Friday, January 6, 2017

DOROTHY M.JOHNSON * NGƯỜI MẸ KẾ

Nguyên tác của
Dorothy Marie Johnson (1905-1984), Hoa Kỳ.

NGƯỜI MẸ KẾ 

NGUYỄN VĂN SÂM
chuyển dịch

Rời bỏ quê nhà, xe của chúng tôi chậm chạp vượt qua từng dặm đường dài, băng qua cánh đồng cỏ lộng gió hướng về dãy núi cao.
Chúng tôi ra đi với chiếc wagon một ngựa kéo và một ít đồ đạc. Ban đầu chúng tôi có bốn người. Cha tôi và tôi đi bộ theo xe vì tôi tuy mới mười một tuổi mà đã lớn xác. Hai đứa em gái tôi lon ton, nô đùa phía sau xe, rồi bị tống lên xe nằm sau khi đã thấm mệt.
Xe thuộc loại Conestoga có bánh xe rất lớn, không có mui, thuận tiện để vượt qua những cánh đồng cỏ. Giống như những chiếc mà bà con của Cha đã dùng để đi về miền Viễn Tây trước đây, nhưng chiếc xe nầy thì cũ kỹ quá, ngựa lại yếu nhớt, uể oải. Lúc thì kêu cót két, lúc thì kêu rầm rầm, xe ì ạch nhắm hướng một thành phố nhỏ nơi bìa rừng mà Cha nghĩ là có một ông bác đang làm chủ một trại cưa nhỏ.
Đi được hai tuần thì có thêm cô Mary nhập bọn. Từ đâu cô lạc lõng đến đây cô không hề hé môi về chuyện đó. Cha không muốn cho cô thêm vô nhóm, nhưng cô nhứt định đòi đi theo.
Cô cương quyết: "Em muốn nhập bọn với một gia đình và chăm sóc tụi nhỏ. Em không trở về đâu. Nếu anh không cho em đi theo, em sẽ đi theo bất kỳ xe nào khác". Cha cau mày nhìn cô, cô trừng đôi mắt xanh lơ ngó Cha.
Cha hỏi: "Cô mấy tuổi?"
Cô đáp: "Em mười tám tuổi rồi chớ bộ. Thiếu gì người đi ngựa ngang qua đây, nhưng em thích theo gia đình anh. Em không trở về đâu!"
Cha dịu giọng: "Bốn cha con tôi sắp cạn lương thực rồi. Tiền nong cũng sạch bách. Tôi không xoay sở nổi nếu đoàn có thêm người. Ông quay đi làm như thể là không muốn nhìn mặt cô. "Cô phải đi bộ theo".
Thế là cô theo chúng tôi và chăm sóc cho hai em gái tôi, nhưng Cha không buồn ngó ngàng hay chuyện vãn lời nào với cô.
Ngoài đồng thì gió thổi mạnh. Đến núi thì trời đổ mưa. Dân cư cho biết vùng này mưa liên miên suốt mùa Hè. Mưa làm rã mục gốc rạ, làm hư hại mùa màng. Người ta tiếp đón chúng tôi một cách thờ ơ. Những người nghe chúng tôi trình bày đều đi qua với cùng tâm trạng của chúng tôi, lo âu cho tương lai cuộc sống.
Cha tôi cũng thế. Mỗi ngày, so với xe, ông đi gấp đôi. Ông mang súng vào rừng, sục sạo nhiều nơi nhưng chẳng thấy bóng dáng con mồi nào. Trước đến giờ ông săn nai lấy thịt nuôi gia đình. Nhưng lúc nầy chúng tôi đâu được nếm qua chút nào đâu, may mà được dân định cư miễn cưỡng tặng cho một ít.
Chỉ một lần, ông mang về được một con nhím; loại này thịt ngon, nhiều mỡ. Cô Mary đem chặt khúc và nướng. Khói bay mù mịt làm cô chảy nước mắt sống ràn rụa. Hai cha con tôi căng tấm vải dầu che mưa để lửa khỏi tắt.
Một ngày kia, chúng tôi dừng chân tại một căn chòi gỗ cũ kỹ và trống trải, chẳng có gì trong đó hết. Cha cho biết phải tạm trú nơi đây thôi vì ngựa đã kiệt sức rồi, không thể kéo xe trên những đoạn đường núi nữa.
Căn chòi ít ra cũng hữu dụng để che chắn gió mưa. Chúng tôi còn lại mấy củ khoai và một ít bột bắp. Cha bỏ cả buổi trời xuống mò cá ở một khe suối gần đó, cuối cùng cũng chẳng bắt được con nào. Cho đến ngày nay, tôi chẳng tha thiết gì tới chuyện bắt cá. Bộ mặt buồn so, hốc hác của Cha ngày xưa còn mãi ám ảnh tôi.
Cha kéo cô Mary và tôi ra ngoài chòi. Những giọt mưa từ các cành cây rơi ướt vai chúng tôi. Ông cho biết:
- "Ta biết chúng ta đang ở đâu. Từ đây đến nhà bác John rồi trở về mất khoảng bốn ngày đường. Đó là một thành phố nhỏ, sẽ có đồ ăn. Họ sẽ cho ta một ít dù bác John còn ở đó hay không cũng vậy".
Ông nhìn tôi và khuyên: "Con phải nghe lời cô Mary nghe con".
Đó là lần đầu tiên ông chấp nhận sự hiện hữu của cô Mary kể từ khi cô theo gia đình chúng tôi, cách đây hai tuần.
Ông nói tiếp: "Lâu nay con luôn luôn nghe lời Cha nhưng từ nay con phải tuân lời cô Mary. Cô có thể khôn lanh hơn".
Bỗng ông chua chát: "Người đời chẳng hề tốt với mình, họ chỉ biết 'sống chết mặc bây ai lo phận nấy' thôi. Nhưng ra thành phố, ta sẽ tìm được đồ ăn đem về đây".
Ông hít mạnh, nói tiếp: "Ở đây, nếu đói quá thì giết con ngựa đi. Thà làm như thế còn hơn chịu chết đói hết".
Ông hôn từ giã hai đứa nhóc, đoạn cầm súng, choàng cái mền lên người rồi chầm chậm lê bước đi.
Căn chòi mốc meo, không có nền. Chúng tôi đốt lửa trên nền đất và cho khói thoát ra qua một cái lỗ ở nóc chòi. Khói bay mịt mù, nhưng chúng tôi phải đốt lửa để hong củi cho khô bớt.
Đêm thứ ba chúng tôi mất con ngựa. Một con gấu làm nó hoảng sợ nên đã tung chạy biệt dạng. Nghe tiếng động, cô Mary và tôi phóng ra nhưng trời tối đen, chẳng thấy được gì.
Vừa rạng sáng tôi đã ra đi tìm nó. Tôi đã đi có lẽ đến mười lăm dặm. Phải tìm cho ra con ngựa đem về. Chắc chắn tôi sẽ bị Cha quất nếu Cha về mà thấy mất ngựa. Tôi bị lạc đường hai ba lần, tưởng phải chết mất xác vì có ai biết đâu mà tìm. May mà tôi tìm được đường về.
Ngày thứ tư. Chưa thấy cha về. Chúng tôi đã ăn đến phần lương thực cuối cùng.
Ngày thứ năm, cô Mary đi tìm con ngựa. Hai đứa em gái tôi thút thít, co ro sát vào nhau trong mền bên cạnh đống lửa. Chúng vừa sợ vừa đói.
Người tôi chẳng bao giờ khô ráo vì luôn phải ra ngoài đem thêm củi vô hay phải ra gọi cô Mary. Nghe gọi, cô sẽ không đi lạc. Tôi không khóc như hai đứa nhỏ vì tôi đã lớn, mười một tuổi rồi.
Gần tối, men theo tiếng tôi gọi, cô Mary trở về chòi.
Cô không tìm được ngựa, đến một miếng da hay một túm lông cũng chẳng thấy đâu. Thay vào đó, cô vác về một cục lớn màu trắng, dòm giống như một trái bí rợ.
Chẳng nói chẳng rằng, cô ngó quanh quất, biết là Cha tôi chưa về.
Em Elizabeth hỏi: "Cái gì vậy cô?"
- "Nấm. Có lẽ nặng đến ba ký".
- "Cô làm gì với cục nấm đó," tôi nhếch mép: "Để đá banh chắc!"
- "Ăn - có thể". Cô đặt nó vào góc chòi. Tóc cô sũng nước, xõa xuống đôi vai. Cô ngồi co ro bên cạnh đống lửa.
Bé Sarah bắt đầu thút thít, luôn miệng kêu: "Đói bụng quá".
Tôi nói: "Nấm không ăn được đâu. Ăn vô chết liền đó".
- "Có thể," Cô Mary đáp. "Nấm có thể làm chết người. Cô không làm bộ giống như một số người rằng mình biết hết mọi thứ trên đời đâu".
Tôi hỏi cô: "Cái dấu gì trên bờ vai của cô vậy? Cô bị gai quào rách áo khi vô rừng hả?"
- "Theo cháu, nó là cái gì?". Cô vừa nói vừa cúi đầu xuống đám khói.
Tôi đoán: "Trông giống như những vết thẹo".
- "Đúng là thẹo. Chúng đã dùng roi quất cô. Thôi, lo việc của cháu đi. Cô cần suy nghĩ một chút".
Bé Elizabeth lại thút thít: "Sao Cha không về?"
Cô Mary dỗ dành: "Cha sắp về rồi. Trời tối quá Cha chưa về được. Chắc chắn Cha sẽ về lo cho cháu mà".
Cô đứng dậy, đến lục lọi hộp đựng lương thực. Tôi càu nhàu:
- "Trong đó chỉ còn mấy cái dĩa không thôi mà. Nếu còn chút gì trong đó tụi cháu đã thấy rồi".
Cô đứng lên, đi lấy cái hộp mỡ nhím. Cô nói tỉnh bơ:
- "Cô có đồ gì để ăn rồi. Nhưng các cháu chưa được ăn đâu. Cô không muốn nghe ai kêu ca gì hết, rõ chưa?"
Rồi cô hành động, thấy thiệt là ác. Cô cắt cục nấm, đem chiên bằng mỡ nhím. Mùi nấm chiên thơm lừng khiến hai nhóc chui ra khỏi mền. Nhưng bằng giọng quyết liệt, cô bắt buộc chúng chui trở vô. Chúng tấm tức khóc, thấy thiệt thương tâm.
Tôi nén khóc, căm gan, theo dõi coi cô làm gì tiếp theo.
Tôi cố chịu đựng mùi thơm của nấm chiên. Nhưng được một lúc, tôi ngỏ lời:
- "Chia cho cháu một ít đi".
- "Mai nghe. Ngày mai, có thể được. Nhưng hôm nay thì không".
Cô quay lại phía tôi, quyết liệt: "Đừng quấy rầy cô. Để cô tính".
Cô quỳ cạnh đống lửa và chiên hết số nấm.
Ước gì có được cây súng của cha, tôi sẽ nã vô cô lập tức.
Cô không ăn liền. Cô nhìn lát nấm chiên dòn một hồi lâu. Đoạn nói: "Sáng ngày mai, cô nghĩ là cháu có thể cho biết là các cháu có muốn ăn hay không".
Hai đứa nhóc nhìn cô chăm chăm khi cô ăn. Bé Sarah gặm đỡ cái bao tay bằng da cũ.
Rồi cô Mary bò vào mền ngủ với chúng. Chúng cố tránh xa cô.
Tôi hoảng sợ đến nỗi bao tử bồn chồn dù rằng nó trống trơn.
Cô Mary nằm trong mền đâu được lâu. Cô ra lấy nước trong xô uống, đoạn ngồi bên đống lửa. Cô nhìn tôi qua màn khói.
Cô nói nhỏ với tôi: "Nếu gặp nấm độc, cô không biết cô sẽ ra sao. Cháu cố gắng lo cho hai đứa em nhe. Vì Cha cháu sắp về rồi... Cháu nên đi ngủ đi. Đêm nay cô sẽ đi ngủ rất trễ " .
Và người ta cũng sẽ ngồi thức như thế. Nếu đó là đêm cuối cùng của đời người. Thần Chết có thể đến với người ta bất kỳ lúc nào. Người ta ngồi kế bên đống lửa mịt mù khói. Ngồi đấy để ôn lại những gì cần nhớ lại, để cảm nhận được sự thú vị của đời người.
Chúng tôi ngồi yên lặng; hai đứa trẻ đã ngủ. Được một lúc, tôi hỏi:
- "Bao lâu thì chất độc mới ngấm hả cô?"
Cô đáp: "Cô chẳng nghe thấy gì hết. Thôi đừng nghĩ đến chuyện đó nữa " .
Một lúc sau tôi gục xuống, cằm tựa vào ngực, ngủ ngon lành.
Có lẽ thánh Peter cũng ngủ gục như vậy trong khi Đức Chúa Trời quỳ cầu nguyện suốt đêm khi Ngài biết rằng ngày mai mình sẽ bị bắt.
Cô Mary đi tới đi lui chộn rộn làm tôi tỉnh ngủ. Màn đêm sáng dần. Cô nói:
- "Cô nghĩ là nấm không độc. Bây giờ ta có thể nói như vậy được rồi, phải không?"
Tôi đáp cụt ngủn: "Cháu đâu biết được " .
Cô ra đứng trước cửa chòi. Ngước nhìn bầu trời. Mưa còn rơi rơi. Hình như cô thấy bầu trời đẹp lắm.
Cô đi vào, đem chiên các lát nấm. Hai nhóc háo hức thèm thuồng mà lòng lo sợ. Ba anh em chúng tôi ăn một cách ngon lành, no nê cho đến lúc cô Mary nói: "Mấy cháu ăn nhiêu đó đủ rồi." và cô không chiên thêm nữa. Phần cô, cô không ăn miếng nào.
Hôm ấy căn chòi buồn tẻ bỗng có một ngày khác thường. Cô Mary vui hết biết, cô kể hết chuyện này đến chuyện khác, cô còn cùng chúng tôi tham gia trò chơi "Tìm cái đê" với trái thông khô.
Đến xế chiều mọi người bỗng nghe một tiếng gọi lớn, hai em tôi reo lên, tôi lao ra trước, chạy đến quãng rừng thưa.
Mưa đã dứt. Cha tôi phóng ra từ quãng rừng. Ông dẫn theo một con ngựa, trên lưng chở một cái bao. Tôi biết trong đó là cả một kho lương thực.
Ông cắt dây cột quanh cái bao, ngó chúng tôi với ánh mắt âu lo:
- "Còn một người nữa đâu rồi?"
Ngay lúc đó, cô Mary từ tốn bước ra khỏi căn chòi. Khi cô tiến về phía chúng tôi, mặt trời bắt đầu sáng hừng lên.
Người mẹ kế của tôi là một người đàn bà tuyệt vời.

Victorville, CA, July 10- August 1, 2012

NGUYỄN VĂN SÂM
chuyển dịch

No comments: