Tuesday, June 20, 2017

TRẦN QUÝ TRÂM * BUỒN VUI KHO ĐẠN



BUỒN VUI KHO ĐẠN
TRẦN QUÝ TRÂM




Ai ở Đà Nẵng chắc cũng biết địa danh Kho Đạn. Thời kỳ Tây, kho dùng để chứa đạn, thời kỳ VNCH và sau này dùng để nhốt tù. Kho Đạn nắm trước mặt chợ Cồn, xung quanh là một bức thành kiên cố, chằng chịt dây kẻm gai, công an canh gác cẩn mật ngày đêm, ai yếu bóng vía đi ngang qua, nhất là ban đêm đều rợc tóc gáy. TrạI giam chia làm nhiều khu, khu B thuộc về hình sự. Trong phòng chu vi độ 4 mét vuông, hai bên là hai bục xi măng thay giường nằm, trời lạnh thì thấu xương, trời nắng, nhất là với cái nắng ác nghiệp của mùa hè Đà Nẳng thì mình như ở trong thùng chứa hàng bằng sắt Conex, mồ hôi mồ kê cứ thế mà nhể nhải.





Sau 1975, tôi xông đại vô Bệnh Viện Đà Nẳng làm việc độ một năm rồi mới bị bắt. Lần này khác với lần đi trình diện cải tạo ngày 30 tháng 4, chỉ có tập trung rồi lên xe đưa đến cải tạo ở các trại. Ngày tôi bị bắt, khoảng 30 công an đổ xe tới, vây quanh nhà. Một công an chỉa súng vào tôi và bắt tôi đứng im. Một công an khác đọc lệnh bắt. Tôi ngơ ngác, không biết mình bị bắt về tội gì. Cũng có thể vì mình khám chui không xin phép. Hay vì tôi “thiến”- vasectomy- hàng ngày quá nhiều, sai chánh sách nên bị bắt. Trước khi bị còng tay, giải ra xe, tôi xin phép công an bồng bé Dung, con gái út của tôi mới hai tuổi. Tôi bồng độ một phút, rồi nắm tay vợ tôi nghẹn ngào. 

Chuyến này đi có vẻ dữ hơn lành. Tôi đinh ninh đi học tập chắc tối đa cũng vài tuần, rồi sẽ trở về. Nên trong balô tôi đem giấy bút và cả mấy quyến sách triết lý Mác-Lê nữa trời. Công an dẫn tôi ra xe, rồi chở tôi vô Kho Đạn. Tôi ngao ngán nhìn quanh đường, nào phố xá, chợ búa thật tiêu điều. Sao số phận mình quá hẩm hiu! Tôi là người ở lại làm việc không biết mệt mỏi trong hơn một năm trời. Chẩn bệnh- Mổ xẻ liên tục- Chưa bao giờ cảm thấy mình lầm lổi một điều gì. Thế mà, ngày hôm nay, ngồi trong xe tù, hai tay bị còng. Thật tình chẳng biết mình bị tội gì ?!

Vô trại giam Kho Đạn, việc trước tiên là qua khâu gặp bà Giám Thị Trưởng. Bà này, sau khi lục tung các đồ dùng trong balô của tôi, nào mì gói, đường, muối… Bà thấy tôi đem sách vở nhiều, bà hỏi: “Anh đem sách vở làm gì mà nhiều thế?”. Tôi trả lời: “Tôi đi học tập, một vài tuần rồi cũng về”. Bà nói : “Các anh này ngây thơ quá! Anh đi ở tù rồi đấy nhé, đem mấy thứ đó về đi”.

Vì hết phòng, tôi được đẩy vô phòng số 11. Phòng này nổi tiếng về kỷ luật sắt. Thành phần tù được coi như là nguy hiểm về hình sự, đa số trốn trại cũng 5, 7 lần. Đi qua các phòng, tôi thấy các anh như BS Thái Thanh, BS Châu (khoa nội), BS Hậu (tai, mũi, họng) và nhiều người quen nữa. Các anh quần áo xốc xếch, vẻ mặt bơ phờ, đang đu lên các thanh sắt của khung cửa sổ, chẳng khác gì mấy chú khỉ trong sở thú. Các anh bị bắt trước tôi một ngày. Tôi đặt chiếc balô trên sân xi măng ngao ngán nhìn quanh. Thật là một cảnh tượng hãi hùng. Hàng mấy chục người ở truồng, người ghẻ lở mùi hôi không thể tưởng tượng nổi. Đó là những bộ xương biết đi, chỉ có hai con mắt là mở to sáng rực. 

Chúng nhìn tôi trừng trừng: “Ê, lính mới hả? Có đường cho tụi tao không? Cất dấu? biết tay tụi tao!? Rồi chúng xông lại, lục lọi balô tôi vung vãi. Một tên tìm được bịch đường, cười lên hô hố rồi bỏ mấy miếng đường vô miệng nhai ngấu nghiến. Đúng là mình sa vào địa ngục mà chúng nó là lủ quỷ đói. Có đứa moi ra nào sách vở, giấy bút… nó cười lên hăng hắc. “Bộ ông anh, đem sách vở vào tù để dạy tụi tôi học à?” Tôi ngây thơ: “ Dạ, họ cho tôi vô đây học độ một tuần rồi về”. Cả bọn cười ồ lên: "À, nó đi ở tù mà không biết”. May mắn cho tôi, trong đám quỷ sống đó, có một tên mặt mày đanh ác, ốm tong teo, thân hình ghẻ lở có nhiều vết xăm loang lổ. 

Hắn nhìn tôi trừng trừng: “Ai như BS Trâm phải không?” Tôi nói phải. Hắn rú lên: “Trời ơi! Ông Thầy của tao đây rồi. Sao ông Thầy cũng bị bắt vô đây. Tội chi rứa? Em là lính của ông Thầy đây. Tiểu Đoàn 79 Biệt Động Quân ở Thượng Đức đó. Thầy nhớ không: bữa đó em bị thương lòi ruột. Ông Thầy mổ cứu em đó”. Tôi nói với hắn: “Tôi là Y Sĩ Trưởng Liên Đoàn. Tôi đi làm Bệnh Viện một năm rồi bị bắt vô đây”. Hồi nãy bà Quản Giáo trại có hỏi tôi can tội gì trước khi bà lăn tay, chụp hình va phát áo quần tù cho tôi. Tôi có trả lời “Tôi không biết”. Bà hỏi thêm: “Vậy anh cấp bậc gì?”- Tôi là Thiếu Tá, nhưng lon chưa về- nên tôi trả lời: “Dạ, Đại úy Bác Sĩ”. Bà ta nói: “Thế à?! Là đủ đi tù rồi đấy nhé. Làm Bác Sĩ mà cũng lên Đại Úy nữa!! Tù dài dài cưng nhé!!”

Tên Đại Bàng, lính của tôi, quay qua đám thủ hạ nói: “Đây là Ông Thầy của tao! Tụi bây lớ xớ, tao đánh bỏ mẹ. Nghe không!” Cả bọn nhìn tôi im thin thít. Thực ra, có lẽ vì tôi ở hiền gặp lành, nên lúc nào cũng gặp hên. Như lúc hành quân Hạ Lào, tôi ngồi trên cái mũ sắt trong một phi vụ tải thương của trực thăng Mỹ, viên đạn ở dưới đất bắn lên xuyên thủng cái mũ sắc mà tôi không hề hấn gì. Đến khi vô Kho Đạn lại có Đại Bàng che chở. Nhưng chưa hết, tôi lại gặp được một cứu tinh khác. Tôi gọi là “Thầy Lốc Cốc Tử”.

Buổi sáng đầu tiên trong Kho Đạn, sau một đêm thao thức ngủ không được, phần vì suy nghĩ trăm thứ chuyện, phần vì bị rệp cắn, vừa mới chợp mắt thì tôi bỗng choàng dậy vì nghe một tiếng rao lanh lãnh cất lên: “Ai đau răng, đau bụng hôn?”. Tiếng ai nghe thật quen, giọng Huế, nhìn kỹ lại thấy BS Hà Thúc Lễ (Trưởng Ty Y Tế Đà Nẵng) đi trước, cầm một cái đùi gõ lốc cốc vào cái chén nhựa, theo sau một anh y tá đeo một tráp thuốc. Có lẽ vì thói quen hay sao mà bước chân anh Lễ đi trước cùng nhịp với bước chân người đi sau; hễ anh Lể quay qua trái, thì anh đi sau cũng quay qua trái. Điệu đi rất nhịp nhàng, giống như cuộc diễn hành của Bộ Binh. Anh Lễ cất tiếng rao não ruột, buồn bã, tay vẫn gõ lốc cốc vào cái chén nhựa: “Ai đau đầu không?”

Tên Đại Bàng nằm cạnh tôi bỗng vùng dậy la lớn: “Bác Sĩ ơi! Tôi đái không ra mấy ngày, có thuốc chưa Bác Sĩ?” Anh Lễ dừng lại, ngó qua cửa sổ nói to: “Bệnh anh phải chữa trụ sinh mạnh, mà đây không có; chỉ có xuyên tâm liên (chữa đâu đầu) và viên rửa (chữa đau bụng) thôi”. Chợt nhìn thấy tôi, anh hỏi nhỏ: “Không biết sao, mà các anh vô đây nhiều lắm? Anh cần gì không, tôi gắng giúp anh một chút”. Tôi nói: “Anh coi cho tôi một quẻ, bao giờ được thả?”. Anh Lễ trả lời: “Tôi chỉ giúp anh mua ít mì gói thôi!”. Nói xong, hai người quay đi chỗ khác, tiếng gõ lốc cốc lại cất lên, lần này tôi mường tượng như tiếng rao “ Phởởở” của ông Cơ, buổi tối thường hay đẩy xe phở qua nhà tôi ở Huế, với cô con gái gõ tắc xịt trong đêm thanh vắng, khiến cầm lòng không đặng, tôi phải kêu lại, ăn một tô phở nóng ngon đáo để.

Thành thói quen, buổi sáng hễ nghe anh Lễ gõ lốc cốc là tôi choàng dậy, có bữa hai người vừa đi theo điệu xàng xê, vừa gõ dồn dập khi đi qua phòng tôi, tôi đoán anh thông báo có tin vui. Anh nháy mắt “Vợ anh ngày nay vô thăm nuôi đó”. Mà quả thật, vợ tôi vào thăm nuôi lúc buổi trưa. Tha hồ mà ăn, nào mì gói, đường Trung Quốc, ăn không hết, tôi chia cho các bạn tù. Ngày vợ tôi thăm nuôi là một ngày hạnh phúc nhất.

Một buổi sáng khác, lần này anh Lễ gõ lốc cốc theo nhịp cha cha cha. Hai người bước tới, bước lui, cái trap của anh y tá hôm nay đầy những thuốc là thuốc, cứ xoay qua xoay lại theo nhịp bước. Sau này tôi mới biết: anh y tá cũng là sư tổ trong các vũ trường. Chắc anh đi bộ, sực ngứa đôi chân, nên tập một vài động tác nhót cho vui. Nét mặt anh Lễ hôm nay thật vui. Anh thò mặt vào cửa sổ, nháy mắt: “Anh sắp được đưa lên trại rồi”. Anh đưa cho Đại Bàng mấy viên Sulfamid dặn dò kỷ lưỡng. Rồi tiếp tục khỏ nhịp đi qua các phòng khác. Tiếng gõ nhịp xa dần, bóng chiếc áo xanh đề hai chử “cải tạo” sau lưng của anh Lễ khuất qua hàng song sắt, đổi lại tiếng chưởi thề của tên Đại Bàng: “Mẹ kiếp! tao đái không được tụi bây ơi! thuốc dở ẹc- uống không hết bệnh?!!”

Sau đó ít tuần, tôi không nghe tiếng gõ của lốc cốc tử nữa. Có lẽ anh Lễ qua trại khác. Còn phần tôi, vì phải đắp chiếc chiếu toàn rệp và rệp, nên người tôi ghẻ ngứa đầy mình; Cả bọn tù gải sồn sột đêm lẫn ngày; khi công an đưa tôi lên trại giam An Điền, tôi dùng lưỡi dao mổ các nốt ghẻ, rồi tẩm teinture d’iode vào. Cháy cả da. Một tháng sau mới diệt được ghẻ. Thật là rùng mình nổi gai ốc.

Câu chuyện kể tiếp cũng ở trong Kho Đạn, là chuyện về “Mâm Trưởng” tức là tôi. Bửa cơm ở Kho Đạn rất thanh đạm. Tổ của tôi gồm 5 người. 4 bác sĩ là tôi, BS Điều, BS Toàn ở Hội An (Toàn nhỏ chớ không phải Vĩnh Toàn, anh của BS Vĩnh Chánh đâu!), BS Quyền và một thằng nhóc bị giam lâu ngày không ai thăm nuôi vì can tội ăn cắp. Bữa cơm gồm có cơm bo bo, phần nhiều là cơm cháy. 5 người có 5 tô canh toàn quốc nghĩa là toàn nước (nước pha muối với rau thập toàn). Tôi được giữ chức Mâm Trưởng.

 Tôi tự hỏi, tôi không có công trạng gì mà công anh lại cho tôi giữ chức cao vậy, chắc có lẽ vì tôi ăn ít như con gái? Đã là Mâm Trưởng thì phải chia cơm cho đều. Vì mấy lần trước, hễ khi chúng tôi mới cầm đũa, là thằng nhóc lùa một mạch, cơm canh, bo bo vào miệng nhanh như chớp, thành thử chúng tôi trở thành tiên ông. Một buổi họp có công anh tham dự, BS Quyền chịu không nổi đứng lên phát biểu: “Tôi ăn chậm, lần sau chia cơm cho đều”. BS Quyền lớn tuổi, lại cà lăm, ăn chậm không đủ no nên người trông phờ phạc. Đến phiên tôi chia cơm thì thật khó xử, vì bữa cơm nào cũng có mấy miếng cơm cháy đen to tổ bố và 5 tô canh toàn quốc. Tôi chia cơm thật đều, vì nếu không đều, 5 đôi mắt nhìn hau háu sẽ có ý kiến. 

Thằng nhóc đề nghị: nó húp 4 tô canh trước, để dành cơm cho chúng tôi ăn. Hai ngày sau đến phiên nó sẽ ăn luôn 5 phần cơm. Nó húp hết mấy tô rồi lăn ra ngủ. Sau khi chia cơm xong, mấy con mắt trợn trạc nhìn vào 4 phần cơm, bo bo nõn nà. Tôi hô to: “Nào bắt đầu ăn”. Như chớp, các bác dành hết 4 phần cơm. Riêng phần cơm cháy thì để lại. Lẽ dĩ nhiên, tôi phải ăn phần cơm cháy đó, vì tôi là Mâm Trưởng. Tôi ăn cơm cháy đến mấy tuần. Sau này lên trại cải tạo An Điền, bị mắt chứng táo bón kinh niên.

Đến phần 15 phút giải lao, cả bọn ào ào chạy ra cái giếng. Thành giếng bể một bên, nước đục ngầu. Vớ vội cái gàu, tôi múc nước giếng xối lấy xối để. Chao ơi là mát. Vừa tắm vừa tranh thủ vò mấy cái áo, không cần xà bông, miểng bớt hôi là được rồi. Nhưng vì cái giếng bị bể một bên, nước dơ ở ngoài chảy vào giếng. Đa số hình sự đều bị ghẻ lở. Tắm rồi nửa đêm lên cơn sốt. Cả bọn trong phòng gải sồn sột tạo một âm thanh quái đản, lẫn trong đêm tiếng thanh la báo giờ đổi gác của trạm công an nghe inh ỏi chát chúa cả tai. Khó mà dỗ giấc ngủ. Ở một tháng trong Kho Đạn, người tôi phờ phạc hẳn ra. Nếu có chợp mắt ngủ một chút thì những cơn ác mộng kinh sợ lại đến.

Khi qua Mỹ, bạn bè mời ăn cơm, thịt cá ê hề. Ngay cả gia đình tôi, thức ăn, thức uống thừa thải. Tôi thường khuyên các con: “Hột cơm là hột ngọc của nhà trời. Đừng có phung phí mà ông trời không cho”. Nhớ lại cảnh tượng ở Kho Đạn, giành giựt nhau từng hột cơm mà thấy chán gán cho thế thái nhân tình.

Cách đây hai năm, anh Hà Thúc Lễ ở Georgia có tới thăm tôi, vẫn tiếng nói nhỏ nhẹ như con gái, và dáng dấp như một lốc cốc tử thủa còn ở Kho Đạn. Hai anh em gặp nhau mừng mừng tủi tủi. Tôi hỏi anh “Cái anh y tá đi theo phát thuốc với anh bây giờ ở đâu rồi?” Anh nói: “Ảnh qua Mỹ lâu rồi, bây giớ là chủ một vũ trường sang trọng ở Cali”. Hèn nào, lúc đó, đi phát thuốc mà anh ngứa chân, cứ đi điệu cha cha cha, cứ tưởng như bị ma bắt. Sau đó chúng tôi xuống Galveston thăm anh Đinh Văn Tùng có nhà ở gần biển đẹp vô cùng. 

Anh Tùng coi tôi như em ruột, Tết Mậu Thân tôi ở nội trú tại Bệnh Viện Đà Nẵng, đêm ngày mổ xẻ mệt nghỉ. Anh Tùng đem hết các sở trường về giải phẩu chỉ vẻ cho tôi. Anh có một người con, lúc còn ở Đà Nẵng bị phỏng nặng, tôi là người cưu mang cháu nhiều nhất. Tôi kể mấy chuyện tếu ở Đà Nẵng, ở Đại Lộc cho anh nghe. Anh bò ra mà cười. Anh nói: “Sao em không đăng báo cho mọi người cùng đọc cho vui”. Về nhà, dự định viết thì nghe anh đã mất. Thôi thì em viết mấy chuyện vừa cười vừa ra nước mắt để anh ở suối vàng cùng đọc với các bạn bè cho vui vậy.

Trần Quý Trâm
Houston 1/3/2006

VĂN QUY * CÁNH BÈO BIỂN CẢ

 

CÁNH BÈO BIỂN CẢ 
VĂN QUY 


Mộng Chi và tôi là bạn thân từ thủa học trò, nhưng sau đó tôi nghe theo tiếng gọi non sông đi tòng quân chống giặc. Còn Mộng Chi trở thành cô giáo cấp 2 tại miền cao. Ngày di tản tôi gặp lại nàng. Cuộc gặp gỡ giữa chúng tôi quá ngắn ngủi, vì lúc đó tôi đang chỉ huy một đơn vị mở đường, còn nàng thì hối hả đi theo dòng người di tản. Hai năm sau dù không hẹn hò nhưng chúng tôi lần nữa lại gặp nhau tại một vùng kinh tế mới. Mộng Chi không còn hoa khôi như ngày nào, thân hình ốm yếu tàn tạ đi. 

Còn tôi cũng không còn phong độ như ngày xưa, chỉ còn lại tấm thân tàn ma dại, ngày hai buổi lo cuốc đất trồng lang để lần hồi kiếm ăn và thực hiệnđúng khẩu hiệu "lao động là vinh quang" mà đảng đang hô hào. Một hôm, sau giờ giải lao, Mộng Chi đến gặp tôi, nàng lau mồ hôi, thở dài và nói: "Khổ quá anh ạ! Chẳng lẽ chúng ta cam phận giam hãm trong nhà tù lớn này cho đến lúc bị vùi thây dưới lớp cỏ hôi". Nàng còn mượn lời của Patrick Henry "Give me liberty or give me death" (Hãy cho tôi tự do hay là chết) Thế là hai đứa tôi vứt bỏ lại cuốc, rìu, nắm tay nhau đi tìm lại sự sống trong cái chết. 

Mộng Chi dẫn tôi đến tôi đến nhà người thân tại một xóm chài ở Nha Trang đúng lúc ông chủ chuẩn bị thuyền bè để vượt biên. Qua vài lời hỏi thăm, ông lão chủ nhà hỏi Mộng Chi: - Ngày đó Dượng tưởng cháu đã được ra ngoại quốc rồi, té ra vẫn kẹt lại. Nay còn dạy học nữa không? - Thưa Dượng Bảy, chúng dồn cả học trò lẫn thầy cô vào nhà tù lớn thì còn học hành gì được nữa. - Cháu bị giam tại trại nào? - Thì nhà tù kinh tế mới, Dượng chưa biết à? Dịp này Mộng Chi cũng giới thiệu tôi là một anh lính thất trận đang phiêu bạt đây dó. Ông lão đưa mắt nhìn Mông Chi rồi lại liếc mắt nhìn tôi ra chiều thương hại. 

Ông nói nhỏ: - Dượng vừa đóng chiếc tàu để vượt biên, hai hai cháu ở lại đây cùng đi với dượng. Nửa tháng sau, người nhà ông Bảy cùng một số khách hàng trong đó có Mộng Chi và tôi được núp kín ở trong tàu. Chiếc tầu vượt biên được nhập chung với tàu đánh cá trực chỉ ra khơi Khi đến gần hải phận quốc tế, tàu chúng tôi gặp trân bão, gió cấp 7. Cả bầu trời tối tăm. Những luồng sét sáng loè chạy dọc ngang như cắt mặt biển ra từng mảng. Tiếng sấm hòa lẫn tiếng biển Đông vang dội. Những đợt sóng liên tiếp nổi lên như quả đồi cao nâng chiếc tàu lên rồi lại lặn chìm như đưa con tàu chúi xuống đáy biển. Con tàu lắc lư nghiêng ngả, nước biển, nước mưa tràn vào. Tiếng khóc la cầu trời khấn Phật. tiếng tuyệt vọng giã từ chồng con, người ói mửa nhày nhụa giữ sàn tàu. Trong lúc con ràu đang lâm nạn thì ba chiếc tàu lớn cắm cờ máu chạy dọc xung quanh. Một tên vạm vỡ lên tiếng: - Muốn tụi này cứu không?

 Trong cơn hoảng loạn mọi người như vớ được chiếc phao, họ van nài xin cứu giúp. Tên ấy nói tiếp: - Muốn được cứu, có bao nhiêu vàng bạc đưa nộp hết lên đây. Khi gom vàng bạc đầy túi, phần lớn đã được chuyển sang ba chiếc tàu Cộng Sản. Số thanh niên còn lại khước từ sự cứu giúp, họ cương quyết tiếp tục cuộc hành trình. Tên chỉ huy tàu thét lên: - Tụi mày ngoan cố hử? Không lên tàu lớn, chúng tao kéo úp tàu xuống đáy biển bây giờ. Nhìn trời cao, nhìn đất dầy, nhìn biển biển rộng, không cón cách gì để thoát, số người còn lại đành khuất phục trước bọn người lòng lang dạ sói. Ba chiếc tàu đổi hướng quay mũi vào Vũng Tàu. Tàu cập bến, chúng tôi bị áp tải vào nhà giam ở Bà Rịa để làm thủ tục "tống tiền". 

Họ cho phép nạn nhân được thư từ liên hệ với thân nhân để mang số vàng qui định đến chuộc mạng. Người không tiền bị di lý về địa phương để nhận lệnh tập trung hay bị truy tố về tội bỏ nước ra đi. Tại phiên tòa xét sử tôi và Mộng Chi, người đến tham dự đông nghẹt. Trên hàng ghế các ông tòa ngồi chễm trệ. Mộng Chi được gọi lên vành móng ngựa để trả lời tội trạng của mình. Tòa hỏi: - Động cơ nào thúc đẩy bị cáo vượt biên? Mộng Chi trả lời: - Thưa tòa, động cơ Ép 1 Đồng bào không nén được, phải phì cười. 

Còn quan tòa thì tía tai đỏ mặt, giơ cao chiếc búa nện mạnh xuống bàn: - Có tội không hối lỗi, còn ngoan cố ngạo mạn à? Mộng Chi đáp lễ ngay: - Tại các ông dùng từ không đúng! Tiếng cười lại nổi lên, có tiếng xầm xì "Con bé này to gan thật, mà hắn nói cũng có lý". Người khác nói tiếp "Cô giáo cấp 2 thời Ngụy đó mầy, không khéo ông Tòa chỉ bằng trình độ học trò của cô ta" Tòa không dám đối đầu với Mộng Chi sợ bị hố, đành tuyên phạt nàng 5 năm tù về tội bỏ nước ra đi, 2 năm tù vì tội ngạo mạn quan tòa. Còn tôi thì bị hai lệnh giây thun. 

Tất cả là 6 năm. Từ đó, từ ngoài đến trong trại tù, người ta đặt cho Mộng Chi một cái tên đặc biệt: Cô Ép 10. Mãn hạn tù tôi đến gặp Ép 10 để từ giã nàng. Ép 10 nắm chặt tay tôi nhoẻn miệng cười: - Ráng chờ em nghe, thua ván này mình bày ván khác. Mùa thu năm 1984 tôi một mình với xị rượu bên chiếc bàn dã chiến lai rai để giải sầu. Từ ngoài xa có người cỡi con ngựa sắt mang tới cho tôi một cánh thư. Thoáng mắt nhìn qua góc trái bì thư, tôi thấy vỏn vẹn hai chữ "Ép 10", Bên trong bao thư có vài câu ngắn gọn: "Em trả nợ xong tù, còn chờ đợi anh ở Hải Sơn. Anh xuống gấp. Địa chỉ..." Tôi đứng dậy cuộn tròn bộ đồ trận đã xơ xác bỏ vào xách tay, tìm đến địa chỉ trong thư. Từ đó hai chúng tôi lại đi tìm lẽ sống trong cái chết, chết ười sống một. Do sự vận động của Ép 10, người bác của cô đã chấp thuận cho hai chúng tôi được bước lên con tàu định mệnh. 

Bọn lãnh thầu bãi đáp vốn tham vàng, và cũng tham ăn nên đã bị chủ tàu chơi gác. Ông chủ tàu giả tạo một lễ giỗ linh đình chủ đích mời bọn cai thầu và đệ tử chúng đến nhậu nhẹt. Chỉ mới nâng ly được vài đợt, rượu mạnh được pha vào một ít độc dược tuy không chết người nhưng tất cả bọn chúng đã phải "gục". Quan lớn say trước, quan nhỏ say sau, đứa gục xuống bàn, đứa ghẹo cổ vắt ngang thành ghế...Trong khi đó bãi đáp im lặng như tờ, từng đoàn quân như những bóng ma lẹ làng vượt qua bãi đáp. Chiếc tàu tăng vận tốc lướt sóng ra khơi. Ra đến hải phận quốc tế mọi người tràn đầy hy vọng, thì thình lình biển động, cơn bão mỗi lúc một lớn dần, từng đợt sóng nối đuôi nhau quần thảo với con tàu cũ kỹ. 

Khi biển lặng gió êm thì máy tàu bị hư hại nặng không còn hoạt động được nữa. Từ đó, con tàu trôi dạt giữa biển Đông, nước uống cạn, gạo không còn, chúng tôi ngóng chờ không thấy con tàu nào qua lại để xin tiếp cứu. Những lúc trời mưa mọi người vắt áo ướt để uống. Hai người con chủ tàu căng bạt để hứng nước mưa, bị cơn lốc cuốn chìm xuống đáy biển. Sang tháng thứ hai, đoàn người trên tàu đã kiệt sức vì đói khát, con số chết gần phân nửa. 

Những người còn sống sót đã dùng dao dóc thịt người đồng chủng để ăn, dầu vậy số người chết vẫn gia tăng tốc độ. Trong lúc thần chết đang đến gần với tôi thì Ép 10 nằm bất động, đôi mắt mở to đục mờ. Hai khoé mắt rớm lệ, tôi bò lê đến bên cạnh nàng. Hai tay tôi nắm chặt tay nàng, tôi nấc lên một tiếng rồi ngất lịm đi không còn hay biết gì nữa. Lúc tỉnh dậy tôi thấy mình đang được các bác sĩ cấp cứu tại một bệnh viện nào đó. Tôi chẳng biết ai cứu mình và cứu bằng cách nào. Con tàu định mệnh chỉ còn sống được gần phân nửa. Tôi cố thăm dò Mộng Chi nhưng biệt vô âm tín. Chẳng biết nàng có diễm phúc được người cứu thoát hay đã yên giấc dưới tuyền đài? 

Mười chín năm rồi, tuy sức khoẻ tôi đã có phần hồi phục nhưng cơn ác mộng vẫn còn theo đuổi hành hạ tôi. Cứ mỗi lúc nhìn, hay nghe đọc qua bản tin có người bị tai nạn, chết chóc, một con thú chết, một dòng máu chảy, thì đêm đó cơn ác mộng lại xuất hiện. Cơn ác mộng không chỉ dành riêng cho tôi, nhưng rất có thể sẽ xuất hiện với những bạn đồng hành trên nhiều tàu định mệnh trong cuộc hành trình biển Đông. 

::: Văn Qui:::
 

VÕ PHƯỚC HIẾU * TIN HAY KHÔNG TIN


  TIN HAY KHÔNG TIN
VÕ PHƯỚC HIẾU




Ở đời không một ai đoán trước được chữ ngờ bao giờ! Thật đúng với câu nói của nhà văn Hoa Kỳ Philip Roth: vấn đề đối với sự sống là người ta chẳng biết mảy may gì về những việc sẽ xảy ra. Ngay cả cái chết có không biết bao nhiêu câu hỏi và lý giải nhưng thật sự người ta chỉ biết nó vào phút cuối mà thôi. Có ai ngờ trong lịch sử dựng nước và giữ nước của tiền nhân và của thế hệ chúng ta lại có hằng triệu, hằng triệu người dân lương thiện, yêu nước, yêu quê hương, yêu thôn làng cố thổ lại âm thầm gạt lệ trong phẫn uất hờn căm, đành lòng bỏ xứ ra đi bao giờ?

 Vậy mà sau ngày cộng sản hoàn toàn cưỡng chiếm Miền Nam bằng đại bác xe tăng, bằng võ lực súng đạn ngoại bang và mưu mô chước quỷ để áp đặt một chế độ sắt máu, hận thù nghiệt ngã đấu tranh giai cấp, họ phải đánh đổi mạng sống quí báu của chính mình để mong chọn lấy tự do và an bình trong tâm hồn, cùng lo tương lai của con cháu. Vì chỉ có tự do mới có hạnh phúc đích thực. Bao nhiêu người cuối ngõ cùng đường đã nằm xuống trong oán hờn, trong uất hận ngút ngàn ngoài biển khơi Thái Bình Dương, mồ chôn vĩ đại người vô tội, hay nơi biên giới ngút ngàn rừng sâu trùng trùng điệp điệp Miên Lào đầy cạm bẫy giết người… Việc chúng tôi và gia đình gồm đông đủ vợ con cùng anh chị, cả bên chồng lẫn bên vợ, quyết định sống kiếp tha hương cũng là một bất ngờ trong đời mình. Bình sinh chúng tôi không bao giờ dám nghĩ tới, dù chỉ phớt qua giây phút trong tâm trí.


Chúng tôi lại nhớ một dạo trước ngày 30 tháng Tư năm 1975 không lâu, có lần chúng tôi đến chơi nhà anh Đồng Tuy ở bên kia Cầu Hàn, vùng Tân Thuận, Sài Gòn, cùng với vài ba anh em bạn bè thân quen vốn là ký giả chuyên nghiệp nơi nhựt báo Cấp Tiến của hai cố giáo sư khả kính Nguyễn Văn Bông và Nguyễn Ngọc Huy. Tòa soạn nằm ở đường Phan Đình Phùng, trụ sở của Phong Trào Quốc Gia Cấp Tiến. Trong số các bạn này có ký giả trẻ Vĩnh Lợi trong ban biên tập và điều hành tờ báo mà chúng tôi có duyên bằng hữu qua lại rất mực thân tình. Anh Đồng Tuy lúc đó là một đảng viên cao cấp và cũng là một trong số đảng viên kỳ cựu nhứt của đảng Tân Đại Việt do giáo sư Hùng Nguyên Nguyễn Ngọc Huy sáng lập năm 1964 và được bầu làm chủ tịch đầu tiên.


Anh cũng là một trong những đoàn viên sáng lập trung kiên và đắc lực của Phong Trào Quốc Gia Cấp Tiến do hai cố giáo sư Nguyễn Văn Bông (Chủ tịch) và Nguyễn Ngọc Huy (Tổng thư ký) lãnh đạo. Sau năm 1975, anh đã nhiều lần vào tù ra khám về những tội danh chống lại chế độ bạo tàn bần cùng xã hội chủ nghĩa. Một thời gian lâu sau khi được trả tự do, anh thành công vượt thoát qua Hòa Lan xin tỵ nạn chính trị và từ trần tại đây ở tuổi ngoài tám mươi trong sự tưởng tiếc nhớ thương của chúng tôi cùng bạn bè đồng hành đồng chí trong nước cũng như ở hải ngoại. 

Hôm nay xin tạm thời gát qua một bên vấn đề chánh trị, đấu tranh mà anh đã kiên cường đeo đuổi từ thời thanh xuân, anh Đồng Tuy được biết vốn là giáo sư môn Việt văn ở các trường trung học tư thục tại Sài Gòn, nhiệm sở lâu nhứt của anh ở trường Tân Thịnh, Tân Định xem như một nghề chánh thức để nuôi sống gia đình. Ngoài ra, anh còn nổi tiếng ở lãnh vực tử vi đầu số mà bạn bè thân hữu đều xác nhận và ca tụng khả năng thiên phú hiếm có ở anh. Hôm họp mặt đó, anh nể tình có lên cho vợ chồng chúng tôi, mỗi người một lá số tử vi theo lời khẩn thiết yêu cầu của chúng tôi. Tôi nói nể tình vì thực ra anh không phải là người chuyên nghiệp sinh sống với nghề xem tử vi mà chỉ thỉnh thoảng làm vừa lòng những người quen biết. Thật tình, vợ chồng chúng tôi đúng ra không đặt nặng về mê tín dị đoan, không hẳn tin tuyệt đối ở những chuyện huyền bí bói toán, nhân tướng, tử vi đầu số hay phong thủy.


Một phần cũng do chúng tôi bận bịu với bao nhiêu công việc tới tấp hằng ngày nên ít có thì giờ quan tâm suy nghĩ đến lãnh vực nầy. Nhưng hôm đó chúng tôi cũng muốn biết qua thời vận của mình về sau ra sao, không ngoài cung cách thường tình của những người khát khao tò mò, muốn tìm hiểu. Đơn giản thế thôi. Anh Đồng Tuy có triển khai những nhận xét và lý giải rất chi li của anh qua hai tập vở học trò năm mươi trang đầy. Hai tập này chúng tôi vẫn mang theo trên bước đường lưu vong và hiện nay còn gìn giữ trang trọng trong tủ sách gia đình, như một kỷ niệm tốt đẹp khó có thể nhạt nhòa mau chóng được.


Cái bất ngờ khá lý thú chúng tôi hồi nhớ và đề cập ghi lại nơi đây là khi ấy, anh Đồng Tuy tiên đoán chắc nịt như đinh đóng cột, anh cứ lập đi lập lại nhiều lần thế nào trong tương lai, chúng tôi và cả gia đình vợ con nhứt định sẽ phải sống cuộc đời ly hương biệt xứ ở thời hậu vận. Còn lý do ra sao và hoàn cảnh đưa đẩy thế nào anh ngập ngừng không nói dứt khoát. Chúng tôi để ý thấy anh đắn đo cân nhắc. Nửa muốn nói huỵch tẹt, nửa muốn ẩn giấu chuyện gì khó nói. 

Nhưng có một điều chúng tôi chú ý là anh khẳng định dứt khoát việc ra đi nầy dù muốn dù không, không sao tránh khỏi. Mà nó đến rất bất ngờ. Làm sao chúng tôi có thể quên được hình ảnh của anh lúc đó, đôi mắt long lanh trong sáng cứ đăm đăm nhìn thẳng chúng tôi, nhíu đôi mày gần như đâu chụm lại như đang suy nghĩ hun lắm. Chắc anh muốn thăm dò xem phản ứng chúng tôi thế nào chăng? Lúc ấy, không hiểu sao chúng tôi có phản ứng rất tự nhiên và nhanh chóng. Xem như một phản ứng không có gì quan trọng cả. Chúng tôi bậc cười trong khi tiện nội có vẻ lo âu hiện rõ trên nét mặt. Một phần vì chúng tôi quá đỗi ngạc nhiên và phần khác cũng không hẳn tin vào lời anh nói bao nhiêu. Chúng tôi bèn phát biểu:


- Có chuyện gì thì anh cứ nói thẳng thắn, trắng đen phân minh rõ ràng. Đây là một ‘trò chơi’ vô thưởng vô phạt, chẳng có gì anh phải ngại ngùng. Nhưng tại sao chúng tôi lại phải sống ly hương biệt xứ? Việc nầy coi mòi lạ à. Đâu anh thử rà lại kỹ xem sao?


Chúng tôi lại pha trò giúp không khí thân tình thêm vui nhộn:
- Coi chừng anh có lầm lẫn chấm lộn các ngôi sao chăng? Chúng tôi thấy anh ghi cả một rừng sao với hai màu đen đỏ chằng chịt rối nhùi còn hơn tơ vò. Nhè ‘sao tọa’ anh lại nhầm lẫn với ‘sao di’ là khổ cho chúng tôi, càng gây thêm thắc mắc! Việc bỏ xứ ra đi này chúng tôi thấy không ổn chút nào, do chưa bao giờ chúng tôi dám có ý nghĩ tới.


Hôm đó, chúng tôi rất mực tự tin ở sức mình trong thời kỳ sung mãn nhứt của con người trong hạn kỳ ba mươi, bốn mươi. Công việc làm ăn của chúng tôi đang trôi chảy tiệm tiến đều đặn, có thể nói khá phát đạt và đầy hứa hẹn. Và nhứt là chúng tôi từng nguyện với lòng mình lúc nào cũng tuyệt đối tôn trọng sự lương thiện và sòng phẳng trong thương trường và trong mối quan hệ giao tế với mọi người nên tin chắc không bao giờ có những bê bối rắc rối quan trọng khiến phải trốn lánh bỏ xứ ra đi. 

Chúng tôi cũng tin tưởng mãnh liệt vào sức mạnh, vào tính chiến đấu kiên cường và lòng hy sinh quả cảm tuyệt vời của quân dân cán chính Miền Nam các cấp trong cuộc chiến trường kỳ chống xâm lăng bảo vệ toàn vẹn quê hương tổ quốc. Chúng tôi vội phản bác lời tiên đoán đứng đắn của anh, thêm một lần nữa lập đi lập lại như để xác nhận rằng chúng tôi không bao giờ và chẳng bao giờ có ý định rời bỏ đất nước Việt Nam thân yêu của chúng tôi, dù với một lý do mù mờ hay chánh đáng nào. Cuộc đời của chúng tôi từ ngày cha sanh mẹ đẻ đến giờ phút đó như đã gắn bó vĩnh viễn không rời nơi mảnh đất chôn nhao cắt rún của mình với quá nhiều kỷ niệm buồn vui lẫn lộn khắc cốt ghi tâm.


Chúng tôi rất hãnh diện và tự hào được chào đời nơi đó và bằng lòng với những xáo trộn xã hội, ‘địa ngục trần gian’ xét ra nơi xứ sở nào cũng có, hơn là ‘thiên đường ảo tưởng xã hội chủ nghĩa’ chẳng bao giờ thực hiện được. Nhiều lúc chúng tôi tự hỏi làm cách nào chúng tôi không xem mình là người Việt Nam, một khi mỗi ngày qua là mỗi ngày chúng tôi khám phá ra hào quang rực rỡ của nền văn hóa truyền thống dân tộc và giá trị vĩnh cửu của tiếng nói với dấu giọng trầm bổng ấm êm ru lòng người. Chưa nói đến cảnh trí nước non hữu tình hấp dẫn bước chân khám tìm của chúng tôi. 

Chính những nơi đó mà chúng tôi hiểu rằng mình còn mang trong người quá nhiều nợ nần níu kéo với đất đai cố thổ, với quá khứ lẫm liệt oai hùng của tiền nhân khai sơn phá thạch xây dựng cơ ngơi, với dân tình chơn chất mộc mạc đó đây chung quanh chúng tôi, cùng những người thân thương cật ruột, chung sức chung lòng. Trong mỗi hơi thở và sinh hoạt hằng ngày của chúng tôi hầu như phảng phất đâu đó hồn đất hồn người, hồn thiêng sông núi, không thể nào phủi tay rứt bỏ dễ dàng được. Anh Đồng Tuy vẫn bình tĩnh tiếp tục nhìn thẳng chúng tôi rất thân tình rồi mỉm cười vừa hóm hỉnh vừa bí mật:


- Ậy, ậy! Cơ trời mà! Tôi thấy sao nói vậy. Không thêm không bớt chi cả đâu. Tôi đã rà thật kỹ lắm.

Ngừng một chút, anh đưa mắt vào bảng phân tích sơ khởi li chi lít chít màu sắc đỏ đen từng nơi từng chỗ mà thật tình chúng tôi nhìn vào chẳng biết ất giáp chi cả. Xong, anh lại lấy viết chì rà từng ô vuông, ô dài như để kiểm tra lần cuối cùng:

- Xét Cung Di thấy cung này được ba sao xếp hàng nhất nhì ba của khoa Tử Vi chiếu vào. Đó là các sao Tử Vi, Thiên Phủ, Thiên Tướng. Thêm nữa, cung này còn được bốn cặp cát tinh là Thiên Khôi Thiên Việt, Thai Phụ Phong Cáo, Ân Quang Thiên Quý, Tam Thai Bát Tọa, làm tăng thêm lý giải của tôi. Với những yếu tố đó, đây là một Cung Di cận quý và cực tốt, chứng tỏ mỗi lần cha dời đổi nơi cư trú ở đất người là mỗi lần cuộc đời cha thêm thăng tiến không ngừng. Sau này phải có phen cha sống vẻ vang ở nước ngoài, tôi cam chắc như thế.


Anh lại dí dỏm như bản tánh đùa vui cố hữu của anh:

- Mà khi đời cha lên hương rỡ ràng thì cũng đừng quên đám bạn bè sống chật vật nơi quê nhà, nhứt là ba thằng bạn chí thiết hôm nay nhé (gồm có anh, bạn Vĩnh Lợi và ký giả báo Cấp Tiến mà chúng tôi thân tình gọi anh Đang, tức người sẽ viết sạch lại quyển tử vi của chúng tôi, do anh có nét chữ đẹp).
Rồi anh im lặng đôi phút như muốn biết phản ứng cuối cùng của chúng tôi. Nhưng chưa kịp, do sự im lặng của chúng tôi thì anh đã dong dài phát biểu thêm:


- Nói là nói như vậy chớ thực ra Cung Di của cha bị Tuần Không án ngữ, có Cô Thần, Quả Tú, Đà La, Tang Môn, Điếu Khách nên mỗi lần cứ sắp lên đường ra đi đều bị nhiều cản trở khó khăn không phải ít. Cha phải đợi tới thời kỳ bốn mươi lăm bốn mươi sáu tuổi, các điều kiện tốt đẹp đã nói trên đây mới từ từ xuất hiện đầy đủ và đúng mức. Bây giờ cha có tin hay không tin tùy thuộc ở cha và bà xã.


Lúc ấy, chúng tôi nghe anh kể dài dòng về mấy vì sao với những cái tên lạ hoắc lạ huơ, có những tên thú thật chúng tôi chỉ mới được nghe lần đầu tiên trong đời. Mà thật tình chúng tôi có nghe cũng nghe ù ù cạc cạc, nghe như vịt nghe sấm không bằng. Chúng tôi chẳng biết ất giáp, tê mô chi cả, chỉ quan tâm chú ý đến những lời giải thích nghiêm trang của anh thôi. Ở một đoạn kế tiếp, chúng tôi không quên thái độ gắn bó thương yên trong sáng giữa bằng hữu với nhau, khi anh lưu ý chúng tôi phải cẩn trọng, không nên coi thường:


- Chiếu vào Cung Điền của cha, tôi thấy được hai cách tốt là cách Cự, Nhật và cách Cơ Nguyệt Đồng Lương. Sáu chính tinh của hai cách đều ở vị trí đắc địa lại có thêm Lộc Tồn hợp chiếu cùng với hai cặp cát tinh Hóa Khoa Hóa Quyền, Tướng Quân Quốc Ấn. Như vậy Cung Điền của cha rất tốt đó. Trường hợp nầy rất hiếm có, ít thấy lắm. Nhưng chiếu vào Cung Điền còn có Không, Kiếp, Triệt Không, Hỏa Tinh, Phục Binh thì nhà cửa có sự thay đổi đột ngột, phải có phen ở gần nơi bị hỏa hoạn. Cha cần quan tâm cẩn thận để khỏi phải bị sạt nghiệp. Tôi nói rõ để cha đừng coi thường là sạt nghiệp thực sự đó. Cha nên đặc biệt nhớ điểm sau cùng nầy.


Thêm một lần nữa, chúng tôi lại cười như thách thức:
- Anh nói làm cho chúng tôi bán tính bán nghi. Nhưng làm sao chúng tôi có thể sạt nghiệp được anh? Như anh biết chúng tôi có đến đôi ba cơ sở thương mãi nằm rải rác trong thành phố, ở Sài Gòn có, ở Chợ Lớn có và ở Quận Sáu Phú Lâm có, giá nếu chẳng may bị hỏa hoạn đi nữa, không lẽ cả ba nơi đều biến thành tro bụi cùng một lúc hay sao? 

Định mệnh nào lại khắc khe hẩm hiu và bất công đối với chúng tôi quá vậy?... Có phải không anh? Anh Đồng Tuy ơi! Anh đã tiên đoán trúng phong phóc cái hậu vận chinh chong bồng bềnh, trầm thống trăm đắng ngàn cay của chúng tôi. Lưu vong hoàn toàn trắng tay nơi đất khách quê người vào thời kỳ bốn mươi lăm bốn mươi sáu tuổi thật quá bất ngờ không định trước được. Cái tuổi đó quả đúng như anh đã tiên đoán ngày nào.


Chúng tôi đã buông xuôi bỏ lại quê hương một nửa đời người, bỏ sự sản, bỏ gia đình, bà con thân thương ruột thịt, chòm xóm láng giềng, bỏ những kỷ niệm, bỏ tất cả… Hôm nay nhắc lại những chuyện cũ mèm hơn ba bốn thập niên mà bàng dân thiên hạ thường bảo hơi sức đâu mà nhắc tới cho thêm rắc rối phiền hà, nhứt là anh Đồng Tuy nay không còn nữa, nhưng với chúng tôi những chuyện cũ rích nầy vẫn dấy lên trong lòng bao nhiêu tiếc nuối và xúc động. Ngay vấn đề trục trặc, trở ngại về chuyến vượt biên mạo hiểm nữa, anh cũng chẳng nhầm lẫn mảy may. Bao nhiêu lần chúng tôi mò mẫm xuôi ngược khắp mọi nơi cố tìm con đường ra biển, tánh mạng như chỉ mành treo chuông trước gọng kềm nghiệt ngã của bạo lực. Lâm le lên đường nhiều lần nhưng rốt cuộc thất bại cũng không ít. Dù vậy, chúng tôi vẫn không chấp nhận bỏ cuộc vô lý.


Sự sợ hãi về một cái chết thê thảm nơi biển khơi chẳng làm nhục chí mà trái lại càng làm cho chúng thôi thêm say mê dấn thân hơn, vì là con đường giải thoát lúc bế tắc không ngày mai. Hơn nữa, chúng tôi không quên lời hay ý đẹp của người xưa ngụ ý nhắn nhe lớp hậu sinh, một khi mình có niềm tin và hy vọng, mình có thể lấp biển dời non. Chúng tôi cũng nhớ câu nói để đời của cụ Nguyễn Bá Học đã nhập tâm từ thuở còn mài đủng quần trên ghế học đường: «Đường đi khó, không khó vì ngăn sông cách núi mà khó vì lòng người ngại núi e sông». \

Thật ra chúng tôi cũng biết rằng con người sinh ra trên đời hầu như để gánh chịu khổ đau và đối đầu với thử thách dồn dập tới tấp không sao tránh khỏi. Thêm vào đó chúng tôi nghĩ cho cùng, nếu bất hạnh phải đến được thiên đường của những mảnh hồn tan tác đau thương, vô phước vô phần bỏ mình nơi biển cả còn hơn tiếp tục lặn hụp triền miên trong địa ngục của bần cùng ngu dốt, chung đụng với những kẻ đầy tham vọng không còn nhân tính.

 Thật may mắn khi chúng tôi thoát được tù tội, đến bến bờ đất hứa, chẳng qua chắc cũng nhờ ơn trên phù hộ chở che. Nhưng khốn nỗi, anh Đồng Tuy không tiên đoán được lý do của sự ra đi tức tửi trong tủi nhục uất hờn này của chúng tôi là sự sụp đổ rã hàng nhanh chóng trong tang khó của Miền Nam Tự Do. Anh cũng không tiên đoán được thảm nạn ‘hỏa hoạn’ mà chúng tôi là nạn nhân khốn khổ đến phải sạt nghiệp trắng tay. Vì không đoán được đối với chúng tôi mà ngay cả bản thân anh, anh cũng chẳng thấy gì nên sau tháng Tư Đen, anh đành cam giam thân trong cảnh ‘cá chậu chim lồng’ một thời gian dài…

 Cái màu đỏ của ngọn lửa tai hại mà anh đã tiên đoán chắc nịt trong hai lá số tử vi của vợ chồng chúng tôi ngày nào phải chăng là màu đỏ máu của một chủ nghĩa ngoại lai lấy sự thù hận, chém giết tận diệt những người đối lập làm nền tảng đấu tranh giai cấp, xóa bỏ cào bằng tư hữu, màu đỏ của nền cờ búa liềm chuyên chính vô sản? Chắc thuở ấy có những lấn cấn huyền bí gì mà anh nghĩ không ra nên không thể giải bày tận tường tình tiết tế nhị đó chăng? Nhưng dù sao quả chúng tôi đã thực sự bị hoàn toàn sạt nghiệp. Đúng với định nghĩa của danh từ bi thống nầy, do chủ trương và chánh sách giết người cướp của công khai giữa ban ngày của cộng sản: ‘‘đánh tư sản mại bản, kiểm kê tài sản, đổi tiền, kinh tế mới, giản dân, truy quét văn hóa phẩm đồi trụy…’’.



Sau Tháng Tư Đen oan nghiệt, trong gọng kềm hận thù của chế độ mới đang triển khai chánh sách ‘‘ngăn sông cách chợ’’, siết hầu siết họng người dân Đô thành, chúng tôi có một lần mò qua Tân Thuận, tìm đến nhà thăm anh Đồng Tuy, nghĩ rằng suốt một đời gắn bó khắng khít với vận mệnh đất nước, hẳn anh không nỡ thoát thân hưởng lạc vào những ngày đen tối nhứt của lịch sử. Sau nữa, chúng tôi cũng muốn nhân dịp đó nhờ anh duyệt lại lá số tử vi ngày xưa, xem chuyến vượt biên sắp tới của chúng tôi được thành tựu hay không, lành dữ như thế nào để có thêm niềm tin, an tâm và mạnh dạng lên đường. Lúc ấy, chị Đồng Tuy đang ngồi trên một chiếc xe ‘lam’. Trên xe đã đông khách và do xăng dầu khan hiếm khó tìm nên họ chen chúc nhau như cá mòi hộp. 

Xe cũng dợm lăn bánh. Chúng tôi tiên đoán xe sẽ chạy đúng chuyến về Sài Gòn thì phải vì trên mui có chút ít rau quả được ngụy trang khéo léo. Nhìn thấy vợ chồng chúng tôi đang đi trên chiếc ‘‘Honda đam’’ vừa mua lại của người hàng xóm để tạm đi đó đi đây trong khi chờ đợi ngày khởi hành, chị lật đật khoác tay gọi anh lái xe cho xe ngừng lại. Rồi chị nhanh lẹ bước xuống tiếp đón vợ chồng chúng tôi rất mực vồn vã thân tình như thường lệ ngay bên lề đường. Nhưng khi nhìn kỹ, chúng tôi ngạc nhiên để ý thấy gương mặt chị bỗng hiện rõ một nét buồn buồn kín đáo. Và lời nói đầu tiên chị báo cho chúng tôi một tin chẳng được vui, đôi mắt chị long lanh đỏ sẫm chán chường:


- Anh Đồng Tuy hiện bị đưa đi học tập ‘cải tạo’ ở tận miền Bắc. Ảnh biệt tâm biệt tích cả mấy năm nay. Tôi không được một tin tức gì cả. Không biết ảnh bây giờ sống chết ra sao? Tôi hoàn toàn bất lực, chỉ còn biết cầu nguyện ơn trên cho ảnh được khoẻ mạnh sớm trở về sum hợp gia đình vợ con…


Chúng tôi biết nói gì thêm trước nỗi đau ngút ngàn và sự thất vọng tột cùng của chị giữa khi đất nước đắm chìm trong hố sâu của vực thẳm. Nơi mà mỗi con dân hiền hòa lương thiện của Miền Nam Tự Do không sao thoát khỏi đói rách tội tù, kềm kẹp tinh thần, đành bất lực cam tâm chấp nhận định mệnh oái oăm nghiệt ngã… Nơi mà tất cả đều có ‘nợ máu đối với nhân dân và nhà nước’ cộng sản, là kẻ thù chẳng đội trời chung của ngày hôm qua, của hiện tại và của cả tương lai. Nơi mà bóng dáng của những oan hồn uổn tử không ngớt thét gào rên siết trên từng tấc đất chết.


**


Về sau, chúng tôi có cơ duyên gặp được người trung gian có lương tâm từng tổ chức vượt biên bằng đường biển tại cây số 74 trên đường từ Sài Gòn đi Vũng Tàu giữa năm 1979. Lúc đó, chúng tôi lợi dụng cộng sản Việt Nam còn đang bận rộn về việc đưa quân và cán bộ dân sự các cấp sang Cam Bốt nhằm thanh toán đám Khờ Me Đỏ của Pol Pot. Thuở đó, bà con ở Thủ Đô Sài Gòn gọi là vượt biên bán chánh thức. Vì do cộng sản tổ chức qui mô và có hệ thống để thu vàng vòng, tiền bạc, kim cương đá quý, kiểm kê đóng chốt cướp sạch của cải tài sản, nhà cửa của những người vượt biên để chia chát cho đồng bọn. 

Nhứt là người Hoa ở Chợ Lớn bị nghi kỵ gán cho đòn hiểm độc làm gián điệp nội ứng cho bọn Trung cộng nên bị theo dõi khống chế. Họ bị xua đuổi khỏi Việt Nam bằng mọi giá và bằng mọi phương cách khác nhau tùy hứng của những ông vua con, lãnh chúa đảng viên đầy quyền lực ở khắp các địa phương miền Nam. Những đảng viên cộng sản gốc Hoa dù có lập bao nhiêu thành tích thần sầu quỉ khóc, trung kiên phục vụ đảng trước đây đều bị cho ra rìa, về vườn làm cảnh, ngồi chơi xơi nước. Và nếu bị đánh giá nguy hiểm đến guồng máy tổ chức đảng sẽ bị thanh toán không nương tay. Biết bao nhiêu cái chết bất đắc kỳ tử thường xảy ra trong thời kỳ đó không cơ man nào mà kể.

Lúc nầy là thời kỳ tột đỉnh trong bang giao Việt Hoa. Chúng hục hặc nhau quá trầm trọng, không còn tình nghĩa ‘anh em môi hở răng lạnh’. Và Trung Cộng thường xuyên đưa quân gây hấn vùng biên giới phía Bắc Việt Nam nhằm tiếp cứu phe Khờ Me Đỏ, vốn nằm trong quỷ đạo ảnh hưởng của chúng, để sau nầy đi đến những trận đánh khốc liệt với ý đồ cho nhau những bài học xương máu để đời. Chúng tôi cùng gia đình đầy đủ vợ con phải cải trang thành người Hoa vì trên danh nghĩa, những cuộc vượt biên bán chánh thức này chỉ dành cho người Hoa, theo kế hoạch và chủ trương của đảng và nhà nước. 

Mình là người Việt Nam rặc nòi chỉ lợi dụng thời cuộc, trà trộn vào các chuyến đi một mất một còn nầy, nhưng dù sao cũng còn đỡ hơn, ít nguy hiểm hơn mua bãi đi chui với trăm ngàn lần đầy cạm bẫy chết người. Việc đi kiểu nầy ngồi tù dễ như chơi, mất còn chỉ trong nháy mắt. Chưa kể những bọn vô loại lợi dụng lòng tin để a tùng với công an biên phòng cướp của hại người. Nhưng trước đó, việc chuẩn bị ra đi bán chánh thức đối với chúng tôi không dễ dàng gì đâu. Cũng trầy vy tróc vẫy, cũng nhiêu khê trắc trở lắm. Bao nhiêu mai mối dù tín cẩn đến đâu đều đi đến thất bại não nề, chẳng qua vì phải kinh qua những người trung gian môi giới không có lương tâm, chuyên sống với cái nghề hạ tiện thấp hèn do thời cuộc và chế độ tạo ra là lường gạt, dối gian lật lộng, bất chấp tình nghĩa. 

Mà mỗi lần thất bại là mỗi lần hao tài tốn của, nhưng chúng tôi may mắn là lần sau cùng chúng tôi không bị gạt gẫm, tội tù như bao nhiêu người vượt biên bất hạnh khác. Giá nếu cứ tiếp tục như vầy mãi thì còn đâu tiền bạc đủ để tổ chức những chuyến đi về sau. Cũng may, trời sanh trời thương không nỡ phụ người ngay đang sa cơ thất thế nên lần sau cùng đó, chúng tôi được một người bạn có hai dòng máu Việt Hoa, nhà ở cùng chung một xóm với chúng tôi giới thiệu trực tiếp với người tổ chức, không qua một trung gian nào cả.

Ông tên là Âu Triều Chương, một thương gia Hoa Kiều có tiếng ở Sài Gòn, chủ nhân những tiệm buôn dụng cụ điện nơi đại lộ Nguyễn Huệ, bên cạnh Tòa Hòa Giải. Còn anh bạn cùng xóm với chúng tôi thuộc gia đình trải qua nhiều thế hệ lập nghiệp ở Sài Gòn. Anh rất dễ thương, đôi mắt đen huyền được người đời bảo là đôi mắt nhung nên có số đào hoa, bao lần lập gia đình chánh thức hay tạm bợ với người Hoa cả người Việt. Về sau anh cũng vượt thoát được khỏi xứ tù chung thân xã hội chủ nghĩa. Anh qua tỵ nạn ở Californie, Hoa Kỳ theo diện đoàn tụ gia đình, nhờ đứa con trai lớn vượt thoát rất sớm. Tại đây, anh tiếp tục hành nghề cũ, mở một ‘tiệm nước’ nho nhỏ nơi ngoại ô một thị trấn đông người Việt định cư để tạm thời sinh sống. Nhưng chẳng may anh vắng số, qua đời chỉ mấy năm ngắn ngủi được hít thở không khí tự do thanh bình. Anh mất vào tuổi vừa mới bước qua khỏi năm năm mươi.


Do hoàn cảnh bất hạnh bị kẹt lại sau tháng Tư năm 1975 và nhứt là không chịu nổi không khí nghẹt thở những năm tiếp theo đó khi cộng sản triển khai chiến dịch ‘đánh tư sản mại bản’, ông Âu Triều Chương lợi dụng và khai thác triệt để bản chất tham nhũng sa đọa của đám cán bộ cộng sản đang trên đà ‘đổi đời’, ‘hồ hởi’ thi nhau chạy đua trang bị những ‘tiện nghi hào nhoáng của Mỹ Ngụy’ bỏ lại. Ông có tổ chức một hệ thống khá qui mô đưa người vượt biên. 

Ông đã thành công trong rất nhiều chuyến đi trước đây và ông rất hãnh diện qua những thư từ của những người vượt thoát tới tấp gởi về báo tin mừng đã đến nơi đến chốn an toàn. Do vậy, ông rất có uy tín trong giới làm ăn qua đường dây nửa công khai nửa ngấm ngầm nầy cũng là điều dễ hiểu. Nhưng chắc chắn nó cũng mang đến cho ông nhiều lợi nhuận. Dù sao, chúng tôi đặt hoàn toàn niềm tin vào ông. Ông làm ăn, quan hệ rộng rãi qua mạn lưới rất chặt chẽ với bọn cán bộ cộng sản có trách nhiệm trong việc tổ chức vượt biên ở các vùng Biên Hòa, Bà Rịa, Bình Tuy, Phước Tuy và nhứt là Vũng Tàu. 

Bằng cớ là có một hôm, ông xuống lệnh cho đám đàn em ‘tà lọt’ hai ba đứa ở Chợ Lớn đem mấy chiếc xe ‘Honda’ đưa vợ chồng chúng tôi đến xem một chiếc tàu cây của ông đang nằm im trong ụ ở bến Vũng Tàu, giữa Bãi Trước và bãi ’Les Roches Noires’ của người Pháp ngày xưa. Ý ông muốn chứng tỏ lòng thành thật của ông để chúng tôi không phải băn khoăn lo lắng. Ông còn hết lời đảm bảo vấn đề an ninh di chuyển cho vợ chồng chúng tôi để chúng tôi không ái ngại nghĩ ngợi điều gì cả. Vì mọi việc lớn nhỏ ông đã sắp xếp chu đáo kỹ lưỡng với các cấp chánh quyền sở tại có trách nhiệm từ trên chóp bu đến hạ tầng.


Nên nhớ, lúc đó tình hình an ninh ở Miền Nam còn cực kỳ khó khăn hỗn độn. Những người quốc gia chân chính vẫn còn đeo đuổi mục tiêu chống đối dưới mọi hình thức, chưa kể đến những cuộc thanh toán rùng rợn khắp các khu phố vì nhiều lý do không hề được làm sáng tỏ. Cộng sản dùng hệ thống công an khu vực kiểm soát từng người, từng phương tiện và thời gian di chuyển của người dân thành phố. Nhứt là những tuyến đường hướng về các tỉnh vùng ven biển. Dĩ nhiên từ thủ đô Sài Gòn đến bãi biển Vũng Tàu quen thuộc ngày nào, chúng tôi phải qua không biết bao nhiêu trạm gát của ‘bộ đội chánh qui cụ Hồ’, mặc đồng phục màu cứt ngựa xúng xính thùng thình còn mới tinh, không ngớt lo le A.K., nhứt là đoạn gần đến thị xã. Chúng tôi được đưa thẳng ra viếng chiếc tàu như đã hoạch định, không khác một du khách chính chính đường đường đi giữa thanh thiên bạch nhựt.


 Những người hướng dẫn xem ra tự tin lắm, trong khi chúng tôi vẫn chưa thoải mái trong lòng. Thực ra ngay bọn lính gát giữ an ninh bãi biển chẳng những làm ngơ, còn lộ vẽ hí hửng mơn trớn khi trông thấy ‘phái đoàn’ chúng tôi. Có lẽ chúng đã được đám đệ tử của ông cẩn thận chiếu cố ‘bồi dưỡng’ đúng mức và sồng phẳng trước rồi. Và anh tài công, một người Hoa Chợ Lớn trẻ tuổi khỏe mạnh, mặt mày sạm nắng, nói rành rẽ tiếng Việt cũng không có chút dè dặt tối thiểu. Anh ta cứ thông thả cho nổ máy tàu, sau đó đưa chúng tôi chạy đôi ba vòng tới lui không xa bờ biển Vũng Tàu bao nhiêu. Chiếc tàu cây nầy sơn màu xanh nhạt còn mới toanh, có lẽ mới sơn chẳng được bao nhiêu ngày trước đó. Mùi sơn còn phảng phất đó đây. Nó mang bảng số màu trắng V.T 1274 (?), chúng tôi không nhớ rõ lắm, mấy mươi năm qua quá lâu rồi trí nhớ thường phản bội lại chúng tôi. Việc nầy cũng dễ hiểu thôi.


Bao nhiêu thăng trầm, vật đổi sao dời đã bào mòn tinh thần và thể xác chúng tôi không ít. Nhưng có một điều đập ngay vào nhản quan chúng tôi là chiếc tàu xem ra bề thế, vững vàng chắc chắn lắm, khiến người nào có dịp đến với nó như trường hợp của chúng tôi đều có thể tin tưởng được. Tiện nghi thì khỏi phải chê trách một lời nào cả, vì chúng tôi nhớ kỹ có những hàng băng ghế ngồi bằng cây khang trang ngay ngắn ở khoảng gần ụ máy. 

Giữa những hàng ghế nầy có một lối đi hẹp vừa đủ để cho một người lớn lách mình đi những khi cần thiết. Chỉ trông việc sắp xếp qui củ nầy thiết tưởng không thua gì những hàng ghế vững vàng trên những chuyến xe đò tân tiến chạy tuyến đường Sài Gòn -Lục Tỉnh những ngày trước tháng Tư Đen mà sau nầy chúng tôi có nhiều dịp dùng qua khi nó đã cũ kỹ bệ rạc để ước mơ một lối thoát cứu rổi. Ngày đó ước mơ đã giúp cho mọi người ở Sài Gòn cũng như ở miền Nam có một cuộc sống ý nghĩa.


Ông Âu Triều Chương rất tử tế, có tinh thần hợp tác đáng tin cậy. Ông còn hứa dứt khoát với chúng tôi cứ nán chờ đợi ông tổ chức xong xuôi mọi việc, tức là lúc ông có thêm đầy đủ số người đi thì hãy cùng đi với ông cho vui. Ông sẽ đặc biệt dành riêng cho chúng tôi mọi dễ dàng, nhứt là về phương diện tiện nghi vật chất, muốn chọn chỗ ngồi nào cũng được cả. Vì chiếc tàu nầy do ông bỏ vốn hoàn toàn làm chủ, do đó ông có đầy đủ thẩm quyền để quyết định số người đi vừa vừa phải phải, cũng như mọi sắp xếp trên tàu. Nếu không có lý do gì cấp bách cần phải ra đi ngay, ông khuyên chúng tôi hãy chờ đợi thêm một hai tháng nữa là cùng, tàu sẽ khởi hành. 

Ông đã có trong tay giấy phép chánh thức của chính quyền địa phương. Tiện nội dù được những hứa hẹn cầm chắc và nhứt là chúng tôi đã đích thân được đưa lên viếng tàu, có chạy thử đôi vòng dọc theo bãi biển Vũng Tàu trước đây, nhưng vẫn không ngớt lo lắng trong lòng. Đêm ngày lạc thần, mất ăn mất ngủ, lúc nào cũng lơ lơ lững lững như người mất hồn. Việc đi đứng, ăn nói không thua một người máy.

Hầu như những người ra đi đều có cùng một tâm trạng khủng hoảng trầm trọng, ngổn ngang trăm mối như thế cả. Tiện nội bèn nhờ người quen biết đáng tin cậy trong khóm hướng dẫn đến xem một ông thầy bói già được bà con trong phường đồn đãi xem như người có tay nghề cao và có uy tín. Ông nầy, tiếng nói là già nhưng không hẳn thế vì theo tiện nội, trông ông còn hoạt bát nhanh lẹ lắm, chỉ trừ dáng thể ngoại hình được ngụy trang cho phù hợp với tuổi đời. Có điều tiện nội để ý là ông mù cả đôi mắt. Nhà ông ở tại một hẻm nhỏ hẹp nằm sâu trong xóm nghèo dân cư đông đúc bên cạnh rạp hát Văn Hoa, Tân Định. 

Ông có mù thật hay không, thật tình chúng tôi không hề biết đích xác thực hư. Chỉ nghe người trong khu phố tiếng vô tiếng ra như vậy. Mà đối với tiện nội, việc ông có mù thật hay không, không quan trọng lắm. Thực tế, mỗi lần tiếp tiện nội, ông đều mang cặp mắt kiếng râm cũ kỹ, trong ngôi nhà lá lụp xụp, cửa nẻo màn che sáo phủ hoặc chỉ mở hé hé vừa đủ cho một người lách mình đi vào nên thiếu hẳn ánh sáng. 

Cặp kiếng của ông trông như lặc lìa lặc lọi không bằng trong bối cảnh lờ mờ đó. Do tâm trạng không được bình ổn, như người mất hồn, cũng do lo lắng trăm mối ngổn ngang khi phải sẵn sàng trong tư thế chuẩn bị ra khơi bất cứ lúc nào, phần khác thường xuyên sợ bị bại lộ mang họa vào thân, nên khi tiện nội đến cầu cứu tài nghệ của ông, không khác chi một người làm ăn bất chánh, rón ré trốn lánh tránh né mọi người. Do vậy, tiện nội muốn sự hiện diện của mình tại nhà ông chấm dứt càng sớm chừng nào càng tốt chừng nấy. 

Lúc ấy, tiện nội không có thì giờ để hỏi cho rõ danh tánh của ông, ngoài những điều cần thiết phải hỏi. Cho nên hôm nay ở đây, nếu ông còn sống sót bên nhà và tình cờ đọc những dòng chữ nầy, chúng tôi xin ông vui lòng miễn thứ cho sự thiếu sót ngoài ý muốn của tiện nội, khi nhắc đến ông qua danh xưng là ông thầy bói mù gần rạp Văn Hoa. Nên biết lúc đó cộng sản ra chỉ thị cấm đoán và truy lùng tìm bắt rất ngặc nghèo những ông thầy bói, thầy lá, những ông bà xem chỉ tay và tử vi đầu số… Chúng huênh hoang cho rằng những hạng người nầy làm bại hoại ‘nếp sống mới xã hội chủ nghĩa’, không xứng đáng và phù hợp với ‘đạo đức cách mạng’ do đảng ‘chỉ đạo’. 

Do vậy, các ông bà nầy phải hành nghề lén lút, trốn chui trốn nhủi vì là một cái nghề không chánh đáng trong chế độ mới. Các ông bà nầy rất cẩn thận, lúc nào cũng phải nghi trang, bố trí người nhà thân tính canh gát nơi đầu hẻm cũng như chung quanh nhà. Và nếu cần, họ luôn thay đổi địa điểm làm việc hoặc di chuyển đến tận nhà của các thân chủ. Việc đến nhà ông đối với tiện nội cũng nhiêu khê trắc trở không ít, do nơm nớp phập phồng sợ tai mắt dòm ngó cú vọ của tên công an khu vực lùn sụt từng ngỏ ngách, cùng sự theo dõi trở mặt vô liêm sĩ của bọn cán bộ ba mươi rắp tâm lập thành tích dâng đảng. Tiện nội được đưa đến nhà một người hàng xóm của ông, trong khi những người khác đang chờ đến lượt mình ở những căn nhà kế cận. Rồi từ từ, sau khi xem dứt những người đến trước, theo thứ tự ông cho gọi tiện nội vào.

 Sau khi nghe tiện nội trình bày cặn kẽ, đầy đủ tên tuổi, giờ giấc, ngày sanh tháng đẻ, cùng lý do và nhứt là chi tiết về chiếc tàu mang số V.T 1274 (?), ông xủ mu rùa qua vài thủ thuật quen thuộc của riêng ông. Mà đúng ra tiện nội không màn để ý tới nên chẳng biết ông làm những gì, đầu óc chỉ tập trung chờ đợi, lắng nghe những lời giải thích của ông thôi. Hy vọng là được nghe những lời suông sẻ tốt đẹp để củng cố niềm tin và mạnh dạng dấn thân. Sau một đỗi dong dài, rốt cuộc ông kết luận một câu, và chỉ một câu ngắn gọn thôi cũng đủ đưa tiện nội vào nỗi thất vọng chán chường. Tiện nội ngẩn ngơ mất hồn bạt vía không sao tả nên lời, không khác chi một người vừa bị xối ngay vào mặt một gào nước đá:


- Quý chủ nên tìm ngay con đường nào khác, may ra mới hy vọng có lối thoát, chớ thật tình thầy thấy chiếc tàu nầy sẽ vĩnh viễn nằm im đó, không bao giờ ra khơi được. Thầy nhắc là nó vĩnh viễn sẽ nằm rụt tại chỗ.


Về sau, khi thành công đưa cả gia đình đặt chân đến miền đất hứa hằng trông đợi thắc thỏm đêm ngày, chúng tôi có liên lạc về mẹ chúng tôi bên nhà và được biết quả chiếc tàu nầy vẫn nằm im đó cả năm sáu năm sau không đi được. Và số phần nó rốt cuộc nghe đâu bị sung vào tổ hợp công tư hợp doanh đánh cá của thị xã Vũng Tàu. Hư thực ra sao, chúng tôi không hề quan tâm đến tin nầy? Vì thấy không cần thiết trong hoàn cảnh mới của chúng tôi. 

Chỉ biết một điều chắc chắn là ông chủ nó, ông Âu Triều Chương phải bí mật dời đổi chỗ cư ngụ qua một phường khác cũng ở Quận Nhứt Sài Gòn. Ông chung tiền lo lót bọn cán bộ cộng sản tham nhũng đang khát khao làm giàu bất chánh nhằm hoàn tất thủ tục hồ sở xin xuất ngoại sang Hoa Kỳ theo diện bảo lãnh chánh thức một cách ngon lành. Ngay đến khi lên máy bay âm thầm rời Việt Nam, không một ai biết để cản ngăn làm khó dễ gì ông được. Lâu lắm về sau, khi đến định cư ở Californie, ông vẫn có thư từ qua lại với chúng tôi một thời gian dài.

Riêng ông thầy bói mù ở hẻm Văn Hoa, Tân Định đã tiên đoán trúng phong phóc về chiếc tàu V.T 1274 (?) khiến giờ phút hiện tại, khi nhắc nhớ ông, dù không tin chúng tôi cũng phải tin lời ông. Và ông thầy bói già nhưng có lòng nầy về sau còn giúp chúng tôi rất nhiều ý kiến quý báu, nhờ vậy làm tăng thêm gấp bội niềm tin cũng như củng cố quyết tâm của chúng tôi, khi chúng tôi dứt khoát chọn con đường ra đi ở chuyến tàu tiếp đó không lâu. Người xưa có nói đâu đó là một khi mình có niềm tin ở hướng đi trong sáng của mình, mình hãy mạnh dạng, và nếu phải chết vì niềm tin thì cái chết đó càng có ý nghĩa.

 Niềm tin đã tạo nên sức mạnh vô biên cho chúng tôi, một sức mạnh giúp chúng tôi nghĩ rằng ngày chia tay giã từ trong buồn tủi tận cùng chỉ để có ngày về trong hạnh phúc sum hợp. Giờ đây, chúng tôi thêm tiếc thương và nghĩ rằng những người bất hạnh đã nằm xuống vĩnh viễn đâu đó trong lòng đại dương hay nơi rừng sâu biên giới quả là những anh hùng vô danh với niềm tin và lý tưởng sáng ngời không chấp nhận chế độ độc tài đảng trị và trân quí hai chữ tự do thiêng liêng mà mỗi con người trên thế gian đều phải có quyền hưởng như nhau.

 Từ dạo biết ông, tiện nội trở thành một thân chủ trung kiên nhứt của ông, chúng tôi ức đoán như vậy. Vì nhiều khi đôi lần trong tuần, tiện nội vẫn mon men lần mò đến tham khảo ý kiến của ông, dù chỉ cần được nghe ông nói vài lời, xác nhận một ít câu cũng đủ an tâm vững bụng thơi thới ra về. Cái khổ tâm và niềm vui sướng của người đang trong tình trạng hoang mang bất ổn tinh thần là vậy đó.



Phải nhìn nhận trung thực rằng ông không phải là hạng người vô tâm, vô lương, sống nhởn nhơ bất cần trên nỗi đau khổ trầm thống của người khác, sống với đồng tiền bất nghĩa bất nhân. Dù mù lòa (?!) nhưng ông rất tự trọng, được thân chủ tín nhiệm tin cậy. Ông không hề lợi dụng, khai thác tình thế trớ trêu bi thảm của lịch sử và nhứt là tâm trạng mất định hướng của những người đang chìm dưới đáy sâu của địa ngục trần gian, trong đó hẳn nhiên có tiện nội để làm tiền. Lúc ấy dù hoàn cảnh khắc nghiệt khó khăn, cuộc sống bế tắc trước ngưởng cửa của đói rách xác xơ, của tuyệt vọng, người dân thành phố đang đối diện với chánh sách ‘ngăn sông cách chợ’ đầy hận thù của cộng sản, ông vẫn không ấn định giá biểu cho mỗi lần xem, dù là một giá tối thiểu hay tượng trưng.

 Ông để cho thân chủ mình toàn quyền quyết định, tùy hỉ mà đền công khó của ông bao nhiêu cũng được. Ông cũng từng công khai tỏ ra rất thông cảm trường hợp éo le túng thiếu của từng thân chủ khi đối diện với họ mà đa số là những người đàn bà tìm đường vượt biên vượt biển, nhứt là vợ con quân cán chính cao cấp Miền Nam đang bị cộng sản gạt gẫm, giăng bẫy bắt đi học tập cải tạo dài hạng tận nơi miền thượng du Bắc Việt để mang bản án chung thân khổ sai không biết ngày về. Ông không hề mở miệng đòi hỏi mặc cả chi cả.

 Nhưng cái mà chúng tôi cho là đáng kính trọng nơi ông là những lời giải thích của ông, dù xấu dù tốt, vẫn ẩn chứa một tình cảm chia xẻ sâu lắng, một nỗi lo âu cảm thông đối với những người trong cuộc đang dò dẫm mầm mò tìm một hướng đi cứu rổi hay một chút hy vọng mong manh để tiếp tục tồn tại. Ông cũng tỏ ra không tán đồng chánh sách và đường lối thiếu hẳn tình người của các ông chủ mới nơi đất nước vừa mới thống nhứt trên danh nghĩa, nhưng chẳng thống nhứt trong lòng người. Dĩ nhiên, thái độ nầy của ông đều qua những lời lẽ quanh co lờ mờ, những ẩn ngữ mà người trong cuộc không khó khăn gì để hiểu tận tường. Dù cán bộ cộng sản có muốn kết tội ông cũng chẳng thể nào được.



Sau khi đã dứt khoát từ chối không đi trên chiếc tàu V.T. 1274 (?), chúng tôi trở lại nài nĩ nhờ ông Âu Triều Chương giàn xếp tiếp tục giúp chúng tôi được đi trên một chuyến tàu khác, càng cận kề chừng nào càng tốt chừng nấy. Vì không gì khổ sở nhức nhối cho bằng một khi đã quyết định ra đi, một khi đã thu xếp gọn gàng mọi việc trong ngoài đâu vào đó lại phải chờ đợi ngày nầy qua tháng nọ, nhứt là mình không biết chắc chắn được ngày giờ khởi hành. Thêm nữa, bọn công an khu vực và tổ phó an ninh luôn rình rập hằng ngày hằng đêm. Đôi khi chúng còn phối phợp nhau đến khám xét nhà, kiểm tra hộ khẩu vào lúc nửa khuya. Thêm vào đó còn tai vách mạch dừng, không biết ai thương ai ghét, ai bạn ai thù. Mọi người nghi kỵ e dè mọi người, không ai tin cậy bất cứ ai vào thời buổi thượng vàng hạ cám lẫn lộn. Ngay đối với những người trong thân tình, chúng tôi cũng giữ thái độ ngậm câm như hến. Ông Âu Triều Chương nhiều lần có hỏi chúng tôi:


- Ông bà sao đi chi gấp quá vậy? Có gặp chuyện gì nguy hiểm hay không, khiến ông bà phải lấy quyết định cấp bách nầy.
Ông lại gạn vấn chúng tôi thêm và có ý trách móc khéo:
- Tại sao ông bà không đợi ngày cùng đi chuyến tàu V.T. 1274 (?) với tôi có phải tiện hơn không? Ông bà rán chịu khó nhẫn nhục… đợi chờ… không còn lâu đâu. Tôi cũng muốn đi cho sớm, chớ dần dà ở nán lại thêm làm chi, phiền phức lắm. Đôi khi còn nguy hiểm nữa là khác. Vì tụi nầy vốn đã khó hiểu, nghi kỵ, bản chất lại tráo trở lật lộng, thay đổi chủ trương đường lối như chong chóng.


Vì không tranh thủ được chúng tôi lúc ấy, rốt cuộc ông bảo nếu chúng tôi muốn đi gấp, ông không còn cách nào hơn là sẽ gởi gia đình chúng tôi đi trên một chuyến tàu khác cũng sẽ xuất phát từ bến Vũng Tàu. Chủ nhân chiếc tàu nầy vốn là anh em đáng tin cậy trong cùng nhóm của ông. Tàu đã được chánh quyền địa phương cấp giấy phép mang số V.T. 3399, đã hạ thủy cả tháng nay và đã chạy thử nhiều lần. Máy móc rất tốt, tài công có tay nghề cao, thủy thủ đều còn trẻ, đảm bảo lắm. 

Chuyến nầy sắp sửa ra đi nay mai, nhưng thực tình ông không được trọn quyền quyết định chi cả, vì ông chỉ có một phần hùn tượng trưng trong chuyến đó thôi. Người có phần hùn quan trọng dĩ nhiên có tiếng nói chung thẳm. Dằn co lắm lần tới lui tiếp xúc qua nhiều đêm gặp gỡ nơi ông tạm thời trú ngụ ở đường Nguyễn Huệ trong hoàn cảnh cẩn thận tối đa và lén lút ngụy trang. Cuối cùng vào giờ chót ông hứa giúp và giúp chúng tôi rất tận tình. 

Chúng tôi rất đỗi vui mừng khi ông cho người thân thuộc tính cẩn đến nhận số vàng ấn định cho mỗi đầu người, lúc ấy là mười hai ‘cây’ cho người lớn, không có mảnh giấy lộn trao cho chúng tôi làm bằng chứng. Mà dù có cấp giấy chứng nhận cũng chẳng làm gì, trái lại không khéo bị đổ bể còn rước lấy tai họa liên lụy, tội tù là khác. Một lần nữa, tiện nội nghĩ ngay đến việc gõ cửa ông thầy bói mù bên cạnh rạp hát Văn Hoa, Tân Định. Lần nầy ông hân hoan báo cho tiện nội biết một tin vui và còn tỏ ra chia xẻ và hết lời khuyến khích tiện nội nữa:


- Chuyến đi trên con tàu mang số V.T 3399 nầy không có gì bị trục trặc, trở ngại cả. Nó sẽ rời bến một ngày rất gần đây thôi. Thầy bấm tay thấy nó đến nhanh, nhanh lắm đó. Quý chủ về nên bắt tay chuẩn bị ngay là vừa. Kẻo không kịp, mà nếu để lỡ chuyến nầy thầy không thấy con đường tương lai ra sao. Nó mù mù tăm tăm lắm. Trời ba mươi không bằng! Quý chủ nhớ để khỏi phải tiếc và ân hận về sau.


Thầy đưa tay che miệng, đằng hắng nhè nhẹ, không thua gì phong thái của con người lịch sự, biết quý trọng người đối thoại, nhứt là phái yếu:
- Nhưng thầy nói thêm để quý chủ an tâm vững bụng là bổn mạng quý chủ cực kỳ tốt, thầy ít khi thấy từ ngày hành cái nghề nầy. Thầy nói thật tình chớ không hề nói để cố tranh thủ cảm tình của quý chủ đâu. Mà trên bước đường ly hương tìm cuộc sống mới, tiểu nhân khá nhiều không ngớt khuấy rầy làm phiền hà quý chủ, nhưng không sao cả, trái lại quới nhân cũng không hiếm nên mọi việc rồi cũng qua.


Thầy còn nhấn mạnh:

- Tuy vậy, riêng trong chuyến đi nầy thế nào quý chủ cũng có gặp sóng gió, nhưng may mắn chóng qua mau. Bổn mạng rất vững, không có chi phải lo ngại. Còn nếu quý chủ có gặp những trục trặc nhỏ nhặt gì trên hải trình thì chẳng qua là ách nước tai trời, mình phải can đảm và nhẫn nhục gánh chịu để vượt qua, chớ không sao tránh khỏi được.


Ông còn nhắn thòng thêm một đôi câu ngắn gọn làm cho tiện nội quá xúc động, khóe mắt long lanh đỏ sẫm:
- Thầy rất mong hôm nay là lần cuối cùng, thầy không còn dịp gặp lại quý chủ một lần nào nữa. Thầy có lời chúc lành, thượng lộ bình an suông sẻ…

Ông thầy bói mù nói quá đúng lần chúng tôi lên đường. Cả trận bảo lớn, chiếc tàu chòng chành rên rĩ như trối trăn giữa những đợt sóng dữ hầm hừ thịnh nộ, chỉ một đêm ngắn ngủi nhưng đối với chúng tôi dài còn hơn một thế kỷ. Nhiều lúc chúng tôi tưởng chừng như mình sắp vùi thây tức tưởi, trong câm phẫn uất hờn giữa lòng biển sâu Thái Bình Dương. 


Nhưng cũng may, chỉ một đêm hãi hùng ấy thôi rồi sau đó trời im biển lặng, con tàu từ từ âm thầm lướt sóng như đi trên sông nước quê hương, giúp chúng tôi đến được bến bờ đất hứa bình an vô sự, vợ con đoàn tụ hít thở không khí tự do hạnh phúc được sống lại lần thứ hai trong đời. Những lần bị bọn cướp biển Thái Lan hùm hổ lục xét, khủng bố, cướp đoạt sạch sành sanh những gì đã mang theo, nhưng một khi đến nơi định cư, chúng tôi làm lại cuộc đời, tạo dựng những gì đã mất mát nhanh chóng không khó mấy. Chẳng qua cũng nhờ quyết tâm, chấp nhận hoàn cảnh, kiên trì chịu cực chịu khổ, đồng vợ đồng chồng góp chung công sức xây dựng tương lai con cái. Chúng tôi dù không tin nhưng cũng phải tin những lời giải thích huyền bí của ông thầy bói mù, vì cũng nhờ ông mà chúng tôi rất mạnh dạng ra đi và quyết tâm hơn bao giờ hết.


**



Đến được đảo, không còn nỗi sung sướng vui mừng nào hơn đối với vợ chồng chúng tôi vừa được hồi sinh trong tang khó và mất mát. Đảo là một đảo nhỏ hoang dã mang cái tên lạ hoắc lạ huơ Kéramot thuộc quần đảo Anambas nằm ngoài khơi Nam Dương. Trên bản đồ quốc tế nếu để ý chỉ thấy những chấm nhỏ li ti chùm nhum chưa bằng đầu kim gút. Đất đai quá hẹp, người lại thưa nhưng hiền hòa mộc mạc. Đảo được bao bọc chung quanh bởi núi đồi điệp điệp trùng trùng xan xác đến mút tầm mắt. Trên đảo, trong thời điểm vượt biên tột cùng giữa năm 1979, số người tỵ nạn cả Hoa lẫn Việt lên đến con số đôi ba chục ngàn nhân mạng. Đó là ước tính của chính quyền địa phương nhưng mức chính xác chắc cũng tương đối do thiếu hẳn thống kê. Riêng chúng tôi quá mệt mỏi chẳng còn tâm trí nào để tìm hiểu. Mà có tìm hiểu cũng chẳng giúp thêm được gì. Gia đình chúng tôi sau đó được nhà đương cuộc đem ghe máy chuyển đến quận lỵ Letung để làm thủ tục hành chánh, trước khi đưa sang đảo Kuku chờ phái đoàn các nước thứ ba đến phỏng vấn và phân loại. Lưu lại Letung vừa được năm bảy ngày nhưng cũng đủ thời gian để chúng tôi dò la tìm hiểu về nơi chốn chúng tôi sẽ đến tạm trú sau nầy. Chúng tôi được biết Kuku từ xưa là một đảo hoang vu, cũng như bao nhiêu hòn đảo lớn nhỏ khác nhun nhúc chung quanh, không một mái nhà cũng không người ở, đồi cao rừng rậm xanh ngắt, trừ dãy đất bằng phẵng nhưng rất hẹp chạy dọc theo một bãi biển cát trắng giới hạn ở chiều dài. Trên đảo ngoài lùm buội và cây rừng nhiệt đới chỉ có vài loại cây hữu ích như chà là và nhứt là dừa.

 Loại dừa cao ngất nghểu không khác chi dừa tỉnh Bến Tre nơi quê mình, nhưng mọc lưa thưa từng khúm và vì chịu ảnh hưởng của gió biển nên đa số đều xiêng xiêng, có cây gần như muốn tróc gốc ngã gần sát mặt nước. Thỉnh thoảng, tùy mùa gió thuận, người Nam Dương ở thị trấn Letung tập hợp nhau tổ chức chèo ghe qua đốn dừa đem về quận tiêu dùng, cũng như khai thác nguồn lợi chà là. Chính nhờ cây chà là lâu năm suôn đuột, thân vừa cứng vừa dai nầy, người tỵ nạn đốn về dùng cất chòi trại để tạm trú mưa nắng, cùng làm nẹp giường, bàn ghế trang trí hay phên vách. Thêm một nguồn tin khác khiến chúng tôi càng lo âu rợn người trước viễn ảnh phải đến nơi đó ở dài hạn.

Vì chúng tôi cũng như tất cả người tỵ nạn không hề biết ngày được nước thứ ba đến cứu xét bóc đi. Nguyên khoảng đầu thập nhiên 60 hay đúng ra là những năm sau khi cộng sản Bắc Việt đẻ ra cái Mặt Trận bù nhìn Giải Phóng Miền Nam năm 1960 nhằm gạt gẫm, mà mắt dư luận quốc tế để phát động một cuộc chiến xâm lăng Miền Nam ngày càng khốc liệt. Khí thế tuyên truyền của tập đoàn cộng sản, dù trong bịp bợm gian dối, trong hận thù sắt máu nhưng lại thành công đưa đến sự hình thành cao trào phản chiến đòi hòa bình ở các nước Âu Mỹ quan trọng, đặc biệt là Hoa Kỳ và Pháp nhằm xuyên tạc chánh nghĩa miền Nam. Chúng nhờ sự hổ trợ đắc lực và hữu hiệu của hệ thống cộng sản quốc tế, phối hợp với truyền thông báo chí biến chất và nhứt là đám trí thức thiên tả u mê, nhẹ dạ non lòng, ‘ngơ ngác như nai vàng’, cứ tưởng mình là người tiến bộ nhưng thực ra chẳng biết tí gì về cộng sản.


Song hành với chiến tranh Việt Nam và trước khí thế bành trướng nhanh chóng như thác lũ của cộng sản thế giới, bên Nam Dương, đảng cộng sản cũng phát triển mạnh như diều đang lên những chiều lộng gió. Người ta ước lượng lúc đó trên toàn quần đảo nầy số đảng viên chánh thức lên đến con số đáng tin cậy là ba triệu năm trăm ngàn người. Đó là chưa kể những người bít bôi mù quáng ủng hộ như cảm tình viên hay những cán bộ ngoại vi trong thời kỳ được đảng chuẩn bị kết nạp. Có thể nói lúc bấy giờ đảng cộng sản Nam Dương được coi là đảng cộng sản hùng mạnh nhất vùng Đông Nam Á với số đảng viên lên đến hằng triệu như vậy. Chúng đang lâm le và có khả năng tiến lên toan cướp chánh quyền bằng vũ lực, trong khi Tổng thống đương nhiệm Sukarno nghiêng hẳn về phía Trung Cộng đã thành công củng cố bộ máy cai trị sắt máu. Ông nầy công khai chủ trương tách khỏi hẳn ảnh hưởng của Hoa Kỳ và Tây phương. Nhưng cũng may cho đất nước và nhân dân Nam Dương.


Tháng 9 năm 1965, sáu ông tướng và một trung úy bị bắt cốc và bị sát hại thảm thương ngay tại thủ đô Jakarta. Cánh quân đội nhứt trí qui tội lỗi tầy trời nầy do đảng cộng sản Nam Dương chủ trương nhằm ý đồ nguy hiểm tiến đến cướp chánh quyền. Do đó, một số tướng lãnh cao cấp có tinh thần yêu nước và trách nhiệm cao, phản ứng nhanh chóng vì không chấp nhận chủ thuyết vô sản, xóa bỏ tư hữu và đấu tranh giai cấp của cộng sản. Họ đồng thanh đứng lên phối hợp với đại đa số quân nhân các cấp cương quyết làm cuộc cách mạng dân tộc cứu nguy đất nước. Mặt khác, khối Hồi giáo ngoan đạo rất có ảnh hưởng trong quần chúng nhân dân và trong nguyên thủy họ đều nhất trí chọn con đường sinh tử chống bọn vô thần cộng sản nên hoàn toàn huy động lực lượng ủng hộ cuộc cách mạng lịch sử nầy. Nhờ vậy phong trào đưa đến thành công vẻ vang gây chấn động thế giới.

Có một điều chúng tôi xin được nhấn mạnh ở đây là trong cuộc cách mạng dân tộc đó, các đảng viên cộng sản Nam Dương từ hạ tầng cơ sở đến các cấp lãnh đạo trung ương đều bị dân chúng tiếp tay chánh quyền dân chủ triệt để thanh toán hoặc bắt tập trung câu lưu, không để đào thoát một tên nào cả. Giới chức Tây phương về sau ước tính có đến hằng triệu người bị giết trong giai đoạn đó. Những hòn đảo hoang vu lúc bấy giờ là mồ chôn tập thể của đám đảng viên cộng sản và đồng bọn. Dĩ nhiên đảo Kuku cũng là một trong những nghĩa địa quan trọng của đám vô thần cực hung cực ác trên thế gian nầy. Nhưng vì lúc đó để tranh thủ thời gian cấp bách do có quá nhiều người chết ối đọng nên việc chôn cất rất mực sơ sài, hấp tấp chiếu lệ. Sau nầy, từng đợt mưa lũ và gió biển ngày đêm nối tiếp nhau cuốn phăng lớp đất cát cùng lá cây, cỏ mục, rác rưới phía trên, phơi bày xương cốt, sọ người thỉnh thoảng bắt gặp đó đây trên đảo.


Do những tin đó nên khi nghĩ đến ngày bị đưa đến đảo nầy làm cho chúng tôi chùn chân chùn lòng. Đi thì ngập ngừng, còn ở vẫn chưa có lối thoát. Tiến thoái lưỡng nan. Thêm một số người đi trước qua đảo sống một thời gian có dịp trở về quận nhận thư từ hoặc tiền bạc của thân nhân từ các nơi trên thế giới gởi đến viện trợ, mô tả tình trạng vệ sinh quá bê bối ở đây. Tệ trạng đáng tiếc nầy do một số không nhỏ người tỵ nạn kém văn hóa, thiếu ý thức đã cẩu thả gây ra. Hoặc do lối sống bê bối đã quen từ trước. Còn nói gì nạn ruồi thì khỏi phải nói. Chúng nó bay vù vù cùng khắp, từng đàn, đụng đâu đậu đó. Loại ruồi vừa to vừa đen, hình thù dị họm trông dễ sợ.

Chúng nó chẳng sợ người, còn dám bu cắn chích nữa. Ăn cơm phải chia nhau quạt liền tay, nhiều khi vừa mới giở nắp nồi cơm, chúng nó tranh nhau đâm đầu đáp vào rồi chết cả đám vì hơi nóng. Còn mới mở miệng nói chuyện với nhau thì ruồi mẹ ruồi con đã nhảy thót trong miệng rồi. Chúng tôi quyết định tìm cách nấn níu ở lại quận lỵ Letung lâu chừng nào tốt chừng nấy, dù phải đóng cho chánh quyền sở tại một số tiền hằng tháng gọi là “lệ phí hành chánh và an ninh” để được tạm cho ở lại. Chúng tôi bèn mướn một hành lan thềm nhà sàn của người địa phương tạm trú đêm ngày. 


Về sau may mắn lắm chúng tôi mới mướn được một chéo buồng khoảng tám thước vuông nên cũng tạm ấm cúng. Chính trong thời gian ngắn ngủi ở tạm nầy, chúng tôi có dịp gặp gia đình anh Huỳnh Vĩnh Minh, cùng chung một hoàn cảnh ly hương như chúng tôi. Gia đình anh cũng vừa mới đến đảo không lâu, nhưng trước chúng tôi đôi ba tuần lễ thì phải. Cứ chiều chiều, mặt trời dợm phụp xuống chân trời xa xa, chúng tôi thường gặp nhau, ngồi trên nhà sàn trông ra biển, sảng khoái đón nhận những ngọn gió mát trong lành từ ngoài khơi thổi vào rồi trao đổi những tin tức nóng hổi, những tâm sự chất chứa lâu ngày cũng như ước vọng của mình để quên ngày quên tháng ngóng trông đợi chờ tin vui.

Không lâu sau, chánh quyền địa phương ra chỉ thị không cho người tỵ nạn ở lại quận lỵ như trước, chắc vì những bất đồng về phong tục và tập quán do người tỵ nạn vốn có những thành phần phức tạp gây ra. Nhứt là dân tình địa phương hầu hết đều theo đạo Hồi giáo chính thống nhưng có vẻ ôn hòa, chớ không quá khích chém giết như thời buổi hiện nay. Họ tuyệt đối không ăn thịt heo, mà người Việt Nam mình cũng như người Trung Hoa thiếu vắng thịt heo, bữa cơm làm sao đậm đà cho được. Dù người tỵ nạn có dùng thịt heo lén lút lúc họ vắng mặt, nhưng người Hồi giáo vẫn khám phá dễ dàng qua mùi vị phát hiện. Và anh em chúng tôi bắt buộc phải rời quận lỵ Letung lên đường trực chỉ đảo Kuku, lòng quặn thắc một nỗi lo âu khôn nguôi. Nhưng dù sao chúng tôi cũng đành phải chấp nhận, không còn lối thoát, không còn con đường nào khác.


Chúng tôi hai gia đình (chúng tôi và anh Huỳnh Vĩnh Minh) cùng một gia đình thứ ba nữa góp nhóp tiền bạc chung nhau cất lên một mái lá lụp xụp không hơn cái chòi canh dưa hay cái thum giữ cá mùa nước xuống ở quê hương mình. Dù sao cũng có chỗ che nắng che mưa, hơn nữa có bạn đồng hội đồng thuyền đêm đêm thức khuya ôn cố những chuyện tiếu lâm cười ứa nước mắt trong chuỗi ngày sống dưới chế độ hận thù xã hội chủ nghĩa. Cũng vui lây lất qua ngày tháng chờ được thanh lọc.

Trong cái chòi tạm bợ nầy gặp những đêm mưa to gió lớn nơi đảo nhỏ chơi vơi giữa biển khơi, nằm nghe phên vách rúm mình răn rắc rùng rợn lắm. Nhưng cũng nơi nầy, chúng tôi lại may mắn được anh Huỳnh Vĩnh Minh rất tâm đắc và chia xẻ. Anh là người tôi chưa hề quen biết ở Sài Gòn trước đây. Anh là nhân viên công chức công ty điện lực, khi đi có đem theo vợ và ba đứa con gái ở tuổi ‘cặp kê’. Anh Minh lúc gặp và ở chung với chúng tôi tuổi độ năm mươi, người phốp pháp, ăn nói rổn rảng nhanh lẹ, tánh tình vui vẻ cởi mở. Anh có lần tâm sự với chúng tôi:


- Hồi trước ở Việt Nam, tôi có thọ giáo một vị sư già (xin miễn dấu tên vì lúc đó vị chân tu nầy còn ở tại Sài Gòn không tiện tiết lộ danh tánh). Ông thương mến và tận tình chỉ dạy cho tôi những cái lắc léo trong khoa bói toán, tử vi đầu số. Ông hết lời căn dặn, khuyên tôi không nên và không bao giờ khai thác lãnh vực huyền bí nầy để làm điều xằng bậy, thủ lợi cá nhân, làm giàu bất chánh mà trái lại nên giúp người, cứu người mỗi khi họ nhờ đến.


Anh còn cho biết thêm:

- Chính thầy tôi khẳng định như ba bó vào một giạ là sau nầy ra xứ người, tôi còn có dịp ăn nên làm ra, cơ ngơi sự sản đáng kể. Thầy tôi không nói rõ ra nhưng tôi hiểu là tôi sẽ còn dịp làm giàu ở xứ người. Vì vậy tôi mới mạnh dạng quyết định ra đi… vừa có cuộc sống tự do thoải mái, vừa vượt thoát khỏi ngục tù khắc nghiệt của cộng sản.


Một hôm, sau mấy tháng thất vọng, mòn mỏi đợi chờ tin mừng chẳng đến, chúng tôi bắt đầu chán nản nên có nhờ anh xem đường tương lai của chúng tôi ra sao, nhứt là ngày chúng tôi được bốc đi khỏi đảo. Cái ngày nầy rất quan trọng vì là nỗi canh cánh lo âu đối với chúng tôi từng giây từng phút. Ngày ngày trông chờ nó. Đêm đêm chập chờn vẫn thấy nó. Do ở đảo bắt đầu đã có những triệu chứng bịnh dịch tả chết người tràn lan với một tốc độ quan ngại. Hôm nay một người chết còn nằm trùm chăn trùm chiếu, chưa kịp chôn. Ngày mai tiếp theo hai ba người trong tang khó chung của người đồng cảnh ngộ. Và cứ tiếp tục hằng ngày… Trên một cánh đồi trọc không to lớn lắm chỉ cách bãi biển nơi chúng tôi đang trú ngụ độ chừng vài trăm thước là cùng, chúng tôi đã thấy lố nhố rất nhiều nấm mộ đất xan xát nhau, cỏ dại chưa kịp mọc lên. Còn nỗi thấp thỏm nào hơn đối với chúng tôi lúc nầy, khi cái chết nhanh chóng không thuốc men luôn luôn chập chờn lờn vờn trước mắt. Anh Huỳnh Vĩnh Minh vui vẻ nhận lời gỡ rối cho chúng tôi qua những lời phân tích lạc quan của anh, đến nay chúng tôi còn nhớ rõ như mới ngày hôm qua:


- Anh chị an tâm, sẽ đi tới đây thôi. Tôi bấm tay thấy rõ lắm. Anh chị cứ yên chí lo sắp xếp mọi việc là vừa...

Anh tiếp tục căn dặn với những lời đầy ấp tình thương, đến giờ phút nầy chúng tôi không bao giờ quên:

- Nhưng tôi có lời khuyên thân tình nầy lưu ý anh chị. Trước đây nhiều lần anh chị có bảo khi đến Pháp, anh chị định khai thác một nhà hàng xem như phương tiện sinh sống. Nhưng tôi khuyên anh chị nên bỏ ý định nầy mà nên để tâm lo củng cố cái nền tảng chắc chắn trước để lo tương lai con cái. Tôi không thấy viễn ảnh một nhà hàng nào trong cuộc đời tương lai của anh chị. Anh chị nhớ lời dặn của tôi.


Chúng tôi còn hoang mang khi anh chưa nói rõ ngày ra đi của chúng tôi nên yêu cầu anh phân tích sâu hơn:

- Anh nói chúng tôi sẽ đi sắp tới đây nhưng đi chừng nào? Ngày nào? Tháng nào? Năm nào đây? Anh có thể nói rõ hơn không? Chúng tôi nghe anh nói thì thú thật cũng mừng vui lắm vì mình đã có một lối thoát, một hy vọng để bám víu vào, nhưng thú thiệt với anh, chúng tôi chưa vui mừng trọn vẹn.


Sau nhiều lần gạn hỏi và thuyết phục, anh không nỡ từ chối:

- Tôi thấy anh chị chắc chắn sẽ nhận được tin mừng vào ngày 12 tháng 11 tới (1979) và anh chị sẽ khởi hành đúng vào ngày hôm sau. Nhanh lắm đó anh chị. Bây giờ anh chị vừa lòng hả dạ chưa?

Anh Huỳnh Vĩnh Minh ấn định dứt khoát cho chúng tôi cái ngày 12/11/1979. Như anh đã quăng cho chúng tôi cái phao khi chúng tôi đang chới với mòn mỏi chờ trông một vị ân nhân rộng tay đến cứu vớt. Chúng tôi trông đứng trông ngồi. Trông ngày trông đêm. Trông từng giờ từng phút. Ngày mong ngày sớm qua mau. Đêm ngủ thức giấc cũng thấy con số 12 chập chờn trong trí. Qua tháng 11 lại càng hồi hộp hơn. Thời gian lúc ấy sao qua quá chậm, đôi khi tưởng chừng như ngừng hẳn đối với chúng tôi, qua những công việc nhàm chán hằng ngày. Rồi cái ngày chờ mong ngóng đợi phải đến đã đến trong vui mừng khấp khởi khó tả thành lời. Hy vọng của chúng ấp ủ từ lâu, nay sắp thành sự thật chăng?


12.11.1979…


Mãi đến tám, chín giờ đêm mỏi mắt trông chờ ngóng đợi vẫn im re phăng phắc. Không có một tin nào đến từ cái loa độc nhứt nơi văn phòng của Ban Đại Diện người tỵ nạn trên đảo. Càng đi sâu về đêm, sự im lặng càng trở nên nặng nề khó thở, thỉnh thoảng chỉ nghe tiếng hắc dài nhẹ nhàng kín đáo của vợ chồng chúng tôi. Lo lắng, chờ đợi… rồi đợi chờ, lo lắng... Nhưng chúng tôi đắn đo tế nhị, tới lui lui tới mãi trong gian chòi chật chội, không dám hở môi hỏi anh Minh một lời, chỉ sợ xúc phạm đến lòng tự ái của anh. Từng chập, chúng tôi liếc nhìn trộm vẫn thấy anh nằm im bất động không nói một lời nào. Không khí trong chòi có vẻ căng thẳng khác thường, trái hẳn với mọi đêm thường rộn rả tiếng nói cười. Bỗng đứa con trai trưởng của chúng tôi lúc đó khoảng mười, mười một tuổi chắc cũng nóng ruột sao đó nên cất lời hỏi anh Minh:


- Bác Minh ơi! Bác nói gia đình con hôm nay chắc chắn nhận được tin mừng. Sao đến giờ phút nầy, đã hơn chín giờ tối rồi mà không nghe động tịnh chi cả bác?


Nó còn nhắc anh:

- Đâu bác coi lại thử xem bác.

Nằm ở sàn đất trên tấm phên chà là vuông vức vừa đúng mặt bằng một cái giường ngủ cho cả gia đình, anh Minh vẫn không lộ vẻ gì lo âu, trái lại anh rất tự nhiên đáp:

- Chưa có hết ngày mà! Mới chín giờ hơn, còn những mấy tiếng đồng hồ nữa mới tới mười hai giờ. Lúc đó mới hết ngày. Cháu đừng có nóng, cứ chờ xem…

Anh lại vui tánh nói:

- Cháu cứ bảo mẹ cháu an tâm đi nấu ngay một nồi chè thết đãi bà con ở đây là vừa. Mình vừa ăn chè vừa chờ đợi tin mừng, không còn thú vị nào hơn. Cháu tin nơi bác đi.


Để khuây khỏa và bớt căng thẳng, tiện nội lui cui nấu nồi chè đậu xanh. Đậu thì ít nhưng nước lỏng bỏng thì nhiều. Đường cũng mắc giàn trời giàn đất vì hiếm hoi do nạn người Hoa khi lên được đảo tung tiền mua mão những tàu tiếp tế để sau đó khống chế giá cả nên chắc nồi chè hôm đó cũng lờ lợ thôi. Ở đảo lâu ngày, ăn uống thiếu thốn chất bổ dưỡng, nhứt là chất ngọt nên ai ai cũng thèm khát. Ăn chè khuya dù là chè lỏng bỏng lờ lợ nhưng ai cũng khen ngon do bụng dạ mãi cồn cào vì đói triền miên. Trong lúc mọi người không vui cũng trở thành vui, quay quần bên nhau nói cười không dứt thì bỗng nghe tiếng loa khếch đại giữa đêm khuya kêu gọi đúng tên chúng tôi lên trình diện văn phòng đại diện đảo ngay. Vì lúc đó có một nhân viên tòa đại sứ Pháp từ Jakarta, thủ đô của Nam Dương tháp tùng tàu Ile de Lumière vừa mới đến bỏ neo ở đảo muốn gặp chúng tôi. Những nhân viên ngoại giao nầy làm việc liên tục bất chấp giờ giấc, không kể đêm ngày. Họ làm việc tùy theo giờ đến và đi của tàu. Lúc ấy khoảng mười một giờ đêm. Ôi! Còn nỗi vui mừng nào hơn của những người sắp đi cũng như những người không may còn ở lại. Mấy tháng chung sống quây quần chung dưới một mái “nhà” êm ấm tình thương đồng cảnh ngộ, cùng nhau chia xẻ biết bao kham khổ, giờ đây kẻ đi người ở không còn gì buồn cho bằng. Ngày tạm biệt chia tay chỉ trong giờ phút ngắn ngủi sắp tới.


Anh Huỳnh Vĩnh Minh đã đoán trúng một trăm phần trăm ngày chúng tôi rời đảo Kuku để hôm sau lên tàu Cap Anamur của Đức trực chỉ đảo Galang. Thật là một phép lạ. Ngụ tạm ở đây một đêm ngắn ngủi trong một trại vách cây lợp mái thiếc chắc vừa mới dựng xong còn thơm thơm mùi cây mùi dầu sơn để sáng ra đáp tàu đò của chánh quyền Nam Dương trực chỉ tỉnh lỵ Pinang. Rồi từ đây chúng tôi được đưa lên máy bay như con mèo ướt để đi Jakarta làm thủ tục nhập cảnh Pháp. Anh Huỳnh Vĩnh Minh đã tiên đoán trước ngày đi của chúng tôi rất lâu, cả vài tháng. Chúng tôi biết nói gì đây khi đứng trước một sự thật, dù là sự thật khó hiểu, khó giải thích nhưng không sao phủ nhận được. Đối với chúng tôi quả là một huyền bí!


Phận mình xem như đã an bày, chúng tôi không sao không nghĩ đến hoàn cảnh gia đình anh. Không biết ngày nào anh sẽ hưởng những giờ phút hạnh phúc tột đỉnh như của chúng tôi hôm nay. Bất giác trong tâm cảnh đó, chúng tôi buông lời hỏi anh:


- Còn anh thì sao anh Minh? Chừng nào anh đi đây?

Anh vui vẻ đáp ngay:

- Còn mù mờ lắm! Tôi chưa thấy chi cả. Chắc phải chờ thêm một thời gian nữa. Thôi, đi được người nào mừng cho người nấy. Mình đã thoát chết ở biển, thế nào mình cũng có ngày gặp lại nhau.
Không lâu sau, khi chúng tôi định cư ở miền Bắc Pháp, chúng tôi có nhận được thư anh báo đã đến Californie, Hoa Kỳ. Anh cũng đã ổn định cuộc sống mới và tôi nghĩ chắc anh cũng sẽ có một cuộc sống thoải mái “ăn nên làm ra” như lời tiên đoán ngày nào của vị chân tu, bậc thầy trọng kính của anh.
**



Đến đây, chúng tôi xin được nhắc nhớ thêm trong “hồi ký” khó tin nầy bằng một kỷ niệm của thời thanh xuân, lúc chúng tôi chập chững bước vào đời. Thuở đó, chúng tôi gặp tiện nội trong hoàn cảnh hy hữu của định mệnh. Nói hy hữu của định mệnh vì mối tình trong sáng trong giới hạn lễ giáo cổ truyền của chúng tôi gặp khá nhiều chông gai chướng ngại do những thành kiến quá khắc khe của một thời đang trên đà suy thoái để sau đó đi đến tàn tạ. Dù vậy, chúng tôi cũng quyết định nhanh chóng đi đến thành hôn, nhằm chấm dứt ngay bầu không khí không được lành mạnh chung quanh mình. Niềm vui hạnh phúc cũng như nỗi buồn bất hạnh của mình đôi khi không phải do chính mình tức những người trong cuộc chủ động gây ra, mà thực tế phần lớn lại do ngoại nhân, những người vô trách nhiệm hoặc có ác ý tạo nên. Việc thành hôn quá nhanh chóng của chúng tôi không biết có phải do chúng tôi chịu ảnh hưởng sâu đậm của những bậc tiền bối trong quảng đại quần chúng:

“Lấy vợ phải lấy liền tay, Chớ để lâu ngày lắm kẻ dèm pha” chăng? Ngặc một nỗi là tiện nội sanh nhằm tuổi dần, tuổi con cọp nên trong bà con thân tộc và bạn bè lắm lời nói ra nói vào thêm nhức óc nhức đầu. Mà ở đời, hạnh phúc cá nhân hay của đôi lứa nếu không sáng suốt, không khéo xử sự đúng mức sẽ bị tác động tai hại bởi miệng lưỡi thế gian vô trách nhiệm, như chúng tôi đã từng nhập tâm cảnh giác. Chúng tôi đã yêu nhau và yêu nhau thực sự thì sá gì mệnh tuổi! Sá gì khắc kỵ! Ông vua Anh quốc ngày xưa đường đường trên bệ ngọc còn không ngần ngại từ bỏ ngai vàng, từ bỏ cuộc sống vương giả nhung lụa gây chấn động toàn thế giới để cưới một người đàn bà đã từng ly dị và có con riêng, thì không lý gì chỉ vì “tuổi dần”, tuổi con cọp, con cọp hiền hòa mà chúng tôi phải chia tay nhau sao? Dù vậy, mẹ chúng tôi cũng lén lút không cho chúng tôi biết, tìm đến cầu cứu một bậc trưởng thượng có uy tín trong vùng về khoa “xem tuổi” xấu tốt trong việc dựng vợ gả chồng.


Ông ở tận trong vùng sâu, quá lằn ranh vùng xôi đậu nên đường đi nước bước rất khó khăn, nguy hiểm là khác. Vì lúc đó cộng sản Bắc Việt đã thành công dựng lên bức bình phong Mặt trận Giải phóng Miền Nam để gạt gẫm người trong nước và cả quốc tế. Chúng đã phát động những chiến dịch khủng bố người dân lương thiện và thanh toán nhân viên làng xã không chấp nhận đi theo chúng. Mời thỉnh được ông là cả vấn đề nhiêu khê, nếu không có tình thương yêu mẫu tử cao vời vợi thì chắc mẹ chúng tôi không bao giờ dám mạo hiểm dấn thân.


Mẹ chúng tôi sau nầy có thuật lại và xác nhận chỉ biết ông là ông Cả ngày xưa xa lơ xa lắc trong làng, như người dân quanh vùng có thói quen gọi ông, chớ không rõ danh tánh chánh thức của ông. Không biết môn phái của ông ra sao, nhưng thấy ông mỗi lần xuất hành đi đó đi đây thường chít khăn đỏ trên đầu tóc bạc trắng như bông bưởi. Ông bấm tay rồi chậm rãi báo cho mẹ chúng tôi biết hai cái tuổi của chúng tôi, mặc dầu tiện nội tuổi dần, không sao cả. Bổn mạng hai bên cực kỳ tốt, sẽ ăn đời ở kiếp với nhau. Thỉnh thoảng nếu có hục hặc cãi cọ cũng thoáng qua do khắc khẩu, không có gì phải quan tâm lo lắng. Khắc khẩu để làm sáng tỏ một ý kiến bất đồng, để tìm một hướng đi thống nhứt. Và sau bao nhiêu sóng gió cuộc đời, dâu biển lắm phen, chúng tôi vẫn thương yêu quấn quít bên nhau như thuở thanh xuân ở những ngày đầu gặp gỡ cho đến ngày nay, cả hai chúng tôi đều qua cái tuổi “thất thập cổ lai hy” và sắp tổ chức ăn mừng năm mươi năm ngày thành hôn. Lâu lắm về sau, để phát triển cơ sở làm ăn, chúng tôi có tạo dựng được một căn phố khang trang ở trung tâm Sài Gòn. Chúng tôi bèn nghĩ ngay đến nhờ ông, trong khi ông quá lớn tuổi trở nên lụm khụm, đi đứng khó khăn.


Dù vậy, ông vẫn không từ chối lời thỉnh cầu của chúng tôi để đích thân đến tận nơi giúp chúng tôi ý kiến và những lời khuyên bảo chí tình. Tôi xin mở dấu ngoặc ở đây để nhắc sơ lược lịch sử của căn phố khá đặc biệt nầy. Khi chúng tôi quyết định tạo nó, chúng tôi không hề quan tâm để ý đến những gì xảy ra trong quá khứ về nó. Chúng tôi chỉ biết đây là một quán ăn sang trọng, địa thế thuận lợi, trang trí trình bày tân kỳ theo kiểu cách Tây phương. Chủ nhân chắc làm ăn không khá lắm nên đành buông tay, xoay qua nghề khác. Nhưng khi chúng tôi chân ướt chân ráo mới dọn về ở thì những người lối xóm bắt đầu đi qua đi lại dòm ngó, to nhỏ xầm xì với nhau. Họ cho rằng chúng tôi không thể nào giữ vững căn phố nầy lâu dài được, vì trước đó hầu như cứ đôi ba năm là có sự thay đổi chủ mới. Theo họ thì căn phố lắm điều lắm chuyện nầy có một tiền sử không mấy tốt đẹp.


Có người còn quả quyết, cho biết trước đó khá lâu vào thời kỳ quân đội viễn chinh Pháp mới qua tái chiếm Miền Nam sau thế chiến thứ hai, căn phố đã được “lính kín” (tức công an sau nầy) Pháp trưng dụng dùng làm nơi giam giữ và tra tấn người. Có người đã chết ngay trong căn phố. Chúng tôi biết được nguồn tin bất lợi nầy thì đã quá muộn. Ông Cả đến quan sát khắp nơi từ trong ra ngoài. Ông xem cả phương hướng rồi quay lại hỏi kỹ một lần nữa tuổi tác của vợ chồng chúng tôi. Xong ông kết luận:


- Tôi không thấy gì đáng quan ngại cả. Hai cháu cứ giữ căn phố nầy, vì đây chính là cuộc đất hai cháu sẽ vương lên đến tột đỉnh của danh vọng và tiền tài.

Ông lại giải thích thêm:

- Hai cháu cần lưu ý điều nầy. Ở nhà sau, gần sát vách nhà có một cái mả mà hồi xây cất dãy phố, người ta quên lấy cốt hay lấy cốt sót. Chính nơi đó, bấy nay hai cháu đã đặt giàn bếp, ngày ngày nung đốt làm sao người khuất mày khuất mặt chịu nóng cho nổi? Vậy hai cháu nên dời ngay giàn bếp qua phía bên kia, phía đối diện là ổn. Sẽ không có ai phá phách chi cả. Hai cháu sẽ an tâm làm ăn.

Mà quả thật vậy. Chính nhờ căn phố nầy chúng tôi làm ăn phát đạt một thời, mãi cho đến ngày “sạt nghiệt trắng tay” như lời tiên đoán trước đây của anh Đồng Tuy, rồi vượt biển cứu lấy thân sau ngày cờ đỏ lên ngôi trên toàn lãnh thổ Miền Nam. Hôm nay, nhơn nhắc nhớ kỷ niệm nầy, chúng tôi xin hồi hướng nhìn về quê nhà để tưởng nhớ và tri ân ông Cả, nay chắc đã yên mồ yên mả đâu đó trên chéo đất vườn nhà. Chúng tôi cũng không quên xin cám ơn ông đã có lòng yêu thương, ưu ái tặng cho chúng tôi một “bao thư” nhỏ cở phong bì danh thiếp, không biết ông gói ghém những gì trong đó. Nhưng ông căn dặn chúng tôi đừng thái mái tò mò mở ra xem, mà chỉ để cẩn thận trong tủ thu tiền.

 Giản dị có thế thôi. Ông đảm bảo chắc chắn mỗi ngày đều có tiền vào ngoài sức tưởng tượng ước mong, không bao giờ chúng tôi sợ đói vì thất thu. Chúng tôi nghiệm ra đây quả là “gói bùa” mà bàng dân thiên hạ thường gọi. Việc nầy thật khó hiểu, khó tin đối với người ngoại cuộc, nhưng đối với chúng tôi là cả một nguồn hạnh phúc vô biên. Chúng tôi hoàn toàn hài lòng vì từ dạo đó, công việc làm ăn của chúng tôi phát triển tốt đẹp. Thu nhập xem như đảm bảo thường xuyên. Đến khi lên đường vượt biên, chúng tôi thu gọn vật dụng tối cần thiết để mang theo do cồng kềnh sợ bị bại lộ. Bỏ gì thì bỏ, nhưng chúng tôi nhứt định phải mang theo “bao thư đắc tài đắc lộc” mà ông Cả đã thương mến tặng vợ chồng chúng tôi ngày nào. Rất tiếc bọn hải tặc Thái Lan đã cướp sạch sành sanh những gì chúng tôi mang theo, nên khi đến đất lạ quê người, chúng tôi phấn đấu làm lại cuộc đời, tìm đồng tiền sinh sống cũng khá trần thân khổ ải.



**


Thiên “hồi ký” khiêm nhường nầy có thể sẽ gây nhiều thắc mắc, hoài nghi hay hiểu lầm trong quảng đại độc giả đối với những vấn đề huyền bí linh diệu về bói toán, tử vi, xem tướng số, chỉ tay v.v... Vẫn biết trong thực tế có người tán đồng, nhưng cũng có người không hẳn tin. Dù sao cũng phải nhìn nhận rằng, trước 1975 ở quê nhà hay sau nầy cộng sản có cấm đoán, truy lùn trừng phạt ngặc nghèo đi nữa, nhưng tập quán trên đây không có gì lạ cả. Trái lại, chính là một lối sống, một thói quen, một tập tục trong đời người dân, không phân biệt giai tầng xã hội. Chúng tôi nghĩ nó sẽ được duy trì dài lâu trong tương lai.

 Nhứt là trong hoàn cảnh xác xơ đói nghèo, triền miên trong kềm kẹp mất tự do hiện nay ở quê nhà, người dân đa số sống bấp bênh không phương hướng, không tương lai, họ càng tìm nguồn an ủi vỗ về trong hy vọng và tin tưởng nơi cõi huyền bí linh thiêng để bám víu sống còn. Mà theo một học giả người Pháp tôi có đọc đâu đó nay chỉ nhớ ý chánh thì hy vọng để có niềm vui chính là niềm vui thật sự. Cũng như con người một khi sợ hãi trước đau khổ là chính họ đã đau khổ rồi. Không riêng gì ở Việt Nam mà ngay tại các nước tân tiến Âu Mỹ, hiện tượng hướng về những gì huyền bí linh thiêng vẫn không thôi phát triển với nhiều thủ thuật khoa học khác nhau tùy người hành nghề.

Và những tín đồ trung thành ở các nước nầy không phải ít. Như vậy, chúng tôi nghĩ tập tục có tính phổ cập toàn cầu nầy không phải do trình độ dân trí cao thấp mà chính do dân tâm mà ra. Còn nói gì ở các xứ đang trên đà phát triển, chẳng hạn như Phi Châu, có lẽ đó là cuộc đất màu mỡ béo bổ cho những người dấn thân hành nghề nầy để thủ lợi. Riêng phần chúng tôi, chúng tôi xin xác nhận rõ quan điểm của mình là không bao giờ và chẳng bao giờ chúng tôi có ý định cổ võ hay khuyến khích. Chúng tôi chỉ muốn trình bày trung thực những sự việc và tình tiết mà chính chúng tôi là người trong cuộc. Chúng tôi cũng từng băn khoăn tự hỏi lòng, không biết vì sao và do những nguyên do linh diệu nào, những ân nhân của chúng tôi đã tiên đoán đúng những gì họ đã tiên đoán về chúng tôi.


Để kết thúc, chúng tôi xin nhắc lại ở đây một kỷ niệm của anh Tạ Tỵ, một họa sĩ, vừa là thi sĩ và nhà văn tên tuổi trong chốn văn chương chữ nghĩa trong nước trước 1975 cho đến sau nầy khi ra hải ngoại. Trong một hồi ký về những văn nghệ sĩ đã đi qua đời anh, anh đã ví von từng bước dìu dắt chúng ta trầm mình trong giai thoại khá lý thú sau đây:


“Ở Sài Gòn, còn một người tôi quý mến lắm, đó là học giả kiêm nhà văn Nguyễn Hiến Lê. Trước khi mất Miền Nam vào tay Cộng sản, tôi và Nguyễn Hiến Lê ít có dịp gặp nhau, trừ vài lần ở tòa soạn Bách Khoa và một lần tại nhà, tôi đi cùng Lê Ngộ Châu đến vẽ chân dung anh. Nhưng từ ngày tôi được tha về, tôi và anh thường gặp nhau. Lúc đầu, anh cũng hiểu lầm về Cộng sản, nhưng sau khi sống dưới chế độ đỏ một thời gian, anh nhận biết ngay, Cộng sản cũng chẳng thần thánh gì, nên anh sống ẩn dật tại tòa biệt thự riêng ở đường Kỳ Đồng. Anh nghiên cứu Tử Vi. Một hôm, tôi bảo anh đoán hộ xem số tôi có đi được không? Sau một hồi tính toán, suy luận, anh đoán chắc theo lá số, tôi không vượt biên được, đừng có bỏ tiền cho chủ tàu, mất oan, lại có thể bị tù tội nữa! Tôi nghe, trong lòng thấy chán nản. Nhưng đã quả quyết, thà chết giữa đại dương còn hơn sống với Cộng sản, nên tôi nói:

- Anh ơi, nhiều khi đức thắng số đấy!

“Anh nhìn tôi trầm ngâm muốn nói điều gì nhưng lại thôi. Kể từ buổi đó, khi gặp lại, không bao giờ tôi nói đến chuyện vượt biên nữa, chỉ nói chuyện tào lao cho vui. Tôi không hiểu, khi nhận được tin tôi đã vượt biên và qua Mỹ, anh có nghĩ gì không? Chỉ biết, trước lúc mất, anh đã nhắc tên tôi ba lần theo thư của Trần Phong Giao gửi qua cho biết. Nguyễn Hiến Lê đã mất, nhưng anh để lại cho đời rất nhiều công trình văn hóa giá trị”.


Chúng tôi muốn nhắc đến hồi ký của anh Tạ Tỵ chẳng qua để nói lên một điều xem như đoạn kết luận của chúng tôi. Một kết luận không phần khẳng định. Giờ đây, tin hay không tin tùy thuộc ở mỗi người, tùy suy nghĩ và nhận xét của từng cá nhân. Riêng về phần chúng tôi, dù trước đây không hẳn tin, nhưng bây giờ chúng tôi vẫn phải tin. Đơn giản chỉ vì một lý do duy nhứt, chính mình là người trong cuộc.

14/10/2011
Trich VÕ PHƯỚC HIẾU * CHỈ LÀ KỶ NIỆM