Saturday, March 4, 2017

SƠN TRUNG * TÍNH PHI LÝ CỦA CHỦ NGHĨA MARX



TÍNH  PHI LÝ CỦA CHỦ NGHĨA MARX
SƠN TRUNG

A. NHỮNG KHÁI NIỆM VỀ PHI LÝ
Ngoại trừ chủ nghĩa Marx, trong thế kỷ XIX và XX, chủ nghĩa hiện sinh  nổi bật nhất ở Âu Châu đặc biệt là Pháp. Những người này   có chung niềm tin rằng tư duy triết học xuất phát từ chủ thể con người — không chỉ là chủ thể tư duy, mà là cá thể sống, cảm xúc, và hoạt động. Trong chủ nghĩa hiện sinh,  điểm quan trọng nhất  là xem thế giới  đầy tính  vô nghĩaphi lý . 

I. TRIẾT LÝ PHI LÝ 

Danh từ "Chủ nghĩa hiện sinh" (Existentialism) được tạo ra bởi nhà triết học người Pháp Gabriel Marcel vào giữa năm 1940 và được sử dụng bởi Sartre trong bài thuyết trình của mình vào 29/11/1945 tại Paris. Bài thuyết trình sau đó được xuất bản thành cuốn sách ngắn mang tựa đề "L'existentialisme est un humanisme - Existentialism is a Humanism - Chủ nghĩa hiện sinh là chủ nghĩa nhân đạo". Cuốn sách này khiến tư tưởng hiện sinh trở nên nổi tiếng.
Các khái niệm về  Vô lý đã được nổi bật trong văn học trong suốt lịch sử. Nhiều người trong số các tác phẩm văn học của Søren Kierkegaard, Samuel Beckett, Franz Kafka, Fyodor Dostoyevsky, Eugène Ionesco, Miguel de Unamuno, Luigi Pirandello, Jean-Paul Sartre, Joseph Heller và Albert Camus chứa các mô tả về sự vô lý của thế giới và cuộc đời. 
Albert Camus ( 1913 -  1960) đã đóng góp vào sự gia tăng của triết học gọi là "Thuyết Phi lý "(Absurdism). Ông đã viết trong bài luận của mình  " Le Mythe de Sisyphe (Huyền thoại Sisyphe), rằng toàn bộ cuộc sống của mình đã được dành cho đối triết lý của chủ nghĩa hư vô trong khi vẫn đi sâu vào tự do cá nhân. L'Étranger (Người xa lạ),L'Homme révolté (Người nổi loạn, 1951) là  những tác phẩm noổi bật của phái Hiện sinh. Trong quyển tiểu luận triết học Người nổi loạn, ông đã trình bày tất cả các hình thức nổi loạn (siêu hình, chính trị và nghệ thuật...) qua mọi thời đại. Ông miêu tả con người cảm nhận sâu sắc sự phi lý của cuộc sống, luôn muốn nổi dậy, chống lại nỗi khốn khổ của kiếp người, nhưng cuối cùng vẫn không có lối thoát, mọi cố gắng đều hoàn toàn vô ích.
 Jean-Paul Sartre(1905-1980) với cuốn tiểu thuyết Buồn nôn (La Nausée- 1938)  là nền tảng hiện sinh"  của ông.Trong tác phẩm triết học Tồn tại và Hư vô (L'Être et le Néant, 1943), Sartre đưa ra mệnh đề nổi tiếng: “Tôi chỉ hiện hữu khi tôi sẽ không hiện hữu nữa”. Theo Sartre, con người luôn phải đối diện với cái chết, cũng như con người từ hư vô trở về hư vô nên cuộc đời con người như một đường hầm không lối thoát. Vì ý thức được điều đó cũng như nhận ra con người là hữu thể cô đơn nên “Lo âu là sự nắm bắt phản tính tự do bởi chính nó”. Con người lo âu vì phải mang trách nhiệm với bản thân. Cuộc tồn sinh là quá trình làm nên mình nên lo âu là bạn đồng hành của con người.

Và, khi lo âu kéo dài không có đường giải thoát thì con người rơi vào tuyệt vọng vì con đường trước mắt là hư vô. Tuy nhiên tuyệt vọng không phải là buông xuôi, khuất phục mà con người bắt buộc phải nhập cuộc. Hành trình làm người là một quá trình mâu thuẫn, đau khổ vì không có một thước đo, chuẩn mực để hướng tới. Chính vì con người bị (được) sinh ra để đi đến cõi chết và trong cuộc hành trình về với hư vô lại quá trĩu nặng trách nhiệm cũng như sợ hãi nên cuộc đời thật phi lý biết bao. Song, trong cái vòng bắt buộc của phận người ta có quyền lựa chọn để làm nên ta. Vậy, cuộc đời không phải là phận số mà là những lựa chọn, những lựa chọn giúp ta trở thành con người. Chỉ khi hiện sinh, đối mặt với mọi tình huống ta mới biết bản chất của mình. Tất cả những vấn đề Sartre đặt ra để làm sáng tỏ thân phận làm người, cụ thể là: Hữu thể là một thảm kịch, là phi lý, là hư vô; con người luôn cô đơn và cái chết luôn hiện diện. Nhưng con người biết bất chấp cái chết để nhập cuộc tự do làm nên lịch sử của mình bằng những dự phóng.
 Cùng với Jean-Paul Sartre, Albert Camus là đại diện tiêu biểu nhất của chủ nghĩa hiện sinh nhưng ông đã không xem xét mình là một hiện sinh.
Thomas Nagel (1937-) là một nhà triết học Mỹ nổi tiếng, tác giả của nhiều bài báo và sách, Giáo sư Triết học và Luật tại Đại học New York, nơi ông đã dạy từ năm 1980.Trong "Absurd" (1971) Nagel hỏi tại sao mọi người đôi khi cảm thấy rằng cuộc sống là vô lý.
 
 Søren Kierkegaard và Friedrich Nietzsche là hai trong số các nhà triết học đầu tiên được coi là nền tảng cho phong trào hiện sinh, mặc dù không sử dụng thuật ngữ "chủ nghĩa hiện sinh" . Họ tập trung vào con người kinh nghiệm chủ quan chứ không phải là sự thật khách quan của toán học và khoa học, mà họ tin rằng đã quá vô tư hoặc quan sát để thực sự có được những kinh nghiệm của con người. Giống như Pascal, họ quan tâm đến cuộc đấu tranh yên tĩnh của người dân với sự vô nghĩa rõ ràng của cuộc sống và việc sử dụng các dòng để thoát khỏi sự nhàm chán. Không giống như Pascal, Kierkegaard và Nietzsche cũng xem xét vai trò của việc tự do lựa chọn, đặc biệt là liên quan đến các giá trị cơ bản và niềm tin, và làm thế nào lựa chọn như thay đổi bản chất và bản sắc của người lựa chọn. 

II. VĂN CHƯƠNG  PHI LÝ
 
Trong những thập niên đầu của thế kỷ XX, ở phương Tây, đã xuất hiện một hiện tượng mới lạ trong sáng tác văn học và kéo dài cho đến cuối những năm 60: hiện tượng văn học phi lý, với những tên tuổi mà sau này đã trở nên nổi tiếng trong lịch sử văn học của toàn nhân loại như Fr. Kafka, Alb. Camus, Eug. Ionesco, S. Beckett, Fr. Dürrenmatt…, trong đó có hai người được nhận giải Nobel văn học là Camus (1957) và Beckett (1969), và Ionesco trở thành viện sĩ Viện Hàn lâm Pháp (1970). Hiện tượng văn học phi lý được thể hiện trong tiểu luận, truyện ngắn, tiểu thuyết và đặc biệt là trong sân khấu kịch nói. Cao trào của nó diễn ra vào khoảng giữa thế kỷ XX, với trung tâm là Paris, gây được một không khí sôi động trên văn đàn thế giới và đã tạo ra được một đội ngũ tín đồ rộng rãi.
Như trên đã trình bày, triết học Phi Lý đã xuất hiện với chủ nghĩa Hiện sinh. Thật ra khái  niệm về  phi lý đã xuất hiện từ thời cổ đại. Các nhà triết học Hy Lạp cổ đại như Zenon và Aristote đã áp dụng phương pháp nguỵ biện cho suy lý lôgic (tức là phương pháp lập luận dựa vào giả thiết phi lý). Nhìn chung, trên phương diện lôgic học thì người ta quan niệm rằng những gì tồn tại trái với các quy tắc lôgic đều bị coi là “phi lý”.
Tuy nhiên, khái niệm phi lý còn có một nghĩa thứ hai thuộc bình diện lý luận nhận thức. Nghĩa này mang tính chất khái quát hơn và nó vượt ra ngoài địa hạt của lôgic học khi nó cho rằng tất cả những gì chống lại năng lực nhận thức, chống lại lý trí, không thể lý giải được bằng tư duy, thì đều được coi là phi lý. Như vậy cái phi lý là cái phản lý tính. Đây là định nghĩa đã được nền triết học phương Tây hiện đại phát triển thành chủ nghĩa phi lý tính từ cuối thế kỷ XVIII và kéo dài suốt hơn một thế kỷ.

Cuối thế kỷ XVIII lại xuất hiện một thứ chủ nghĩa phi lý tính hiện đại (tiếng Pháp: “l’irrationalisme”) làm cơ sở triết học cho văn học phi lý và kéo dài cho đến tận thế kỷ XX. Georgy Lukács cho rằng chủ nghĩa này nảy sinh từ cuộc khủng hoảng kinh tế, xã hội, chính trị và tư tưởng cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX. Đặc điểm của chủ nghĩa phi lý tính là sự mất lòng tin vào khả năng tư duy, đi đến chỗ dùng ý chí thay cho lý trí (chủ nghĩa duy ý chí), dùng trực giác thay cho tư duy (chủ nghĩa trực giác, như chủ nghĩa trực giác của Bergson, của Croce). Một số người cho rằng cái phi lý tính là nguồn gốc của hoạt động lý tính, của tư duy, nhưng nó không được tư duy biết đến. Những người khác lại cho rằng chủ nghĩa phi lý tính xuất hiện khi lý trí tỏ ra bất lực trong việc thâm nhập vào bản chất sâu kín cuối cùng của sự việc.


Tại Việt Nam, tư tưởng Hiện sinh đồng hành với tư tưởng Lão Trang. Cao Bá Quát, Nguyễn Công Trứ là những nhà thơ hiện sinh trong những bài ca trù:
....Cuộc vuông tròn phó mặc khuôn thiêng,
Ai thành thị, ai vui miền lâm tẩu.
Gõ nhịp lấy, đọc câu "Tương tiến tửu":
"Quân bất kiến;
Hoàng Hà chi thuỷ thiên thượng lai,
Bôn lưu đáo hải bất phục hồi.
"

Làm chi cho mệt một đời!


III. SÂN KHẤU PHI LÝ


Sân khấu phi lý (Theatre of the Absurd -  Théâtre de l'absurde ) là một  sản phẩm kịch nghệ xuất hiện  sau Thế chiến II n được viết bởi một số nhà viết kịch chủ yếu của châu Âu vào cuối những năm 1950Họ lấy nguồn cảm hứng từ chủ nghĩa hiện sinh và bày tỏ những gì sẽ xảy ra khi sự tồn tại của con người không có ý nghĩa hay mục đích và vì vậy tất cả các thông tin liên lạc bị phá vỡ, trên thực tế cảnh báo khán giả của họ để theo đuổi điều ngược lại. xây dựng logic và lập luận cho cách nói phi lý và cuối cùng kết luận, sự im lặng của nó.Nhà phê bình Martin Esslin đặt ra thuật ngữ trong bài viết năm 1960 của ông "Nhà hát của Absurd."  Ông liên quan những vở kịch dựa trên một chủ đề rộng lớn của Absurd, tương tự như cách Albert Camus sử dụng thuật ngữ trong bài tiểu luận năm 1942 của mình, "The Myth của Sisyphus ".  Sự phi lý trong những vở kịch này có hình thức phản ứng của con người đến một thế giới dường như không có ý nghĩa, và / hoặc người đàn ông như một con rối được điều khiển hoặc đe dọa bởi các lực lượng vô hình bên ngoài.  

Phong cách này của văn bản lần đầu tiên được phổ biến bởi năm 1952 Samuel Beckett   tron vở kịch   "Chờ đợi Godot (, Waiting for Godot ) . Mặc dù thuật ngữ này được áp dụng cho một loạt các vở kịch, một số đặc điểm trùng khớp trong nhiều vở kịch: Bi kịch trộn với hình ảnh khủng khiếp hoặc bi thảm; nhân vật bị bắt trong tình huống vô vọng buộc phải làm những hành động lặp đi lặp lại hoặc vô nghĩa; đối thoại đầy đủ của lời nói sáo rỗng, chơi chữ, và vô nghĩa; lô có chu kỳ hoặc ngớ ngẩn mở rộng. Những vở kịch đã được định hình bởi những bất ổn chính trị, khoa học mang tính đột phá, và biến động xã hội đang diễn ra trong thế giới xung quanh các nhà viết kịch trong những thời gian này.
       Nói tóm lại, từ ngữ "Phi lý" là một từ ngữ quan trọng trong triết học, văn học và sân khấu thế kỷ XIX - XX. Nó cũng lan qua nghệ thuật hội họa. Phi lý là đồng nghĩa với  lố bịch, vô nghĩa, ngu ngốc, điên khùng và phản nghĩa với nghiêm túc, lý trí, lý luận, hữu lý.

Nói rõ hơn , Phi lý bao gồm những tư tưởng và hành động trái lẽ thường, trái đạo lý, trái pháp luật, phản dân chủ, phản quốc, hại dân. Trong đó ngu dốt,  dối trá, kiêu căng, tàn ác, phản bội... là nét chính của phi lý.Trong triết học, Phi lý nói lên mâu thuẫn giữa khuynh hướng con người tìm hiểu ý nghĩa và giá trị cuộc sống nhưng chẳng tìm thấy gì. Con người không thể tìm thấy gì, hiểu biết gì. Con người bất lực. Hình ảnh Diogène nhà triết học cổ Hi Lạp, bạn thân của đại đế Alexandre, theo trường phái thiên nhiên, khổ hạnh, chống phân biệt chủng tộc, coi rẻ danh vọng, tiền bạc, thoát khỏi dục vọng, khinh thường mọi lý luận triết học siêu hình, nhất là thế giới ý niệm của Platon…đã nhiều lần cầm đèn đi giữa ban ngày trong thành Athènes đô hội để tìm một con người; nhưng rồi ông lắc đầu ...


B. TÍNH PHI LÝ TRONG THỰC TẾ 

Tính phi lý trở thành khái niệm chủ đạo trong triết lý, văn chương , sân khấu và hội họa thế giới từ thế kỷ XIX đến thế kỷ XX.  Nhưng đó chỉ là những khái niệm trừu tượng, những câu chuyện đơn sơ, những màn kịch trong những sân khấu bé nhỏ của một góc thành phố. Thực tế, trong thế giới này, nhất là trong thế giới cộng sản, phi lý đóng một vai trò chỉ đạo, là quốc sách và quốc tế sách của chủ nghĩa cộng sản, như là một sợi chỉ đen xuyên suốt Liên Xô, Đông Âu, Trung quốc, Việt Nam, Bắc Hàn và Cuba...Ở đâu cũng có tù đày, bắn giết nhưng Đức Quốc xã giết 11 triệu dân Do Thái và các dân khác, đệ nhị thế chiến giết khoảng 60 triệu người, riêng châu Âu chết 49.257.000 người. Quyển Sách Đen cho biết cộng sản đã tàn sát khoảng 200 triệu người , như vậy là cộng sản giết người nhiều nhất, lý do chính là tham vọng vượt kinh tế Mỹ, làm bá chủ hoàn cầu đã làm cho khoảng 100 triệu nông dân, công nhân chết trong các công trường, nông trường vì lao động qauá sức, thiếu cơm áo, thuốc men...

 Trong thời cộng sản nổi lên,  CCRD đã giết khoảng  nửa triệu  người, và chiến tranh Việt Nam, Việt Cộng và Trung cộng đã làm cho khoảng hai triệu người Việt Nam  chết. Trong thời chiến tranh, ban đêm công an đem người đi biệt tích, và ban ngày dân ta bị ám sát, bị bắn tỉa, giật mìn, và bị pháo kích. Trận mậu thân Huế (1958),  theo báo cáo tổng kết của Douglas Pike, lúc bấy giờ là nhân viên Cục Tâm lý chiến của cơ quan thông tin Hoa Kỳ, năm 1970, tổng kết  số dân sự tử vong: 7.600 - chết lẫn mất tích.
Trong khi đó tại miền Bắc, dân ta trở thành nô lệ của cộng sản. Họ phải vất vả làm việc suốt ngày đêm mà lao động HTX hạng nhất mỗi ngày một kí lúa, tức là hai lon gạo không đủ ăn một ngày Sau, Việt Cộng đổi sang khoán, nông dân phải  đóng thuế. Ngày xưa địa chủ lấy tô 50%, còn cộng sản thu thuế 75%, lại phải đóng hàng trăm thứ tiền khác. Một số  nông dân  mắc nợ, bị xiết đồ đạc, nhà cửa. Bao thanh niên trai tráng phải sinh Bắc tử Nam, nhà trường đóng cửa , học sinh, sinh viên phải bỏ học. Thậm chí Việt Cộng còn bắt trẻ 15 tuổi phải đi lính. Sau 1975, cộng sản chiếm miền Nam, dân Nam trở thành tù nhân, thành nô lệ, cộng sản cướp nhà đất, hãng xưởng, bắt tư sản phải đi kinh tế mới. Một số phải vượt biên trong đó gần nửa triệu người bỏ mạng trên biển cả. Đấy là những nét sơ lược của thực tế Việt Nam và thế giới cộng sản. Chúng tôi xin trình bày một số sự kiện  về tính phi lý của chủ nghĩa cộng sản.

I.  CUỒNG TÍN   VÀ TỰ TÍN THÁI QUÁ

Cuồng tín là tin tưởng mù quáng  vào một thế lực nào đó như thượng đế, thánh thần, chủ nghĩa, lãnh tụ.Còn tự tín là lòng kiêu ngạo cực độ tự cho mình là tài giỏi, là lãnh tụ anh minh, cha già dân tộc, là kẻ bách chiến bách thắng...
 Cuồng tín và tự tin thái quá là bệnh lý của chủ quan, thiếu lý trí và cuồng điên.  Trong chế độ quân chủ và tư bản, một số vô học cầm quyền, nhưng đa số trí thức được tôn trọng. Nhất là trong chế độ tư bản, các tổng thống thường có hàng trăm cố vấn tài giỏi. Đó cũng là chuyện thường vỉ làm nhà phải cần thợ giỏi không ai đem những anh vô nghệ vào làm việc, nhất là những việc quan trọng. Ấy thế mà trong  tác phẩm Cách mạng vô sản và tên phản bội Kautsky (The Proletarian Revolution and the Renegade Kautsky) không dưới ba lần, V.I.Lênin khẳng định nền dân chủ vô sản hơn gấp triệu lần nền dân chủ tư sản: “Chế độ dân chủ vô sản so với bất cứ chế độ dân chủ tư sản nào, cũng dân chủ hơn gấp triệu lần, chính quyền xô viết, so với các cộng hòa tư sản dân chủ nhất, cũng dân chủ hơn gấp triệu lần."(Proletarian democracy is a million times more democratic than any bourgeois democracy... Soviet power is a million times more democratic than the most democratic bourgeois republic - Bourgeois And Proletarian Democracy)

Dân chủ mà việc gì cũng do  chủ tịch đảng hay Tổng bí thư quyết định, không cần hỏi quốc hội, dù là quốc hội bù nhìn- không hỏi chuyên viên, chủ tịch  tin vào sách Marx là có đủ phép thần thông biến hóa. Vì tin tưởng chủ nghia Marx khách quan , khoa học, các ông Lenin, Stalin, Mao tha hồ đưa ra kế hoạch này, kế hoạch nọ làm cả mấy chục triệu người chết đói! Trong đó một mặt họ tin vào Marx mà cũng tin rằng họ thông minh tài trí, chủ nghĩa Marx-Lenin bách chiến bách thắng, Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng". Nếu kế hoạch thất bại, họ không thấy cái ngu, cái phi lý của họ, họ đổ tội cho cán bộ, cho công nhân, nông dân...

Lê Duẩn vô học nhưng tài liệu đảng ghi ông đỗ tiểu học. Ngày xưa đỗ tiểu học là oai lắm, có thể xin làm công sở chứ đâu phải bẻ ghi! Vô học mà làm Tổng bí thư, thừa thắng xông lên, ông muốn làm triết gia, làm nhà khoa học ( về rau muống, thịt bò).
 Vũ Thư Hiên nhận định Lê Duẩn nuôi mộng lớn lắm, y mưu toan trở thành một trong những nhà kinh điển mác-xít cấp châu lục trong giai đoạn mới (ĐGBN, XVIII, 319 ).. Ông ta đang rắp ranh trở thành lý thuyết gia mác-xít, nếu không đạt được cỡ quốc tế thì cũng cỡ khu vực. Luận điểm ở các nước không có giai cấp vô sản hoặc giai cấp vô sản chưa hình thành cũng có thể thành lập chính đảng mác-xít - lê-nin-nít ra đời cùng một lúc với các chủ thuyết ba dòng thác cách mạng, làm chủ tập thể là trong giai đoạn này.lý thuyết gia mac-xit không cỡ quốc tế thì cũng khu vực (ĐGBN,XXI, 374).
Một số trí thức là triết gia, nhà văn đã đọc Marx nhiều như J. Paul Sartre, Trần Đức Thảo thì tôn sùng Karl Marx như thánh. Một người như J. Paul Sartre cũng cuồng tín đến nỗi chửi rủa những người chống cộng là chó má!(Jean-Paul Sartre qui déclare en 1961 : « un anticommuniste est un chien, "


Ông Sartre nhiệt tình ủng hộ cộng sản Trung Quốc nghĩa là ông đồng tình với việc Trung cộng xâm lược Tây Tạng, Mông Cổ và  chiếm đoạt biển Đông và với việc Mao tàn sát hàng chục triệu nông dân với  Bước đại nhảy vọt và cách mạng vô văn hóa của Mao? Vây thì con người hiện sinh nhân bản, yêu tự dơ ở đâu?Ông cùng với Bertrand Russell thành lập Ủy ban chống tội ác chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam vâỵ thì tổ tiên ông và tổ tiên  Rusellcó phạm tội ác chiến tranh ở châu Á, châu Phi và châu Mỹ không?

Khi nghe tin Khrushchev tố cáo tội ác Stalin, ông đau đớn vì tin tức tiết lộ ra làm mất mặt ông và thần tượng ông! Ông cũng như Việt Cộng, Trung Cộng cho đó là bí mật qauốc tế, quốc gia không thể tiết lộ! Và ông cũng trách trời trách đất sao vụ Stalin bể ra sớm quá!
Ông cuồng tín Cộng sản nên khi nghe tin dân Việt Nam vượt biên, ông chống lại việc vớt những "tay sai đế quốc Mỹ phản bội quê hương" nhưng đến khi thấy người Việt ra đi nhiều quá và quốc tế đổ xô cứu vớt thì ông mới đổi thái độ.  Albert Camus khá hơn. Ông theo Cộng sản rồi giã từ cộng sản.
Nhiều người cộng sản đã nói đến cái kiêu ngạo cộng sản. Vũ Thư Hiên đã nói đến bệnh “kiêu ngạo cộng sản” trong con người Lê Duẩn đã có ngay từ khi Lê Duẩn nắm quyền lãnh đạo tại miền Nam. Cộng với bệnh “kiêu ngạo cộng sản” là bệnh độc tài, độc đoán, coi thường quần chúng (DGBN, Ch.XVIII)

Trần Đĩnh bình luận một cách nhẹ nhàng nhưng thấm thía về kiêu ngạo cộng sản, về "cộng sản hỗn"": " Ngày càng hiểu vì sao phương tây gọi cộng sản là hỗn. Hỗn với tất cả. Như Việt Cộng trèo hỗn lên đầu tất cả hét lớn: “Cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Việt Nam là nơi hội tụ của ba dòng thác cách mạng. Lịch sử đã chọn Việt Nam là nơi tập trung của những mâu thuẫn thời đại.” và Việt Nam tự hào là “Ngọn cờ tiên phong của phong trào giải phóng dân tộc trên toàn thế giới.” May mà phải vác rá đi xin gạo tiền súng đạn. Nếu dồi dào hết thì chết với ông.Vậy mà tôi đã chứng kiến sự hỗn hào thành văn thành luật đó từng nghiễm nhiên trở thành hào quang chói lòa trong lòng dân 
 ( ĐC, 285 ).

Trần Đức Thảo cậy mình đã nghiên cứu Marx, được mấy ông Tây bà đầm vỗ vai khen " Bien! Bien"làm ông thêm tự tín, nghĩ rằng ông sẽ về Việt Nam xây dựng một thiên đường Đỏ, nhưng than ôi, không mời mà chạy về, ông bị già Hồ cho vào sọt rác. Ông Hồ thấy Trần Đức Thảo chỉ là một anh tuổi trẻ ngông nghênh đáng ghét chứ không đáng giết!

Trong Văn Chương Truyện Kiều, Nguyễn Bách Khoa đề cao Biện Chứng Pháp, cho rằng đây là phương pháp tuyệt diệu để phân tích, phê bình văn học. ‘’Những việc mổ xẻ, giải thích, phân tích ấy, ta chỉ có thể làm được mỹ mãn. . . khi nào ta lĩnh hội và khéo biết áp dụng biện chứng pháp duy vật. Chỉ có dùng biện chứng pháp duy vật mới có thể hiểu được chất thơ kia,thưởng thức được cái đẹp kia, cảm thông được linh hồn kia đánh giá được thiên tài kia .[...].Không công nhận những kết quả rực rỡ của khoa học hiện tại , không tán thành và áp dụng biện chứng pháp duy vật, cứ khư khư cố chấp ôm lấy những quan niệm đã lỗi thời về linh hồn, về thiên tài về cái đẹp, về nghệ thuật: đó là thái độ của những người phản động .(tr.81-83) 

Những thượng tầng kiến trúc cộng sản là ông Trời, còn đám cán bộ, cần vụ, thư ký hạng bét, công nhân đổ thùng cũng là sơn thần, thổ thần dưới đất, cũng tự hào là giai cấp lãnh đạo, giai cấp tiên tiến, giai cấp lãnh  đạo nữa là Lê Duẩn, Nguyễn Chí Thanh, Trần Văn Trà....   Các chú lính quèn   cũng hách ghê lắm. Đánh thắng Mỹ là tốt nghiệp đại học nhất thế giới. Và đảng viên cộng sản thì vỗ ngực xưng là trí tuđệ nhất hành tinh. Niềm tự hào tràn lan. Khắp nơi Việt nam ngày nay đều có những bài hát, và sách báo viết về tự hào Việt Nam. Trên đài phát thanh, ngày đêm người ta nghe bao lời ca tụng lãnh tụ, ca tụng đảng và niềm tự hào. Khắp nơi nổ bùng hai chữ tự hào như các bài hát:" Quỳnh Lưu Ơi Biết Mấy Tự Hào",Tự hào Long An, Tự hào Việt Nam (Trương Ngọc Ninh).Tự hào Thái Nguyên . Tự hào dân tộc Thái ( Ad Văn Thăm ). Huế tự hào (Huế tình yêu của tôi. Nhạc Trương Tuyết Mai).

Phạm Tuyên đúng là một kẻ nhận giặc làm cha, y mà cũng tự hào, như bài Hà Nội, Điện Biên Phủ:
Hà Nội ơi! Dẫu phố phường bị giặc tàn phá đau thương
Ta bước trên đầu thù, tự hào thay dáng đứng Việt Nam...
Ta không nghe Anh, Pháp Mỹ tự hào, còn Việt Cộng nổ inh tai điếc óc. Lê Duẩn còn tự hào thân phận nô lệ, số kiếp lính đánh thuê của ông và Việt Cộng khi ông tuyên bố hùng hồn: "Ta đánh Mỹ là đánh cả cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc ". Ăn mày mà vỗ ngực xưng anh hùng. Khiếp quá! Kiểu tự hào này chứng tỏ Lê Duẩn điên, một hình thức của "phi lý"!


 II. ẢO TƯỞNG HAY DỐI TRÁ?

Ảo tưởng là đi xa thực tế, không tĩnh tâm, không sáng suốt, không có óc lý luận. Mơ mộng thì được vì đó là bản tính thi nhân:
-Làm thi sĩ, nghĩa là ru với gió,
Mơ theo trăng, và vơ vẩn cùng mây.

-Không có cánh mà thèm bay bổng

Đi trong sân mà nói chuyện trên trời.

Nếu ảo tưởng quá đáng hóa ra điên khùng. Còn dối trá là hành vi thiếu đạo đức, đi xa nữa là hành vi phạm pháp.
Marx là con người nhiều ảo giác. Marx tuyền truyền cho chủ nghĩa cộng sản của ông rất nhiều bằng những rất mơ rất đẹp cho thế giới đại đồng, cho thiên đường tại thế.

(1) . Marx  bảo trong thế giới cộng sản, vật chất ê hề, không cần cưỡng bách lao động, ai muốn làm thì làm, muốn nghỉ thì nghỉ.  ai cần gì cứ lấy, muốn bao nhiêu cũng được ( Làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu), không cần tiền bạc, chợ búa, mua bán.Không cần chợ búa thì chỗ tich chứa hàng hóa là cái gì nhỉ?Không cần tiền mà sao hơn nửa thế kỷ cai tri, người cộng sản vẫn thich tiền, mà lại thich đô la Mỹ cơ! Lenin và Mao cho rằng vàng bạc, kim cương cả đống, người ta dùng vàng để lót cầu tiêu!

(2). Marx chủ trương tiêu diệt tư sản vì tư sản là giai cấp bóc lột, là kẻ thù của giai cấp vô sản. Diệt hết tư sản, tước đoạt tài sản và  tư liệu sản xuất của tư sản là san bằng giai cấp trong xã hội. Giải phóng giai cấp trong một quốc gia sẽ tiến lên giải phóng giai cấp trên toàn thế giới.
Marx hoang tưởng vì khi hai giai cấp chính , giai cấp thống trị và giai cấp bị trị chống đối nhau, nếu giai cấp thống trị thắng lợi thì xã hội vẫn còn hai giai cấp chính. Nếu giai cấp bi trị thắng lợi, thì chỉ là tuồng dịch chủ tái nô. Giai cấp bị trị thành giai cấp thống trị và giai cấp cai trị cũ phải lui xuống làm giai cấp bị trị. Nếu hai giai cấp chính tranh đấu đi đến tiêu vong cả hai thì giai cấp trung đẳng tiến lên, nghĩa là bao giờ trong vũ trụ này còn có núi và sông và xã hội vẫn có giai cấp. San bằng giai cấp là một ảo tưởng. Các nhà chính trị và tư tưởng ngày nay  chỉ nghĩ đến việc nâng đỡ dân nghèo bằng những chính sách an sinh, và giảm bớt khoảng cách giữa giàu và nghèo.

Chính cộng sản hô hào giải phóng giai cấp, san bằng bất công xã hội, nhưng chính họ dựng ra bao hàng rào ngăn cách, tạo ra bao giai cấp xã hội. Nào là đảng viên với quần chúng, đảng viên trung ương, đảng viên địa phương. Quần chúng thì chia ra nhiều hạng và đó là nguồn gốc lý lịch ba đời: phong kiến, ngụy quân, ngụy quyền, cách mạng, tư sản, địa chủ, phú nông, trung nông, bần nông, cố nông...

Trong thi tuyển Đại học, Cộng sản chia ra nhiều giai cấp". Theo Quy chế tuyển sinh đại học, cao đẳng vừa ban hành vào chiều 6/3 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, ngoài 8 đối tượng được xét tuyển thẳng, Bộ đã công bố chi tiết 3 nhóm đối tượng được ưu tiên, trong đó chia làm 7 đối tượng cụ thể.
http://news.zing.vn/7-doi-tuong-duoc-uu-tien-trong-thi-tuyen-dai-hoc-post239226.html
 Xét  về đảng, ta có  thể chia hai: "Quan cao ăn cung cấp
Quan thấp ăn cổng hậu."
Quan cao cũng chia ra nhiều thứ bậc, nhiều giai cấp:
 Tôn Đản  là chợ vua quan
Nhà Thờ là chợ trung gian nịnh thần
Bắc Qua  là chợ thương nhân
Vỉa hè là chợ nhân dân anh hùng.

Tại Liên Xô, thời Mac -Lê, giai cấp Nomenclatura là một giai cấp hoàng gia cộng sản chiếm độc quyền độc lợi, ở riêng biệt, cha truyền con nối. Tại Trung Cộng, thế hệ Mao, Lạm Bưu đi qua, truyền lại cho con cháu quyền thế tập, người ta gọi là "Thái tử đảng", trong đó có nhiều nhóm chia chác quyền lợi, gọi là các nhóm thân hữu. Tất cả y phục vô sản đã đốt sạch, nay họ khoác đại bào tư sản đỏ.
Milovan Djilas nhận  định: "Cái giai cấp mới, tầng lớp quan liêu, đúng hơn phải nói tầng lớp chính trị quan liêu, không những mang trong mình nó tất cả đặc thù của các giai cấp bóc lột trước đó mà còn có những đặc trưng riêng biệt, khác hẳn. Ngay sự xuất hiện của nó, tuy có nhiều điểm chung với sự xuất hiện của những giai cấp khác, nhưng vẫn có những khác biệt.
Lenin lý luận rang đảng cộng sản mang tính cách quốc tế, có nhiệm vụ giải phóng giai cấp cả thế giới.(Socialists cannot achieve their great aim without fighting against all oppression of nations.-
 The Socialists of oppressed nations must, in their turn, unfailingly fight for the complete (including organisational) unity of the workers of the oppressed and oppressing nationalities- Lenin, Socialism and War , 1915).

Nói như vậy là Lenin muốn gây chiến tranh toàn cầu. Lenin không giấu diếm lòng khát máu của ông.
- Ông nói rõ muốn xây dựng xã hội chủ nghĩa, muốn san bằng  giai cấp, muốn tiêu diệt sự bóc lột  giữa người và người, giữa quốc gia này với quốc gia khác phải dùng chiến tranh (We say: our aim is to achieve a socialist system of society, which, by eliminating the division of mankind into classes, by eliminating all exploitation of man by man and nation by nation, will inevitably eliminate the very possibility of war. Lenin, War and Revolution (1917)
- Socialists cannot achieve their great aim without fighting against all oppression of nations.
VLADIMIR LENIN, Socialism and War)
Mao cũng có tham vọng làm bá chủ thế giới dù hy sinh cả triệu dân Trung quốc để đạt được mục đích riêng. Lý Chí Thỏa viết trong Đời Tư Mao Trạch Đông", Nhân Ảnh xuất bản năm 2014 . "Từ khi Mao gặp thủ tướng Ấn Độ, Jawaharlan Nehru, vào tháng 10-1954, tôi mới biết rằng Mao đã so sánh những quả bom nguyên tử chỉ là “con hổ giấy” và không ngần ngại sẵn sàng hy sinh hàng trìệu người Trung Quốc để chiến thắng chống “cái gọi là chủ nghĩa đế quốc”. Ông quả quyết với Nehru: “Đừng có sợ bom nguyên tử. Trung Quốc rất đông dân, chúng không thể thả bom nguyên tử xoá sổ tất cả chúng tôi được. Kẻ nào dám ném bom nguyên tử, thì tôi cũng có thể làm được điều đó. Dù phải hy sinh 10 hay 20 triệu nhân dân, tôi đâu có sợ”. Nghe đến đó, ông Nehru phát hoảng.
Trong bài diễn văn đọc ở Moscow năm 1957, Mao tuyên bố, ông sẵn sàng hy sinh 300 triệu dân Trung Quốc, một nửa dân số Trung Quốc. Ngay khi Trung Quốc có mất đi nửa số dân, đó cũng chưa phải là tốn thất lớn lao, vì đất nước này vẫn có thể sản sinh ra nhiều người nữa
.(Ch.XI)
Mộng " giải phóng "thế giới, mộng làm bá chủ thiên hạ là giấc mơ điên cuồng của các bạo chúa đã gây ra chiến tranh khắp nơi, nhưng các cuộc xâm lược của họ rồi cũng thành vô nghĩa. Napoléon, Thành Cát Tư Hãn đã thất bại, chế độ công sản của Liên bang Xô Viết và Đông Âu đã sụp đổ cuối thế kỷ XX, còn Trung Cộng, Việt Nam, Bắc Hàn  đã bỏ kinh tế chỉ huy rồi cũng phải chờ ngày đền tội!
Marx cũng mộng mơ tịch thu tài sản tư sản, bãi bỏ tư hữu thì hết nạn bóc lột nhưng làm sao diệt được sự khát khao tài sản của người cộng sản. Sẵn tài sản của nhân dân, cộng sản chóp bu liền chiếm đoạt thành của riêng. Sự kiện này hiển hiện rõ ràng tại Trung Quốc và Việt Nam  không thể chối cãi. Và diều này đã được các triết gia Hy Lạp nói đến mấy ngàn năm trước!

Trần Đức Thảo nói  Cộng sản không xóa được giai cấp, không san bằng bất công xã hội. Cộng sản trở thành giai cấp thống trị, giai cấp bóc lột, thành tư sản đỏ.
"Kết quả là con người trong công cuộc đấu tranh giai cấp, khi kết thúc, thì nó đã không hề được giải phóng! Đau đớn hơn hết là trong thực tại, con người lao động vẫn còn bị bóc lột. Trong xã hội mới này, thành phần công nông vẫn chỉ là thành phần thiệt thời nhất!

Kết quả là “thế giới đại đồng” ấy đã không hiển hiện trong một chế độ xã hội chủ nghĩa nào cả. Sau này thì “cuộc cách mạng long trời lở đất ấy” đã lộ ra cái bản chất vừa ngu tín, vừa cuồng tín! Và bộ mặt thật của ý thức hệ ấy là đã dụng cụ hoá, đã nô lệ hoá con người bởi đủ thứ kim kẹp, giam hãm, tuyên truyền xảo trá, chứ chẳng phải là đã giải phóng con người! Con người lao động đã chẳng hề được làm chủ, kể ca làm chủ bản thân minh. Vì mình cũng là của… “đảng”!

Vì trong thực tại của xã hội chủ nghĩa mới, vẫn còn giai cấp bóc lột. Đó là giai cấp chuyên chính, chuyên quyền của đáng cộng sản cầm quyền! Đó là giai cấp tư sản đỏ phát, sinh từ tinh thần vô sản vùng lên đấu tranh cướp lại quyền lực trong tay giai cấp tư sản thống trị! Lớp người vô sản vùng lên cướp đoạt chính quyền, đồng thời nó cũng đã cướp đoạt tài sản của giai cấp tư sản để tự nó trở thành một nhà nước tham lam sở hữu toàn bộ đất đai, toàn bộ tư liệu sản xuất, nắm toàn bộ guồng máy quản lý xã hội, vừa nặng tính chuyên quyền, vừa toàn quyền lũng đoạn kinh tế! Trước mắt giờ đây, là một nhà nước tư bản đỏ độc quyền bóc lột kiểu mới, mang danh hiệu là “chế độ dân chủ nhân dân”, được quảng bá là “dân chủ gấp ngàn lần dân chủ tư sản”! Mà rồi mãi sau này người ta đặt cho chế độ ấy, cho thời ấy một cái tên có tính khinh thị là “Chế độ bao cấp! Thời bao cấp”.

Đặc biệt là ngay ở trong chế độ “vô sản” mới này, con người vô sản ở khắp nơi, đều tỏ ra vẫn giữ nguyên bản năng hữu sản! Họ gậm nhấm, xâm chiếm của công, cướp đoạt tài sản của tập thể, của kẻ yếu, cướp đoạt đất đai của nông dân… làm của riêng. Tư hữu kiểu cũ đo làm ăn cần cù, do tích luỹ lâu dài mà có được, này đã bị xoá bỏ. Thay thế nó nay là tư hữu kiểu mới do chiếm đoạt bằng chữ ký của quyền lực, hoặc do móc ngoặc với quyền lực. Con người vô sản cầm quyền nay tha hồ bòn mót của công, cướp đoạt của tư, để tạo cho minh một tài sản vừa nhiều, vừa nhanh! Vì cái gì cũng là của chung, đặc biệt là “đất đai là sở hữu của toàn dân”, nên ai cũng nghĩ rằng toàn dân có quyền nhúng tay vào cái sở hữu chung ấy! Bởi là của chung nên, trong thực tế, nó không được bảo vệ như của riêng. Rừng, núi, sông ngòi, ao hồ… bị con người mới trong xã hội vô sản mới ấy phá phách, lấn chiếm vô tội vạ! Con người vô sản đã tỏ ra là con người tham lam, phá phách, gậm nhấm, xâm chiếm những gì là của chung bất kể luật pháp! Vì là của chung nên ai cũng nghĩ là mình cũng có quyền xâm phạm, nhưng không thấy ai có nhiệm vụ phải bảo vệ, bảo trì! Trong thực tế trước mắt, con người, vô sản có quyền hành, luôn luôn phấn đấu để chiếm hữu một cách rất tự nhiên của cải của xã hội, đã trở thành nhà tư sản kiểu mới. Đấy là thứ tư sản đỏ, do tham nhũng, do hối mại quyền thế mà có: họ chia chác tài sản tập thể của xã hội cho gia định, họ hàng, cho đồng chí, đảng viên, bằng chữ ký của quyền lực trong tay họ!
Khi thấy của công, của tập thể bị xâm phạm, người ta không có phản ứng quyết liệt và nghiêm chỉnh như khi thấy sự xâm phạm của tư! Thói thường của xã hội, và nay đã thành một thứ tư duy phổ biến, một suy nghĩ tự nhiên rằng “lấy của tập thể, lấy của nhà nước không phải là ăn cắp”! Vì đấy là của chung!

Marx đã không ngờ rằng một giai cấp tư bản đỏ sẽ ra đời ngay trong xã hội xã hội chủ nghĩa như thế. Giai cấp tư bản độ ấy đã phát triển một cách lộng hành, nó xâm chiếm, do cướp đoạt vừa nhiều, vừa trắng trợn, gấp bội lần thứ tư bản tư sản cổ điển! Một điều khủng khiếp nữa mà Marx không thể ngờ là bởi tham lam quyền lực và quyền lợi, chính các lãnh đạo trong “đảng”, cũng đã trắng trợn triệt hạ nhau, quy chụp cho nhau những tội lỗi tày trời để diệt nhau, để tranh nhau địa vị, để được sống đế vương trên đầu nhân dân, để rồi tìm cách truyền ngôi, truyền gia tài cho con cái!

Thực tại cho thấy trong xã hội mới “xã hội chủ nghĩa”, các phe cánh vô sản kình chống nhau. Trong khi đó, giai cấp công nông vẫn còn bị bóc lột, thật là trái ngược với biện chứng và hứa hẹn của Marx! Và kẻ bóc lột đây lại là những người của “đảng”, của nhà nước, một nhà nước nắm toàn bộ vốn liếng, tư liệu sản xuất và mọi hình thức sinh hoạt khác trong xã hội, nhất là về mặt kinh tế! Trong thực tế, tất cả mọi thứ, từ đất đai cho đền con người, tất cả đều là “của đảng”! Các cá nhân, hội đoàn, các thành viên của nhà nước, các định chế như toà án, viện kiểm soát, các tổ chức tập thể… tất cả đều phải thề trung thành với “đảng”! Trong chế độ vô sản nay có một ông chủ toàn quyền, toàn năng! Bởi nay “đảng” là ông chủ lớn nhất, duy nhất, sở hữu tất cả, từ vật chất tới tinh thần! “Đảng” đứng trên hết mọi quyền lực, trên cả công lý! Và ”đảng” tự tuyên xưng “đảng” là nhân dân! Những ai chống lại “đảng” là chống lại nhân dân! Cụm từ “nhân dân” từ đây là nhãn hiệu độc quyền của nhà nước cộng sản!
 
“Đảng” còn ngang nhiên tuyên bố: “Yêu xã hội chủ nghĩa là yêu nước”Quan sát những hiện tượng đã xảy ra trước mắt, ngay tại Hà Nội sau nhất là tại Sài Gòn sau năm 1975, là nhũng nơi chế độ tư bản, tư hữu kiểu cũ đã bị đánh gục bằng bạo lực cách mạng, người dân bừng tỉnh, và kinh ngạc trước hiện tượng phát sinh và bành trướng một tư bản đỏ: chưa bao giờ thấy xuất hiện những đảng viên cao cấp, cùng phe cánh, đã trở thành những nhà giàu mới, vơ vét nhiều và nhanh đến thế. Những cơ ngơi bất động sản không lồ đã lọt vào tay “giai cấp tư sản đỏ”, nó thống trị một cách trắng trợn, như chưa từng thấy ở đất nước nghèo nàn, lạc hậu này. Mà những cơ ngơi và vốn liếng của giai cấp mới ấy đã được đánh giá hàng bao nhiêu tỉ đô-la Mỹ! [....]. Ý thức “đấu tranh giai cấp” là cái gốc của mọi sai lầm, cái gốc của mọi hành động quá trớn, cái gốc của bế tắc. Vì đấu tranh giai cấp để xoá bỏ giai cấp bóc lột, nhưng rồi lại nảy sinh một giai cấp bóc lột mới. Chính cái học thuyết; cái ý thức “đấu tranh giai cấp” ấy đã dẫn tới tình trạng con người vẫn bị bóc lột. Và con người không hề được “cách mạng” giải phóng.

Ỷ thức đã sai vì nó kìm kẹp con người, dụng cụ hoá con người. Con người mới” ấy đã bị chủ nghĩa cuồng tín (fenatisme) và chủ nghĩa ngu tín (obscurantisme) xỏ mũi lôi vào con đường của giáo điều, theo một thứ “tín ngưỡng cộng sản… Vì thế trên đường đấu tranh giai cấp để đi tới tương lai và hạnh phúc, nhưng cứ đi hoài mà không bao giờ tới đích! Đấy là thảm kịch lớn nhất của thế kỷ XX, tức là của chính chúng ta. Tác giả của học thuyết, của ý thức hệ ấy chính là ông Marx. Chính Marx là thủ phạm đã gây ra mọi sai lầm và tội ác
!(Tri Vũ. Ch.XIV)


(3). Để cổ võ cho chủ nghĩa cộng sản của ông, Marx đưa ra những thuyết nọ thuyết kia, trong đó thuyết Duy vật lịch sử là một vũ khí mà Engels, Lenin hết sức ca tụng.
Marx nói:
-Xã hội con người qua 5 giai đoạn phát triển,  cao nhất là chủ nghĩa cộng sản, sau đó là không có xã hội nào nữa.
-Luật phủ định của phủ định, cái sau phủ định cái trước.Cái sau thay thế cái trước và tốt hơn cái trước.
-Xã hội tiến theo vòng xoáy trôn ốc
.


Thêm vào đó, Marx bảo xã hội cộng sản là tất yếu, giai cấp vô sản chôn sống giai cấp tư sản.

Marx nói quanh nói quẩn cũng chỉ để  tuyên truyền cho chủ nghĩa cộng sản. Nhưng lý luận trên là ngụy biện, trái với thực tế xã hội và khoa học. Marx nói vũ trụ luôn biến dịch, cái sau thay thế cái trước, thế sao sau chủ nghĩa cộng sản lại không có chủ nghĩa nào khác. Điều này chứng tỏ Marx mâu thuẫn và ngụy biện.

Phật giáo nói vô thường, kinh Dịch nói âm dương biến đổi. Thực tế và khoa học cho thấy sự vật luôn thăng giáng, sao Marx lại bảo nó luôn đi lên theo đường xoán trôn ốc? Thực ra xoắn trôn ốc hay lên thẳng đều có hai chiều lên xuống. Kinh tế cộng sản luôn đi lên hay đi xuống ?

Marx nói xã hội con người biến chuyển từ cộng sản nguyên thủy lên cộng sản nhưng có nhiều nước không qua giai đoạn cộng sản, và có nhiều xứ sở các xã hội đều sống bên nhau. Tại vài quốc gia, chủ nghĩa quân chủ tồn tại với chủ nghĩa tư bản, và tại quốc gia cộng sản, luật cha truyền con nối vẫn được áp dung.  Cuối thế kỷ XX, cộng sản đã chết tại Nga và Đông Âu, còn Trung Cộng, Cuba, Việt Cộng và Bắc Hàn cộng sản đã thay đổi màu sắc và chờ ngày mai tang, trong khi tư bản vẫn sống phây phây!


 
Nhiều người biện hộ cho Marx, bảo rằng Marx chỉ là một lý thuyết gia , trăm tội là do Lenin, Stalin và Mao hành động sai. Thật ra Marx cũng là một tay xông xáo. Ông không là một lý thuyết gia thuần túy mà còn là nhà khởi xướng, chỉ đạo tội ác như "chuyên chính vô sản",diệt tư sản, bãi bỏ tư hữu, bắt lao động cưỡng bách trong nhưng công trường, nông trường. Dẫu sao, lãnh tụ là chính phạm Marx, không thể chối cãi.Xem những hứa hẹn xóa bỏ giai cấp, phục vụ vô sản,làm ít hưởng nhiều, cộng sản văn thinh vượng hơn tư bản...chính là những phỉnh phờ, lường gạt của một lưu manh quốc tế!


Trần Đức Thảo kết tội Marx:" Thủ phạm, kẻ gợi ý, kẻ chuyển lửa của niềm tin đấu tranh giai cấp cho các nhà lãnh đạo, trong: đó có cả Poi Pot, để đi vào con đường cuồng tín đến đẫm máu ấy chính là Marx! Lời tiên tri sẽ “xoá bỏ giai cấp” của Marx đã mê hoặc nhiều thế hệ. Và họ đã lao mình vào tội ác! Tại những nước đã có chính quyền vô sản triệt để “của giai cấp công nông” (Sự thực là của “đảng” cầm quyền, của nhà nước do đảng cộng sản nắm giữ), chính giai cấp công nông trung thực, tại các chế độ ấy đã bị bóc lột và đàn áp một cách vô tội vạ! Vì đã không còn được ai bảo vệ, nên giai cấp công nông đã ngậm ngùi, nguyền rủa Marx, coi Marx là một nhà tiên tri khốn nạn, đã lừa đảo, lấy cái khát vọng thế giới đại đồng không có bóc lột làm bả lừa dối công nông!(Ch.XIV)
 
(3). Marx cũng đưa ra ảo tưởng một quốc gia cộng sản tự do đến nỗi trở thành vô chính phủ.Lenin nói :Trong khi Nhà nước tồn tại, thì không  có tự do. Khi có tự do sẽ không có nhà nước (So long as the state exists there is no freedom. When there is freedom, there will be no state.(State and revolution)
Nhưng Marx nói không đúng vì các lãnh tụ cộng sản thường ngồi lì đến chết đến nỗi Đặng Tiểu Bình phải đặt quy chế  hưu trí để ngăn ngừa đảng viên chém giết, giành giật nhau.  Chính cộng sản tham quyền cố vị, giết hại đối thủ, tăng cuờng công an, mật vụ, không bao giờ nới lỏng bàn tay độc tài, tàn bạo.Câu nói của Lenin:" Các đầu bếp có thể học cách cai trị nước" ( Every cook must learn to rule the State.- "Woman's Place", New International, August 1935 ) là câu nói láo.Thường dân làm sao mà vào trung ương đảng, rồi Bộ chính trị để làm Tổng bí thư hay Thủ tướng?Khi bàn về sự tham quyền cố vị của các ông lớn cộng sản, Trần Văn Giàu đã xỏ xiên chế độ mà ông phục vụ hết mình
“Cái đít con người ta có trí nhớ. Nó nhớ cái ghế.” (DGBN, 294)


Nhiều người cho là Marx hoang tưởng nhưng hoang tưởng thì hiền lành , không tàn ác, không sâu sắc, còn Marx thì khôn ngoan, đưa ra bao biện pháp tàn ác. Điều đó chứng tỏ Marx cực kỳ xảo trá, chuyên dùng dối trá để phỉnh phờ người đời. Lenin, Stalin, Mao, Hồ, Pol Pot man trá và độc ác là do Marx đưa đường chỉ lối, và dối trá đã thành chính sách của mỗi quốc gia  cộng sản như Aleksandr Solzhenitsyn đã nói: "Trong một xứ sở  của chúng ta, dối trá   không phải là một thứ  đạo đức mẫu mực mà   là một loại cột trụ cho quốc gia.  (In our country the lie has become not just a moral category but a pillar of the State.)



III. XẢO TRÁ, TÀN BẠO, PHẢN BỘI
  
Cộng sản bản tính ác. Họ có nhiều tội đối với nhân dân họ và thế giới, trong đó có hai tội ác nổi bật là gian xảo và tàn ác. Marx vạch ra chính sách " chuyên chính vô sản" là biến  bọn cộng sản đàn em thành lũ sát nhân khát máu.
Lenin đã nói rõ chính sách gian manh, tàn bạo của ông:
- Chính trị là bất chấp đạo lý, có thể dủng bọn lưu manh - There are no morals in politics; there is only expedience. A scoundrel may be of use to us just because he is a scoundrel)
- Không thể làm cách mạng trong  bao tay trắng - You cannot make a revolution in white gloves.-( Not By Politics Alone )
There are no morals in politics; there is only expedience. A scoundrel may be of use to us just because he is a scoundrel.
Read more at: https://www.brainyquote.com/quotes/authors/v/vladimir_lenin.html
There are no morals in politics; there is only expedience. A scoundrel may be of use to us just because he is a scoundre
Read more at: https://www.brainyquote.com/quotes/authors/v/vladimir_lenin.html
-Không thương xót kẻ thù của nhân dân, của chủ nghĩa xã hội, của giai cấp lao động. Dùng  chiến tranh để giết nhà giàu,  và bọn tay sai,  giết trí thức tư sản,  bọn bất lương, bọn lười biếng và bọn làm loạn - No mercy for these enemies of the people, the enemies of socialism, the enemies of the working people! War to the death against the rich and their hangers-on, the bourgeois intellectuals; war on the rogues, the idlers and the rowdies!- ("How to Organise Competition?", December 27, 1917
-Lenin chủ trương dối trá và tuyên truyền xuyên tạc
(A lie told often enough becomes the truth.The Words of Power);
Ông nói rõ chuyên chính vô sản là dùng bạo lực, bất chấp pháp luật (Dictatorship is rule based directly upon force and unrestricted by any laws. The revolutionary dictatorship of the proletariat is rule won and maintained by the use of violence by the proletariat against the bourgeoisie, rule that is unrestricted by any laws.- The Proletarian Revolution and the Renegade Kautsky (1972), p. 11.
Từ đó gian dối và tàn bạo lên ngôi khắp nơi có cờ búa liềm.


-Nguyễn Tất Thành tiếm danh Nguyễn Ái Quốc của các cụ Phan Chu Trinh, Phan Văn Trường, Nguyễn An Ninh, Nguyễn Thế Truyền,  và tiếm danh Hồ Chí Minh của Hồ Học Lảm và tổ chức của ông. NGuyễn Tất Thành  bán Phan Bội Châu cùng các đảng viên Quốc gia và cộng sản cho Pháp để lấy tiền xài.
-Trung Cộng mưu sát Nguyễn Tất Thành ( Nguyễn Ái Quôc-Hồ Chí Minh rồi đưa Hồ Tập Chương người Hẹ Đài Loan đóng vai  Hồ Chí Minh làm Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa.. Trung Cộng viện trợ cho Việt Cộng để Việt Cộng mang ơn và mắc nợ, Phạm Văn Đồng phải ký giấy nhượng biển cho Trung Cộng. Mục đich khác của Trung Cộng là mở chiến tranh Việt Nam để quân Trung Cộng chiếm đất biên cương, tàn phá Việt Nam, bắt Việt Cộng làm nô lệ, biến Việt Nam thành châu quận của Trung Quốc, và mở đường Nam tiến.

-Hồ Chí Minh theo lệnh Nga, Tàu làm Cải Cách Ruộng Đất, bề ngoài rêu rao là chia ruộng cho nông dân nhưng thực tế là  để giết 5% dân chúng, khủng bố dân chúng bắt họ làm nô lệ trong các công trường, nông trường. Theo Wikipedia, tổng số người bị quy trong Cải cách ruộng đất đã được thống kê là 172.008 người; số người bị oan sai là 123.266 người, chiếm tỷ lệ 71,66%.Bản thống kê chính thức cho biết là trong số 172.008 ngừơi bị quy là địa chủ và phú nông trong cải cách ruộng đất thì 123.266 người bị quy sai, tức là bị oan. Tính theo tỷ lệ là 71,66%. Có lẽ chưa bao giờ và ở đâu tỷ lệ giữa số bị oan và nạn nhân lại cao đến như thế…”
- Michel Tauriac, nhà văn người Pháp đưa ra 500.000 Con số nầy cũng hợp lý nếu kể cả người bị giết, bị chết trong tù, bị chết sau khi thả ra và tự tử” (Wikipedia tiếng Việt online ngày 19-5-2006)

Theo sách Lịch sử kinh tế Việt Nam 1945-2000 tập 2, viết về giai đoạn 1955-1975, xuất bản tại Hà Nội năm 2004, tức là một tài liệu mới của nhà cầm quyền Hà Nội, cho biết cuộc CCRĐ đợt 5 (1955-1956) được thực hiện ở 3,563 xã, có khoảng 10 triệu dân, và tổng số người bị sát hại trong CCRĐ đợt nầy lên đến 172,008 người, trong đó có 123, 266 người (71,66%) sau nầy được xác nhận đã bị giết oan

. Việt Cộng đưa ra con số 172.008 người tất nhiên là có gian trá, giấu giếm, sự thật phải lên đến từ 500,000 cho đến một triệu người. Nếu cộng vợ con, cháu chắt, con số nạn nhân tù đày, bỏ đói, bị rút phép thông công có thể lên đến hai triệu người trên tổng số 15 triệu người!
Cộng sản ban đầu hứa hẹn nhiều điều nhưng rồi họ trở mặt.Ban đầu ông Hồ kêu gọi toàn dân đoàn kết nhưng trong khoảng 1945-1946, ông sai thủ hạ giết các đảng phái quốc gia và tín đồ các tôn giáo. Sau 1954, Việt Cộng chiếm nửa nước, chúng thi hành CCRD để cướp tài sản nhân dân, tịch thu ruộng đất lập các công trường, nông trường và HTX nông nghiệp, bắt nhân dân làm nô lệ với bụng đói.
Marx  với chiêu bài đấu tranh cho vô sản, phục vụ đa số nhưng thực tế  Liên Xô, Trnng Cộng, Việt Cộng,  vô sản vẫn là giai cấp bị trị, bị bóc lột bởi cộng sản dã man. Lenin, Stalin, Mao Trạch Đông, Hồ Chí Minh không phục vụ nhân dân mà chỉ bóc lột, đày ải và tàn sát  nhân dân . Riêng bọn Việt Cộng còn phạm thêm tội phản quốc hại dân. Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng, Đỗ Mười, Nguyễn Văn Linh đã đem giang sơn Việt Nam gấm vóc bán rẻ cho Trung Cộng.


Xã hội cộng sản có quá nhiều điều phi lý.
-Tại sao người Việt Nam lại tàn ác hơn thực dân?
-Tại sao người cộng sản ghét tư sản, thù bóc lột mà chính họ lại say mê tài sản,lấy tài sản quốc gia và tài sản nhân dân làm của riêng? Tại sao họ bóc lột tàn nhẫn hơn tư sản và thực dân?
-Tại sao con ông cháu cha đi lao động XHCN sau khi Liên Xô và Đông Âu sụp đổ không về nước mà lại chạy qua các nước tư bản?
-Tại sao thời đánh Mỹ các ông bà hăng hái là thế mà nay đối với Trung cộng lại như dun,như dế? cCác ông đồng chí  đãbị Đặng Tiểu Bình dạy cho bài học và nay bị Tập Cận Bình hăm dọa, vậythì thái độ cung kính Mao, tôn thờ Trung Cộng trước đây là đúng hay sai? Nay các ông cúi đầu hay tich cực chống Trng Cộng? Các ông bà có thấy đường lối tranh đấu của các ông bà là lố bịch, là khôi hài , là vô nghĩa không?
-Tại sao các cộng sản cao cấp tạo dựng được sự nghiệp và tài sản lớn lại ôm tài sản ra nước ngoài, nhất là chạy sang Mỹ là kẻ thù số một của cộng sản?
 Quyển Sách Đen cho ta thấy Cộng sản đã giết khoảng 200 triệu người, và gây đau thương cho mấy trăm triệu người nữa nhưng rồi cộng sản Liên Xô, Đông Âu cũng tan tành, cộng sản Trung Quốc đã thay màu đổi sắc. Điều này cho thấy chủ nghĩa cộng sản là một chủ nghĩa thất bại đúng như Winston Churchill nhận định:" Chủ nghĩa xã hội là một triết lý thất bại, là một tín điều ngu dốt,  và là  phúc âm đố kị, bản chât của nó chia đều đau khổ.(" Socialism is a philosophy of failure, the creed of ignorance, and the gospel of envy, its inherent virtue is the equal sharing of misery).



Nói chung, chủ nghĩa Marx là một tai họa cho nhân loại. Người cộng sản lầm tưởng với bàn tay sắt của chuyên chính vô sản , ,của công an, mật vụ với chủ trương tàn sát 5% dân chúng của Mao là bảo vệ ngai vàng cộng sản. Nhưng họ đã lầm. Nhà Trần, nhà Lý không cần đảng cộng cộng sảnm, không cần chuyên chính mà tồn tại khoảng hai thế kỷ, còn Tần Thủy hoàng và cộng sản Liên Xô Đông Âu chỉ kéo dài nửa thế kỳ. Họ chỉ hành động và suy tưởng ngu ngốc và điên cuồng. Đầu thế kỷ XX, Tứ Thánh đã nhìn thấy kết cuộc  tấn bi hài kịch cộng sản hôm nay:
Thương công Chú Cộng chan dầm,
 Vào sanh ra tử lại lầm kế ai!
 Trần Đức Thảo nhận định tội ác của Marx:" 
“Thủ phạm gây ra đại bi kịch này cho nhân loại, chính là Marx!” 
- " Chính Marx là thủ phạm đã gây ra mọi sai lầm và tội ác"
- "Marx là nhà tiên tri khốn nạn  đã lừa đảo, lấy cái khát vọng thế giới đại đồng không có bóc lột làm bả lừa dối công nông! " (Tri Vũ. Ch.XIV)
 Đến ngày nay, Trung Cộng xâm chiếm biển Đông, phá hoại môi trường Việt Nam trong khi bọn đầu gấu ninh bợ, bênh vực Trung Cộng, ra lệnh cho công an đàn áp nhân dân, đã cho dân ta thấy mặt thật quỷ sứ cộng sản phản quốc hại dân. Nhìn chung cộng sản Nga, Trung Cộng, Cuba, Việt Nam chỉ là những ban  chèo lố bịch, vô nghĩa. Triết học Phi lý soi rõ cho ta thấy cộng sản hứa hẹn, hành động cho một thiên đường tại thế nhưng họ không bao giờ tìm thấy. Triệu Tử Dương mai mỉa:"Phải trăm năm năm nữa Trung Quốc mới đi đến cộng sản! Một trăm năm hay một ngàn năm, con người sẽ không bao giờ thấy thiên đường cộng sản  mà chỉ thấy địa ngục và những bãi tha ma đầy máu xưong vung vải. Đó là tính chất phi lý của chủ nghĩa cộng sản.
 

No comments: