Tuesday, December 27, 2016

GS LE ĐÌNH CAI * TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN KHOA HUẾ


GS LE ĐÌNH CAI * TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN KHOA HUẾ


 Trường Đại học Văn Khoa Huế (1957 - 1975)

Những kỷ niệm về các vị Khoa Trưởng Trường Đại học Văn Khoa Huế (1957 - 1975)
GS LÊ ĐÌNH CAI



Năm 1962, sau khi đỗ tú tài II ban văn chương Anh, tôi ghi danh vào lớp Dự Bị Văn Khoa và lớp Cử Nhân Luật I ở Huế (1962-1963). Về sau tôi chuyên tâm về ngành Văn Khoa hơn. Trong suốt 4 năm học ở trường Văn Khoa Huế từ 1962 đến 1966, tôi đã có dịp gần gũi với vị Khoa Trưởng chính thức đầu tiên là giáo sư Lê Văn Diệm(1960-63). Kế đó, thầy Huỳnh Đình Tế ( 1963-1964). Giáo sư Nguyễn Thế Anh (1964-1965). GS Lâm Ngọc Huỳnh lên thay từ niên khóa 1965-1966.
 Tôi rời Trường đại học Văn khoa Huế vào mùa hè 1966 để theo học Ban Cao Học Sử tại đại học Văn khoa Sài Gòn và đã hoàn tất văn bằng này vào tháng 4 năm 1968. Vì đại học Văn khoa Sài
 Hình GS Lê Đình Cai
Gòn cho tới 1968 vẫn chưa mở lớp Tiến Sĩ, nên tôi không có dịp tiếp tục học lên, phải xin dạy học tại đại học Văn khoa Đà Lạt, trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam và đại học Văn khoa Huế từ mùa thu 1968 cho đến tháng 4 năm 1975. Năm 1971, tôi đổi về dạy tại đại học Văn khoa Huế khi giáo sư Lê Thanh Minh Châu đảm nhiệm chức vụ Viện Trưởng đại học Huế. Và giai đoạn này, giáo sư Nguyễn Quới đã thay GS Lâm Ngọc Huỳnh lên làm Khoa Trưởng Văn khoa(1970-71). Cuối năm 1971, GS Quới rời chức vụ vì đã đắc cử Nghị Sĩ nhiệm kỳ 1971 - 1976, nên GS Dương Đình Khôi lên thay thế làm Khoa Trưởng Văn khoa Huế cho đến tháng 4 năm 1975. GS Dương Đình Khôi là thầy học cũ của tôi ở lớp Sử Tây Phương và tôi được may mắn trở lại trường Văn khoa Huế để cộng tác với vị thầy cũ trong cương vị thành viên của giảng huấn đoàn từ niên khóa 1971-1975.
Sau đây, tôi cố gắng ghi lại một số hình ảnh, tâm tư và hồi ức về các vị Khoa Trưởng mà tôi được may mắn gần gũi trong tư cách một người học trò cũ (1962 - 1966) và trong cương vị thành viên của giảng huấn đoàn khi tôi thuyên chuyển từ đại học Đà Lạt về Huế (1971-75)

