Thursday, January 5, 2017

THÔNG TIN VÀ BÌNH LUẬN QUỐC TẾ


Trung Quốc có khởi chiến xác lập chủ quyền ở Biển Đông?

  • 3 tháng 1 2017

Tàu chiến của Trung Quốc ở Biển ĐôngImage copyright AFP/Getty Images
Image caption Tàu chiến của Trung Quốc, trong có hàng không mẫu hạm Liêu Ninh, tập trận ở Biển Đông
Bước sang năm mới 2017, điều mà có lẽ nhiều người Việt quan tâm là những động thái có thể của Trung Quốc ở Biển Đông sắp tới là gì và Việt Nam sẽ phải đối phó như thế nào?
Câu trả lời dễ mà khó.
Điều dễ đoán, dĩ nhiên là Trung Quốc sẽ tiếp tục các chiến dịch của họ (tạm cho thấy là thành công) từ nhiều năm nay, như đẩy mạnh các chiến dịch tuyên truyền về pháp lý, siết chặt vòng vây về kinh tế và gia tăng áp lực về quốc phòng.
Điểm khó đoán là thái độ của Việt Nam và chính sách đối ngoại của chính phủ Trump ở Mỹ trong những ngày tới. Tùy theo thái độ của Việt Nam và Mỹ, Trung Quốc có thể thực hiện được mục tiêu chiến lược của họ ở Biển Đông hay là không.
Dầu vậy, điểm qua một số sự kiện trọng yếu về pháp lý, về kinh tế và quốc phòng (ở các chiến dịch của Trung Quốc) ta có thể có một kết luận (chủ quan) để tiên đoán những gì có thể xảy ra trong tương lai.

Chủ quyền là vấn đề cốt lõi

Vấn đề chủ quyền đã được các chiến lược gia quốc tế nhấn mạnh trong các tác phẩm của họ từ thập niên 60-70 của thế kỷ trước. Theo đó ai nắm chủ quyền các đảo Hoàng Sa và Trường Sa sẽ kiểm soát Biển Đông, ở tất cả các mặt tài nguyên kinh tế và chiến lược biển (như mặt nước, cột nước, thềm lục địa… chung quanh các đảo và nhất là vùng không gian ở trên và chung quanh các đảo).
Một cách sơ lược, trên mặt biển, quốc gia có chủ quyền các quần đảo sẽ có thể kiểm soát các hải lộ cực kỳ quan trọng (chiếm trên 50% tổng số lượng hàng hóa thế giới), bao gồm hải lộ năng lượng nối các nước cung cấp năng lượng Trung Đông với các nước tiêu thụ Đông Á (và Đông Nam Á), hay hải lộ kinh tế nối Châu Âu với các nước Đông Á…
Quốc gia có chủ quyền các đảo cũng là quốc gia nắm chìa khóa kinh tế. Họ có thể khai thác tài nguyên trên mặt nước hay trong cột nước (tôm cá, các loại hải sản), trên mặt và dưới thềm lục địa như băng cháy, gas, dầu khí…. Về chiến lược, quốc gia có thể kiểm soát tàu bè quân sự, các thiết bị ngầm (như tàu ngầm) qua lại trong khu vực.
Quốc gia kiểm soát được hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cũng là quốc gia kiểm soát vùng không gian bận rộn của thế giới, nối giữa các quốc gia Đông Á, Nam Á với phần còn lại của thế giới...
Từ Đệ Nhị Thế chiến đến nay, khu vực Biển Đông tương đối bình ổn, tạm gọi là trật tự "status quo ante", vì sau khi đế quốc Nhật đầu hàng tháng 8/1945 đến nay thì chưa có nước nào có khả năng (kinh tế và quốc phòng) để có thể chiếm hữu và khai thác kinh tế cũng như lợi ích chiến lược của Hoàng Sa và Trường Sa.
Trật tự "status quo" này bắt đầu thay đổi.

Với một Trung Quốc mạnh mẽ đang lên, khẩu hiệu tuyên truyền thường nghe "Trung Quốc hòa bình phát triển", mà thực chất là che đậy một Trung Quốc đang trên đường "quang phục" bằng mọi phương cách. Trung Quốc đang trỗi dậy để tái lập lại thế lực của đế quốc Trung Hoa đã thiết lập từ nhiều thế kỷ trước bằng các biện pháp hòa bình như tuyên truyền pháp lý, áp lực kinh tế và đe dọa quốc phòng.
Nhưng để có thể áp đặt một "trật tự mới", lãnh đạo Bắc Kinh có thể đang tính toán đến những biện pháp "không hòa bình" trong những ngày sắp tới.
Thông điệp đầu năm 2017 của Tập Cận Bình ta không ngạc nhiên khi đã nhấn mạnh đến vấn đề "chủ quyền". Việc này cũng đã xảy ra tương tự từ nhiều thập niên nay. Nên biết, lúc lãnh đạo Bắc Kinh quyết định ra chiến dịch xâm lăng Hoàng Sa tháng giêng năm 1974, thì bộ máy tuyên truyền của họ ra rả những luận điệu "giải phóng các vùng lãnh thổ hiện đang bị địch chiếm đóng trở về đất mẹ". Cốt lõi của việc tuyên truyền vẫn là "chủ quyền" của Trung Quốc ở Hoàng Sa và Trường Sa.

Tuyên truyền pháp lý và bao vây kinh tế

Về mặt tuyên truyền pháp lý, đối với dư luận quốc tế, mục tiêu trọng yếu là thuyết phục dư luận quốc tế về cái gọi là "chủ quyền bất khả tranh nghị của Trung Quốc ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và vùng biển chung quanh". Sau đó nhằm "hóa giải" phán quyết bất lợi ngày 17/7/2016 của Tòa Trọng tài PCA.

Hải quân Trung QuốcImage copyright AP
Image caption Liệu Trung Quốc có sớm khai chiến?
Ta thấy trên phương diện này Trung Quốc đã thành công.
Phán quyết của PCA hiển nhiên đã "hạ thấp" giá trị của các "đảo" ở Trường Sa. Theo Tòa thì không có thực thể nào ở Trường Sa có hiệu lực "đảo", theo điều 135 của Bộ Luật quốc tế về Biển 1982 (UNCLOS) để có thể đòi hỏi hiệu lực vùng "kinh tế độc quyền - EEZ" 200 hải lý. Kể cả đảo lớn nhất là Ba Bình (hiện do Đài Loan kiểm soát) cũng không có hiệu lực "đảo".
"Quần đảo" Trường Sa từ nay phải đổi tên là "quần thạch". Điều này khiến người ta hy vọng rằng cuộc chạy đua "mở rộng hải phận" của các nước ở Biển Đông sẽ chấm dứt. Việc này sẽ đem lại ổn định cho khu vực.
Nhưng hy vọng sớm tiêu tan.
Trung Quốc từ đầu đã biểu lộ lập trường không nhìn nhận "thẩm quyền" của Tòa PCA và dĩ nhiên không tham gia vụ án. Theo họ, nguyên nhân của mọi tranh chấp đến từ vấn đề "chủ quyền" và việc "phân định biển", là hai điều mà Tòa PCA không có thẩm quyền phân xử.
Song song đó Trung Quốc dùng những biện pháp kinh tế và ngoại giao để thuyết phục một số quốc gia ủng hộ cho lập trường về pháp lý của họ.
Bằng các biện pháp kinh tế, đối với các nước trong khu vực, Trung Quốc tiếp tục các chính sách ve vuốt và đầu tư, nhằm lệ thuộc hóa nền kinh tế các quốc gia này vào các chính sách của Trung Quốc.
Như "dự án hai hành lang một vành đai" đối với Việt Nam, những "củ cà rốt" đầu tư, xây dựng cơ sở hạ tầng (đường xá, cảng biển…) đối với Thái Lan, Malaysia, Philippines... để các nước này phụ thuộc vào "Ngân hàng Xây dựng cơ sở hạ tầng" cũng như dự án "Con đường tơ lụa trên biển" của Trung Quốc. Đối với Campuchia thì vừa mua chuộc giới lãnh đạo vừa hứa hẹn đầu tư. Các chính sách phủ dụ bằng kinh tế của Trung Quốc cho thấy có kết quả hết sức ngoạn mục.
Trung Quốc đã sử dụng Campuchia để "phân hóa nội bộ" của ASEAN. Bằng việc mua chuộc các cấp lãnh đạo và hứa hẹn đầu tư, Campuchia đã ngăn cản khối ASEAN, không ra tuyên bố chung về phán quyết của Tòa. Điều này trái với thông lệ của khối. ASEAN luôn có chủ trương "trọng luật", khuyến cáo các quốc gia thành viên "chấp hành phán quyết của Tòa theo pháp luật của quốc gia".
Trung Quốc cũng thuyết phục được Malaysia, một bên có tranh chấp phân định biển với Trung Quốc. Nước này cũng có khuynh hướng "đông lạnh" phán quyết của Tòa PCA. Trung Quốc cũng dùng miếng mồi đầu tư và viện trợ, có thể cả đe dọa quốc phòng, đối với Philippines để "hóa giải" phán quyết của Tòa.

Áp lực quân sự


Donald TrumpImage copyright AFP
Image caption Chính phủ Trump sẽ có động thái gì?
Về áp lực quân sự trong khu vực, 7 đảo nhân tạo mà Trung Quốc đã xây dựng (nhanh kỷ lục từ năm 2013) trên các bãi đá Chữ Thập, Su bi, Gạc Ma, Châu Viên, Huy Gơ, Ga Ven và Vành Khăn đã hoàn tất năm 2015. Các đảo nhân tạo này được lần hồi "quân sự hóa" từ năm 2016. Hình ảnh từ các vệ tinh gần đây đã cho thấy các đảo nhân tạo này đã trở thành những căn cứ không quân, hải quân với những giàn ra đa, những phi trường (có cái dài trên 3.000 mét ở đá Chữ Thập) với bãi đậu máy bay và bến tàu. Vừa rồi báo chí cũng đăng tin Trung Quốc đã đưa trên 400 hỏa tiễn địa không (tầm ngắn 40km và tầm trung 400km) ra đặt ở các đảo. Việc "quân sự hóa" các đảo xem như hoàn tất.
Song song, Trung Quốc liên tục gia tăng chi phí quốc phòng, đẩy mạnh nghiên cứu và phát triển các loại vũ khí thông minh ứng dụng cho không gian cũng như trên mạng tin học. Trung Quốc thúc đẩy chế tạo và sản xuất các loại khí tài mà trước đây phải mua của Nga như phi cơ chiến đấu, tàu chiến, tàu ngầm, thậm chí hàng không mẫu hạm. Trung Quốc cũng huấn luyện và hiện đại hóa các lực lượng hải quân, không quân cho phù hợp với các cuộc chiến cục bộ (đổ bộ, chiếm đảo…), vừa chống lại sự tiếp cận (vào Biển Đông) của các lực lượng hải, không quân thuộc các quốc gia thù nghịch.
Bằng lực lượng quân sự vừa được bố trí trên các đảo nhân tạo ở Trường Sa, Trung Quốc có thể uy hiếp không chỉ bất kỳ tàu bè, phi cơ của các quốc gia chung quanh, mà còn có thể đánh chiếm bất cứ đảo nào ở Trường Sa, hiện do Việt Nam hay Philippines kiểm soát.

Động thái có thể của Trung Quốc ở Biển Đông


Lính Trung Quốc tại Trường SaImage copyright Reuters
Image caption Trung Quốc đã hoàn tất quân sự hóa các đảo Trường Sa
Những vận động đã nói ở trên để làm gì, nếu không phải là "khẳng định chủ quyền" để tiến tới việc thiết lập vùng "nhận diện phòng không" (Air Defense Identification Zone - ADIZ) ở Biển Đông?
Về vùng ADIZ, câu hỏi đặt ra, trên phương diện công pháp quốc tế, Trung Quốc có "quyền" làm vậy hay không ?
Câu trả lời sẽ tương tự như tuyên bố ngày 23/11/2013 vùng ADIZ khu vực Hoa Đông của Trung Quốc, bao trùm quần đảo Điếu Ngư, tức Senkaku, đang trong tình trạng tranh chấp và hiện do Nhật kiểm soát.
Nếu vùng ADIZ khu vực Hoa Đông là "hợp pháp" thì khó có thể kết luận rằng vùng ADIZ khu vực Hoa Nam (tức khu vực Biển Đông) là "bất hợp pháp".
Tuyên bố vùng ADIZ ngày 23/11/2013 của Trung Quốc mang hình thức một "tuyên bố đơn phương", liên quan đến nội dung của các điều ước cũng như tập quán quốc tế (điều 1 Công ước Quốc tế về Hàng không Dân sự - còn gọi là công ước Chicago 1944) và Công ước về Luật Biển 1982.
Theo tập quán quốc tế, có từ thời chiến tranh lạnh, các quốc gia ven biển có thể mở rộng vùng trời của nước mình, gọi là "vùng nhận dạng phòng không". Các nước Hoa Kỳ, Nhật, Pháp… đều có vùng nhận diện phòng không mở ra ít nhứt là 200 hải lý. Mục tiêu của việc thiết lập vùng nhận diện phòng không là nhằm bảo vệ an ninh quốc gia.
Đến đây ta thấy rằng "chủ quyền" quần đảo Trường Sa, ngay cả khi phán quyết của Tòa PCA có hiệu lực thi hành, vẫn hết sức quan trọng về chiến lược. Trung Quốc có mở được vùng ADIZ khu vực này hay không là dựa lên "chủ quyền" các đảo.
Các nước Hoa Kỳ, Nhật Bản, Việt Nam... sẽ phải đối phó ra sao nếu Trung Quốc tuyên bố vùng ADIZ ở Biển Hoa Nam (tức Biển Đông)?
Thử tưởng tượng, đối với Việt Nam, bất kỳ chiếc phi cơ hay tàu bè nào đi vào vùng ADIZ của Trung Quốc đều có thể bị không quân hay hải quân nước này khống chế, thậm chí bắn hạ. Lực lượng của Việt Nam không đủ để chống chọi. Điều này đưa đến các đảo của Việt Nam ở sẽ mất về Trung Quốc.

The Boa Diao boat, center, is surrounded by Japan Coast GuardImage copyright AP Photo/Yomiuri Shimbun, Masataka Morita
Image caption Trung Quốc đã thiết lập ADIZ trên biển Hoa Đông từ 2013
Việt Nam cũng không thể trả đũa bằng cách ra tuyên bố vùng ADIZ tương tự. Bởi vì Việt Nam không có khả năng để khiến các quốc gia khác tuân thủ nội dung tuyên bố của mình.

Yếu tố Đài Loan

Nhưng việc này không dễ đối với Hoa Kỳ và Nhật Bản.
Đài Loan vừa rồi được tổng thống đắc cử Donald Trump nhắc tới. Ta có thể xem như đây là một "cảnh cáo" của Hoa Kỳ đối với Trung Quốc. Hoa Kỳ có thể sử dụng yếu tố Đài Loan, như ủng hộ Đài Loan độc lập, để làm rối rắm các chính sách về kinh tế và quốc phòng của TQ.
Điều nên biết là từ năm 2005 Trung Quốc có bộ luật "chống ly khai", theo đó Đài Loan là một phần lãnh thổ của Trung Quốc. Trung Quốc sẽ sử dụng vũ lực để cản trở bất kỳ âm mưu nào đưa tới việc ly khai.
Nếu Đài Loan tuyên bố độc lập, Hoa Kỳ và Nhật ủng hộ, Trung Quốc có đủ khả năng phát động chiến tranh hay không ?
Từ lâu Trung Quốc đã có lý thuyết về một cuộc chiến tranh với Mỹ và Nhật bao gồm ba mục tiêu: giải phóng Đài Loan, Điếu Ngư và các đảo Trường Sa. Sở dĩ có lý thuyết này là vì Trung Quốc quan niệm không thể giải phóng Đài Loan mà không có chiến tranh với Mỹ và Nhật. Cũng không thể giải phóng Điếu Ngư mà không gây chiến tranh với Nhật và Mỹ (do ràng buộc của hai bên từ các hiệp ước an ninh hỗ tương). Bất kỳ cuộc chiến xảy ra theo hình thức nào, có Nga hay không có Nga là đồng minh, Trung Quốc cũng sẽ thua.
Chỉ có "giải phóng" Trường Sa là không đụng độ với các cường quốc Mỹ và Nhật.
Thì bây giờ, nếu chiến dịch "giải phóng Trường Sa", thông qua việc tuyên bố vùng ADIZ, lại bị Mỹ gắn liền với việc ủng hộ Đài Loan độc lập. Cuộc chiến ở đây Trung Quốc vẫn có thể phải đối mặt với HK và Nhât.
Rốt cục việc thiết lập vùng ADIZ của Trung Quốc có thể như cái "gân gà" trong truyện Tam Quốc, nuốt vào không trôi mà nhả ra thì lại tiếc.
Có nên giao Hoàng Sa-Trường Sa cho Mỹ quản lý?
Những nét phác thảo về chiến lược của Trung Quốc, qua những toan tính về pháp lý, kinh tế, quốc phòng của Trung Quốc cho thấy Việt Nam không có phương pháp nào hữu hiệu để chống trả, ngoài biện pháp "núp" dưới "cây dù" của Hoa Kỳ (và Nhật Bản). Điều khó đoán là chính sách Châu Á của tân tổng thống Donald Trump sẽ ra sao ?

Nhưng dầu thế nào, Việt Nam là phía yếu, vì vậy phải vận dụng pháp luật quốc tế để tự bảo vệ.
Phán quyết của Tòa PCA 12/7 là "giải thích" Luật (UNCLOS), cho dầu Philippines chủ trương không thi hành phán quyết, nhưng bản chất của phán quyết vẫn là "Luật".
Từ đầu những năm 2000, khi được vào WTO, ngay tại Hiến pháp Trung Quốc đã cam kết "xây dựng một quốc gia trên pháp luật và cai trị bằng pháp luật". Cho dầu đó là "nhà nước pháp trị" với cái đuôi "xã hội chủ nghĩa", thì bản chất của các cam kết của Trung Quốc vẫn là "tôn trọng pháp luật".
Vì vậy, theo tôi, Việt Nam không thể bỏ qua phán quyết của Tòa, không chỉ vì đó là một "lợi thế" của Việt Nam , mà vì đó là "luật" mà Trung Quốc phải tôn trọng.
Việt Nam cũng nên tính toán đến điều tệ hại nhất: Giải pháp của sự "tận cùng", là phải "đông lạnh" yêu sách chủ quyền của mình ở Hoàng Sa và Trường Sa.
Trên lý thuyết, sau Thế chiến thứ II, Hoàng Sa và Trường Sa thuộc thẩm quyền "quản lý" của Hoa Kỳ. Một điều khoản của Hội Quốc Liên thời đó, tất cả các đảo ở Thái Bình Dương do Nhật chiếm đóng sẽ thuộc quyền "quản lý" của Hoa Kỳ. Phần lớn các đảo này hiện nay thuộc "chủ quyền" của Hoa Kỳ, ngoại trừ quần đảo Nam Tây (quần đảo Nansei trong tiếng Anh hay Ryukyu trong tiếng Nhật), bao gồm quần đảo Lưu Cầu, Okinawa, trả lại cho Nhật Bản đầu thập niên 70 thế kỷ trước.
Không chừng Hoàng Sa và Trường Sa giao cho Hoa Kỳ "quản lý", chủ quyền thuộc về Việt Nam tương tự Okinawa thuộc chủ quyền của Nhật, thì tình hình lại tốt hơn cho Việt Nam và các nước chung quanh.
Bài phản ánh văn phong và quan điểm riêng của tác giả, nhà nghiên cứu sống ở Pháp.


Mỹ - Trung sẽ đối đầu vì chủ nghĩa dân tộc?

  • 3 tháng 1 2017

Phi cơ Trung QuốcImage copyright Xinhua
Image caption Phi cơ quân sự Trung Quốc tuần tra các vùng biển phụ cận

Những lời nhạo báng Tổng thống tân cử Donald Trump nhắm vào Trung Quốc - mới nhất là đoạn Tweet phê Trung Quốc không giúp kiềm chế Bắc Hàn dù kiếm nhiều tiền từ Mỹ - không còn là 'sự vụng về ngoại giao' của nhà tỷ phú chưa từng cầm quyền.
Năm 2017 ngày càng có khả năng trở thành thời điểm Hoa Kỳ ra chính sách mới đối với Trung Quốc và đằng sau học thuyết Trump là sự trỗi dậy của một xu hướng: chủ nghĩa dân tộc Mỹ.
Nhà phân tích Gideon Rachman vừa viết ngày đầu năm 2017 trên trang Financial Times ở Anh:
"Khả năng xung khắc giữa chủ nghĩa dân tộc Hoa Kỳ và Trung Hoa tại vùng Thái Bình Dương có vẻ tăng lên kể từ khi ông Trump thắng cử."
Nhưng theo ông Rachman, Trump chỉ là người đi sau trong trào lưu này.

Trước khi Donald Trump tung ra khẩu hiệu 'Làm nước Mỹ vĩ đại lần nữa' (Make America Great Again) Trung Quốc, Nga và Thổ Nhĩ Kỳ đã tạo ra mốt về 'chủ nghĩa dân tộc hoài niệm' (nostalgic nationalism).
Ông Tập Cận Bình nêu mục tiêu "Phục hưng dân tộc Trung Hoa", còn ông Vladimir Putin muốn Nga phục hồi vị thế đại cường như thời Liên Xô.
2017: Bi quan cho phương Tây?
Trump không loại trừ khả năng gặp TT Đài Loan
Hiện tượng "ôm ấp hoài niệm về chủ nghĩa dân tộc" đang xảy ra cả ở Nga, Trung Quốc, Hoa Kỳ, Anh Quốc, Nhật Bản và Ấn Độ, nhà bình luận của Financial Times viết.

Ông Donald Trump liên tục dùng Twitter phê phán Trung Quốc
Image caption Ông Donald Trump liên tục dùng Twitter phê phán Trung Quốc
Tuy thế, ông Rachman cũng cảnh báo việc đề cao 'hào quang quá khứ':
"Trong thập niên 1930, nước Ý của Mussolini đã nhắc lại quá khứ La Mã huy hoàng, còn Đức Quốc xã thì coi họ là người kế thừa của các hiệp sỹ Teutonic thời Trung Cổ châu Âu."
Nhìn chung, hoài niệm dân tộc đang trở lại sau một giai đoạn nhấn mạnh hiện đại hóa, 'bắc cầu vào tương lai'.

Lời Twitter của ông Trump nhạo Trung Quốc 'Hay nhỉ!'Image copyright Twitter
Image caption Lời Twitter của ông Trump nhạo Trung Quốc 'Hay nhỉ!'
Trước đây, Gideon Rachman viết, ở Hoa Kỳ "Bill Clinton từng muốn 'xây cầu vào Thế kỷ 21', và Barack Obama vận động tranh cử bằng khẩu hiệu 'Hy vọng và Thay đổi'.
Tại Anh, Tony Blair từng nêu ra một 'Nước Anh có phong cách' (Cool Britannia), sau đó David Cameron nhận vai trò là người hiện đại hóa Đảng Bảo thủ.
Nhưng sự dịch chuyển cán cân chính trị và kinh tế về châu Á mang tính toàn cầu đã khiến các nước như Ấn Độ và Trung Hoa, các cường quốc đang trỗi dậy ở châu Á, "làm sống lại tham vọng phục hồi sự vĩ đại dân tộc và văn hóa của họ vốn từng làm lu mờ chủ nghĩa đế quốc Phương Tây".
Phản ứng trước toàn cầu hóa cũng khiến chủ nghĩa dân tộc lên cao tại châu Âu và Bắc Mỹ tuy ông Rachman cho rằng Canada dưới quyền Thủ tướng Justin Trudeau không rơi vào xu hướng này.
Hết thời 'đối sách ngoại giao'?
Bên cạnh khả năng căng thẳng thương mại giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc gia tăng năm 2017, một số giới tại Hoa Kỳ và Úc đang vận động để chính quyền Donald Trump ra tay ngăn chặn Trung Quốc tại Biển Đông.

Tổng thống Obama (trái) bị phê là quá 'cẩn trọng' trước Trung Quốc
Image caption Tổng thống Obama (trái) bị phê là quá 'cẩn trọng' trước Trung Quốc
Theo ABC của Úc (17/12/2016), ông Ross Babbage, tác giả một phúc trình Mỹ - Úc có tựa đề "Chống lại chủ nghĩa phiêu lưu của Trung Quốc tại Biển Nam Trung Hoa" vừa cáo buộc Bắc Kinh "lợi dụng thái độ cẩn trọng của Obama" để giành quyền kiểm soát hiệu quả (effective control) tại vùng biển này.
Giáo sư Babbage, người Úc, còn cáo buộc Trung Quốc dùng 'chiến tranh tâm lý' để làm mềm đi ý chí của Hoa Kỳ và các đồng minh, nhất là giới cầm quyền ở các nước đó.
"Họ dùng các chiến dịch thông tin, loan tải tin sai, họ xây đắp các nhóm thân Bắc Kinh ở những nước đồng minh của Hoa Kỳ, họ trả tiền cho truyền thông in phụ trương của Nhân dân Nhật báo," Giáo sư Babbage được ABC News trích lời cho hay.
Ngay tại Úc, ông nêu ra chuyện "Viện Khổng tử do Trung Quốc chi ngân sách xuất hiện tại 10 đại học của Úc, và ngoài ra các hoạt động tình báo của Trung Quốc rất năng động ở các nước thân Mỹ, gồm cả Úc."
Kết luận rằng đối sách ngoại giao hiện nay đã thất bại, tác giả phúc trình này đặt câu hỏi cho chính quyền mới ở Mỹ:
"Câu hỏi quan trọng cho chính quyền Trump là Hoa Kỳ và các đồng minh khu vực - nhất là Nhật Bản và Úc - có thể làm gì để bóp nghẹt chủ nghĩa bành trướng Bắc Kinh."

Tàu sân bay TQ thị uy ở Biển Đông, mẫu hạm Mỹ vắng mặt trên biển

media 
 
Một chiến đấu cơ J-15 cất cánh từ tàu sân bay Liêu Ninh (Liaoning), Biển Đông, ngày 02/01/2017.Ảnh : REUTERS/Stringer
Trong những ngày đầu năm 2017, Trung Quốc đã phô trương đợt tập huấn trên Biển Đông của chiếc tàu sân bay Liêu Ninh (Liaoning), với bài tập quan trọng nhất là cho chiến đấu cơ sử dụng con tàu làm cơ sở hạ cánh và cất cánh. Theo các chuyên gia phân tích, nhóm tác chiến của tàu sân bay Trung Quốc còn lâu mới đạt được trình độ điêu luyện của hạm đội hàng không mẫu hạm Mỹ. Có điều là không biết có phải là trùng hợp ngẫu nhiên hay không mà đúng vào lúc Bắc Kinh mang tàu sân bay ra thị uy với các láng giềng, thì các hàng không mẫu hạm Mỹ đều vắng bóng trên đại dương.
Cuộc diễn tập cất cánh và hạ cánh của phi đội chiến đấu cơ J-15 trên chiếc Liêu Ninh ngày 02/01 vừa qua tại một địa điểm không xác định ngoài Biển Đông đã được guồng máy tuyên truyền Trung Quốc hết lời ca ngợi khi nhấn mạnh rằng : « So sánh với các vùng biển khác như Bột Hải, Hoàng Hải và Đông Hải (Biển Hoa Đông) thì Nam Hải (tức Biển Đông) là nơi có điều kiện khó khăn hơn ».
Yêu tố quan trọng nhất được các chuyên gia quân sự ghi nhận là chiếc Liêu Ninh đã thành công trong việc tiến ra đại dương : Ngày 25/12/2016 vừa qua, lần đầu tiên con tàu đã vượt qua chuỗi đảo thứ nhất, băng qua eo biển Miyako cắt ngang Nhật Bản để ra Tây Thái Bình Dương, từ đó đi xuống phía nam, rẽ qua eo biển Ba Sĩ (Bashi) sát Đài Loan để vào Biển Đông.
Chuyến hải hành suôn sẻ này cho thấy là về mặt động cơ, chiếc Liêu Ninh đã khắc phục được các điểm yếu kém của loại tàu sân bay Nga cùng loại như chiếc Đô Đốc Kouznetsov, mà vận tốc không thể vượt quá 18 hải lý/giờ, để hệ thống máy tàu không bị quá tải.
Về mặt năng lực tác chiến, theo các chuyên gia, với các « bài tập cuối khóa » lần này, Trung Quốc đã thành công trong việc biến một tàu sân bay huấn luyện thành một phương tiện tấn công, cho dù hỏa lực cũng như kỹ thuật còn nhiều hạn chế. Trước đó, khi còn ở Bột Hải, chiếc tàu cũng lần đầu tiên tập trận bắn đạn thật, kèm theo các bài khóa như không đối không, không đối hạm, hạm đối hạm.
Ngay từ ngày 15/11 năm ngoái, Bắc Kinh đã tuyên bố rằng chiếc tàu sân bay duy nhất của họ đã sẵn sàng chiến đấu.
Không một chiếc hàng không mẫu hạm Mỹ được triển khai làm nhiệm vụ
Điều đáng ghi nhận trong thời điểm hiện nay, là vào lúc Trung Quốc phô trương sức mạnh mới của chiếc hàng không mẫu hạm Liêu Ninh ngay tại vùng biển nóng là Biển Đông, với ý nghĩa hù dọa rõ rệt đối với các láng giềng, Hoa Kỳ lại ở trong tình trạng bất động.
Hãng truyền thông Mỹ Fox News ngày 30/12/2016 đã nêu bật một sự kiện mang ý nghĩa biểu tượng : Đó là vào lúc Bắc Kinh « khoe » tàu sân bay, thì cường quốc Hải Quân số một hành tinh là Mỹ, lại không có bất kỳ một hàng không mẫu hạm nào đang hoạt động, điều được hãng Fox News ghi nhận là chưa từng thấy từ sau Đệ Nhị Thế Chiến đến nay.
Theo nguồn tin trên, chiếc USS Dwight D. Eisenhower chịu trách nhiệm vùng Trung Đông chẳng hạn, đã quay trở lại cảng Norfolk (bang Virginia) ngày 30/12, nhưng không có chiếc hàng không mẫu hạm Mỹ nào khác thay thế. Còn tại châu Á, phải chờ đến cuối tháng Giêng này thì chiếc USS Carl Vinson mới trở lại nhận nhiệm vụ ở vùng biển Tây Thái Bình Dương.
Đối với các chuyên gia phân tích, trong bối cảnh hàng không mẫu hạm luôn được xem là biểu tượng của sức mạnh Mỹ, với khả năng chuyển lực lượng hùng hậu đến mọi chiến trường một cách nhanh chóng, việc không một chiếc tàu sân bay Mỹ nào đảm trách một chiến dịch nào đó trên đại dương đã làm dấy lên những suy nghĩ không hay về sự « suy yếu » của tiềm lực quân sự Hoa Kỳ.
Tại châu Á, điều đó đã bắn đi một tín hiệu xấu về phía các đồng minh và đối tác của Mỹ trong khu vực, vốn kỳ vọng rất nhiều vào Washington để ngăn chặn đà bành trướng của Bắc Kinh.
 http://vi.rfi.fr/chau-a/20170104-tau-san-bay-tq-thi-uy-o-bien-dong-mau-ham-my-vang-mat-tren-bien


Nhật – Đài bắt tay đối phó với đe dọa Trung Quốc

media 
 
Cơ quan đại diện Nhật Bản tại Đài Loan khai trương tên gọi mới « Hiệp Hội Giao Lưu Nhật Bản-Đài Loan » ngày 03/01/2017.REUTERS/Tyrone Siu
Cục diện địa chính trị Đông Á đối diện với những diễn biến khó đoán định trong năm 2017, trong đó quan hệ giữa Trung Quốc và Đài Loan là một dấu hỏi lớn. Trong bối cảnh tổng thống tương lai Hoa Kỳ có xu hướng tập trung chủ yếu cho quyền lợi của nước Mỹ, giảm bớt sự ủng hộ dành cho các đồng minh Đông Á, việc tăng cường hợp tác giữa Đài Loan và Nhật Bản, kể cả về quân sự, ngày càng trở nên một nhu cầu chiến lược của hai quốc gia láng giềng, để sẵn sàng kháng cự trước các tham vọng và thậm chí hành động gây hấn của Bắc Kinh.
Việc nâng cấp quan hệ giữa hai bên thông qua việc Tokyo đổi tên cơ quan đại diện không chính thức tại Đài Loan là một diễn biến nổi bật. Hôm nay, ngày mùng 3 tháng Giêng 2017, cơ quan đại diện của Nhật Bản tại Đài Loan chính thức khai trương tên gọi mới « Hiệp Hội Giao Lưu Nhật Bản-Đài Loan », thay cho tên gọi cũ « Hiệp Hội Giao Lưu Nhật Bản ».
Theo một số nhà quan sát, đây là một bước đi cho thấy, Tokyo đã chuẩn bị sẵn sàng cho việc công nhận Đài Loan, trong trường hợp cần thiết (trang Forbes). Cũng trong hướng thay đổi này, trong chính giới Đài Loan cũng có nhiều ý kiến đề nghị đổi tên cơ quan đại diện của Đài Bắc tại Nhật Bản thành « Hiệp Hội Trao Đổi Đài-Nhật ».
Theo các số liệu chính thức, quan hệ kinh tế giữa Đài Loan và Nhật Bản là rất quan trọng đối với cả hai bên. Nhật Bản là đối tác kinh tế thứ ba của Đài Loan (sau Trung Quốc và Hoa Kỳ), trong khi Đài Loan là đối tác thứ tư của Nhật (sau Hoa Kỳ, Trung Quốc và Hồng Kông). Thương mại song phương năm 2015 đạt tổng trị giá 57 tỉ đô la.
Báo Đài Loan The China Post cho biết tên gọi cũ « Hiệp Hội Giao Lưu Nhật Bản » đầy tính mơ hồ, không phản ánh quan hệ thực sự của cơ quan đại diện không chính thức. Việc Tokyo đổi tên cơ quan đại diện này được nhìn nhận như là một hành động trả đũa lại các nỗ lực của Bắc Kinh nhằm cô lập đảo quốc « ly khai » hơn nữa về ngoại giao, với việc lôi kéo thêm một vài trong số hai chục quốc gia nhỏ bé còn duy trì quan hệ chính thức với Đài Bắc.
Trên thực tế, nhu cầu tăng cường hợp tác Đài-Nhật không chỉ là về mặt kinh tế và văn hóa. Việc Trung Quốc gia tăng sức mạnh quân sự tại vùng Biển Hoa Đông và đặc biệt là Biển Đông đang dẫn đến sự đảo lộn thế cân bằng chiến lược chính trị và quân sự hiện nay, đặc biệt nếu như Hoa Kỳ giảm bớt các hợp tác trong vùng.
Stratfor, trang mạng phân tích thông tin tư nhân có trụ sở tại Hoa Kỳ, ngày 28/12/2016, có bài « Nói tóm lại, Đài Loan đã tìm được một đồng minh », nhận xét : Trong bối cảnh ngày càng bất trắc này, cùng với Philippines, « Đài Loan trở thành trung tâm trong chiến lược an ninh khu vực của Nhật Bản ». Chiến lược hợp tác an ninh - quân sự của Nhật Bản với Đài Loan và một số quốc gia khác như Malaysia, Việt Nam, Indonesia, Thái Lan, và Singapore, cho phép ngăn chặn tham vọng độc chiếm Biển Đông của Trung Quốc. Mà để ngăn chặn tham vọng của Trung Quốc, bảo vệ nền độc lập trên thực tế của Đài Loan trước đe dọa tấn công của Trung Quốc là một điều thiết yếu.
Theo Reuters, cuộc điện đàm giữa tổng thống tân cử Mỹ với tổng thống Đài Loan, đầu tháng 12/2016, phá vỡ thỏa thuận ngầm bốn thập niên giữa Washington và Bắc Kinh, về nguyên tắc một nước Trung Hoa, đang khiến bộ Quốc Phòng Trung Quốc sôi sục. Một giới chức cao cấp của quân đội đe dọa Trung Quốc sẽ còn tiến hành nhiều cuộc tập trận sát Đài Loan trong thời gian tới, để chứng tỏ khả năng sẵn sàng tấn công hòn đảo, nếu cần.
Trong đảng cầm quyền Nhật Bản, bắt đầu có những tiếng nói yêu cầu đẩy mạnh quan hệ quốc phòng với Đài Loan. Theo Kyodo, hồi giữa tháng 12/2016, một dân biểu đảng Tự Do Dân Chủ cầm quyền, ông Keisuke Suzuki, nhấn mạnh « sự tồn tại của một nước Đài Loan tự do là rất quan trọng đối với an ninh của Nhật Bản (…). Việc Đài Loan chịu áp lực quá mạnh từ Hoa Lục cũng là vấn đề an ninh của chính nước Nhật ». Dân biểu nói trên đề nghị Tokyo ưu tiên hỗ trợ Đài Loan tự chế tàu ngầm và máy bay chiến đấu.
Theo dự kiến, chiếc tàu ngầm tự chế đầu tiên của Đài Loan sẽ đi vào hoạt động kể từ năm 2025, và loạt máy bay tiêm kích đầu tiên sẽ là vào năm 2023.




No comments: