Sunday, January 22, 2017

TIN BIỂN ĐÔNG




  Biển Đông : Đã đến lúc phải dằn mặt Bắc Kinh

>Thụy My

media 
Tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương Scott Swift cảnh báo tình hình căng thẳng ở Biển Đông, 06/10/2015.REUTERS/David Gray/Files
Trong phần một mang tựa đề« Vì sao phương Tây lại để Bắc Kinh làm mưa làm gió trên Biển Đông ?», chuyên gia Ross Babbage (*) đã phân tích những lý do vì sao Bắc Kinh có thể tự tung tự tác trên Biển Đông cho đến nay. Ở phần hai, tác giả đề nghị những biện pháp cụ thể cho chính quyền Donald Trump sắp tới.
(Xem lại phần 1) : Vì sao phương Tây lại để Bắc Kinh làm mưa làm gió trên Biển Đông ?
Theo ông, một trong những vấn đề cốt lõi trong cách xử sự của chính phủ Mỹ, Nhật và Úc là trần thuật sai hẳn những lợi ích từ liên minh. Các liên minh này chắc chắn là mang lại lợi ích lớn lao, qua tự do hàng hải và hàng không, giải quyết một cách hòa bình những tranh chấp chủ quyền trong khu vực phù hợp với luật pháp quốc tế. Tuy nhiên, lợi ích to lớn nhất của đồng minh thực sự vượt xa khỏi những mục tiêu giới hạn, chủ yếu mang tính chiến thuật này.
Trên thực tế, lợi ích chủ chốt trước tiên của đồng minh là đảm bảo rằng Trung Quốc sẽ không thống trị Biển Đông đến mức có thể đơn phương quyết định trật tự khu vực, và hạn định mức độ chủ quyền cho từng quốc gia ven biển.
Lợi ích cốt lõi thứ hai là hạn chế khả năng lấn chiếm của Trung Quốc trên Biển Đông, tạo tiền lệ cho những hành vi bất hợp pháp, hung hăng hơn của Bắc Kinh, trước mắt và về lâu về dài.
Điều cốt yếu thứ ba
: giám sát chặt để Trung Quốc không lặp lại các vi phạm trầm trọng Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (UNCLOS), làm ngơ trước phán quyết của Tòa án Trọng tài Thường trực La Haye, trực tiếp thách thức luật pháp quốc tế. Khi theo đuổi các lợi ích thực tiễn này, các lãnh đạo đồng minh cần có chiến lược rõ ràng để chỉ đạo một chiến dịch đối phó. Các khả năng hiển nhiên nhất là chọn lựa một chiến lược cự tuyệt, chiến lược buộc phải trả giá. Một chiến lược tấn công vào chiến lược của Trung Quốc, làm cho Bắc Kinh không thể tiếp tục làm bá chủ Biển Đông. Dù chọn chiến lược nào đi nữa, cái nền chủ yếu phải là một liên minh quân sự mạnh mẽ hơn, thuyết phục hơn tại Tây Thái Bình Dương.Thuyên gia Ross Babbage cho rằng trước các hành động của Bắc Kinh trong năm năm qua, cần phải tiến xa hơn chủ trương được gọi là « xoay trục », « tái cân bằng », để chuyển sang một cam kết toàn diện với các nước trong vùng, có thể được mệnh danh là Chương trình Đối tác An ninh Khu vực. Các mục đích chính của chương trình là chứng tỏ ưu thế vượt trội về quân sự, răn đe các hành động phiêu lưu của Trung Quốc, củng cố lòng tin nơi các đồng minh và đối tác châu Á về sự khả tín của phương Tây, để họ cảm thấy có thể chống chọi lại bất kỳ ý đồ áp đặt nào từ Trung Quốc.Chiến lược đồng minh hiệu quả nhất cần mang tính sáng tạo và bất đối xứng. Trong những năm gần đây Bắc Kinh tập trung các hành động hiếu chiến nhất tại Biển Đông và Biển Hoa Đông, sử dụng các loại hình đa dạng từ quân đội, tuần duyên, dân quân biển, chiến tranh chính trị ; nhưng không có nghĩa là đồng minh cũng phải tập trung mọi nỗ lực bằng cách thức tương tự. Ngược lại, để chống lại Bắc Kinh, phương thức hiệu quả nhất là tập trung áp lực đủ loại vào những điểm yếu kém nhất của Trung Quốc trên mọi lãnh vực.
Những chiến dịch như thế đòi hỏi phải thận trọng phối hợp nhiều biện pháp, để có thể duy trì được dài lâu. Các biện pháp này vượt xa khỏi các lãnh vực ngoại giao và quân sự khuôn mẫu, bao gồm cả địa chính trị, thông tin, kinh tế, tài chính, nhập cư, luật pháp, chống bá quyền, và những sáng kiến khác. Có thể gồm cả việc ra tuyên bố để răn đe các hành vi của Trung Quốc, gây lòng tin nơi đồng minh và thân hữu, tạo môi trường hoạt động rộng rãi hơn. Các biện pháp khác cần được phân loại và thiết kế để làm chao đảo Trung Quốc, đồng thời khuyến khích nên thận trọng hơn với Bắc Kinh.
Tác giả nhận định, chắc chắn sẽ có những người tại các nước đồng minh muốn chính phủ mình nhắm mắt làm ngơ. Tuy nhiên, những thách thức từ Trung Quốc mang tính chất và tầm cỡ quan trọng đến nỗi nếu chiến lược đối phó của Hoa Kỳ và đồng minh khu vực thất bại, sẽ gây hậu
Trước tiên là chủ quyền trên hầu như toàn bộ Biển Đông bị nhường lại cho Trung Quốc. Nếu trao cho Bắc Kinh quyền kiểm soát thực tế một tuyến đường hàng hải chính yếu như thế và mở rộng thông tin, sẽ gây những hệ quả địa chính trị nghiêm trọng và lâu dài. Bối cảnh an ninh tại Tây Thái Bình Dương sẽ bị đảo lộn, gây phức tạp cho nhiều dạng thức hoạt động của đồng minh.
Hậu quả nghiêm trọng thứ hai là việc Bắc Kinh vi phạm nặng nề luật pháp quốc tế coi như được chấp nhận ; gây thiệt hại lớn cho nỗ lực trong nhiều thập niên qua, nhằm xây dựng khuôn khổ luật pháp cho quan hệ ngoại giao, thương mại, tranh chấp quốc tế. Sẽ là dấu hiệu cho cộng đồng thế giới thấy rằng đống minh phương Tây không chuẩn bị cho việc bảo vệ luật quốc tế.
Hậu quả quan trọng thứ ba là nguy cơ Trung Quốc thêm mạnh dạn tung ra những hoạt động xâm lăng nghiêm trọng hơn trong những năm tới. Bắc Kinh có thể coi sự dè dặt, e ngại, thiếu tổ chức của các nước khác như là lời mời xâm lăng các lãnh thổ chiến lược, tiếp tục các hành động hiếu chiến hơn. Vì thế, khi duy trì thái độ dè dặt và cách hành xử vụng về, các lãnh đạo đồng minh sẽ vấp phải rủi ro nghiêm trọng hơn là vô hình trung khuyến khích xung đột nặng nề hơn với Trung Quốc trong những năm tới. Theo tác giả, xung đột này sẽ dữ dội hơn và khó tránh khỏi.
Hậu quả lớn thứ tư : khi đồng minh không có được sự đáp trả mạnh mẽ, sẽ thiệt hại cho hoạt động răn đe. Một phương Tây yếu kém trong lúc này sẽ là tín hiệu xấu gởi đến không chỉ cho Bắc Kinh, mà còn cả cho Matxcơva và Bình Nhưỡng.
Hậu quả thứ năm của việc Hoa Kỳ bình chân như vại, sẽ khiến hầu như mọi nước đồng minh và thân hữu Tây Thái Bình Dương và nhiều nước khác xa hơn buộc lòng phải tái cấu trúc về quốc phòng và an ninh quốc gia.
Một khi các lãnh đạo đồng minh không đáp trả hiệu quả trước tình trạng vi phạm hiển nhiên luật pháp quốc tế và chuẩn mực an ninh toàn cầu, thì họ cần phải có những thay đổi nào để giữ an ninh cho chính mình ? Một số nước đã bắt đầu tìm kiếm những đối tác an ninh mới đáng tin cậy hơn. Số khác có thể đưa ra những chương trình phòng vệ mới, hay đành từ bỏ những yếu tố then chốt về chủ quyền, để được yên thân trước Bắc Kinh hay các chế độ độc tài khác.
Chuyên gia Ross Babbage kết luận, vấn đề an ninh ở Tây Thái Bình Dương vẫn là lợi ích cốt lõi của Hoa Kỳ và các đồng minh thân thiết. Chính quyền ông Trump sắp tới nhất thiết phải dành ưu tiên hàng đầu cho một chiến lược đối phó hiệu quả với Bắc Kinh.
(*)Tiến sĩ Ross Babbage là Giám đốc điều hành của Strategic Forum Pty Ltd, nhà nghiên cứu của Trung tâm Chiến lược và Đánh giá Ngân sách (CSBA) ở Washington DC. Tiến sĩ Babbage từng giữ vị trí trưởng văn phòng Phân tích chiến lược của ONA, cơ quan tình báo trực thuộc văn phòng thủ tướng Úc. 

 http://vi.rfi.fr/chau-a/20170114-bien-dong-da-den-luc-phai-dan-mat-bac-kinh

Biển Đông : Tuần duyên Nhật tăng cường hoạt động giúp Đông Nam Á Biển Đông : Tuần duyên Nhật tăng cường hoạt động giúp Đông Nam Á
Trọng Nghĩa
Bắt đầu từ tháng Tư 2017, lực lượng Tuần Duyên Nhật Bản sẽ triển khai kế hoạch đào tạo đồng nghiệp tại các nước Đông Nam Á với mục tiêu giúp các nước này nâng cao năng lực giám sát Biển Đông. Vế đào tạo này sẽ bổ sung cho việc chính quyền Nhật Bản cung cấp thêm tàu tuần duyên cho các đối tác như Việt Nam hay Philippines để kháng lại các hành động ngày càng quyết đoán của Trung Quốc trên Biển Đông.
Theo nhật báo Yomiuiri Shimbun (Nhật Bản) ngày 10/01/2017, để tiến hành công việc đào tạo, Tuần Duyên Nhật Bản sẽ thành lập ngay một đơn vị đặc biệt chuyên trách việc giúp các đối tác Đông Nam Á, cung cấp giảng viên, đào tạo cán bộ, mở rộng diện quốc gia được cử người đến đào tạo tại Nhật Bản, tổ chức hội thảo quốc tế để tăng cường quan hệ và học tập kinh nghiệm về duy trì luật lệ trên biển.
Báo The Diplomat, trụ sở tại Nhật Bản, khi đề cập đến kế hoạch này trong một bài phân tích ngày 10/01, cho rằng cơ quan mới của Tuần Duyên Nhật sẽ đánh dấu một bước ngoặt trong sự can dự của Tokyo vào lãnh vực bảo đảm an ninh hàng hải trên Biển Đông.
Ngoài các nước ASEAN như Philippines và Việt Nam mà Nhật Bản đã có quan hệ đối tác chặt chẽ trong lãnh vực an ninh trên biển, hay là những nước như Malaysia và Indonesia đã có sẵn lực lượng tuần duyên (một lực lượng mà không phải nước Đông Nam Á nào cũng có), cơ quan mới của Tuần Duyên Nhật có thể lôi kéo các nước khác vào cuộc, cho phép Tokyo đóng một vai trò quan trọng trong việc hình thành lực lượng chấp pháp biển trong vùng.
Việc đào tạo năng lực cho Thái Lan hay Miến Điện có ý nghĩa sâu xa, vì hai nước này là những tác nhân không thể thiếu vắng trong việc bảo đảm an ninh dọc theo vùng Vịnh Bengal hay biển Andaman.
Riêng về Biển Đông, báo chí Nhật Bản nói chung đều cho rằng vấn đề ứng phó với các sự cố hoặc thiên tai đã trở thành những nhu cầu tối quan trọng, bên cạnh các diễn biến phức tạp khác liên quan đến vấn đề tranh chấp chủ quyền. Trong bối cảnh đó, việc hoàn thiện các lực lượng tuần duyên để duy trì trật tự an ninh đang trở thành một nhiệm vụ cấp bách.
Theo nhật báo Yomiuri, khi quyết định cho lực lượng tuần duyên can dự trực tiếp vào Biển Đông, các quan chức Nhật Bản đã xuất phát từ nhận định theo đó các hành vi ngày càng hung hăng của Trung Quốc tại Biển Đông, trong đó có việc quân sự hóa các đảo nhân tạo ở Trường Sa, là một nhân tố gây bất ổn định.
Chính vì vậy mà Nhật Bản cần giúp toàn khu vực tăng cưởng năng lực xử lý các vấn đề trên biển. Trong việc này, vai trò của các lực lượng tuần duyên đặc biệt quan trọng vì có tác dụng giúp các bên tránh xảy ra xung đột quân sự.
Trong thời gian qua, Bắc Kinh đã không ngần ngại cho tàu Hải Cảnh (tức là tuần duyên) vào các vùng biển mà Việt Nam, Philippines hay một vài nước khác đòi chủ quyền. Thực tế đó đã thúc giục các nước Việt Nam, Philippines, Indonesia là phải hoàn thiện lực lượng tuần duyên còn non trẻ của mình, để có thể ứng phó có hiệu quả với tình hình mà Trung Quốc tạo nên. Việt Nam chẳng hạn, chỉ mới lập ra lực lượng Cảnh Sát Biển vào năm 2013, và Indonesia một năm sau.


No comments: