Saturday, August 19, 2017

SỔ TAY TƯỞNG NĂNG TIẾN

Bọn quân phiệt Việt 

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến (Danlambao) - Hai kẻ bị chỉ đích danh “qùi gối” trước Tầu không ai khác hơn là Bí Thư Quân Ủy Trung Ương Nguyễn Phú Trọng và Bộ Trưởng Quốc Phòng Ngô Xuân Lịch. Ấy vậy mà mấy hôm sau chính ông bộ trưởng lại là kẻ đi Tây cầu viện. Với tâm thế tráo trở và qụi lụy của bọn quân phiệt Việt Nam hiện nay thì Ngô Xuân Lịch phải lên đến Giời (cầu cứu) mới có chút hy vọng, chứ sang Mỹ thì cũng chả nước mẹ gì. Phen này, chúng mày chắc chết – chết chắc. Còn dân Việt thì không cách chi thoát Tầu, nếu chưa thoát Cộng.

*
"Tình thế “trần trụi trước miệng sói” của Việt Nam đã khiến những chuyến thăm qua, viếng lại của các viên chức Việt Nam và Hoa Kỳ nảy lên mầm hy vọng trong lòng công chúng Việt Nam. Những tuyên bố hợp tác, đặc biệt là về quốc phòng giữa Việt Nam và Hoa Kỳ, những tin kiểu như năm tới, lần đầu tiên, một hàng không mẫu hạm của Hoa Kỳ sẽ ghé thăm Việt Nam có tác dụng “an thần,” chúng không trị “căn,” không giúp Việt Nam có một đối trọng đủ thực lực để kiểm chế Trung Quốc." G.Đ – Người Việt Online

Mãi tới xế chiều tôi mới chợt nhận ra là mình có chút máu giang hồ (vặt). Cứ hễ vợ con sểnh mắt ra chút xíu là tôi lại vội vã khoác ba lô, chạy vù ra phi trường, hối hả bay ngay đi đâu đó. Bởi cứ đi hoài nên có lúc tôi bị lạc.
Tôi lạc tới một huyện lỵ nhỏ bé, sống bằng nghề nông, giữa miền Trung nước Thái. Nơi đây có con sông Chao Phraya hiền hoà, đậm sắc phù sa, chầm chậm trôi qua. Dòng nước đỏ luôn cuốn theo những đám lục bình, cùng mấy cọng hoa bèo tim tím.
Chiều ở chốn này cũng tím, và tím nhạt nhoà đến tận chân trời. Duy chỉ cây cỏ cùng đồng lúa là bát ngát xanh, và luôn lượn quanh bởi mấy cánh cò trăng trắng. 
Tôi sinh trưởng ở cao nguyên nên nhìn thấy sông ngòi, đồng ruộng là đâm ra mê mẩn, cứ như kẻ bị hớp hồn. Sông nước và ruộng đồng có sức quyến rũ lạ lùng khiến tôi chỉ muốn ở ở luôn, quên bẵng đi rằng mình đã đến đây chỉ vì lạc bước!
Cảnh vật yên bình, tĩnh lặng tựa một bức tranh mà tôi lại còn lọt vô một khu resort ế khách và vắng tanh (như chùa Bà Đanh) nằm giữa đồng không mông quạnh. Chả có chi xung quanh ngoài côn trùng, ếch nhái, sáo cò, và loài chim cu gáy. 
Qua đến tuần lễ thứ hai tôi mới bắt đầu cảm thấy hơi (hơi) trống vắng, và chợt thèm nghe lại tiếng người nên bèn mở TV coi chơi chút xíu. Hoá ra chương trình truyền hình của tất cả mọi đài ở Thái, theo luật định, đều phải dành hẳn mươi mười lăm phút (hằng đêm) để trình chiếu về sinh hoạt của Hoàng Gia. 
Đại khái là bữa qua nhà vua vừa thăm chỗ này, bữa nay công chúa đã ghé qua chỗ nọ, ngày mai hoàng hậu sẽ viếng chỗ kia... Đến đâu thì cũng chừng đó chuyện: khai từ, thắp hương, dâng hoa, qùi lậy... Ngó ((hoài) chán muốn chết luôn!
Thảo nào mà Hoàng Tử Harry, người đứng vị trí thứ 5 trong danh sách thừa kế ngôi vị của Nữ hoàng Elizabeth, đã nói trong một cuộc phỏng vấn (hồi tháng 6 năm nay) rằng: “Không ai trong Hoàng Gia Anh muốn lên ngôi cả,” và “Thỉnh thoảng, tôi vẫn có cảm giác mình sống trong một hồ cá vàng.”
Nghe thiệt... ớn chè đậu!
Thái Tử Vajiralongkorn lại ở vào một cảnh khác, muốn hay không thì cũng phải nối ngôi thôi. Bởi vậy dù hoàn toàn không thiết tha gì ráo với ngai vàng, và dư luận thì rõ ràng cũng chả đồng thuận gì cho lắm, ông vẫn trở thành vị vua thứ 10 (Rama X) của vương triều Chakri.
Hoàng tộc Thái, tất nhiên, cần phải có một vị quốc vương. Đám tướng lĩnh Thái Lan cũng thế. Chế độ quân phiệt ở đất nước này vốn hơi nhiều tai tiếng nên cần một liên minh, có truyền thống lịch sử, đứng liền một bên... cho nó đỡ khó coi!
Thảo nào mà ở Thái tôi nhìn đâu cũng thấy chân dung đức vua Bhumibol Adulyadej, Rama IX. Nay mới hiểu ra là không phải vô cớmà ngân quĩ quốc gia dành một số tiền không nhỏ cho việc quảng bá những hình ảnh nhân từ và khả ái của ông. Đây là việc “an dân,” chứ không phải là chuyện tình cờ - theo như cách nghĩ ngây thơ, trước giờ, của một anh thường dân (dấm dớ) như tôi.
Tuy biết không nhiều về nội tình nước Thái, và chỉ bằng cảm quan của một tên lãng tử, tôi vẫn tin rằng chế độ quân phiệt Thái (tương đối) khả kham - nếu so với tình hình kinh tế và chính trị của những nước láng giềng. 
Ở Thái dễ thở hơn ở Tầu là cái chắc. Dân Thái sống khoẻ hơn dân Miên, dân Miến, dân Lào, và dân Phi xa lắc. Đám tướng lãnh Thái biết giới hạn lòng tham, và trọng pháp. Họ không vội vã, tựa những tên cướp giựt trên một con tầu vét (tốc hành) như đám lãnh đạo - hiện nay - ở Việt Nam.
Sự chênh lệch giữa giàu/nghèo ở Thái không đến nỗi nào. Mức sống giữa thôn quê và thành thị cũng chả khác là bao. Người dân nơi đâu trông cũng no đủ, tươm tất, và đều có vẻ an bình.
Chim trời cá nước cũng thế. Chúng bay rợp trời hay chen chúc lúc nhúc khắp nẻo sông hồ. Nhà nước Thái Lan không theo đuổi chính sách tận thu nên dân chúng không buộc phải tận diệt, theo kiểu chích cá điện, như ở Việt Nam. Dân Thái còn có niềm tin vào tương lai. Dân Việt thì không. Chúng ta sống như thể là ngày mai sẽ không bao giờ đến.
Theo số liệu, tính đến năm 2016, tổng sản phẩm nội địa của Thái Lan là 390.592 USD (đứng thứ 28 thế giới, đứng thứ 9 châu Á và đứng thứ 2 Đông Nam Á sau Indonesia). Chỉ bằng vào mấy con số này cũng đủ để thấy sự khác biệt lớn lao giữa chế độ quân phiệt Thái Lan và đảng phiệt Việt Nam.
Vấn đề e chưa dừng ở đó. Vừa qua, trên mảnh đất Đồng Tâm và sân bay Tân Sơn Nhất, đám tướng lĩnh Việt đã không chỉ xuất hiện như một nhóm lợi ích mà còn là một thế lực quân phiệt hẳn hòi.
Nói cho nó công bằng thì chủ nghĩa quân phiệt (đúng nghĩa) với chủ trương “hiếu chiến và trang bị đến tận răng” vẫn có thể được xem là thể chế khả dụng khi đất nước đang bị đe dọa vì họa ngoại xâm. Cái kẹt là đám quân phiệt ở Việt Nam lại không hiếu chiến xíu. Biên cương bị xâm lấn, biển đảo bị xâm chiếm mà họ chỉ bám bờ, để mặc dân bám biểm. 
Không chỉ hiếu hoà, họ lại còn vô cùng hiếu hỉ nữa. Từ Đài Bắc, ký giả Wendell Minnick có bài tường thuật (“Can the US get a foot in Vietnam’s door?”) đọc được vào hôm 25 tháng 7 như sau:

“Một cuộc họp giữa các quan chức Bộ Quốc Phòng CSVN và giới kỹ nghệ vũ khí Hoa Kỳ đã chấm dứt đột ngột khi những quan chức trong Bộ Quốc Phòng cộng sản cho biết tất cả mọi buôn bán vũ khí cho Việt Nam phải được cắt ra 25% tổng số tiền để cho vào túi riêng của các quan chức CSVN.” (“an arms sale would require 25% off the top”, bản dịch Dân Làm Báo).
Theo cách nói của tác giả Tô Văn Trường thì đây là cách hành xử “ngu và tham.” Không chỉ tham và ngu mà họ còn sẵn sàng qụy lụy (“bent the knee”) nữa, như nguyên văn cách dùng chữ của nhà báo Bill Hayton, đọc được trên trang Foreign Policy Magazine, vào hôm 31 tháng 7 năm 2017:

"Vietnam’s history is full of heroic tales of resistance to China. But this month Hanoi bent the knee to Beijing, humiliated in a contest over who controls the South China Sea, the most disputed waterway in the world."(“Việt Nam đầy những câu chuyện anh hùng về cuộc kháng chiến chống Tàu. Nhưng tháng này Hà Nội đã quì gối, bị làm nhục trong cuộc cạnh tranh về việc ai kiểm soát Biển Đông, vùng biển có nhiều quốc gia tranh chấp nhất thế giới.” translated by Phạm Nguyên Trường).
Hai kẻ bị chỉ đích danh “qùi gối” trước Tầu không ai khác hơn là Bí Thư Quân Ủy Trung Ương Nguyễn Phú Trọng và Bộ Trưởng Quốc Phòng Ngô Xuân Lịch. Ấy vậy mà mấy hôm sau chính ông bộ trưởng lại là kẻ đi Tây cầu viện. 
Với tâm thế tráo trở và qụi lụy của bọn quân phiệt Việt Nam hiện nay thì Ngô Xuân Lịch phải lên đến Giời (cầu cứu) mới có chút hy vọng, chứ sang Mỹ thì cũng chả nước mẹ gì. Phen này, chúng mày chắc chết – chết chắc. Còn dân Việt thì không cách chi thoát Tầu, nếu chưa thoát Cộng.
17/8/2017

SƠN TRUNG * ĐẤU TRANH GIAI CẤP

ĐẤU TRANH GIAI CẤP VÀ VÔ SẢN CHUYÊN CHÍNH

SƠN TRUNG


Người cộng sản vỗ ngực xưng là vô sản, là công nhân, là thợ thuyền lao động nhựng thực tế cộng sản với công nhân, vô sản khác nhau vì cộng sản là giai cấp lãnh đạo, giai cấp thống trị, còn vô sản, công nhân cũng như nhân dân là tầng lớp bị trị. ( The immediate aim of the Communists is the same as that of all other proletarian parties: Formation of the proletariat into a class, overthrow of the bourgeois supremacy, conquest of political power by the proletariat.)
Marx đưa ra thuyết "đấu tranh giai cấp" và ông cho rằng mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản là vô sản là quan trọng nhất (Society as a whole is more and more splitting up into two great hostile camps, into two great classes directly facing each other -- bourgeoisie and proletariat).
Vì căm thù tư sản, Marx chủ trương tich thu gia sản tư sản, nhưng thực tế Marx chủ trương tich thu tài sản nhân dân, nghĩa là nhân dân cũng có tội như tư sản!
(you reproach us with intending to do away with your property. Precisely so; that is just what we intend.)

Cộng sản mạnh tay cướp đoạt tài sản nhân dân kể cả tài sản tư sản. Cộng sản nói chỉ chiếm hoạt công cụ bóc lột nhưng vợ con, nhà cửa, gà vịt của tư sản và nhân dân đều bị đàn áp, bị cướp , bị sung công, hoặc hủy diệt, hoặc , đâu có chừa chút nào!
(Communism deprives no man of the power to appropriate the products of society; all that it does is to deprive him of the power to subjugate the labor of others by means of such appropriations.)
Từ lâu, người ta vẫn tin như vậy nhưng thật ra trong Tuyên Ngôn Cộng sản, Marx có có một lý giải khác mà tuyệt đại đa số không chú ý. Đó là sự đấu tranh của những người cùng giại cấp. Với Tuyên Ngôn Cộng Sản, Marx hô hào mọi người, mọi nhà, mọi giới trong cùng một giai cấp hãy đấu tranh với nhau, tiệu diệt nhau. Marx kết tội cha mẹ bóc lột con cái,  con cái là món hàng mua bán, nghĩa là hô hào con cái tố cáo cha mẹ, chống đối cha mẹ.
(The bourgeois claptrap about the family and education, about the hallowed correlation of parents and child, becomes all the more disgusting, the more, by the action of Modern Industry, all the family ties among the proletarians are torn asunder, and their children transformed into simple articles of commerce and instruments of labor.)

Marx cho rằng  vợ chồng cũng chỉ là quan hệ mua bán, bóc lột, là công cụ sản xuất, là trò chơi của đàn ông ( cộng thê)
(The bourgeois sees his wife a mere instrument of production. He hears that the instruments of production are to be exploited in common, and, naturally, can come to no other conclusion that the lot of being common to all will likewise fall to the women.)
Hồ Chí Minh nói trung với đảng nghĩa là con cái không cần hiếu với cha mẹ và trung với nước! Marx muốn xã hội nuôi dạy trẻ con nhưng Liên Xô và Trung Cộng đã bãi bỏ cưỡng bách giáo dục trong khi Âu Mỹ vẫn thực hiện phổ thông trung học.
                                                                     ***
Ngôn ngữ và xã hội luôn có cuôc tự hủy, tự diễn biến ngoài ý muốn của con người. Đó là hiện tượng " sư tử trùng thực sư tử nhục" . Con sư tử mạnh lắm không ai giết nó được. Chỉ có những con trùng của sư tử mới ăn thịt sư tử! Cho nên đấu tranh giai cấp trong quy trình chuyển vận của một xã hội sói beo, đã đi đến tàn sát nhau để tranh quyền lợi.  Vi vậy, "Đấu tranh giai cấp" nghĩa là những người cùng giai cấp tranh đấu, tranh giành và tàn sát nhau. Nói rõ hơn là đồng chí giết nhau, chẳng phải giết giai cấp bóc lột. Đồng chí giết nhau rồi đổ cho đối phương là phản động, tay sai tư bản, kẻ thù của nhân dân...

Chuyên chính vô sản cũng vậy. Chuyên chính vô sản nghĩa là dùng giai cấp vô sản tàn sát, tiêu diêt giai cấp tư sản, hoặc tàn hại nhân dân  với danh nghĩa vì quyền lợi vô sàn. Nhưng thực tế xã hội tự nó chuyển biến trong quy trình tự hủy, tư phủ định. Chuyên chính vô sản nghĩa là chuyên chính ngay cả với vô sản, nghĩa là đồng chí giết đồng chí.
Năm 1917,  tại Nga có hai đảng Cộng sản, một là Menchevish do Martov lãnh đạo, và một là Bolchevish do Lenin lãnh đạo. Phe Menchevish chủ trương phải xây dựng dân chủ trước, còn Lenin chủ truơng cộng sản chuyên chính. Hai phe tranh đấu với nhau gây nên cuộc nội chiến. Lenin và Stalin dùng thủ đoạn gian ác cho nên đã diệt phe Nga hoàng và phe Menchevish mà lập chế độ cộng sản độc tài tại Nga. Sau khi bị bệnh liệt giường, muốn truất phế Stalin nhưng gốc rễ y quá lớn, y mặc sức thi hành chủ nghĩa cộng sản độc tài. Y giết Trotsky là lãnh tụ phe đệ tứ quốc tế. Cái đám Nguyễn An Ninh, Trần Văn Thach, Tạ Thu Thâu  Pham Văn Hùm... bị khốn đốn vì phe đệ tam Stalin truy sát.
Sau khi phe Lenin đại thắng, Stalin lên cầm quyền, mở cuộc đại khủng bố.
Những cuộc thanh trừng của Stalin (tiếng Nga: Чистка, Чистки (Pl.), Tschistka, Tschistki) là cụm từ chỉ khoảng thời gian trong lịch sử Liên Xô, khi Josef Stalin nắm quyền lực, lúc mà đã xảy ra rất nhiều việc trù dập và giết hại những người, mà theo cái nhìn của Stalin, về chính trị không thể tin cậy được và những thành phần đối lập. Tổng số nạn nhân trong thời gian này không được biết chắc, và cũng khó mà kiểm tra được, theo ủy ban Schatunowskaja, điều tra theo ủy quyền của Nikita Chruschtschow, dưới hầm của cơ quan KGB (cơ quan thay thế NKVD): Từ 1 tháng 1 năm 1935 cho tới tháng 7 năm 1940 mật thám của Stalin đã cho bắt 19 840 000 dân Xô Viết; 7 triệu trong số đó, hơn 1/3, đã chết trong các trại lao động, nhà tù.
Ngay từ trong thập niên 1920 Stalin đã bắt đầu loại trừ những đối thủ hoặc những người ông cho là đối thủ chính trị của mình ra khỏi đảng Cộng sản Liên Xô. Sau đó các nạn nhân thường bị chụp mũ với những cáo trạng giả tạo để xử họ qua những vụ án chỉ để tác động dư luận quần chúng, hay xử ngầm, bị xử tử, nhốt tù hay tù lao động trong các trại tù Gulag
Trong cái gọi là cuộc khủng bố vĩ đại (đại khủng bố) từ 1936 tới 1938, cũng còn được gọi là cuộc đại thanh trừng là đỉnh cao của các cuộc thanh trừng chính trị: trong khoảng thời gian này mỗi ngày có tới 1.000 bị giết chết. Với sự mất mát của ban lãnh đạo, những chức năng căn bản của Đảng, hành chính và quân đội cũng bị ảnh hưởng nặng nề. Nhiều nơi toàn bộ các cán bộ Đảng đã bị bắt. Vì vậy năm 1938 cường độ của các việc trù dập theo lệnh của Stalin đã giảm đi nhiều nhưng cũng không ngưng hẳn.
Với nhu cầu ổn định tình hình đất nước trong sự hỗn loạn của Nội chiến Nga, Với sắc lệnh "Về cuộc khủng bố đỏ" vàp ngày 5 tháng 9 năm 1918, Lenin đã đề nghị sử dụng những biện pháp trấn áp có hệ thống chống lại kẻ thù giai cấp và áp dụng luật lệ riêng biệt cho cảnh sát mật Liên Xô:
" Trong tình trạng hiện tại thì thật là cần thiết là phải yểm trợ nhóm Tscheka..., phải cô lập những kẻ thù giai cấp trong những trại tập trung để mà bảo vệ chế độ Cộng hòa, bất cứ ai mà dính líu tới các âm mưu, các cuộc nổi dậy phải bị bắn chết ngay tại chỗ." Từ đó, nhóm Tscheka trở thành một nước trong một nước, một bộ phận quyền lực, thi hành những biện pháp trấn áp theo một quy trình khá rõ ràng.
Ngay dưới thời Lenin, các trại tập trung, trại trừng phạt đã được thiết lập, những thành phần bị kết án phản Cách mạng bị trù dập, bỏ tù, tra tấn hoặc xử tử. Đối với những người Bolschewiki, kẻ thù là bất cứ những ai cản trở con đường đi tới chế độ chuyên chính vô sản của họ, những người mà không ủng hộ quan điểm của Xô Viết, hay không theo sát ý thức hệ cộng sản chính thức. Kẻ thù đó là những người bất đồng chính kiến, những người có của, linh mục, người theo đạo và phe đối lập. Theo cái nhìn của người Xô Viết những kẻ thù đó như là mụn nhọt trong cơ thể cần được cắt bỏ.
Lenin là người mà đã chính thức hóa việc sử dụng quyền lực một cách chuyên chế. Ban đầu ông ta coi trọng Stalin, bở vì ông ta cần một người, để mà thi hành những công việc, mà những người khác không muốn làm bẩn tay mình. Tuy nhiên khác với Stalin, theo Lenin bạo lực chống lại những người cùng phe là một điều cấm kỵ. Thanh trừng tiếng Nga: "Tschistka" theo Lenin là một biện pháp, để cho những đồng chí không tin cậy được trở lại đúng con đường mà đảng hoạch định. Những thành phần này phải tự kiểm điểm công cộng và trong trường hợp còn nghi vấn sẽ bị khai trừ ra khỏi đảng.[
Stalin đã biến bộ máy cảnh sát mật thành một bộ máy tiêu diệt. Thanh trừng không còn có nghĩa là khai trừ khỏi chức vụ mà là tiêu diệt, và chỉ có ông là người quyết định và ra lệnh, ai là bạn và ai là thù, ai là kẻ phản bội bị bắt và bị xử tử, ai được phép sống còn.
Bối cảnh của những cuộc thanh trừng của Stalin là những thuyết âm mưu nối tiếp nhau, một số để đối phó với nhóm Trotzkisten. Bên cạnh phần lớn những người thành lập đệ Tam Quốc tế hầu như tất cả các lý thuyết gia của đảng Cộng sản Liên Xô là nạn nhân của các cuộc thanh trừng này. Vị kiểm sát tối cao các phiên tòa ở Moskva từ 1936 tới 1938 là Andrei Wyschinski.
Ngoài ra phần lớn các lãnh đạo quân đội chung quanh thống chế Michail Tuchatschewski bị buộc tội có âm mưu chống Đảng và bị sát hại. Nhiều người cộng sản có nguồn gốc ở nơi khác, di cư sang Liên Xô cũng trở thành nạn nhân. Năm 1940 chính người có trách nhiệm lớn trong việc thi hành các cuộc thanh trừng Nikolai Jeschow, mà từ 1936 tới 1938 bộ trưởng Bộ Nội vụ và ứng cử viên Bộ chính trị, cũng như người tiền nhiệm của ông Genrich Jagoda trở thành nạn nhân cuộc khủng bố Stalin. Thay thế ông vào ngày 24 tháng 11 năm 1938 là Lawrenti Beria, đã cùng với Iwan Serow tiếp tục các cuộc thanh trừng. Beria bị xử tử 1953.
Stalin không những chỉ cho trừng phạt những người mà ông cho là đối thủ chính trị, trong đó có nhiều người cộng sản ngoại quốc mà sống ở Liên Xô hay vì bị truy đuổi phải tị nạn ở đó, ngoài ra còn cả những dân tộc thiểu số ở Liên Xô bị đưa vào trại lao động (Gulag) do có hành động chống Nhà nước Xô viết. Ngay cả những chủ điền hay những người bị xếp vào hạng này, các linh mục, thầy tu và con chiên cũng trở thành nạn nhân của các cuộc thanh trừng. Những người thân nhân cũng không được để yên thân. Rất thường là những người không dính líu gì đến chính trị cũng bị bắt, để cho đủ số người dự định, để làm đầy các trại tù và các trại lao động.

Ngay cả người dân của các vùng mà bị Hồng quân chiếm đóng, cũng trở thành nạn nhân như người Baltic, Ba Lan, Hungary, Romania, Đức như vụ thảm sát Katyn với sự đồng ý của Stalin trên 20 ngàn tù binh người Ba Lan đã bị hành quyết. Nhiều phạm nhân sau khi bị kết tội bị đưa vào trại Gulag, nơi mà họ với những điều kiện sống khắc nghiệt ở những vùng rừng núi xa xôi, phải phá rừng, làm đường, đào sống rạch, làm đường sắt, xây nhà cửa, những công việc ở hầm mỏ.  Điều kiện sống và làm việc rất thấp. Nhiều khi họ chỉ nhận được 300 gr bánh mì đen ẩm và một tô canh, vào mùa đông họ cũng chỉ được cho mặc quần áo mùa hè và phải sống trong các dãy nhà bằng gỗ. Mỗi ngày họ thường phải làm trên 12 tiếng. Có những phạm nhân bị tra tấn hoặc bị xử tử do vi phạm nội quy của trại hoặc tìm cách bỏ trốn.
Con số nạn nhân mà đã chết trong các cuộc thanh trừng, luôn gây nhiều tranh cãi. Trước đây các nhà sử gia chỉ có thể phỏng đoán, có ước tính cho rằng số nạn nhân chết là đến 60 triệu người weit auseinander, je nachdem, wer sie zählte und was als Säuberungen galt.
Từ khi chế độ Liên Xô sụp đổ, người ta có thể tính toán con số chính xác bằng cách truy tầm tài liệu từ các cơ quan lưu trữ. Theo đó khoảng 800.000 tù nhân dưới thời Stalin đã bị xử bắn, 1,7 triệu phạm nhân chết trong khi bị giam ở các trại Gulag, ngoài ra 389.000 người đã chết khi di chuyển sang nơi khác sống – tổng cộng khoảng 2,8 triệu người chết do mọi nguyên nhân.
Theo chủ tịch hội đồng quốc gia Áo Ts. Heinz Fischer, qua nhiều năm nghiên cứu tại văn khố Nga, trong số 7 người trong bộ chính trị của Lenin, chỉ có Stalin thoát khỏi tòa án "Tschistka". Trong số 19 thành viên của bộ chính trị 1934, năm 1938 chỉ có bảy người còn tại chức, từ 139 thành viên ủy ban trung ương 1934, chỉ có 41 người sau năm 1941 vẫn chưa chết hoặc bị bắt giam.
  • 13 thành viên cũ của bộ chính trị đảng Cộng sản Liên Xô:
Bubnov:là một trong 7 thành viên bộ chính trị năm 1918, bị bắt vào tháng 10 và trục xuất khỏi ủy ban trung ương đảng vào tháng 11 năm 1937, bị kết án tử hình ngày 1 tháng 8 năm 1938 và bị bắn chết cùng ngày. Bubnov được phục hồi nhân phẩm vào năm 1958.
Bukharin: từ 1917 thành viên ủy ban trung ương, từ 1917 đến 1929 chủ nhiệm báo Đảng Sự thật, từ 1920 thành viện bộ chính trị, 1929 bị trục xuất khỏi bộ chính trị vì chống lại chính sách tập thể hóa nông nghiệp của Stalin, 1937 bị bắt vì tội làm gián điệp và âm mưu lật đổ Stalin, 1938 bị tử hình.
Kamenev:từ 1917 đến 1926 thành viên ủy ban trung ương, và từ 1919 tới 1926 trong bộ chính trị, cùng với Sinowjew và Stalin lập thành bộ 3 cô lập Trotzky. Vì phản đối việc sùng bá lãnh tụ Stalin, bị mất ghế bộ chính trị và cuối năm 1927 bị đuổi ra khỏi đảng. 1936 bị bắt và bị xử tử.
Kossior: 1925-28 bí thư ủy ban trung ương, 1930-38 thành viên bộ chính trị, mặc dù là người thâm cận của Stalin, nhưng vì bị vu khống từ Kiev, vẫn bị xử tử năm 1938, 1956 được Chruschtschow phục hồi nhân phẩm.
Krestinski, Rudsutak, Rykow, Serebrjakow, Sokolnikow, Sinowjew, Tomski, Trotzki (bị ám sát ở Mexico), Tschubar và 3 ứng cử viên bộ chính trị (Eiche, JeschowPostyschew)
  • 98 người trong số 139 ủy viên chính thức và dự khuyết của Ban Trung ương do Đại hội thứ XVII bầu ra, nghĩa là 70 %, đã bị bắt giữ và bị xử bắn (phần đông vào những năm 1937-38) (Trong diễn văn Về sùng bái cá nhân và những hậu quả của nó)
  • Trên 15 người là thành viên của chính phủ, không kể những người đã nêu trên Radek, Yagoda, Jeschow, Krylenko, Rosenholz, Grinkow, Brjuchanow, Anatow, Meshlauk
  • 3 trong số 5 Nguyên soái Liên bang Xô viết đầu tiên: Tukhachevsky, Blyukher, Yegorow
  • 13 trong số 15 tướng Hồng quân
  • 16 ủy viên chính trị của quân đội
  • 25 trong số 28 giám thị quân đội
  • Tất cả các phó giám thị bộ quốc phòng
  • 98 trong số 108 thành viên hội đồng quân sự tối cao (Wikipedia) 
 Tại Trung Quốc, Mao cũng đã giết hại nhân dân và các đồng chí của ông.
Các nhà phê bình phương Tây cáo buộc Mao Trạch Đông là một nhà độc tài, người đã phá huỷ văn hoá truyền thống Trung Quốc và thi hành các chính sách vi phạm nhân quyền. Họ ước tính rằng trong giai đoạn lãnh đạo của Mao Trạch Đông, đã có khoảng 40 đến 70 triệu người chết (khoảng 6% dân số Trung Quốc thời bấy giờ), chủ yếu là trong nạn đói năm 1959–1961, con số này đã đưa giai đoạn Mao cầm quyền trở thành giai đoạn tỷ lệ tử vong hàng đầu trong lịch sử nhân loại.Kế hoạch tiếp theo mà Mao Trạch Đông ủng hộ là cuộc "Đại Cách mạng văn hóa vô sản" vào những năm 60 của thế kỷ 20.

Cũng có quan điểm cho rằng đây là một cách để Mao Trạch Đông lấy lại quyền kiểm soát Đảng Cộng sản Trung Quốc sau cuộc Đại nhảy vọt thất bại. Được thi hành bởi những đội Hồng Vệ binh gồm toàn những thanh niên trẻ tuổi, thừa nhiệt huyết nhưng thiếu kinh nghiệm, cuộc Cách mạng văn hóa từ mục tiêu ban đầu là thay đổi diện mạo tinh thần của toàn bộ xã hội đã biến thành quy chụp, tố cáo, chỉ trích, đấu tố, thanh trừng lẫn nhau trên toàn Trung Quốc. Cuộc cách mạng này làm tê liệt các hoạt động kinh tế, chính trị, giáo dục, văn hóa của Trung Quốc; phá vỡ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc và khiến nhà nước không còn duy trì nổi trật tự xã hội; gây chia rẽ nghiêm trọng trong Đảng Cộng sản, trong bộ máy nhà nước và trong xã hội Trung Quốc; phá hủy các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể. Trong thập niên 1980, Tổng bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc khi đó là Hồ Diệu Bang đã nhận xét rằng khoảng 100 triệu người Trung Quốc đã chịu đau khổ của thời kỳ này. Mao đã giết Bành Đưc Hoài, Lâm Bưu, Lưu Thiếu Kỳ
Tại Việt Nam, trong việc tranh chấp của hai phe thạn Nga và thaân Trung quốc đã xảy ra nhiều cái chết bí ẩn của các tay Cộng sản gộc như những cái chết của: Lâm Đức Thụ, Dương Bạch Mai,  Nguyễn Chí Thanh, Chu Văn Tấn, Hoàng Văn Thái, Lê Trọng Tấn, thượng tướng Đinh Đức Thiện…
Trong vụ án Xét lại hiện đại, Lê Duẩn, Lê  Đức Thọ, Trần Quốc Hoàn đã giết , bỏ tù nhiều yếu nhân cộng sản.
Những nhân vật bị bắt: gồm những nhân vật lão thành trong đảng, nhiều vị tướng cùng một số những nhà nghiên cứu và nhà báo như: Viện trưởng Viện Triết học Mác-Lênin Hoàng Minh Chính bị bắt ngày 27-7-1967); Vụ trưởng Lễ tân Bộ Ngoại giao Vũ Đình Huỳnh (bị bắt ngày 18-10-1967); Cục trưởng Cục 2 (Cục Tình báo quân đội) đại tá Lê Trọng Nghĩa; Chánh Văn phòng Bộ Quốc phòng Đại tá Lê Minh Nghĩa; Cục trưởng Cục Tác chiến Đại tá Đỗ Đức Kiên; Tổng Biên tập báo Quân đội Nhân dân Hoàng Thế Dũng; phó giám đốc nhà xuất bản Sự thật, nguyên Tỉnh ủy viên tỉnh ủy Quảng Bình Nguyễn Kiến Giang; Giám đốc nhà xuất bản Sự thật Minh Tranh; Phó bí thư thành ủy Hà Nội kiêm Phó chủ tịch Ủy ban Hành chính TP Hà Nội Trần Minh Việt; phó tổng biên tập báo Hà Nội Mới Phạm Hữu Viết; phó tổng biên tập tạp chí Học Tập Phạm Kỳ Vân; Tổng thư kí toà báo Quân đội Nhân dân Trần Thư; nhà báo Vũ Thư Hiên, nhà văn Bùi Ngọc Tấn...
Những nhân vật không bị bắt nhưng bị khai trừ đảng: Ngoại trưởng Ung Văn Khiêm, Thứ trưởng Bộ Văn hóa Lê Liêm; thiếu tướng Đặng Kim Giang ;Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Nguyễn Văn Vịnh; phó chủ nhiệm Ủy ban Khoa học nhà nước Bùi Công Trừng. Ngoại trưởng Ung Văn Khiêm bị quy trách nhiệm về bản tuyên bố chung "thân Liên Xô" trong chuyến thăm Việt Nam vào tháng 1 năm 1963 của Chủ tịch Tiệp Khắc Novotny và bị thay thế bởi Xuân Thủy.
Những nhân vật xin tị nạn tại Liên Xô: có khoảng 40 người lúc đó đang đi học hay đi công tác ở Liên Xô đã xin ở lại như Phó chủ tịch Ủy ban Hành chính Hà Nội Nguyễn Minh Cần; Chính uỷ sư đoàn 308, Phó chính uỷ Quân khu khu III đại tá Lê Vinh Quốc; nguyên Tổng biên tập Báo Quân đội Nhân dân thượng tá Ðỗ Văn Doãn.
Ở cương vị Viện trưởng Viện Triết học, Hiệu phó trường đảng Nguyễn Ái Quốc, một trong những lý thuyết gia của đảng, ông Hoàng Minh Chính được Trường Chinh giao nhiệm vụ soạn thảo bản Báo cáo chính trị của Hội nghị TW9. Bản báo cáo ông Hoàng Minh Chính bị bác bỏ, nhưng ông đã tự ý  phân phát bài viết mang tựa đề "Về chủ nghĩa giáo điều ở Việt Nam" cho một số đại biểu tham dự hội nghị. Một số các đại biểu đã hưởng ứng lập trường này như Bùi Công Trừng, Lê Liêm, Ung Văn Khiêm. Chính vì thế ông Hoàng Minh Chính bị coi là người đứng đầu nhóm Xét lại Chống Đảng.
Ngày nay, Nguyễn Phú Trọng muốn vĩnh viễn làm vua nên đã  đánh bại phe Nguyễn Tấn Dũng và nay sát hại Trần Đại Quang, Đinh Thế Huynh...

Tóm lại, dấu tranh giai cấp và chuyên chính vô sản là những bãi chiến trường  đầy máu chảy xương rơi , là quần đảo Goulag, là cách mạng vô văn hóa, là  thảm sát Thiên An môn, là đại họa CCRD và mậu thân, chứ không phải là thiên đường hạ giới.
Hỡi các nô lệ ở thế gian, hay đoàn kết để tiêu diệt cộng sản để mở ra một kỷ nguyên hoà bình, dân chủ và tự do cho nhân loại!

TAP CHÍ VĂN HÓA VIỆT NAM 482


SƠN TRUNG  
CHỦ BIÊN 
 
 Tranh Đặng Văn Can
s 482 
Ngày  19 tháng 8 năm 2017

Wednesday, August 16, 2017

NGUYỄN MINH CHÂU * NGƯỜI TÙ VỀ TỪ YÊN BÁI






Câu chuyện của người tù ‘cải tạo’ về từ Yên Bái




(Trích trong hồi ký Cuộc Ðời Ðổi Thay)
Tóm tắt sơ lược về các trại tù cải tạo
Tôi còn nhớ là những sĩ quan cấp bực trung tá phải trình diện tại trường học Don Bosco, Gò Vấp trong ba ngày từ 14, 15 và 16 của tháng 6 năm 1975. Tôi trình diện ngày giữa để không sớm mà cũng không trễ. Chúng tôi ngoan ngoãn như những con cừu non mang theo đủ số thuốc men, đồ đạc và tiền để học tập ba tháng rồi sẽ trở về với gia đình (theo thông cáo). Vợ tôi đã khuyên tôi trốn về quê hoặc nơi nào khác một thời gian rồi sẽ tính sau. Nhưng vì sự đi đứng của tôi khó khăn (chống gậy) và hơn nữa với 21 năm trong quân đội và hành chánh nên được nhiều người biết sẽ dễ bị lộ tông tích. Tôi cũng sợ liên lụy đến vợ con nếu tôi không ra trình diện.


Trong thời gian chờ thanh lọc, bọn CS nhốt chúng tôi tại trại Long Giao, căn cứ của Trung Ðoàn 48 thuộc Sư Ðoàn 18 Bộ Binh. Nơi đây tôi có gặp gỡ nhiều chiến hữu cùng cấp bực và nhiều vị Chỉ huy cũ của tôi như các cựu Ðại Tá Tôn Thất Soạn, Nguyễn Thế Lương, Nguyễn Năng Bảo, NT Nguyễn Thành Trí, cựu tư lịnh phó sư đoàn, sau khi tôi đã rời binh chủng.

CH Nguyễn Minh Châu


Tôi vẫn còn nhớ một hình ảnh khó quên về cựu Ðại Tá Tôn Thất Soạn, một chiến đoàn trưởng TQLC đã lập nhiều chiến công hiển hách trong thời gian ông chỉ huy các Tiểu Ðoàn TQLC hành quân trên 4 miền chiến thuật. Sau cùng ông là tỉnh trưởng Hậu Nghĩa khi tôi làm quận trưởng Ðức Hòa. Ông cũng được mọi thành phần Quân Cán Chính mến thương như lúc ông còn là chiến đoàn trưởng vì tính hiền hậu và nhã nhặn của ông ấy. Tôi không bao giờ quên và tội nghiệp cho một anh hùng lỡ vận. Mới vài tháng trước đây ông là một vị tỉnh trưởng Hậu Nghĩa uy quyền, hôm nay thấy ông vác củi rừng và mặc bộ đồ kaki vàng lượm được đâu đó đã rách tả tơi. Tôi rất xúc động và căm hờn. Tôi nghĩ rằng tinh thần của Ðại Tá Soạn cũng như tôi lúc bấy giờ còn tả tơi hơn bộ đồ kaki rách rã rời này nữa. Ôi! một thời oanh liệt nay đã tiêu tùng theo vận nước!


Trước khi chở ra Bắc, bọn CS đưa tất cả sĩ quan từ cấp tướng đến cấp tá về trại tù Suối Máu mà trước kia chính quyền miền Nam giam tù phiến Cộng. Nơi đây trước ngày 30 tháng 4 năm 1975, bọn chúng có giường ngủ, chăn màn đầy đủ. Chúng được ăn uống theo tiêu chuẩn quốc tế cho nên tên tù Việt Cộng nào cũng mập béo. Các phái đoàn Mỹ và ngoại quốc đến thăm viếng thường xuyên. Trại được xây cất nơi thờ phượng cho các Tôn giáo. Khi chúng tôi vào trại Suối Máu thì những căn trại trống không, phải nằm đất và cơm ngày hai bữa với canh rau nấu muối hột, thỉnh thoảng có chú cá loại rẻ tiền hôi tanh khó ngửi.


Có một lần bọn CS cho chúng tôi ăn hủ tiếu đã lâu ngày bị mốc meo nên hầu hết anh em tù đều bị kiết lỵ, một số người bị chết vì không có thuốc trị. Vấn đề vệ sinh rất là bẩn thỉu, tồi tệ. Nhưng chẳng thấy phái đoàn nào đến thăm chúng tôi. Tôi còn nhớ là vài tháng trước ngày 30 tháng 4, 1975, phái đoàn của Ni sư Huỳnh Liên, v.v… đã gây khó dễ với chính quyền Tổng Thống Thiệu là phải được vào thăm bọn Việt Cộng bị giam tại Suối Máu. Khi chúng tôi vào trại này, các nơi thờ phượng đều bị bọn man rợ đập phá, các tượng Phật, tượng Chúa đều gẫy nát, không khác nào bị bọn ma quỷ phá nhà chay.


Mỗi buổi sáng chúng tôi cố phóng tầm mắt xa ra ngoài lộ xem có thấy bóng dáng vợ con mình lai vãng hay không cho thỏa lòng nhung nhớ! vì CS đâu cho thăm nuôi.
Tại Suối Máu tôi rất mừng gặp lại một đồng nghiệp sau cùng ở tỉnh Hậu Nghĩa là cựu Trung Tá Bùi Văn Ngô, một vị quận trưởng lâu năm ở đây. Tôi đã được thuyên chuyển từ Dĩ An về Hậu Nghĩa hơn một năm rồi lại được trở về Dĩ An một tháng cuối cùng. Nhưng tôi cũng biết ông là một Quận Trưởng có khả năng, luôn nghĩ đến binh sĩ và hiền hòa dễ mến. Tôi xin hết lòng cám ơn ông Ngô đã tận tình giúp bạn bè lúc khổ nhọc vì mỗi chiều sau giờ cơm ông hay rủ tôi cùng đi tắm để ông xách nước giếng giùm tôi vì bàn tay mặt của tôi đã bị tàn phế do thương tích. Ông Ngô và gia đình đi diện HO, các con nay đã thành gia thất và thành công trên xứ người. Vợ chồng chúng tôi xin chúc mừng hai ông bà và các cháu.


Tôi cũng không quên ơn Mũ Xanh Trung Tá Lê Văn Khánh ở tù chung trại 1 Yên Bái đã nhiều lần xách hộ tôi chiếc valise đựng quần áo mỗi khi chuyển trại. Ông luôn giúp đỡ tôi vì chân tôi đi khập khểnh khó khăn. Nếu không có ông Khánh trợ giúp thì tôi có thể té nhào xuống sông bến Tân Cảng vì phải đi qua chiếc cầu rất nhỏ từ bến xuống tàu Sông Hương chở ra Bắc.

Tôi còn nhớ có một người trong chuyến tàu này mang túi đồ nặng trĩu trên vai đã lọt xuống sông bị chìm mất dạng mà bọn bộ đội CS vẫn đứng trơ mắt nhìn không tiếp cứu.
Nơi xứ này mỗi khi anh em có dịp gặp nhau là kể cho nhau nghe về đơn vị cũ, chiến trường xưa và cũng không bỏ qua chuyện tù Cộng Sản vô cùng nhục nhã khó quên.


Ðoạn đường xuôi Nam
Sau một năm bị giam cầm trong Nam và hai năm ở miền Bắc, bọn CS thả những người tù già yếu và bệnh tật trong đó có tôi mà bọn chúng thấy không còn lao động đươc nữa và bọn chúng nghĩ rằng có thả về nhà chúng tôi cũng sẽ chết thôi.
Trước khi được thả về, bọn bộ đội CS ban chỉ huy trại tù Yên Bái trả lại quần áo mà chúng tôi mang theo lúc trình diện để học tập “ba tháng” theo thông cáo. Tôi lấy bộ đồ mà tôi đã mặc đi trình diện ở Gò Vấp mặc thử xem ra sao. Khi vừa mặc chiếc quần tây vào thì cái quần bị tuột xuống tới chân làm cho tôi sững sờ vì không ngờ tôi ốm tới thế này và mấy anh bạn tù cùng láng cười rộ lên khi nhìn thấy cái thân người khỏa thân của tôi nó teo nhách từ trên xuống dưới!

Trong mấy năm tù có nhìn thân mình trong kiếng soi bao giờ mà biết được cái độ gầy ốm của thân người mình ra sao? mặt mày của mình như thế nào? Mấy năm đầu bọn Cộng Sản không cho gia đình thăm nuôi và tiếp tế lương thực nên anh em tù bị đói tả tơi, có người không chịu nổi cái đói đến kiệt sức mà chết.


Những người mập mạp lại càng tiều tụy hơn chúng tôi nhiều và càng dễ chết do thiếu dinh dưỡng. Hôm ngày tập trung về đoàn để chuẩn bị trở về Nam, một cựu đại úy LLÐB đến chào hỏi tôi mà tôi không thể nhìn ra ông ấy là ai. Ông ấy bèn nói rằng: Anh Năm (Colonel) không nhận ra em sao? em là Ðại Úy M… mập đây.

 Lúc bấy giờ tôi mới nhớ ra ông, vì ngày xưa ông rất mập và bụng to đến đổi khi ông ngồi lái xe Jeep là cái bụng bệ vệ và nặng nề của ông đụng tới cái volant xe. Ông ta bèn giở áo lên cho tôi xem cái bụng của ông có nhiều miếng da xếp lại không khác nào cây đàn Accordéon. Gương mặt tròn trịa của ông năm xưa nay bị hóp lại trông thật não nề!

Mọi người tù đều ốm yếu như nhau nên tôi cũng không nhận định được thân người của tôi nó gầy ròm như thế nào? Khi đến đón tôi được thả về tại cổng thành Ông Năm, Gò Vấp, vợ tôi chỉ nhìn ra tôi nhờ tôi chống gậy đi khập khễnh từ sau ngày tôi bị thương tại vùng giới tuyến vào cuối năm 1966, lúc tôi còn là tiểu đoàn phó TÐ 3 Thủy Quân Lục Chiến.

Toán đầu được thả ra là những sĩ quan thuộc ngành chuyên môn như hành chánh hay kỹ thuật. Trong toán này có một anh thiếu tá ngành Quân Nhu, khi vùa tới cổng trại anh nhìn thấy bà vợ đang ngơ ngác nhìn tám người tù đi ra mà không nhận dạng được chồng bà. Anh ấy bèn lên tiếng: “Em! anh là T… đây.” Bà vợ nhìn chồng quá tiều tụy và xúc động đến ngã quỵ. Anh thiếu tá cũng khóc sụt sùi nức nở nên bị giữ lại cho trở vào trại để lên lớp cùng với chúng tôi đang mong chờ đợi phiên về kế tiếp.

Tên quản giáo nói rằng: đảng và nhà nước với chánh sách khoan hồng đã nuôi các anh ăn học rất chu đáo để trở thành công dân tốt, chứ nhà nước đâu có hành hạ mấy anh đâu mà tại sao các anh lại tủi thân mà khóc với vợ con? Tôi bực mình và nói thầm: “Chúng tao đâu có chém trâu đốt nhà như loài Cộng Sản chúng mầy mà được bọn bây giáo dục để trở thành công dân tốt?” Nghe mấy câu nói nhàm tai này tôi càng tức sôi gan và tôi nghĩ rằng chắc quý vị cũng rất bực mình nghe tôi kể lại câu chuyện này.

Bọn Cộng Sản thả những người trong nhóm chúng tôi làm năm đợt, mỗi đợt tám người và cách nhau mỗi đợt một tuần lễ. Cứ sáng ngày thứ năm trong tuần là anh em tù hồi họp chờ đợi tên cán ngố đến gọi tên mình và dẫn ra cổng trại. Sống với bọn này lúc nào cũng hoang mang và đầu óc luôn luôn bị căn thẳng!


Một cựu trung tá Phòng Nhì, lúc bấy giờ đã bảy mươi hai tuổi còn bị giữ lại với tôi sau khi toán cuối cùng đã được về hai tuần qua rồi. Ðiều này làm cho ông và tôi rất đắn đo vì tên thủ trưởng trại chẳng cho biết lý do tại sao? mà chúng tôi cũng chẳng dám hỏi. Ông ấy tự suy đoán và nói với tôi rằng: Có lẽ tôi là nhơn viên phòng nhì còn cậu làm quận trưởng lâu năm, chắc chúng mình thuộc thành phần “ác ôn” (đây là danh từ của bọn Cộng Sản gán ghép cho những người của chế độ miền Nam). Thật là nhức đầu với lối khủng bố tinh thần của lũ Cộng Sản.

Về đến nhà tôi nhìn vào kiếng thấy người tôi chỉ còn da bọc xương, hai xương vai nhô ra, đưa bộ ngực oméga sâu hõm, mặt mày xanh xao như tàu là chuối trông giống như người mắc bịnh Aids Disease mà bên Việt Nam gọi là bịnh Sida. Ðứa con trai út của tôi tám tuổi hỏi mẹ nó sao ba bây giờ không giống ba mấy năm trước vậy? Tôi buồn muốn rơi nước mắt vì tủi thân và nghĩ rằng không biết tôi có thể khỏe mạnh lại như xưa không? Khi đi trình diện tôi cân nặng 65 ký, bây giờ chỉ còn 40 ký. Tôi không biết rằng có được hồi phục sức khỏe để nuôi bản thân tôi và lo cho gia đình nổi không? Vì biết rằng tôi phải lao động cày cuốc theo chánh sách của bọn chúng khi được thả về với gia đình.


Lần này chúng tôi được chở về Nam bằng xe lửa từ Yên Bái đến Vinh, rồi từ Vinh đi bằng xe đò trong Nam ra đón chở thẳng về thành ông Năm, quận Hóc Môn. Tôi cũng xin nói rõ thêm là trên đoạn đường về Nam anh em chúng tôi được chuyên chở trong điều kiện thoải mái, không phải như lần ra Bắc bọn Cộng Sản nhốt chúng tôi dưới hầm tàu Sông Hương rất khổ sở từ bến Tân Cảng Saigon ra Vinh rồi từ Vinh ra Yên Bái lại tiếp tục bị nhốt trong những toa sắt chở hàng hóa như súc vật.

Trên đoạn đường từ phía Nam cầu Hiền Lương ngay vĩ tuyến 17, về tới Saigon, tôi được nhìn thấy lại những phong cảnh và địa danh mà đơn vị TQLC chúng tôi đã hành quân qua trong những năm chinh chiến và không khỏi ngậm ngùi khi thấy và nhớ lại những mặt trận chạy dài theo Quốc lộ số 1 mà anh em chiến sĩ cùng tôi đã một thời tung hoành, oanh liệt và đã cùng sống chết bên nhau trong các trận đánh đẫm máu với quân Cộng Sản Bắc Việt. Lúc bấy giờ tôi thật xúc động và buồn lắm! Còn một điều nữa làm cho tôi rất buồn và luyến tiếc là quê hương mình rất đẹp mà để quân Cộng Sản vào gây chiến tranh tàn khóc và gây biết bao cảnh đổ nát điêu tàn, biết bao gia đình phải điêu linh.


Ðến thành phố Huế, hai anh bộ đội cho chúng tôi xuống xe để ăn trưa. Ðồng bào hay tin tù cải tạo được về Nam từ các trại tù miền Bắc đã đổ xô tới bao vây chúng tôi. Các bà cụ già và các phụ nữ nhìn thấy chúng tôi mặt mày xanh xao hốc hác, bơ phờ và ốm gầy nên động lòng khóc nức nở. Chúng tôi bị cấm không cho tiếp xúc với đồng bào, nhưng khi nhìn qua ánh mắt của mấy bà tôi hiểu là các bà rất thương cảm chúng tôi và họ hình dung bóng dáng chồng con hay anh em của họ cũng tiêu điều như chúng tôi vậy, nên họ mủi lòng không cầm được nước mắt.

Có một bà cụ chửi khe khẽ rằng: “Ðồ quân khốn nạn! Chúng bay đày đọa mấy người cải tạo ra nông nỗi này!” Một điều làm cho tôi luyến tiếc là phố Huế ngày xưa thanh bình thơ mộng, nay sao tôi thấy tiêu điều buồn tênh! Có lẽ phố Huế cũng buồn theo vận nước?

Anh em chúng tôi chia ra từng toán vào các quán ăn cạnh nhau trên một đường phố. Các người chủ quán đều không tính tiền và còn cho uống beer và nước ngọt thật ngon lành vì mấy năm nay đâu được có những thứ này.
Ngồi trên xe đò đi tiếp về Saigon, chúng tôi nghe các anh lơ và tài xế chửi xỏ chửi móc chế độ Cộng Sản thậm tệ bất cần hai anh bộ đội đi theo chúng tôi. Nhưng lúc ấy tinh thần chúng tôi bị sa sút sau mấy năm trong tù luôn bị đe dọa, bị khủng bố và hoang mang thành ra nhút nhát nên nghe họ chửi rủa anh em chúng tôi cũng ngại lắm. Một anh bạn tù cắt ngang những lời trách oán của anh lơ xe và hỏi anh lơ rằng: Lúc này nước nhà được giải phóng và được thống nhứt chắc là đồng bào mình có cuộc sống ấm no lắm phải không? 

Tôi nghĩ là anh bạn tù này muốn hỏi để cho anh lơ ấy không chửi nữa vì sợ ảnh hưởng không tốt cho anh ta, chứ chúng tôi cũng biết dân miền Bắc khổ và đói rách lắm dưới sự cai trị của bọn bạo tàn Cộng Sản đã mấy mươi năm qua, làm gì mà dân Nam có được sung sướng? Nhưng anh lơ lại nói thêm: Giải phóng cái con mẹ gì, giải phóng là phỏng… đó mấy ông ơi! Dân khổ chết cha đi mấy ông, muốn mua gạo ăn phải trình hộ khẩu và đăng ký, mua thứ gì cũng không có để mà xài, vật giá leo thang và đồng tiền rẻ mạt vì bị mất giá.


Xe đò chở chúng tôi đi qua thành phố Saigon đến Gò Vấp rồi từ từ vào Thành Ông Năm là trại giam sĩ quan cấp Úy. Tôi rất ngậm ngùi khi thấy quang cảnh điêu tàn và buồn tẻ, các cửa hàng khang trang của Saigon năm xưa đều đóng. Thủ đô Saigon ngày nay không phải như trước năm 1975 mà lúc xưa được gọi là hòn ngọc Viễn Ðông.
Lòng mãi u buồn nhớ Saigon
Tên ấy không còn với nước non
Saigon mất tên trong sử sách
Giặc Cộng vào bôi dấu bia son.
Saigon trải qua cơn hỗn loạn
Tự do, hạnh phúc cũng chẳng còn
Hòn ngọc Viễn Ðông nay tan biến
Lòng mãi u buồn tiếc Saigon.
MC

Khi chúng tôi vừa mới tới thành Ông Năm, tên thủ trưởng trại chịu trách nhiệm toán chúng tôi nói rằng: Các anh học tập tốt được cách mạng cho về đây ăn học tiếp. Tôi nói thầm: Tốt chỗ nào? Lao động khổ sai đói rét muốn bỏ mạng mà gọi là học tập, bọn chúng mầy lúc nào cũng nói láo. Ðầu óc chúng tôi rất hoang mang không biết còn phải ở tù thêm bao lâu
nữa? hay lại chuyện gì sẽ xảy ra đây?, trong khi tên trưởng trại tù Yên Bái đã nói rằng chúng tôi được về sớm vì lý do già yếu, bịnh nặng gần chết và tàn phế, v.v… Thật là chánh sách của đảng dạy bọn chúng mầy là nói láo, nói láo từ trên xuống dưới và nói láo từ nơi này đến nơi khác.


Trước khi chúng tôi được về có anh Trung Tá H…, tùy viên quân sự của tòa Ðại Sứ Việt Nam Cộng Hòa tại nước ngoài và một số tù cải tạo ở chung trại số 1 Yên Bái với tôi được chúng bảo chuẩn bị hành trang để được thả về. Nhưng một thời gian sau đó anh em đi vào rừng gặp lại anh H… đang lao động với anh em của trại khác. Một anh tù đã hỏi rằng: Sao anh H… còn ở đây? Chưa về với gia đình sao? Anh H… khe khẽ chửi thề: Ðồ bọn nói láo, mấy anh đừng có tin chúng nó. Nhớ lại câu chuyện này tôi càng hoang mang lắm mặc dù đã về trong Nam rồi, nhưng tôi nghĩ rằng dù sao đi nữa về đây ở tù thêm cũng được gần gia đình và khí hậu ấm áp hơn.


Nỗi lo âu và tinh thần bị khủng hoảng khi về với gia đình
Về nhà mừng vui được sum hợp gia đình nhưng không khí rất là ngộp thở vì những tên công an khu vực tới nhà xét bất cứ lúc nào. Lúc bấy giờ những tù cải tạo khi được thả về gia đình phải trình diện mỗi tuần hoặc hai tuần hoặc mỗi tháng một lần tùy ý của bọn công an địa phương. Vợ tôi phải đi báo cáo ngay cho công an khu vực khi vừa về tới nhà. Ngày hôm sau tôi phải trình diện đồn quân trấn Thủ Ðức và sau đó mỗi tuần một lần. Tôi nghe nói tên công an trưởng đồn quân trấn lúc trước là anh thợ vá vỏ xe đạp tại chợ Thủ Ðức. Tôi không bao giờ có ý chê bai hay khi dễ những người ít học. Tôi rất thông cảm hoàn cảnh sống nghèo khổ của mỗi người. Nhưng tôi rất bực mình thái độ đã vô học lại còn vô giáo dục với bản chất hèn hạ và nhỏ mọn của quân Cộng Sản như lũ chém trâu đốt nhà và ăn hại đồng bào.


Mỗi lần tôi trình diện, tên này luôn luôn có cái bản mặt mày hằn học với tôi lắm, vì theo giấy ra trại hắn biết tôi trước năm 1975 là quận trưởng Dĩ An, Biên Hòa và quận Ðức Hòa, Hậu Nghĩa. Còn tên công an khu vực cứ mỗi ngày đến kiểm soát tôi và hắn ta nói rằng: Tôi tới thăm anh Châu khỏe không? và tiến bộ ra sao sau khi cách mạng nuôi ăn học một thời gian. Tôi tức căm hờn với những câu nói này vì bị bọn Cộng Sản chúng nó đày đọa gần chết mà nói ăn học cái gì? Chúng tôi đã nhiều lần nghe những lời nói y rập một khuôn của bè lũ này từ lúc vào Long Giao đến trại Suối Máu rồi ra Yên Bái. Tên công an khu vực thường đến nhà đúng lúc vợ tôi đi chợ về là hắn lục lạo vào giỏ đi chợ xem vợ tôi đã mua thứ gì để theo dõi hằng ngày mình ăn món gì, nhưng hắn nói trớ là xem vợ tôi có mua đủ thức ăn cho tôi bồi dưỡng không, theo ngôn ngữ của bọn Cộng Sản.


Trong thời gian tôi làm việc tại quận Dĩ An, anh em chiến sĩ địa phương chúng tôi đã không ngại gian khổ hành quân ngày đêm nên tiêu diệt gần hết thành phần hạ từng cơ sở trong quận. Vài tên còn lại phải bỏ vùng hoạt động và ẩn náu giũa hai liên ranh Dĩ An và Tân Uyên. Cho nên sau hai tháng được miền Bắc thả về, bọn Việt Cộng địa phương đến bắt tôi lại để trả thù, nhưng chúng nói là tôi được công an tỉnh Sông Bé và Biên Hòa mời tôi lên đó làm việc với chúng trong 10 ngày. Chúng nó cho tôi mười phút chuẩn bị đồ đạc và thuốc men đủ dùng trong hai tuần lễ.


Nhìn mặt chúng lộ vẻ đằng đằng sát khí nên tôi nghĩ chúng sẽ giết tôi để trả thù hay sẽ làm nhục tôi trước dân chúng tại quận Dĩ An nơi tôi làm việc trước kia, cũng như chúng đã bắt vài sĩ quan trong bộ chỉ huy Chi Khu của tôi đi quét đường và làm vệ sinh quanh khu phố. Tôi quyết định dùng thuốc tự sát thà chết tại nhà với vợ con hơn là bị bọn chúng làm nhục trước công chúng. Tôi đoán chắc rằng bọn nó sẽ giết tôi và vùi xác nơi nào đó mà vợ con không hề biết được. Tôi bèn mở tủ thuốc lấy một ống Optalidon mang vào phòng tắm vì không muốn cho hai con gái lớn của tôi thấy và uống gần hết ống thuốc. Sau đó vài phút tôi bắt đầu xây xẩm mặt mày và biết chắc chắn rằng tôi sẽ chết. Không còn sợ chi nữa và rất bực tức, tôi trở ra phòng trước chửi bọn chúng dữ dội và nói rằng chánh sách của bọn chúng bây là nói láo, đừng hòng mà bắt tao lại để trả thù. Ngay lúc đó vợ tôi đi vắng nhà vừa về và tôi chỉ còn nói được ú ớ vài tiếng rồi ngã vào vòng tay của vợ tôi và ngất lịm luôn.


Sau khi tỉnh lại, được vợ tôi thuật rằng chúng muốn chở tôi đến bịnh viện Sông Bé để bọn chúng lo. Vợ tôi đoán rằng bọn Cộng Sản sẽ giết tôi nên nhứt quyết không cho chúng chở đi. Trước sự giằng co dữ dội của vợ con tôi cùng sự chứng kiến của người cùng xóm, bọn Việt Cộng đành để vợ con tôi đem tôi ra xe chở vào bịnh viện Nguyễn Văn Học và đuổi theo chúng tôi sau đó. Tôi đã may mắn được người cháu là Bác Sĩ Nguyễn Xuân Tùng đang là BS trực tận tình cứu tôi trong khi đó tên BS Cộng Sản trưởng khu cấp cứu nói rằng: Anh này đã chết rồi, anh Tùng không cần chạy chữa nữa. Tên BS Việt Cộng ra lịnh cho y tá rút ống dưỡng khí ra, nhưng vợ tôi và BS Tùng mạnh dạn kháng cự lại. Thật rõ ràng là bọn chúng muốn giết tôi chết. Tên này và bè lũ quả thật dã man, tàn ác. Trong thời gian này vợ tôi vất vả vô cùng vì sợ chúng giết tôi nên mỗi đêm phải nằm túc trực tại hành lang phòng hồi sinh để theo dõi và canh chừng tôi.


Sau ba ngày đêm nằm nơi phòng hồi sinh tôi tỉnh lại và tìm mọi lý do nằm thêm môt hai tuần nữa vì còn yếu sức để nghĩ ra mưu kế trốn thoát khỏi bệnh viện vì vợ chồng chúng tôi được bà BS M… và cô y tá A…, bạn học cũ Gia Long với vợ tôi, đã mật báo cho vợ tôi biết là mỗi buổi sáng khi bàn giao phiên trực, tên BS thủ trưởng đều lưu ý tất cả nhân viên là hãy coi chừng và theo dõi một tên trung tá ngụy đang nằm chữa bịnh. Tôi đã biết là chúng nó sẽ bắt tôi tại bịnh viện. Lúc bấy giờ tôi cũng được hay tin có một số sĩ quan về cùng lúc với tôi cũng bị bọn CS bắt lại, không biết số phận của các ông ấy đã ra sao?


Những phút giây hồi hộp
Vào một buổi sáng bà BS M… mật báo cho vợ tôi biết là tên thủ trưởng sẽ ra lịnh cho tôi xuất viện lúc 4 giờ chiều ngày mai. Vợ chồng chúng tôi hiểu ngay là bọn chúng sắp đặt âm mưu để bắt tôi lại khi tôi ra khỏi cửa nhà thương. Vợ chồng chúng tôi quyết định phải trốn khỏi bịnh viện vào lúc sáng sớm ngày hôm sau. Thấy tình hình nguy kịch, chị cả của tôi là một soeur của nhà dòng Vinh Sơn và cũng là y tá trưởng của Khoa Nhi Ðồng đang làm việc tại đây đã cùng vợ tôi đến gặp vị linh mục của nhà thờ nằm ngay phía sau của bịnh viện Nguyễn Văn Học để cầu cứu. Chị tôi kể sự việc của tôi đã xảy ra cho linh mục nghe và nói rằng: “Bọn Việt Cộng sẽ bắt em tôi lại tại bịnh viện này vào chiều ngày mai, vậy nhờ Cha cho chúng con dẫn em con đi qua cửa sau để tẩu thoát, nếu không sẽ nguy cho tánh mạng của em con lắm.”.


Linh mục được biết hoàn cảnh nguy hiểm của tôi liền chấp nhận và nói rằng: Sáng mai từ lúc 5 giờ Cha sẽ chờ và sẵn sàng mở cửa sau khi các con tới. Chị tôi nay đã trên tám mươi và đã về hưu, còn vị linh mục đã cứu giúp tôi không rõ còn sống hay không?

Lúc bấy giờ tôi còn quá yếu, mặc dù bà chị và vợ tôi dìu hai bên giúp tôi đi cho nhanh, nhưng tôi lê lết từ bước chân đi âm thầm, chậm rãi và thật hồi họp dưới ánh đèn lờ mờ vào khoảng gần 5 giờ sáng, lúc bịnh nhân còn ngủ nên không ai hay biết. Vừa đến cửa sau thì linh mục nhanh tay mở cửa ngay cho chúng tôi đi qua. Sau khi chúng tôi vào phòng khách của nhà dòng vợ tôi lập tức gọi xe taxi chở thẳng về nhà ông bà ngoại của mấy cháu tại Chợ Lớn.


Thế là một lần nữa tôi được thoát khỏi gông cùm Cộng Sản trong gang tấc. Tôi không quên ơn cháu BS Tùng hiện đang hành nghề tại thành phố Winnibeg, Canada, đã cứu sống tôi. Cám ơn bà BS M…và bà y tá A… đã mật báo cho vợ chồng tôi biết trước những âm mưu của Cộng Sản trong lúc tôi đang nằm điều trị. Những ơn nghĩa lớn lao này chúng tôi còn mang mãi trong lòng đến trọn đời.

Vừa về tới nhà cha mẹ vợ ở đường Trần Hoàng Quân thì cháu gái lớn của chúng tôi xuống nhà báo cho biết là bọn công an đồn quân trấn Thủ Ðức đến bao vây và xét nhà để tìm tôi. Bọn chúng hỏi cháu rằng tôi đã ra khỏi bịnh viện rồi, bây giờ ở đâu? Cháu đã được vợ tôi căn dặn trước là tôi sẽ trốn ra khỏi nhà thương nên cháu trả lời là không hay biết gì, vì hai tuần nay phải ở nhà trông nom các em nhỏ. Tên công an trưởng ra lịnh cho con tôi là sáng ngày hôm sau phải ra trình diện đồn quân trấn Thủ Ðức.


Chúng tôi dư biết rằng bọn man rợ sẽ bắt giam con gái tôi để điều tra nên chúng tôi bảo sáu đứa nhỏ phải lén trốn khỏi nhà ở Thủ Ðức mà về ẩn náu tạm nơi nhà bà chị tôi ở Gia Ðịnh. Con gái lớn chúng tôi lúc đó mới được mười bốn tuổi cùng một cháu gái con của cựu Trung Tá Tiểng, tỉnh trưởng Ban Mê Thuột, ở cư xá Kiến Thiết giúp đỡ phải dẫn dắt năm em nhỏ âm thầm chạy trốn trong lúc trời còn mờ sương chưa sáng. Sau đó vợ tôi đưa mấy cháu về Chợ Lớn sống nhờ với ông bà ngoại để vợ tôi rảnh tay mà đối phó với tình hình vô cùng nguy hiểm của tôi. Chú thím Châu còn nhớ ơn của cháu Trang đã không ngại nguy hiểm để lo cho mấy em được an toàn.


Tôi ngẫm nghĩ lại chế độ tự do của miền Nam chúng ta quá rộng lượng và quảng đại. Trong thời gian tôi làm quận trưởng, từ cơ quan chánh quyền đến quân đội, anh em chúng tôi không bao giờ khuấy nhiễu hay hành hạ thể xác hoặc tinh thần của gia đình bọn Việt Cộng địa phương đang nằm trong lòng bàn tay quyền lực của chúng tôi. Nếu thế cờ quốc tế đảo ngược lại, miền Nam thắng và chế độ Cộng Sản sụp đổ, chúng ta sẽ đối xử chúng với khí thế quân tử của đại trượng phu. Miền Bắc sẽ không phải là một trại tù khổng lồ như miền Nam sau 30 tháng 4 năm 1975. Bọn Cộng Sản chúng nó thật là quân hèn hạ và vô liêm sỉ.

Tôi còn nhớ trong thời gian tôi làm quận trưởng Dĩ An, có một bà vợ bé của tên tướng Việt Cộng Ðào Sơn Tây được chúng tôi để sống rất bình yên trước Bộ Chỉ Huy Quận của chúng tôi. Tướng VC Ðào Sơn Tây này trước kia là công nhân của Sở Hỏa xa tại Dĩ An hồi thời Pháp thuộc.

Những ngày tháng buồn não nề trên gác trọ
Sau khi trốn ra khỏi nhà thương, tôi tuyệt đối không tiếp xúc với bất cứ ai ngoài vợ tôi. Mỗi chiều tối vợ tôi phải lén lúc đến nơi tôi sống ẩn dật để tiếp tế. Trong người tôi chỉ có tờ giấy ra trại và giấy chứng nhận trình diện của đồn công an Thủ Ðức mà nay đã vô dụng rồi. Tôi phải dùng tờ giấy Chứng cử tri của em trai kế tôi. Nhờ trên hình của tờ giấy rất thô sơ không có đóng mộc, thành thử tôi chỉ thay tấm hình của tôi vào mà xài mỗi khi di chuyển hay đổi chỗ ở. Mỗi lần đi vượt biên cũng xài giấy công nhân giả do bạn tôi chứng nhận tôi đi công tác sửa chữa máy đèn. Bây giờ nhớ lại cũng buồn cười là tôi chẳng có biết chút kinh nghiệm gì về việc sửa chữa máy đèn hay máy phát điện. Nhưng cũng nhờ bọn công an ngu ngốc không biết hạch hỏi tôi hoặc là nếu chúng nó nhờ tôi sửa máy đèn thì tôi chẳng biết gì và sẽ bị lộ tẩy ngay là tôi xài giấy tờ giả mạo.


Trong hoàn cảnh tôi là tù vượt ngục ai cũng rất ngại ngùng sợ bị mang họa cho gia đình họ nếu tôi bị phát giác và bị chúng nó bắt lại. Sau hơn sáu tháng sống rày đây mai đó rồi tôi cũng liều mạng cứ trụ lại một chỗ tương đối kín đáo tại cư xá Lữ Gia, Phú Thọ. Người chủ nhà là một sĩ quan cấp bực chuẩn úy bà con dám chứa chấp tôi ở luôn. Nhưng mỗi khi nghe tin công an sẽ xét nhà tôi lập tức dời đi nơi khác. Có một lần ông chủ nhà toa rập với bọn Việt Cộng giữ kho sơn tẩu tán một số sơn bột của Mỹ và cất giấu trong nhà ông ta. Ðã nghèo lại mắc cái eo, nhận thấy tình hình nguy hiểm quá tôi phải dời đi nơi khác một thời gian vì sợ vụ buôn lậu bị bại lộ thì tôi cũng lộ mặt luôn.

Tôi sống âm thầm cô đơn trên từng gác trọ thật không khác nào kiếp sống tù, nhưng dù sao tôi cũng được no ấm hơn anh em còn kẹt lại trong các trại tù ngoài Yên Bái. Lúc bấy giờ tinh thần tôi bị khủng hoảng trầm trọng vì sợ bọn Cộng Sản tìm ra tôi và bắt lại là đời tàn. Cứ vài ba tháng tôi lén lút về thăm các con đang sống nhờ nơi nhà ông bà ngoại mấy cháu. Có một đêm nhằm lúc tôi về, tên công an khu vực đến xét hộ khẩu, tôi phải thoát ra cửa sau ẩn trốn cạnh chuồng gà. Ôi! thật là nhục nhã cho cuộc đời lính bại trận.

Trong thời gian đó vợ tôi luôn tìm đường dẫn tôi vượt biển để bảo toàn tánh mạng. Trong hoàn cảnh trốn chui trốn nhủi tôi bắt buộc phải vượt biển đơn thân độc mã đi trước. Thật là đau đớn không khác nào ra đi mà bứt tim gan để lại vì không biết đến bao giờ mới gặp lại vợ con? Nhưng tôi quyết phải ra đi để tìm con đường sống rồi sẽ tính tới việc gia đình sau.


Mối căm thù này không phải chỉ của riêng tôi mà cũng là của biết bao nhiêu chiến sĩ đồng đội của tôi trong cùng một hoàn cảnh. Tôi không bao giờ quên mối hận này được, cho nên mặc dù qua Mỹ đã lâu rồi và tôi rất thương nhớ quê hương, nhớ vài anh chị em ruột thị còn kẹt lại bên quê nhà, nhưng tôi thật sự không muốn trở về lúc này để nhìn thấy lại mặt mày bọn man ri mọi rợ và tôi cũng không muốn thấy lá cờ máu hôi tanh của bọn chúng.
Xuân, Hạ, Thu, Ðông, đã mấy lần?
Sống kiếp lưu vong, buồn quốc hận!
Mong ngày nào trở về quê cũ
Nước thanh bình, thỏa thích vui Xuân!?
(Trích bài thơ bốn Mùa Trên Quê Hương – N.M.Châu)


Sau hai lần ra Nha Trang mà chuyến đi không thành phải trở về. Lần thứ ba có chuyến vượt biển từ Cà Mau nhưng bị đình hoãn. Vợ chồng chúng tôi rất khổ sở vì chuyến đi bị đình hoãn nhiều ngày rồi lại bỏ cuộc, nên trong hai tuần lễ ăn ở chờ đợi đã hết tiền.

Vợ tôi phải bán mấy bộ đồ chúng tôi mang theo để sống qua ngày, đến cuối cùng không còn gì để bán ngoài bộ đồ đang mặc. Thật là thất vọng vô cùng! vì chẳng quen biết ai nơi đây mà xin xỏ hay vay mượn tiền, và lúc này cuộc sống của mọi nhà đều rất khó khăn. Tôi nói đùa với vợ tôi rằng: không lẽ chúng mình bán hết cả bộ đồ đang mặc và mặc đồ tắm biển mà trở về Sàigòn hay sao? Chúng tôi chỉ còn đủ tiền đi quá giang xe chở gạo đến nhà thờ Phụng Hiệp, Cần Thơ, để xin tiền bà chị tôi lúc đó đã đổi về làm bà Nhứt tại một nhà dòng tu nhỏ nơi đây để xin tiền mới có đủ mà mua vé xe chợ đen về đến Saigon. Thật là khốn cùng!


Cứ mỗi lần đi không được tôi quá thất vọng và chán nản vì phải tiếp tục cuộc sống âm thầm lén lút trên gác trọ với bao nỗi lo âu! Muốn tìm mảnh đất tự do để dung thân không phải là dễ dàng. Hai chữ “Tự Do” thật là quí giá vô cùng!

Vấn đề di chuyển vào những năm đó rất khó khăn vì xe đò bị kiểm soát và rất hạn chế. Trong những lần đi tìm đường vượt biển vợ chồng chúng tôi ngủ bến xe rất thường cũng như bao nhiêu hành khách phải nằm bến xe để dành ưu tiên “đăng ký” mua vé, nếu chậm trễ là hết. Muốn di chuyển từ Saigon ra Nha Trang hay từ Saigon xuống tỉnh cũng phải vất vả như thế.

Có những khi chúng tôi phải ngủ bờ ruộng hay ngủ gò mả vì không dám vào khách sạn dễ bị bọn công an chú ý. Tôi đã quen những cảnh ngủ bờ ngủ bụi gian khổ như thế này trong những năm chinh chiến, nhưng trong cái thế hào hùng của người của người lính trận đi hành quân diệt giặc. Bây giờ trong hoàn cảnh của một kẻ tù vượt ngục và vượt biển thật là nhục nhã ê chề. Tôi thật thương vợ tôi vô cùng, tội nghiệp và xót xa cho vợ tôi phải chịu cảnh vất vả, đắng cay như thế này.

Cuối cùng tôi đi được an toàn đến bờ biển Thái Lan trên một chiếc thuyền con chỉ dài hơn chín thước. Sau khi được tin tức của tôi từ đất Thái, vợ tôi đã yên tâm và rảnh tay tự một mình hướng dẫn và lèo lái chiếc ghe nhỏ dẫn dắt sáu đứa con thơ đến bờ biển Mã Lai bình yên vô sự.

Thật là một ơn phước lớn của Thượng Ðế đã ban cho gia đình chúng tôi! Thế là từ đây một thời hoạn nạn khốn khổ của gia đình đã qua. Chúng tôi cũng nghĩ rằng mưu sự tại nhân và thành sự tại Thiên. Chúng tôi rất mang ơn Thượng Ðế đã giúp gia đình chúng tôi được sớm đoàn tựu và đã ổn định cuộc sống nơi xứ người.

Nhưng ngày nay lại rủi thay! với hoàn cảnh hiện tại tôi không hiểu rằng khi đất nước thật sự được thanh bình và tự do dân chủ tôi có thể trở về lại quê nhà được không? Tôi xin ghi vài dòng thơ đơn giản nói lên một ước mơ ngày về thăm quê hương.

Nếu Tôi Về…
Nếu về, tôi xuống miền quê Cao Lãnh
Viếng mồ cha mả mẹ ngủ thiên thu
Ði trên đường đê, tìm ngôi trường cũ
Thăm lớp học vỡ lòng thời thơ ấu
Nếu về, tôi thăm Trà Vinh yêu dấu
Nhớ lại một thời thiếu niên lận đận
Sống đời côi cút, sống cảnh cơ bần
Lao động, học hành, mong được tiến thân
Nếu về, tôi thăm Gia Ðịnh, người thân
Tạ ơn anh, nuôi tôi sống an lành
Nhớ chị, thay mẹ dạy dỗ thành danh
Có một hành trang cho đời khôn lớn
Nếu về, tôi thăm đồi Tăng Nhơn Phú
Nơi đây được rèn binh thư, võ luyện
Giúp tôi trở thành một người lính chiến
Giữ yên bờ cõi, giữ vững giang san
Nếu về, thăm vùng chinh chiến gian nan
Tìm lại vết tích một thời oanh liệt
Tìm kỷ niệm vui buồn đời lính chiến
Và nhìn lại những danh lam thắng cảnh
Nếu về, tôi đến Dĩ An đất lành
Thăm các chiến sĩ địa phương anh dũng
Ðã cùng tôi diệt Cộng phỉ nằm vùng
Gặp đồng bào, thăm xóm làng thân ái
Nếu về, tôi sẽ lên miền Yên Bái
Thăm bạn tù nằm giữa núi hoang vu
Nơi bọn dã thú đày ải người tù
Chỉ vì cái tội giúp dân cứu nước
Nếu về, tôi đến Nghĩa Trang Quân Ðội
Tìm lại hình bóng Pho Tượng Tiếc Thương
Thăm những đồng đội gục ngã chiến trường
Tưởng niệm anh hùng bỏ mình vì nước
Những điều tôi muốn chỉ là mộng ước
Vết đạn thù làm đời tôi nghiệt ngã
Xe lăn bánh mỏi mòn trên đất lạ
Chỉ mong ngày về trong đống tro tàn!
CH Nguyễn Minh Châu
TÐ3 Soibien



Monday, August 14, 2017

NGUYỄN THỊ THANH HẰNG * TRƯƠC NGƯỠNG CỬA THIÊN ĐƯỜNG





Trước Ngưỡng Cửa Thiên Đường

Nguyễn Thị Thanh Hằng

Tôi bỏ xứ ra đi giữa một chiều thu Tháng bảy. Tôi cũng không nghĩ rằng có thể vượt thoát được ở lần cuối cùng này. Bao nhiêu lần ở trong nước, những miền duyên hải của Việt Nam gần như tôi đi qua hầu hết. Thời điểm gần cuối năm 1987. Những trại tị nạn ở các vùng Đông Nam Á chuẩn bị rục rịch đóng cửa. Những vùng biển của các tỉnh lại bị kiểm soát chặt chẽ. Tôi những người tưởng mình gần như chấp nhận cái định số của mình buông xuôi ở lại. Tình cờ một người bạn của đứa em tôi rủ rê hắn đi.
Lộ trình đi theo ngõ Campuchia. Ban đầu tôi cứ tưởng lộ trình đường bộ, vượt Trường Sơn qua đất Thái như nhiều người thường nói. Tôi cản hắn. Và thật sự em tôi cũng chả tha thiết mấy trong những toan tính này, Tôi tìm hiểu kỹ lại từ đứa bạn của em mình. Thật ra, lộ trình đường bộ là đi xe lên Châu Đốc, đến bến Hồng Ngự thuộc sông Mê Kông, ranh giới giữa Việt Nam và Cam Bốt, rồi đi tàu sang Nam Vang. Lộ trình kế tiếp sẽ đi lên tỉnh Battambang, một tỉnh của Cam Bốt ở gần biên giớ cách ngăn đất Thái. Cảng Kompungsom sẽ là nơi cuối cùng lên ghe vượt biển sang đất Thái. Thú thật ban đầu tôi cũng cảm thấy lo sợ với lộ trình này. Nhưng nghĩ lại thời gian không cho phép mình còn những lựa chọn trước khi quá muộn. Vả lại tôi cũng muốn thử thời vận lần cuối trước lúc chấp nhận thua cuộc. Bao nhiêu lần đi chẳng thoát, biết đâu lần này lại được. 

Coi như một cuộc thăm viếng nước ngoài. Biết thêm một nơi mới lạ cũng vui. Tôi quyết định điền thay em tôi vào chuyến đi này. Nếu tính thật chính xác, ngày rời Việt Nam và đặt chân lên đất Thái vừa đúng ba đêm hai ngày. Cho đến giờ này tôi vẫn còn nhớ như in. Cả một hệ thống hối lộ từ Việt Nam sang Nam Vang trải khắp lộ trình từ đường bộ cho tới bãi biển chẳng có gì trở ngại. Tôi cũng không tưởng tượng nổi bãi biển nơi ngồi đợi tàu, tôi đã chứng kiến ba chiếc ghe cập bến cùng một lúc dưới sự bảo vệ của du kích Cam Bốt tiễn lên tàu. Giống như một cuộc du lịch. Còn chưa kể những thủy thủ trẻ người nhưng già dặn trên biển. Cả một chuyến ghe hơn ba mươi mạng người chúng tôi chỉ có hai can nước uống loại hai mươi lít, và hai giỏ cam khoảng chừng trăm trái. Sau ngày trên tàu tôi mới hiểu chuyện. Một tháng có hơn mười ngày họ tổ chức vượt biển mướn chở người như vậy rồi lái tàu về. Lộ trình trên biển các thủy thủ nằm lòng như lộ trình trên bộ. 12 giờ đêm khởi hành từ cảng Kompungsom, 12 giờ trưa tàu đã bỏ neo trên hải phận Thái Lan. 

Họ chờ tới tối trời mới thả người vào đất liền. Nhìn các thủy thủ né tránh các tầu đánh cá, các tàu tuần dương của Thái Lan mới thấm phục cho sự lành nghề trên biển của nhóm thủy thủ trẻ này. Trời vừa sụp tối và cũng mất hai giờ chạy, tàu thả chúng tôi vào bờ. Bài đỗ người là một bãi lầy nên không thấy bất cứ chiếc ghe nào lảng vảng ở khu vực này. Như một bãi hoang. Ghe vừa mực nước ở ngang bụng, các thủy thủy đã hối thúc đám người chúng tôi nhảy xuống. Vài người còn có vẻ sợ sệt đã bị họ đẩy xuống lẹ làng rồi phóng ghe rú mất dạng. Cả nhóm người chúng tôi nhắm hướng rừng tràm và ánh đèn trước mặt tiến tới. Khoảng hai cây số. Chúng tôi cứ thi nhau bước vội trên bãi lầy cho đến khi có cảm giác chẳng bước được nữa. Nước thủy triều đã rút hết chỉ còn trơ bãi. Bùn lấy bám lên quần áo càng lúc càng nặng. Vài người đàn ông đã cởi hết quần áo chỉ còn trơ chiếc quần cụt cho nhẹ di chuyển. Bây giờ chúng tôi chỉ còn nhấc chân từng chút một. 

Đám phụ nữ chúng tôi vì quá mệt mỏi dưới sức nặng của bùn lầy bám vào quần áo, vài người quên hết cả xấu hổ cũng đã cởi bỏ hết quần áo chỉ còn lại đồ lót để cho dễ di chuyển. Mưa bắt đầu lất phất, gió rét thổi mạnh thấu xương, cộng thêm nước biển thấm lần vào người. Khu rừng tràm cách chúng tôi chưa quá hai cây số mà lết mãi còn thấy xa thẳm. Đến lúc quá mệt mỏi chẳng còn ai đủ sức di chuyển được nữa, đám phụ nữ chúng tôi tụm lại gần ôm nhau nằm luôn trên bãi lầy, cố tạo hơi ấm để chống chọi với cái rét cho đến sáng. May mắn cho chúng tôi, có vài người đàn ông cùng ghe đã lên được trên làng và tìm ra trại lính cách đấy không xa. Gần sáng, một toán lính người Thái dưới sự hướng dẫn của vài người đàn ông ra đến. Chúng tôi vẫn còn ngủ mê mệt trên bãi lầy. Chúng tôi được đưa vào trại lính bên cạnh con suối nhỏ để tắm rửa. Mặt mũi đầy bùn đất, hai tay cố che đậy thân thể chỉ còn mỗi đồ lót trên người. 

Dầu vậy cái thoát chết đã làm cho tụi tôi quên đi sự xấu hổ. Chúng tôi chỉ biết nhìn nhau cười. Mỗi người chúng tôi được phát một bộ quần áo rộng thùng thình quá khổ người, và sau đó được chuyển đến một trại tạm trú cách trại lính không xa mấy. Trại tên Klongjai giáp ranh phần biên giới đất Thái. Ở đây còn lại những dấu tích của những hố bom trong chiến tranh. Chúng tôi bị kiểm tra sơ khởi phần lý lịch. Sau đó mỗi người được cấp phát chăn màn. 

Căn trại tạm bợ trong một diện tích nhỏ khoảng chừng năm mươi thuốc vuông, chỉ một mái che và bên trong ngăn thành hai gian: một quán cà phê và một quán tạp hóa nhỏ. Ở đây những người tị tạn có thể đổi đô la hay vàng ra tiền Thái và mua tem thư liên lạc gia đình. Ngoài ra không có bất cứ một 
phương tiện thông tin nào khác. Buổi tối, mỗi người chúng tôi tự tìm một chỗ nghỉ lưng cho mình. Hầu như tất cả phải nằm ngoài trời. Tôi ở đấy được hai ngày và chứng kiến cả một làn sóng người ồ ạt đến. Gần như khoảng năm đến mười chiếc ghe mỗi ngày. 

Chúng tôi thường đứng trước của trại nhìn người, hy vọng trong số mới đến có người quen của mình. Trại hẹp và sức chứa tăng nhanh mỗi ngày đến khủng khiếp. Những chuyến xe tải người đến trại không đủ đáp ứng. Đến nỗi chính phủ Thái đâm hoảng phải tìm cách ngăn chặn bớt làn sóng thuyền nhân vào đất Thái mà họ gọi là những tổ chức buôn người này. Trại thứ hai tôi được chuyển đến là trại Panat Nikhom và cũng là trại cuối cùng quyết định vận mạng chúng tôi. Ở đây là một trại tập trung người tị nạn và đúng tiêu chuẩn nhất so với các trại nhỏ trên đất Thái. Phái đoàn các nước thường xuyên đến đây để phỏng vấn thuyền nhân và qui chế tị nạn. Diện tích trại hơn nửa cây số vuông, có trường học nhà thờ,chùa chiền, chợ quán, bưu điện, bệnh viện... được bao bọc bởi một 
hàng rào lợp tôn cao hơn ba thước ngăn cách bên ngoài trại. 

Trại phân biệt ra nhiều lô xếp theo thứ tự A, B, C...và đánh số. Mỗi lô chứng hai mươi mét vuông, chỉ có mái tôn che, không vách. Mỗi người tự tìm phương tiện ngăn chia cho mình một chỗ ngủ dựa theo tiêu chuẩn; Độc thân sẽ là 1mx3, và được giám sát bởi một trưởng lô là thuyền nhân do trại trưởng Thái Lan chỉ định. Trách nhiệm của lô trưởng là phát thức ăn, nước uống, nước tắm rửa và chia phiên các thuyền nhân làm vệ sinh nhà cầu và khu vực quanh lô của mình. 

Vấn đề an ninh thì được một nhóm thuyền nhân khác là những người đã ở lâu trong trại ( Có người ở đây gần mười năm ) dưới sự chọn lựa từ ban chỉ huy trại, gọi là trật tự viên theo dõi mọi sinh hoạt của thuyền nhân. Ai đã từng ở qua trại này chắc chắn thấy cái tàn bạo, sự lạm dụng uy quyền và dữ dằn của những thuyền nhân đội lốt mang danh là trật tự viên này. Tôi được chia về lô mang mẫu tự L9 và xếp chỗ ngủ chung với chị Nguyệt, một chị độc thân lớn hơn tôi khoảng vài tuổi. Tôi gọi đây là một ổ ngủ của chúng tôi. Chị đã ở đây hơn năm năm và đã bị phái đoàn các nước bác đơn qui chế tị nạn nhiều lần. Những người cùng chuyến ghe tôi ai nấy tạm yên, bây giờ mỗi người tự kết nhóm, ăn uống và sinh hoạt chung dựa theo điều kiện kinh tế mỗi người. Tôi chẳng dám ra nhập vào nhóm nào. Tôi tự biết thân phận mình. Bao nhiêu lần vượt biển không thành tiền mất tật mang. Chuyến đi cuối cùng này gia đình cũng phải mượn bà con để thanh toán lệ phí. Tôi lại chẳng có bất cứ người bà con nào ở nước ngoài để nhờ viện trợ. 

Chỉ còn cầu may vào vài người bạn học cũ mà đến nay vẫn chưa bắt được liên lạc. Năm phân vàng 
cuối cùng của tôi mang theo đã đổi ra từ trại Klongjai, một ít dùng vào việc báo tin cho gia đình, liên lạc bạn bè, một ít mua những linh tinh cần thiết...Số tiền còn lai quá ít ỏi lúc ấy lại phải mua thêm các vật dụng nấu nướng, mà tôi cũng lo lắng cho những ngày sắp tới không biết phải xoay xở làm sao nữa. Tôi nhập trại đùng vào ngày đầu tuần và cũng là ngày lãnh thực phẩm. Tiêu chuẩn lương thực cho một đầu người trong một tuần gốm 4 kg gạo, 3 kg chất đốt làm bằng than đá, vài bó rau và khoảng chừng 1 kg cá khô, thêm một ít muối. Thực phẩm chỉ có chừng ấy, chỉ đủ ăn một ngày. 
Những ngày còn lại các thuyền nhân phải tự lo liệu lấy. 

Thật ra sau này tôi được biết, Cao Ủy Liên Hiệp Quốc cấp tiêu chuẩn cho mỗi người tị nạn giá trị 50 đô la mỗi tháng. Việc cắt xén tài khoản này không biết đi vào chính phủ Thái Lan hay ban điều hành trại.Chỉ biết là với tiêu chuẩn này, các người tị nạn nếu không có thân nhân nước ngoài viện trợ sẽ dễ rơi vào hoàn cảnh khốn nạn nhất. Thái Lan được xếp loại là một trại tồi tệ nhất trong vùng Đông Nam Á thật chẳng sai tí nào. Tiêu chuẩn thực phẩm một đầu người của tôi quá ít ỏi nếu phân chia đơn lẻ. Trưởng ban đề nghị tôi lãnh chung luôn phần của chị Nguyệt cho tiện việc phân chia. Vô hình chung chị và tôi trở thành một nhóm nhỏ xếp vào loại nghèo trong trại. Buổi trưa, nắng chiều xuống mái tôn nhà gây sức nóng hừng hực. 

Cái nóng như nung người của đất Thái không khác thua gì ở Việt Nam. Chị Nguệt vẫn chua thấy về. Chị đã đi đâu từ mờ sáng. Tôi ngồi bên góc bếp riêng của chị đã có sẵn, chọn một ít cá khô và lặt một mớ rau để chuẩn bị làm canh. Loại rau của Thái trông giống  như rau dền xứ mình nhưng có mùi vị hơi chát. Tôi nêm thêm một ít muối vào canh rồi nhấc xuống và bắt đầu thổi cơm. Cơm vừa chín tới thỉ tôi thấy dáng chị Nguyệt đang gánh nước trở về. 

Chị đặt đôi gánh đấy nước bên góc nhà nơi làm chỗ tắm rửa và nhìn quanh. Có lẽ chị muốn tìm thực phẩm của chị. Tôi lên tiếng: - Chị tìm thực phẩm của chị à? Trưởng lô đã chia phần em và chị ở đây rồi. Hai tay vừa lau những giọt mồ hôi còn đọng trên má, chị bước vào ổ ngủ và ngồi xuống bên cạnh tôi: - Cám ơn em! Em đã nấu cơm rồi à? Tôi trả lời: - Dạ vâng! Chị rửa mặt rồi dùng cơm luôn thể. Đã trưa rồi mà chẳng thấy chị về, đành mượn bếp chị nấu đại cho hai người. Xin lỗi chị nhé! Chị nhìn tôi và cười. Cái cười trông đôn hậu và dịu dàng. Chị nói: - Có sao đâu em! Em cứ tự nhiên. 

Chị bận quá! Em giúp chị như vậy là tốt rồi. Chị phải cám ơn em mới đúng. Chúng tôi ngồi ăn cơm, thức ăn đã được bày trên tấm nylon vụn bên góc bếp. Thực ra chỉ có món canh rau cá khô duy nhất. Bữa an nghèo và đạm bạc của hai kẻ mồ côi. Không thấy một chút thịt hay cá tươi như những nhóm khác cùng lô. Ăn xong chị Nguyệt dành phần rửa chén. Tôi quét dọn ổ ngủ và trải tấm nhựa xanh làm chiếu cho hai chị em nghỉ lưng. Trời vẫn còn nóng. Bên hàng rào tôn, vài người thập thò canh nhóm trật tự để rình mua đá lạnh hay những vật dụng khác từ bên ngoài vòng rào. Luật lệ trại cấm ngặt sự mua bán qua cách này. Ai vi phạm bắt được sẽ bị cạo đầu và giam tù ba ngày không phân biệt nam 
nữ. Đôi khi còn bị đánh đập nữa là đằng khác. 


Nhưng vài người vẫn cứ tiếp tục. Họ cắt những miếng tôn nhỏ thành góc vuông để tiện việc mở ra và gấp lại khi mua bán hàng hóa. Nhóm tay sai ban trật tự thỉnh thoảng vẫn bắt gặp và bắt giam. Nhưng 
người ta vẫn liều lĩnh. Bởi có lẽ dễ hiểu, giá bên ngoài trại rẻ gấp hai lần so với bên trong. Ban quản lý trại cố tình làm như vậy để bán giá cắt cổ từ cá cửa hàng bên trong trại, có lẽ là của thân nhân hay 
gia đình họ. Trời bắt đầu kéo từng cụm mây xám cuốn về bao quanh trại. Gió hiu hiu. Đã dịu bớt đi cái nóng và trời đang chuẩn bị chuyển mưa. Tôi nhìn sang bên chị Nguyệt. Chị đã ngủ từ bao giờ. 

Vài hàng nút áo của chị bật ra. Một vòng ngực trắng căng đấy và no tròn đang phập phồng theo nhịp thở. Khuôn mặt trái xoan, sống mũi cao và hàng lông mi cong vút. Phải nhìn nhận chị có một vẻ đẹp đến man dại, ngoại trừ làn da mặt hơi đen có thể do dãi dầu mưa nắng. Tôi nhìn ra ngoài sân, vài người chạy vội đi gom những quần áo phơi bên ngoài trên các hàng dây quanh trại. Mưa càng lúc 
càng nặng hạt. Tiếng mưa gõ trên mái tôn những âm thanh lộp độp và đều đặn nghe đến buồn phiền. Mưa kéo dài hết cả buổi chiều. Tôi chuẩn bị cho bữa cơm tối.

Chị Nguyệt cũng đã thức dậy và lấy một ít gạo ra vo. Mưa đã bớt nặng hạt. Tôi mồi lửa và đốt than đá. Tôi lấy thức ăn lãnh buổi sáng treo lên vách bếp đem xuống. Cúng vẫn bộn cũ xoạn lại. Nhưng có chút ít thay đổi. Bó rau còn lại để dành cho ngày 
mai, chỉ nướng thêm vài con cá khô nữa cho bữa tối. Ăn uống và dọn dẹp xong thì quanh trại cũng đã lên đèn. Chị Nguệt lấy chiếc đèn dầu con khơi lại tiêm và đốt lên. Mưa lúc này đã dứt hẳn. Trời dễ chịu hơn. Hai đứa tôi nằm bên nhau và nhìn ra ngoài trời đêm. Chị gợi chuyện trong đôi mắt chớp buồn: - Lâu lắm rồi chị mới có một bữa ăn chung như thế này. Mình nghèo quá chẳng có thân nhân viện trợ, chẳng ai muốn kết bạn. Đi về và mỗi bữa ăn cũng chỉ thui thủi một mình. Hôm nay có Hằng 
ở chung chị có bạn tâm sự đỡ buồn. Tôi hiểu cảm giác và tâm trạng chị. 

Giống như suy nghĩ của tôi bây giờ. Tôi quay qua nhìn chị và thắc mắc hỏi: - Chị ở đây lâu quá rồi sao chưa có nước nào nhận chị? Chị không có cách gì để xin đi định cư nhân đạo à? Chị nhìn lên trần 

nhà và nén tiếng thở dài trả lời tôi: - Đã hết cách Hằng ạ! Phái đoàn Hoa Kỳ không nhận vì gia đình chị không phải diện có làm việc với chế độ cũ và bản thân chị cũng vậy. Còn các nước nhân đạo khác thì năm ba tháng họ mới đến đây một lần, mà mỗi lần họ chỉ nhận có năm bẩy chục người là hết mức. Trước chị thì còn gần cả ngàn người chưa được gọi tới thì làm sao đến mình. Ngưng một chút chị Nguyệt nói tiếp: - Hằng biết không! Hơn năm năm nằm ở đây, chị cứ đếm thời gian qua dần. Bao nhiêu người đến rồi đi, chị chặng nhớ hết. Mà riêng mình thì vẫn nằm tại chỗ. Chị chán nản cùng cực. Chị cũng đã tìm hiểu xem có thể trở về Việt Nam hay không nhưng nghe chừng chưa có chính sách 
này. Gia đình chị ở tận trong quê, miệt Cái Răng, Cần Thơ. Chị chỉ có mẹ và một đứa em trai. 


Buôn bán cực khổ quá mà vẫn thiếu trước hụt sau. Cố gắng dành dụm lắm mới đi thoát được, hy vọng là ra được nước ngoài còn có thể cứu cả gia đình. Ai ngờ lại như thế này. Biết trước như vầy chị thà chẳng đi còn hơn. Tôi chạnh lòng xót xa dùm chị và liên tưởng đến mình. Chưa biết sẽ ra làm sao. Ba tôi là sĩ quan chế độ cũ, còn chút hy vọng. Tôi nhìn kỹ lại chị. Năm năm trước lúc đến đây chị cũng ở tuổi tôi bây giờ. Không biết chị còn chôn vùi tuổi thanh xuân của chị ở đây cho đến bao giờ. Tôi tò mò hỏi chị: - Em thấy chị có nhan sắc. 

Sao không tìm xem ai thích hợp có thể thành hôn rồi đi theo họ. Em cũng nghe có nhiều trường hợp như vậy mà! Chị cười, trong cái cười đó tôi thấy chứa đựng nhiều xót xa. Chị nói với tôi: - Chị cúng đã. Trước đây chị cũng biết điều đó. Chị cũng đã tìm hiểu vài ba người, nhưng cuối cùng chẳng ra gì. Họ chỉ lừa dối để lợi dụng xác thịt của mình. Khi được rồi thì họ chẳng giúp gì mình. Họ sợ rắc rối trong vấn đề định cư của họ. bây giờ chị đã chán và chẳng dám tin ai nữa. Chỉ đánh phó mặc cho trời! Tôi hỏi thêm chị: - Rồi chị có liên lạc với gia đình không? Chị trả lời:: - Có liên lạc nhưng không thường xuyên lắm.: - Gia đình chị như thế nào?: - 

Cũng vãn vậy nhưng đời sống càng lúc càng khó khăn. Chị cũng chẳng dám kể cho mẹ chị nghe mọi chuyện ở đây. Lâu lâu chị cũng cố để dành chút tiền gởi về cho mẹ.: Tôi trố mắt ngạc nhiên nhìn chị và hỏi: - Sao chị có tiền? Bạn chị cho à? - Làm gì có! Chị làm gì có may mắn ấy. Chị gánh nước thuê và giặt quần áo cho mấy người vượt biên giàu có quanh trại đó mà! Em không thấy buổi sáng chị mất xác đến trưa rồi sao? Chị trả lời tôi như thế sau cái cười. Thảo nào tôi chả thấy chị ngay cả lúc lãnh thực phẩm.: Mỗi một đánh đổi đều có cái giá phải trả. Ai cũng có nỗi khổ riêng. Tôi phục cho ý chí chịu đựng và lòng hy sinh của chị. Tôi nằm suy nghĩ miên man và ngủ đi lúc nào chẳng hay....: 

Tôi ở trại thấm thoát đã gần sáu tháng. May mắn cho tôi, tháng thứ hai tôi đã bắt liên lạc với một chị bạn. Chị ấy hứa giúp tôi mỗi tháng 50 đô la chi dúng trong thời gian ở trại. Và tôi cũng hứa sau này định cư được tôi sẽ trả lại cho chị. Tôi đã được làm “Form”, chuyển sang cơ quan JVA của Hoa kỳ 
phỏng vấn, và đã chuyển sang INS tuyên thệ. Chỉ còn chờ danh sách ngày lên đường. Tôi và chị 
Nguyệt vẫn còn ăn chung với nhau. Tất cả cũng nhờ chị ấy. Nếu thời gian đầu không có chị ấy mình không biết phải xoay xở đời sống bằng cách nào. Chị đã lo cho đời sống của hai chúng tôi trên những giọt mồ hôi của chị. Hôm nhận được tiền của chị bạn hứa gửi cho, thú thật tôi đã mừng như bắt được vàng. 

Tôi chưa có dịp trả ân tình của chị Nguyệt. Sau khi đổi tiền, tôi ghé chợ và mua một cân thịt heo quay, món chị Nguyệt ưa thích mà từ khi đến trại này chị chưa được nếm qua. Mua hai ổ bánh mỳ và 
thêm một cân thịt heo, vài cân cá tươi, một ít bột ngọt, mắm muối, đường linh tinh...và một chai nước ngọt. Cũng vừa gần hết 20 đô la. Tôi quay về ổ ngủ của chúng tôi và chuẩn bị nấu nướng. Chị Nguyệt còn bận đi gánh nước và giặt quần áo thuê chưa về. Tôi cắt hết tất cả thịt heo quay. Cá tươi thì kho chung với thịt heo tươi. Nêm nếm vừa đủ để ngon hơn thường ngày. Mọi khi, nếu chị nguyệt làm công có tiền cũng mua về chút ít thịt tươi, tôi thì tiết kiệm để dành cho những ngày thiếu thốn thức ăn, chỉ dám bỏ nhiều nước và thêm muối vào. Nước ăn thì cạn mà thịt thì chẳng dám ăn nên ăn hoài không hết thịt. 

Chị Nguyệt thường trêu tôi “ bà tiên bán kẹo phỉnh”.: Đến trưa chị Nguyệt đi làm về. 

Chị vô cúng ngạc nhiên trước bữa ăn quá ư thịnh soạn chưa bao giờ có của chúng tôi. Tôi kể chị nghe, hai đứa tôi vui lây và ăn một cách ngon lành đến ứ cả bụng. Chúng tôi đã có một ngày thật là vui vẻ để bỏ quên hết mọi phiền toái và lo nghĩ sau lưng. Tôi đã ở đến tháng thứ chín vẫn chưa có danh sách lên đường. Đời sống chúng tôi đã tương đối đầy đủ nhờ vào số tiền chị bạn viện trợ mỗi tháng. Tôi dành chị nguyệt phần lo ăn uống hàng ngày để chị nhẹ gánh lo cho mẹ. Nhưng chị vẫn cứ tất bật. Làm như đời sống phải có công việc. Tôi vẫn thường xuyên ra bưu điện mỗi ngày để dò danh sách và ngày lên đường. Và cũng không quên dò tìm tên chị. Hy vọng có một quốc gia nhận đạo nào đó gọi chị để phỏng vấn. Cũng có nhiều người được gọi tên nhưng chị thì vẫn mù mịt. Chị Nguyêt 
vẫn bận bịu với công việc của chị. Tôi thấy hình như chị làm nhiều việc hơn trước. 


Chị ít có mặt bên cạnh tôi như trước đây. Có nhiều đêm cũng chẳng thấy chị về. Lắm khi tò mò tôi muốn hỏi chị nhưng thấy chị có vẻ lo nghĩ nên lại thôi. Một sáng ngày cuối tuần không có danh sách mới nên tôi không ra bưu điện dó “list”. Chị Nguyệt vẫn còn nằm ngủ vùi bên cạnh. Mọi khi vào giờ đó chị đã thức dậy lao vào công việc. Tôi nghĩ chị ngã bệnh. Mấy hôm tối cứ thấy chị nôn mửa liên tục. Tôi khuyên chị nên nghỉ làm việc và đi bệnh viện khám bệnh. Chị cứ ậm ừ cho qua rồi thôi. Tôi muốn đưa chị đi nhưng chị lại từ chối. Tôi chẳng biết chị có tự đi hay không nữa...Sau đó tôi ra chợ mua một ít thịt, vài viên thuốc cảm và về náu cháo cho chị. 

Tôi đánh thức chị dậy, ép chị ăn cháo và uống thuốc. Chị vẫn còn thấy mệt mỏi và không muốn nuốt 
nổi. Buổi trưa rồi chiều tôi lại ăn cơm một mình. Chị Nguyệt chẳng ngồi dậy nổi ngoại trừ lúc chị cần 
uống nước. Tôi bước ra sân đi một vòng và đứng nhìn trăng. Trời không sáng mấy. Một cặp tình nhan đang ngồi bên nhau tâm sự dưới góc cột đèn. Tôi quay vào ổ ngủ và nằm xuống cạnh chị Nguyệt. Chị vẫn trăn trở. Tôi nghe tiếng chị thở dài.: Giữa khuya, tôi giật mình thức dậy bởi tiếng la náo động bên hướng nhà vệ sinh. Có người tự tử. Tôi nhìn sang bên cạnh. 

Không thấy chị nguyệt đâu, có lẽ chị đã đi ra ngoài để xem rồi. Tôi xỏ dép và bước lần theo hướng có tiếng la. Xe cấp cứu đang tới và vài người đang cắt dây gỡ một phụ nữ treo cổ trên nóc nhà vệ sinh xuống, đặt nằm trên một chiếc băng ca. Tò mò, tôi cố lách đám đông và len lỏi vào tận bên trong để 
nhìn. Tôi suýt rú lên. Người nằm trên chiếc băng ca không ai khác hơn là chị. Chị Nguyệt của tôi. 
Đôi mắt chị nhắm nghiền và thân thể dường như cứng đờ. 

Chiếc xe cấp cứu chở chị đi rồi mà tôi vẫn còn đứng bất động như trời trồng. Tôi quay về lại nơi ở và thẫn thờ ngồi xuống. Gối mền bên chỗ của chị đã xô lệch. Tôi xếp gọn lại. Vô tình một góc của một bì thư lộ ra trong bao gối. Không nén nổi tò mò tôi mở ra đọc. Hai lá thư nắm xếp gọn và thời gian cách nhau ba tháng. Một lá thư với ngày tháng cũ của người em trai viết cho chị báo tin mẹ bệnh nặng và đang cần tiền thuốc men, bệnh viện. Lá thư thứ hai mới nhận chỉ một tuần, báo tin đã nhận đủ 1000 Đô la của chị gởi về. Tôi chợt hiểu ra lý do chị thường xuyên vắng mặt nhiều lúc sau này. 


Chị đi làm kiếm tiền gởi về cho mẹ. Chị hy sinh đến nỗi quên cả giữ gìn sức khoẻ của mình. Tôi cảm đống và bất giác nước mắt trào quanh trên mặt. Tôi đặt những tồ thư lại chỗ cũ nằm xuống trằng trọc 
cho đến sáng.: Trời còn tờ mờ tôi đã vội thức dậy và tìm lên bệnh viện. Thật lâu tôi mới biết tin chị từ một người y tá Việt Nam cũng là một người tị nạn trong trại. Chị y tá cho biết không cứu được chị Nguyệt vì chị yếu quá, hình như chị đang có thai trong bụng. 

Thêm một ngỡ ngàng đến với tôi. Tôi không tin là như vậy được, bởi nếu chị có quan hệ tình cảm với ai chị đã chẳng giấu giếm tôi. Tôi cũng đã thường xuyên khuyến khích chị điều này mà. Và nếu có 
thật như vậy thì đây cũng không phải là cách giải quyết. Bất giác tôi liên tưởng đến những người lính Thái trong trại thường đến gặp chị sau này. Tôi cũng nghĩ chỉ là những quan hệ bình thường. Thêm vào số tiền quá lớn trong trại mà chị đã gởi về cho mẹ. Không ngờ chị đã xa lầy. Đâu có ai ngờ rằng...Chỉ có trường hợp này mới có thể đưa chị đến quyên sinh sai lầm như vậy. Tương lai chị quá 
mờ mịt. Cả một gánh nặng gia đình trên vai. Chị đã đến trước ngưỡng cửa thiên đường nhưng cánh 
cửa không rộng mở để chấp nhận cho chị vào. Chị lại vấp thêm một lần lầm lỡ nữa. Còn tôi, tôi đã có may mắn hơn chị. 

Cửa thiên đường đã chấp nhận tôi bước vào. Cả một tương lai đang đợi tôi trước mặt. Riêng chị, chị đã quyết định quay lưng lại ngưỡng cửa thiên đường đã từ chối mình để chọn một lối rẽ khác. Ở đó không có sự lừa dối, những lo lắng, ưu tư hay buồn phiền. Chị đã dùng phần đời còn lại của chị để hy sinh cho gia đình trước lúc làm một cuộc buông xuôi. Tôi thẫn thờ quay ra khỏi bệnh viện. Sương mai tan dần. Nắng bắt đầu lên. Tôi nghe âm thanh vụn vỡ của tiếng guốc khua gõ đều nhịp buồn trên 
đất. Những ngày còn lại chờ đợi lên đường, tôi không còn có ai bên cạnh. Tôi đã tìm cho mình một lý \giải đúng nghĩa về chị. Dẫu chưa biết chị quyết định đúng hay sai. Chỉ có một điều cuối cùng an ủi chị theo một triết lý xưa cũ: “ Có lẽ tất cả do số mạng.” Và có thể sẽ có một thiên đường nào khác 
ngoài thiên đường nhân gian sẽ đón nhận chị bước vào chăng? Thấp thoáng dáng chị đâu đây trong 
trí tưởng tượng của tôi. Tôi thấy khoé mắt mình cay và chừng như nhạt nhòa...
 ::: Nguyễn Thị Thanh Hằng:::