Saturday, April 8, 2017

NGUYỄN MINH VĂN * CHỦ NGHĨA MARX

 

15 Tháng 3 2006 - Cập nhật 19h39 GMT
Độc giả Nguyễn Minh Văn
Viết từ Los Angeles

Vài suy nghĩ về chủ nghĩa Marx

Gần đây, trên các diễn đàn tiếng Việt như BBC Việt Ngữ hay talawas.org, tôi được theo dõi vài cuộc tranh luận có chiều sâu xoay quanh chủ nghĩa Marx. 

Các cuộc tranh luận này thường được khởi đầu bởi những bài phân tích khá sâu sắc, có nội dung bênh vực chủ nghĩa Marx.
Vài điển hình mà tôi chú ý là bài trên trang web BBC Việt Ngữ của bạn Nguyễn Trung Thành(Việt Nam) và bài của Đông La(Việt Nam) trên trang web talawas.org. Trong bài viết này, tôi xin được đóng góp một số ý kiến của mình về đề tài trên.
Theo sự hiểu biết của tôi, chủ nghĩa Marx là một lý thuyết giải thích sự tiến hóa của xã hội loài người. Trong lịch sử, các lý thuyết nhằm lý giải những hiện tượng của vũ trụ, của xã hội thường chọn một trong hai con đường:
1) Con đường tín điều: người ta chỉ có thể chọn "tin" hay "không tin" lý thuyết đó. Nếu chọn "tin" thì lý thuyết đó được xem là đúng, không cần được chứng minh, thay đổi, hoàn thiện gì nữa cả.
2) Con đường khoa học: tác giả đưa ra lý thuyết dựa trên một số quan sát tiên khởi. Lý thuyết được xem là một giả thuyết và cần được liên tục bổ túc, thay đổi để hoàn thiện, hoặc có thể bị đánh đổ, dựa trên những khám phá mới, dữ kiện mới tìm ra.
Karl Marx chọn con đường khoa học cho lý thuyết của mình. Trên con đường khoa học, việc một nhà tư tưởng đưa ra lý thuyết nguyên thủy có thiếu sót, có "lổ hổng" vẫn là chuyện có thể chấp nhận được. Nếu không có người dám đột phá tư duy, dám đặt các giả thuyết thì nhân loại sẽ không bao giờ tiến bộ được. Tuy nhiên, điều quan trọng là lý thuyết đó phải luôn được rà xét, được bổ túc, hay bị bác bỏ dựa theo những thông tin, dữ kiện mới.
Thế nhưng trên thực tế, sau khi Karl Marx qua đời, lý thuyết của Marx trong Thế Kỷ 20 đã ngã qua con đường tín điều. Một số đệ tử đã chọn "tin" vào lý thuyết Marx như một sự thật hiển nhiên, không cần được xem xét, bổ túc gì nữa cả. Trong hàng ngũ các "tín hữu" của lý thuyết Marx, các "nhà tư tưởng" như Lenin, Trotsky, Stalin, Mao chỉ đóng góp thêm các phương thức vận dụng hầu "hiện thực hóa" ước mơ của Marx về xã hội Cộng Sản trong tương lai, chứ không ai dám nhận là mình đang rà xét lại hay bổ túc cho lý thuyết Marx cả.


Trở lại phần nhân loại đã chọn bác bỏ lý thuyết Marx, tại sao họ lại chọn bác bỏ mà không bổ túc? Theo thiển ý của tôi, ngoại trừ những ai chọn bác bỏ lý thuyết Marx vì trái với đức tin tôn giáo của họ, một phần khác chọn bác bỏ có lẽ vì 2 lý do:
1) Lý thuyết của Marx cũng giống như "thầy bói mù xem voi". Có thầy bói mù đi xem voi, sờ nhằm chân voi, bèn phán chắc nịch rằng con voi giống cái cột nhà. Ông thầy bói mù cũng có phần đúng, nhưng rõ là không thể dùng lời của ông ta để định nghĩa cả con voi được.
2) Một lý thuyết có thể bổ túc được khi nó là lý thuyết "mở"(open-ended), qua đó tác giả chỉ đưa ra những nhận xét đầu tiên và để cho những người đi sau tiếp tục hoàn thiện nó. Xin đưa vài ví dụ như thuyết Tiến Hóa(Evolution) của Darwin hay thuyết Vũ Trụ Bùng Nổ (Big Bang) là các lý thuyết "mở." Đến ngày nay, các nhà khoa học vẫn còn tiếp tục bổ túc, chấn chỉnh hai lý thuyết trên. Lý thuyết của Marx dùng luận điệu khẳng định bao trùm lên toàn bộ xã! hội con người từ thời ăn lông ở lỗ cho đến tận cùng của tương lai. Nếu như có ai muốn bổ túc cho lý thuyết của Marx thì kết quả là sẽ làm cho nó không còn là chủ nghĩa Marx nữa. Khi không phải là lý thuyết "mở" thì lý thuyết Marx chỉ có thể hoặc là được sử dụng "như thế" hoặc bị bác bỏ chớ khó lòng mà thay đổi, bổ túc.
Phân tích
Trở lại hình ảnh "thầy bói mù xem voi", tôi xin đưa ra vài minh họa tiêu biểu trong lý luận của Marx:
a) Marx cho rằng mâu thuẫn giai cấp là động lực chính thúc đẩy sự tiến hóa của xã hội loài người.
Thực tế thì thế nào? Theo tôi, mâu thuẫn giai cấp chỉ là một trong nhiều động lực chứ không phải là động lực chính. Bên cạnh mâu thuẫn giai cấp còn có mâu thuẫn địa dư, chủng tộc, mâu thuẫn quyền lợi trong cùng một giai cấp, mâu thuẫn đức tin, văn hóa, v.v... đều là các động lực quan trọng thúc đẩy xã hội tiến hóa. Tuy nhiên, còn có một động lực khác vô cùng quan trọng. Đó là sự biến đổi liên tục và tương tác của lực cung và lực cầu trong xã hội. Sự biến đổi đó có khi do con người tạo ra nhưng cũng có khi nằm ngoài sự kiểm soát của con người. 

Nhìn lại quá trình chuyển biến từ xã hội phong kiến nông nghiệp sang xã hội tư bản công nghiệp, tôi thấy là mâu thuẫn giai cấp giữa địa chủ và nông dân không thể nào đẻ ra một xã hội tư bản công nghiệp được.
Địa chủ bóc lột nông dân, nông dân nổi lên đánh đổ địa chủ, sau đó nông dân sẽ trở thành tầng lớp địa chủ và phong kiến mới, chứ không thể nào tạo ra chế độ tư bản công nghiệp. Vậy thì cái gì tạo ra xã hội tư bản công nghiệp? Chính lực cầu trong thực tế xã hội đã thu hút một số nông dân chuyển qua làm thợ thủ công hay nhà buôn vì làm công việc đó hợp với họ hơn, hoặc có lợi hơn cho họ. 

Cũng từ nhu cầu thực tế trong ngành nghề thúc đẩy, một số thợ thủ công và nhà buôn phải phát minh ra công cụ mới, kỹ thuật mới, phương thức mới, làm thay đổi khả năng cung cấp sản phẩm và lại tạo ra những nhu cầu mới. Đồng thời, sự gia tăng dân số làm cho có thêm lao động rời bỏ nông nghiệp(vì sức cung của ruộng đất chỉ có giới hạn) chuyển sang công thương nghiệp. Sự tiến bộ của kỹ thuật càng tạo ra thêm nhiều nhu cầu từ lĩnh vực công thương nghiệp, trong khi giảm bớt nhu cầu lao động trong nông nghiệp. Giới chủ nhân công thương nghiệp trở nên đông đảo hơn, giàu có hơn giới địa chủ và dĩ nhiên là sẽ muốn có ảnh hưởng chính trị để bảo đảm quyền lợi cho mình.
Chính sự biến thiên của cung và cầu đã tạo ra một xã hội tư bản công nghiệp từ trong lòng xã hội phong kiến nông nghiệp, chứ không phải là đấu tranh giai cấp. Thiết nghĩ, nếu dùng luật Âm Dương của Đông phương để giải thích sự tiến hóa của xã hội thì có lẽ thích hợp hơn là dùng phép biện chứng của Hegel. Lực cung và lực cầu tức là lực Dương và lực Âm, tương khắc tương sinh, cùng nhau hỗ tương, liên hoàn biến hóa 'f0ể làm thay đổi bộ mặt xã hội. 

b) Marx cho rằng tư sản là "bóc lột" vì họ cướp đoạt "giá trị thặng dư" từ sản phẩm do người lao động làm ra.
Theo Marx, ví dụ như người công nhân làm ra món hàng trị giá $10 thì chủ nhân tư sản chỉ trả công $4 cho công nhân và giữ $6 "giá trị thặng dư" kia làm "của bóc lột" cho mình. Quan niệm này của Marx tuy có vẻ hợp lý nhưng thật ra cũng lại giống như "thầy bói mù xem voi."
Marx đã quên đi không tính "giá trị" của việc doanh nhân phải chấp nhận rủi ro bị mất tài sản nếu thua lỗ, giá trị từng thời của số vốn được bỏ ra đầu tư, giá trị của công việc quản lý và lãnh đạo, giá trị của "tài" hoạch định chiến lược, giá trị của sức sáng tạo để cạnh tranh, giá trị của những hi sinh đời sống cá nhân, những "mất ăn mất ngũ" khi doanh nghiệp gặp vấn đề. Không có các giá trị đó, doanh nghiệp không thể tồn tại được. Lúc đó thì người công nhân dù cho có muốn bị "bóc lột giá trị thặng dư" cũng không có công ăn việc làm để mà bị "bóc lột."
Thực tế trong thế kỷ qua đã minh chứng là các công ty không do doanh nhân lãnh đạo hầu hết đều thua lỗ, các nền kinh tế không có doanh nghiệp tư nhân đều trì trệ. Cách Marx định giá trị chẳng khác nào như việc muốn qui công lao của một bậc cha mẹ ra thành tiền mặt. Các chủ doanh nghiệp có thể nói cũng gần như là cha mẹ của doanh nghiệp vậy.


Bỏ qua một bên định nghĩa về "bóc lột" của Marx, trên thế giới hiện nay chúng ta vẫn còn thấy nhan nhãn những hiện tượng bóc lột trắng trợn mà đứa con nít cũng nhận ra, chứ chẳng cần gì phải hiểu lý luận "giá trị thặng dư" của Marx. Tôi có thể đưa vài ví dụ như:
- Doanh nghiệp độc quyền(monopoly) chèn ép cả người tiêu thụ, người cung cấp vật liệu gốc, người gia công, lẫn nhân viên.
- Chủ nhân lợi dụng hoàn cảnh của người làm công(như tình trạng cư trú bất hợp pháp, tình trạng giới hạn ngôn ngữ hay trình độ, tình trạng địa phương nghèo nàn ít cơ hội, tình trạng đi làm lậu, v.v...) để trả lương rẻ mạt hay bắt làm việc với điều kiện tồi tệ.
- Dùng thế lực(kể cả thế lực xã hội đen) để cưỡng bức làm việc với điều kiện tồi tệ, làm việc bất hợp pháp, hay để cho vay ăn lời cắt cổ.
- Dùng thế lực để buộc người dân phải hối lộ khi họ cần một việc gì.
Chỉ cần giải quyết các trường hợp bóc lột rõ ràng như trên là cũng đã làm cho thế giới hạnh phúc hơn rất nhiều rồi chứ chẳng cần phải lý luận gì dài dòng về "bóc lột giá trị thặng dư." 

c) Marx cho rằng chính quyền là công cụ của giai cấp thống trị.
Theo Marx, trong chế độ tư bản chủ nghĩa, chính quyền phục vụ giai cấp tư sản bằng cách bảo vệ hình thức "bóc lột giá trị thặng dư." Một chính quyền của giai cấp công nhân là chính quyền sẽ chấm dứt hình thức "bóc lột giá trị thặng dư" và chuyển giá trị thặng dư thành phúc lợi xã hội. Nói cách khác, chính quyền của giai cấp công nhân phải là chính quyền dần dần xóa bỏ hình thức doanh nghiệp tư nhân để chỉ còn hình thức doanh nghiệp toàn dân.


Thế nhưng, như đã bàn ở phần trên và thực tế cũng đã cho thấy, một nền kinh tế không có doanh nghiệp tư nhân sẽ là một nền kinh tế trì trệ, nghèo đói, thiếu thốn. Trong nền kinh tế đó, giai cấp công nhân thậm chí còn đói rách hơn là khi bị "bóc lột giá trị thặng dư." Dĩ nhiên là giai cấp công nhân sẽ muốn quay trở lại nền kinh tế doanh nghiệp tư nhân để được no ấm hơn. Như vậy một chính quyền chấp nhận kinh tế thị trường tự ? do với các doanh nghiệp tư nhân đã làm theo ý muốn, quyền lợi của cả hai phía, doanh nhân lẫn công nhân. Vậy thì chính quyền đó là chính quyền của giai cấp nào?
Có người nói rằng các chính quyền "dân chủ tư sản" như ở Âu Mỹ thực chất chỉ là chính quyền của giai cấp tư sản vì chỉ những giới có nhiều tiền (tức giới chiếm hữu tư bản) mới có khả năng đóng góp để vận động tranh cử hay vận động hành lang. 


Điều này có thể đúng ở các nước dân chủ sơ khai, khi đại chúng còn bỡ ngỡ chưa biết cách hay chưa có kinh nghiệm tự tổ chức thành phong trào. Còn như trong các nền dân chủ Mỹ, Anh, Pháp, v.v... thì các công đoàn, nghiệp đoàn, các hội đoàn quần chúng với "yêu sách đặc biệt"(special interest), các phong trào chính trị, các giáo hội, v.v... đều có túi tiền đáng nể do thành viên đóng góp.
Túi tiền vận động của họ thừa sức để cân bằng quyền lực với túi tiền vận động của các nhà tư bản. Đó là chưa kể trên nhiều mặt trận, một số nhà tư bản lại có cùng quyền lợi, cùng nguyện vọng với một bộ phận của quần chúng lao động. Bên cạnh đó, tiền vận động không phải là tất cả, vì các đoàn thể quần chúng vẫn có thể bỏ sức người ra để vận động, hoặc dùng truyền thông đại chúng để lôi kéo số đông bỏ phiếu theo nguyện vọng của mình. 

Chúng ta cũng thường thấy các chính quyền Mỹ, Anh, Pháp, Đức, v.v... thường có vẻ chú ý "chăm lo" cho các đại công ty tiêu biểu của quốc gia. Nhưng đó là vì quyền lợi chung của cả giới tư bản, của hàng triệu nhân viên đang làm việc với đồng lương ngon lành và đầy đủ bảo hiểm, của hàng triệu người dân đang đầu tư tiền hưu bổng, tiền dành dụm của họ trong các quỹ hỗ tương (mutual funds), lẫn hàng triệu người sống trong các ngành nghề, dịch vụ "ăn theo" các đại công ty.
Như vậy chính quyền trong các nền dân chủ Mỹ, Anh, Pháp, v.v... không phải là công cụ của một giai cấp mà thực chất chỉ là một cái "phòng họp". Chính quyền là chỗ để các phe phái khác nhau đến bàn bạc, tranh luận, đấu trí, thương thảo hầu giải quyết vấn đề trong ôn hòa. Một phe phái A có thể đối đầu, mâu thuẫn với phe phái B trên một mặt trận nhưng ở mặt trận khác họ vẫn có thể có cùng quyền lợi, nguyện vọng và là đồng minh của nhau.
 http://www.bbc.com/vietnamese/forum/story/2006/03/printable/060313_minhvan_marx.shtml

No comments: