sáng Tậo, Hiện Đại rất  mới mẻ, lôi cuốn thanh niên , sinh viên học sinh và trí thức.. . Doãn Quốc Sỹ đã trở thành nhân vật chính yếu trong bộ môn tiểu thuyết thời đó, một loại tiểu thuyết ý thức hệ.  Trong khi các thanh niên cùng trang lứa ở miền Bắc tham gia Nhân Văn Giai Phẩm, đốt sáng ngọn lửa đấu tranh dân chủ,  Doãn Quốc Sỹ vào Nam cũng  nâng cao ngọn lửa đấu tranh chống cộng sản. Những tác phẩm của Doãn Quốc Sĩ
Tác phẩm nổi tiếng nhất của ông là Khu Rừng Lau, một trường thiên tiểu thuyết gồm có: Ba Sinh Hương Lửa (1962), Người Đàn Bà Bên Kia Vĩ Tuyến (1964), Tình Yêu Thánh Hóa (1965), Những Ngả Sông (1966)...


Những tiểu thuyết của ông là chuyện thật của lịch sử Việt Nam, nói về CCRD, Cải tạo tư tưởng và những hành động phi nhân của cộng sản. Bên cạnh ông, Nguyễn Mạnh Côn, Võ Phiến đã xây dựng một chiến tuyến chống Cộng.  Những ngày tháng sau 1975, Doãn Quốc Sỹ  với Đi ! , 1982, Mình Lại Soi Mình, 1995); Người Vái Tứ Phương- 1995) và Nhã Ca với Hồi ký một người mất ngày tháng, Đường Tự Do Sài Gòn (2006).đã viết những  truyện ký độc đáo nói lên nỗi khổ của người dân khi Cộng sản chiếm miền Nam.



  
3.  XUÂN VŨ, KIM NHẬT, ĐƯỜNG MÒN HỒ CHÍ MINHVÀ CHIÊN KHU D

Trong khi nhân dân miền Nam sống trong tự do và hưởng một5 nền văn nghệ bình thường nhưng Xuân Vũ, Kim Nhật đã đem lại cho chúng ta những cái nhìn rõ ràng về đường mòn Hồ Chí Minh và chiến khu D của Cộng sản.

 V. VĂN CHƯƠNG HẢI NGOẠI


Ra đến hải ngoại, cả một trời sao văn nghệ. Những nhật ký tù đày và vượt biên của Hà Thúc Sinh, TrầnTri Vũ, Phan Lạc Phúc, Hiếu Đệ, Đặng Phùng Quân..., nhật ký chiến tranh của Phan Nhật Nam, Xuân Vũ, Phan Lạc Tiếp... là những vết thương ngàn năm còn chảy máu.
Ở nơi xa xôi, những tâm hồn cô đơn xa xứ vẫn hoài niệm một thiên đường đã mất .
Nỗi buồn ly hương đó được thể hiện dưới bút ký của Võ Phước Hiếu, Hồ Trường An, Nguyễn Văn Ba, Nguyễn Văn Sâm và thơ Thanh Nam, Trần Mộng Tú. ..Lúc này cũng có rất nhiều thi sĩ đã viết về vượt biên, tù đày như Mai Thảo, Hà Huyền Chi, Hoàng Phong Linh Thái Tú Hạp, Luân Hoán...Tất cả đã đóng góp công phu cho nền văn học hải ngoại.

Văn thi sĩ hải ngoại thì nhiều lắm. Chúng tôi xin nêu lên những nhân vật kiệt xuất.


1 NGUYỄN CHÍ THIỆN

Về thi ca, siêu việt nhất là Nguyễn Chí Thiện đã có những bài thơ như đục vào núi đá với những nét ngang tàng sắc sảo. Thơ Nguyễn Chí Thiện là tiếng thét căm thù và lời nguyền rũa:
Cụ Mác ơi, cụ là đồ chó đẻ
Thiên đường cụ hứa như thế kia a?

... (Chúng tôi sống, 1962)

Trong văn học Việt Nam, có ông và Phùng Quán là chửi thẳng vào Cộng sản bạo tàn:

Chính chúng nó
Phường cộng sản
Lái buôn binh lửa
Ôi ! Binh lửa triền miên
Tuổi trẻ gái - trai

Bị lôi đi - đi hết ... ( gãi đất)



2. TRẦN HỒNG CHÂU
  
Các nhà thơ hải ngoại  mang trong mình hành trang tù đầy và vượt biên. Trong đó, Trần Hồng Châu nổi bật nhất vì ông đã nói đến nỗi đau khổ của nhân dân Việt Nam. Các thi sĩ đương thời cũng có những bức tranh xã hội nhưng là những bức tranh nhỏ treo trong thư phòng hay phòng khách, còn thơ của Trần Hồng Châu là một bức tranh lớn treo ở đại điện, vẽ toàn  cảnh dân Việt Nam đau khổ sau 1975 là một điều it thi sĩ quan tâm . Ông nói đến  Saigon với những dân kinh tế mới trở về nằm ngổn ngang:
Ngã Sáu Sài gòn có những bộ lạc về từ rừng sâu tiền sử
Từ kinh tế mới âu sầu mất hướng
Trại lưu đày dựng bên bờ đại lộ quê hương
Bên kim tự tháp rác rưởi trầm ngâm
Lửa hờn căm đốt sôi lòng nồi nhỏ
Sưởi ấm ruột gan rét cóng giữa trưa hè
Bằng những hạt cơm trừu tượng
Bằng vài lời hứa. . . thiên đường trần gian. . .
(Nửa Khuya Giấy Trắng. Tháng 4.. . Mưa Ngâu dầm dề)

Ông cũng nói đến những bệnh viện quá tải:
Không riêng Sài gòn mà toàn thể đất nuớc Việt Nam đều đau khổ:

Nội ngoại khoa với hằng hà sa số bệnh hoạn
Đau buồn, lở lói
Trong, ngoài trần gian
Trước, sau, hiện tại
Những bệnh căn đè nặng thập tự giá trên
vai con người trôi dạt trong thung lũng
nước mắt không hề vơi
Khoa da liễu vẫn còn ghi nhiều vết sẹo rằn ri
Trên da thịt người dân và đất nước thảm thương
(Nửa Khuya Giấy Trắng .Nhà thương )


Nhất là phụ nữ Việt Nam nổi trôi trên biển cả và thị trường quốc tế:
nhưng dưới sâu
sâu nữa
vạn hồn thuyền nhân
sớm đi tối về
vẫn oan khiên
ngập tràn biển Đông!
……………………….
dưới sâu vẫn vô vàn cánh tay
dằn dặc
dây xích oan khiên
về lòng đất
ai đây tiếp dẫn
chúng sinh hồn trầm lạc?
……………………..
(Biển Oan Khiên - Trần Hồng Châu)
Ông đau xót nghĩ đến những phụ nữ đã nằm xuống biển sâu:
đoàn hải khấu
ác điểu đen
bỗng đổ sập xuống một trời bóng tối
nữ tu, thôi hết nữ đồng trinh
nghĩa phu thê, thôi lời vĩnh biệt
em gái nhỏ, thôi nhé
dẫm nát một búp hồng non!
 
(Biển Oan khiên)

Ông tố cáo cộng sản buôn người với danh nghĩa ‘’xuất cảng lao động’’:

Tin AFP rao truyền khắp năm châu bốn biển
‘’Trong năm năm gần đây 5000 (hay 50,000?) con gái Việt Nam đã được bán buôn dưới nhiều hình thức’’
Những người con gái từng thấy trong ca dao
Trong thơ Nguyễn Bính chân quê
Trong thơ Hàn Mặc Tử chị ấy năm nay còn gánh
thóc dọc bờ sông trắng nắng chang chang?
50 năm trước đây, thời thực dân mấy đời
bánh đúc có xương
Họ còn được là cô dâu trinh trắng nón quai thao về
nhà những chàng trai quan họ quần chùng
áo dài nguyên nếp tình quê
5000 ngưồi con gái Việt Nam ấy, hôm nay sau cơn mê sảng ý thức hệ,
mà họ không hề tạo nên,
đã là món hàng tươi sống xuất khẩu


1. Về những phường dạ lạc Hồng Kông
2. Về những xóm yên hoa Ma Cao
3. Về đảo quốc Đài Loan xả xui bằng chữ ngàn vàng
4. Về vùng Lưỡng Quảng chiều mưa biên giới em đi về đâu?
5. Về niềm tủi nhục ngửa nghiêng Vọng Các thủ đô
ổ nhện suốt sáng thâu đêm. . . .

( Hạnh Phúc Đến Từng Phút Giây. Mẹ Âu Cơ hôm nay khóc hay cười?)
 
3. CAO TẦN, NGUYỄN  TẤT NHIÊN VÀ DÒNG THƠ LƯU ĐẦY


Người di tản mang nỗi nhục  vong quốc và nỗi buồn lưu đày. Trong tất cả những thi sĩ hải ngoại mang tâm trạng lưu đày , Cao Tần có một dáng điệu của một ngưoừi cuồng điên ,tuyệt vọng nhưng vẫn ngạo nghễ cười. Thơ ông mang một lúc hai tính chất bi hài:

Mai mốt anh trở về
Mai mốt anh về có thằng túm hỏi
Mày qua bên Mỹ học được củ gì
Muốn biết tài nhau đưa ông cây chổi
Nói mày hay ông thượng đẳng cu li
Ông rửa bát chì hơn bà nội trợ
Ông quét nhà sạch hơn em bé ngoan
Ngày ngày phóng xe như thằng phải gió
Đêm về nằm vùi nước mắt chứa chan
Nghệ thuật nói bỗng hóa trò lao động
Thằng nào nói nhiều thằng ấy tay to
Tiếng mẹ thường chỉ dùng chửi đổng
Hay những đêm sầu tí toáy làm thơ
Ông học được Mỹ đất trời bát ngát
Nhưng tình người nhỏ hơn que tăm
Nhiều đứa hồn nhiên giống bầy trẻ nít
Còn hồn ông: già cốc cỡ nghìn năm
Bài học lớn từ khi đến Mỹ
Là ngày đêm thương nước mênh mang
Thù hận bọn làm nước ông nghèo xí
Hận gấp nghìn lần khi chúng đánh ông văng
Nếu mai mốt bỗng đổi đời phen nữa
Ông anh hùng ông cứu được quê hương
Ông sẽ mở ra nghìn lò cải tạo
Lùa cả nước vào học tập yêu thương
Cuộc chiến cũ sẽ coi là tiền kiếp
Phản động gì cũng chỉ sống trăm năm
Bồ bịch hết không đứa nào là ngụy
Thắng vinh quang mà bại cũng anh hùng
Tháng 3-77

Cách đây mấy thế kỷ cũng có Đặng Dung với bài Thuật hoài  và gần đây có Nguyễn Bá Trác với bài Hồ trường là cùng một niềm dau vong quốc.


Bên cạnh ông còn có Nguyễn Tất Nhiên đã đem đời trai trẻ của ông viết thành bài lưu vong tuyệt vọng đĩnh sầu:
Ông buồn khổ vì phải sống khốn đốn nơi quê người:



em thì xa quá xa
làm sao nghe tiếng dội dồn
hơi thở người
vỗ theo từng nấc thang cây xưa rích
Paris
ta mỗi bữa lếch thếch leo
mút bảy tầng
sống - tóc cọ quẹt nóc nhà
sống - nơi đặc biệt
nơi dành riêng cho hạng ở đợ.

(Paris, khúc tháng chín)



. Ông đã viết về ông và tiên tri số mệnh của ông:

kẻ vượt biển đã tới bến mạnh lànhnhưng chết ngay khi đặt chân lên bờ đất
kẻ leo rào đã chụp được tự do
nhưng tức thời buông tay bổ ngửa

là ta
( Paris, khúc tháng chín)


Cuối cùng có lẽ buồn về chuyện tình, Nguyễn Tất Nhiên đã tự tử tại California. Đó là chuyện buồn của một người vượt biển, kết thúc bắng cái chết mà năm 1971 ông đã viết:

thế nào rồi em cũng bỏ tôi
như những hoàng hôn bỏ mặt trời!
. . . . . . .. . .
thế nào tôi cũng giết tôi
xin hận thù em suốt quãng đời!
. . . . . . . . .
như loài thiêu thân mê lửa ngọn
buổi yêu em, tôi hăng hái lìa trần!. . .

(Như những hoàng hôn bỏ mặt trời)


4. NHỮNG THI SĨ TỪ NON CAO TRỞ VỀ

Trước 1975, thơ Cung Trầm Tưởng, Thanh Tâm Tuyền, đã có sắc thái riêng và được người đọc chú
Nhưng sau 1975, những người từ núi cao rừng sâu sau bao năm trau dồi, tu luyện, đã đạt đến đỉnh cao của nghệ thuật. Họ là những đạo sĩ đã thay da đổi thịt với nghệ thuật khác xưa.

Tô Thùy Yên là một gương mặt đau thương nhưng rạng rỡ nhất. Mười năm trong trại tù, Tô Thùy Yên  mới được thả về. Ông nói lên tâm trạng ông trên đường về:


Ta về một bóng trên đường lớn
Thơ chẳng ai đề vạt áo phai
Sao bỗng nghe đau mềm phế phủ
Mười năm đá cũng ngậm ngùi thay
. . . . . . . . . .
Ta về qua những truông cùng phá
Nếp trán nhăn đùa ngọn gió may
Ta ngẫn ngơ trông trời đất cũ
Nghe tàn cát bụi tháng năm ba
y.( Ta về)

Ông chấp nhận thực tại đắng cay của người thua thiệt:



Hề ta trở lại gian nhà cỏ
Sống tàn đời kẻ sĩ tàn mùa
Trên dốc thời gian hòn đá tuột
Lăn dài kinh động cả hư vô
. . . . . . . . .
Hề ta trở lại gian nhà cỏ
Tử tội mừng ơn lịch sử tha
Ba vách, ngọn đèn xanh, bóng lẻ
Ngày qua ngày cho hết đời ta.

(Hề ta trở lại gian nhà cỏ)

-Ta về như bóng ma hờn tủi
Lục lại thời gian kiếm chính mình
Ta nhặt mà thương từng phế liệu
Như từng hài cốt săp vô dan
h.. .( Ta về)


Thanh Tâm Tuyền có những bút pháp mới khác với thời Sáng Tạo


Ngày xuân trên Đồng Mua

Tặng ND

Ô chào cô bé áo hồng
Chào cô buổi sáng đầu năm
Trên cánh đồng nhàm mắt ngày tháng
Đang lay thức rừng núi biên giới
. . . . . . . . . .
Cô đẹp tựa lời thơ cổ
Mặc áo xuân đuổi trâu cười hồn nhiên
Chào tạm biệt cô gái áo hồng
Cũng chào con trâu trắng thong dong
Ngày vơi nhẹ thênh trăng mọc sớm
Ngỡ nhạn lai hồng lạc cuối thôn
Trở về trại ngang qua vườn cam
Hoa rộ trắng thơm lừng đồng nội
Vẫn chập chờn sắc hồng trôi nổi
Ngọt ngào hương quyến luyến chiều tàn.


VI. VĂN CHƯƠNG GIÁC NGỘ

Cuối cùng, ta nhìn  về quốc nội. Hiện nay phong trào chống cộng ngày càng lớn mạnh. Mũi nhọn cách mạng này khởi từ Nhân Văn Giai Phẩm với Nguyễn Hữu Đang, Phan Khôi, Trần Dần, Hoàng Cầm, Lê Đạt...Sau khi Đông Âu và Lieên Xô sụp đổ, thành trì cộng sản tại Trung Quoốc và Việt Nam cũng lung lay tận gốc khiến cho chúng đã từ bỏ Marx, Mao chỉ giữ lại
 quyền lực độc tài để cai trị nhân dân bằng bàn tay sắt. Từ đó 
bổng nổi lên một phong trào giác ngộ cách mạng rộng lớn. 

 
 Những Chế Lan Viên, Nguyễn Khải, Tô Vũ, Trần Đĩnh đã quay lưng với cờ búa liềm. Mãnh liệt hơn nữa, Trần Độ, Nguyễn Kiến Giang, Trần Xuân Bách đã lên tiếng phủ nhận Marx và từ bỏ đảng tich Cộng sản.

 Trong các ông cộng sản giác ngộ, quay về với nhân dân, ta thấy nổi bật nhất là Trần Đĩnh và Trần

Đức Thảo. Cái danh từ chống đế quốc và giải phóng của Mao là trò bịp để thúc đẩy Việt Nam hy sinh xương máu cho tham vọng bành trướng vể phương Nam của Mao Trạch Động. Ông lý luận rằng nếu chống đế quốc, và giải phóng quốc gia, dân tộc  sao ông không chống Mỹ giải phóng Đài Loan, HồngKong và Mao Cao mà lại xui trẻ Việt Nam ăn cứt gà?
 Trần Đĩnh đã cho ta thấy cận cảnh một lũ cộng sản dâm ô ở An toàn khu. Ông là người thứ nhất vạch rõ âm mưu của Mao gây chiến tranh để thủ lợi. Trong Đèn Cù, ông luôn nhắc đi nhắc lại câu nói của Mao:  “Thiên hạ đại loạn Trung Quốc được nhờ"  .
Triết gia Trần Đức Thảo cuối cùng cũng đã làm được một việc có ý nghĩa khi tâm sự với  Tri Vũ.
-Ông đã giải mã con  hồ ly chín đuôi Hồ Chí Minh.Ông nêu lên khuyết điểm và và cũng là sự dối trá của Hồ Chí Minh:
- Hồ Chí Minh phạm những sai lầm trầm trọng.
Đó là chọn chủ nghĩa xã hội của Marx để xây dựng chế độ, chọn chiến tranh xoá hiệp định hoà bình để bành trướng xã hội chủ nghĩa và thống nhất đất nước, chọn Mao và đảng cộng sản Trung Quốc làm đồng minh, đồng chí… (Ch.XII)

-Những mánh khoé gian manh của Hồ Chí Minh:
Chỉ vì muốn tự tạo ra huyền thoại của một lãnh tụ thần thánh, nên ”ông cụ” đã bị tai tiếng; vì đã phạm ba tội: một là mạo nhận minh là bậc chân nhân chỉ biết nói thật và làm thật, điều này không một nhà chính trị nào có thể giữ được. Hai là “ông cụ” đã tự coi minh là một thứ quân tử của thời phong kiến, chứ không phải là một chiến sĩ cách mạng vô sản thời hiện đại! Ba là muốn đội lôt một thánh nhận để nêu gương sống thanh cao khắc khổ như tu hành, đã biết hi sinh hạnh phúc gia đình! Những sự thận thánh hoá giả tạo đó là do tâm thức vẫn mang nặng ảnh hưởng của thời phong kiến, nó vừa lạc hậu, vừa dối trá. (Ch.XIII)

 -Hồ Chí Minh là một kịch sĩ :
Ông là một kịch sĩ đại tài, chuyên đóng vai bình dân giản dị với đôi dép râu và cái áo blouson khoác hờ. Đó là công phu luyện tập và diễn xuất của gánh hát Trung Hải chứ không phải là cẩu thả đâu. Trần Đức Thảo viết:
" Phải biết rằng huyền thoại và vóc dáng lãnh tụ của bác Hồ là tác phẩm của một công trình nghệ thuật hóa trang cao độ, một công trình điểm tô, giàn dựng, để công kênh ông cụ lên thành một nhà lãnh đạo uy nghi, kiệt xuất, như là bậc thần, bậc thánh, để dân chúng một lòng tin tưởng mà sùng bái. Ông cụ được tôn vinh làm bác, làm cha dân tộc. Họ dạy cho dân tiêu chuẩn lý tưởng : cái gì có giá trị thì cũng phải là của bác Hồ, của cụ Hồ. Nào là « cháu ngoan bác Hồ », « cây vú sữa bác Hồ », « nhà sàn bác Hồ », cho tới « anh bộ đội cụ Hồ ». Từ đó đã biến thể ra thành cái nếp suy nghĩ rằng cái gì hay, cái gì tốt, cái gì có giá trị, thì cái đó phải là của bác, của đảng.[...].
Khi muốn nghiên cứu kỹ về “cụ Hồ”, cũng phải tìm hiểu tất cả những công việc bố trí của “guồng máy” bao trùm, liên quan tới một sinh hoạt đời sống công và tư, tuỳ thuộc tính tình, tuỳ cách xử sự trong gia đình… tới cả các biện pháp tổ chức phục vụ, bảo vệ “bác Hồ”. Phải thấy cách dàn dựng lên những giai thoại, tạo ra những khung cảnh huyền bí chung quanh ”bác Hồ”. Phải hít thở không khí tôn sùng, thờ kính, phục tùng lãnh tụ như thế, thì mới có thể tương đối hiểu phần nào cung cách hoạt động, ý hướng chính sách, giá trị của những chọn lựa của lãnh tụ. Tất cả phải là tạo cho quần chúng một niềm tin tuyệt đối vào lãnh tụ. Từ những quyết định lớn tới những việc nhỏ nhặt, tất cả đều mang dấu ấn nhũng phương pháp tâm lý tinh vi tôn sùng lãnh tụ. Chính vì sự sùng bái tuyệt đối này mà đã đưa tới những đánh giá không ăn khớp với thực tại đầy tiêu cực và tích cực của lịch sử. Vì khi khen quá, hay chê quá, thì phải chối bỏ cái phần tiêu cực, hoặc tích cực. Sự chối bỏ như thế thì không còn gì là sự thật lịch sử nữa, mà chỉ còn là… huyền thoại đã đượt thêu dệt theo hướng sùng bái. Dĩ nhiên khi đã thêu dệt huyền thoại thì không còn giá trị khoa học của nghiên cứu nữa. Lịch sử luôn luôn chứa đựng cả cái tốt lẫn cái xấu. Nói chỉ có tốt thôi, hoặc chỉ có xấu thôi thì không được. Mà khi muốn cân nhắc tỉ lệ tốt xấu, tức là phải xét vấn đề công, tội. Việc làm này dễ gây căng thẳng bi thảm. Vì dễ sa vào thái độ cực đoan! Cực đoan và sự thật không bao giờ đi đôi được với nhau.
- Cứ theo thực tại mà xét, thì “ông cụ” là một con người cực kỳ vị kỷ, mang mặc cảm tự tôn tuyệt đối. Từ cách mang đôi dép râu bình dân, từ cách để hở ra cái áo lót nâu đon sơ, thủng vài lỗ bên trong, tưd cách không cài hết khuy áo sơ-mi, tới cách khoác hở cái tấm nhựa bên ngoài, đó là những cách thức phô diễn đá được chọn lựa, cân nhắc rất kỹ. Những chi tiết ấy tạo ra một thứ vương bào siêu vật chất, đầy hào quang của cách mạng vô sản! Vương miện của “Người” chính là chiếc mũ “cát” vải có vẻ tầm thường, nghèo nàn. Nhưng nó biểu hiện tính khỉnh mạt, bất chấp thời trang quyền quý, quan cách, như thách thức cái lối ăn mặc sang trọng, hiện đại theo kiểu Tây phương. Phong cách ăn mặc như thế là sự phỉ báng những thứ áo gấm, áo thụng kiểu phong kiến. Lối ăn mặc cố ý tạo vẻ “bình dân” trong đám người chính trị, hoặc giữa dân chúng như vậy là một cách tự tôn rất cao siêu! Từ cách cầm điếu thuốc cháy dở, cách mỉm cười lạnh lùng, khinh bạc, cách nhìn thẳng vào mặt đối tượng như một thách thức, cách hỏi han đám đông kiểu bề trên chăm sóc bề dưới.,.. Tất cả những dáng điệu, cử chỉ trong mỗi tấm hình, trong từng bối cảnh, trong từng trường hợp… đều có cùng một mục đích: luôn luôn chứng tỏ vị thế thượng đỉnh của một vị lãnh tụ tối cao sáng ngời, phi thường! Tất cả chi tiết ngoại cảnh đều là những nét chấm phá đã được gạn lọc, đã được nghiên cứu, dàn dựng tỉ mỉ từ trước, để hình ảnh “Người” không bị chìm lẫn trong đám nhân loại tầm thường chung quanh! Đấy là vóc dáng của một thần tượng vượt trội, đứng trên một bệ đá uy quyền tột đỉnh trong lịch sử! “Người” không để hé lộ một một kẽ hở nào, để có thể bị coi thường một cách nhầm lẫn, không để một mưu toan tìm tòi khám phá nào có thể thẩm thấu vào những suy tư, vào những hậu ý, vào tư tưởng của “Người”! (Ch.XII)

Để đóng nắp quan tài Marx, Trần Đức Thảo viết:
Chính Marx là thủ phạm đã gây ra mọi sai lầm và tội ác! [....].Thủ phạm, kẻ gợi ý, kẻ chuyển lửa của niềm tin đấu tranh giai cấp cho các nhà lãnh đạo, trong: đó có cả Poi Pot, để đi vào con đường cuồng tín đến đẫm máu ấy chính là Marx! Lời tiên tri sẽ “xoá bỏ giai cấp” của Marx đã mê hoặc nhiều thế hệ. Và họ đã lao mình vào tội ác! Tại những nước đã có chính quyền vô sản triệt để “của giai cấp công nông” (Sự thực là của “đảng” cầm quyền, của nhà nước do đảng cộng sản nắm giữ), chính giai cấp công nông trung thực, tại các chế độ ấy đã bị bóc lột và đàn áp một cách vô tội vạ! Vì đã không còn được ai bảo vệ, nên giai cấp công nông đã ngậm ngùi, nguyền rủa Marx, coi Marx là một nhà tiên tri khốn nạn, đã lừa đảo, lấy cái khát vọng thế giới đại đồng không có bóc lột làm bả lừa dối công nông! (Ch.XIV)

Bên cạnh những cuộc biểu tình đòi nhà đất của dân oan , chống Trung Cộng xâm lược và phản đối Formosa, ta thấy rạng ngời ngôi sao  mới lên của tuổi trẻ. Họ là những văn nghệ sĩ, những trí thưc cho nên ngôn ngữ của họ hiền lành không sắt máu kiểu Tố Hữu. Họ là những triết gia đã nêu lên những thắc mắc, những vấn nạn lớn cho chúng ta và quân thù.  Cô giáo Trần Thị Lam  đã đạt câu hỏi:



Đất nước mình ngộ quá phải không anh
Bốn ngàn tuổi mà dân không chịu lớn
Bốn ngàn tuổi mà vẫn còn bú mớm
Trước những bất công vẫn không biết kêu đòi…
Đất nước mình lạ quá phải không anh
Những chiếc bánh chưng vô cùng kì vĩ
Những dự án và tượng đài nghìn tỉ
Sinh mạng con người chỉ như cái móng tay
(Đất nước mình ngộ quá phải không anh)

 Đồng hành với cô Trần Thị Lam và nhân dân Việt Nam, nhạc sĩ trẻ Việt Khang cũng đặt hai câu hỏi:"Anh là ai" và "Việt Nam Tôi Đâu" [?

Nhân tài nước ta rất  đông đảo. Từ đầu thế kỷ XX cho đến này, chúng ta đã có một kho tàng văn học, nghệ thuật phong phú. Tất cả những tác giả  trọng  chính nghĩa, yêu đất nước đã lên tiếng chống bọn phản quốc hại dân. Tinh thần cách mạng chống độc tài cộng sản nay ngày càng cao độ, sẽ dẫn đến một cuộc cách mạng tư do, dân chủ cho Việt Nam.
 

No comments: