Monday, January 16, 2017

BÁC HỒ ĐẠO THƠ


Hồ Chí Minh: Kẻ trộm thơ

Trần Gia Phụng (Danlambao) - Hồ Chí Minh (HCM) được chế độ cộng sản (CS) xem là một nhà thơ lớn. Các giáo sư, các nhà nghiên cứu văn học CS thi nhau bốc thơm. Trong các kỳ thi trung học dưới mái trường CS, thơ HCM thường được đưa ra làm đề tài cho các em học sinh bình giải.

Theo viện Văn học Hà Nội, thi phẩm vĩ đại nhất của HCM là quyển Ngục trung nhật ký viết bằng chữ Hán, xuất bản tại Hà Nội năm 1960, gồm 132 bài thơ, đại đa số là tứ tuyệt (thơ 4 câu 7 chữ). Viện nầy cho biết HCM “đã viết trong cảnh lao tù từ mùa thu 1942 đến mùa thu 1943” (1). Ngục trung nhật ký đã được dịch qua chữ Việt, phát hành hàng trăm ngàn bản ở trong nước và cũng đã được dịch ra nhiều thứ tiếng ở hải ngoại.

Nhà nghiên cứu Lê Hữu Mục, nguyên là giáo sư văn chương Việt Nam tại Đại học Văn khoa Huế và Đại học Văn khoa Sài Gòn, sau năm 1975 định cư tại Montreal, Canada, đã nghiên cứu rất kỹ lưỡng tập thơ nầy và chứng minh rằng đa số các bài thơ trong Ngục trung nhật ký do một người Trung Hoa tên là “Già Lý” sáng tác, và chỉ có khoảng trên dưới 10 bài tứ tuyệt là của HCM. (2) 

Giáo sư Lê Hữu Mục đã phân tách tỉ mỉ tác phẩm nầy và đưa ra nhận xét như sau: "Phần phân tích ở trên chứng thực già Lý là chủ nhân của những bài thơ xây dựng theo kĩ thuật thơ Đường; những bài thơ nầy chiếm hết ba phần tư tác phẩm. Phần còn lại có thể coi là của Hồ Chí Minh. Tôi chỉ nói là có thể vì tôi không khẳng định được rõ ràng bài thơ nào đích thực là của Hồ Chí Minh, bài thơ nào thuộc về các tác giả khác." (3) 

Chỉ cần nhìn sơ qua hình bìa nguyên bản quyển Ngục trung nhật ký cũng đã thấy mâu thuẫn ngay từ đầu. Tấm bìa nguyên thủy của sách nầy ghi rõ ngày, tháng và năm sáng tác là 29-8-1932 / 10-9-1933, trong khi Viện Văn học cho rằng HCM sáng tác tập thơ nầy trong hai năm 19421943.

Ngoài những nghiên cứu của giáo sư Lê Hữu Mục, còn có những phát hiện khá thú vị khác về tài cóp thơ hoặc là trộm thơ của người khác của HCM. Ví dụ trong tuyển tập Quốc Học, trường tôi do nhà xuất bản Thuận Hóa ấn hành tại Huế năm 1996, có đăng bài thơ “Tầm hữu vị ngộ” của HCM.

Tuyển tập nầy chú giải rằng bài thơ “Tầm hữu vị ngộ” là của HCM gởi cho Võ Nguyên Giáp năm 1954, và "mới được phát hiện". Giáo sư Tuệ Quang Tôn Thất Tuệ, trong bài "Ai là tác giả bài Tầm hữu vị ngộ?" (4), cho rằng nếu bài thơ nầy của một lãnh tụ (HCM) tặng cho một viên tướng (Võ Nguyên Giáp), được sáng tác năm 1954, cả hai đang cầm quyền và cầm quân, mà sao đến năm 1990 mới được phát hiện? Hai người nầy đều là những nhân vật quan trọng đầu não của chế độ CS, mà sao bài thơ có thể thất lạc một thời gian dài (1954-1990)? Giáo sư Tuệ Quang đi sâu vào chi tiết bài thơ và nhận xét: "Tóm lại, bài thơ "Tầm hữu vị ngộ", xét về hình thức lẫn nội dung, không phù hợp với thi cách và khuynh hướng của ông Hồ".

Hai câu chuyện trên đây còn đang được tranh cãi, nhưng qua đến câu chuyện bài thơ dưới đây thì có lẽ khó cãi. Số là trong sách Hồ Chí Minh toàn tập, tập 6, (5), đăng bản phiên âm bài thơ bằng chữ Hán của HCM gởi cho trung tướng Trần Canh (sau lên đại tướng). Bài thơ nầy còn được in trong sách Thơ chữ Hán Hồ Chí Minh (6). Nguyên văn bản phiên âm bài thơ như sau:

Tặng Trần Canh Đồng Chí

Hương tân mỹ tửu dạ quang bôi
Dục ẩm tỳ bà mã thượng thôi
Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu
Địch nhân hưu phóng nhất nhân hồi.

Bản dịch nghĩa của sách nầy:

Tặng Đồng Chí Trần Canh

Rượu ngọt “sâm banh” trong chén ngọc dạ quang
Sắp uống, tỳ bà trên ngựa đã giục giã
Say sưa nằm lăn nơi sa trường, anh đừng cười nhé!
Chớ để một tên địch nào trở về.

(Theo đúng nguyên văn trong Hồ Chí Minh toàn tập, tập 6 tr. 101.)

Hồ Chí Minh và Trần Canh
Trần Canh (Chen Geng) lúc đó là một viên trung tướng thân cận của Mao Trạch Đông, đang là ủy viên dự khuyết ban Chấp hành Trung ương đảng CSTQ, tư lệnh quân khu Vân Nam kiêm chính ủy binh đoàn số 4, chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Vân Nam. Hồ Chí Minh trực tiếp xin Mao Trạch Đông gởi Trần Canh qua làm cố vấn quân sự cho Việt Minh (VM).

Theo lệnh Mao Trạch Đông, Trần Canh đến Thái Nguyên gặp HCM vào cuối tháng 7-1950. Trong chiến dịch biên giới, Võ Nguyên Giáp dự tính tấn công Cao Bằng, nhưng Trần Canh chủ trương đánh Đông Khê. Theo Trần Canh, địa thế Cao Bằng hiểm trở, công sự phòng thủ kiên cố và quân Pháp ở đây đông, nên khó tấn công. Trong khi đó, Đông Khê tuy nhỏ, nhưng giữ một vị trí chiến lược quan trọng trên phòng tuyến giữa Cao Bằng và Lạng Sơn; quân Pháp ở đây ít, dễ tấn công hơn. Cuối cùng, VM vâng theo ý kiến của Trần Canh.

Ngày 16-9-1950, VM dùng chiến thuật biển người theo kiểu Trung Cộng, tung khoảng 10,000 quân tấn công Đông Khê, một cứ điểm nhỏ do 260 quân Pháp trấn giữ. Đông Khê ở phía đông nam Cao Bằng, phía bắc Thất Khê. (Thất Khê ở phía tây bắc Lạng Sơn). Sau ba đêm và hai ngày kịch chiến (16 đến 18-9-1950), VM chiếm Đông Khê.

Trận Đông Khê là trận thắng đầu tiên của VM, cô lập Cao Bằng và cắt đứt tỉnh lộ số 4, nối Cao Bằng với Lạng Sơn. Sau trận nầy, Trần Canh còn cố vấn cho Võ Nguyên Giáp thi hành kế hoạch “công đồn đả viện”, chận đánh riêng biệt hai cánh quân do hai trung tá Pháp chỉ huy. Cánh quân của trung tá Marcel Lepage rời Thất Khê tiến lên Đông Khê, bị VM phục kích ở Cốc Xá (nam Đồng Khê) ngày 8-10-1950. Trong khi đó, đơn vị của trung tá Pierre Charton rút khỏi Cao Bằng ngày 3-10-1950, cũng bị VM phục kích ngày 10-10-1950 tại đồi 477, tây nam Đông Khê.

Trong hai trận nầy, số quân Pháp vừa tử trận, vừa bị bắt làm tù binh lên đến 4,000 binh sĩ, 354 hạ sĩ quan và 98 sĩ quan, trong đó có hai sĩ quan cấp trung tá. Đây là trận thất bại nặng nề đầu tiên của Pháp kể từ khi chiến tranh bắt đầu năm 1946. Ngoài số thương vong và thất thoát võ khí trên đất, lần đầu tiên 15 chiến đấu cơ của Pháp bị súng cao xạ của VM do Trung Cộng viện trợ, bắn hạ. Ngược lại, hai cuộc phục kích nầy là chiến thắng lớn lao nhất của VM từ năm 1946, hoàn toàn do quyết định của tướng TC.

Theo ghi chú dưới bài thơ HCM tặng Trần Canh trong sách Hồ Chí Minh toàn tập, tập 6, tr. 101, thì HCM gởi bài thơ nầy cho Trần Canh trước ngày 9-10-1950, nghĩa là HCM chúc mừng Trần Canh sau trận thắng Đông Khê ngày 18-9-1950, nhưng trước hai trận VM phục kích ở phía nam Đông Khê tháng 10-1950.

Đọc bài thơ nầy, ai cũng cảm thấy phảng phát âm hưởng bài thơ rất nổi tiếng của Vương Hàn đời Đường bên Trung Hoa là bài “Lương Châu từ”, được phiên âm như sau:

Lương Châu Từ

Bồ đào mỹ tửu dạ quang bôi
Dục ẩm tỳ bà mã thượng thôi
Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu
Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi.

Trần Trọng San dịch:

Bài Hát Lương Châu

Rượu bồ đào, chén dạ quang
Muốn say, đàn đã rền vang giục rồi
Sa trường say ngủ ai cười
Từ xưa chinh chiến mấy người về đâu?

So sánh hai bài thơ tứ tuyệt “Tặng đồng chí Trần Canh” của HCM và “Bài hát Lương Châu” của Vương Hàn, cách nhau cả hơn một ngàn năm, mỗi bài thơ chỉ có 28 chữ, mà hai bài thơ chỉ khác nhau có bảy chữ. Đó là hai chữ đầu bài thơ (“bồ đào” thay bằng “hương tân” tức rượu champagne; và năm chữ câu cuối). Còn hai câu giữa hoàn toàn giống nhau, nghĩa là hết ba phần tư (3/4) bài thơ nguyên là của bài “Lương Châu từ” của Vương Hàn.


Câu kết bài thơ HCM tặng Trần Canh trong tổng thể cả bốn câu của bài thơ, thật là vô duyên và lại lạc đề, vì ý nghĩa câu nầy chẳng ăn nhập gì đến ý nghĩa ba câu trên của bài thơ. Ba câu trên đang nói chuyện uống rượu trong một cái chén dạ quang sang trọng, phải vội vàng ra đi theo tiếng nhạc xuất quân, dù có say sưa ngoài chiến trường thi xin mọi người đừng cười... Bài thơ đang đến hồi sảng khoái, hào hùng thì HCM lại kết luận trật chìa một cách vô duyên, chẳng có hồn thơ, làm mất hứng thơ: “Địch nhân hưu phóng nhất nhân hồi”. (Chớ để một tên địch nào trở về). Đang nói chuyện xin đừng cười kẻ lỡ say ngoài chiến trường sao mà “chớ để một tên địch nào trở về”, thì thật là lãng nhách.

Trong khi đó, câu kết của Vương Hàn “Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi” (Từ xưa chinh chiến mấy người về), vừa hào hùng phù hợp với ý tưởng ba câu thơ trên, vừa là tâm trạng của những chiến binh xông pha trận mạc, biết rằng chiến tranh có những rủi ro không sao đoán trước được, nên từ xưa đến nay, những người ra đi xông pha chiến trận, thì mấy người trở về? Vì vậy mới xin đừng cười kẻ lỡ say trên đường ra trận. Lời thơ trong câu kết của Vương Hàn vang lên như là một điệu nhạc vừa hùng tráng và cũng vừa bi ai. (Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi.)

Trừ trường hợp Trần Canh là người dốt nát, không biết đọc chữ thì Trần Canh mới không phát hiện được HCM chép lại thơ Vương Hàn. Tuy nhiên, Trần Canh là người đã từng đủ điều kiện để theo học khóa 1 trường võ bị Hoàng Phố (Quảng Châu) tháng 5-1924, nổi tiếng học giỏi và được mệnh danh là một trong ba nhân tài của Hoàng Phố (Hoàng Phố tam kiệt), đã từng là hiệu trưởng trường Lục quân Bành Dương, đã lên tới cấp trung tướng, đang giữ chức tư lệnh quân khu Vân Nam kiêm chính ủy binh đoàn số 4, chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Vân Nam. Chắc chắn Trần Canh có một trình độ học vấn căn bản và vốn là một quân nhân, Trần Canh phải biết bài thơ trứ danh về chiến tranh của Vương Hàn, nhất là hai câu chót: “Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu / Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi”, hầu như là hai câu nằm lòng của giới nhà binh. Nay HCM lại “múa rìu qua mắt thợ”, lấy nguyên văn hai câu thơ của Vương Hàn làm quà tặng cho đồng hương con cháu của Vương Hàn. Trần Canh nghĩ sao về việc nầy?

Phải chăng đây là thơ “tập cổ” theo lối người xưa? Nếu tập cổ thì mượn một câu chứ không mượn 3/4 bài, và ít nhất khi in lại cũng ghi là thơ tập cổ từ thơ của ai? Hay đây là lối đánh lận con đen trí trá cố hửu của HCM? Nếu ai biết thì chối là thơ tập cổ, nếu ai không biết thì khoe là thơ của HCM và đăng vào sách, lưu truyền về sau. Ngày nay, chỉ cần chép nguyên văn một câu của người khác mà không đề xuất xứ, thì bị ghép vào tội đạo văn, ăn cắp thơ. Trong bài thơ nầy, HCM ăn cắp những ba phần tư (3/4) bài thơ của Vương Hàn.

Đúng là HCM, chủ tịch Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa tức nhà nước cộng sản Bắc Việt Nam, xứng đáng là chủ tịch trộm thơ liều lĩnh. Thế mà đảng CSVN luôn luôn kêu gọi học tập đạo đức HCM tức là học luôn cách trộm thơ hay trộm công trình sáng tác của người khác. Có thể do nhờ học tập đạo đức kiểu đó nên viên hiệu phó Trường Đại Học Bách Khoa Hà Nội đã đạo văn luận án tiến sĩ của người khác. Chỉ khác một điều là vào đầu năm nay (2014) có người tố cáo viên hiệu phó ăn cắp sở hữu trí tuệ của người khác, mà chẳng ai chịu tố cáo HCM đã trộm thơ của người khác. Nếu viên hiệu phó Đại Học Bách Khoa Hà Nội công khai thừa nhận đã trộm luận văn của người khác vì đã học theo gương đạo đức HCM, thì hy vọng có thể khỏi bị truy tố.

Chẳng những trộm thơ, mà HCM còn trộm tư tưởng của người khác. Ví dụ rõ nét nhất còn được các trường học ở Việt Nam hiện nay truyền tụng như là tư tưởng HCM, là câu mà HCM đã phát biểu trong cuộc học tập chính trị khoảng hơn 3,000 giáo viên ngày 13-9-1958 tại Hà Nội: “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người.” (7).  Câu nầy, HCM ăn cắp nguyên ý của Quản Trọng, tể tướng ngước Tề thời Xuân Thu (722-479 trước CN). Quản Trọng nói: Nhất niên chi kế mạc ư thụ cốc; thập niên chi kế mạc ư thụ mộc; bách niên chi kế mạc ư thụ nhân.” (Kế một năm trồng lúa; kế mười năm trồng cây; kế trăm năm trồng người.) Nếu kể chuyện HCM đạo văn thì còn nhiều chuyện nữa, kể cả bản Tuyên ngôn ngày 2-9-1945 của HCM...

Lãnh tụ số một của CSVN còn như thế, thì trách chi hiệu phó Đại Học Bách Khoa Hà Nội trộm luận án và trách chi nền văn hóa giáo dục CSVN suy sụp và xuống cấp.


Toronto, 26-11-2014



______________________________________

Chú thích:

(1) Lê Hữu Mục trích dẫn, Hồ Chí Minh không phải là tác giả “Ngục trung nhật ký”, Toronto: Văn Bút Hải Ngoại, 1990, tt. 12-13.)
(2) Lê Hữu Mục, sđd. tr. 112. ("Ông già họ Lý" là người bị giam chung với HCM vào đầu thập niên 30 tại khám lớn Victoria ở Hồng Kông.)
(3) Lê Hữu Mục, sđd. tr. 94.
(4) Tạp chí Hương Văn, California, số 5, tháng 2-1999, tt. 91-96.
(5) Nxb. Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội in lần thứ hai, năm 2000, trang 101.
(6) Hà Nội: Nxb. Văn Học, 1990, tt. 39-40.
(7) Báo Nhân Dân ngày 14-9-1958.

 CÓ ÍT NHẤT 4 THI HÀO ĐÃ ĂN CẮP THƠ CỦA BÁC HỒ CHÍ MINH !
https://www.facebook.com/TeoNguKhin/posts/10208354546286543

·
1) Trương Kế (712 - 779):
Là một nhà thơ Trung Quốc. Sinh tại Tương Châu, tỉnh Hồ Bắc (nay là Tương Dương) vào
thời nhà Đường.
Trương Kế có kiến thức rộng, đỗ tiến sĩ năm thứ 12 niên hiệu Thiên Bảo (753) và có làm
chức quan nhỏ có tên Tự bộ viên ngoại lang.
Trương Kế là tác giả bài "Phong Kiều dạ bạc" nổi tiếng:
PHONG KIỀU DẠ BẠC
Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên
Giang phong ngư hỏa đối sầu miên
Cô Tô thành ngoại Hàn San tự
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền.
[nguồn: http://www.thivien.net//Phong-…/poem-YJ1m_uGYnaxfjMJeLFnbMA].
2) Trương Chí Hòa:
Sống vào khoảng giữa thế kỷ thứ 8. Có tên tự là Tử Đồng, người huyện Kim Hoa, tỉnh
Triết Giang, Trung Quốc.
Thời vua Đường Trúc Tông (756-762), Trương Chí Hòa làm chức quan: Tả kim ngô vệ lục
sự tham quân.
Trương Chí Hòa là tác giả các bài "Ngu ca tử kỳ" nổi tiếng, trong đó có bài 'Ngu ca tử kỷ
5':
NGƯ CA TỬ KỶ 5
Thanh thảo hồ trung nguyệt chính viên
Ba Lăng ngư phủ trạo ca liên
Điếu xa tử,
Quyết đầu thuyền,
Lạc tại phong ba bất dụng tiên.


Ngư ca tử kỳ 5

Thanh thảo hồ trung nguyệt chính viên,
Ba Lăng ngư phủ trạo ca liên.
Điếu xa tử,
Quyết đầu thuyền,
Lạc tại phong ba bất dụng tiên.

 [nguồn: http://www.thivien.net//Ng%C6%…/poem-2ksoENII5Qy4fGi_PtfYvQ].
1

3) Triệu Hỗ (810 - 856):
Tên tự là Thừa Hựu, sinh quán ở huyện Sơn Dương, thuộc Sơn Ðông, Trung Quốc.
Năm 32 tuổi, Triệu Hỗ đậu tiến sĩ dưới triều vua Ðường Vũ Tông.
Triệu Hỗ là tác giả bài thơ "Giang lâu thư hoài":
GIANG LÂU THƯ HOÀI
Ðộc thướng giang lâu tứ tiễu nhiên
Nguyệt quang như thuỷ, thuỷ như thiên
Ðồng lai ngoạn nguyệt nhân hà tại,
Phong cảnh y hi tự khứ niên.
[nguồn: http://www.thivien.net//Giang-…/poem-D4b1EPJfVrED0zDaSs-MUg].
4) Cao Bá Quát (1809 - 1855):
Là một nhà thơ nổi danh ở giữa thế kỷ 19 trong lịch sử văn học Việt Nam, Cao Bá Quát
được người đương thời ghép với danh sĩ Nguyễn Siêu thành cặp bài trùng nổi tiếng văn
hay chữ tốt.
Cao Bá Quát là quốc sư của cuộc nổi dậy của nông dân Mỹ Lương, Quốc Oai, Sơn Tây
chống lại ách cai trị khắc nghiệt của triều Nguyễn dưới triều vua Tự Đức, nhưng thất bại,
bị nhà Nguyễn kết án tru di tam tộc.
Bị triều đình lệnh cho thu đốt, cấm tàng trữ và lưu hành sách, nên nhiều tác phẩm của
Cao Bá Quát đã bị thất lạc không ít. Tuy vậy, số tác phẩm còn sót lại cũng còn được trên
ngàn bài được viết bằng chữ Nôm và chữ Hán.
Cao Bá Quát là tác giả bài "Thú Nhà", còn có tên "Uống rượu tiêu sầu, bài 2":
THÚ NHÀN
Thế sự thăng trầm quân mạc vấn,
Yên ba thâm xứ hữu ngư châu.
Vắt tay nằm nghĩ chuyện đâu đâu,
Ðem mộng sự đọ với chân thân thì cũng hệt.
Duy giang thượng chi thanh phong,
Dữ sơn gian chi minh nguyệt.
Kho trời chung, mà vô tận của mình riêng.
Cuộc vuông tròn phó mặc khuôn thiêng,
Ai thành thị, ai vui miền lâm tẩu.
Gõ nhịp lấy, đọc câu "Tương tiến tửu":
"Quân bất kiến;
Hoàng Hà chi thuỷ thiên thượng lai,
Bôn lưu đáo hải bất phục hồi."
Làm chi cho mệt một đời.
[nguồn: http://poem.tkaraoke.com/11673/Thu_Nhan.html].
-
Giờ chuyển qua bàn đến bài thơ "Nguyên Tiêu" của Chủ tịch Hồ Chí Minh ha:
2
NGUYÊN TIÊU
(Hồ Chí Minh, Việt Bắc, tháng 02 năm 1948).
Kim dạ n
Kim dạ nguyên tiêu nguyệt chính viên
Xuân giang, xuân thuỷ, tiếp xuân thiên
Yên ba thâm xứ đàm quân sự
Dạ bán quy lai nguyệt mãn thuyền.
[Nguồn bài “Nguyên Tiêu” của Hồ Chí Minh: (1) Hồ Chí Minh - Thơ, NXB Văn học, Hà Nội,
1975; (2) Hồ Chí Minh toàn tập (tập 5), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000].
 
 
Dịch nghĩa:
Đêm nay, rằm tháng giêng, trăng vừa tròn,
Nước sông xuân tiếp liền với màu trời xuân.
Giữa nơi khói sóng thăm thẳm, bàn bạc việc quân,
Nửa đêm trở về, thuyền chở đầy ánh trăng.
* Xuân Thủy, Bộ Trưởng Bộ Ngoại Giao của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa giai đoạn
1963 - 1965, người sau này còn giữ nhiều chức vụ cao cấp hơn, một học trò của chủ tịch
Hồ Chí Minh, đã dịch thơ bài “Nguyên Tiêu” như sau:
Rằm xuân lồng lộng trăng soi
Sông xuân nước lẫn màu trời thêm xuân
 Giữa dòng bàn bạc việc quân
Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền
 
 
Xét kỹ sẽ thấy: mỗi bài thơ kể trên của các ông Trương Kế, Trương Chí Hòa, Triệu Hỗ, và
Cao Bá Quát đều có 1 câu giống với 1 câu trong bài thơ "Nguyên Tiêu" của Chủ tịch Hồ
Chí Minh. Này nhé
 
 
Câu 1 bài Nguyên Tiêu của "bác":
Kim dạ nguyên tiêu nguyệt chính viên
Quý vị có thấy na ná "Thanh thảo hồ trung nguyệt chính viên" trong bài “Ngư Ca Tử Kỳ
5” của Trương Chí Hòa không?
 
Câu 2 bài Nguyên Tiêu của "bác":
Xuân giang, xuân thủy, tiếp xuân thiên
Quý vị có thấy có thấy na ná "Nguyệt quang như thủy, thủy như thiên" trong “Giang Lâu
Thư Hoài” của Triệu Hỗ không
 
Câu 3 bài Nguyên Tiêu của "bác":
Yên ba thâm xứ đàm quân sự
Quý vị có thấy quá giống "Yên ba thâm xứ hữu ngư châu" trong bài "Thú Nhàn của cụ
Cao Bá Quát không?
 
Câu 4 bài Nguyên Tiêu của "bác":
Dạ bán quy lai nguyệt mãn thuyền
Quý vị có thấy sao giống "Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền" trong bài “Phong Kiều
Dạ Bạc” của Trương Kế không?
 
 
Rõ ràng 4 ông Trương Kế, Trương Chí Hòa, Triệu Hỗ, Cao Bá Quát mỗi ông đều cố giành
giật, giằng xé, xẻ thịt bài thơ của Bác để rồi mỗi ông cướp lấy 1 câu đem về thời đại của
mình mà làm thành những bài thơ nức tiếng của riêng các ông, phải không nào?
 

Ôi Trương Kế ơi, Trương Chí Hòa ơi, Triệu Hỗ ơi, Cao Bá Quát ơi! Mua danh ba vạn, bán
danh ba đồng. Chỉ vì cái danh hão thi hài, ủa đánh máy lộn, thi hào, danh nhân văn hóa
thế giới mà các ông bán rẻ danh dự làm phường đạo tặc đi trộm cắp chữ nghĩa của
người khác thế ư?
 
Rõ mồn một như ban ngày nhé. Ôi Trương Kế ơi, Trương Chí Hòa ơi, Triệu Hỗ ơi, Cao Bá
Quát ơi! Các ông có thấy nhục không?
Riêng tôi, thấy nhục quá! Tôi thay cho các ông mà bắt chước con gà trống mỗi sớm mai
đều phải ăn năn mà gáy lên rằng: Nhục. Nhục. Nhục..
 
 
 
 
 

No comments: