Thursday, March 30, 2017

NGUYỄN MINH HÙNG * NỖI NIỀM MANG THEO





Nỗi niềm mang theo

Nguyễn Minh Hùng

Tôi xếp đôi tấm giấy ra trại đút vào túi áo sơ mi trước ngực, gài kim tây cẩn thận, xong ngước lên ra vẻ chăm chú nhìn vị đại diện nhân dân trãi lòng trên trang giấy nhắn nhủ đến đám người cải tạo vừa được chính quyền cách mạng cho về xum họp với gia đình đang ngoan ngoãn im lặng ngồi xổm dưới đất đối diện dãy bàn dài có 5 cán bộ mặc thường phục và quân phuc nhìn xuống, với sự chứng kiến của hàng trăm người dân đứng bao quanh sân trường Tiểu học.

Bóng ngã về chiều, bảy người chúng tôi mang túi hành trang lầm lủi theo sau vị trưởng công an xã đến bến đò về quê sau buổi lể “trả tự do” kéo dài hàng giờ với tất cả những ngôn từ đẹp đẽ mà các cán bộ chính quyền “Cách mạng” gởi đến những người đã được chứng nhận cải tạo tốt và nhắn nhủ phải tiếp tục phấn đấu tuân thủ luật pháp dưới sự giám sát chăm sóc của xã hội và nhân dân! Dĩ nhiên chúng tôi cũng có người đaị diện đáp từ tri ân chính sách khoan hồng của chính quyền cách mạng và hứa sẽ lột bỏ quá khứ hết lòng hoàn thiện để trở thành công dân nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Đúng ra những người tù được thả phải mang tâm trạng vui mừng hạnh phúc sau bao năm tháng đọa đày kềm kẹp trong vòng rào kẻm gai hay trong những bức tường kín cổng tối tăm, và hạnh phúc sẽ được nhân lên trong vòng tay trìu mến của tình thiêng liêng gia đình anh em cha mẹ và một bầu trời tự do mở rộng. Nhưng ngay sau niềm vui bất chợt được gọi tên trả tự do, khi từ giã bạn tù, bước chân rời vòng kẽm gai cuối cùng với túi hành trang lẻ loi vẫn là một tâm trạng chua xót tủi hờn cùng hiện thực là mối đoe dọa, khủng bố canh cánh không rời của bộ đội vũ trang áp tải xuống tàu (sợ nhân dân giết hại trả thù ?), sao kỳ vậy, trả tự do rồi mà…! Và hiện thực trên ánh mắt trĩu nặng âu lo, toan tính của người dân với môi trường sống đổi thay cùng cực, thay cho những nụ cười rạng rỡ bình thường trước đây tay mắt mặt mừng, khi tiếp nhận ánh mắt và nụ cười ngượng ngập chúc mừng của vài người thân quen trên con đò chiều đưa tôi về xóm nhỏ ven sông. Nỗi buồn dâng lên theo con nước lớn…!

Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp.
Con thuyền xuôi mái nước song song.
Thuyền về nước lại sầu trăm ngã.
Cũi một cành khô lạc mấy dòng.

HC

Lẳng lặng lấy tờ giấy ra trại xem lại, có gì đó nặng trĩu trong lòng với tờ giấy khổ rộng bằng bàn tay, có màu ngà sần sùi, với hàng chữ đánh máy trồi sụp và con dấu lem luốt mờ mờ không rỏ, từ Ty công an tỉnh Hậu Giang (Cần Thơ...Cấp cho: Tên…NMH, Cấp bậc: không, Chức vụ: Khóa sinh Sĩ quan Công an ngụy, đã cải tạo từ ngày…đến ngày….

Thật sự chỉ là mảnh giấy chứng nhận trả tự do cho một thằng tù (hạng bét), thế mà cũng lể lộc trịnh trọng, đúng là người CS hành xử khôi hài, họ thích phô trương hình thức hóa những sự kiện tầm thường thành lố bịch, trơ trẽn dưới mắt người dân. Đối với người CS sự nhận thức là rào cản cho mọi hành động cụ thể của duy vật biện chứng, cứu cánh biện minh cho phương tiện, lễ lộc trịnh trọng phô trương nhằm mục đích khẳng định thành tích cá thể trong bộ máy quyền lực và sự tuân phục đồng tình hay không của người dân là yếu tố xác định tinh thần đó, bất cứ môi trường nào, đẳng cấp nào họ đều thể hiện tư duy kiêu ngạo cộng sản (muốn làm gì cũng được, ta đã đánh thăng mọi kẻ thù)

Không biết ngày giờ này có thằng bạn nào trong số 400 thằng “khóa sinh Sĩ quan Công an ngụy” (K10) cầm trên tay tờ giấy giống như của mình hay không, chắc có và cũng có thể bi đát hơn (tôi thầm nghĩ). Sau ngày bức tử tang thương, chúng tôi như những chiếc lá khô bay tan tác theo cơn gió chiều hoàng hôn, không thể chấp vá trong cuộc đời cuồng loạn khi chính quê hương thân yêu đã bức rời vòng tay ôm ấp bởi bạo lực phi nhân. Quê hương đã một lần trân trọng chúng tôi, những người con yêu từ mọi nẽo đường đất nước, từ những giảng đường Đại học, lên đường theo tiếng gọi non sông bằng tâm huyết và lý tưởng trong sáng, trừ bạo an dân, tiêu trừ cộng phỉ. Định mệnh áp đặt nghiệt ngã, phũ phàng, khi ta cố miễn cưỡng chấp nhận sự thật mất mát ngỡ ngàng cho đến hôm nay và có thể suốt cả cuộc đời này khi hoài niệm luôn hiện hữu, ta đưa tay lên là nắm bắt được quá khứ xót xa, như món quà tinh thần của thượng đế….! Trong cơn hồng thủy cuộc đời, trong nổi đắng cay tù tội, tôi lại có tư tưởng lạc quan, suy diễn và thẩm thấu ý nghĩa của tự nhiên, tôi đã gặp người đồng cảm, đó là một anh TS.1 Quân Cảnh (chừng dưới 40 tuổi), anh thiền và có những tư tưởng rất hay, gần với triết lý nhà Phật và trường phái Krisnamurti, anh an ủi tôi, hướng dẩn tâm thức tồi chấp nhận…tự nhiên, hưởng ứng, đồng thời chiêm nghiệm hiện thực, ngày mai sẽ không còn nữa, nổi khổ không thể nhân đôi khi ta chấp nhận làm quen và triệt tiêu tự nhiên trong tâm thức, tâm thức vô cảnh giới, không là tuyệt cùng. 

Tôi vẫn lạc quan như ngày cuối cùng ở Học Viện, bởi tự nhiên trong vô thức tôi đã quyết định bất ngờ khi dẩn cả hai Tiểu đội bỏ vị trí phòng thủ (GTH) sau nhà ĐT Viện Trưởng và vườn mía CLB để về cao ốc đại đội, trể chừng vài phút không biết hậu quả sẽ thê lương cỡ nào với pháo cường tập của CS cày xới tan hoang. Chạy qua khỏi CLB, anh Đông (GS Sử Địa) kéo tay tôi :

- Hùng .. anh khát nước quá, anh em mình vào CLB kiếm nước uống đi.

- À được, em cũng khô cổ quá...

Chúng tôi trở lại CLB trong tiếng pháo nổ chụp rầm trời khắp nơi, khói tỏa mịt mù. Anh Đông nhìn tôi hỏi :

- Hùng có sợ không …?

- Chưa đến nổi… tè trong quần anh à …

Anh Đông cười sằng sặc. Chúng tôi bước vào CLB vắng hoe, hình ảnh đầu tiên đặp vào mắt chúng tôi là một ông đàn em K11 (chưa có Alfa) đang ngồi trên ghế chăm chú gặm một cục xương phở bò to tướng với trạng thái bình thản lạnh lùng, dường như mọi diễn biến chung quanh và thế giới này không… mắc mớ gì đến anh ta (thật khâm phục). Tôi đổ đầy bi đong trà nguội lạnh sau khi uống một bụng, trong kia anh Đông kêu lên: “Hùng ơi trong này có thau hột é, lười ươi quá đã nè, vào đây… " Tôi lại đổ bỏ bi đong trà để đong đầy hột é mát lạnh. Rồi chúng tôi chạy về cao ốc Đại đội để hơn một giờ sau… tan hàng…!

Chuyến đò chiều đưa tồi về với gia đình, đoàn tụ ba má và các em tôi, vì là xã nhỏ, nên mọi sinh hoạt của người dân đều không qua được những cặp mắt dò xét của bọn VC và lũ điếu đóm “cách mạng ba mươi”, vài thằng bạn tiểu học ngày xưa theo VC, nay nhìn lại nhau với đôi mắt diều hâu lạnh lùng, cùng những đêm dài khó ngủ với cái loa phóng thanh oang oang ca tụng công đức Hồ Chí Minh và đảng CSVN quang vinh, anh hùng, và ra rả sỉ vả bọn “bán nước" ngụy quân, ngụy quyền thậm tệ…! Tinh thần khủng bố bao trùm toàn xã, trên mọi sinh hoạt vốn nghèo nàn nay lại càng xác xơ hơn, trên những ánh mắt người dân cúi gằm lo sợ cho hiện tại và ngày mai, vì khi VC mới vào “tiếp thu” họ đã trả thù tức khắc bằng phát đạn vào tim giết chết một ông trưởng ấp ngay tại xóm chợ và gần một năm sau chúng đã xử tử Bác năm Xã Trưởng (Võ Thành Nhơn) ngay trong lúc đang cải tạo chung với tôi (Bác có người em là Trung Tá Võ Thành Quân, Phi đoàn trưởng trực thăng ở Cần Thơ). Phải buồn mà xác định thực trạng miền Nam thời điểm tiền CS đã thay đổi toàn diện, phá vỡ cấu trúc vững chắc tích cực của nền tảng xã hội miền Nam đã xây dựng qua bao thời kỳ khó khăn để cố hoàn thiện theo thế giới ngày càng văn minh. Ý thức hệ không gây chia rẽ Dân tộc mà chính bom đạn, chém giết sát hại nhau kéo dài cuộc chiến đã nuôi dưỡng hận thù đầy ấp trong huyết quản của người VN.

 Thử hỏi thằng du kích, Cộng sản là gì, từ đâu ra, nó không trả lời được, nhưng nó biết bản thân nó là VC, cầm súng bắn Mỹ, Ngụy…trả thù cho cha nó, đơn giản vậy thôi…! Hận thù được tôn vinh trong cách đối xử với chúng ta ở đời thường, nên tinh thần thủ ác được hành xử trọn vẹn bởi người CS trả thù xương máu…!Chúng tôi vẫn thỉnh thoảng được triệu tập để nghe chính quyền xã thuyết trình chính sách mới, hay phân bố công tác toàn xã lao động (gọi là lao động XHCN ) v.v... Cũng là mục đích tập trung quản chế thành phần ngụy quân ngụy quyền một cách chặt chẽ. Cho đến một vài năm sau tinh thần sợ hãi vẫn tác động lên đời sống hằng ngày của chúng tôi, có những cách ngăn định hình hay vô hình tạo nên thảm trạng đổ vỡ tâm lý trên bình diện xã hội nhỏ bé. Tâm lý sợ hãi tiết ra nỗi ám ảnh mông lung, như… tiếng bước chân vội vã trong đêm trường vắng lặng, tiếng chó sủa văng vẳng đầu làng, cả tiếng dừa khô rụng bình bịch gần kề đâu đó… cũng làm kẻ thua cuộc thót tim..!.Tâm tình này tha thiết gởi đến các bạn.

Nguyễn Minh Hùng (K.10)

THẢO NGUYÊN * NGƯỜI SÔNG HẬU VƯỢT BIỂN

NGƯỜI SÔNG HẬU VƯỢT BIỂN


NGUOI SONG HAU

“Cá lớn” đã ra đến hải phận quốc tế, trong lòng chúng tôi thật nhẹ nhõm. Bây giờ là một đại dương mênh mông, bao la trước mặt, đầy cam go đang chờ đợi chúng tôi. Giữa một đại dương rộng lớn mới thấy mình nhỏ bé chừng nào. Bốn mươi bảy mạng sống trong lòng cá lớn dường như phải nhờ đến lòng vị tha của biển. “Cá lớn” thường ngày đi sông nay lại nhấp nhô trên mặt biển làm lòng tôi cũng hồi hộp theo những gợn sóng. (Chữ “cá lớn” và “cá nhỏ” được dùng cho ghe lớn và ghe nhỏ để tránh sự nghi ngờ trong khi tổ chức vượt biên.) Tôi đã chọn đi trong mùa ít bão và cầu mong rằng Thái Bình Dương đừng nổi cơn thạnh nộ và đưa chúng tôi đến Mã Lai an toàn. Để khỏi bị theo dõi, chúng tôi cũng đã chọn đi ra cửa biển vào một đêm tối trời như đêm ba mươi. Điều tiếc là tôi không thể nhìn lại miền đất thân thương một lần cuối
Ban đêm chỉ xuất hiện lấp lánh một vài vì sao giữa bầu trời tối om, đen kịt; không biết đâu là biển đâu là trời, nhưng rất phẳng lặng. Loài người sao mà nhỏ bé so với một vũ trụ bao la, thăm thẳm như vầy? Tôi không thể nào chợp mắt được vì trách nhiệm của một chủ tàu với mấy chục người, trong đó có vợ và sáu đứa con nheo nhóc của tôi. Nói là “chủ tàu” cho nghe ghê gớm vậy thôi, chứ nhìn tướng tá ốm nhôm như cây sậy của tôi trong một cái quần sọt đàn bà thì oai cái nỗi gì! Đi giữa một khung trời tối đen như vậy, con mắt chỉ biết ngắm nhìn những vì sáng li ti ở trên trời. Tôi không biết bốn mươi sáu người kia nghĩ gì lúc đó, nhưng tôi thấy gần gũi Chúa vô cùng. Trong lúc này tôi thấm thía được cuộc đời nhỏ bé và ngắn ngủi của mình là thế nào.  

“Loài người giống như hơi thở, đời người như bóng bay qua.” (Thi-thiên 144:4)
Tôi thầm nói chuyện với Chúa, dâng cả con tàu cho Ngài và cũng hứa rằng khi tôi đến được bến bờ tự do, tôi sẽ dâng mình hầu việc Chúa trọn đời còn lại của tôi. Đây không phải những lời mặc cả với Chúa, nhưng là một lời hứa nguyện từ tấm lòng biết ơn sâu xa của tôi với Ngài.

Một ngày trôi qua trên biển cả thật yên bình. Chúng tôi hạn chế uống nước vì không biết sẽ phải ở trên biển bao lâu. Chúng tôi ăn phần nhiều những củ khoai lang đã nhổ lên từ sau vườn nhà tôi. Chúng tôi khám phá là nước biển mà dùng để hấp khoai thì thật là tuyệt nhưng đem nấu cháo thì nó đắng vô cùng, không ăn nỗi. Ngoại trừ tiếng sình sịch của máy tàu, gần như không có một tiếng động nào. Lâu lâu một vài cậu thanh niên phải tát nước vì chúng tôi khám phá nước đã vào ghe từ một kẽ hở nhỏ dưới lường. Hình như mọi người đã bị say sóng và trong trạng thái nửa mê nửa tỉnh. Ở trên đầu họ được che nắng, che mưa bằng một tấm lều của quân đội đã dùng để che đậy hàng hoá cho nên họ không thấy được gì. Họ cũng không nghe được nhiều do tiếng máy ghe khá to ở dưới vì nó trước đây là máy của một máy cày. Vừa tiếng ồn ào của máy ghe, vừa mùi xăng nhớt từ máy ra, vừa chật chội, vừa mùi hôi của bao nhiêu người ở dưới tấm lều, làm sao một người tỉnh táo có thể chịu nổi? Chỉ có hai chữ “tự do” mới cho họ sức để cắn răng chịu đựng thôi. Trong những thì giờ yên tịnh tôi có thì giờ ôn lại hành trình mà đã bắt đầu hai năm vừa qua. Làm cách nào một người không tiền, không bạc như tôi có thể đang trên đường đến một vùng đất tự do? Thật là lạ! Tôi nhớ lại những ngày đầu lúc tôi quyết định vượt biên…
Hôm đó trên chiếc phà Cần Thơ, tôi và hai thanh nữ trong ban thanh niên hội thánh đang trên đường về sau cuộc họp bạn với một hội thánh ở Thành Lợi bên kia sông. Tâm hồn nghệ sĩ của tôi đang lững thững theo những ánh đèn nhấp nhô trên con sông quen thuộc, một trong hai cô đã phá bầu không khí:
“Phải những ánh đèn đó là bờ biển Singapore thì thầy trò mình sẽ quỳ gối xuống đây để tạ ơn Chúa phải không thầy?”
Tôi ngẫm nghỉ câu nói nửa đùa, nửa thật một lát; rồi một cái gì đó làm sống dậy một tia hy vọng mà đã mất trong tôi từ khi bàn tay của tôi bị dập nát bởi máy ép nước mía. Một ý tưởng vượt biên nảy trong trí tôi. Tôi nói với cô em trong Chúa:
“Em có muốn thầy làm điều đó cho em không?” Cô em trả lời: “Dạ, muốn chứ thầy.”
Lúc đó trí óc tôi lại đổi sang một đề tài mới: “Nhưng làm sao được? Tôi không có một cắc trong tay, làm sao vượt biên được?” Văng vẳng bên tiếng phà rẽ nước tôi nghe được tiếng nói của Chúa với bà Sa-ra: “Há có điều chi Đức Giê-hô-va làm không được chăng?” (Sáng thế ký 18:14) Chỉ nghe được câu nói này, tôi biết chắc chắn đây là ý của Chúa và cứ ngắm nó mà tiến bước.


Từ từ rồi ý Chúa càng phơi bày rõ ràng hơn. Tôi không cần thuyết phục vợ tôi về hành trình nguy hiểm này, dầu bà là người hay lo lắng. Trong lúc chúng tôi định bán nhà để có tiền vượt biên, thì một trong những học trò tôi dạy Anh ngữ đưa cha mẹ đến giao vàng để tôi có thể tổ chức vượt biên. (Sau này tôi mới hiểu là nếu tôi bán nhà thì sẽ bị theo dõi ngay.) Nhưng vì Chúa có chương trình nên lần lượt có người này người kia, cả những người không quen biết, hùn vào để tôi có thể thực hiện được chuyến vượt biển này mà không cần phải bán nhà. Tôi không sao kể hết được những chuyện lạ lùng đã xảy ra mà chính tôi cũng không hiểu. Thí dụ như cho đến phút cuối tôi vẫn chưa có một món đồ khá cần thiết cho chuyến vượt biển này, nhưng nó lại đến như có một bàn tay dàn xếp trước mọi sự. Một lần nữa tôi trở về quá khứ…

Tôi đang ngồi ở một quán cà phê nhỏ bên lề đường, tay nâng ly cà phê lên miệng như cái máy nhưng đầu óc thì đăm chiêu với những lo lắng–Không biết ngày mai có thể đi được không? Không biết các nhóm có sẵn sàng chưa? Không biết có ai sẽ phản bội mình không… vân vân và vân vân… Nhưng điều tôi lo nhất là vì đang thiếu một món đồ. Thời bây giờ ai cũng đi vượt biên nhiều quá, món này quí vô cùng, làm sao tôi có thể tìm được để đi ngày mai? Nếu không tìm được cái khác, tôi đành phải dùng cái đang có mà tôi không tin tưởng chút nào. Cà phê chưa xua được nỗi lo lắng thì đột nhiên có một bàn tay vỗ nhẹ lên vai tôi và hỏi:
“Cậu à cậu, cậu dào đây tui chỉ cho cậu xem cái này gồi cậu kiếm cách giúp tui được hông?” Những tư tưởng trong đầu đột nhiên bay mất. Tôi đi theo ông chủ tiệm vào trong để xem ông cần giúp điều gì. Tác người ông gầy gò, ốm o, cái lưng khom khom, đi một cách yếu ớt.
“Cậu coi nè,” ông cụ không đọc được tư tưởng tôi, “thằng con tui nó đã đi dượt biên mất gồi, nó để cái này lại mà tui hông biết nó là cái gì. Cậu biết nó là cái gì hông? Cậu kiếm người bán giùm tôi được hông?”

Khi ông mở bao ra thì tôi trố mắt nhìn món vật đang nằm trong tay ông, tôi tưởng chừng như mình đã tìm được một thúng vàng ở cuối cầu vồng vậy. Nó là một cái la bàn của hải quân! Có thật không đây? Tôi đang mơ đây à? Chúa ơi! Đây là món cuối cùng con cần rồi! Nhưng tôi cũng cố gắng giữ bình tĩnh để ông không thấy được sự xúc động của mình để ông khỏi nghi ngờ.
“Ông bán cái này bao nhiêu?” tôi hỏi.
“Tui đâu có biết bán nó bao nhiêu. Bao nhiêu cũng được, chỉ cần chút ít tiền mua gạo là được gồi.”
Tôi trao ông một số tiền và nói là sẽ “giải quyết” món này giùm ông rồi lặng lẽ khuất dạng nhưng trong lòng nhảy nhót, hớn hở, ca ngợi Chúa.
==========
Ngày hôm sau trên biển, chiếc ghe của chúng tôi tưởng là bình yên vô sự như ngày hôm trước; nhưng ngày thứ hai thì hoàn toàn khác. Từ xa xa chúng tôi thấy có một đóm xám hình như đang tiến về hướng chúng tôi. Thông thường thì ai nấy cũng sẽ thấy mừng rỡ; nhưng khi đóm xám đó đến càng gần, tôi lại cảm thấy nghi ngờ cho nên tôi không cho ra dấu hiệu cầu cứu. Tôi nói với người tài công:
“Mình chuyển hướng xem thử nó sẽ làm sao.”
Thì đúng y như tôi đã dự đoán, nó cũng chuyển hướng theo. Nhưng bây giờ thì không còn là một đóm xám nữa, mà là sáu chiếc tàu đánh cá. Tính theo hướng đi và thời gian trên biển, chúng tôi đoán đây là những chiếc tàu đánh cá Thái Lan. Tôi biết ngay đây không phải là dấu hiệu tốt và đã ra hiệu cho người tài công nhấn hết ga và chạy trối chết. “Cá lớn” của chúng tôi đã dựng đứng lên khoảng bảy mươi độ, chỉ còn một phần cuối ghe còn chạm mặt nước thôi. Sáu chiếc tàu kia cũng phun khói đen đầy trời và rượt theo. Sau một vài tiếng đồng hồ thì sáu chiếc tàu đó lại chịu 

thua và rút lui vì không tài nào đuổi kịp chúng tôi. Thật là một chuyện khó tin!
Lối nửa đêm hôm đó thì bầu trời với những vì sao li ti êm đềm của đêm trước đã trở thành một bầu trời đầy mây đen vần vũ. Gió cao cấp đã tung hoành tứ phía như muốn nuốt chửng chiếc ghe nhỏ bé của chúng tôi. Một trận bão có lẽ cỡ cấp ba, cấp bốn đã tự do hoành hành và cái chết là chắc chắn trong mắt chúng tôi. Một vài tiếng đồng hồ sau thì chiếc ghe vốn có chỗ hở ở dưới đáy đã bị nứt to hơn và nước bắt đầu vào trong ghe rất nhanh. Một số thanh niênđã phải tranh đấu bằng cách tát từng xô nước ra ngoài để không bị chìm ghe. Họ vật lộn với tử thần gần như cả đêm như vậy. Trong lúc chiến trận giữa cái chết và sự sống đang xảy ra, tôi đi lên mũi ghe giơ tay lên trời và kêu cầu khẩn thiết cùng Chúa. Tôi không biết tôi đã làm vậy bao lâu, nhưng thình lình tôi rớt xuống khỏi mũi ghe và lọt gọn vào vòng tay của một người đàn ông mà trước chuyến đi này chúng tôi không hề quen biết.
Rồi từ từ biển Thái Bình đã kềm hãm cơn giận của mình và trả lại sự yên bình cho cá lớn. Bầu trời lúc đó cũng đã ràng rạng ánh bình minh ở cuối chân trời. 
“…Ngài như nơi trú ẩn lúc giông bão…” (Ê-sai 25:4)
Tất cả mọi người đã nằm la liệt vì mệt rã người sau một cuộc chiến ác liệt vừa qua. Một số người vẫn còn phải thay phiên nhau tát nước vì ở dưới lòng ghe đã bị nứt trầm trọng. Tôi không ngờ được tôi vẫn còn sống mà không thương tích gì. Làm sao giữa cơn bão mà tôi có thể rớt từ mũi ghe vào lòng của một người ở dưới một cách gọn gàng như vậy? Trí nhớ tôi một lần nữa đã dẫn tôi về ba ngày trước đó, trước khi lên cá lớn…
Không biết vì lý do gì trước khi tôi lên cá nhỏ để ráp với cá lớn, tôi linh tính là có người bị bỏ lại. Tôi không nghĩ có thể xảy ra vì ông này đã giao tiền đầy đủ và có người quen đi chung. Người bạn của ông chắc phải báo cho ông biết giờ và điểm hẹn chứ. Tôi thấy không ổn nên quyết định ghé qua nhà ông trên đường đi để xem cho chắc ăn. Khi tôi đến thì còn thấy ông nằm trên võng huýt gió và không hề biết về cuộc hẹn ngoài cửa biển. Tôi la lên:
“Anh Hoè, anh còn làm gì ở đây? Mọi người đã ra cá lớn hết rồi!”
Anh Hoè luýnh quýnh gom hết đồ đạc của ông và chạy theo tôi. Vừa chạy, vừa bỏ đồ vào giỏ, 


không ngớt lời cám ơn tôi. Khi ông đã chụp tôi một cách gọn gàng, tôi hiểu ra thêm đây là người Chúa đã chuẩn bị để cứu tôi giữa cơn bão tố.
=========
Sau cơn bão và mấy ngày trên biển cả như vậy, hình dáng đất liền là cả một niềm vui cho người đi biển; nhất là lúc chiếc ghe đã bị nứt trầm trọng như vậy. Hòn đảo chúng tôi đến đã dành sẵn ưu đãi cho chúng tôi sau những ngày khó nhọc trên biển. Chúng tôi không thể ngờ là một dân tỵ nạn lại được thụ hưởng những thứ sang trọng như vậy. Nhà cửa trên đảo rất khang trang và rộng rãi, đầy đủ tiện nghi cho một ông lớn. Chắc chắn đảo này không phải đảo hoang nhưng lại không có một bóng người. Vì không ai trên đảo, nên chúng tôi đã tha hồ hưởng thụ chăn ấm nệm êm, hồ tắm nước ngọt, đồ ăn, thức uống sang trọng không tưởng tượng được trong một ngày một đêm như vậy. Dù ngắn ngủi, tạm bợ, nhưng chúng tôi như đã nếm được chút thiên đường. Ngày hôm sau, không biết ai đã báo cho nhà cầm quyền biết, cảnh sát Mã Lai đã sừng sộ đến với súng ống và mã tấu để trừng trị những người tỵ nạn cả gan này. Họ cho chúng tôi biết đây là một trong những chỗ vua Mã Lai dùng để đi nghỉ mát. Chính dân của Mã Lai cũng không được quyền đến đó. Lúc đó chúng mới biết hòn đảo này là đảo hoàng gia. Không hiểu tại sao đảo hoàng gia mà lại không có một người canh gác. Thú vị quá! Chúng tôi đã được làm vua một ngày một đêm J. Họ múa mã tấu trước mặt tôi và hăm he sẽ giết hết tất cả. Tôi thấy tình hình không ổn nên đã nói với họ:

“Tôi làm việc với giáo sĩ Mỹ; và trước khi đi tôi đã báo cho họ biết. Nếu tôi không đến bình yên, họ sẽ đi tìm tôi. Nếu họ khám phá ra là các ông đã giết tôi thì chuyện gì sẽ xảy ra với các ông?” Tôi hăm he vậy mà hình như họ sợ. Sau khi chúng đã lục soát và lấy gần hết những nữ trang và đồ vật quý giá, họ đòi kéo ghe chúng tôi ra khơi để đi tiếp tục. Tôi cũng không chịu:
“Máy ghe chúng tôi đã chết và lường ghe bị nứt trầm trọng nên không thể nào đi tiếp tục được. Chúng tôi thà chết ở đây chứ không trở ra biển khơi làm mồi cho cá.” Họ lúng túng, không biết phải phản ứng sao với một ông chủ tàu liều lĩnh như vậy. Sau khi bàn tính với nhau xong, họ nói là sẽ kéo ghe chúng tôi qua một trại tỵ nạn gần nhất. Tôi tiếp tục làm khó:
“Làm sao tôi biết là các ông sẽ không cắt dây khi ra ngoài biển? Tôi đề nghị các ông phải cho một người của các ông lên ghe tôi, như vậy thì chúng tôi mới đi.” Thấy bộ không khiển nổi cái ông chủ tàu bướng bĩnh này, họ đành phải đồng ý kéo cá lớn chúng tôi đến trại tỵ nạn trên đảo Pulau Penang. Ngày đó là ngày Lễ Phục Sinh.
Sự sống lại của Chúa Giê-xu lúc đó có một ý nghĩa sâu sắc và cao cả hơn những ngày Lễ Phục Sinh tôi đã từng dự qua. Tử thần đã không nắm giữ được Chúa Giê-xu thì nó cũng không bắt giữ được chúng tôi nếu Chúa không cho phép, dù chúng tôi đã giáp mặt với nó. Sự cam kết của tôi với Chúa bắt đầu ngay. Gia đình tôi và những con cái Chúa khác đã tổ chức Lễ Phục Sinh ngày hôm đó để dâng lời cảm tạ Chúa vì sự bảo bọc, che chở của Ngài trên chuyến đi hãi hùng đó. Một tuần lễ sau chúng tôi được chuyển qua Pulau Bidong. Lúc đó có nhiều người tỵ nạn đã đến đảo cho nên không có chỗ ở dưới chân núi. Chúng tôi phải tự lên rừng cưa cây để xây nhà ở tạm của mình trên núi. Trong lúc đó chúng tôi phải ở trên một chiếc tàu sắt trên bãi biển, nơi mà những người trên đảo đã dùng để làm nhà vệ sinh. Chúng tôi phải lấy xăng dầu còn lại để đốt cho đỡ mùi hôi và đã ở đó một tháng trong lúc chờ đợi xây cất nhà. Tấm lều mà đã che mưa, che nắng trên ghe đã tiếp tục làm nóc cho chúng tôi thêm sáu tháng nữa trên đảo. Ở đó tôi đã cộng tác với anh em con cái Chúa để hầu việc Ngài cho đến ngày rời trại để qua trại chuyển tiếp tại Kuala Lumpur, Mã Lai.


Tưởng đã thoát nạn, nhưng một lần nữa hoạn nạn đã đến. Khi đến đảo Pulau Bidong thì chúng tôi khám phá nhà tôi đã mang thai được hai tháng. Khi qua trại chuyển tiếp thì đã được tám tháng. Họ thấy thai quá to nên họ giữ lại cho đến khi nào sanh xong mới cho lên máy bay. Đến ngày sanh nở, bọc nước đã bể; nhưng khi vào nhà thương, họ chỉ cho một cái ghế cây để ngồi ba ngày như vậy. Tôi thấy nhà tôi đau đớn quá nên tôi đã đi kiếm những giáo sĩ Mỹ để can thiệp. Các giáo sĩ không biết tôi nhưng biết ông bà giáo sĩ Herman Hayes là người đã đem tôi đến với Chúa. Họ rủ nhau, năm, sáu người vào để can thiệp. Họ hăm doạ là sẽ đưa ra Liên Hiệp Quốc về những hành động thiếu nhân đạo của nhân viên nhà thương. Nhờ vậy, đứa con út của tôi được ra đời và mẹ con đều thoát chết. Dù da của nó nhăn nheo như trái mận khô do thiếu nước ba ngày, nhưng rất mạnh khoẻ. Nó đã trở thành niềm vui và là một dấu ấn để nhắc nhở chúng tôi về sự bảo bọc của Chúa trong những cơn hoạn nạn. Sáu đứa con đã cùng tôi rời Việt Nam nay đã trở thành một con số trọn vẹn với một tương lai sáng sủa đang đón chờ.
==========
Gần ba mươi lăm năm ở Hoa Kỳ, Người Sông Hậu đã làm trọn lời hứa nguyện với Chúa khi lênh đênh trên biển khơi, nên không thì giờ ghi chép lại chuyện này. Vào những ngày cuối đời của ông, ông quá yếu nên không tự viết lại được. Ông đã giao việc viết lại những ơn phước Chúa cho đứa con gái của ông. Người Sông Hậu nay không còn làm thơ, viết văn nữa; nhưng mong những dòng chữ này được lưu lại trong lòng hậu tự của ông mãi mãi. Ông dặn dò kỹ lưỡng cô con gái khi viết lại chuyện này thì đừng quên câu nói của Mục-sư Lê Văn Tôi, lúc Mục-sư Tôi đến thăm viếng ông khi ông oán hận Chúa vì đã để tai nạn xảy ra cho bàn tay phải của ông. Lời nói của đầy tớ Chúa vẫn vang vọng đến ngày nay:
“Có những điều tốt mà Đức Chúa Trời làm cho mình mà mình không biết. Chớ ông đừng tưởng rằng bàn tay ông bị dập nát là Chúa không thương ông.” (Vì nếu đã không bị máy ép nước mía nghiến dập nát bàn tay thì gia đình ông phải đi kinh tế mới, đâu có cơ hội để vượt biên.)
Đã có bao nhiêu người vượt biên và có những câu chuyện rất ly kỳ kể lại, nhưng phần nhiều tin vào sự may mắn, số mạng và khả năng tổ chức của con người. Nghe kể qua thì nó như một giấc mơ hay chuyện huyền thoại, chỉ có những người trong cuộc mới thấy rõ được sự dẫn dắt nhiệm mầu của Chúa. Đối với Người Sông Hậu, những việc xảy ra không thể là tình cờ hoặc may mắn và chắc chắn không nhờ vào tài năng của ông. Chuyến vượt biển của ông là một trong những bằng chứng sống động về quyền năng và chương trình diệu kỳ của Thượng Đế cho ông và gia đình của ông. Ơn phước Chúa không đã ngừng ở đây, còn rất nhiều điều để kể…

không ngớt lời cám ơn tôi. Khi ông đã chụp tôi một cách gọn gàng, tôi hiểu ra thêm đây là người Chúa đã chuẩn bị để cứu tôi giữa cơn bão tố.
=========
Sau cơn bão và mấy ngày trên biển cả như vậy, hình dáng đất liền là cả một niềm vui cho người đi biển; nhất là lúc chiếc ghe đã bị nứt trầm trọng như vậy. Hòn đảo chúng tôi đến đã dành sẵn ưu đãi cho chúng tôi sau những ngày khó nhọc trên biển. Chúng tôi không thể ngờ là một dân tỵ nạn lại được thụ hưởng những thứ sang trọng như vậy. Nhà cửa trên đảo rất khang trang và rộng rãi, đầy đủ tiện nghi cho một ông lớn. Chắc chắn đảo này không phải đảo hoang nhưng lại không có một bóng người. Vì không ai trên đảo, nên chúng tôi đã tha hồ hưởng thụ chăn ấm nệm êm, hồ tắm nước ngọt, đồ ăn, thức uống sang trọng không tưởng tượng được trong một ngày một đêm như vậy. Dù ngắn ngủi, tạm bợ, nhưng chúng tôi như đã nếm được chút thiên đường. Ngày hôm sau, không biết ai đã báo cho nhà cầm quyền biết, cảnh sát Mã Lai đã sừng sộ đến với súng ống và mã tấu để trừng trị những người tỵ nạn cả gan này. Họ cho chúng tôi biết đây là một trong những chỗ vua Mã Lai dùng để đi nghỉ mát. Chính dân của Mã Lai cũng không được quyền đến đó. Lúc đó chúng mới biết hòn đảo này là đảo hoàng gia. Không hiểu tại sao đảo hoàng gia mà lại không có một người canh gác. Thú vị quá! Chúng tôi đã được làm vua một ngày một đêm J. Họ múa mã tấu trước mặt tôi và hăm he sẽ giết hết tất cả. Tôi thấy tình hình không ổn nên đã nói với họ:
“Tôi làm việc với giáo sĩ Mỹ; và trước khi đi tôi đã báo cho họ biết. Nếu tôi không đến bình yên, họ sẽ đi tìm tôi. Nếu họ khám phá ra là các ông đã giết tôi thì chuyện gì sẽ xảy ra với các ông?” Tôi hăm he vậy mà hình như họ sợ. Sau khi chúng đã lục soát và lấy gần hết những nữ trang và đồ vật quý giá, họ đòi kéo ghe chúng tôi ra khơi để đi tiếp tục. Tôi cũng không chịu:


“Máy ghe chúng tôi đã chết và lường ghe bị nứt trầm trọng nên không thể nào đi tiếp tục được. Chúng tôi thà chết ở đây chứ không trở ra biển khơi làm mồi cho cá.” Họ lúng túng, không biết phải phản ứng sao với một ông chủ tàu liều lĩnh như vậy. Sau khi bàn tính với nhau xong, họ nói là sẽ kéo ghe chúng tôi qua một trại tỵ nạn gần nhất. Tôi tiếp tục làm khó:
“Làm sao tôi biết là các ông sẽ không cắt dây khi ra ngoài biển? Tôi đề nghị các ông phải cho một người của các ông lên ghe tôi, như vậy thì chúng tôi mới đi.” Thấy bộ không khiển nổi cái ông chủ tàu bướng bĩnh này, họ đành phải đồng ý kéo cá lớn chúng tôi đến trại tỵ nạn trên đảo Pulau Penang. Ngày đó là ngày Lễ Phục Sinh.

Sự sống lại của Chúa Giê-xu lúc đó có một ý nghĩa sâu sắc và cao cả hơn những ngày Lễ Phục Sinh tôi đã từng dự qua. Tử thần đã không nắm giữ được Chúa Giê-xu thì nó cũng không bắt giữ được chúng tôi nếu Chúa không cho phép, dù chúng tôi đã giáp mặt với nó. Sự cam kết của tôi với Chúa bắt đầu ngay. Gia đình tôi và những con cái Chúa khác đã tổ chức Lễ Phục Sinh ngày hôm đó để dâng lời cảm tạ Chúa vì sự bảo bọc, che chở của Ngài trên chuyến đi hãi hùng đó. Một tuần lễ sau chúng tôi được chuyển qua Pulau Bidong. Lúc đó có nhiều người tỵ nạn đã đến đảo cho nên không có chỗ ở dưới chân núi. Chúng tôi phải tự lên rừng cưa cây để xây nhà ở tạm của mình trên núi. Trong lúc đó chúng tôi phải ở trên một chiếc tàu sắt trên bãi biển, nơi mà những người trên đảo đã dùng để làm nhà vệ sinh. Chúng tôi phải lấy xăng dầu còn lại để đốt cho đỡ mùi hôi và đã ở đó một tháng trong lúc chờ đợi xây cất nhà. Tấm lều mà đã che mưa, che nắng trên ghe đã tiếp tục làm nóc cho chúng tôi thêm sáu tháng nữa trên đảo. Ở đó tôi đã cộng tác với anh em con cái Chúa để hầu việc Ngài cho đến ngày rời trại để qua trại chuyển tiếp tại Kuala Lumpur, Mã Lai.
Tưởng đã thoát nạn, nhưng một lần nữa hoạn nạn đã đến. Khi đến đảo Pulau Bidong thì chúng tôi khám phá nhà tôi đã mang thai được hai tháng. Khi qua trại chuyển tiếp thì đã được tám tháng. Họ thấy thai quá to nên họ giữ lại cho đến khi nào sanh xong mới cho lên máy bay. Đến ngày sanh nở, bọc nước đã bể; nhưng khi vào nhà thương, họ chỉ cho một cái ghế cây để ngồi ba ngày như vậy. Tôi thấy nhà tôi đau đớn quá nên tôi đã đi kiếm những giáo sĩ Mỹ để can thiệp. Các giáo sĩ không biết tôi nhưng biết ông bà giáo sĩ Herman Hayes là người đã đem tôi đến với Chúa. Họ rủ nhau, năm, sáu người vào để can thiệp. Họ hăm doạ là sẽ đưa ra Liên Hiệp Quốc về những hành động thiếu nhân đạo của nhân viên nhà thương. Nhờ vậy, đứa con út của tôi được ra đời và mẹ con đều thoát chết. Dù da của nó nhăn nheo như trái mận khô do thiếu nước ba ngày, nhưng rất mạnh khoẻ. Nó đã trở thành niềm vui và là một dấu ấn để nhắc nhở chúng tôi về sự bảo bọc của Chúa trong những cơn hoạn nạn. Sáu đứa con đã cùng tôi rời Việt Nam nay đã trở thành một con số trọn vẹn với một tương lai sáng sủa đang đón chờ.
==========
Gần ba mươi lăm năm ở Hoa Kỳ, Người Sông Hậu đã làm trọn lời hứa nguyện với Chúa khi lênh đênh trên biển khơi, nên không thì giờ ghi chép lại chuyện này. Vào những ngày cuối đời của ông, ông quá yếu nên không tự viết lại được. Ông đã giao việc viết lại những ơn phước Chúa cho đứa con gái của ông. Người Sông Hậu nay không còn làm thơ, viết văn nữa; nhưng mong những dòng chữ này được lưu lại trong lòng hậu tự của ông mãi mãi. Ông dặn dò kỹ lưỡng cô con gái khi viết lại chuyện này thì đừng quên câu nói của Mục-sư Lê Văn Tôi, lúc Mục-sư Tôi đến thăm viếng ông khi ông oán hận Chúa vì đã để tai nạn xảy ra cho bàn tay phải của ông. Lời nói của đầy tớ Chúa vẫn vang vọng đến ngày nay:
“Có những điều tốt mà Đức Chúa Trời làm cho mình mà mình không biết. Chớ ông đừng tưởng rằng bàn tay ông bị dập nát là Chúa không thương ông.” (Vì nếu đã không bị máy ép nước mía nghiến dập nát bàn tay thì gia đình ông phải đi kinh tế mới, đâu có cơ hội để vượt biên.)
Đã có bao nhiêu người vượt biên và có những câu chuyện rất ly kỳ kể lại, nhưng phần nhiều tin vào sự may mắn, số mạng và khả năng tổ chức của con người. Nghe kể qua thì nó như một giấc mơ hay chuyện huyền thoại, chỉ có những người trong cuộc mới thấy rõ được sự dẫn dắt nhiệm mầu của Chúa. Đối với Người Sông Hậu, những việc xảy ra không thể là tình cờ hoặc may mắn và chắc chắn không nhờ vào tài năng của ông. Chuyến vượt biển của ông là một trong những bằng chứng sống động về quyền năng và chương trình diệu kỳ của Thượng Đế cho ông và gia đình của ông. Ơn phước Chúa không đã ngừng ở đây, còn rất nhiều điều để kể…


không ngớt lời cám ơn tôi. Khi ông đã chụp tôi một cách gọn gàng, tôi hiểu ra thêm đây là người Chúa đã chuẩn bị để cứu tôi giữa cơn bão tố.
=========
Sau cơn bão và mấy ngày trên biển cả như vậy, hình dáng đất liền là cả một niềm vui cho người đi biển; nhất là lúc chiếc ghe đã bị nứt trầm trọng như vậy. Hòn đảo chúng tôi đến đã dành sẵn ưu đãi cho chúng tôi sau những ngày khó nhọc trên biển. Chúng tôi không thể ngờ là một dân tỵ nạn lại được thụ hưởng những thứ sang trọng như vậy. Nhà cửa trên đảo rất khang trang và rộng rãi, đầy đủ tiện nghi cho một ông lớn. Chắc chắn đảo này không phải đảo hoang nhưng lại không có một bóng người. Vì không ai trên đảo, nên chúng tôi đã tha hồ hưởng thụ chăn ấm nệm êm, hồ tắm nước ngọt, đồ ăn, thức uống sang trọng không tưởng tượng được trong một ngày một đêm như vậy. Dù ngắn ngủi, tạm bợ, nhưng chúng tôi như đã nếm được chút thiên đường. Ngày hôm sau, không biết ai đã báo cho nhà cầm quyền biết, cảnh sát Mã Lai đã sừng sộ đến với súng ống và mã tấu để trừng trị những người tỵ nạn cả gan này. Họ cho chúng tôi biết đây là một trong những chỗ vua Mã Lai dùng để đi nghỉ mát. Chính dân của Mã Lai cũng không được quyền đến đó. Lúc đó chúng mới biết hòn đảo này là đảo hoàng gia. Không hiểu tại sao đảo hoàng gia mà lại không có một người canh gác. Thú vị quá! Chúng tôi đã được làm vua một ngày một đêm J. Họ múa mã tấu trước mặt tôi và hăm he sẽ giết hết tất cả. Tôi thấy tình hình không ổn nên đã nói với họ:
“Tôi làm việc với giáo sĩ Mỹ; và trước khi đi tôi đã báo cho họ biết. Nếu tôi không đến bình yên, họ sẽ đi tìm tôi. Nếu họ khám phá ra là các ông đã giết tôi thì chuyện gì sẽ xảy ra với các ông?” Tôi hăm he vậy mà hình như họ sợ. Sau khi chúng đã lục soát và lấy gần hết những nữ trang và đồ vật quý giá, họ đòi kéo ghe chúng tôi ra khơi để đi tiếp tục. Tôi cũng không chịu:


“Máy ghe chúng tôi đã chết và lường ghe bị nứt trầm trọng nên không thể nào đi tiếp tục được. Chúng tôi thà chết ở đây chứ không trở ra biển khơi làm mồi cho cá.” Họ lúng túng, không biết phải phản ứng sao với một ông chủ tàu liều lĩnh như vậy. Sau khi bàn tính với nhau xong, họ nói là sẽ kéo ghe chúng tôi qua một trại tỵ nạn gần nhất. Tôi tiếp tục làm khó:
“Làm sao tôi biết là các ông sẽ không cắt dây khi ra ngoài biển? Tôi đề nghị các ông phải cho một người của các ông lên ghe tôi, như vậy thì chúng tôi mới đi.” Thấy bộ không khiển nổi cái ông chủ tàu bướng bĩnh này, họ đành phải đồng ý kéo cá lớn chúng tôi đến trại tỵ nạn trên đảo Pulau Penang. Ngày đó là ngày Lễ Phục Sinh.
Sự sống lại của Chúa Giê-xu lúc đó có một ý nghĩa sâu sắc và cao cả hơn những ngày Lễ Phục Sinh tôi đã từng dự qua. Tử thần đã không nắm giữ được Chúa Giê-xu thì nó cũng không bắt giữ được chúng tôi nếu Chúa không cho phép, dù chúng tôi đã giáp mặt với nó. Sự cam kết của tôi với Chúa bắt đầu ngay. Gia đình tôi và những con cái Chúa khác đã tổ chức Lễ Phục Sinh ngày hôm đó để dâng lời cảm tạ Chúa vì sự bảo bọc, che chở của Ngài trên chuyến đi hãi hùng đó. Một tuần lễ sau chúng tôi được chuyển qua Pulau Bidong. Lúc đó có nhiều người tỵ nạn đã đến đảo cho nên không có chỗ ở dưới chân núi. Chúng tôi phải tự lên rừng cưa cây để xây nhà ở tạm của mình trên núi. Trong lúc đó chúng tôi phải ở trên một chiếc tàu sắt trên bãi biển, nơi mà những người trên đảo đã dùng để làm nhà vệ sinh. Chúng tôi phải lấy xăng dầu còn lại để đốt cho đỡ mùi hôi và đã ở đó một tháng trong lúc chờ đợi xây cất nhà. Tấm lều mà đã che mưa, che nắng trên ghe đã tiếp tục làm nóc cho chúng tôi thêm sáu tháng nữa trên đảo. Ở đó tôi đã cộng tác với anh em con cái Chúa để hầu việc Ngài cho đến ngày rời trại để qua trại chuyển tiếp tại Kuala Lumpur, Mã Lai.
Tưởng đã thoát nạn, nhưng một lần nữa hoạn nạn đã đến. Khi đến đảo Pulau Bidong thì chúng tôi khám phá nhà tôi đã mang thai được hai tháng. Khi qua trại chuyển tiếp thì đã được tám tháng. Họ thấy thai quá to nên họ giữ lại cho đến khi nào sanh xong mới cho lên máy bay. Đến ngày sanh nở, bọc nước đã bể; nhưng khi vào nhà thương, họ chỉ cho một cái ghế cây để ngồi ba ngày như vậy. Tôi thấy nhà tôi đau đớn quá nên tôi đã đi kiếm những giáo sĩ Mỹ để can thiệp. Các giáo sĩ không biết tôi nhưng biết ông bà giáo sĩ Herman Hayes là người đã đem tôi đến với Chúa. Họ rủ nhau, năm, sáu người vào để can thiệp. Họ hăm doạ là sẽ đưa ra Liên Hiệp Quốc về những hành động thiếu nhân đạo của nhân viên nhà thương. Nhờ vậy, đứa con út của tôi được ra đời và mẹ con đều thoát chết. Dù da của nó nhăn nheo như trái mận khô do thiếu nước ba ngày, nhưng rất mạnh khoẻ. Nó đã trở thành niềm vui và là một dấu ấn để nhắc nhở chúng tôi về sự bảo bọc của Chúa trong những cơn hoạn nạn. Sáu đứa con đã cùng tôi rời Việt Nam nay đã trở thành một con số trọn vẹn với một tương lai sáng sủa đang đón chờ.
==========
Gần ba mươi lăm năm ở Hoa Kỳ, Người Sông Hậu đã làm trọn lời hứa nguyện với Chúa khi lênh đênh trên biển khơi, nên không thì giờ ghi chép lại chuyện này. Vào những ngày cuối đời của ông, ông quá yếu nên không tự viết lại được. Ông đã giao việc viết lại những ơn phước Chúa cho đứa con gái của ông. Người Sông Hậu nay không còn làm thơ, viết văn nữa; nhưng mong những dòng chữ này được lưu lại trong lòng hậu tự của ông mãi mãi. Ông dặn dò kỹ lưỡng cô con gái khi viết lại hắn không nhờ vào tài năng của ông. Chuyến vượt biển của ông là một trong những bằng chứng sống động về quyền năng và chương trình diệu kỳ của Thượng Đế cho ông và gia đình của ông. Ơn phước Chúa không đã ngừng ở đây, còn rất nhiều điều để kể…chuyện này thì đừng quên câu nói của Mục-sư Lê Văn Tôi, lúc Mục-sư Tôi đến thăm viếng ông khi ông oán hận Chúa vì đã để tai nạn xảy ra cho bàn tay phải của ông. Lời nói của đầy tớ Chúa vẫn vang vọng đến ngày nay:
“Có những điều tốt mà Đức Chúa Trời làm cho mình mà mình không biết. Chớ ông đừng tưởng rằng bàn tay ông bị dập nát là Chúa không thương ông.” (Vì nếu đã không bị máy ép nước mía nghiến dập nát bàn tay thì gia đình ông phải đi kinh tế mới, đâu có cơ hội để vượt biên.)
Đã có bao nhiêu người vượt biên và có những câu chuyện rất ly kỳ kể lại, nhưng phần nhiều tin vào sự may mắn, số mạng và khả năng tổ chức của con người. Nghe kể qua thì nó như một giấc mơ hay chuyện huyền thoại, chỉ có những người trong cuộc mới thấy rõ được sự dẫn dắt nhiệm mầu của Chúa. Đối với Người Sông Hậu, những việc xảy ra không thể là tình cờ hoặc may mắn và chắc c
 THẢO NGUYÊN
Kỷ niệm một năm Mục-sư Đặng Minh Lành về nước Chúa



NGUYỄN KHẮC MAI * TÔI ĐI TRÊN VỈA HÈ SAIGON

30/03/2017

Tôi đi trên vỉa hè Sài Gòn

Nguyễn Khắc Mai
 
Tôi có nhiều kỷ niệm về Sài Gòn và vỉa hè Sài Gòn. Lần đầu tiên tôi đến Sài Gòn vào 1953. Bấy giờ tôi từ Nha Trang vào, đi tìm để nối lại liên lạc với nhóm học sinh kháng chiến Huế, vào đấy đi học hay làm việc. Tôn Thất Thanh, Nguyễn Điền và một số anh em nữa đón và làm việc với chúng tôi. Thanh và Điền, hai người bạn rất thân của tôi, dẫn tôi đi thăm thành phố. Chúng tôi lên xe thổ mộ, xe ngựa chở khách đi trong phố, từ xóm Bàn Cờ đến chợ Bến Thành. Sau đó chúng tôi lang thang, đi bộ qua các phố Tây. Họ dẫn tôi đến những hiệu sách. Ở đó tôi đã mua được nhiều tác phẩm văn học khuynh tả, như Khói lửa (le Feu), Gót sắt (Talon de fer)... Đặc biệt tôi đã mua được cuốn La Lutte des Classes en France (Cuộc đấu tranh giai cấp ở Pháp). Trong cuốn sách này có bài tựa rất quan trọng của F. Angels, mà những người cộng sản ở Nga ở Tàu ở Việt cố lờ đi như tuồng bị mù chữ! Lời thú nhận hay sám hối của Angels trong bài tựa ấy như sau: “Lịch sử chứng tỏ chúng tôi đã mắc sai lầm. Quan điểm của chúng tôi hồi đó chỉ là ảo tưởng. Lịch sử còn làm được nhiều hơn; không những đã xóa bỏ mê muội của chúng tôi hồi đó, mà còn thay đổi điều kiện đấu tranh của giai cấp vô sản. Phương pháp đấu tranh năm 1848 nay đã lỗi thời về mọi mặt: chẳng có mục tiêu lớn Chủ nghĩa Cộng sản gì cả. Đó chỉ là một mệnh đề được người khai sáng chủ nghĩa Mác đề xuất lúc trẻ. Nhưng đã vứt bỏ nó trong cuối đời”. (Chú ý năm 1848 là năm Mác và Angels công bố Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, trong đó có những nhận định, những chủ trương rất sai lầm, tội lỗi. Nhưng Lênin, Mao, Hồ... đều vẫn cứ coi đó như kinh thánh của phong trào cộng sản thế giới. Còn hôm nay tháng 3 năm 2017, Đảng bộ và chính quyền Sài Gòn đã hành xử với cái vỉa hè Sài Gòn đúng như tinh thần cộng sản “chế độ xưa ta thề phá thật tan tành”...

Bấy giờ đi dạo trên vỉa hè Sài Gòn, tôi rủng rỉnh hơn cả, vì tôi là giáo sư trường Trung học Kim Yến ở Nha Trang. Chúng tôi “kéo ghế” nơi một khu bán đồ giải khát. Ngồi trên vỉa hè thoáng đãng nói chuyện phiếm và bàn với nhau việc hoạt động kháng chiến. Bấy giờ vỉa hè là của hàng rong, của các em đánh giày, bán báo, của cả những nhà hàng được quây một khoảnh để đặt bàn ghế bán giải khát cho khách vãng lai. Hồi ấy, vỉa hè chưa thành nhu cầu bức thiết của những người có xe máy. Thành phố có cái vẻ bình yên, lịch sự với những sinh hoạt thông thường của đô thị. Còn trong khu Bàn Cờ, nơi tôi trọ, thì đường ngang, lối dọc, sát vách, sát thềm, sát hàng rào bằng phên đan, làm gì có vỉa hè. Thế mà đã mấy chục năm trôi qua. Điền, sau này là cử nhân toán, từng làm Bí thư Ban cán sự sinh viên Sài Gòn Gia Định, rồi được cử làm Chủ tịch Hội Sinh viên Giải phóng, đã hy sinh ở Củ Chi. Năm 1976 khi tôi trở lại Sài Gòn, Bội Quỳnh, em ruột của Điền, một bác sĩ, thiếu tá công an đưa tôi đi Thủ Đức thắp hương cho Điền. Quỳnh chỉ “nấm mộ của anh Điền. Nhưng chỉ có mộ chí chứ không có người”. Nhớ lại, hồi ấy lũ chúng tôi vô tư biết bao nhiêu, mơ mộng biết bao nhiêu, cứ ngây thơ nghĩ sau này Sài Gòn là của đằng mình, sẽ giữ cho nó vẫn là Hòn ngọc Viễn Đông. Chúng tôi đã ngồi trên vỉa hè Sài Gòn tán dóc, mơ mộng, nghĩ về những điều tưởng tượng mai sau. Quả thật cái mai sau mà chúng tôi hình dung một cách ngây thơ hồi ấy chẳng giống cái mai sau hiện thực một chút nào.
Tôi nhớ có lần mình đã được đi trên vỉa hè của đại lộ có cái tên rất thiền học-đường “Dưới bóng cây bồ đề” ở Berlin. Tôi nhớ mang máng tiếng Đức là Under den Linden (phát âm là Un-tơ ten Linh-ten), không biết có đúng không, nhưng nghĩa thì là như vậy. Con đường ấy thông cả Đông sang Tây. Trước khi chưa phá bức tường Berlin thì nó bị cắt làm đôi. Ở giữa đường là bồn hoa rộng trên 10 m, một thảm xanh dịu dàng, vỉa hè rất rộng cũng ngót mươi mét, hàng cây bồ đề được cắt xén, từng quãng lại có ghế đá cho khách lãng du. Tôi đã ngồi ở đó thả hồn mộng mơ. Tôi tưởng tượng Mác và Gienny cùng bạn bè đã từng ngồi đâu đó, từng tranh luận về những ý tưởng cao sang của Mác mà thực chất là nhiều hoang tưởng bậy bạ, đáng yêu. Cái hoang tưởng luôn là cái đáng yêu của nhân loại! Tôi lại đẩy xa sự tưởng tượng của tôi sang đến tận những vỉa hè của Luân Đôn. Nơi đó hơn trăm năm trước có thể cả Mác và Angels đã thì thầm với nhau về cái gọi là “Chủ nghĩa Mác”, rồi Mác phải giẫy nẫy lên mà rằng, “làm sao tôi lại là mác xít được”. Có thể hai ông đã hình thành những ý tưởng “sám hối” như Angels đã thổ lộ trên bài tựa đã nói. 

Có thể người ta đã không nghĩ cho hết những vai trò của vỉa hè. Nó phong phú và lãng mạn, và thiết dụng biết bao nhiêu. Vì vỉa hè không phải là mạch máu như những con đường. Nó chính là hệ thống kinh lạc. Nó cũng nuôi dưỡng nền văn minh đô thị. Sự ứng xử chí phèo, hùng hục, võ biền… thật bất nhẫn và… vô học. Nhớ có lần anh Viện nói “cái chuyên chính vô sản không đáng sợ bằng cái chuyên chính vô học”. Tâm thức nông dân phong kiến Đông phương, kể cả cái phương Đông Nga La Tư cũng thế. Người ta đã không nghĩ được cái thực thể “bourgeois” là con người của Văn minh Đô thị. Họ gán cho nó là bọn tư sản bóc lột. Thật sự con người của Văn minh Đô thị chính là nhân loại mới của thế giới. Chúng ta đã u mê, lười biếng, cả tin và ngạo mạn để không tìm cho ra cái cốt tủy của “Đô thị và Con người của Đô thị”. Vì thế chúng ta không biết xây đắp, vun trồng cho con người đô thị lớn lên, xứng đáng là “héros de notre temps” (như tên một tác phẩm văn học Nga). Trên vỉa hè, người bán hàng rong (kể cả người đánh giầy, em bán báo…) người khách hàng cần đi mua sắm cần chỗ để xe máy, những vỉa hè thoáng, mát cần giành chỗ cho khách lãng du, và cả lúc cần giành cho người biểu tình. Nước Anh không thể Brexit nếu không có vỉa hè! Hãy đối xử với vỉa hè với một tầm của trí tuệ và tình cảm của những người “Bourgeois”. Quê mùa, Chí Phèo và cả Bá Kiến đều không tương thích với nền văn minh đô thị mới. 

Mấy ngày vừa rồi ở Sài Gòn tôi nghe nhiều những ý kiến xung quanh cái vỉa hè. Tôi có mấy cuốc taxi đi Hàng Xanh, đi Thủ Đức, đi Khánh Hội. Mấy chú lái taxi kể không biết bao nhiêu là chê bai trách móc. Tôi hỏi trước khi đập phá dọn dẹp họ có đưa ra một kế hoạch chu đáo không. Chẳng hạn như ông Thăng, ông Phong có biết thành phố có bao nhiêu km vỉa hè, loại rộng mươi lăm mét là bao nhiêu, loại hẹp năm ba mét, loại rất hẹp… Mà một vỉa hè chuẩn của Đô thành nhứt nước thì tối thiểu rộng bao nhiêu, có bao nhiêu vỉa hè không đạt chuẩn. Còn trên cái vỉa hè thì có bao nhiêu nhu cầu, quyền và lợi. Đâu phải chỉ chính quyền mới có quyền với vỉa hè, người hàng rong cũng có cái quyền của người ta chứ. Mỗi hạng người có quyền, có lợi, và có nghĩa vụ theo từng nhu cầu. Thành ra bây giờ có thể thêm vào cách nói của người Pháp “Dis-moi qui tu hantes, je te dirai qui tu es”. Là “hãy nói cho biết họ đối xử vỉa hè thế nào. sẽ bảo cho biết trình độ quản trị đô thị”. Đừng lấy làm chơi câu chuyện vỉa hè này. Không phải là muốn sánh với Singapore, mà là muốn vươn tới một Đô thành văn hóa, văn minh, hiện đại. Hành xử thô bạo, đơn giản, cảm tính đâu có được. Nội một cái vỉa hè tính không xong, ai tin được những hứa hẹn, quy hoạch trời biển khác? 

May quá, cái vỉa hè như là một bài học của thử thách. Hãy học cách làm tử tế xem. Đầu tiên là điều tra cơ bản, hiện trạng thế nào, có bao nhiêu mối quan hệ với nó, chuẩn của nó ở một Đô thành tầm vóc là thế nào, cái quyền, cái lợi cái nghĩa của từng loại nhu cầu là gì. Cùng nhau bàn đi rồi hẵng hành động. Hãy nên nhớ chính Lênin cũng phải thốt lên “gót chân Achilles của cộng sản là dốt, tham và cậy quyền”. Nếu cùng một việc, một lúc bộc lộ cả ba chỗ yếu kém như thế thì làm sao thọ cho đặng. Mà chính cả Lênin cũng chẳng biết đàng mù nào để bịt mấy gót Achilles cho khỏi sụm.
Triết học hiện đại cũng khẳng định “cái tiêu cực cũng có cái giá trị tích cực của nó”(Xem cuộc trò chuyện của triết gia F. Jullien với Minh triết). Từ cái khó ló cái khôn, từ cái vấp ngã mà biết đứng dậy. Từ cái ngu mà biết học, từ cái làm càn làm ẩu, mà biết lắng nghe.
Tôi không chỉ đi một ngày đàng, mà đi đến mấy ngày ở Thành phố nên cũng thấy khôn lên đôi chút.
N.K.M.
Tác giả gửi BVN.

VOA * HÀNH CHÁNH VIỆT NAM


Tình trạng ‘sếp nhiều như nhân viên’ trong bộ máy hành chính Việt Nam


 
clip_image001
Quốc hội Việt Nam họp (ảnh tư liệu, 4/2016) 

Trong những ngày cuối tháng 3, các đoàn giám sát của Quốc hội Việt Nam về cải cách bộ máy hành chính đã làm việc với một loạt các tỉnh. Đầu tháng này, các đoàn giám sát cũng làm việc với một số bộ.
Báo chí Việt Nam tường thuật rằng sau các cuộc làm việc này, các đoàn giám sát một lần nữa xác định rằng một số tỉnh, bộ có số lượng lãnh đạo đông bằng hoặc hơn nhân viên, một tình trạng đã tồn tại trong những năm gần đây và hiện chưa có dấu hiệu gì sẽ cải thiện.
Chưa có thống kê đầy đủ được công bố chính thức về tình trạng tại các bộ và các tỉnh, nhưng thông tin trên báo chí nêu lên những con số bị đánh giá là “khó coi”.
Tại Bộ Giao thông Vận tải, Vụ Pháp chế có 6 lãnh đạo, 8 chuyên viên; Vụ Tổ chức Cán bộ có 8 lãnh đạo, 14 chuyên viên, Cục Đường sắt 30 lãnh đạo, 72 chuyên viên. Nhiều đơn vị số lãnh đạo vượt cả số nhân viên, như Thanh tra Bộ có đến 20 lãnh đạo quản lý, trong khi chỉ có 18 chuyên viên và người lao động. Tương tự, Cục Quản lý Xây dựng và Chất lượng Công trình Giao thông có tỉ lệ lãnh đạo trên nhân viên là 41/31. Thậm chí Cục Quản lý Xây dựng Đường bộ có số lượng lãnh đạo gần gấp đôi nhân viên là 28/15. 

Tình trạng ở Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng không sáng sủa hơn. Tỷ lệ lãnh đạo so với chuyên viên, người lao động ở Vụ Tổ chức cán bộ 11/11, ở Cục khảo thí và kiểm định chất lượng giáo dục là 20/26.
Trong số các tỉnh, Thanh Hóa gây chú ý vì có nhiều đơn vị có số lãnh đạo cao hơn nhân viên. Sở Tư pháp tỉnh có 25 lãnh đạo cấp phòng trở lên và chỉ có 18 công chức với một người lao động. Sở Tài nguyên và Môi trường có tới 6 phó giám đốc, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đến cuối năm 2016 có 5 phó giám đốc.
Không dừng ở đó, một số đơn vị của tỉnh chỉ có lãnh đạo mà không hề có nhân viên, như Qũy Bảo trợ Trẻ em chỉ có một cấp trưởng, một cấp phó và không có nhân viên. Ban Nghiên cứu và Biên soạn Lịch sử cũng có một cấp trưởng và hai cấp phó.
Hai tỉnh khác được báo chí nhắc đến vì có vấn đề tương tự là Quảng Ninh và Hải Dương với các tít báo như “Đề nghị Quảng Ninh không để tình trạng lãnh đạo nhiều hơn nhân viên” trên báo Tiền Phong, hay “Hải Dương: Lãnh đạo nhiều gấp 2 lần nhân viên” trên báo Người Lao Động.
Giải trình với đoàn giám sát của Quốc hội, lãnh đạo tỉnh Hải Dương nói việc bổ nhiệm cán bộ của họ là theo đúng quy định của chính quyền trung ương. 

Lý giải về điều tưởng như là nghịch lý này, chuyên gia Đinh Duy Hòa viết trong một bài đăng trên trang VietnamNet: “Tỉnh quyết sở ấy có bao nhiêu biên chế, ví dụ sở A có 45 người. Theo quy định của trung ương, sở A được tổ chức 5 phòng. Như vậy tổng lãnh đạo của sở A sẽ gồm giám đốc sở, cộng 3 phó giám đốc sở, cộng 5 trưởng phòng, cộng 10 phó trưởng phòng, bằng 19 người (công chức lãnh đạo phòng tối đa là 3). Trong thực tế sẽ có phòng có 4 hoặc 5 biên chế, như vậy rõ ràng công chức lãnh đạo là nhiều hơn nhân viên, nhưng vẫn đúng quy định”.
Tất cả những chủ trương đó là những chủ trương mà ban hành thiếu khảo sát, cho nên đưa ra những chủ trương trên trời. Những quyết định, chính sách điều chỉnh mối quan hệ xã hội thì cần phải khảo sát, điều tra và nhất là cần phải hỏi các đối tượng đấy. Ban luật trên trời thì làm sao thực thi được. Đặt ra tổ chức là vì công việc, bố trí con người là vì việc chứ không vì người, nhưng cái đó cũng nói trên lý thuyết chứ không thực hiện được
 
Luật sư Trần Quốc Thuận, cựu Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội
Từng là Vụ trưởng Vụ Cải cách Hành chính, Bộ Nội vụ, đã nghỉ hưu năm 2014, chuyên gia Hòa cũng giải thích về công tác nhân sự ở cấp bộ trong bài viết của mình: “Mỗi bộ được tổ chức bao nhiêu vụ, cục; vụ nào được tổ chức bao nhiêu phòng [điều đó] được quy định trong nghị định của Chính phủ. Cái này thì bộ cũng như tỉnh đều chấp hành nghiêm chỉnh. Chuyện còn lại là của bộ: Quyết định vụ B bao nhiêu người, bổ nhiệm vụ trưởng và phó vụ trưởng, trưởng và phó trưởng phòng trong vụ (giả sử theo quy định của Chính phủ, vụ có 3 phòng thì công chức lãnh đạo của vụ sẽ là: 1 vụ trưởng, 3 phó vụ trưởng, 3 trưởng phòng và 6 phó trưởng phòng, [tổng cộng] bằng 13, trong khi biên chế chung cả vụ được duyệt là 18 hoặc 20). Cuối cùng lại là lãnh đạo nhiều hơn nhân viên mà vẫn đúng quy định”.
Ông Hòa cho rằng các cơ quan trung ương và địa phương làm đúng theo quy định hiện hành dẫn đến tình trạng “hòa cả làng”. Ông gợi ý rằng cách làm khác đi là nghiêm túc định nghĩa lại “những cái tưởng đơn giản như phòng là gì, vụ là gì, cục là gì, lúc nào thì tổ chức phòng, lúc nào thì tổ chức vụ, làm thế nào ra chính xác số lượng người trong một phòng, một vụ”. Chuyên gia này nhận định làm như vậy “sẽ ra ngay số lượng hợp lý lãnh đạo trong một phòng, một vụ”. 

Từ góc độ từng là Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, luật sư Trần Quốc Thuận ở thành phố Hồ Chí Minh nhận xét với VOA rằng cũng như nhiều luật khác, các quy định về bộ máy hành chính Việt Nam đã được xây dựng “thiếu cơ sở thực tế” nên dẫn đến lãnh đạo đông bằng hoặc hơn nhân viên. Ông nói:
“Tất cả những chủ trương đó là những chủ trương mà ban hành thiếu khảo sát, cho nên đưa ra những chủ trương trên trời. Những quyết định, chính sách điều chỉnh mối quan hệ xã hội thì cần phải khảo sát, điều tra và nhất là cần phải hỏi các đối tượng đấy. Ban luật trên trời thì làm sao thực thi được. Đặt ra tổ chức là vì công việc, bố trí con người là vì việc chứ không vì người, nhưng cái đó cũng nói trên lý thuyết chứ không thực hiện được”. 

Tình trạng bộ máy hành chính các cấp có quá nhiều lãnh đạo làm cho nhiều người phải than trên mạng xã hội lẫn báo chí chính thống rằng “quan nhiều như thế, dân làm sao sống nổi”.
Theo số liệu trên báo chí trong nước, Việt Nam ước tính có 2,8 triệu cán bộ, công chức và viên chức. Bên cạnh đó là nhiều người đã nghỉ hưu và những người hưởng lương, trợ cấp từ ngân sách nhà nước, con số này lên tới 7,5 triệu người, chiếm 8,3% dân số cả nước. Toàn bộ số người “hưởng lương và mang tính chất lương” lên tới 11 triệu người. Trong một cuộc phỏng vấn với một báo Việt Nam hồi giữa năm ngoái, chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan nói “không ngân sách nào nuôi nổi bộ máy ăn lương lớn như vậy”. 

clip_image002


Việt Nam cần cải cách bộ máy hành chính để thúc đẩy kinh tế (ảnh tư liệu, Hà Nội, 2/2013)
Việc tinh giản biên chế trong những năm gần đây ngày càng trở nên cấp bách ở Việt Nam. Bộ Chính trị của Đảng Cộng sản đã ra một nghị quyết về vấn đề này hồi tháng 4/2015. Nhưng trên thực tế, các con số cho thấy dường như đang có diễn biến ngược chiều.
Tại một hội thảo về cải cách bộ máy hành chính nhà nước do đoàn giám sát của quốc hội tổ chức hồi cuối tháng 2, thông tin được công bố cho biết vào năm 2016, các cơ quan trung ương được giao quản lý 3.725.559 người. Tuy nhiên, tính đến ngày 30/10/2016, tổng số người hưởng lương, phụ cấp thực tế là 3.734.302 người, vượt 8.743 người. 

... hợp đồng nó sẽ loại những người vô tích sự ra. Thiếu gì giải pháp nhưng mà người ta không làm, bởi vì người ta quen cái thói là nói một đằng, làm một nẻo
Luật sư Trần Quốc Thuận
Luật sư Trần Quốc Thuận nói nhà nước Việt Nam đã đặt ra giải pháp là thay thế chế độ biên chế suốt đời bằng hợp đồng lao động, nhưng việc thực hiện còn chưa nghiêm chỉnh. Ông nói:
“Tất cả chuyển sang hợp đồng. Giờ những người đã làm lâu thì có thể hợp đồng 5 năm là dài nhất. Rồi 3 năm, 2 năm, 6 tháng. Tự nhiên cái hợp đồng nó sẽ loại những người vô tích sự ra. Thiếu gì giải pháp nhưng mà người ta không làm, bởi vì người ta quen cái thói là nói một đằng, làm một nẻo”.
Hội thảo về cải cách bộ máy hành chính nhà nước chỉ ra rằng vì có “tâm lý ngại va chạm” nên các cơ quan, tổ chức “chưa thực hiện nghiêm túc chủ trương về quản lý biên chế và tinh giản biên chế”. Trong khi đó, công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện biên chế và quản lý biên chế “còn buông lỏng” và “chưa có chế tài cụ thể đủ mạnh”. 

TIN TỨC VIỆT MỸ

TT Trump ký luật S.305, chỉ định ngày 29/3 là Ngày Cựu chiến binh Việt Nam


Cựu chiến binh Hoa Kỳ Jack Frey, bang Pennsylvania viếng Bức tường Chiến tranh Việt Nam ở thủ đô Washington.
Cựu chiến binh Hoa Kỳ Jack Frey, bang Pennsylvania viếng Bức tường Chiến tranh Việt Nam ở thủ đô Washington.
Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump đã ký dự luật S. 305 thành luật hôm thứ Ba 28/3, khuyến khích việc treo quốc kỳ Mỹ vào ngày 29/3 hàng năm để tôn vinh Ngày Cựu chiến binh Việt Nam.
Theo tin từ Tòa Bạch Ốc, Tổng thống Trump viết trên Tweeter:
"Tối nay tôi rất tự hào đã ký dự luật S. 305, khuyến khích trưng bày quốc kỳ Hoa Kỳ vào Ngày Cựu chiến binh Việt Nam hàng năm, ngày 29/3".
Phó Tổng thống Mike Pence hôm thứ Tư cũng lên Tweeter ca ngợi Tổng thống ký thành luật dự luật tôn vinh các cựu chiến binh Mỹ từng chiến đấu Việt Nam.
Thứ Tư vừa rồi đánh dấu một mốc điểm quan trọng trong lịch sử Hoa Kỳ. Cách đây đúng 44 năm vào ngày 29/3/1973, các binh sĩ Mỹ cuối cùng rút khỏi Việt Nam. Chương trình tin tức của đài FOX trích lời Tổng thống Nixon thời bấy giờ tuyên bố rằng: "ngày mà chúng ta mong đợi và cầu nguyện cuối cùng đã đến."

Đài truyền hình FOX nhắc lại rằng nhiều cựu chiến binh đã bị đối xử tồi tệ sau khi hồi hương về nước vì nhiều người chống đối chiến tranh Việt Nam, và đổ lỗi cho các quân nhân về tình hình bi thảm ở Việt Nam.
44 năm sau, các cựu chiến binh giờ đã được thừa nhận và chính thức vinh danh nhờ nỗ lực của Thượng nghị sĩ Joe Donnelly, đại diện bang Indiana.
Ông Donnelly và Thượng nghị sĩ Hoa Kỳ bang Pennsylvania Pat Toomey là đồng tác giả của Dự luật S. 305, công nhận các cựu chiến binh Mỹ chiến đấu tại Việt Nam.
Thông báo do Thượng nghị sĩ Donnelly công bố sau khi dự luật do ông tiến cử trở thành luật, có đoạn viết:
"Vào cuối cuộc chiến, rất nhiều cựu chiến binh của chúng ta trở về từ chiến trường Việt Nam đã không được giang tay chào đón, những cống hiến của họ không được công nhận. Dự luật lưỡng đảng này sẽ giúp đất nước chúng ta vinh danh thế hệ cựu chiến binh đã dạy chúng ta thế nào là lòng yêu nước và phụng sự tổ quốc. Họ xứng đáng được tôn vinh về cống hiến và hy sinh của họ. Tôi vui mừng được làm việc với Thượng nghị sĩ Toomey để cổ vũ cho Ngày cựu chiến binh Việt Nam."
Dự luật này được Thượng viện phê duyệt với sự ủng hộ của lưỡng đảng hôm 8/2, và được Hạ viện thông qua hôm 21/3. Tổng thống Trump ký dự luật ấy thành luật, có hiệu lực từ đêm 28/3.
Trong số 2.7 triệu binh sĩ Mỹ từng phục vụ tại Việt Nam, hơn 58.000 binh sĩ đã hy sinh và hơn 304.000 người bị thương, theo Military Times.
 http://www.voatiengviet.com/a/tt-trump-ky-luat-s305-chi-dinh-ngay-293-la-ngay-cuu-chien-binh-vietnam/3788614.html

 Đạo luật chế tài vi phạm nhân quyền sẽ áp dụng thế nào với Việt Nam?


Tiến Sĩ Nguyễn Đình Thắng, Chủ tịch Ủy Ban Cứu trợ Người Vượt biển (BPSOS).
Tiến Sĩ Nguyễn Đình Thắng, Chủ tịch Ủy Ban Cứu trợ Người Vượt biển (BPSOS).
Ủy ban Cứu trợ Người Vượt biển (BPSOS) hôm 17/3 đã hoàn tất và đệ trình danh sách 168 tổ chức, cá nhân kể cả quan chức, vi phạm nhân quyền trầm trọng ở Việt Nam lên Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ để áp dụng các chế tài trừng phạt theo Đạo Luật Nhân Quyền Toàn Cầu Magnitsky (Global Magnitsky Human Rights Accountability Act).
Đạo luật được thông qua bởi cựu Tổng thống Barack Obama (23/12/2016) quy định các biện pháp trừng phạt đối với những cá nhân, tổ chức bị chính phủ Mỹ coi là đã tham gia các hoạt động tham nhũng hay vi phạm nhân quyền. Theo luật này, một số các Ủy ban của Hạ và Thượng Viện (bên lập pháp), hay bộ phận chuyên trách dân chủ, nhân Quyền và lao Động trong Bộ Ngoại Giao (bên hành pháp) đều có thể lập ra danh sách đề nghị chế tài. Nếu đề nghị được chấp thuận thì những cá nhân hay tổ chức có tên trong “sổ đen” sẽ bị đóng băng tài sản ở Hoa Kỳ cũng như bị cấm nhập cảnh vào Mỹ.

Danh sách BPSOS vừa hoàn tất gồm có 5 giới chức thuộc chính quyền trung ương và 38 giới chức lãnh đạo cấp tỉnh. Số còn lại gồm các viên chức thừa hành cấp tỉnh hay lãnh đạo cấp địa phương. Ngoài ra, có một người đứng đầu một tập đoàn doanh nghiệp liên quan đến việc chính quyền dùng bạo lực để cưỡng chế đất của một xứ đạo Công Giáo năm 2010.
Tiến sĩ Nguyễn Đình thắng, Giám đốc điều hành BPSOS, cho VOA biết rằng ông và các cộng sự của mình đã điều tra, phối kiểm cũng như chuẩn bị danh sách này trong vào 3 năm liền, cho nên khi Đạo Luật này được áp dụng, BPSOS là tổ chức đầu tiên đệ trình danh sách chế tài liên quan.

Theo dự kiến, buổi họp báo mở đầu cuộc vận động áp dụng Luật Magnitsky Toàn Cầu đối với Việt Nam và một số quốc gia sẽ diễn ra trong tháng 4 tại Quốc Hội Hoa Kỳ và cuối tháng 6 sẽ diễn ra Ngày Vận Động thường niên cho nhân quyền Việt Nam. Quá trình vận động sẽ kéo dài đến tận cuối năm nay.
Tuy nhiên, với việc danh sách có tên nhiều quan chức chính quyền Việt Nam, đặc biệt có 5 lãnh đạo cấp cao, nhiều người nghi ngại rằng có thể chính phủ Hoa Kỳ sẽ né tránh và không đặt vấn đề nhân quyền lên trên lợi ích ngoại giao, thương mại giữa 2 nước.

Tiến Sĩ Thắng nói với quan ngại đó, trong năm đầu tiên khi lập danh sách đề nghị, tổ chức của ông cũng đã cố gắng hạn chế những nhân vật lãnh đạo quốc gia, nhưng mọi cuộc điều tra về đàn áp nhân quyền trầm trọng rốt cuộc cũng quay về các nhân vật chủ chốt.
“Nếu như chỉ cần một trường hợp bị đưa vào danh sách chế tài thì cũng đủ để tạo ra sự rúng động, quan tâm và chú ý trong giới lãnh đạo, trong các giới chức của Việt Nam,” Tiến sĩ Thắng chia sẻ.
Nhà hoạt động lâu năm tại khu vực thủ đô nước Mỹ này cũng hy vọng với Đạo Luật Nhân Quyền Toàn Cầu Magnitsky, người dân trong nước sẽ thấy rằng “bây giờ quả thực có một công cụ để trừng phạt những người đàn áp nhân quyền một cách nghiêm trọng ở Việt Nam.”
Thông thường, thời gian để Bộ Ngoại Giao kết hợp với Bộ Ngân Khố và Bộ Tư Pháp mở cuộc điều tra về các nhân vật có trong danh sách đề nghị là từ 6 đến 9 tháng.
Ngày 10/12 năm nay là hạn chót để các cơ quan này nộp bản phúc trình đầu tiên lên Tổng thống Hoa Kỳ.
 http://www.voatiengviet.com/a/dao-luat-che-tai-vi-pham-nhan-quyen-se-ap-dung-the-nao-voi-viet-nam/3788333.html

 

Việt - Mỹ thảo luận tăng cường thương mại song phương

RFA
2017-03-30
Một phòng trưng bày của hãng xe Ford, Mỹ ở trung tâm thành phố Hà Nội chụp hôm 12/1/2017.
Một phòng trưng bày của hãng xe Ford, Mỹ ở trung tâm thành phố Hà Nội chụp hôm 12/1/2017.
AFP photo
Hoa Kỳ và Việt Nam trong hai ngày 27 và 28 tháng 3 có vòng họp trong khuôn khổ Hiệp định Khung về Thương mại và Đầu tư (TIFA) của hai nước tại Hà Nội để thảo luận biện pháp tăng cường hơn nữa quan hệ thương mại cũng như giải quyết các vấn đề thương mại song phương còn tồn tại.
Trong cuộc họp, các đại diện của Mỹ đã kêu gọi Việt Nam nhanh chóng giải quyết các vấn đề song phương, bao gồm các vấn đề liên quan đến nông nghiệp và an toàn thực phẩm, sở hữu trí tuệ, thương mại số, dịch vụ tài chính, hải quan, hàng công nghiệp, minh bạch và quản trị tốt, và buôn bán động vật hoang dã bất hợp pháp. Hai bên cũng nhất trí khởi động các nhóm công tác tập trung giải quyết các vấn đề song phương, bắt đầu với các nhóm về các vấn đề nông nghiệp và an toàn thực phẩm, hàng công nghiệp, các vấn đề sở hữu trí tuệ và thương mại số.
Phía Mỹ cũng đã xem xét việc thực hiện hiệp định thuận lợi hóa thương mại của WTO của Việt Nam, cũng như sự tham gia của Việt Nam vào Hiệp định Công nghệ Thông tin mở rộng của WTO.
Đây là cuộc họp TIFA đầu tiên giữa Mỹ và Việt Nam kể từ năm 2011 và được phía Mỹ coi trọng và đánh giá như cơ hội để khẳng định lại cam kết của Chính phủ Tổng thống Donald Trump về mở rộng quan hệ với khu vực châu Á-Thái Bình Dương, trong đó có Việt Nam.
Năm 2016, Việt Nam là đối tác thương mại hàng hoá lớn thứ 16 của Mỹ, với thương mại hàng hoá hai chiều đạt 52,3 tỷ USD. Cũng trong năm 2016, Việt Nam là thị trường xuất khẩu nông nghiệp lớn thứ 10 của Mỹ với kim ngạch đạt 2,7 tỷ USD.
 http://www.rfa.org/vietnamese/vietnamnews/vn-us-resumed-dialogue-trade-investment-framework-agreement-03302017114946.html

 


VINH DANH MẸ NẤM

 

Mẹ Nấm được Bộ Ngoại giao Mỹ vinh danh 'Phụ nữ Can đảm'


Blogger Mẹ Nấm - Nguyễn Ngọc Như Quỳnh.
Blogger Mẹ Nấm - Nguyễn Ngọc Như Quỳnh.
Đệ nhất Phu nhân Melania Trump và Thứ trưởng Ngoại Giao Hoa Kỳ đặc trách các vấn đề chính trị Thomas A. Shannon hôm nay, 29/3, sẽ trao “Giải Phụ nữ Can đảm Quốc tế” năm 2017 cho một số phụ nữ đến từ nhiều nước trên thế giới tại trụ sở Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ. Trong số các phụ nữ được vinh danh, có Blogger Mẹ Nấm của Việt Nam và 12 phụ nữ khác.
Thông báo của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ hôm 28/3 cho biết từ khi Giải “Phụ nữ Can đảm Quốc tế” được thành lập vào năm 2007, Ngoại trưởng Mỹ đã vinh danh nhiều phụ nữ can trường trên toàn cầu, những người đã thể hiện lòng dũng cảm và khả năng lãnh đạo trong các nỗ lực vận động cho nhân quyền, bình đẳng giới và quyền phụ nữ. Giải này đặc biệt vinh danh những phụ nữ từng bị tống giam, tra tấn, bị đe dọa tới tính mạng hoặc chịu tổn thương nghiêm trọng vì đã đứng lên đấu tranh cho công lý, nhân quyền và pháp quyền.”

Thông báo của Tòa Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam có đoạn viết:
"Vào ngày 29/3, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ sẽ vinh danh bà Nguyễn Ngọc Như Quỳnh với Giải Phụ nữ Can đảm Quốc tế của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ vì sự can trường của bà trong cuộc đấu tranh cho các vấn đề xã hội dân sự, vì đã truyền cảm hứng cho những thay đổi ôn hòa, kêu gọi một hệ thống chính quyền minh bạch hơn, cổ vũ cho hoà bình, công lý và quyền con người, và là tiếng nói đại diện cho quyền tự do ngôn luận.”
Được biết một đại diện sẽ thay thế blogger Mẹ Nấm để nhận giải Phụ nữ Can Đảm Quốc tế, vì Mẹ Nấm, tức blogger Nguyễn Ngọc Như Quỳnh đang bị giam cầm ở Khánh Hoà về tội “tuyên truyền chống phá nhà nước” theo điều 88 của Bộ Luật Hình sự Việt Nam.
Trong số các phụ nữ khác được Bộ Ngoại giao Mỹ vinh danh hôm nay, còn có các phụ nữ đến từ Botswana, Cộng hòa Dân chủ Congo, Niger, Papua New Guinea, Thổ Nhĩ Kỳ, Syria, Iraq, Yemen, Sri Lanka, Bangladesh, Colombia và Peru. 

http://www.voatiengviet.com/a/me-nam-duoc-bng-my-vinh-danh-voi-giai-phu-nu-can-dam-quoc-te/3786540.html 

Blogger Mẹ Nấm nhận giải thưởng của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ


Tin tức: http://www.facebook.com/VOATiengViet, http://www.youtube.com/VOATiengVietVideo, http://www.voatiengviet.com. Nếu không vào được VOA, xin các bạn hãy vào http://vn3000.com để vượt tường lửa. Cuối cùng, chúng tôi muốn vinh danh một phụ nữ, người đã không thể có mặt ở đây ngày hôm nay, bà Nguyễn Ngọc Như Quỳnh đến từ Việt Nam. Bà là một tiếng nói mạnh mẽ chống lại những sự bất công, vi phạm nhân quyền, một blogger và nhà hoạt động trên mạng. Bà Quỳnh đang bị giam giữ, không cho liên lạc với bên ngoài kể từ tháng 10 năm ngoái vì đã vạch trần một vụ xả chất độc ra môi trường, một t rong những thảm hoạ môi trường tồi tệ nhất trong lịch sử Việt Nam. Ngày hôm nay, bà Quỳnh không thể có mặt bên cạnh những phụ nữ can đảm khác trong buổi lễ này. Chúng tôi ngưỡng mộ bà vì đã không im lặng, vì đã đứng lên bảo vệ quyền tự do biểu đạt. Chúng tôi vinh danh Nguyễn Ngọc Như Quỳnh vì đã quyết tâm vạch trần tham nhũng, bất công, và dám đứng lên góp tiếng nói của mình để bảo vệ quyền và tự do của người dân.
 http://www.voatiengviet.com/a/3786915.html


Blogger Mẹ Nấm - Người phụ nữ can đảm!

Chân Như, phóng viên RFA
2017-03-29
Blogger Mẹ Nấm (giữa) cùng hai con.
Blogger Mẹ Nấm (giữa) cùng hai con.
Photo courtesy of danlambao

Blogger Mẹ Nấm-Nguyễn Ngọc Như Quỳnh hôm 29/3/2017 đã được Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ vinh danh là "Người Phụ Nữ Can Đảm Trên Thế Giới Năm 2017".
Bà Nguyễn thị Tuyết Lan, thân mẫu của Mẹ Nấm, hiện phải chăm sóc cho hai đứa cháu ngoại và là người phải thăm nuôi con gái trong trại tạm giam; cũng như suốt bao năm qua từng một số lần phải đi đòi con khi bị công an sách nhiễu, bị buộc đi làm việc qua hình thức mà nhiều người thừa nhận là ‘bắt cóc’. Bà Tuyết Lan nói rõ quan điểm của bản thân bà đối với những hoạt động của con gái trong thời gian qua:
“Việc giúp người là bổn phận. Ở xứ tự do thì đó là chuyện bình thường, nhưng ở Việt Nam lại là không bình thường do đó hoạt động rồi bị bắt là thường.”
Những người từng hoạt động cùng blogger Mẹ Nấm đều thừa nhận về những đóng góp của cô cho phong trào đấu tranh chung như thừa nhận của anh Dương Đại Triều Lâm:
Tôi đánh giá việc làm của blogger Mẹ Nấm- Nguyễn Ngọc Như Quỳnh đã tác động rất là lớn và nó đã tạo một động lực cũng như là khơi dậy cá nhân tôi về lên tiếng cho các quyền tự do dân chủ dân quyền tại Việt Nam.”
Việc giúp người là bổn phận. Ở xứ tự do thì đó là chuyện bình thường, nhưng ở Việt Nam lại là không bình thường do đó hoạt động rồi bị bắt là thường.
- Bà Nguyễn thị Tuyết Lan
Cựu tù chính trị Phạm Thanh Nghiên trình bày lại một số hoạt động đáng chú ý của blogger Mẹ Nấm:
Nguyễn Ngọc Như Quỳnh có thể được nói là một trong những blogger mạnh mẽ cho vấn đề bảo vệ môi trường và phản đối công ty Formosa xả thải ra gây thảm họa môi trường tại Việt Nam.”
Cô Trịnh Kim Tiến, con của một nạn nhân bị công an đánh chết và từ đó tham gia công tác xã hội cũng có nhận xét về blogger Mẹ Nấm- Nguyễn Ngọc Như Quỳnh:
Chị Quỳnh đã nhiều lần tham gia biểu tình chống Trung Quốc cũng như viết bài về cái nguy cơ tiềm ẩn mà Trung Quốc đang lâm le vào đất nước mình. Ngoài ra chị Quỳnh còn tham gia rất nhiều hoạt động dân sinh khác như bảo vệ môi trường. Đây cũng có thể là lý do chính chị bị bắt. ”
Nhà hoạt động Dương Đại Triều Lâm nói rõ biện pháp bắt giữ blogger Mẹ Nấm do lực lượng chức năng tiến hành Việt Nam xuất phát từ nỗi lo sợ của Hà Nội trước những tiếng nói công khai về các vấn nạn hiện nay của đất nước:
“Mặc dù trước đó chính quyền cũng nhiều lần đe dọa với nhiều hình thức khác nhau nhưng Blogger Mẹ Nấm đã không chịu im lặng và những gì chị lên tiếng đã nhận được sự hưởng ứng cũng như tác động rất là lớn đến suy nghĩ của tầng lớn trẻ cũng như những tầng lớp khác tại Việt Nam và đã khơi dậy làn sóng đấu tranh rất là mạnh mẽ ở Việt Nam trong những năm gần đây. Điều đó đã làm cho chính quyền cảm thấy rất là lo ngại.”
Vào ngày 10 tháng 10 năm ngoái, blogger Mẹ Nấm Nguyễn Ngọc Như Quỳnh bị cơ quan chức năng tỉnh Khánh Hòa bắt sau khi cô cùng mẹ của facebooker Nguyễn Hữu Quốc Duy đang thụ án tù tại Trại Sông Lô, tỉnh Khánh Hòa đến đòi quyền được thăm nuôi tù nhân lương tâm này.
Cơ quan chức năng đưa lệnh bắt blogger Mẹ Nấm với cáo buộc ‘tuyên truyền chống nhà nước’ theo điều 88 Bộ Luật Hình sự Việt Nam’.
Lần đầu tiên cô bị bắt 10 ngày để thẩm vấn là vào tháng 9 năm 2009 khi đưa ra những áo thun có in dòng chữ phản đối Trung Quốc xâm chiếm hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam; cũng như phản đối dự án khai thác bauxite ở Tây Nguyên hủy hoại môi trường.
Việc làm của blogger Mẹ Nấm-Nguyễn Ngọc Như Quỳnh đã tác động rất là lớn và nó đã tạo một động lực cũng như là khơi dậy cá nhân tôi về lên tiếng cho các quyền tự do dân chủ dân quyền tại Việt Nam.
- Dương Đại Triều Lâm
Cô từng bị lực lượng công an và an ninh bắt giữ và làm việc nhiều lần, như vào tháng 5 năm 2013 sau khi phát Bản Tuyên Ngôn Quốc tế Nhân quyền và bóng bay ghi dòng chữ ‘Quyền của con người phải được tôn trọng’.
Nhóm của cô cũng bị tạm giữ vào tháng tư năm 2014 trước khi có thể thực hiện cuộc thảo luận với chủ đề ‘Công ước Chống Tra tấn và vấn nạn công dân chết trong đồn công an’.
Trong năm 2015, 2016 blooger Mẹ Nấm tham gia một số cuộc biểu tình và cũng bị bắt, bị đánh như trong các cuộc biểu tình đòi tự do cho các tù nhân lương tâm Trần Huỳnh Duy Thức, Bùi thị Minh Hằng, Nguyễn Ngọc Già và phản đối Formosa gây thảm họa môi trường cá chết…
Cô cũng từng bị ngăn chặn không cho rời khỏi Nha Trang trong một số dịp. Cô bị ngăn không cho xuất cảnh vào giữa tháng 12 năm 2013.
Dù bị ngăn chặn trong nước như thế; nhưng hoạt động của blogger Mẹ Nấm- Nguyễn Ngọc Như Quỳnh được nhiều tổ chức quốc tế ghi nhận. Đó là Human Rights Watch trao cho cô giải thưởng Hellman/Hammett năm 2010. Đến năm 2015, cô nhận được giải thưởng Người Bảo vệ Quyền Dân sự của tổ chức Civil Rights Defenders.
Dù được các tổ chức trao giải nhưng cô không thể đi nhận vì tương tự nhiều nhà hoạt động xã hội khác tại Việt Nam, cơ quan chức năng Hà Nội không cho họ rời khỏi nước.
Ngay sau lần Hà Nội bắt giam blogger Mẹ Nấm vào đầu tháng 10 năm ngoái, nhiều tổ chức theo dõi nhân quyền và cơ quan ngoại giao các nước lên tiếng thúc giục chính quyền Việt Nam trả tự do ngay cho nhà đấu tranh này.
Phát ngôn nhân Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ phụ trách khu vực Đông Á- Thái Bình Dương, Katina Adams, ngay sau khi blogger Mẹ Nấm bị bắt 1 ngày, vào ngày 11 tháng 10 năm ngoái nêu rõ ‘Xu hướng bắt bớ và tuyên án các nhà hoạt động ôn hòa gần đây là rất đáng quan ngại và gây hại khỏa lấp tiến triển về nhân quyền tại Việt Nam’.

 

Việt Nam phản đối Mỹ vinh danh Mẹ Nấm

4 giờ trước
Hoa Kỳ vinh danh Blogger Mẹ Nấm là phụ nữ quả cảm
Ngay sau khi Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ tổ chức vinh danh 13 phụ nữ từ các nước trên toàn cầu với giải thưởng Phụ nữ Quả cảm Quốc tế 2017, trong đó có blogger Mẹ Nấm của Việt Nam, nước này lên tiếng phản đối.
Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Hải Bình nói với các nhà báo hôm 30/3: "Việt Nam cho rằng Bộ Ngoại giao Mỹ trao giải thưởng cho một cá nhân đang bị tạm giam để điều tra vì hành vi vi phạm pháp luật Việt Nam là một hành động thiếu khách quan, không phù hợp và không có lợi cho việc phát triển quan hệ hai nước".
Blogger Mẹ Nấm, tên thật là Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, người cũng là nhà đấu tranh về môi trường, đã bị bắt giam từ tháng 10/2016 vì tội Tuyên truyền chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam theo Điều 88 Bộ Luật Hình sự.
Công an tỉnh Khánh Hòa nói bà Quỳnh đã "soạn thảo, đăng tải, chia sẻ nhiều bài viết, video có nội dung chống đối đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; bôi nhọ các cá nhân..."
Blogger Mẹ Nấm 'bị bắt giam, khởi tố'
Luật sư nói gì về vụ Mẹ Nấm?
Trước đó bà cũng đã bị bắt nhiều lần vì tham gia các hoạt động dân sự, đòi dân quyền, biểu tình phản đối Trung Quốc chiếm biển đảo tại Biển Đông, và phản đối tập đoàn Formosa của Đài Loan trong vụ việc cá chết hàng loạt tại miền Trung.
Bà là điều phối viên của mạng lưới Blogger Việt Nam, thành viên của các tổ chức "Người Việt yêu nước" và "Tuyên bố công dân tự do".

'Đặc biệt dũng cảm'

Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ Tom Shannon trong phát biểu tại Lễ trao giải thưởng Phụ nữ Quả cảm Quốc tế 2017 hôm 29/3 nói: "Kể từ 2007, giải thưởng này đã vinh danh các phụ nữ trên toàn cầu, những người đã cho thấy sự quả cảm và sự lãnh đạo đặc biệt xuất sắc, đã lấy sức mạnh từ nghịch cảnh để giúp cải tạo xã hội".


Đệ nhất phu nhân Mỹ Melania Trump tại lễ trao giải Phụ nữ Quả cảm 2017Bản quyền hình ảnh US State Department
Image caption Đệ nhất phu nhân Mỹ Melania Trump tại lễ trao giải Phụ nữ Quả cảm 2017
Ông cũng nói những người được giải thưởng đã huy động dư luận và cả chính phủ để "vạch trần và xử lý bất công, cất tiếng nói chống lại tham nhũng, ngăn ngừa khủng bố bạo lực và đứng lên bảo vệ pháp quyền và hòa bình..."
Đệ nhất phu nhân Mỹ Melania Trump đã có mặt trao giải thưởng cho các phụ nữ được giải.
Nguyễn Ngọc Như Quỳnh được thứ trưởng Shannon nhắc tới trong phần cuối của danh sách trao giải.
Bà Quỳnh được nói là "người chỉ trích mạnh mẽ các bất công, vi phạm nhân quyền" ở Việt Nam.
Bà được vinh danh vì "quyết tâm phơi bày bất công, tham nhũng, và dùng tiếng nói của mình để bảo vệ quyền và tự do của người dân".


Nguyễn Ngọc Như Quỳnh 
Bản quyền hình ảnh Facebook
Image caption Bà Quỳnh được biết đến qua nhiều hoạt động dân sự
Thân mẫu bà Quỳnh, bà Nguyễn Tuyết Lan, đã bày tỏ tri ân sau khi nghe con gái mình được giải thưởng.
Bà viết trên trang Facebook cá nhân rằng bà "vui và hãnh diện vì lý tưởng và những hoạt động chính đáng, phục vụ con người và đất nước Việt Nam của con tôi được thế giới bên ngoài, đặc biệt là Hoa Kỳ ghi nhận".
"Tuy nhiên, tôi cũng không tránh khỏi buồn phiền khi con mình phải cảnh chịu cảnh tù đày bất công và cho đến nay vẫn không được gặp gia đình và luật sư."
Bà Lan nói giải thưởng là "minh chứng hùng hồn cho những hoạt động đúng đắn của Quỳnh".
"Từ nay con đường của Quỳnh không còn đơn độc vì đã có nhiều cộng hưởng từ nhiều phía. Nhiều người đã vượt qua được nỗi sợ hãi vô hình ám ảnh trói buộc để cùng nhau tranh đấu đòi lại quyền căn bản của con người."