* * *
Đã hơn nửa thế kỷ trôi qua. Thời gian đã xóa nhòa những rêu phong của một thời trai trẻ, nhưng những tháng ngày sôi động của một thời sinh viên nào dễ có ai quên… Nay tuổi đã quá "thất thập", nên chuyện đời bây giờ thì nhớ nhớ quên quên ngay cả những gì mới xảy ra ngày hôm qua hay tuần trước. Huống gì chuyện của một thời cách đây hơn 50 năm trên miền đất cố đô yêu dấu… Nhớ sự kiện đã là khó, nhớ ngày tháng của sự kiện lại càng khó hơn. Viết lại mà không có một tài liệu để tham khảo, để đối chiếu, quả không dễ gì. Nói chuyện với quý vị đàn anh, những lớp sinh viên tiên phong của đại học Huế để nhờ khai sáng thêm về những ngày xa xưa ấy thì người viết chỉ đón nhận được những suối nguồn khô cạn của ký ức. Chẳng hạn khi hỏi những đàn anh khóa đầu tiên của đại học Văn Khoa ai là người đã nhận lãnh văn bằng cử nhân văn chương đầu tiên của đại học Văn Khoa Huế thì thầy Nguyễn Văn Lâu, nguyên hiệu trưởng Trường Quốc Học Huế, tốt nghiệp đại học Sư phạm khóa đầu tiên, chỉ cười mà đề nghị người viết nên thử hỏi lại GS Đoàn Khoách xem sao. GS Đoàn Khoách năm nay 86 tuổi đã rất vui khi tiếp chuyện chúng tôi qua điện thoại. GS Khoách cho biết, GS Quới chính là người sinh viên văn khoa đầu tiên nhận lãnh văn bằng cử nhân (chuyên về văn chương Pháp). Những người xuất thân từ khóa đầu tiên thuộc sư phạm và văn khoa, một số đã là thành viên của giảng huấn đoàn như GS Nguyễn Quới, GS Nguyễn Đức Kiên, GS Nguyễn Văn Châu, GS Trần Qúy Phiệt, GS Đoàn Khoách… Những vị này về sau có người đã đảm nhiệm những chức vụ quan trọng chẳng hạn GS Nguyễn Quới là Khoa Trưởng ĐHSP rồi Khoa Trưởng ĐHVK, GS Nguyễn Đức Kiên, Khoa Trưởng ĐHSP, GS Đoàn Khoách, Phụ tá Khoa Trưởng ĐHSP, chẳng hạn.
Trở lại những ngày đầu thành lập Viện đại học Huế với sắc lệnh số 45/GD do Tổng thống Ngô Đình Diệm kí ngày 01/03/1957 và theo Nghị định số 95GD/NĐ cũng kí ngày 01/03/1957, thì Viện đại học Huế đã tổ chức được các lớp học sau đây cho niên khóa đầu tiên 1957 - 1958:
- Năm I Cử Nhân Luật Khoa
- Năm I Năng Lực Luật Khoa
- Năm I Cao Đẳng Sư Phạm
- Năm I Cán Sự Y Tế và Điều Dưỡng
- Năm I Nữ Hộ Sinh Quốc Gia
- Năm Dự Bị Văn Khoa
- Năm Dự Bị Cao Đẳng Mỹ Thuật
- Ban Toán Học Đại Cương.

Theo ghi nhận của GS Nguyễn Văn Trường, vị Khoa Trưởng đại học Văn khoa Huế đầu tiên là GS Lê Văn Diệm (theo Dòng Việt, số 4, 1997, tr.120; theo Kỷ Yếu ĐHSP Huế, 1957 - 2007, tr.17). Cũng trong Dòng Việt (sđd), trang 22a có ghi rõ danh sách các vị Khoa Trưởng, ĐHVK Huế: GS Lê Văn Diệm, GS Huỳnh Đình Tế, GS Nguyễn Thế Anh, GS Lâm Ngọc Huỳnh, GS Nguyễn Quới, GS Dương Đình Khôi. Nhưng tài liệu này không nói rõ thời gian tại chức của các vị ấy. Vào lúc này đây, người viết không có đầy đủ các văn kiện bổ nhiệm các vị Khoa Trưởng để tham khảo. Trong điều kiện hạn hẹp của tư liệu (nếu ở trong nước, công việc này chắc chắn dễ dàng hơn), người viết cố gắng dùng phương pháp đối chiếu, loại suy, tiếp cận phỏng vấn… chẳng hạn hỏi thăm các anh chị đậu cử nhân để xem thử vị khoa trưởng nào đã ký tên trên văn bằng để tạm thời ghi nhận được mốc giới thời gian của các vị ấy trong khoảng thời gian từ 1957-1975. Sự ghi nhận về thời gian này có thể đúng có thể sai vì không dựa được trên các văn bản chính thức, nên cần phải được hiệu đính khi điều kiện cho phép.
Trước khi tuần tự ghi lại vài nét về các vị Khoa Trưởng Văn Khoa Huế , người viết có một thắc mắc là liệu GS Lê Văn Diệm có phải là vị Khoa Trưởng đầu tiên của Văn Khoa Huế hay không? Để trả lời cho câu hỏi này, người viết đã xin được gặp (qua điện thoại) GS Lê Thanh Minh Châu nguyên Viện trưởng, GS Nguyễn Đình Hoan, nguyên Tổng Thư Ký, GS Đoàn Khoách và đã được các vị cho biết là trong thời gian đầu, từ 1957 - 1960 mọi quyết định liên hệ đến Văn Khoa đều xuất phát từ Linh mục Viện Trưởng Cao Văn Luận. Nói đúng ra, trong thời gian này, Linh mục Luận đã đảm nhiệm quyền Khoa Trưởng của đại học Văn Khoa Huế trước khi GS Lê Văn Diệm được chính thức bổ nhiệm từ niên khóa 1960 - 1963. Vậy người viết xin bắt đầu từ Linh mục Cao Văn Luận trước.

1. Linh mục Cao Văn Luận (1957 - 1960):



                                                   Hình Linh mục Cao Văn Luận

Ngài đảm nhiệm quyền Khoa Trưởng cho đến khi GS Lê Văn Diệm về nước. Linh mục Cao Văn Luận được chính thức bổ nhiệm làm Viện trưởng ĐH Huế qua sắc lệnh ký ngày 01/03/1957. Niên khóa 1957-58, lớp dự bị Văn khoa được tổ chức và những năm kế tiếp cho đến 1960 Ngài đã ra những chỉ thị trực tiếp liên hệ đến ngành Văn Khoa. Tiểu sử của Ngài mọi người dễ tìm thấy và ngay trong tập kỷ yếu này rất nhiều bài viết về cuộc đời của Ngài. Khi theo học lớp DBVK niên khóa 1962-63, cá nhân tôi không có may mắn được học với Ngài, dù Ngài là vị giáo sư triết học rất nổi tiếng vào thời ấy. Năm 1963, những biến động do phòng trào sinh viên tranh đấu Huế đã đẩy đưa đời sống văn hóa của đại học Huế đi vào bế tắc, vượt khỏi tầm kiểm soát của vị Viện trưởng đầy lòng nhân ái này. Tháng 8/1963, Cha Luận bị huyền chức. Tháng 11/1963, đảo chánh lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm, thì Ngài được mời trở lại điều hành Viện ĐH Huế nhưng rồi cũng chỉ 8 tháng sau, Ngài lại bỏ Huế ra đi. Lần này, không phải do chính quyền mà lại "do những thành phần năng động nhất của Huế đuổi Cha đi. Cha đi bỏ lại đằng sau tất cả của đời Cha. Cha đi vì đã hoàn tất một nhiệm vụ, hay Cha đi vì bản chất phản bội cố hữu của con người." (Nguyễn Văn Trường, Kỷ Yếu, ĐHSP Huế, 1957 - 2007, tr.21).
Sau khi rời Huế, Ngài về Sài Gòn và được mời giảng dạy tại trường ĐHVK và DHSP. Năm 1966, tôi về SG theo học chương trình cao học Sử học và cộng tác thường trực với nhật báo Sống của Chu Tử, Tự Do của GS Phạm Việt Tuyền, Chính Luận của BS Đặng Văn Sung. Dịp này tôi có một bài báo viết về Linh mục Cao Văn Luận và sự đóng góp quý giá của Ngài cho bước đầu của viện ĐH Huế, đăng trên các tờ báo nói trên. Cha Luận đọc bài này và đã gọi điện thoại mời tôi ghé thăm Ngài ở số 32 Đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, Sài Gòn. Tôi được gần gũi Ngài kể từ dịp này. Tháng 4 năm 1968, tôi đệ trình luận văn "34 năm cầm quyền của Chúa Nguyễn Phúc Chu 1691 - 1724" để nhận lãnh văn bằng Cao học Sử học tại ĐHVK Sài Gòn. Và chính Cha Luận là người đã giới thiệu tôi lên dạy tại Viện ĐH Đà Lạt . Khi đến Hoa Kỳ, theo diện HO, tôi được biết là linh mục Cao Văn Luận đã qua đời vào tháng 7 năm 1986 tại Petaluma thuộc bang California.

2. GS Lê Văn Diệm (1960 - 1963):

(Ghi chú về trường hợp thiếu hình của GS Lê Văn Diệm:

Do tác giả chưa sưu tập được hình của GS Lê Văn Diệm qua các môn sinh, đồng nghiệp hoặc thân hữu, hy vọng hình của GS Lê Văn Diệm sẽ được bổ túc sau này trong lần tác giả hoàn chỉnh bài viết ghi lại các kỷ niệm về các vị Khoa Trưởng Đại Học Văn Khoa Huế trước tháng 4-1975. Lúc đó, tòa soạn Khai Thác Thị Trường sẽ đăng tải lại bài viết cập nhật nhất)

GS Diệm từ Hoa Kỳ về Huế bắt đầu giảng dạy tại ĐHVK và đảm nhiệm chức vụ khoa trưởng chính thức trong khoảng 1960 - 1963. Thầy Diệm tốt nghiệp tiến sĩ Văn chương ở Hoa Kỳ, em ruột của bà GS Bùi Xuân Bào (đã từng làm Khoa Trưởng VK Sài Gòn và Thứ Trưởng Bộ GD). GS Diệm còn có một người em trai là BS Lê Văn Điềm cũng dạy tại ĐH Huế. Cá nhân người viết là học trò thầy Diệm liên tiếp 2 năm 1962,1963 về môn văn hóa Anh-Mỹ. Thầy Diệm người gốc Huế, dáng cao và tầm vóc cân đối, bấy giờ thầy khoảng 40 tuổi, độc thân, rất hiền từ, tận tâm, rất yêu thương học trò, nhưng rất dễ nổi giận. Đặc biệt, thầy có thói quen mà tôi nhớ mãi,đang giảng bài, thỉnh thoảng thầy bỏ sách xuống bàn, hai tay xóc quần lên rồi thản nhiên dạy tiếp. Cuối năm 1963 thì thầy đổi về dạy tại ĐHVK Sài Gòn và sau nghe thầy đảm nhiệm chức vụ Khoa Trưởng ĐHVK Cần Thơ (?).

Thầy Lê Văn Diệm có dịp qua thăm Hoa Kỳ và ghé lại San Jose khoảng thời gian đầu năm 2000 thì phải. Chúng tôi đã mời thầy đi dùng cơm tối tại nhà hàng Nha Trang cùng với sự hiện diện của bác Lê Hữu Dãn, chánh VP đại diện ĐH Huế tại Sài Gòn và Tiến Sĩ Lê Hữu Phú. Buổi gặp gỡ lúc đó thật đầm ấm, đầy ắp tình thầy trò sau một thời gian dài xa cách vì vận nước nổi trôi. Bốn người có mặt hôm đó, nay ba người đã khuất bóng.

3. GS Huỳnh Đình Tế (1963 - 1964):

                                       Hình GS Huỳnh Đình Tế


 Tốt nghiệp tiến sĩ ở Hoa Kỳ chuyên ngành Ngữ học Anh (Ph.D in Linguistics), về nước khoảng 1963. Khuôn mặt thầy Tế thật phúc hậu, dáng người đẩy đà, không cao lắm nhưng cân đối. Khi thầy về nước và chuyên dạy cách phát âm về Anh văn cho sinh viên, tôi không có dịp được học với thầy vì tôi đã quyết chí đi về ngành Sử học và hy vọng sẽ tiến xa hơn trên lãnh vực này. Tuy nhiên, tôi còn giữ được một kỷ niệm thân thương về thầy, không bao giờ quên được mỗi lần nhớ lại những ngày tháng sinh viên tuyệt đẹp của đời người. Số là niên khóa 1963-64, tôi theo học năm thứ hai không chuyên cần lắm, nửa tuần đầu theo học lớp chứng chỉ "phương pháp Sử học", nửa tuần sau từ chiều thứ tư, tôi phải ra Quảng Trị, về Diên Sanh dạy học. Tuy nhiên, năm thứ hai đó, tôi cũng đã đậu kỳ

thi viết và chuẩn bị vào vấn đáp. Thật là xui xẻo khi vị giám khảo hỏi tôi: "Theo anh, thì cần thời gian bao lâu để phán đoán một biến cố lịch sử?" Câu này tôi nghĩ bụng là trúng tủ của mình rồi và trả lời liền: "Thưa thầy, con nghĩ là cần ít nhất 50 năm khi ảnh hưởng của nhân vật lịch sử không còn trực tiếp lên biến cố nữa thì sự phán đoán mới tương đối khách quan." Vị giám khảo nhìn tôi mỉm cười "Anh thuộc bài đấy chứ!" rồi nói tiếp: "Học là phải đi đôi với Hành. Thế anh đã "Hành" chưa?" "Anh đã phán xét một chế độ chưa đủ thời gian 50 năm, rồi anh "Hành" ngay khi đang còn là sinh viên" (Tôi hiểu ý của vị giám khảo, muốn đánh hỏng tôi vì giai đoạn này, tôi đã tham gia phong trào sinh viên chống lại chính quyền đã bị lật đỗ tháng 11/1963).

GS giám khảo sau đó ra dấu tôi rời phòng thi. Tôi buồn vô hạn, hỏng vấn đáp mà lại hỏng vào kỳ hai làm sao mà không buồn được. Tôi tìm xuống văn phòng Khoa Trưởng ở dưới lầu và xin gặp GS Khoa Trưởng Huỳnh Đình Tế, tôi trình bày nỗi oan của mình và xin thầy can thiệp. GS Tế vỗ vai tôi thông cảm và thầy nói "Anh Cai ạ, tôi xin chia sẻ nỗi buồn của anh nhưng thật tình tôi không làm gì được cả. Kể cả GS Viện trưởng hay Khoa Trưởng như tôi, không có ai có thể can thiệp vào quyền quyết định tối thượng của GS Giám khảo được." Tôi chào thầy và rời văn phòng. Tôi còn nhớ như in giờ khắc đó thuộc về buổi chiều, đèn đường đã bắt đầu tỏa sáng và tôi đã đi bộ ra vườn hoa Hàng Đoát, đối diện với tư dinh của Cha Viện trưởng. Tôi đi dưới cơn mưa lâm râm cuối hè trong trạng thái bước đi như kẻ mộng du. Lần đầu tiên trong đời tôi, đau niềm đau hỏng thi, sau khi đã trải qua kỳ thì tiểu học rồi thi vào đệ thất, thi đíp lôm (Trung học đệ nhất cấp), Tú Tài bán, Tú Tài toàn, rồi dự bị văn khoa, đều vào trót lọt ,thế mà tôi đã hoàn toàn khựng lại trước ngưỡng cửa kỳ thì năm thứ hai này. Tôi cứ ngồi thao thức trên ghế đá công viên, không thiết gì ăn uống, rồi thiếp đi lúc nào không biết, cho đến khi chiếc xe tuần cảnh của Cảnh Sát đổ xịch và tôi bị đánh thức dậy giữa đêm: "Tại sao cháu lại nằm ở đây mà không về nhà? Cháu biết bây giờ đã quá khuya rồi không?" (Một giọng nói ôn tồn của bác cảnh sát viên lớn tuổi, đưa tôi trở về thực tại.)
-"Thưa bác, cháu đã hỏng kỳ thi đại học chiều nay, cháu buồn quá, không muốn về nhà nữa". Cảm thông với hoàn cảnh của tôi, bác cảnh sát xem sơ qua thẻ sinh viên mà tôi đã trình, biết địa chỉ của tôi ở thành nội, bác cho xe chở tôi về nhà sau khi gọi cậu bánh mì dạo mua cho tôi một ổ để lót lòng. Thật, một kỉ niệm nhớ mãi trong đời.
Trở lại GS Huỳnh Đình Tế, tôi được thầy Nguyễn Văn Lâu, nguyên Hiệu Trưởng trường Quốc Học Huế cho biết là GS Huỳnh Đình Tế khi về dạy tại Đại Học Văn Khoa và Sư Phạm Sài Gòn, được Bộ Giáo Dục mời làm Giám Đốc Nha Công tác Quốc tế (Department of International Relations) vào năm 1970-71. Nha nầy về sau đổi thành Sở và Thầy Lâu đã đảm nhiệm chức vụ Chánh Sự Vụ Sở nầy từ năm 1974. Từ đó, tôi không còn gặp lại thầy Tế nữa. Theo anh Hoàng Ngân Hà, người sinh viên cũ của thầy cho biết là GS Huỳnh Đình Tế đã qua Hoa Kỳ và dạy học tại trường ĐH Long Beach. Nghe đâu, thầy đã qua đời tại thành phố Norwalk, California vào ngày 18/08/2003, thọ 74 tuổi.

4. GS Nguyễn Thế Anh (1964 - 1965):





 Hình GS Nguyễn Thế Anh

 Người gốc miền Bắc, tốt nghiệp tiến sĩ Sử học tại Pháp, về Huế giảng dạy môn Sử học tại các lớp cử nhân Sử. Tôi theo học với thầy 2 năm từ 1965-66. Thầy dáng người dong dỏng cao, không mập cũng không ốm. Thầy giảng bài rất tận tâm và soạn bài rất cẩn thận. Vào giờ học của thầy, tôi ghi bài đến mỏi cả tay từ đầu giờ cho đến khi chuông reo mới chấm dứt. Thầy ít nói ít cười nên đa số sinh viên cảm thấy ít gần gũi.

Năm 1966, tình hình chính trị sôi động ở miền Trung đòi hỏi một vị viện trưởng mới, tướng Hoàng Xuân Lãm, tư lệnh quân đoàn 1, đánh điện về Bộ xin đề cử GS Nguyễn Thế Anh lên làm Viện Trưởng sau khi đã tham khảo ý kiến của một số thân hào nhân sĩ ở Huế.


GS Nguyễn Thế Anh đã lên làm Viện Trưởng ĐH Huế kể từ niên khóa 1966-67 cho đến khi GS Lê Thanh Minh Châu được Tổng Thống đề nghị và Thượng Nghị Viện VNCH chuẩn thuận để về Huế đảm nhiệm chức Viện Trưởng thay thế GS Nguyễn Thế Anh vào năm 1970. Tôi có một kỷ niệm đáng nhớ là trong kỳ thi Tiến sĩ Sử học khóa đầu tiên (1972 - 1975) gồm 7 nghiên cứu sinh (2 người dạy học tại ĐHVK Sài Gòn, 1 người là Khoa Trưởng ĐHVK Cần Thơ, 1 người là Tổng Thanh Tra giám sát viện, 1 người dạy tại ĐH Cao Đài, 2 người dạy ĐH Huế là GS Trương Ngọc Phú và cá nhân tôi), GS Nguyễn Thế Anh làm chánh chủ khảo . Kỳ thi này có những vấn đề tế nhị, vì thế mà GS Châu Long, thành viên hội đồng giám khảo, đã tuyên bố từ chức. Cũng nên biết rằng, trường ĐHVK Sài Gòn vẫn chưa cấp phát văn bằng Tiến sĩ cho bất cứ nghiên cứu sinh nào kể cho đến tháng 4 năm 1975. Được biết GS Nguyễn Thế Anh hiện đang sống cùng gia đình tại Paris, Pháp. Chúng tôi từ ngày ra nước ngoài đến nay vẫn chưa một lần gặp lại.

5. GS Lâm Ngọc Huỳnh (1965 - 1970):
Cùng một trường hợp giống như như GS Lê Văn Diệm ở trên, thiếu hình)
Người gốc miền Bắc, về giảng dạy tại Văn khoa Huế sau khi tốt nghiệp Tiến sĩ Xã hội học ở Pháp. Thầy dáng người thấp, mắt đeo kính cận rất nặng, ăn nói nhỏ nhẹ, nghiêm trang nhưng rất hiền từ. Vợ thầy là cô Trương Tuyết Anh cũng là người miền Bắc, dạy môn Anh văn cho tôi ở lớp dự bị văn khoa. Thầy về nước từ 1962 thì phải? Vì năm đó bà Trương Tuyết Anh, bắt đầu dạy học cho các sinh viên năm đầu đại học. Thầy Huỳnh chính thức đảm nhiệm chức Khoa Trưởng văn khoa khi thầy Anh lên làm Viện Trưởng.

Tôi được học môn xã hội học với thầy trong chứng chỉ "Nhân chủng học" của năm thứ 4 (1965- 1966) để hoàn tất văn bằng cử nhân giáo khoa Sử học. Thời gian thầy Huỳnh làm Khoa Trưởng thì tôi ra tranh cử chức chủ tịch BĐD sinh viên Văn khoa và đã đắc cử. Dịp này, chúng tôi cũng đã giúp được cho thầy nhiều vấn đề liên quan đến sinh viên, nhất là giai đoạn mà nhiều cuộc đình công và bãi khóa thường xuyên xảy ra. Khi qua Mỹ tôi được nghe là thầy cô nay đã định cư ở Mountain View (CA) gần thành phố San Jose, nơi gia đình tôi đang sinh sống. Tôi cố gắng tìm cách liên lạc với thầy cô nhưng không ai biết được địa chỉ cả. Chúng tôi có nghe nói, thầy đã qua đời cách đây 4-5 năm về trước. Thật tiếc, chúng tôi vẫn cố gắng tìm cách liên lạc với cô Trương Tuyết Anh, phu nhân của thầy để mời về tham dự ngày họp mặt của gia đình ĐH Huế vào ngày 02/08/2015 vừa qua, nhưng cuối cùng vẫn không ai tìm được số điện thoại của cô.
6. GS Nguyễn Quới (1970 - 1971):



  Hình GS Nguyễn Quới
Người gốc Quảng Ngãi thì phải, dáng người trung bình, khuôn mặt thông thái. Thầy có nụ cười hiền hòa, dễ gần gũi. Theo như GS Đoàn Khoách, thì GS Qưới là người sinh viên Văn khoa Huế đầu tiên nhận lãnh văn bằng Cử nhân Văn khoa (giáo khoa Văn chương Pháp) tại ĐH Huế. Người sinh viên đầu tiên ấy, trong những ngày mới thành lập viện nay là Khoa Trưởng ĐHVK (1970-71) sau khi thôi làm Khoa Trưởng ĐHSP (1968-70).

Thầy Quới rất giỏi tiếng Pháp ngay từ hồi nhỏ vì thân phụ nguyên là giáo sư Pháp văn của trường Quốc Học Huế. Thầy Quới còn là GS Anh văn của Tiểu chủng viện Phú Xuân, Huế (1956-58) theo lời kể của cựu dân biểu Nguyễn Đức Cung, người học trò cũ của Thầy. Thầy đã được đi du học Pháp để lấy văn bằng Tiến sĩ và trở lại Huế để phục vụ như ước nguyện của thầy và dưới sự động viên của Linh mục Cao Văn Luận. Đầu năm 1971, cá nhân tôi về dạy học tại ĐHVK Huế và được làm việc với GS Quới trong tư cách là giảng huấn đoàn văn khoa, tôi cảm thấy quý mến thầy ngay từ buổi gặp gỡ đầu tiên.
Có điều này tôi muốn kể lại về thầy Quới. Số là đầu xuân năm 1971, trường Văn khoa có ra số báo xuân với sự đóng góp bài vở của giáo sư và sinh viên, thầy Qưới cho mời tôi vào văn phòng Khoa Trưởng, thầy nói: "Anh Cai, tôi nhờ anh việc này, anh viết cho tôi lá thư của thầy Khoa Trưởng chúc Tết toàn thể giáo sư và sinh viên trong dịp xuân này để đăng vào tờ Đặc San Văn Khoa." Tôi hơi ngỡ ngàng không dám nhận. Thầy Quới vỗ vai tôi và nói "Tôi biết anh Cai viết báo, viết văn hồi còn học ở Sài Gòn. Anh cố gắng giúp tôi." Tôi đã không dám từ chối trước sự chân thật của thầy khi thầy nói thêm "Nếu viết bằng tiếng Pháp thì tôi viết dễ dàng và nhanh lắm nhưng viết bằng tiếng Việt thì tôi không quen." Chuyện này tôi kể lại chỉ muốn chứng minh sự chân thật của vị Khoa Trưởng mà mình rất kính mến dù thời gian cộng sự với thầy chưa được 1 năm, thì thầy rời chức vụ để đi đảm nhiệm vai trò Nghị sĩ của Thượng Viện VNCH vào cuối năm 1971 tại Sài Gòn ( vả lại ,trong một buổi họp mặt thân mật của gia đình Văn khoa, thầy Qưới đã cười, nhìn tôi và đã kể lại chuyện này cho các đồng nghiệp nghe). Tôi không được tin tức gì của thầy từ ngày ra hải ngoại. Gọi điện thoại hỏi thăm GS Khoách thì rất may cô Thanh Tâm, phu nhân của thầy và là cô giáo của nhà tôi đề nghị tôi gọi điện thoại hỏi thăm chị Thân Thị Nhân Đức, nguyên giáo sư trường Đồng Khánh thì biết được tin tức thầy Quới. Nhờ vậy, tôi được biết rằng thầy Quới đã qua định cư tại Pháp và đã qua đời cách đây 3 năm. Xin kính dâng lên thầy một nén hương tưởng nhớ của một người cộng sự cũ hồi ở ĐHVK Huế.
7. GS Dương Đình Khôi (1971 - 1975):
Hình GS Dương Đình Khôi

 
Vị Khoa Trưởng Văn khoa sau cùng cho đến tháng 4 năm 1975 là GS Dương Đình Khôi. Khi còn theo học chương trình cử nhân Sử học (1962-66), tôi đã học với thầy Khôi hai năm cuối về môn Lịch sử Cổ đại Hy Lạp - La Mã. Thầy có dáng dấp của nhà thông thái nhưng lại hết sức bình dị, khuôn mặt thầy hiền từ lộ rõ bên ngoài. Thầy rất dễ thân thiện và dễ gần gũi. GS Lê Thanh Minh Châu qua điện đàm cho biết thêm về thân thế của thầy Khôi. Thầy là con thứ của BS Dương Đình Liễu rất nỗi tiếng ở Huế, em ruột của BS Dương Đăng Bảng. GS Khôi du học và lấy bằng Tiến sĩ ngành Sử học tại Đại học Belgique. Về nước, thầy dạy ở Văn khoa Huế và đảm trách vai trò Tổng thư ký viện Đại học Huế, đồng thời kiêm nhiệm Khoa Trưởng Văn khoa Huế từ 1971 đến tháng 4 năm 1975. Tôi may mắn là học trò cũ của thầy. Hai năm cuối của chương trình cử nhân, tôi thường đạt điểm cao nhất về môn Cổ Sử Hy-La của thầy. Mối tương quan thầy trò tốt đẹp từ đó đã cho phép tôi được gần gũi thầy nhiều hơn khi tôi trở lại trường cũ trong cương vị thành viên giảng huấn đoàn, phụ trách các lớp cử nhân ngành Sử học.
Thường cuối tuần, thầy cô hay mời vợ chồng chúng tôi đến nhà dùng cơm tối ở cư xá giáo sư, phía đối diện với trụ sở Viện Đại Học Huế trên đường Lê Lợi. Tình cảm thầy trò sâu đậm đã khiến mối tương quan giữa thầy và tôi không còn khoảng cách. Những năm tháng sau hiệp định Paris (1973), tình hình miền Nam càng ngày càng phức tạp. Áp lực tấn công quân sự của Cộng Sản Hà Nội ngày càng mạnh lên các tỉnh địa đầu, thầy thường đem nỗi lo âu đó thảo luận cùng tôi. Đến khi tình hình vùng địa đầu quá nghiêm trọng, dân chúng Huế bắt đầu di tản vào Đà Nẵng, cá nhân tôi cố gắng tìm thầy Khoa Trưởng để thăm hỏi về gia đình thầy ra sao. Mà lạ, trong suốt gần tháng trời ở Đà Nẵng, tìm tới trụ sở tiếp cư tạm thời của Viện Đại Học Huế, tôi không bao giờ gặp được vị thầy hiền từ, kính mến của tôi nữa. Rồi, tôi tìm cách về Sài Gòn bằng đường biển trên chuyến tàu Pioneer của Hoa Kỳ, ở đó tôi đã gặp lại thầy Viện trưởng Lê Thanh Minh Châu (cuối tháng 3 năm 1975). Sau tháng tư đen 1975, tôi đưa gia đình trở lại Huế để trình diện viện đại học theo lệnh của ban Quân Quản thành phố Sài Gòn. Tại văn phòng trường Đại học Văn khoa Huế, tôi không gặp được GS Dương Đình Khôi.Người trách nhiệm điều hành trường Văn khoa lúc này là chị Thái Thị Ngọc Dư, tiến sĩ địa lý học ở Pháp về dạy tại đây từ 1972.

Rồi ngày 09/06/1975, tôi bị công an Huế đến nhà đọc lệnh bắt khẩn cấp đưa đi cải tạo.

Đầu năm 1982, sau gần 7 năm tù tội, tôi được trả tự do và sau đó về cư ngụ tại vùng kinh tế mới ở Phú Cường, Đồng Nai để đoàn tụ với vợ con và gia đình. Mãi sau này, khi tới Hoa Kỳ năm 1994, qua các vị GS của Viện, các bạn sinh viên cũ, tôi mới được biết tin tức về giáo sư Khôi. Thầy cô lúc đó vẫn còn ở lại Huế và cuộc sống khá chật vật, khó khăn. Điều an ủi là cháu Dương Đình Khánh, con trai của thầy cô học rất giỏi theo ban chuyên toán của thành phố Huế. Cháu vào khoảng tuổi con trai của tôi, mặt mũi khôi ngô tuấn tú. Thường vào dịp đầu năm, vợ chồng chúng tôi đều đến chúc Tết thầy cô vào ngày mùng 1. Cô Hạnh Phước, phu nhân của thầy, cũng là cô giáo dạy lý hóa của nhà tôi hồi ở trường Đồng Khánh, Huế. Lúc được lì xì, cháu Khánh lí nhí cám ơn và chúc Tết lại với những câu nói rất ngây ngô, thật dễ thương . Đó là hình ảnh mà cá nhân tôi nhớ mãi. Bây giờ tuổi của cháu chắc cũng đã trên 45 rồi.
Cách đây cũng đã khá lâu, chúng tôi nghe tin thầy đã qua đời ở Huế. Tôi lặng người nhớ lại những ngày tháng cũ ở trường Văn khoa, những ngày tháng làm việc với thầy, nhớ lại khuôn mặt thông thái và hiền từ của thầy, thế mà giờ đây thầy không còn nữa… Một nén hương lòng dâng lên vị thầy cũ và là vị giáo sư khoa trưởng văn khoa Huế sau cùng của miền Nam.
* * *
Tính từ 1957 đến tháng 4 năm 1975, trường ĐHVK Huế đã trải qua 7 đời Khoa Trưởng. Từ LM Cao Văn Luận, GS Lê Văn Diệm đến vị cuối cùng là GS Dương Đình Khôi kéo dài trong khoảng thời gian 18 năm ngắn ngủi. Thời gian hiện diện trong chức vụ Khoa Trưởng của các vị ấy không dài nhưng đã đóng góp cho quốc gia biết bao nhân tài đáng nể trọng, đã tạo cho Huế đô một sắc thái đặc thù trong giao tiếp giữa các nền văn minh đông tây. Là một sinh viên Huế của đầu thập niên 1960, rồi là một thành viên giảng huấn đoàn Văn khoa Huế vào đầu thập niên 1970, lúc nào tôi cũng nghĩ đến Viện đại học Huế như là một biểu tượng của miền Trung, và cảm thấy thực sự tự hào là thành viên của đại gia đình Đại Học Huế.

San Jose, những ngày vào đông… 2015

No comments: