Saturday, March 25, 2017

NGUYỄN KHẮP NƠI. * TÔI KHÔNG ĐI MỸ


TÔI KHÔNG ĐI MỸ! (Bài Thứ Hai – 22 02 2013)


NGUYỄN KHẮP NƠI.
Kỳ thứ hai



Bà nội quyết định cho chú Thế và tôi đi vượt biên.

Các chú các cậu khác cũng cùng nhau hùng tiền về Cần Thơ, tới nhà người bà con nhờ giới thiệu chỗ quen biết để xin chuyển “hộ khẩu” đóng ghe đánh cá. Trong thời gian đóng ghe, chú Lý tập lái trên một chiếc ghe khác, tập coi địa bàn, còn tôi thì tập cột ghe, tập quăng lưới cho nhuần nhuyễn.

Ghe đóng gần xong là chú Tư về Saigòn đưa bà con xuống Cần Thơ sống cho quen đường quen xá và cũng để sửa soạn ra quân. Lần đánh cá đầu tiên chú Tư gom hết cả nhà bốn chục mạng hết thẩy đưa lên ghe vọt luôn ra biển.

Tôi đã phơi sương phơi nắng gần nửa năm trời, tưởng là đã thành thủy thủ chuyên nghiệp, ai dè mới ra tới cửa biển là tôi bị sóng nhồi té lên té xuống, ói mửa quá trời quá đất. Nằm chèm bẹp dưới sàn ghe, tôi mới nghĩ ra rằng, từ hồi đó tới giờ tôi chỉ tập quanh quẩn trên sông, đâu có sóng gió gì đâu, nay ra tới cửa biển, nơi nước sông đụng nước biển, sóng gió nổi lên ầm ầm, tôi bò còn không vững, nói chi tới quăng dây cột dầm. Tới ngày thứ hai thì ghe đã ra tới hải phận quốc tế, tôi mới đứng vững được chút đỉnh. Chú Tư cho tôi ăn chút cháo, tôi mới có sức mới đi tới đi lui trên ghe. Qua tới ngày thứ ba thì trời yên mây tạnh, gió biển thổi thật là mát, sóng nhẹ nhẹ đẩy con ghe đi tới thật là êm. Tôi ngồi trên ghe ngắm trời ngắm biển ăn uống no nê huởng gió mát tứ bề. Vượt biên kiểu này, có đi lần nữa tôi cũng xin đi.

Tới chiều ngày thứ tư, những thủy thủ chính hiệu có cặp mắt rất là sắc bén đã nhìn thấy đất liền từ phía xa thật xa, tất cả mọi người trên ghe đều vui mừng hớn hở. Tới tối thì đã thấy ánh đèn ở phía xa xa, ai cũng mong cho chóng tới nơi để lên đất liền. Bàn tán một hồi, những người có kinh nghiệm cho biết rằng, không nên đâm ghe vào đất liền buổi đêm, vì đây không phải là nơi ghe thuyền đậu bến, có rất nhiều đá ngầm, lỡ ghe chìm thì chết cả đám, trong khi công lao cực khổ đã tới bến bờ tự do rồi thì chết uổng mạng lắm. Do đó, tất cả các người lớn đồng ý là neo ghe lại, tắt máy ngủ đêm tại chỗ, sáng sớm mai sẽ đi vào đất liền. Chú Tư có ý kiến là cứ để máy ghe chạy, vì máy dầu chạy xuốt ngày đêm không sợ bị nóng máy, nếu tắt đi, lỡ ngày mai máy không nổ thỉ làm sao mà vô bờ. Những người khác lại không đồng ý, vì để máy chạy làm sao mà ngủ? Hơn nữa, tiếng máy sẽ rất lớn và mùi dầu cặn sẽ bay lên đầy ghe, làm sao mà thở. Cuối cùng, mọi người đồng ý tắt máy ghe để ngủ cho ngon. Máy ghe tuy là máy cũ, nhưng đã được . . . làm mới lại rồi, chắc chắn sẽ không có chuyện gì phiền phức, cho dù là máy không nổ, trên ghe cũng có thợ máy để sửa.



Tôi nôn nóng lên bờ để có thể gởi thơ về nhà cho mẹ tôi, cho bà nội, cho bác Hai nên cả đêm không ngủ được. Tới gần sáng tôi mới thiếp đi dược một chút thì chú Tư đã đánh thức tôi dậy ăn bữa ăn cuối cùng trên ghe để sau đó chạy thẳng vào bờ mà chú tính ra vào khoảng buổi chiều mới tới.

Tôi ăn không vô vì không thấy đói bụng, chắc là tại tôi nôn nóng vào bờ quá, nhưng cũng ráng ăn một chén cơm dằn bụng. Tất cả mọi người trên ghe đã ăn xong hết rồi, ai nấy hăm hở chờ nổ máy chạy vào bờ nên hè nhau tìm chỗ ngồi ở trên sàn ghe, trên cabin ghe chứ không ai muốn xuống dưới hầm nữa. Chú thợ máy kêu tôi xuống hầm phụ ông nổ máy ghe, xuống tới nơi, chú lo chăm dầu thêm, tôi lo thăm chừng cái máy bơm nước. Xong xuôi, chú thợ máy bắt đầu quấn dây dựt chạy máy ghe. Chú dựt hai lần . . . ba lần . . . bốn lần . . . năm lần . . . mà máy vẫn không nổ, chú ngừng dựt máy lau mồ hôi chẩy đầy trên mặt. Tôi thấy vậy mới nói để tôi phụ dựt máy thế, tôi dựt cũng mỏi tay mà máy cũng không chịu nổ. Chú thợ máy đổi qua cái máy ghe phụ, cũng không có kết quả, chú trở qua cái máy lớn, lấy chìa khoá ra mở bù long tháo con heo dầu ra thăm chừng: Con heo dầu không bị hư hại gì cả, kim dẫn dầu cũng không bị cong. Chú ráp máy lại qưấn dây dựt tiếp, nhưng máy vẫn không nổ, chú lại phải tháo máy ra mà tìm đầu mối bị hư.

Lúc này ghe đã nhổ neo rồi, nên cứ quay vòng vòng rồi trôi theo những đợt sóng đánh, làm cho việc tháo ráp bù long càng khó hơn. Những người ở trên sàn ghe không thấy ghe nổ máy, bắt đầu đi xuống phòng máy thăm chừng, khi thấy ghe không nổ máy được thì nhốn nháo cả lên, người chỉ cách này, người chỉ cách khác um xùm cả chiếc ghe, chú thợ máy không sửa được máy nổi quạu đuổi hết mọi người lên ghe cho ông có đủ chỗ sửa máy. Tôi ngồi trên bậc thang đầu tiên của hầm máy, nhìn chung quanh, tất cả mọi người không ai còn vẻ hăng hái của lúc sáng sớm nữa, ai nấy tụm năm túm ba nói chuyện về cách thức sửa máy ghe.

Nguyên một ngày trời, con ghe vượt biên của chúng tôi không có cách nào vào bờ, bóng dáng của đất liền cứ từ từ mờ dần trong tầm nhìn của tôi, chẳng ai biết vị trí chiếc ghe hiện đang ở đâu? Đến tối mịt, trong hầm máy đã tăng cường thêm bốn năm người thợ phụ nữa mà vẫn không có cách nào để làm cho hai cái máy ghe nổ trở lại.

Ngày hôm sau, chú Lý đã bàn tính với mọi người đổ dầu ra cái chảo nhỏ, đốt lên để làm hiệu báo cho những chiếc ghe khác ở gần đó tới cứu. Lửa vừa cháy được một chút thì có một số người đòi tắt lửa đi, vì nếu đốt lửa, lỡ bọn hải tặc biết vị trí của mình mà đến cướp thì làm sao mà chống lại được? Chú Tư Lý lúc đó mới móc đồ nghề trong hầm ra cho mọi người thấy: Chú có một khẩu M 16, ba băng đạn và hai trái lựu đạn. Chú bảo đảm với mọi người là nếu có hải tặc, chú sẽ dư sức đối phó, lúc đó mọi người mới yên tâm để chú châm thêm dầu mà đốt lửa cho lớn.

Qua hết một ngày đốt lửa mà cũng chẳng có con ghe nào đến cứu, chú Tư không dám đốt dầu tiếp, vì sợ lỡ hết dầu chạy máy (dù rằng máy ghe chưa chịu nổ). Chú đề nghị xé áo ra làm mồi đốt. Lúc này không có ai phản đối nữa, mà có người lại còn nói rằng, dù là hải tặc có tới đi nữa, miễn là họ sửa dùm máy ghe cho nó nổ lại là được rồi, dù họ có không cướp, trên ghe cũng gom vàng lại mà tặng cho họ.

Qua ngày thứ ba cũng không có chiếc ghe nào tới cứu chiếc ghe của chúng tôi, trên ghe vẫn còn đủ gạo và nước nên mọi người cũng không đến nổi hoảng hốt, nhưng những người lính như chú Tư bắt đầu bàn tán tìm cách này cách kia. Chú thợ máy sửa hoài mà cái máy vẫn không nổ, chú chán ngán bỏ lên sàn ghe buồn bã nhìn chung quanh rồi vô phòng tài công, hỏi con chiếc ghe bây giờ đang ở đâu? Chú Tư cho biết, cứ theo hướng gió, chắc là ghe sẽ bị trôi về . . . Việt Nam.

Chiếc ghe của chúng tôi ngày này qua ngày khác cứ thế mà trôi đi theo những đợt sóng, tới khi vừa hết nước ngọt thì chúng tôi cũng đã nhìn thấy đất liền. Tất cả mọi người ào về phía đất liền chăm chú nhìn, mỗi người nói một câu:

"Có thể là . . . Thái Lan đó . . . chú Tư ráng bẻ lái cho ghe vô đất liền đi."

"Coi chừng là đảo Phú Quốc hay là Côn Sơn đó . . . mình bị gió thổi ngược chiều mà, làm sao tới Thái Lan được!"

Chiếc ghe càng ngày càng trôi dạt vào gần bờ. Khi thấy đủ tầm nhìn, chú Lý đã lấy ông nhòm ra điều chỉnh, im lặng đưa ống kính nhắm vào bờ vừa quan sát vừa nói với mọi người:

"Tôi thấy lá cờ mầu đỏ đang bay. Vậy đó là xứ Cộng sản chứ không phải xứ Thái Lan,vì cờ Thái có ba mầu đỏ trắng và xanh biển. Hãy coi kỹ coi là cờ đỏ này là của nước nào? Không thấy rõ . . . Nhưng mà tôi thấy . . . đám đàn ông bận sà rông . . ."

Chú Lý bỏ ống nhòm xuống, buồn bã nói với mọi người xung quanh:

"Đó là xứ Căm Pu Chia, vì tôi thấy đàn ông bận sà rông chứ không bận quần như dân Thái và dân mình."

Nhiều tiếng thở dài vang lên:

"Trời đất ơi . . . Vượt biên gì kỳ cục vậy . . . tới bờ biển Thái Lan rồi mà lại bị trôi về Việt Nam."

"Ai ra lệnh cho tắt máy ghe để rồi máy bị hư luôn không vô bờ được?"

Chú Tư ra mũi ghe nhìn xuống biển một lúc rồi kêu lớn cho mọi người nghe:

"Cái điệu gió thổi cỡ này, chắc chắn ghe sẽ bị mắc cạn vào đám đá ngầm và bị lũng ghe. Bà con ráng kiếm cách làm phao mà bơi vào bờ . . . chà . . . bờ đá này xa lắm, lại có đám cây đước nữa, nhọn lắm . . . Khó vô lắm nha."

Mọi người bàn tán xôn xao, mỗi người một ý. Có người muốn ở lỳ trên ghe này, tới đâu thì tới. Có người lại muốn nhẩy xuống biển bơi vào bờ. Chú Tư Lý và mấy người cậu của tôi ngồi chùm nhụm một chỗ bàn tán nho nhỏ. Cuối cùng, chú tập họp tất cả mọi người lại mà thông báo:

"Ghe của chúng ta bị hư máy, không sửa được, nên đáng lý là chúng ta tới Thái Lan bình yên thì lại bị gió thổi về Căm Pu Chia và có thể bị thổi trở lại Việt Nam. Những anh em lính Cộng Hòa hãy suy nghĩ cho kỹ, nếu để bị bắt, sẽ không có ngày trở ra đâu. Do đó, nếu muốn, anh em có thể nhân đêm tối bữa nay nhẩy xuống biển lội vô bờ rồi tìm đường bộ đi về Việt Nam. Đàn bà con nít có thể cứ ở lại trên ghe để được gió thổi đưa về Việt Nam, chắc là sẽ không bị bắt đâu. Mà nếu có bị bắt, thì cũng chỉ giữ vài tháng là trả ra ngay thôi. Nhớ đừng có khai tên ai hết, cứ nói những người bạn rủ đi chung, họ đã trốn hết rồi, không biết tên, không nhớ mặt."

Nghe chú Tư nói, mọi người hoảng hốt hết cả lên, tôi còn nhỏ, tuy. . . chưa biết sợ nhưng cũng cảm thấy hoang mang . . .

Một lúc sau, chú Lý đến bên tôi, nói nhỏ:

"Mình vượt biên mà không thoát, xui quá. Chú không thể để cho tụi Việt cộng bắt, do đó, chú và các cậu của con sẽ nhẩy xuống biển mà lội vào trong đất liền rồi kiếm đường về nhà. Cháu có dám . . . nhẩy xuống biển theo chú không?"

Tôi nhìn xuống biển đen ngòm và xâu thẳm, rùng mình nói với chú:

"Con . . . sợ lắm."

Chú Lý nắm lấy vai tôi thông cảm:

"Cháu còn nhỏ lắm, chú không nghĩ cháu có đủ sức lội vào bờ, vì mình còn ở xa bờ lắm. Từ bờ đi vô, còn có đám rừng tràm nữa, con đi không nổi đâu. Thôi, con cứ ở trên ghe với các cô các dì đi, sẽ không bị nguy hiểm gì đâu. Nếu có bị bắt, con còn quá nhỏ, công an không có làm khó dễ con đâu. Con nhớ đừng có khai tên chú và mấy cậu nha con."

Thế là tất cả những đàn ông ở trên ghe (trừ những người không biết lội) đều cùng nhau nhẩy xuống biển lội vào bờ ngay đêm hôm đó.

Cuối cùng, chiếc ghe của chúng tôi cũng trôi về tới Việt Nam. Ghe mắc cạn còn xa bờ nên đám du kích phải đem xuống ra chở mọi người vô bờ.

Khi họ hỏi tôi ở đâu? Đi vượt biên với ai? Tôi khai cha mẹ gởi có một mình tôi đi vượt biên mà thôi, chứ không quen biết ai hết. Còn địa chỉ thì tôi khai địa chỉ của đứa bạn đã cùng cha mẹ vuợt biên từ lâu rồi. Bọn Công an nhốt tôi ba tháng thì thả ra, đưa tiền cho tôi mua vé xe đò về Saigòn.

Tôi về đến nhà, kể lại câu chuyện vượt biên cho bà nội, cho mẹ nghe, ai cũng tiếc cho cuộc vượt biên quá dễ dàng mà cuối cùng lại không thành công, và ráng chờ tin chú Tư Lý. Ba tháng sau đó, chú Lý mới tìm đường về được tới nhà. Cũng may, tính lại, không có ai trong đám chúng tôi bị chết hoặc mất tích hết. Chú Lý cho bà nội hay, chú đã thông thuộc đường lối, chú sẽ đi vượt biên một lần nữa qua ngả Căm Pu Chia tới Thái Lan, nhưng không thể dẫn tôi theo, vì đuờng xá xa xôi, nguy hiểm, tôi thì lại còn nhỏ, khó xay trở mà lại dễ bị bắt.

Một năm sau, bà nội và mẹ lại tìm đường cho tôi vượt biên lần thứ hai. Lần này tôi đi từ U Minh Thượng, và chỉ có mình tôi đi thôi.

Chiếc ghe kỳ này lớn hơn ghe của gia đình tôi lần trước, số người vượt biên cũng đông hơn và tôi không có quen biết ai hết.

Ngay khi tới hải phận quốc tế là ghe của chúng tôi đã gặp ghe đánh cá của Thái Lan rồi. Chiếu ghe đánh cá này lớn lắm, họ chạy cách xa ghe của chúng tôi một đỗi rồi mới xáp lại gần cho nguời qua ghe của chúng tôi làm quen, cho đồ ăn, nước uống rồi hứa đi trước dẫn đường cho chúng tôi tới Thái Lan. Trên ghe, ai cũmg mừng rỡ, tường chừng kỳ vượt biên này thật là may mắn, mới ngày đầu tiên đã coi như thấy đuợc trại tỵ nạn rồi.

Nhưng khi đêm đến, khi chúng tôi đang ngủ thì ghe Thái Lan đã mở đèn sáng trưng, áp sáp lại gần rồi cả đám thủy thủ cầm dao búa nhẩy ào sang ghe của chúng tôi. Dưới ánh đèn, chúng chia đàn ông đàn bà qua hai bên, lục soát thật kỹ từng người, kể cả trẻ em, để tìm vàng dấu trong người. Khi đã lấy hết những gì chúng có thể tìm được, bọn chúng lùa tất cả đàn ông qua ghe của chúng, tống tất cả vào phòng lạnh chứa cá đóng cửa lại nhốt chúng tôi ở trong đó. Nhiệt độ trong phòng lạnh thật là thấp để ướp cá làm cho chúng tôi chịu không thấu, ai cũng lạnh rung lên cầm cập.

Khoảng một tiếng đồng hồ sau, chúng mới mở cửa lùa chúng tôi về ghe, ai nấy bị lạnh thấu xương, đi không muốn nổi, người này dìu người kia mà lần bước đi về. Ai không đi nổi, chúng khiêng liệng đùng đùng xuống sàn ghe, thẩy cho mấy thùng nước cùng đồ ăn khô và mấy can dầu rồi xả máy chạy mất.

Khi về tới ghe thì cảnh tượng đầu tiên mà chúng tôi thấy là những người đàn bà đều nằm la liệt trên sàn ghe, ai cũng có vẻ như bị thương, có người mặc quần áo xốc xếch, có người chỉ còn cái áo trên người, có người chỉ còn cái quần, có người nằm bất động không mặc quần áo gì cả. Đám con nít thì bị nhốt ở duới hầm ghe đang la hét thất thanh đòi mẹ đòi cha . . .




Những người chồng, người cha, người bạn trai của họ chợt hỉểu, cơn tức giận nổi lên bừng bừng làm tan biến hết cả những lạnh giá trên thân thể, họ hốt hoảng chạy đến bên người thân của mình mà săn sóc.

Tiếng khóc tiếng rên la vang lên khắp nơi.

Tôi rùng mình đứng nhìn cảnh tượng xẩy ra mà không thể tưởng tượng được sự tàn nhẫn của con người đối với con người.

Chiếc ghe của chúng tôi vẫn nổ máy, vẫn chạy trên biển, nhưng không một ai trong chúng tôi muốn đi đâu nữa, người tài công cứ để cho chiếc ghe muốn chạy hướng nào thì chạy.

Qua được một ngày êm đẹp, tới buổi sáng hôm sau, khi chiếc ghe của chúng tôi vẫn chưa hoàn hồn sau lần bị cướp đầu tiên thì chiếc ghe đánh cá thứ hai đã xuất hiện. Bừng bừng tức giận, nghẹn ngào đau đớn vì lần bị cướp của hiếp người đầu tiên, tất cả đàn ông trên ghe chúng tôi đều tự tìm võ khí cho mình sẵn sàng chống lại đám cướp biển.

Đám giặc cướp thứ hai này tỏ ra hung tợn hơn đám thứ nhất rất nhiều, từ đằng xa, chúng đã thấy chúng tôi sửa soạn chống cự lại nếu bọn chúng cặp ghe vào, nên chúng dùng chiến thuật khác: Từ đằng xa, chúng cho ghe chạy thật nhanh đụng ngay vào hông ghe của chúng tôi. Tài công của ghe vượt biên thấy vậy ráng hết sức xả ga lách qua bên trái để né, nhưng ghe của chúng tôi chạy chậm, tài công không còn cách nào thoát, đành để chiếc ghe bị đụng một cú như trời giáng, tất cả mọi người đều phải bỏ võ khí mà ôm chặt lấy thuyền để khỏi bị văng khỏi ghe. Chúng tôi chưa kịp lấy lại thăng bằng thì đám giặc cướp đã nhào lên ghe hươi mã tấu chém vào bất kỳ cái gì trước mặt chúng. Máu thịt chẩy đầy trên sàn ghe. Một số đàn ông trên ghe đã đứng vùng lại được, đưa dao chống cự lại, một bên nhất quyết bảo vệ vợ con và mạng sống, bên hải tặc nhất quyết hạ thủ cho bằng được đám người vượt biên để chiếm đoạt tài sản và các phụ nữ trên ghe. Tiếng la hét kêu tiếng khóc vang lên khắp nơi/ Tôi chỉ có một cái mái chèo ở trên tay, cũng cố gắng đánh hết sức mình vào tên giặc cướp trước mặt, tên này không thèm đỡ mà đưa dao chém thẳng vào khúc cây của tôi rồi đá tôi một cái văng vào cabin, đầu tôi bị đập vào khung cửa nghe một cái “Bộp” thật mạnh, tôi ngất xỉu không còn biết gì nữa.

Tôi tỉnh dậy là vì có những giòng nước chẩy lên mặt tôi. Tôi vuốt mắt ngồi lên, nhìn vào tay thấy toàn là máu. Tôi hoảng hồn cố lách mình qua một bên, thân hình người chết lại một lần nữa rơi hẳn vào người tôi. Tôi hét lên kinh hoàng cố đẩy cái xác chết ra khỏi người mà vùng đứng dậy chạy thật nhanh. Trên sàn ghe, xác người nằm la liệt, có xác còn đầu, có xác mất đầu, có những khúc chân, khúc tay văng đầy sàn. Tôi cố gắng không xỉu để nhìn chung quanh xem còn có ai sống sót hay không? Đa số đàn ông đều bị thương, một số bị chết, còn đàn bà, cũng như lần cướp đầu tiên, có người còn quần áo, có người không, nằm rên la thảm thiết.

Tôi cố gắng lết đi tìm người tài công mà không thấy ông ta ở đâu hềt, chắc là thân xác của ông đã nằm trong đám thịt xương trên sàn ghe. Tôi lật một thân người còn cử động lên, đó là người chủ ghe, ông ra dấu nhờ tôi kéo ông ngồi lên và chỉ cái xác người vợ ông nằm cách đó không xa mà rơi nước mắt khóc không ra tiếng. Môt vài người còn sống cố gắng lê lêt đến chỗ chúng tôi để cùng tìm cách đi cứu những người bị thương và những người đàn bà con gái.



Kiểm lại, còn hơn một chục người đàn ông trên ghe, chúng tôi bắt đầu dọn dẹp sàn ghe. Những người chết, chúng tôi lạy mỗi người một lạy rồi xô xác của họ xuống biển, múc nước ở dưới hầm lên mà xối trên sàn cho trôi máu đi. Người bị thương thì chỉ để nằm im đó, xé áo xé quần mà băng bó cho họ thôi chứ đâu có thuốc men gì mà xức, mà uống. Những người đàn bà đã tạm hồi phục, ôm nhau khóc rấm rức, đám con nít sợ hãi chui hết cả vào cabin, không dám khóc, đám đàn ông cũng ngồi chùm nhụm lại với nhau, không ai nói với ai một lời nào. Chiếc ghe không người lái cứ thế mà quay cuồng theo những làn sóng biển đánh liên tiếp lên ghe.

Tôi bó gối ngồi một mình nhìn ra biển cả mông mênh. Lần vượt biên đầu tiên, chú Tư Lý sửa soạn đầy đủ súng đạn nhưng ghe tới Thái Lan thật là an toàn, không hềt gặp bất cứ một tên hải tặc nào, cũng không hề có sóng biển cao vòi vọi, lần vượt biên này hải tặc đâu mà cùng hết mọi hướng, hết bọn này tới bọn khác. Phải chi có chú Tư Lý của tôi ở đây, chỉ cần một mình chú bắn vài phát đạn cảnh cáo với khẩu M16 dũng mãnh của chú, cũng đủ làm cho bọn cướp sợ hãi mà bỏ chạy mất tiêu rồi, vì bọn chúng chỉ có mã tấu dao phay và số đông người mà thôi, chứ không hề có súng đạn gì cả. Với cái điệu cướp của giết người này, với đám hải tặc dầy đặc bao quanh như thế này, tôi không chắc là chiếc ghe của chúng tôi có thể đến đuợc bến bờ tự do. Chỉ cần một đám hải tặc nữa chém giết phá phách như lần này thì đám dân vượt biên chúng tôi sẽ chẳng còn ai sống sót, chiếc ghe nhỏ bé của chúng tôi sẽ tan ra thành mây khói hoặc chìm lỉm xuống biển cả mêng mông. Tôi muốn tìm cách nào để báo tin cho mẹ tôi, cho bà nội, cho bác Hai . . .

Tôi muốn tìm cách nào để nhắn tin cho những người đang có ý định vượt biên như tôi hãy tìm đường khác mà đi, đừng đi qua vùng biển Thái Lan này nữa . . . nhưng tôi làm cách nào để báo tin cho gia đình tôi, cho những người đang sửa soạn vượt biên bây giờ? Tôi nhớ lại có nhiều người đã dùng một cái chai bỏ thơ của mình vào trong đó đóng nắp lại thả trên biển, tôi cũng muốn làm như vậy, nhưng giấy ở đâu ra mà viết? Chai ở đâu ra mà thả?

Tôi còn quá nhỏ để hiểu tự do là gì? Nhưng nếu mà nói những người trên ghe này đang đi tìm tự do, thì cái giá mà chúng tôi phải trả để tìm được tự do thật là quá khủng khiếp, quá phũ phàng. Có những người đã chết trước khi hưởng được cái tự do mà họ mong muốn, họ đi tìm . . .

Tự Do . . . Ôi . . . Tự Do . . .

Tiếp theo kỳ tới,

NGUYỄN KHẮP NƠI.

No comments: