Saturday, March 18, 2017

NGUYỄN THIÊN-THỤ *DANH NHÂN TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI

 

DANH NHÂN TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI 

NGUYỄN THIÊN -THỤ

Trung Quốc là một quốc gia lớn rộng và có một nền văn minh lâu đời. Có hàng ngàn, hàng vạn danh nhân. Nhưng ở đây, tôi chỉ đề cập đến một vài người mà sử sách Việt Hoa ca tụng, nhưng tôi lại có cái nhìn khác. Tôi chỉ viết về những người xưa, không đề cập đến những người hiện đại, là những người cộng sản gian ác như Mao Trạch Đông, Đặng Tiểu Bình. . . .vì những người này thiên hạ đã biết tường tận bản lai diện mục của họ.

I . BÁ DI, THÚC TỀ

Hai ông Bá Di, Thức Tề đươc coi là biểu tương của lòng ái quốc, hành động của tôi trung không thờ hai chúa, người ẩn sĩ ở chốn rừng sâu, thanh cao, trong sạch không thèm hưởng vinh hoa phú quý, không cộng tác với quân thù. Trong Luận Ngữ, Khổng Tử nhiều lần ngợi khen hai ông Bá Di Thúc tề:
.逸民:伯夷、叔齊、虞仲、夷逸、朱張、柳下惠、少連。子曰:「不降其志,不辱其身,伯夷叔齊與?」
.Dật dân , Bá Di , Thúc , Ngu Trọng , Di Dật , Chu Trương , Liễu Hạ Huệ , Thiểu Liên . Tử viết , bất hàng kỳ chí , bất nhục kỳ thân , Bá Di Thúc dữ【 chương 18.8】 . ( Đời xưa trong thời Thương, Chu ) những người ẩn dật thì có Bá Di, Thúc Tề, Ngu Trọng, Di Dật, Châu Trương, Liễu Hạ Huệ , Thiếu Liên. Khổng Tử nói:"(Những người này ) không nhụt chí khí, không phải chịu nhục thân chỉ có hai ông Bá Di, Thúc Tề).

Trong Luận Ngữ, Tử Cống hỏi Khổng Tử: "Bá Di, Thúc Tề là người thế nào?"
Khổng tử nói: " Là người hiền đời xưa.(Ch. VII,14)
Trong Côn sơn ca, một bài thơ ca tụng cảnh nhàn, đề cao khí tiết bậc cao nhân ẩn dật, Nguyễn Trãi viết:

君不見董卓黃金盈一塢
元載胡椒八百斛
又不見伯夷與叔齊
首陽餓死不食粟

Quân bất kiến Đổng Trác hoàng kim doanh nhất ổ ?
Nguyên Tải hồ tiêu bát bách hộc ?
Hựu bất kiến Bá Di dữ Thúc Tề
Thú dương ngạ tử bất thực túc ?

(Ngươi thấy không, Đỗng Trác vàng chất thành đống,
Nguyên Tải hồ tiêu chứa mấy kho.
Còn Bá Di, Thúc Tề chết đói ở Thủ Dương không thèm ăn cơm cháo nhà Chu.)


Bá Di , và Thúc Tề là hai anh em ruột, con vua nước Cô Trúc, là một quốc gia chư hầu nhà Thương trong lịch sử Trung Quốc. Khi vua cha sắp mất, truyền ngôi lại cho Bá Di, Bá Di không chịu nhận, Thúc Tề cũng không chịu nhận. Hai ông là người con bất hiếu, người dân bất trung vì không tiếp nối sự nghiệp của cha, phế bỏ công việc phục vụ đất nước.

Nếu không muốn làm vua, tham gia chính trị thì nên chọn người khác làm vua, chứ sao lại bỏ mà đi, tạo ra một lỗ hổng chính trị và gây xáo trộn cho đất nước? Lúc bấy giờ nhà Thương cai trị, vua Trụ tàn ác, thì hai ông lại phải cố gắng đem lại an bình, thịnh trị cho đất nước, sao lại phế nước, bỏ dân mà trốn đi? Họ là con bất hiếu, tôi bất trung, là kẻ đào ngũ!

Sau khi hai ông bỏ đi, người trong nước bèn lập Á Bằng (亞憑) - người em của Bá Di và anh của Thúc Tề lên ngôi. Sau đó hai ông nghe tin Cơ Xương chiêu hiền đãi sĩ, hai ông theo phò tá Tây Bá Cơ Xương. Sau Cơ Xương mất, em là Cơ Phát đem quân đánh vua Tru, hai ông ra trước ngựa mà can gián rằng:
Cha chết không chôn lại gây việc can qua có thể gọi là hiếu không? Là bầy tôi giết vua có thể gọi là nhân không?

Cơ Phát không nghe, thủ hạ Cơ Phát muốn giết hai ông, Khương Tử Nha ngăn lại, sau hai ông bỏ đi . Cơ Phát giết Trụ, thâu phục nước Cô Trúc, lập nhà Chu. Hai ông không ăn thóc nhà Chu , bỏ lên núi Thủ Dương hái rau vi ăn qua bữa. Rau vi không thể nuôi sống được, cuối cùng ông và Thúc Tề đều chết đói tại núi Thú Dương. Trước khi qua đời, Bá Di và Thúc Tề làm bài ca:
Lên núi Tây chừ hái rau vi,
Lấy bạo đổi bạo chừ có hay chi?
Thần Nông, Ngu, Hạ chìm cả rồi,

ta biết nơi nào đi

Hai ông quả là vô trí, hành động mâu thuẫn. Làm vua không muốn lại muốn làm tôi. Đã ẩn dật, đã không thích chính trị sao lại ra phò Vũ Vương, Văn Vương? Đã theo Vũ vương, Văn Vương tất là phải biết Vũ vương, Văn vương muốn diệt Trụ và cai trị nước Cô Trúc của hai ông. Hơn nữa, vua Trụ tàn ác, tại sao lại còn can ngăn việc tiêu diệt Trụ vương? Thế có phải là tôi trung không? Có phải là bậc hiền triết, là kẻ thanh cao không?

II QUẢN TRỌNG
Quản Trọng 管仲 ( 725 TCN - 645 TCN) là một chính trị gia, nhà quân sự và nhà tư tưởng Trung Quốc thời Xuân Thu (685 TCN). Tên ban đầu của ông là Di Ngô (夷吾). Trọng là tên hiệu. Được Bảo Thúc Nha tiến cử, Tề Hoàn Công phong ông làm Tể tướng năm 685 TCN. Ông có câu nói để đời:
"Nhứt niên chi kế mạc như thụ cốc
Thập niên chi kế mạc như thụ mộc
Chung thân chi kế mạc như thụ nhơn
Nhứt thu nhứt hoạch giả, cốc dã
Nhứt thu thập hoạch giả, mộc dã
Nhứt thu bách hoạch giả, nhơn dã"
"Kế một năm, chi bằng trồng lúa
Kế 10 năm, chi bằng trồng cây
Kế trọn đời, chi bằng trồng nguời.
Trồng một, gặt một, ấy là lúa
Trồng một, gặt mười, ấy là cây
Trồng một, gặt trăm, ấy là người"
Thời loạn lạc, một số gia đình,, phe phái ,tôn giáo đều có sự chia rẽ, hoặc xung đột. Như thời chúa Trịnh, Ngô Thời Sĩ theo phe Trịnh Khải, con là Ngô Thời Nhiệm theo phe Đặng Thị Huệ, xử án các bạn bè của Ngô Thời Sĩ cho nên Ngô Thời Sĩ tự tử mà chết.Thời chiến tranh Việt Nam, Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh theo Pháp nhưng con Phạm Quỳnh và con Nguyễn Văn Vĩnh theo Cộng sản. Song thân của Trần Đức Thảo , Nguyễn Mạnh Tường và Trương Như Tảng cũng đau lòng vì có những đứa con thông minh, tài giỏi thế mà chạy theo cộng sản!
Nhưng cũng có những cá nhân, những đoàn thể luôn chạy theo kẻ mạnh, dựa hơi kẻ mạnh để uy hiếp, bóc lột nhân dân. Khi lực lượng bạn thù mạnh ngang nhau, họ chơi cả hai mặt "tài xỉu", nghĩa là họ chia ra hai phe ,kẻ theo phe này, người theo phe kia để cả hai có thể tồn tại, hoặc ít nhất chỉ mất một nửa. Họ chủ trương "bắt cá hai tay", hoặc sẵn sàng đổi trắng thay đen nếu có lợi cho họ bất chấp đạo nghĩa! Và đó cũng là trường hợp Quản Trọng.
Quản Trọng và Bảo Thúc Nha là hai người bạn thân. Quản Trọng theo phò hoàng tử Củ, Bảo Thúc Nha theo phò hoàng tử Tiểu Bạch. Cả hai ước hẹn ai phò chúa nấy nhưng khi đắc thời thì người nọ sẽ kéo người kia cùng về một phe. Lúc bấy giờ nước Tề rất loạn, các hoàng tử đều lánh nạn sang các nước khác để chờ thời cơ. Quản Trọng hộ tống hoàng tử Củ tới nước Lỗ, còn Bao Thúc Nha hộ tống hoàng tử Tiểu Bạch tới nước Lã. Không bao lâu,vua Tề bị giết, hoàng tử Củ và Tiểu Bạch bèn cấp tốc lên đường về nước để giành ngôi.

Khi hai đoàn gặp nhau, Quản Trọng đã bắn một phát tên vào Tiểu Bạch, Tiểu Bạch giả chết rồi vào kinh đô làm vua còn được gọi là Tề Hoàn Công. Khi lên làm vua, Tề Hoàn Công liền bảo nước Lỗ giết hoàng tử Củ và bắt giam Quản Trọng.

Tề Hoàn Công muốn Bao Thúc Nha làm thừa tướng. Bao Thúc Nha từ chối mà đề cử Quản Trọng đang bị giam ở nước Lỗ. Tề Hoàn Công nói rằng: "Người này bắn ta một tên, làm sao có thể dùng hắn được? Đợi hắn về , ta sẽ xé hắn ra trăm nghìn mảnh." Bào Thúc Nha đáp "Dĩ nhiên vì công tử Củ, ông ta đã bắn bệ hạ, bây giờ nếu bệ hạ trọng dụng ông, ông sẽ vì bệ hạ mà đem mũi tên đó bắn cả thiên hạ!"
Tề Hoàn Công rất khâm phục Quản Trọng, hơn nữa ông còn rất thẳng thắn, ông nói với Quản Trọng rằng: "Trẫm có tật hơi thích nữ sắc, điều này có tai hại gì đối với quốc gia không?" Quản Trọng trả lời: "Không, ham mê nữ sắc không gây tai hại gì cho quốc gia, không nghe lời khuyên của những bậc thánh hiền mới có hại cho quốc gia và thiên hạ."
Ông nói cũng đúng, nếu một vị quốc vương không có khuyết điểm gì, thì sẽ không dùng người tốt, quốc vương điều gì cũng biết, mọi người sẽ không còn việc gì để làm nữa!
Bàn về Quản Trọng, Khổng Tử khen ngợi:
Người ấy có công ơn với dân Tề cho nên dân Tề bị Tề Hoàn Công lấy ba trăm mẫu đất Biền phong cho Quản Trọng mà dân chẳng oán than! (Luận Ngữ ,III, 22)

Có ai trong đời bị cướp ruộng đất mà vui vẻ ư? Chẳng qua ngày xưa người ta sợ tù tội nên phải im miệng đó thôi. Ngày nay tại các nước có những trường hợp trưng thu đất đai thì nhà nước phải đền bù xứng đáng chứ không phải như Việt Cộng một thước bán một ngàn đô chỉ trả cho dân một đô, hoặc cướp sạch không đền bù gì cả! Không biết ngày xưa vua chúa hành động như thế nào khi chiếm đất đai của nhân dân?

Trong Luận Ngữ, thiên Bát Dật, Khổng tử cũng chê Quản Trọng không biết lễ nghĩa và tiêu xài hoang phí như xây đài Tam Quy, trong khi ra lệnh cấm các quan kiêm nhiều chức vụ. Trái lại Nguyễn Du ca tụng Quản Trong, khen ngợi đài Tam Quy:

管仲三歸臺
舊臺湮沒草離離
曾以桓公霸一時
郡縣城中空九合
莓苔石上記三歸
在朝巧與君心合
沒世終憐相業卑
喜值聖朝公覆燾
往來臺下雜華夷Link
Quản Trọng Tam Quy đài
Cựu đài nhân một thảo li li
Tằng dĩ Hoàn Công bá nhất thì
Quận huyện thành trung không cửu hợp
Môi đài thạch thượng kí Tam Quy
Tại Triều xảo dữ quân tâm hợp
Một thế chung liên tướng nghiệp ti
Hỉ trị thánh triêu công phúc đảo
Vãng lai đài hạ tạp Hoa, Di.Vịnh Đài Tam Quy của Quản Trọng

Đài cũ ngày xưa cỏ sắc thanhGiúp Tề bá nghiệp đã nên danh.
Trong thành chín bận đồng minh hội,
Trên đá Tam quy rêu phủ xanh.

Điện tía thênh thang vua quý mến,
Sử xanh dè bỉu nghiệp mong manh.
Thánh hoàng rộng lượng ban ân đức,

Di Hán vui chơi chốn thị thành.

Chê như vậy là Khổng Tử chỉ thấy cái lỗi nhỏ của Quản Trọng mà không thấy cái lỗi to tày đình của Quản Trọng. Khổng Tử chủ trương Trung hiếu, nhân nghĩa mà lại không nói đến hành động bất trung của Quản Trọng. Chỉ có Tử Lộ và Tử Cống là phê phán đúng con người của Quản Trọng.

Trong Luận Ngữ, Tử Lộ hỏi Khổng Tử: Vua Hoàn công giết công tử Củ ( em Hoàn Công vì tranh quyền, bề tôi của công tử Củ có Thiệu Hốt và Quản Trọng). Thiệu Hốt tự tử, còn Quản Trọng không tự tử (sau làm tể tướng cho Hoàn công nữa). Như vậy, bảo (Quản Trọng) là nhân sao được?
Tử Cống nói: " Quản Trọng chẳng phải bất nhân sao? Hoàn công giết công tử Củ, chẳng chết theo chúa lại theo phò Hoàn công!
Khổng Tử bênh vực Quản Trọng:
Khổng Tử đáp: "Tề Hoàn công thống nhất chín nước chư hầu mà không dùng binh đao. Đó là do sức Quản Trọng. Thế chẳng đáng là bậc nhân nghĩa sao? .. . Quản Trọng làm tể tướng cho Hoàn Công, giúp Hoàn công thành bá chủ chư hầu. Chính nhờ tài cai trị mà thiên hạ được yên ổn, dân chúng hưởng ân đức. Nếu không có Quản Trọng thì chúng ta phải gióc tóc, vắt vạt áo bên tả như giống mọi rợ. Sao lại như kẻ thất phu vì lòng trung nhỏ hẹp mà tự treo cổ bên ngòi lạch, thành ra đời chẳng ai biết mình sao? (Luận Ngữ, chương XIV)
Khổng Tử bênh vực không đúng vì chiến trận nào, không giết nhiều thì cũng giết it, và đã xâm lược nước người thì sao là nhân được. Quản Trọng phò Tề Hoàn Công thống nhất thiên hạ tức là ông đã phò tá một tên đế quốc xâm lược, sao gọi là nhân! Ông chỉ là kẻ vụ lợi, tham quyền quý công danh, không có lòng trung nghĩa.

III.KHỔNG MINH

Ai cũng khen ngợi Khổng Minh là kẻ đa mưu túc kế. Đào Duy Từ viết Ngọa Long Cương có đoạn ca ngợi Khổng Minh :
Binh quyền việc những đương tay
Lâm cơ thể thắng, một này địch muôn.
Trên bày Bác Vọng thiêu đồn
Bạch hà dung thuỷ, Hầu Đôn chạy dài.
Bốn cờ biết mấy sức trai,
Có tài thiện chiến, có tài tâm công.
Dạ nghiêm truyền dựa vịnh song,
Mười muôn tên Ngụy nộp cùng Chu Lang.
Hỏa công dâng chước ra hàng,
Gió tàn Xích Bích thổi tàn Ngụy binh
Hoa dung khiến tướng phân doanh.
Gian cùng sớm đã nớp mình vỡ gan…Hội Tao Đàn của Lê Thánh Tông có bài vịnh Gia Cát Lượng:
Chốn Ngọa Long cương chí thú yêu,
Thấy nghiêng vạc Hán phải ra điều.
Khua Ngô vỡ mật tan như ruốc,
Đuổi Ngụy chồn gan giạt tựa bèo.
Trỏ vẫy quạt lông cầm một cán,
Nhiệm màu túi gấm đủ trăm điều.
Sức người rứt đổi thì dường ấy,
Tộ Hán song còn có bấy nhiêu!
Trong văn học dân gian cũng lưu hành giai thoại :
Có một người học trò nhà nghèo, một hôm hết tiền ăn phải đem quần áo đến cầm ở nhà một ông quan. Ông này bảo : - Có thực là học trò thì tôi ra cho vế câu đối này, nếu đối được thì tôi sẽ cấp tiền cho ăn học”.
Rồi ông ta đọc luôn : - Quần tử cố cùng, Quận tử cùng, quân tử cố.

Nghĩa là: Người quân tử bền lòng lúc cùng, người quân tử cùng, người quân tử bền lòng. Người học trò đối ngày rằng : - Khổng Minh cầm túng, Khổng Minh túng, Khổng Minh cầm.

Nghĩa là : Ông Khổng Minh bắt, tha, ông Khổng Minh tha, ông Khổng Minh bắt. Lấy tích “Khổng Minh thất cầm thất túng” bảy lần bắt bảy lần tha Mạnh Hoạch để dùng lượng khoan hồng thuyết phục kẻ địch quy thuận. Ông quan khen phục câu đối vừa có nghĩa đen vừa có nghĩ bóng, vừa đối chữ, vừa đối tiếng (cùng, túng, cầm, cố), bèn cấp tiền cho anh ta ăn học.

Lịch sử Trung Quốc đời Tam quốc khởi đầu do Trần Thọ viết khoảng năm 280, nhan đề là Tam quốc chí, sau có nhiều người viết song quyển Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa của La Quán Trung ra đời khoảng thế kỷ XIV thì rất phổ biến , nội dung ca tụng Khổng Minh hết sức, trong khi các tài liệu khác thì có nhiều ý kiến sai biệt.
Cứ theo Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa của La Quán Trung, chúng ta thấy Khổng Minh là bậc quân sư tài ba nhưng thực tế ông cũng như con người thường khác, có thành có bại, có ưu điểm và cũng có khuyết điểm chứ không phải là thần thánh . Ông là quân sư toàn quyền quyết định mọi sự cho nên những thất bại do các tướng lĩnh, ông vẫn chịu trách nhiệm.(Nguyễn Trãi không có toàn quyền vì trên ông có Lê Văn Linh).

1.QUÂN SỰ THẤT BẠi
Thất thủ Kinh Châu
Năm 219, Quan Vũ trấn thủ Kinh Châu đem quân tấn công Tào Tháo và chém Bàng Đức, nhưng không để ý Tôn Quyền đang có âm mưu lấy lại Kinh Châu. Kết quả Kinh Châu bị mất và Quan Vũ, Quan Bình (con Quan Vũ) đã bị giết chết. Nếu Khổng Minh để ý đến Đông Ngô thì đã không ra cớ sự.
Thất bại Hồ Đình, Tỷ Quy
Mùa hạ năm 221, vừa lên ngôi Lưu Bị đã muốn lấy lại Kinh Châu và năm đó, mượn danh nghĩa trả thù cho Quan Vũ nên đã tuyên bố tuyệt giao với Đông Ngô, đem đại quân tiến đánh Tôn Quyền, vi phạm sách lược “liên Ngô chống Tào” của Gia Cát Lượng. Gia Cát Lượng biết rõ đánh Ngô hại nhiều hơn lợi, nhưng không can ngăn nổi Lưu Bị. Cũng không thể trách Lưu Bị, Đông Ngô giết Quan Vũ, không lẽ Lưu BỊ vui vẻ hòa hiếu với Tôn Quyền! Tình thế như vậy, Khỗng Minh phải tìm kế sách chống Đông Ngô, khi mà ông bó tay tức là ông chấp nhận mình là kẻ bất tài!

Không theo kế Nguỵ Diên chiếm Trường An

Khi Khổng Minh ra Kì Sơn lần thứ nhất, Nguỵ Diên đã hiến một kế là đi theo hang Tý Ngọ chỉ một trận là chiếm được toàn bộ Tây Trường An (Hạ Hầu Mậu trấn giữ vốn là tướng Ngụy vô mưu). Nhưng Gia Cát Lượng nhất quyết không nghe cho nên thất bại.
Làm mất Nhai Đình
Nhai Đình là yết hầu của Hán Trung. Hán Trung là địa bàn chiến lược của nước Thục. Gia Cát Lượng hiểu rất rõ tầm quan trọng của Nhai Đình, nên khi cử Mã Tốc trấn giữ, đã bắt ông này phải viết bản quân lệnh, nếu để mất là phải chém đầu.
Sự cẩn thận này không thừa, nhưng điều đó phỏng có ích gì khi Gia Cát Lượng đã nhìn người không đúng. Trước khi chết, Lưu Bị từng dặn Khổng Minh rằng : “Mã Tốc là kẻ lẻo mép, không có thực tài, quyết không được trọng dụng”. Vậy nhưng Gia Cát Lượng không nghe, vẫn trao yết hầu vào tay kẻ chỉ biết tin kẻ thân cận, nịnh hót mà không có thực tài.
2. CHÍNH TRỊ SAI LẦM
Tự làm suy yếu đất nước
Với tham vọng lớn thống nhất Trung Nguyên, Gia Cát Lượng 6 lần ra Kỳ Sơn đều thất bại, do không tích trữ được quân lương, của cải, khiến đất nước suy kiệt nhanh chóng và lòng dân than oán.
Phò tá kẻ bất tài hoang dâm
Lưu Bị trước khi chết đã uỷ thác việc nước cho Gia Cát Lượng. Lưu Thiện nối ngôi Thục đế mới 17 tuổi không có tài, Gia Cát Lượng phải lo lắng toàn cục, chỉnh đốn nội bộ và chấn chỉnh lực lượng. Sau này Lưu Thiện hoang dâm vô độ, tin dùng nịnh thần, Gia Cát Lượng vẫn tân tụy trung thành, và không có phương cách bảo vệ và xây dựng xứ sở. Kết quả Thục suy yếu rồi sau bị diệt vong. Điều này chứng tỏ người có tài chưa chắc đã dạy được kẻ bất tài, người mưu trí chưa chắc xoay vần được việc nước.
3. QUAN ĐIỂM LẬP TRƯỜNG KHÔNG KIÊN ĐỊNH
Khổng Minh không sáng suốt, không kiên định lập trường. Ông đã biết thế nước chia ba sao lại còn nghe lời cầu khẩn của Lưu Bị mà xuống núi . Như vậy là ông ưa nịnh hót, không kiên định lập trường của mình là xuất thế tiêu dao. Ông giỏi nhâm độn, há không biết Lưu Bị đến hay sao?Nếu biết trước, tại sao ông không lánh đi, dời đền một địa điểm khác thật xa, thật kín đáo? Dù có gặp Lưu Bị, ông cũng phải giữ lập trường sao lại để vướng trần tục để cuồi cùng thất bại? Tay ông dấy máu mà nào được gì đâu? Như vậy có phải ông tài giỏi, biết quá khứ vị lai, và có tài thần thông biến hóa, di sơn đảo hải?
4. TÍNH TÌNH NHỎ NHEN, ĐỐ KỴ
Với Ngụy Diên, Gia Cát Lượng cũng chứng tỏ sự đố kỵ của mình. Vừa mới gặp Ngụy Diên, Gia Cát Lượng đã thét quân chém đầu vì lý do : thuộc hạ mà phản chủ (trong khi đó, Gia Cát Lượng cũng thu nạp biết bao hàng tướng với lý do : từ bỏ chỗ tối về với chỗ sáng).Rồi sau đó Gia Cát Lượng liên tiếp trù dập Ngụy Diên. Trước khi chết, ông còn bày kế cho thuộc hạ giết Ngụy Diên.
Khổng Minh cho rằng Ngụy Diên có xương sọ đàng sau (hậu chẫm) nở lớn, nhô cao, đó là tướng phản chủ! Một nhà tướng số phải sờ xương đầu và xem xét các tướng khác ở bên ngoài lẫn bên trong kỹ lưỡng rồi mới xét đoán. Con người rất phức tạp, có tướng tốt lẫn tướng xấu, it ai hoàn toàn tốt hay hoàn toàn xấu. Khổng Minh có làm như vậy không?Có xem kỹ lưỡng không?Và ông có nhiều kinh nghiệm không hay chỉ biết qua sách vở? Nhiều sách tướng sau này theo lời Khổng Minh mà chép rằng người có hậu chẩm là phản chủ, Thật ra, có xương sọ đàng sau nhô lên chưa chắc là tướng phản chủ. Sách tướng có nói "Phú sinh thịt, quý sinh xương" (1). Bậc thiếu niên, trung niên có xương hậu chẫm nhô lên là tướng quý. Người có xương sọ nở ở hậu não là người thông minh, thẳng thắn, cương quyết chống đối bạo quyền chứ không phải phản chủ. Vì họ trung trực, chống bọn gian ác cho nên một số tướng pháp gia đã vội cho là phản chủ. Nếu chống đối bạo quyền là phản chủ thì Chu Võ Vương chống Trụ, Chu Văn Vương giết Trụ là phản thần hay minh quân? Thành Thang giết vua Kiệt là phản thần hay minh quân?
Ngày xưa, đàn ông để tóc dài, các tướng lại đội mũ, mặc giáp trụ, làm sao Khổng Minh biết mà kết tội Ngụy Diên có tướng phản chủ?Về phương diện pháp luật, muốn xứ ai phải có bằng chứng. Người ta chưa có hành động gì mà đã kết tội tức là Khổng Minh độc tài, đố kị , thiên kiến và tàn ác.
Với Bàng Thống, ông cũng đố kị muốn Bàng Thống chết cho rảnh mắt để ông độc tôn, độc quyền. Nếu có lòng nhân ái, quý trọng người hiền, ông phải giúp đỡ Bàng Thống hơn là đưa thư cảnh báo. Đưa thư cảnh báo chính là giục Bàng Thống đi vào chỗ chết. Chính Bàng Thống hiểu rõ lòng dạ Khổng Minh nên than" Khổng Minh sợ ta cướp công!" Khi Bàng Thống xuất quân, Khổng Minh đem những tướng bậc hai, trong khi Quan, Trương, Triệu ở nhà với ông. Tại sao Trương Niệm phục binh ở gò Lạc Phụng? Phải chăng do người của Khổng Minh cố ý tiết lộ tin tức? Một rừng không thể chứa hai cọp. Làm sao mà Võ Nguyên Giáp chung sống hòa bình hòa hợp hòa giải với Nguyễn Sơn và Nguyễn Bình?

Người ta đề cao Khổng Minh quá đáng. Ông cũng giỏi nhưng không phải là người hô phong hoán vũ. Ông cũng có thành, có bại, và những tính xấu của con người nhỏ nhen, đố kị, và tàn ác. Ông cũng như Lưu Bị, Quan công, Trương Phi ỷ mình sức mạnh có thể xoay đổi cơ trời nhưng họ đã thất bại vì cuối cùng cơ nghiệp Lưu Bị cũng suy vong. Ban đầu họ có thể có lý tưởng mưu giết kẻ gian ác Tào Tháo nhưng rồi lại phò kẻ tham dâm, bất tài Lưu Thiện.
Ôi, ta nhớ bài thơ của Trần Độ:
Những mơ xoá ác ở trên đời
Ta phó thân ta với đất trời
Ngỡ ác xóa rồi thay cực thiện
Ai hay, biến đổi, ác luân hồi.

IV. QUAN CÔNG

6

Quan Vũ (關羽, 162? - 220), cũng được gọi là Quan công (關公), tự là Vân Trường (雲長), Trường Sinh (長生), là anh em kết nghĩa với Lưu Bị và Trương Phi, và sau là một vị đại tướng trong triều đình Lưu Bị. Hình tượng của ông đã được tiểu thuyết hóa trong Tam quốc diễn nghĩa của La Quán Trung và sau này được phổ biến trong văn học nghệ thuật dân gian như kịch, chèo, tuồng, phim ảnh v.v Từ thời kỳ nhà Tùy (581-618), ông trở thành thần linh được nhân dân TrungQuốc kính trọng, thờ phụng.

Trong Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa, La Quán Trung chép thơ người đời khen ngợi Quan Vân Trường:
Cuối Hán ai là giỏi?
Vân Trường mấy kẻ tày!
Thần oai, võ đã mạnh.
Nho nhã, văn cũng hay.
Lòng ngay tỏ như kính,
Khí nghĩa cao ngất mây.
Nghìn thu danh tiếng để
Không những nhất đời nay!

Lại có thơ rằng:

Anh hùng còn nhớ Giải Lương xưa,
Lẫm liệt Quan Công tiếng đến giờ.
Huynh đệ một ngày tình nghĩa nặng,
Đế vương muôn kiếp khói hương thờ.
Gương trung vằng vặc, soi trời bể,
Khí nghĩa ầm ầm, nổi gió mưa.
Đình miếu đến nay đâu chả có.
Trải bao nhiêu tháng vẫn trơ trơ!Vua Lê Thánh tông và hội Tao Đàn có thơ vịnh:QUAN THÁNH

Hây hây chính khí rạng non đông,
Ba nước danh lừng một tướng công.
Da táo hây hây con mắt phượng,
Mái son tôn tốt cái râu rồng.
Vườn đào chừ thuở nguyền trăng bạc
Ải tía đòi phen quét bụi hồng
Mường tượng oai nhan tranh mạc để
Ngửa trông càng kính, kính càng trông.
QUAN THÁNH
Phó
cho làm tướng lãnh Kinh châu,
Danh giá đà nên đấng trượng phu.
Chỉ thanh long tan đất Hứa
Giong xich thố bạt sông Ngô.
Tôn Quyền mấy phát buồng gan héo,
Tào Tháo ghe phen trái mật khô
Chẳng những anh hùng nghe kính phục,
Vẹn gồm hai chữ mấy quy mô.


Theo thiển kiến, người ta thần thánh hóa ngài quá đáng. Người ta tôn kính ngài là người đạo đức trong tích Quan công phò nhị tẩu, nhưng thức khuya mới biết đêm dài, mới một hai đêm sao đã biết ai đạo đức, không tham dâm? Ngoài ra ông cũng phạm nhiều khuyết điểm chung của con người:
1. Ông đã hàng và phò Tào Tháo chứ không quyên sinh cho trọn tiết. Việc này đa số ca tụng Quan Công biết đường tiến thoái, biết ẩn nhẫn, nhưng trong với một chế độ bạo tàn và vua chúa khắc nghiệt, Quan Vân Trường khó thoát tội hàng giặc, làm tay sai cho quân địch.
2. Ông kiêu mạn: Khi được Lưu Bị phong tước, ngang hàng với Hoàng Trung thì ông tức giận, không nhận phong.
3. Ông phạm quân lệnh, không theo lệnh Lưu Bị hòa cùng Đông Ngô.
4. Ông tự cao, tự đại, khinh người đến nỗi chết về tay Lục Tốn là một tướng trẻ vô danh.
5. Chuyện dân gian cho rằng sau này Quan Công hiển thánh, rằng Quan Công cầm đầu xuống kiện với đức Phật Tổ về việc Lục Tốn cắt đầu ông. Phật Tổ cười mà bảo: "Ông mất một cái đầu mà đi kiện cáo, Thế ông đã giết hằng trăm, hàng ngàn người thì sao?"Cuối cùng ông giác ngộ mà đi tu.

Quan công uy vũ, ra trận luôn đi trước. Đó là ưu điểm của ông. Về đạo hạnh, ông chỉ là thường nhân như mọi người chưa phải là thánh.

V. NHẠC PHI
Nhạc Phi 岳飛 (1103 – 1142), tên chữ là Bằng Cử 鵬舉; là nhà quân sự nổi tiếng trong lịch sử Trung Quốc, danh tướng chống quân Kim thời Nam Tống. Trước sau tổng cộng quân của ông đã đánh nhau với quân Kim 126 trận và toàn thắng. Ông là một trong những vị tướng nổi tiếng nhất trong lịch sử Trung Quốc, chức tước của ông trước khi bị giết là Đại nguyên soái. Người Trung Hoa luôn lấy Nhạc Phi làm gương, đời đời kính nhớ người con chí hiếu, cũng là một người anh hùng dân tộc, một bậc sĩ phu dũng liệt trung thần.

Lúc bấy giờ quân Kim vượt Hoàng Hà, tiến sát tới Biện Kinh (Khai Phong), kinh đô nhà Tống. Quá hoảng sợ, Huy Tông thoái vị ngày 18 tháng 1 năm 1126 để nhường ngôi cho con trai trưởng Triệu Hoàn (tức Hoàng đế Tống Khâm Tông (宋欽宗). Không vào Khai Phong đuợc, quân Kim rút lui, và sau đó năm 1127, quân Kim lại quay trở lại phương Nam , vào được thành Khai Phong, Huy Tông, Khâm Tông, tôn thất cũng như bách quan của Triều đình cùng hậu cung đã bị quân Kim bắt giam rồi đưa lên Bắc Mãn châu giam cầm.




Tuy nhiên, một trong số những người con trai của Huy Tông là Triệu Cấu (Hoàng tử thứ chín) đã kịp chạy trốn về miền Nam, nơi mà sau nhiều năm nỗ lực, ông đã có thể thành lập nhà Nam Tống, trong đó ông là vị Hoàng đế đầu tiên của nhà nước này, tức Tống Cao Tông (宋高宗).

Nhạc Phi làm tướng, đưa quân đánh Kim Ngột Truật và nhiều lần đại thắng. Thắng lợi này đáng lẽ làm cho Cao Tông vui vẻ, thì lại làm cho ông lo lắng. Ông cùng triều thần không muốn chiến tranh với Kim, mặc cho đất nước bị xâm lăng ở phương Bắc, phương nam ông an ổn là được. Tần Cối và các quan trong triều cùng Cao Tông không muốn kháng Kim, mặc cho quân bắt hai vua và xâm chiếm miền Bắc, sống an vui ngày nào hay ngày đó. Nhưng tội lỗi là do Cao Tông. Nếu Cao Tông quyết chiến và có lòng trung hiếu thì trừng trị bọn gian thần d và dùng hiền thần. Ông tin Tần Cối vì Tần Cối đã hiểu được tâm ý của Cao Tông nên mật hòa với Kim và triệt hạ Nhạc Phi. Kết quả Nhạc Phi bị kết tội phản quốc.

Trước khi chết, ông có bài thơ:
Ngưỡng thiên trường khiếu,
Tráng hoài khích liệt.
Tam thập công danh trần dữ thổ,
Bát thiên lý lộ vân hoà nguyệt.
(...)
Tráng chí cơ xan Hồ lỗ nhục,
Tiếu đàm khát ẩm Hung Nô huyết.

Ngóng trời xa,
Uất hận kêu dài,
Hùng tâm khích liệt.
Ba mươi tuổi cát bụi công danh,
Tám nghìn dặm dầm sương dãi nguyệt.
(...)
Đói, vùng lên ăn thịt giặc Hồ,
Khát, cười chém Hung Nô uống huyết.
(Nam Trân dịch)
Nguyễn Du khi đi sứ Trung Quốc, trong Bắc Hành Tạp Lục có thơ vịnh Nhạc Phi trong bài Nhạc Vũ Mục mộ 岳武穆墓 (Mộ Nhạc Phi) :

Nguyên văn chữ HánPhiên âm Hán ViệtDịch nghĩa
中原百戰出英雄
丈八神鎗六石弓
相府已成三字獄
軍門猶惜十年功
江湖處處空南國
松柏錚錚傲北風
悵望臨安舊陵廟
栖霞山在暮煙中
Trung nguyên bách chiến xuất anh hùng
Trượng bát thành thương lục thạch cung
Tướng phủ dĩ thành tam tự ngục[2]
Quân môn do tích thập niên công[3]
Giang hồ xứ xứ không Nam quốc
Tùng bách tranh tranh ngạo bắc phong
Trường vọng Lâm An[4] cựu lăng miếu
Thê Hà[5] sơn tại mộ yên trung
Bậc anh hùng xuất hiện trong trăm trận ở Trung Nguyên
Thương thần dài trượng tám, cung nặng sáu thạch
Ở phủ tướng đã khép vào tội "ba chữ"
Nơi ba quân còn tiếc công mười năm chiến đấu
Sông hồ chốn chốn khắp Nam Tống
Cây tùng cây bách hiên ngang trước gió bắc
Buồn trông lăng miếu cũ ở Lâm An
Núi Thê Hà chìm trong khói chiều

Trung nguyên bách chiến bậc anh hùng
Trận mạc xông pha thương với cung.
Tam tự tội danh đà định đoạt,
Thập niên chiến trận ắt tiêu vong.
Một triều Nam Tống mù sông núi,
Mấy đợt Bắc phong rạng bách tùng.
Lăng miếu Lâm An trông ủ rủ,
Thê Hà mộ cũ khói sương phong.

Chúng ta công nhận Nhạc Phi quả là tôi trung, làm đúng lời mẹ khắc trên lưng:" 精忠報國 Tĩnh trung báo quốc". ( có sách ghi là "Tận trung báo quốc") Tuy nhiên, trong vai trò đại tướng, và người trung thần, ông thiếu cái trí, cái khôn của nhà chính trị. Vua Cao Tông cũng như bao bọn phản quốc hại dân, chỉ biết quyền lợi cá nhân, không cần quan tâm đến đất nước và nhân dân. Họ có thể cắt đất, nhượng biển, khom lưng quỳ lạy, và đầu hàng nhục nhã để đưọc hưởng cơm thừa canh cặn của kẻ xâm lược.

Vua Cao Tông chiến đấu để làm gì?Chiến đấu để đưa vua cha và vua anh về làm vua ư?Thế thì ông sẽ đi đâu? Một nước không thể hai vua, ba vua. Làm quan, hay bị đày?Bị giết? Đánh Kim quả là bất lợi cho Cao Tông, và cái gai trước mắt chính là Nhạc Phi. Muốn ở ngôi vua dài lâu, Cao Tông phải giết Nhạc Phi. Đó là ý chỉ của Cao Tông. Ý chỉ này được truyền bằng văn bản hay chỉ là khẩu lệnh, hoặc chỉ nằm trong tâm của Cao Tông mà Tần Cối và bọn nịnh thần đọc được.

Ai bảo Tần Cối là gian nịnh. Nếu làm tôi tận tụy phò vua, tuân lệnh vua là trung thần thì Tần Cối là trung thần vì ông làm theo ý muốn vua Cao Tông. Tại sao các sử gia, các bậc nho gia không chỉ trích Cao Tông bất hiếu, bất mục và phản quốc?

Nhạc Phi làm tướng chỉ biết đánh trận mà không hiểu tình hình chính trị và nhân tâm. cho nên chết thảm. Nhạc Phi chỉ có thể lật đổ Cao Tông để cứu nước và cứu hai vua, hoặc theo ý vua Cao Tông mà thoái binh. Nhưng làm trong trường hợp Nhạc Phi, Tần Cối giả chiếu chỉ, tấn binh hay thoái binh có thể bị tội chết. Hai đường đều khó. Ông nên cáo bệnh từ quan thì hơn.

VI. ĐỊCH NHÂN KIỆT, TĂNG QUỐC PHIÊN, LÝ HỒNG CHƯƠNG

Địch Nhân Kiệt 狄仁傑( 630-15/8/700), tự Hoài Anh, còn gọi là Lương Văn Huệ công, là một quan lại của nhà Đường cũng như của triều đại Võ Chu do Võ Tắc Thiên lập ra. Ông từng giữ chức tể tướng thời kỳ Võ Tắc Thiên trị vì.Ông là người làm quan có tiếng là liêm minh. Trong số những người được ông tiến cử có Trương Giản Chi, Hoàn Ngạn Phạm, Kính Huy, Đậu Hoài Trinh, Diêu Sùng. Ông là nhà nho, là trung thần, thế mà ông cúi đầu tuân phục Võ hậu là kẻ dâm ô, tàn ác.

Địch Nhân Kiệt
Tăng Quc Phiên
Lý HồngChương


Tăng Quốc Phiên曾國藩 (1811-1872) tự Bá Hàm, hiệu Điều Sinh, người Tương Hương, tỉnh Hồ Nam, đỗ Tiến sĩ triều Đạo Quang, giữ chức vụ Thị lang các bộ Binh, Lễ, Lại, Hình, đồng thời là một Nho gia lỗi lạc, sau được bổ nhiệm chức Nội các Học sĩ trong Triều đình Mãn Thanh. Ông là tướng lĩnh chỉ huy Tương quân trong cuộc chiến chống quân Thái Bình Thiên Quốc.Lý Hồng Chương 李鴻章(1823-1901), tự là Thiếu Thuyên, người huyện Hợp Thi tỉnh An Huy, xuất thân từ một gia đình giàu có, đậu tiến sĩ đời Đạo Quang đã từng được bổ nhiệm chức Đạo đài tỉnh Phúc Kiến, Tăng Quốc Phiên nghe tiếng Chương đa tài, vời vào làm mạc khách, sau đó tiến cử về triều. Trong cuộc đời quan trường của mình ông đã thành lập Hoài quân tham gia cùng với Tăng Quốc Phiên, Tả Tông Đường trấn áp phong trào Thái Bình Thiên Quốc. Vì có công lao to lớn, ông được bổ nhiệm làm tổng đốc Hồ quảng, tổng đốc Trực Lệ kiêm Bắc dương đại thần, Tổng đốc Lưỡng Quảng, Túc nghị nhất đẳng bá.

Tăng Quốc Phiên và Lý Hồng Chương cả hai người này đều là danh nhân Trung Quốc, là khuôn mặt nổi bật thời Từ Hy thái hậu. Sử sách TrungQuốc tôn trọng hai ông này.Thực ra hai ông này cũng như Địch Nhân Kiệt chỉ vì quyền lợi bản thân, làm tôi tớ cho kẻ gian ác, tham dâm trong khi họ là Nho gia đệ tử và là bậc trí thức đệ nhất.

Cả ba ông này đã khom lưng quỳ lạy những người đàn bà uy quyền và dâm dật . Truyện này khiến chúng ta nhớ những kẻ sĩ trước đây như Hà Như Chi đã cúc cung bái lạy bà Ngô Đình Nhu dù bà chỉ là em dâu tổng thống chứ không phải là nữ hoàng như Võ Tắc Thiên và Từ Hy! Ôi trí thức, ôi anh hùng của Á Đông chúng ta, những kẻ đã ít nhiều theo Khổng Mạnh!

Trong ba ông kể trên, Tăng Quốc Phiên, Lý Hồng Chương cònmang tội cộng tác với người Mãn Thanh là kẻ thù của Hán tộc. Ngay cả hai nhà cách mạng Khang Hữu Vy, Lương Khải Siêu cũng đã làm tôi tớ cho Mãn Thanh.
Than ôi, đa số con người đời vị lợi, chạy theo tiền tài danh vọng, bất chấp lễ nghĩa liêm sỉ. Những vua chúa, hoàng hậu, đại thần, kẻ sĩ, nhà chính trị.. . ăn mặc rực rỡ, miệng hô hào độc lập, xóa bất công xã hội nhưng mấy ai thực sự yêu nước, yêu dân? Họ xưng là nho gia, nhưng Khổng tử nói trong hàng nho giả có nho quân tử và nho tiểu nhân. Quả đúng vậy!


VII. Đạt Ma tổ sư  (đầu thế kỷ VI sau Tây lịch) :
            Theo truyền thuyết thì Ngài là con thứ ba của vua Hương Chí,  Nam Ấn, đã đắc pháp với tổ 27 Bát Nhã Đa La, rồi tuân theo lời khuyên của thầy dong thuyền sang Trung Quốc hoằng dương đạo pháp. Đạt Ma được Lương võ Đế tiếp kiến, và cuộc đối thoại đã diễn tiến như sau :
Vua hỏi :
- Từ ngày tức vị đến nay, trẫm cất chùa chép kinh độ tăng không biết bao nhiêu mà kể, có công đức gì không?
- Đều không công đức!
- Sao không công đức?
- Vì là nhân hữu lậu, chỉ có quả báo nhỏ ở cõi trời, cõi người, như bóng theo hình, tuy có mà không phải thật.
- Thế nào là công đức chân thật?
- Trí thanh tịnh, thể lắng không, đó là chân công đức, công đức ấy không thể lấy việc thế gian mà cầu được.
- Chân lý tột cùng của đạo thánh (đệ nhất thánh nghĩa đế) là gì?
- Trống rỗng hồn nhiên không có gì là thánh.
- Trước mặt trẫm là ai?
- Không biết!
            Lời dạy rõ ràng và dễ hiểu nhưng lại không khế hợp với Lương võ Đế, nên sư bỏ ra đi, đến chùa Thiếu Lâm trong 9 năm trời mà chỉ im lặng diện bích tọa thiền, nên kẻ đương thời gọi ngài là thầy bà la môn nhìn vách (bích quán bà la môn). Bấy giờ, có vị tăng tên Thần Quang, tha thiết cầu xin thỉnh giáo nhưng tổ lạnh nhạt. Thần Quang kiên trì đứng dầm mình trong tuyết chờ đợi cho đến khi tuyết ngập đến gối mới được tổ thương tình lên tiếng :
- Ngươi muốn cầu gì?
- Ngưỡng mong hòa thượng từ bi mở cửa cam lộ rộng độ chúng sanh.
- Diệu đạo vô thượng của chư Phật phải nhiều kiếp tinh cần, khó làm làm được, khó nhịn nhịn được, hàng đức nhỏ trí cùn, lòng đầy khinh mạn, há có thể chịu nỗi nhọc nhằn lao khổ cầu pháp chân thừa sao?
Thần Quang nghe quở liền rút dao bén, chặt đứt cánh tay trái dâng lên tổ. Tổ bèn hỏi:
- Chư Phật lúc phát tâm cầu đạo vì pháp bỏ mình, nay ông chặt tay là để cầu gì?
- Pháp ấn chư Phật con có thể nghe chăng?
- Pháp ấn chư Phật không thể nhờ người khác.
- Nhưng tâm con không an, thỉnh sư an tâm cho con.
- Đưa tâm đây ta an cho!
- Con kiếm mãi mà chẳng thấy tâm đâu cả?
- Thế là ta đã an tâm cho ngươi rồi đó!

Qua những truyện trên, chúng ta thấy Đạt Ma sư tổ quá nhẫn tâm. Việc truyền đạo khác với việc truyền dạy võ công vì phải chọn người hiền thì có thể thực hiện việc trừ hung diệt bạo, còn  dạy kẻ ác sẽ giúp họ làm ác. Việc truyền nghề nghiệp cũng không truyền cho người ngoài vì muốn bảo mật. Còn việc truyền đạo thì không có lựa chọn vì truyền đạo là dạy người ác thành lương thiện. Không có một vị truyền giáo nào lại dã man như vậy. Sao bắt người ta phải quỳ trong tuyết và chặt cánh tay?
Sau 1975, tôi đã đi thăm  vài chùa và nhận thấy một vài sư cũng làm cao, đày đọa,  hạch xách  những người đến xin làm đệ tử. Đó là một tệ đoan cần dứt bỏ.
Sư Đạt Ma trả lời Lương Huệ vương  chỉ đúng một phần. Đạo Phật chú trọng luật nhân quả. Người Phật tử có hai nhiệm vụ: tìm đường giải thoát và cứu nhân độ thế. Người ta tìm đường lên Thiên Đường nhưng Quan Âm Bồ tát từ Niết Bàn xuống trần thế phổ độ chúng sinh. Ngài lắng nghe tiếng kêu than của nhân loại và Ngài ra tay  giúp đỡ. Các vị tổ nêu cao việc bố thí.  Xây chùa, làm đường, sửa cầu là công đức, dù là nhỏ, cũng không thể coi thường. Về mặt tâm lý, Sư là kẻ vụng về trong cácch xử thế. Nhất là khi đã làm nhà truyền đạo thì phải biết lễ nghĩa và thuật đắc nhân tâm.
Lại nữa, Từ Như Lai cho đến Đạt Ma không có việc truyền y bát. Các ông sư chủ trương không thuyết sao lại chấp hữu. Việc bày ra y bát chính là gây ra tranh giành trong cửa Phật thanh tịnh.Tuy nhiên điều này cũng đáng ngờ. Phải chăng đồ đệ Huệ Năng dựng ra truyện truyền y bát đề truyên truyền rằng Huệ Năng chính thống, chính nghĩa?

VII.. HUỆ NĂNG

Nhiều người ca tụng Huệ Năng  nhưng phần lớn e không đúng sự thật vì Pháp Bảo Đàn Kinh không do Huệ Năng viết ra.
Truyện Huệ Năng cho ta thấy hai điều
Truyền y bát.Dường như mục đích chính là tuyên thuyết Huệ Năng được truyền thụ y bát để đánh tan việc dư luận nghi ngờ vai trò lãnh đạo của Huệ Năng. Ban đầu Huệ Năng không có tiếng tăm gì cả, sau nhờ Thần Hội gióng trống khua chiêng mà được người đời để ý:Danh tiếng, uy thế của Thần Tú và đệ tử Phổ Tịch lẫy lừng vang dội và được vua Trung Hoa coi như Quốc sư, đang khi ấy ngài Huệ Năng chỉ là một ông đạo sĩ "man rợ" tối tăm ở biên cương, chỉ có được một số môn đệ người Trung Hoa trung thành sùng bái, trong số đó có một người tên là Thần Hội; chính Thần Hội sau này đã khôi phục lại ngôi vị Tổ sư thứ sáu cho Huệ Năng và rao truyền đạo lý Đốn ngộ Bát nhã của Huệ Năng và đẩy lùi tất cả những trường phái Thiền tông khác đi vào bóng tối của lịch sử. Phải chăng muốn biện minh việc Huệ Năng được “bí truyền” mà các tác giả phải bày ra những chuyện tranh giành, ám toán như sau:–Ta nghĩ trí huệ và kiến giải của ngươi có chỗ dùng, nhưng lo có người ganh ghét mà khởi tâm hại ngươi, cho nên cố ý không nói chuyện nhiều với ngươi. Ngươi có hiểu nỗi khổ tâm của ta không?-"Y bát là đầu mối của sự tranh giành, chỉ truyền đến ông là ngừng, đời sau không nên tiếp tục truyền nữa. Nếu truyền y bát này, sợ rằng sinh mệnh ông giống như sợi chỉ mành treo chuông, bất cứ lúc nào cũng có sự nguy hiểm. Ông lập tức rời khỏi chỗ này, vì tôi e có người hại ông."Đoạn sau đây thì giống như việc tổ sư cầm gậy đập vào đầu Tôn Hành giả:Ngũ Tổ dùng gậy gõ vào cối ba tiếng, rồi bỏ đi. [. . ]. Huệ Năng hiểu rõ ý của Ngũ Tổ muốn Ngài canh ba đêm nay vào phòng Ngũ Tổ. Gõ vào cối ba tiếng là cách nói không lời.Nếu nơi tu hành mà tranh giành, chém giết như vậy thì trách sao đảng cướp?


Dù là Huệ Năng cao hơn Thần Tú, Thần Tú cũng đứng sau Huệ Năng, hai ông đều là thiền sư, học một thầy. Cách đề cao mình và mạt sát người là một điều không nên có trong cửa thiền. Việc tự đề cao không ngờ chi làm hoen ố danh dự hai bên:Giống như đồ đảng của Thần Tú, tâng bốc đưa Thầy mình lên cao, cho rằng Thầy mình sẽ làm Lục Tổ, cho nên dự bị những người đồ đảng tâm phúc ở khắp nơi dò tin tức. Nếu Ngũ Tổ Ðại sư truyền y bát cho ai liền sát hại người ấy.

Tôn giáo nào cũng có những kẻ xấu. Bên Phật có Devadatta, bên Thiên Chúa giáo có Judas . Tác phẩm “ Những Con Chim Ẩn Mình Chờ Chết “ của Colleen Mc Cullough đã nói lên tham vọng của một số nhà tu, mà Ái tình, Tiền tài và Quyền lực vẫn là những mục tiêu của họ. Bởi vậy mà ta không ngạc nhiên về việc tôn giáo đã gây ra chiến tranh thế giới mà người ta gọi là cuộc thánh chiến. Cuộc thánh chiến đã qua nhiều thế kỷ, nhưng ngày nay, một số Hồi giáo vẫn phá hoại các di tích Phật giáo.



Nói tóm lại, các danh nhân này không có gì để thần thánh hóa họ, khen ngợi họ. Một số vô trí vô năng như Bá Di, Thúc Tề, một số có tài nhưng gian xảo, tham lợi, tham quyền bất chấp đạo nghĩa như Quản Trọng. Một số vì kiêu ngạo, cậy tài, cậy sức như Khổng Minh, Quan Vũ, Trương Phi, Tào Tháo. . . đã gây ra binh đao, làm nhân dân khốn khổ . Trong sử sách và trong nhân thế, một số danh nhân vẫn có nhiều khuyết điểm, đôi khi phản lại khuôn mặt thần thánh mà con người tưởng tượng hoặc tô vẽ, quảng cáo.Nhà văn, triết gia, bậc thánh sư vẫn có những nhận định sai lầm, thiếu khách quan, và không công bằng.
___

Chú thích cuối trang

  1. Trẻ con xương nở gồ là xấu, đa số là thiếu dinh dưỡng, trước 30 tuổi phát phì thì sự nghiệp gián đoạn.
  2. Án ba chữ. Khi Tần Cối ghép Nhạc Phi vào tội tử hình, Hàn Thế Trung 韓世忠 hỏi: "Có tội gì?". Cối trả lời: "Mạc tư hữu" 莫須有 (chẳng cần có). Về sau người ta gọi đó là Tam tự ngục 三字獄
  3. Công lao mười năm. Tần Cối giả lệnh vua một ngày hạ 12 đạo kim bài, bắt Nhạc Phi rút quân về. Lần cuối cùng Nhạc Phi than một câu rằng: "Công lao mười năm, bỏ đi một ngày!" rồi mang quân về
  4. Kinh đô Nam Tống nay là Hàng Châu 杭州 trên sông Trường Giang
  5. Một quả núi ở Hàng Châu 杭州 tỉnh Chiết Giang 浙江, dưới chân núi có mộ Nhạc Phi. Theo câu bảy thì Nguyễn Du không đi đến Lâm An, chỉ đứng xa nhìn nên mới nói vọng

No comments: