Sunday, November 6, 2016

TRUYỆN TÙ & VƯỢT BIÊN =CHU TẤT TIẾN =TRUYỆN SƠN TRUNG =TẢN ĐÀ

NGUYỄN XUÂN TƯỜNG * HÀNH TRÌNH BIỂN ĐÔNG

Chuyện Kể Hành Trình Biển Đông : Mắt Thuyền
Nguyễn Xuân Tường Vy, Cập Nhựt 2009/11
LTS : Sau các truyện ngắn gây nhiều chú ý, Nguyễn Xuân Tường Vy trở lại với thể ký mà bút ký đầu tay Puerto Princesa City đã kể về trại tỵ nạn Palawan. Trong bút ký tiếp theo, vẫn bằng giọng văn tự nhiên và truyền cảm, tác giả ghi lại rõ hơn kinh nghiệm chung của trên một triệu thuyền nhân đã vượt thoát qua đại dương, trong giông tố, trong nỗi lo âu thường trực trước một lòng biển sâu. Nếu ký là thể loại của chân thật và của hiện thực quá khứ, Nguyễn Xuân Tường Vy thành công khi gửi trao đôi mắt ván thuyền của quê hương mình. Tạp Chí Hợp Lưu.
Biển lặng những ngày sau. Tôi vẫn không đủ can đảm nhìn xuống lòng đại dương sâu hút. Đôi mắt thuyền vẫn ở đó. Trong thâm tâm tôi biết đôi mắt ấy vẫn dõi theo tôi từ khi rời khỏi mặt nước. Biển trong lòng tôi đã lặng. Cả những lượn sóng sôi. Nhưng đôi mắt vẫn ở đó trong sâu tận đáy lòng. Đôi mắt làm bằng ván của quê tôi, của Tam Kỳ tuổi thơ, của những gốc phi lao rì rào. Những gốc cây trơ gầy vậy mà chúng cũng ghép lại được để chở mang tôi ra xa, vượt những ngọn sóng, vượt những lượn triều, vượt trời nước mênh mông để khi tôi quay nhìn lại thì Tam Kỳ đã biến mất. Quê tôi không biến mất, Tam Kỳ chưa biến mất. Tam Kỳ gửi theo tôi đôi mắt ván thuyền.
Đó là năm 1983, khi tôi bước chân xuống chiếc thuyền chòng chành ở mấp mé bờ nước.
Thuyền đi đã bao lâu, tôi không thể nhớ. Tôi thức giấc giữa lòng ghe. Chung quanh im phắc. Ánh sáng lờ mờ từ nắp ghe hắt xuống những thân người nằm ngồi ngả nghiêng.
Các chị tôi ngồi dựa lưng vào thành thuyền, lờ đờ. Mùi nôn mửa xú uế trùm kín vùng không gian hẹp. Ngộp thở, tôi lại muốn nôn. Nhưng bao tử thắt chặt co bóp. Không còn gì để nôn ra. Tôi bò về phía có ánh sáng. Không ai la mắng khi tôi bò lên thân họ, dẫm lên mặt họ. Tôi đưa đầu lên khoảng sáng. Mùi gió mặn thốc vào mặt làm tôi tỉnh táo. Biển nhám hiện ra lờ mờ trong vũng sương. Trời và nước cùng xám đục. Hình dáng vài chiếc ghe hiện lên xa tít, lung linh mờ ảo như buổi sáng ban mai đang êm dịu.
Đêm qua, chúng tôi rời bến Bình Triệu. Thuyền xoáy đuôi tôm từ bên này bờ sang bên kia thì mắc cạn. Những giây phút chờ nước lên trở thành vô tận. Lúc đó tôi còn hồi hộp, tim đập thình thịch vì cách nhổ bãi chớp nhoáng. Hầm tàu tối om. Mọi người co rút lặng lẽ. Người theo đạo Công Giáo lẩm nhẩm đọc kinh. Người theo đạo Phật lầm thầm tụng niệm. Lúc chiều tôi để ý nhiều người xách theo tượng Phật và cả nhang đèn. Con người cầu cạnh Thượng Đế những khi yếu đuối nhất. Sao không yếu đuối khi tất cả diễn ra mong manh vừa thúc đẩy mỗi chúng tôi dấn bước vào định mệnh.
Từ buổi chiều nhập nhoạng, chúng tôi theo người dẫn đường đến tụ tập tại điểm hẹn tại một ngôi nhà thờ trong khu cư xá Tam Đa. Gia đình tôi và các anh chị họ được đưa đến đầy đủ. Thánh lễ chiều vừa xong, giáo dân lục tục ra về. Chúng tôi vào nhà thờ cầu nguyện. Đức Mẹ giang tay an ủi. Chúa Giêsu cúi nhìn từ thánh giá. Trời tối mau. Cơn mưa rả rích từ chiều vẫn chưa dứt. Ở bên ngoài, tôi thấy thêm nhiều tốp người đứng lố nhố. Họ không phải giáo dân ở đây. Như chúng tôi, họ chờ giờ khởi hành. Tôi thấy Má bắt đầu bồn chồn. Đứa em nhỏ tám tháng của tôi khóc leo nheo. Đám đông đứng lớ ngớ, tay xách nách mang. Trong chiếc giỏ bàng ở chân cột có hình Quán Thế Âm và bát nhang.
« Không biết họ đi đâu ? Hôm nay làm gì có chầu ».
Một con bé đang nhảy dây nơi sân đứng lại hỏi han. Không ai trả lời cho nó. Mắt tôi nhìn sững vào vòng dây quay đều trên sân. Tôi cũng hay cột hai tà áo dài để nhảy dây ở sân nhà thờ sau buổi lễ. Đám bạn tôi, Bích, Yến, Mai, Tươi. Chúng nó có thắc mắc tìm tôi sau buổi lễ chiều nay ? Chúng nó có biết tôi đang ở đây, chờ một chuyến đi để phải xa chúng nó mãi mãi ?
Bóng tối lan nhanh. Mưa vẫn phớt mặt Chúa qua lớp tôn chắn kêu rào rào. Chúng tôi đứng ép vào hiên nhà thờ. Ông Từ nhà thờ bảo chúng tôi vào xin phép cha xứ. Nhà thờ đã đến giờ đóng cửa. Tôi thấy hai cánh tay Chúa chịu nạn vươn dài khỏi lỗ đinh rướm máu. Hai cánh cửa nhà thờ đóng lại. Không thể chờ ở đây, chúng tôi phải đi đâu đó khỏi khuôn viên nhà thờ. Đám người lục tục xách giỏ lên tay. Ai cũng nhìn nhau lo lắng. Ba và bác Niếp tới kịp ngay lúc ấy. Không cần hiệu lệnh, chúng tôi vội theo sát chân hai ông. Đám người bước hỗn loạn, tất tả trong con hẻm nhỏ ra bến đò. Mỗi người thúc nhau đi mau. Tôi xách đôi dép da chạy theo Ba. “Họ đi đâu mà đông dữ vậy ?". “Chắc đi ăn đám giỗ”. Cánh đàn ông trong hãng cưa đứng bên kia đường láo xáo hỏi. Không ai trả lời. Chúng tôi cắm đầu chạy. Mưa rơi lất phất lên tóc tôi, lạnh tanh trên trán, rồi lạnh buốt da mặt. Mặc, tôi cứ chạy. Thuyền neo tại bến đò. Một mảnh ván xiêu bắc ngang làm cầu. Ba tôi đứng bên kia đầu ván, kéo tay chị em chúng tôi và đẩy từng đứa xuống hầm. Tôi rớt xuống vùng không gian tối mù, đôi dép văng khỏi tay lúc nào không rõ. Chung quanh tôi, tiếng người và dép guốc rơi lộp bộp. Trong bóng tối, chị em chúng tôi tìm nhau. Má và mấy đứa em nhỏ không ở chung khoang thuyền. Tôi chỉ tìm thấy tay của các chị. Không có cảm giác nào an toàn hơn được nắm tay người thân của mình trong bóng tối lo âu, mịt mùng đầy bất trắc. Thuyền nổ máy. Tiếng vang rền, dòn tan. Mùi dầu, khói. Thuyền rú ga phóng ra khỏi bến, nhưng chỉ được ít phút, bỗng khựng lại. Máy thuyền tạch tạch một lúc rồi tắt lịm. Không khí đông cứng. Ngột ngạt. Mọi tiếng thì thầm bặt câm. Chúng tôi nín thở. Tôi nghe tiếng nước vỗ róc rách vào mạn thuyền ; tiếng mưa rơi long tong lên mặt ván gỗ trên đầu. Thỉnh thoảng, có tiếng ghe máy sè sè vọng lại. Tim tôi vồng lên hồi hộp. Thời gian trôi chậm nặng nề. Nắp hầm đột nhiên mở rộng. Bác Niếp nói vọng xuống, thuyền mắc cạn, phải chờ nước lên. Mọi người tuyệt đối giữ im lặng. Hầm thuyền vẫn tối om. Mồ hôi tôi đổ đẫm lưng áo. Lưng con gái sớm biết sợ. Tôi khua tay tìm bàn tay chị. Chị đang lần hạt bằng những đốt ngón tay ẩm. Ngón tay chị lạnh ngắt. Một lát, có tiếng ì oạp của mái chèo, tiếng lục cục của gỗ va vào nhau. Chúng tôi hồi hộp chờ đợi. Nhất định là công an đến kiểm tra.
“Anh Uyển ơi, về đi. Trên bờ họ biết cả rồi. Họ còn biết thuyền đang mắc cạn nữa”. Tôi nhận ra giọng nói của chú Tôn. Chắc chú lọt lại trên bờ khi thuyền vội vã rời bến khi nãy. Tim tôi lại dội lên thình thịch. Trên bờ họ biết cả rồi. Chẳng mấy chốc, công an sẽ đến. Trời ơi ! Nhóm tổ chức toàn là những người bạn tù của ba. Cái tội “Nguỵ" chưa ráo, tội vượt biên sẽ mang họ về đâu. Tôi tưởng tượng đến lúc ba bị bắt đưa vào trại cải tạo lần nữa. Hiện ra trước mắt tôi đồi núi Nghệ Tĩnh khô cằn. Cả vùng chỉ trồng toàn sắn là sắn. Ba ốm nhom trong bộ quần áo lao động. Lưng áo ba đóng triện đỏ. Ba chữ Tù Cải Tạo đỏ lòm như cổng chào. Tiếng mái chèo ì oạp xa dần. Tôi thầm mong ba nghe lời chú Tôn lên ghe vào bờ. Nhưng hai cha con chú quyết định ở lại. Ba cũng ở lại. Tôi lại tìm tay chị. Chị vẫn lần hạt bằng những đốt ngón tay ẩm. Tôi lầm thầm đọc kinh, nghĩ đến cánh tay Chúa Giêsu chịu nạn. Tay Chúa có lạnh giá ? Lưng Chúa có đổ mồ hôi ? Dù Chúa ở trong nhà thờ đóng cửa, chị em tôi vẫn cầu nguyện. Tôi lần hạt hết Năm Sự Thương, Năm Sự Mừng, Năm Sự Vui mà nước vẫn chưa lên. Tôi chưa bao giờ lần hạt nhiều đến như vậy.
Tôi giật mình bởi những tiếng súng nổ. Thuyền tăng tốc độ. Máy rú gầm, phóng lao. Chị em tôi nắm chặt tay nhau kinh sợ. Thuyền bốc thêm người ở 2 nơi. Địa điểm thứ nhất lên được cả. Địa điểm thứ 2 bị công an gác bến đuổi bắn. Chúng tôi phóng chạy, bỏ lại một số người. Sau này tôi được biết vì thuyền mắc cạn 2 giờ đồng hồ, công an gác bến đổi phiên. Toán công an sau không được ăn chia nên ra lệnh bắn. Hầm thuyền vẫn tối mù. Khoang tàu như thu nhỏ lại với số người mới lên. Chúng tôi ngồi dèn lên nhau, lưng khòm theo mạn thuyền. Hơi người hầm hập. Thuyền sóc mạnh. Vài người bắt đầu nôn oẹ. Tôi muốn ngộp thở. Mùi nôn mửa bốc lên chóng mặt. Chị đã thôi lần hạt bằng những ngón tay ẩm. Chị cũng gập người nôn thốc tháo. Tôi dựa vào vai chị, người mệt bã. Tôi nhắm mắt. Khoang thuyền tối. Tôi mở mắt. Khoang thuyền vẫn tối bưng. Khi mở mắt tôi không thấy gì ngoài bóng tối. Nhưng nhắm mắt tôi có thể hình dung đến tương lai. Tôi hình dung đến bờ bên kia của biển cả. Vượt biên đối với tôi lúc ấy giống như đi đò từ bên này sông sang bên kia sông. Chỉ một lát thôi, tôi sẽ đến bến. Ý nghĩ ấy làm tôi nhắm nghiền mắt lại. Tôi thiếp dần vào giấc ngủ mê mệt. Trong giấc ngủ, hình ảnh Ba còm cõi cuốc đất trồng sắn không ngừng ám ảnh.
Cũng ngay tại đây, ngay tại ga xe lửa Bình Triệu, lần đầu tiên tôi biết đến sân ga. Chúng tôi mua vé tàu suốt đi từ ga Bình Triệu đến ga Vinh. Ba bị tù “cải tạo” ở đó. Chúng tôi mới được giấy phép thăm nuôi. Ba ra đi biệt tăm từ tháng 05/1975. Bây giờ đã là tháng 06/1979. Tôi được 10 tuổi, bằng tuổi của Má ngày di cư vào Nam.
Gia đình tôi gốc Bắc. Hai bên Nội Ngoại di cư vào Nam năm 1954. Chị em chúng tôi hầu hết sinh ra ở miền Trung, theo bước chân hành quân của Ba. Tôi sinh ở Quảng Ngãi. Em M sinh ở Quảng Tín. Em K sinh ở Tam Kỳ. Gia đình tôi ở Tam Kỳ cho đến ngày phải di tản về Sài Gòn. Tam Kỳ mưa phùn lạnh lẽo trong trí nhớ tôi non nớt. Tôi đứng bên song cửa thèm thuồng nhìn những đứa trẻ hàng xóm long nhong tắm mưa. Má cấm chị em tôi dầm mưa. Mùa Đông Tam Kỳ chúng tôi mặc áo măng tô bên trong, áo mưa bên ngoài chờ chú Mới đưa đi học bằng xe Jeep. Thỉnh thoảng chú chở chúng tôi vào căn cứ Chu Lai thăm Ba bận việc không về nhà. Căn cứ Chu Lai có lá Quốc Kỳ Vàng bay phất ở cổng vào. Cuối tuần chú chở chúng tôi ra Đại Chủng Viện Đà Nẵng thăm Bác dạy học tại đó. Chúng tôi chạy nhảy tha hồ dưới những cây dừa rụng bông trắng xoá. Ba hay vắng nhà, chúng tôi ở nhà với Má và bà vú. Chị em tôi hay cười khi bà bảo, en cem meo meo rồi đi ngủ hỉ. Mỗi chiều, tôi chờ tiếng xe Vespa của Ba reo vui ở đầu ngõ. Chị em tôi chạy ùa ra đường, đứa trèo đứng đằng trước, đứa leo đằng sau để Ba lái xe vào sân nhà. Đêm trăng sáng, trẻ con hàng xóm tụ tập ở sân nhà tôi múa hát. Chiến tranh đang xảy ra ở căn cứ Chu Lai hoặc nơi nào đó trên quê hương. Nhưng chiến tranh trong tuổi thơ tôi đầy êm đềm vì đã có những người lính như Ba chết để bảo vệ chúng tôi. Cảnh nhà tôi vẫn ấm cúng. Những người lính đem đến ấm cúng, đem đến hoà bình giữa chiến tranh. Chúng tôi yên ấm giữa bom đạn mù loà.
Năm 1974 tôi chỉ mới vài tuổi. Tôi không biết đấy là lúc quân “cách mạng” ồ ạt vượt dãy Trường Sơn để vào “giải phóng” chúng tôi. Anh Lê Văn Tám hy sinh làm bó đuốc sống phá tan kho đạn Thị Nghè. Anh giao liên Kim Đồng thông minh lanh lợi lập nhiều chiến công. Em bé quê dùng dầu gió bắt sống lính Mỹ. Chị Út Tịch mang bầu 7 tháng giả kế mỹ nhân quyến rũ sĩ quan Nguỵ chiếm bót Tám Thế. Sau này tôi được trường học dạy như thế. Tôi học những bài học lịch sử đứt đoạn, từ thời Ngô Quyền nhảy vọt đến cuộc kháng chiến chống Mỹ.
Tháng Ba năm 1975. Chiến tranh lan như vết rắn bò trườn. Ba đi hành quân liên miên. Má lo âu võ vàng. Bom đạn phủ xuống đời sống. Đạn pháo cách mạng rình rập. Lưỡi lê giải phóng canh chừng. Chúng tôi lo lắng. Chú Mới đón chị em tôi ở trường học. Con đường yên tĩnh từ trường về nhà giờ mang đầy thương tích. Dãy phố cháy, khói bốc cao thành cột. Bụi tre ở đầu ngõ bị bom đánh gẫy. Cờ phủ vàng những chiếc quan tài trong xóm. Chiến tranh phơi bày bộ mặt tàn khốc. Tam Kỳ chìm vào lửa. Chúng tôi phải chạy về Sài Gòn bằng máy bay quân sự, không có ghế phải ngồi trên sàn. Ba ở lại với các đồng đội. Khi miền Trung mất, chúng tôi mất liên lạc với Ba nhiều ngày. Ở Sài Gòn ông nội lo lắng từng giây. Hai người con trai của ông còn kẹt lại ở miền Trung không có tin tức. Cả ngày ông ôm khư khư cái radio theo dõi từng biến chuyển của cuộc tháo chạy, sừng sộ với bất cứ một tiếng động nào. Không khí trong nhà nghẹt thở. Cuối cùng, Ba và Chú cũng trở về được vài ngày sau đó. Ông Bà nội rơi nước mắt khi thấy 2 con trai của mình tơi tả bước vào cổng.
Chúng tôi về bên Ngoại tá túc. Bà Ngoại ở gần bến Bạch Đằng. Mỗi chiều, Ba dắt một hai đứa chúng tôi ra bến xem người ta di tản. Họ rủ Ba đi, nhưng Ba lắc đầu. Ba dẫn chúng tôi xuống tàu chơi, rồi lên bờ khi tàu nhổ neo. Sau này, trong những năm Ba ở tù, tôi thường tự hỏi tại sao Ba không theo tàu di tản vào thời gian đó ? Ba có bao giờ ân hận vì cái lắc đầu ngày ấy ? Ba nghĩ gì ? Ba tin vào điều gì ?
Tháng 05/1975, Ba ra trình diện nhà cầm quyền mới. Tôi nhớ ngày đi Ba mặc chiếc áo in hình bánh qui. Bánh rơi đầy vai Ba như có ai vừa mở tung nắp hộp thiếc. Những chiếc bánh qui hình vuông, viền răng cưa thơm thơm ngọt tan trong miệng. Chúng tôi không cho Ba đi. Chúng tôi đeo theo, đứa đu tay, đứa ôm chân. Ba đeo túi lên vai, hẹn mười ngày sẽ về. Em trai út vừa sinh chưa tròn tháng, Ba bảo chờ Ba về hãy rửa tội cho em. Ba thanh thản đến nơi tập trung. Ba nghĩ đến tình anh em Nam Bắc một nhà. Ba tin vào lòng khoan hồng của kẻ chiến thắng. Ba tin vào lời hứa "10 ngày". Nhưng Ba đã thất vọng. Gia đình tôi đã tuyệt vọng. Niềm tin không cứu được Ba. Hoà bình bắt đầu bằng sự khát khao thanh trừng của kẻ chiến thắng. Ba đột nhiên biến mất khỏi cuộc đời chúng tôi lúc đó. Tôi không thể hiểu. Đất nước thanh bình mà gia đình tôi tan nát.
Chị em chúng tôi lớn lên với Má và bà Ngoại trong một căn nhà ở ngoại ô Sàigòn. Hai người đàn bà chật vật nuôi năm đứa trẻ. Chị cả mới lên 8 và em út chưa đầy tháng. Ngoài giờ dạy học, Má đạp xe chạy lùng khắp nơi, đến từng nhà giam trong thành phố tìm tin tức của Ba. Bà Ngoại ở nhà nuôi đứa bé sơ sinh bằng nước cháo pha muối. Đứa bé Ba đặt tên Hoà Bình. Vừa ra đời đã thiếu cha. Ba còn sống hay đã chết ? Đối với mọi người chung quanh, Ba đã không còn hiện hữu. Tấm hình Ba oai phong trong bộ quân phục bị nhét sâu dưới đáy rương, nằm lẫn lộn giữa quần áo cũ và những viên băng phiến hắc. Ba có khác gì một người đã khuất. Chỉ còn thiếu tấm hình của Ba trên bàn thờ là bà Ngoại sẽ xin lễ giỗ cho Ba hàng năm.
Ba ra đi, mang theo những chiếc bánh thơm lừng tuổi thơ của chúng tôi. Nắp hộp thiếc đóng chặt từ ngày ấy. Sau này, lâu lắm, khi sang Mỹ tôi mới được nếm lại mùi bánh qui. Tôi nhai bánh như nhai giấy. Mùi vị không còn ngọt ngào béo ngậy như trong trí nhớ. Tôi không còn là con bé 6 tuổi đeo lên lưng ba vờ ăn bánh. Tôi không còn thèm bánh qui nữa. Tôi thèm ly nước chanh mát lạnh trên đường vượt biển.
Từ lúc lên được boong, tôi không muốn xuống hầm nữa. Boong thuyền không còn chỗ trống. Người nằm ngồi la liệt. Tôi chỉ đủ chỗ dựa lưng vào thùng phi chứa nước. Nước trong thùng chỉ còn lấp xấp. Chúng tôi chưa đi được bao xa. Nước uống phải để dành, phải dè sẻn. Tôi khát khô cổ. Tôi tìm bóng dáng một chiếc tàu ngoại quốc. Tàu nào cũng được. Tàu nào có thể cho tôi một ly nước đá chanh ngọt lịm. Buổi sáng nắng trong. Mặt biển óng ánh như kính nhuyễn. Thuyền phóng băng băng mà cứ như đứng một chỗ, giống xả hết tốc độ mà vẫn như neo lại trên vũng nước. Tôi nhìn đại dương bao la không thấy bến bờ, không thấy tàu bè. Mênh mông bạt ngàn những trận gió. Con thuyền như chiếc tàu giấy con con tôi xếp thả vào ao nước mưa. Những cơn mưa ngập lụt đất Tam Kỳ. Tôi vẽ đôi mắt thuyền nguệch ngoạc. Đôi mắt ấy giờ theo tôi ra đại dương. Cũng như thuyền, tôi chưa bao giờ ra biển. Tôi hoàn toàn không hình dung hết được hiểm nguy chực chờ. Nếu chúng tôi bị giông bão ? Nếu chúng tôi gặp hải tặc ? Nếu chúng tôi chết trên biển ? Dù sao chúng tôi cũng có nhau. Ba nói : chết thì chết cả nhà.
Trời nóng. Gió biển rì rì nhưng vẫn nóng. Mặt trời phả hơi xuống những thân người nằm phơi như cá. Tôi say nắng. Người nóng rực như sốt. Biển trải rộng. Biển vô cùng. Màu xanh bất tận chạy dài ngút ngàn. Tôi thấy bà Ngoại mấp máy, miệng móm mém. Bà pha cho tôi ly nước chanh thật to. Chiếc ly sành vẽ hai con cò trắng lung linh. Uống đi con ! Vậy là chúng mày bỏ bà mà đi. Tôi muốn cầm ly nước bà đưa, nhưng tay mỏi rã rời. Bà Ngoại không đi. Bà ở nhà giữ hộ khẩu, nhỡ bị bắt còn có bà thăm nuôi, còn có nhà để về. Bà nuôi chị em chúng tôi từ ngày giải phóng. Em út tôi là con trai của bà mới đúng. Bà chăm sóc nó từ ngày lọt lòng. Không có bà, tôi biết Má không sao đứng vững được. Chạy về từ Tam Kỳ, chúng tôi không còn gì ngoài hai bàn tay trắng. Chúng tôi mất tất cả. Ngôi nhà nhỏ xinh có mảnh vườn trồng rau. Mỗi buổi sáng tôi theo Ba ra vườn bắt ốc sên. Đất Tam Kỳ đỏ quạch bám nhão gót giầy. Sau nhà có con sông nước lênh láng mỗi chiều. Hoa lục bình trôi tím mặt sông. Tôi dõi mắt cố tìm một cánh lục bình trên biển, chỉ thấy sóng bạc nhấp nhô. Sóng bạc của Thái Bình Dương ngợp nắng. Người tôi vẫn nóng hực. Tôi nhắm mắt lại cho đỡ loá. Lẽ ra chúng tôi đã ra biển trước đây mấy tuần. Lần ấy chủ thuyền định đổ bến gần Bà Rịa. Gia đình tôi từ Sàigòn ra Hải Sơn chờ ngày đi. Ông bà nội ở đó. Ngày đi, bà nội dậy lúc gà gáy, lục đục thổi xôi luộc gà. Chúng tôi mặc quần áo ấm, khăn gói ngồi chờ đến khi trời sáng rõ. Ông nội nói bể rồi không đi được nữa đâu. Giọng ông buồn mà mắt ông lại tựa như đang vui mừng. Ông cười lấp lánh răng vàng. Ông bảo bà rỡ xôi gà ra cho chúng nó ăn. Con cháu ông đã rủ nhau ra biển. Chúng tôi đi, ông chẳng còn ai. Ngày di cư vào Nam, chắc ông chẳng bao giờ ngờ lịch sử lập lại. Con cháu phải bồng bế nhau xa rời quê hương lần nữa.
Chiều đến. Mặt trời biến nhanh lắm. Một thoáng thôi, đã mất hút. Nền trời xám xịt. Gió bắt đầu thổi mạnh. Mây sà xuống boong, trĩu nước. Sóng không còn đập hiền hoà vào mạn thuyền. Từng con sóng giận dữ quật xuống. Sóng nhồi suốt cho đến đêm. Trời tối đen. Tôi không thấy gì ngoài bóng tối đặc sệt. Tôi hình dung đến đôi mắt thuyền phăng phăng rẽ sóng. Thuyền đưa tôi đi qua biển dữ. Gió vẫn mạnh. Sóng đập vào mạn thuyền tung nước lên boong. Thỉnh thoảng mưa đổ ào rồi ngưng. Người tôi ướt đằm. Cái lạnh thấm vào da thịt, buốt giá. Thái Bình Dương đen. Đêm bao la chỉ một ánh đèn le lói trên cabin. Gương mặt chú Thiện căng thẳng. Chú Thiện sĩ quan hải quân bạn Ba. Chú vẫn nghiêm trang ít nói mỗi lần đến nhà. Lần nào chú cũng trốn ngay lên lầu làm việc gì đó với chiếc la bàn. Ba dặn : có người lạ tới phải báo ngay cho Ba. Tôi hồi hộp với vai trò gác cửa, mắt đau đáu nhìn ra ngõ. Đột nhiên có tiếng la to : Tàu lớn kìa ! Tôi mở choàng mắt. Xa thật xa, trong tối đen mịt mù, một ánh đèn bập bềnh ẩn hiện. Mắt tôi mở dán vào vùng không gian phía trước. Ánh đèn chấp chới tựa bóng ma lúc ẩn lúc hiện. Tôi dụi mắt ngỡ mình nằm mơ. Không phải tôi mơ. Ánh sáng có thật. Ánh sáng bừng lên chói lọi như mặt trời vừa mọc. Nhưng lạ quá, ánh sáng cứ bừng lên rồi tắt lịm. Thuyền chao qua. Ánh sáng tắt ngúm. Sóng bắn tung vào người tôi. Thuyền nhảy lên. Ánh sáng bừng lấp lánh. Chúng tôi cứ tiến tới. Tôi tưởng tượng đến con tàu đằng xa. Con tàu đèn điện sáng trưng. Những người đàn ông đàn bà tóc vàng mũi lõ tử tế. Tôi cầm trong tay ly nước đá chanh. Màu xanh lá mạ dịu dàng sóng sánh. Những viên đá nhỏ reo lanh canh. Chúng tôi đi về phía mặt trời ẩn hiện. Sau này tôi biết chẳng phải mặt trời chơi trò ú tim. Chúng tôi đang vật lộn với sóng lớn. Khi sóng đưa thuyền lên cao, tôi nhìn thấy ánh sáng. Khi con thuyền rớt xuống chân sóng, ánh sáng biến mất vào biển đêm. Tôi vẫn rùng mình mỗi khi nghĩ lại.
Chúng tôi vẫn đi về phía mặt trời. Khối đen trước mặt hiện dần hình con tàu. Mặt trời chiếu ra từ cột quan sát. Chúng tôi bật đèn cấp cứu. SOS. Đèn đỏ nhấp nháy. SOS. Chúng tôi đến gần hơn. Boong tàu thấp thoáng bóng người. Tôi không nằm mơ. Thật sự là một con tàu. Một con tàu to kềnh càng. Tôi cầm lấy ly nước đá chanh. Mặt trời vẫn sáng rực trên cao.
"Tàu Liên Xô ! Chạy ra, chạy ra”.
Tiếng người hét thất thanh. Tôi sực nhìn lên. Mặt trời sáng rực loá mắt.
"Cờ búa liềm ! Cờ búa liềm. Trời ơi !"
Tài công dùng dằng, tiếc rẻ. Tôi cũng tiếc. Một con tàu to kềnh hẳn an toàn hơn chiếc thuyền mỏng manh. Tôi thèm được cuộn mình trong chăn ấm. Tôi đang lạnh run. Và khát. Ly nước đá chanh vẫn ám ảnh. Con thuyền quay đầu, phóng chạy. Sau giây phút xôn xao, rồi sợ hãi, mọi người im lặng. Chỉ còn tiếng gió gầm gừ. Chỉ còn tiếng sóng đập tung vùng biển động. Chúng tôi chạy trốn mặt trời.
Cơn bão thứ hai dội xuống đại dương một ngày sau đó. Lúc ấy chúng tôi đã an toàn trú ẩn trong khoang tàu Nhật Shonan Maru. Những con tàu mang ly nước đá chanh không thèm ngừng lại. SOS. Tín hiệu báo lâm nguy chưa đủ thảm thương. Shonan Maru ngừng lại và chúng tôi lập tức leo lên. Ba ghi tên điểm danh 105 người. Số thuyền nhân nhiều gấp 2 số thuỷ thủ trên tàu. Chiếc Shonan Maru chở sinh viên thực tập trên biển. Cả tàu không có một nữ sinh viên. Vị thuyền trưởng cho kéo theo chiếc thuyền rách nát vượt đại dương của chúng tôi. Mắt thuyền lập cập. Thuyền như con nhái bám vào vách giếng. Thuỷ thủ đoàn đưa chúng tôi xuống hầm tàu. Họ không có đủ chăn đắp nhưng sàn tàu sạch sẽ láng bóng. Quanh chỗ tôi nằm là nơi dự trữ gạo. Gạo Nhật hạt to tròn trĩnh. Nấu lên ăn dẻo như cơm nếp. Ngày đầu nhà bếp mang ra một khay cá sống. Từng lát cá tươi rói trong veo bắt mắt nhưng không ai dám ăn. Lúc đó tôi chưa biết mê sushi. Tôi chỉ dám ăn món cháo cá nấu nhão với rong biển suốt những ngày trên tàu.
Sau đêm bão lớn, tôi lò dò lên boong. Biển êm. Gió đã nhẹ lắm tuy sàn tàu vẫn còn đẫm nước. Bên cabin, vài người con trai đứng lố nhố chõ mắt vào 2 ô cửa kính. Tôi cũng tò mò chen vào xem. Bên trong, đám sinh viên Nhật đang xem tivi. Màn ảnh màu rực rỡ hiện ra đôi trai gái. Họ ăn mặc rách nát hơn chúng tôi hôm lên tàu Nhật. Đứa con gái tóc dài đến lưng, quấn 2 mảnh vải tả tơi ôm chầm lấy đứa con trai đóng khố. Những đôi mắt thuyền nhân mở to chiêm ngưỡng. Đó là phim The Blue Lagoon sau này tôi xem khi đến Mỹ. Biển trong phim êm ả không dữ dằn những đợt sóng sôi. Từ chỗ tôi đứng, biển bao la xanh ngắt. Tàu Nhật thênh thang, tôi hay đi thơ thẩn dưới hầm và trên boong. Tôi ngỡ mình đang ngắm biển Cà Ná hùng vĩ từ trên xe lửa. Chuyến xe lửa đưa tôi đi gặp Ba tại trại cải tạo Tân Kỳ. Từ ga Vinh, chúng tôi đi một chuyến xe đò gập ghềnh, thêm một quãng đi bộ mới đến trại. Buổi trưa u buồn vắng vẻ. Cả vùng núi lặng lẽ dưới nắng. Đâu đó vọng lại tiếng gà gáy kêu lơ thơ ở một hốc bụi nào. Xa về phía núi là nơi giam giữ Ba. Chúng tôi chờ Ba cả buổi chiều. Tôi thấy Ba từ ngoài cổng. Ba ốm nhom. Da đen sạm. Tôi chạy thật nhanh ra cổng. Ba đón lấy, nhấc bổng tôi lên lòng. Tôi khóc. Khóc chan hoà vì tưởng sẽ không bao giờ còn được gặp Ba. Khóc cho hết nỗi cô đơn không cha, cho vơi những nhọc nhằn từ ngày giải phóng. Tôi khóc trên vai Ba như tôi đeo lên vai Ba trong ngày Ba ra đi. Vai áo Ba không còn những chiếc bánh thơm. Tôi ngửi mùi nắng cháy khét trong tóc Ba. Ba lấy trong túi ra một nhánh hoa tím.
"Đây là hoa mua, Ba hái cho con. Giống như hoa sim ngoài Bắc mình”.
Lúc ấy tôi chưa biết buồn vì màu tím, cũng chưa thuộc thơ Hữu Loan tím cả chiều hoang biền biệt. Tôi chỉ thấy cảnh tù đày phi lý. Ba có tội gì ? Chúng tôi có tội gì ? Má xoay sở đầu chợ cuối chợ mới mua được vé xe. Chúng tôi đứng nhìn con tàu Thống Nhất sang trọng sáng choang chạy qua trước mắt. Tôi nhặt bao nhiêu lon sắt, giấy vụn ; tôi dang bao nhiêu cơn nắng, nhưng tôi phải đi xe lửa chợ cũ rích ghế gỗ cứng ngắc đau mông. Con tàu Thống Nhất không dành cho tôi một chỗ ngồi như đất nước đã từ chối Ba làm một công dân. Chúng tôi lặn lội 3 ngày ngủ đứng ngủ ngồi trên xe lửa. Chúng tôi bị mất cắp bị chen lấn bị chèn ép trong các toa xe. Qua ngần ấy gian nan để chỉ được gặp Ba một giờ đồng hồ. Chú cán bộ ngồi đầu bàn theo dõi từng cử động. Tôi có bao điều muốn kể với Ba. Nhưng tôi chỉ dám ngồi yên trong lòng Ba. Một giờ đồng hồ qua nhanh như chớp mắt. Tôi và Má đứng ngẩn nhìn Ba bước về trại giam. Lưng áo Ba in chữ đỏ. Tù Cải Tạo.
Tôi theo Ba lên cabin gặp vị thuyền trưởng. Phòng ông có tivi màu và tủ đựng nước ngọt. Ông bấm vào nút, một lon nước ướp lạnh chạy ra. Tôi tròn mắt nhìn ông làm ảo thuật. Ông đưa cho tôi lon nước mở sẵn. Tôi ủ lon nước lạnh ngắt vào đôi tay. Ly nước đá chanh tôi ao ước. Ngụm nước đọng trên đầu lưỡi, lạnh buốt suốt tuổi niên thiếu. Vị thuyền trưởng nói chuyện với Ba bằng cuốn tự điển. Ba nói tiếng Anh. Ông tra tự điển rồi trả lời. Tôi ngồi xem tivi, không hiểu gì cả. Mãi mãi ghi sâu trong trí nhớ tôi vùng không gian nhỏ bé bình yên, màn hình tivi với ngôn ngữ lạ, nước cam lạnh, chiếc tủ nước ngọt, và ông Nhật biết làm ảo thuật. Mỗi lúc tình cờ bấm tivi sang một đài nước ngoài hoặc lạc vào đám đông với ngôn ngữ lạ, tôi thấy mình nhỏ lại như năm 14, ngồi bên cạnh Ba và vị thuyền trưởng. Ba múa tay giải thích với vốn liếng Anh ngữ từ thời đi dạy. Tôi nhìn Ba ung dung, tự tin, nhớ lại những lần đứng thập thò nghe Ba nói chuyện e dè với công an khu phố.
Ba trở về sau 6 năm 6 tháng 22 ngày "cải tạo", thể xác héo mòn, tinh thần kiệt quệ. Tôi không biết thực sự Ba đã được "cải tạo" những gì trong những năm tháng đó, ngoài những cơn đói triền miên và những ngày lao động cực khổ. Ba ra tù, về chịu sự quản thúc của nhà cầm quyền địa phương. Công an dân phố ghé qua sáng chiều. Ở trường học, mỗi tuần chúng tôi xếp hàng đi bộ đến nghĩa trang liệt sĩ làm cỏ. Trời đổ lửa. Chúng tôi mặc áo trắng quần đen đi theo hàng. Nghĩa trang liệt sĩ nằm kề bên con đường lớn. Ở giữa, một khung đài tưởng niệm nhang khói lâm thâm. Lần nào về tôi cũng ấm đầu.
Ra đi là con đường duy nhất để chúng tôi được sống đúng với ý nghĩa một con người. Đối với Ba Má, đó là một sự chọn lựa đau đớn và liều lĩnh. Ra đi là đánh cuộc với mạng sống của 8 thành viên trong gia đình. Tôi không ngạc nhiên vì quyết định của Ba Má. Như thể đó là định mệnh. Chúng tôi không còn con đường nào khác.
Biển lặng những ngày sau đó. Tôi vẫn không đủ can đảm nhìn xuống biển từ lan can tàu. Màu xanh hun hút làm tôi chóng mặt. Nếu không được tàu Nhật vớt, chúng tôi có thể chống nổi với cơn bão chiều ấy ? Biển đẹp man rợ. Biển mênh mang không thấy bến bờ. Biển lan như trên mặt đất chỉ toàn nước. Biển xanh lục như trên mặt đất toàn rêu. Biển nhấp nhô như tinh thần chúng tôi hãy còn chông chênh chưa tin đang hít thở khí quyển tự do.
Chúng tôi dần lại sức. Cháo cá rong biển đậm đà không còn vô vị. Chúng tôi sẽ đáp bến Manila nay mai. Vị thuyền trưởng ra lệnh chặt dây thừng bỏ con thuyền rách nát đã theo chúng tôi dọc Thái Bình Dương. Tôi nhìn đôi mắt thuyền ướt nước ngỡ như đang nhìn chính mình. Chiếc thuyền tang thương bẩn thỉu mang hình ảnh của chúng tôi ngày hôm qua. Đêm nay thuyền sẽ về đâu ? Con mắt thuyền ướt đẫm. Mắt thuyền lặng câm. Thuyền xa bến như tôi xa quê hương. Biết thuyền có tìm được đường về. Thuyền lênh đênh tôi cũng lênh đênh. Thuyền trôi dạt, tôi cũng trôi dạt. Mười bốn năm, tôi mất tuổi thơ 2 lần. Tôi mất Tam Kỳ tháng 04/1975. Năm 1983, tôi mất Sài Gòn. Chiến tranh phá huỷ tuổi thơ. Hoà bình đẩy tôi dạt ra biển cả. Những giọt nước mắt con gái khóc chia tay ; không phải tôi khóc mà mắt thuyền đang khóc.
Nhiều năm sau tôi vẫn nhớ đôi mắt thuyền ai oán. Mỗi khi soi gương tôi vẫn thấy mắt thuyền long lanh trong mắt mình. Tôi mang đôi mắt ấy, đôi mắt Tam Kỳ và những mảnh vụn ký ức không thể ráp nối. Tôi chưa vào đến đất liền. Chưa vào đến Bataan hay hải đảo Palawan huyền hoặc. Tôi trôi mãi trên Biển Đông ở vùng hải phận quốc tế.
Ngày mai mất Biển Đông, tôi sẽ trôi về đâu ?
Nguyễn Xuân Tường Vy 2009/04/17
http://www.hopluu.net

ANDERSON * MẸ

"Chuyện kể về người mẹ" của Andersen

Một bà mẹ đang ngồi cạnh đứa con nhỏ. Bà rất buồn vì lo nó chết mất. Đứa bé xanh rớt, mắt nhắm nghiền đang thoi thóp. Thấy nó rên rỉ rất thiểu não, bà cúi xuống sát mặt nó, lòng se lại.
Có tiếng gõ cửa. Một ông già nghèo khổ, trùm kín trong tấm chăn rách bước vào. Bên ngoài tuyết phủ khắp nơi, gió vun vút quất vào mặt. Ông già rét run cầm cập, ngồi xuống ru đứa bé. Mẹ nó đương nhóm lò hâm lại cốc sữa. Xong việc bà quay lại ngồi vào chiếc ghế cạnh ông già, nhìn đứa bé ốm yếu vẫn đang thoi thóp thở. Bà hỏi:

- Liệu nó có việc gì không? Thượng đế có tha bắt nó đi không?

Ông già - chính là thần chết  - lắc đầu một cách khó hiểu. Bà mẹ gục đầu xuống, nước mắt ròng ròng trên gò má. Đã ba hôm nay, bà không ngủ, người rã rời. Bà thiếp đi một tí, rồi chợt rùng mình vì rét bà choàng dậy.

- Đâu rồi nhỉ? Bà hoảng hốt kêu lên, mắt nhìn tứ phía. Ông già và đứa con bà biến đâu mất. Lão đã đem con bà đi rồi. Chiếc đồng hồ quả lắc vẫn tích tắc trong xó nhà.

Bà mẹ tội nghiệp vùng dậy chạy ra ngoài gọi con. Một bà cụ mặc áo dài đen, ngồi giữa đám tuyết trên sân bảo bà mẹ:

- Tôi thấy thần chết mang con chị chạy đi rồi. Lão ta chạy nhanh hơn gió. Đã cướp ai đi, lão không bao giờ mang trả lại.

Bà mẹ khẩn cầu:

- Xin cụ bảo tôi lão đi đường nào. Tôi sẽ đuổi kịp.

Bà cụ đáp:

- Được! Nhưng muốn ta chỉ đường, chị phải hát cho ta nghe tất cả những bài hát mà chị đã ru con chị. Ta đã được nghe chị hát ru con chị nhiều, ta rất thích. Ta là thần đêm tối. Ta đã từng trông thấy nước mắt chị tràn ra khi chị ru con.

Bà mẹ van vỉ:

- Tôi xin hát tất cả, sau đó bà chỉ đường giúp để tôi đuổi theo thần chết đòi lại đứa con tôi. Nhưng thần đêm tối chẳng nói gì. Bà mẹ vặn vẹo đôi tay, nước mắt đầm đìa, vừa nức nở vừa hát, tiếng nấc át cả lời hát.

Nghe hát xong, Thần đêm tối bảo:

- Rẽ sang phải rồi đi vào rừng thông tối om kia. Thần Chết mang con chị biến vào đấy. Đến giữa rừng, gặp một ngã ba, bà mẹ phân vân không biết rẽ trái hay phải. Chỉ có một bụi gai không hoa, không lá, tuyết phủ đầy, cành nặng trĩu là xuống đến mặt đất.

Bà mẹ hỏi:

- Có biết thần chết đem con ta đi lối nào không?

Bụi gai trả lời:

- Có nhưng muốn tôi chỉ, bà phải ủ tôi vào lòng cho ấm lên. Tôi đang rét cóng, sắp thành băng đến nơi.

Bà mẹ ôm bụi gai vào lòng để sưởi ấm cho nó. Ngực bà gai đâm toé máu. Bụi gai nóng lại trổ hoa xanh tốt ngay giữa đêm đông giá lạnh. Được sưởi ấm rồi, bụi gai chỉ đường cho bà mẹ.

Bà đến một cái hồ lớn, chẳng thấy có một bóng thuyền. Mặt hồ lớp băng mỏng quá không giẫm lên để đi được, nước hồ lại quá sâu không lội qua được. Bà mới cúi xuống để uống hết nước hồ. Bà cũng biết việc ấy là quá sức mình, nhưng vì quá đau khổ. Bà mong thượng đế cứu giúp.

Hồ nước bảo bà:

- Không làm thế được đâu. Ta thương lượng với nhau thì hơn. Tôi rất thích ngọc trai. Hai mắt bà là hai viên ngọc trai rất trong. Bà hãy khóc cho đến lúc rơi hai mắt xuống. Tôi sẽ đưa bà đến một cái nhà kính là nơi thần chết vun trồng các cây hoa, mỗi cây là một kiếp người.

Bà mẹ nức nở, nước mắt tầm tã, hai mắt theo dòng lệ rơi xuống đáy hồ hoá thành hai viên ngọc. Bà được hồ nước nâng bổng lên và thoắt một cái đưa đến một ngôi nhà kỳ lạ, chẳng biết đấy là một quả núi với hang sâu rừng thẳm hay là một công trình tuyệt hảo, tuyệt mỹ của con người. Mắt bà không còn nên không trông thấy gì, bà hỏi:

- Có thấy thần chết đem con tôi đi đâu không?

Một bà già canh vườn ươm của thần chết nói:

- Thần chết chưa về đến đây. Bà làm thế nào mà đến được nơi này? Ai đã giúp bà?

- Thượng đế giúp - Bà mẹ trả lời - Người đã thương tôi, vậy bà cũng rủ lòng thương bảo cho tôi biết con tôi ở đâu.

Bà già nói:

- Tôi không biết mặt con bà. Ở đây nhiều cây lắm. Mỗi cây tượng trưng sinh mệnh một con người. Chúng cũng có tim, tim chúng đập. Bà cứ lại gần các cây, nghe nhịp tim đập chắc bà sẽ nhận ra cây nào mang sinh mệnh con bà. Nhưng bà muốn tôi hướng dẫn thì bà trả ơn tôi cái gì nào?

- Tôi còn gì để cho bà nữa đâu! Bà mẹ trả lời.

- Bà có mớ tóc đen nhánh - bà già nói - Bà cho tôi và nhận lại mớ tóc bạc của tôi. Đổi nhau mà.

- Nếu chỉ có thế thôi thì được - bà mẹ vội trả lời, rồi bà trao mớ tóc đen cho bà cụ và nhận lấy mớ tóc bạc.

Hai người bước vào vườn kính rộng lớn của thần chết. Nơi đây có rất nhiều cây cỏ đủ loại. Có những cây mộc lan hương mảnh dẻ, những bông thược dược to và mập mạp. Có những cây mọc dưới nước, cây xanh tươi, cây khô cằn, rắn quấn quanh gốc. Đây là những cây cọ, cây tiêu huyền, kia là đám mùi và xạ hương. Mỗi cây mỗi hoa mang một tên người, tượng trưng một kiếp người.

Có những cây lớn trồng trong chậu nhỏ tí đang sắp làm vỡ chậu. Ngược lại có những cây bé con lại trồng trên những vuông đất rộng phủ rêu xanh mượt. Người mẹ đau khổ rạp xuống từng gốc cây, lắng nghe nhịp đập từng trái tim của chúng. Và giữa muôn vàn trái tim ấy bà nhận ra nhịp đập của trái tim con bà.

- Con tôi đây rồi! Bà reo lên, chìa tay trên một gốc kỵ phù nhỏ màu lam ốm yếu thân nghẹo sang một bên.

Bà già ngăn lại:

- Đừng đụng vào hoa. Cứ đợi ở đây. Thần chết sắp về. Không cho Thần nhổ cây hoa này.

Ngay lúc đó một làn gió lạnh buốt nổi lên. Thần chết đã đến. Thần hỏi:

- Sao ngươi lại tìm được đến đây? Mà lại đến trước ta?

- Ta là mẹ! Bà mẹ trả lời.

Thần chết vươn bàn tay dài ngoẵng về phía cây hoa mảnh dẻ, bà mẹ vòng đôi bàn tay giữ lấy không cho Thần chết lấy.

- Ngươi không chống lại được ta đâu! - Thần chết nói và hà hơi vào tay bà mẹ, bà thấy lạnh buốt - Ta cũng chỉ tuân theo lệnh của Thượng đế mà thôi. Ta trông nom khu vườn của người mang theo những cây cỏ ở đây lên trồng trong vườn của Thượng đế theo lệnh người. Còn sau đó trên ấy ra sao ta không biết.

- Trả lại con cho tôi! - Bà mẹ van xin và định túm lấy tay hai cây.

Thần chết bảo:

- Chớ đụng vào! Ngươi nói rằng ngươi đau khổ mà ngươi lại muốn làm cho một người mẹ khác phải đau khổ hay sao?

Bà mẹ đau thương buông hai cây hoa ra.

Thần chết nói thêm:

- Đây là đôi mắt của ngươi, ta thấy lóng lánh dưới đáy hồ ta vớt lên đấy. Ngươi hãy nhận lại. Và nhìn xuống đáy giếng gần đấy. Ta sẽ cho ngươi biết tên hai đứa trẻ có hai bông hoa ấy. Ngươi sẽ thấy rõ cả cuộc đời và quá khứ và tương lai của chúng, thấy rõ tất cả những gì mà ngươi định huỷ hoại.

Bà mẹ nhìn xuống đáy giếng. Bà thấy một trong hai bông hoa ánh lên niềm vui đầy hạnh phúc, còn bông hoa kia thì hoàn cảnh trầm luân, khổ ải.

Thần chết nói:

- Cả hai kiếp hoa đều do Thượng đế định đoạt cả.

Người mẹ hỏi:

- Thế hoa nào là hoa hạnh phúc, hoa nào là hoa bất hạnh?

Thần chết đáp:

- Ta không thể tiết lộ thiên cơ. Nhưng một trong hai bông hoa ấy chính là của con ngươi, là hình ảnh tương lai của nó.

Bà mẹ gào lên:

- Hoa nào trong hai hoa ấy là của con tôi? Hãy bảo cho tôi biết. Nếu đời nó sau này sẽ đau khổ thì hãy mang nó đi, mang ngay về Thiên đường. Xin hãy tha thứ cho những lời tôi cầu nguyện. Xin hãy quên đi tất cả, coi như tôi đã mê sảng.

Rồi bà vặn tay vào nhau, quỳ xuống cầu khẩn:

- Xin Thượng đế đừng nghe lời con nếu con có cầu khẩn những lời sai trái với ý người.

Rồi bà gục đầu xuống ngực.

Và Thần chết mang đứa bé đến cái xứ sở xa lạ ấy.

 
Nguồn: http://bee.net.vn/channel/1984/200910/Chuyen-ke-ve-nguoi-me-cua-Andersen-1725468/

NGUYỄN THỊ TƯƠI * MẸ TÔI

Mọi người thường tự hào về một người cha quyền thế, một người mẹ học rộng biết nhiều, còn tôi, tôi tự hào về một người mẹ không biết chữ nhưng vẫn nuôi năm chị em tôi ăn học nên người.



Ngày tôi đậu đại học, tôi đã chạy ra tận con đê đầu làng đợi mẹ về. Nhìn bóng mẹ với đôi gánh trên vai, tôi nghẹn ngào: "Con đậu rồi". Mẹ khẽ cười và lau những giọt mồ hôi đọng trên khuôn mặt đầy những vết nhăn. Tôi biết từ mai gánh nặng trên vai mẹ sẽ ngày một nặng. Hôm đó, mẹ đã cho tôi nguyên suất bánh đúc ế, phần thưởng cho đứa con ngoan.

Tôi nhập học với số tiền ít ỏi của gia đình và mẹ, người sẽ lên thành phố kiếm tiền nuôi tôi. Tôi nhanh chóng ổn định được chỗ ở trong ký túc, còn mẹ tôi sau mấy ngày lang thang nơi các xóm lao động nghèo mới tìm được chỗ ở. Cũng từ đó, cứ cuối tuần mẹ lại mang tiền sinh hoạt đến gần trường đưa tôi. Mỗi lần gặp mặt, mẹ luôn đưa tiền rồi bước vội, dường như mẹ sợ ai đó bắt gặp, mẹ sợ ai đó nhìn thấy mẹ và tôi...

Ngày tôi được học bổng, tôi muốn mẹ biết đầu tiên. Nhưng tôi đâu tìm được mẹ bởi mẹ sẽ đi khắp mọi ngả đường nếu gánh hàng còn nặng trên vai, và cũng bởi chưa một lần tôi đến nơi mẹ sống. Nơi chúng tôi ăn mừng kết quả học kỳ đầu, ở đó có một người phụ nữ đang đổi từng đồng tiền lẻ thành tờ tiền chẵn. Người phụ nữ ấy nhanh nhảu mời chúng tôi ăn món bánh đúc quê hương, rồi vội vã gánh hàng đi như sợ điều gì đó. Lúc đó, tôi đã muốn kéo tay mẹ lại, muốn giới thiệu với tất cả bạn bè: "Mẹ tớ đấy". Nhưng, tôi đã không làm vậy, tôi đã để mẹ với gánh hàng rong vội vã bước đi.

Nhiều đêm trong ký túc, mọi người kể chuyện gia đình nhưng riêng tôi, tôi im lặng. Cũng nhiều lúc, tôi muốn lên tiếng: "Mẹ tớ bán hàng rong, dưới tớ còn có bốn em nhỏ. Bố tớ là ông nông dân gốc". Những câu đó thật khó nói. Mẹ tôi, người phụ nữ bán hàng rong. Gánh hàng của mẹ không quá mấy chục ngàn. Tôi biết bắt đầu câu chuyện thế nào đây và tôi im lặng.

Và hôm qua nơi con hẻm gần nhà đứa bạn, tôi thấy những người bán hàng rong. Ở đó, mẹ tôi đang kể về tôi, về cô con gái bé nhỏ học giỏi. Tôi thấy khuôn mặt mẹ ngời hạnh phúc, tay mẹ chỉ vào tấm hình nhỏ: "Nó đấy".

Lần này, tôi đã chạy lại ôm bờ vai gầy thật chặt, tôi đã khóc. Lời xin lỗi khó nói nhưng tôi biết mẹ hiểu. Tôi chào mẹ và các cô với lời mời thăm phòng tôi - ký túc. Tôi sẽ giới thiệu mẹ với tất cả bạn bè và tôi hạnh phúc với điều đó. Tôi sẽ kể cho bạn tôi nghe về một người mẹ với cái tên mình mẹ cũng không biết viết nhưng trong trái tim mẹ luôn khắc hình ảnh chúng tôi. Tôi sẽ kể cho bạn tôi nghe về một người mẹ đứng thật xa nhìn con để bảo vệ đứa con mình... Và tôi sẽ kể cho bạn tôi nghe về gia đình, về người cha, về những đứa em. Tôi hạnh phúc bởi tôi có một gia đình.

NGUYỄN THỊ TƯƠI (Nam Định)

NGUYỄN MẠNH BÍCH NGỌC * MẸ TÔI

Truyện Ngắn : MẸ TÔI
(Một câu chuyện cảm động của một tác giả vô danh nhận được qua e-mail của một
người bạn ở Malaysia, mong được chia sẻ với mọi người)
Suốt thời thơ ấu và cả khi lớn lên, lúc nào tôi cũng ghét mẹ tôi. Lý do chính có lẽ vì
bà chỉ có một con mắt. Bà là đầu đề để bạn bè trong lớp chế giễu, châm chọc tôi.
Mẹ tôi làm nghề nấu ăn để nuôi tôi ăn học. Một lần bà đến trường để kiếm tôi làm tôi
phát ngượng. Sao bà lại có thể làm như thế với tôi? Tôi lơ bà đi, ném cho bà một cái
nhìn đầy căm ghét rồi chạy biến. Ngày hôm sau, một trong những đứa bạn học trong lớp
la lên: “Ê, tao thấy rồi. Mẹ mày chỉ có một mắt!”.
Tôi xấu hổ chỉ muốn chôn mình xuống đất. Tôi chỉ muốn bà biến mất khỏi cuộc đời
tôi. Ngày hôm đó đi học về tôi nói thẳng với bà: “Mẹ chỉ muốn biến con thành trò cười!”.
Mẹ tôi không nói gì. Còn tôi, tôi chẳng để ý gì đến những lời nói đó, vì lúc ấy lòng tôi
tràn đầy giận dữ. Tôi chẳng để ý gì đến cảm xúc của mẹ. Tôi chỉ muốn thoát ra khỏi nhà,
không còn liên hệ gì với mẹ tôi. Vì thế tôi cố gắng học hành thật chăm chỉ, và sau cùng,
tôi có được một học bổng để đi học ở Singapore.
Sau đó, tôi lập gia đình, mua nhà và có mấy đứa con. Vợ tôi là con nhà gia thế, tôi
giấu nàng về bà mẹ của mình, chỉ nói mình mồ côi từ nhỏ. Tôi hài lòng với cuộc sống,
với vợ con và những tiện nghi vật chất tôi có được ở Singapore. Tôi mua cho mẹ một
căn nhà nhỏ, thỉnh thoảng lén vợ gởi một ít tiền về biếu bà, tự nhủ thế là đầy đủ bổn
phận. Tôi buộc mẹ không được liên hệ gì với tôi.
Một ngày kia, mẹ bất chợt đến thăm. Nhiều năm rồi bà không gặp tôi, thậm chí bà
cũng chưa bao giờ nhìn thấy các cháu. Khi thấy một bà già trông có vẻ lam lũ đứng
trước cửa, mấy đứa con tôi có đứa cười nhạo, có đứa hoảng sợ. Tôi vừa giận vừa lo vợ
tôi biết chuyên, hét lên: “Sao bà dám đến đây làm con tôi sợ thế? Ði khỏi đây ngay!”. Mẹ
tôi chỉ nhỏ nhẹ trả lời “Ồ, xin lỗi, tôi nhầm địa chỉ!” và lặng lẽ quay đi. Tôi không thèm
liên lạc với bà trong suốt một thời gian dài. Hồi nhỏ, mẹ đã làm con bị chúng bạn trêu
chọc nhục nhã, bây giờ mẹ còn định phá hỏng cuộc sống đang có của con hay sao?
Một hôm, nhận được một lá thư mời họp mặt của trường cũ gởi đến tận nhà, tôi nói
dối vợ là phải đi công tác. Sau buổi họp mặt, tôi ghé qua căn nhà của mẹ, vì tò mò hơn là
muốn thăm mẹ. Mấy người hàng xóm nói rằng mẹ tôi đã mất vài ngày trước đó và do
không có thân nhân, sở an sinh xã hội đã lo mai táng chu đáo.
Tôi không nhỏ được lấy một giọt nước mắt. Họ trao lại cho tôi một lá thư mẹ để lại
cho tôi:
“Con yêu quý,
Lúc nào mẹ cũng nghĩ đến con. Mẹ xin lỗi về việc đã dám qua Singapore bất ngờ và
làm cho các cháu phải sợ hãi. Mẹ rất vui khi nghe nói con sắp về trường tham dự
buổi họp mặt, nhưng mẹ sợ mẹ không bước nổi ra khỏi giường để đến đó nhìn
con. Mẹ ân hận vì đã làm con xấu hổ với bạn bè trong suốt thời gian con đi học ở
đây.
Con biết không, hồi con còn nhỏ xíu, con bị tai nạn và hỏng mất một bên mắt. Mẹ
không thể ngồi yên nhìn con lớn lên mà chỉ có một mắt, nên mẹ đã cho con con mắt
của mẹ. Mẹ đã bán tất cả những gì mẹ có để bác sĩ có thể thay mắt cho con, nhưng
chưa bao giờ mẹ hối hận về việc đó. Mẹ rất hãnh diện vì con đã nên người, và mẹ
kiêu hãnh vì những gì mẹ đã làm được cho con. Con đã nhìn thấy cả một thế giới
mới, bằng con mắt của mẹ, thay cho mẹ..
Mẹ yêu con lắm,
Mẹ...".
NGUYỄN MẠNH BÍCH NGỌC (st)

CHU TẤT TIẾN * THƯ CHO CON

THƯ CHO CON
Con yêu dấu, khi đến tuổi về già,
Cha mẹ không còn tươi như hoa.
Mà nhăn-nhó, mặt cau, mắt ướt.
Con sẽ thấy không còn vui như trước,
Nhưng cũng đừng cau-có lại mẹ cha.
Vì khi xưa, con khóc oé vang nhà,
Mẹ cha vẫn vui tươi như hội.

Nếu cha mẹ tay run không cầm nổi,
Một tô cơm mà đánh đổ ra nhà,
Xin con đừng gắt mắng hạng người già,
Vì lúc bé con vẫn thường rơi vãi.
Mẹ cha vẫn khom lưng nhặt lại,
Từng miếng cơm, chút thịt con làm văng.
Mẹ vừa cười vừa nhìn con lăng-xăng,
Nghe con "xin lỗi" mà ấm lòng như Tết.
Nếu cha mẹ có nói nhiều, phát mệt,
Có những câu lảm-nhảm, không đầu đuôi,
Con hãy nhớ năm xưa nằm trong nôi,
Mẹ kể mãi một chuyện xưa cổ-tích.
Cha cũng vậy, những khi con không thích,
Lên giường nằm để ngủ giấc hồn-nhiên,
Cha kể đi, kể lại chuyện "Ông Tiên",
Chuyện tướng cướp, Thạch-Sanh, nhiều chuyện bịa.
Nếu cha mẹ rối, ít năng tắm rửa,
Con cũng đừng bịt mũi, dang xa.
Bởi khi xưa mẹ phải gọi cả nhà,
Mới tắm được cho con một lát.
Con nghịch chơi, người dính đầy bụi cát,
Mực lấm lem, tay chân bẩn như ma.
Mẹ mới dội nước, con đã khóc la,
Không chịu tắm, không chịu vào bồn rửa.
Cha phải dỗ con hoài, con mới sửa,
Mãi lớn khôn, con đi tắm một mình.
Nếu cha mẹ rối, không hiểu văn-minh,
Máy móc mới đủ hình đủ kiểu,
Cũng đừng cười chê ông bà già hủ-lậu,
Mà nên giảng cho cha mẹ cách dùng
Vì năm con hai tuổi, cái gì cũng lạ lùng,
Cha mẹ phải nắm tay con, chỉ dẫn.
Rồi lớn lên, cha dạy con cẩn-thận,
Ðừng nghịch máy nầy, đừng đụng vật kia.
Cha giảng cho con từng chút, từng ly,
Cách mở radio, bật đèn, mở bếp, vặn Tivi.
Con đã nở những nụ cười hạnh-phúc.
Nếu mẹ cha mà nhỡ quên, tùy lúc,
Ðừng cằn-nhằn cha mẹ ngu-khờ.
Biết bao lần con quên sách vở ở nhà,
Cha phải chạy như bay về nhà lấy.
Ðiều quan-trọng là cha mẹ cần được thấy,
Dáng hình con quanh-quẩn đâu đây
Ngửi hơi con mà trong mắt cay cay
Con còn đó, tim cha đầy máu nóng.
Nếu cha mẹ quá già không muốn sống,
Con hãy hiểu cho, rồi tới lúc con cũng già.
Sẽ tới hồi cuộc sống như lướt qua,
Ý sống hết, mà chí còn tồn-tại.
Một cây khô, một cành hoa vương-vãi,
Một bộ xương có hiểu-biết vật-vờ,
Những kỷ-niệm xưa đầy ắp, chan-hòa,
Trong ánh mắt, trong đôi tay run-rẩy.
Hơi thở ngập ngừng, âm-thanh lẩy-bẩy,
Không ham vui, chỉ còn chút tình yêu.
Tình yêu con, yêu cháu thật nhiều,
Óc chỉ thấy tên con và dáng dấp.
Tim chỉ chứa bóng hình con tấp-nập.
Dấu chân xưa, con chạy nhảy tung-tăng.
Từng nốt muỗi đau, từng cơn nhức trong răng,
Từng cơn sốt đổi da, đổi thịt.
Cha mẹ đã từng bao đêm quên mệt,
Ngồi bên con, nghe hơi thở đều-hòa.
Dù cho con khó chịu khóc la,
Cha mẹ vẫn dấu u con trên hết.
Và bây giờ, khi tới gần cõi chết,
Vật dụng mang theo vẫn chỉ bóng hình con.
Còn chút hơi tàn, cha mẹ mong tặng con,
Niềm hạnh-phúc sướng vui bất tận.
Thôi vài hàng của những người sắp lẫn,
Cha mẹ sẽ quên khi từng tặng hành trang,
Kiến-thức, thông-minh, sắc đẹp... con đang mang,
Những hiểu biết về cuộc đời gian-khổ.
Những can-đảm, chai lì không biết sợ,
Ðể con thành người tài giỏi hôm nay.
Những cấp bằng mà con có trong tay,
Là kết quả của bao đêm mẹ khóc.
Là rụng rơi của bao nhiêu sợi tóc,
Của ngàn ngày đưa đón con đi.
Thôi, nói làm chi !? nhắc làm chi !?
Mẹ đang nói: Hãy đừng làm con mệt.
Nghỉ đi con, để vui thỏa ngày mai....

ĐỖ MINH TRIỆU * BAO LA TÌNH MẸ

Bao La Tình Mẹ
Đỗ Minh Triệu , C/N 2012/03/26
Tác giả Đỗ Minh Triệu sinh năm 1968 . Bị mắc chứng bệnh quái ác « Muscular Dystrophy » làm teo cơ bắp từ năm 10 tuổi .
Tác giả và Mẹ Hoàng Minh Đức bên bờ Thái Bình Dương
Ba năm sau , 1991 , cùng cha mẹ và 3 em gái qua Mỹ theo diện cựu tù chính trị , hiện cư ngụ tại thành phố Poway , San Diego , California .
Bài viết của Minh Triệu là một tự truyện chân thật và xúc động . Để có bài viết này , tác giả đã vất vả nhiều năm tháng , vì không thể ngồi lâu , và vì chỉ còn xử dụng được một ngón tay duy nhất để gõ phím và bấm mouse .
Ông cũng là nhạc sĩ nghiệp dư vinh danh tình mẹ bằng ca khúc « Ánh Sao Tình Mẹ » Bài hát được đưa lên Youtube gần ba năm qua , hiện đã có hơn 32000 lượt người coi .
Mời thưởng thức bài « Ánh Sao Tình Mẹ » qua các giọng hát Mai Thiên Vân và Kim Tử Long .
* * *
Tôi sinh năm 1968 nay đã 43 tuổi , thực sự « già đầu » rồi mà tôi vẫn còn được mẹ chăm sóc , thay quần áo , tắm rửa , gội đầu , bón cơm , thay tã lót cho như một em bé sơ sinh . Tôi chính thật là đứa con được mẹ thương yêu nhất trần gian . Nhiều đêm bệnh hành hạ không ngủ được , dõi mắt nhìn mẹ tóc bạc da mồi nằm giường bên , đang thiếp ngủ mệt , sau một ngày vất vả lo cho con .
Tôi thật đau lòng ! Buồn lắm ! Thương mẹ đến chảy nước mắt , tôi thì thầm khẽ gọi :
- Mẹ ơi , mẹ có biết con yêu mẹ vô ngần . Tình mẹ cho con bao la trời biển , cả cuộc đời mẹ đã đổ bao nhiêu nước mắt , xót thương đứa con kém may mắn nhất của mẹ . Mẹ ơi , con không thể nào sống được khi thiếu mẹ , vì mẹ là hơi thở , là mắt , là tay , là chân của con ...
Đã bao lần tôi tự nghĩ và hiểu là nếu tôi chết đi , mẹ sẽ đau buồn lắm . Nhưng nỗi buồn của mẹ rồi sẽ nguôi ngoai theo thời gian . Chẳng hơn là hằng ngày mẹ phải nhìn thấy tôi sống tật nguyền đau đớn , với hình hài chẳng khác nào bộ xương cách trí , được che dấu dưới manh quần tấm áo và đôi bí tấ ...
Như một bà Tiên có phép thuật , mẹ biết tôi đã nghĩ đến cái chết , nên bà thường hay nói với tôi rằng :
- Con là lẽ sống của mẹ , cả đời mẹ được chăm sóc con như một em bé mẹ rất hạnh phúc .
- Con cần can đảm sống để đối diện , thi gan , thử thách với bệnh tật .
- Chẳng phải y khoa đang theo dõi từng biến chuyển trên thân xác con , chẳng phải con đã mong ước chờ đến ngày khoa học tìm ra thuốc chữa căn bệnh « Muscular Dystrophy » quái ác này . Vậy thì ít nhiều khoa học cũng cần dựa trên thử nghiệm , và trên cả thời gian là bao lâu con can đảm sống chờ đợi và hy vọng . Con hãy nói với Chúa : « Here I am , Lord ; I come to do your will » .
Tôi thương Mẹ và vâng lời , nên Chúa đã phải nghe tôi yếu đuối tuyên xưng đức tin , mỗi khi tôi cần tự xoa dịu đau đớn , cần có sức chịu đựng nỗi thống khổ mà tôi không thể tự vất bỏ đi được . Ngay cả đến con ruồi , con muỗi bé tí tẹo chúng cũng có thể tự do hành hạ tôi , cho đến khi mẹ tôi ra tay cứu giúp , đuổi chúng đi .
Nói chính xác là tôi đã tồn tại trên thế gian này 43 năm , cũng là một phép lạ , một sự tỏ rõ quyền năng của đấng tạo hoá có quyền ban sự sống cho con người , và Ngài chưa muốn đem tôi ra khỏi thế gian này , tôi còn phải sống bằng cách này hay cách khác trong khổ đau . Tôi nghĩ bất cứ người nào nhìn thấy tôi , cũng đều rất ái ngại và thầm nghĩ : « phải sống như thế thà chết sướng hơn » .
Thử hỏi còn gì đau khổ bằng khi tôi vẫn còn có đôi mắt để nhìn , đôi tai để nghe , cái miệng để gọi Mẹ suốt ngày và nhất là còn có cái đầu tỉnh táo biết thương nhớ , giận hờn , biết cảm nhận niềm vui , nỗi buồn , biết phân biệt phải trái , đúng hay sai , biết đói , biết khát , biết nóng , biết lạnh , biết đau đớn tê dại , biết nhờm gớm khi đã tiêu , tiểu ra tã ...
Nói tóm lại , khuôn mặt và bộ não của tôi trong 43 năm qua vẫn nguyên vẹn , bình thường , không bị ảnh hưởng bởi bệnh « Muscular Dystrophy » , một chứng bệnh làm teo dần các cơ bắp , mà tôi đã mắc phải từ năm lên chín hay lên mười tuổi .
Cha tôi là Sĩ Quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà , mẹ tôi là Công Chức . Ngày 30/04/1975 Cộng Sản miền Bắc cưỡng chiếm được miền Nam Việt Nam , thì đến ngày 29/05/1975 cha tôi phải đi trình diện « Học Tập Cải Tạo » , lúc đó mẹ tôi mới sinh em bé thứ tư được một tháng và tôi là đứa con lớn nhất mới được 7 tuổi . Lệnh bắt Cha đi « học tập » nghe nói Thiếu Tá học một tháng thì về . Nhưng mà thời gian cha tôi phải « học » trong các trại tù cải tạo lâu lắm , lâu gấp 120 lần thời gian VC gian dối nói là cha tôi đi học chỉ có một tháng , trong khi Cha đã học hết 5 năm ngoài Bắc , còn phải học thêm 5 năm trong Nam nữa , mới được tha về gặp lại Mẹ và 4 anh em chúng tôi năm 1985 .
Ngày Cha đi tù cải tạo , tôi vẫn còn mạnh khoẻ , hay ăn chóng lớn theo tuổi đời và phát triển bình thường như bao trẻ khác . Vậy mà hai , ba năm sau , chẳng biết tôi mắc phải chứng bệnh gì , cơ thể sinh ra yếu đuối , tay chân rệu rã , đi đứng không được vững vàng . Chỉ cần một sự va chạm nhẹ vào người tôi của ai đó , tôi cũng ngã lăn ra và khó khăn lắm mới đứng dậy được . Còn va chạm mạnh thì u trán , vỡ đầu . Vì thế trong thời gian còn đi học , thầy hoặc cô giáo đã phải đem tôi đến trạm xá hay nhà thương khâu vài mũi hay nhiều hơn , cho nên trên đầu tôi mới có nhiều vết sẹo lớn , nhỏ .
Khi tôi bắt đầu phát bệnh khoảng chừng vào năm 1978 hay 1979 gì đó , thời gian này người ta đồn ầm lên là trong Chợ Lớn có một ông Thầy rất tài giỏi , chữa bệnh theo cách văn minh tân tiến , không cần dùng thuốc mà dùng « xung điện » để chữa trị . Lúc đó tôi nào biết « xung điện » là gì . Chỉ biết là người thầy « tài giỏi » này dùng hai tay đặt lên đầu , lên vai bệnh nhân để chuyền « điện » của ông ( gọi là nhân điện ) chạy qua cơ thể người bệnh , gặp « điện » của bệnh nhân . Hai luồng « điện » này gặp nhau , thì xảy ra « xung điện » diệt trừ căn bệnh . Cách điều trị giản dị chỉ có thế thôi . Bất kể là bệnh gì .
Thầy chữa bệnh làm phước , không lấy tiền ( nhưng thầy vui vẻ nhận quà cáp bệnh nhân đem đến ) , vì vậy số bệnh nhân đến xin được Thầy chữa bệnh mỗi ngày rất đông . Nhà tôi ở xa , mẹ con tôi phải ra khỏi nhà từ 4 giờ sáng , đến địa điểm xếp hàng lấy số thứ tự cùng một đám đông người . Chờ tới khoảng 8 giờ thì Thầy đến cùng với người phụ tá . Người phụ tá gọi từng đợt 10 người theo số bắt đầu từ 1 đến 10 , bệnh nhân trong số được gọi , mau mắn vào trong ngồi xếp thành vòng tròn , để Thầy đi chung quanh đặt tay lên đầu , lên vai truyền « điện » cho nhanh chóng .
Sáng nào cũng vậy , mẹ tôi cứ phải dùng khăn ướt lau mặt cho tôi : đứa bé 10 tuổi còn đang say ngủ , có như vậy tôi mới chịu tỉnh ngủ mở mắt ra , và Mẹ mới lôi được tôi đến bên chiếc xe đạp xe đạp mini cũ kỹ , xốc tôi ngồi lên , bắt vòng tay ôm lưng Mẹ cho chặt , để Mẹ chở vào Chợ Lớn nhờ thầy truyền « điện » , tạo « xung điện » giúp cho cơ thể tôi cứng cáp , mạnh khoẻ trở lại . Ngày nào mẹ tôi làm việc vất vả quá mệt , ngủ quên đến 6 , 7 giờ sáng mới thức dậy , thì phải đi vội vã lắm . Và hôm ấy , nhanh nhất cũng phải đến 2 , 3 giờ chiều , mẹ con tôi mới về đến nhà , rất mệt mỏi và đói khát . Tôi không thích thú và tin tưởng vào sức mạnh « nhân điện » của thầy , nhưng tôi vẫn ngoan ngoãn theo Mẹ mỗi ngày đi chữa bệnh cho Mẹ vui lòng , nhất là bà Nội tôi lại luôn nói : « có bệnh phải chịu khó chạy đi vái tứ phương cháu ạ » .
Mẹ thời tuổi trẻ
Dù có phải « vái bệnh » vất vả tứ phương mẹ tôi cũng không ngại , nhưng sau mấy tháng nghỉ hè kiên trì theo Thầy , mà bệnh tình của tôi cũng không thấy có được một chút kết quả nào , mẹ con tôi đành bỏ cuộc , khi năm học mới đã bắt đầu . Thời gian này , mẹ tôi chở tôi đến cổng trường bằng chiếc xe mini cọc cạch , từ cổng trường tôi có thể tự đi vào lớp . Nhưng rồi sau đó , đã có vài lần tôi tuột khỏi xe , ngã xuống đường rất nguy hiểm , nên Mẹ không dám chở tôi đi học bằng xe đạp nữa , bà phải cõng tôi đến trường , đưa tôi vào tận chỗ ngồi trong lớp học . Đến giờ tan học , Mẹ lại bỏ công bỏ việc chạy vội đến lớp cõng tôi về , bất kể ngày nắng , ngày mưa . Muốn tôi đi học , Mẹ phải cõng thôi , vì hai chân tôi bây giờ chỉ còn khả năng đi được khoảng vài mươi bước , có người đi kèm cặp bên cạnh .
Đi học mà hành mẹ tôi như thế tôi thấy ái ngại và xấu hổ lắm , nên đã nhiều lần tôi xin Mẹ cho tôi nghỉ học , nhưng Mẹ tôi cương quyết không cho , Mẹ nói : bệnh tật như con càng phải học nhiều hơn . Con và mẹ chúng ta cùng cố gắng : Mẹ cố gắng lo cho các con có cơm ăn áo mặc , các con cố gắng học chăm học giỏi , hãy nghĩ đến Cha đang bị tù đày . Và mãi đến khi tôi tốt nghiệp cấp 2 , phải thi vào cấp 3 không đậu , một phần vì bệnh tật , một phần vì cái « tội » con Thiếu Tá « nguỵ » . Đến lúc này mẹ tôi mới đành chịu bó tay và buồn lắm , khi tôi không được tiếp tục việc học nữa .
Không đi học ở nhà quanh quẩn với bà Nội , bệnh tôi cứ vậy tăng thêm theo ngày tháng . Đến năm 1988 hai chân tôi không còn có thể đứng thẳng mà lê bước , ngay cả khi tôi dùng hai tay vịn , men theo điểm tựa mà nhấc chân đi cũng không được nữa . Muốn di chuyển quanh nhà , tôi phải ngồi xe lăn hoặc ngồi bệt xuống đất , dùng mông và hai tay chống mà lết đi , khi tôi tròn tuổi hai mươi , rất thèm đi đứng chạy nhảy với chúng bạn .
Năm 1991 , gia đình tôi được qua Mỹ định cư theo diện H . O # 8 . Ngay sau khi được cấp thẻ Medi-Cal , mẹ tôi đã sốt sắng đưa tôi đi chữa bệnh . Gặp bác sĩ gia đình giới thiệu tôi đến bác sĩ chuyên khoa , rồi ông chuyên khoa giới thiệu đến cả bệnh viện này , nọ . Cuối cùng tôi được chuyển đến Bệnh Viện của trường University of California of San Diego ( UCSD ) để khám toàn khoa , và làm tất cả những xét nghiệm cần thiết , kể cả thử DNA ( Deoxyribonuleic Acid ) . Kết quả cho biết là tôi bị bệnh « Muscular Dystrophy - Backer » , một chứng bệnh làm teo dần bắp thịt ( chỉ xảy ra cho nam giới ) . Bệnh này được tìm ra bởi vị bác sĩ tên Becker ( MD Becker ) .
Khi định được bệnh rồi , bác sĩ cho biết căn bệnh quái ác này vẫn chưa có thuốc ngăn ngừa và chữa trị , mặc dù cả thế giới , đặc biệt là nước Mỹ đã và đang nỗ lực nghiên cứu . Trong tuyệt vọng , tôi thầm cầu nguyện và rất hy vọng một ngày nào đó , các nhà khoa học sẽ tìm ra thuốc chữa trị và thuốc ngăn ngừa , để thế giới loài người không còn có ai bị mắc bệnh « Muscular Dystrophy » nữa .
Cha tôi vận rủi ngã ngựa , bị VC bắt nhốt tù 10 năm , cho tôi vận may đến được nước Mỹ , một xứ sở văn minh , giàu có và nhân ái nhất thế giới . Nên dù bệnh tật của tôi nan y không thể chữa trị , tôi cũng được an ủi phần nào , vì không phải lo lắng , chẳng biết làm gì để kiếm được miếng ăn , không phải lo sống đời tủi nhục như ở Việt Nam . Bởi vì chính phủ Mỹ có chương trình giúp đỡ những người bệnh tật , không còn khả năng lao động như tôi được chăm sóc sức khoẻ , được ăn no , mặc ấm , được hưởng tiền bệnh tật , gọi là tiền SSI ( Supplemental Security Income ) .
Tôi không có khả năng lao động nữa , nhưng mẹ tôi quả quyết : tôi vẫn có khả năng đi học để mở mang kiến thức , tránh thì giờ buồn chán , và để có thể học cho mình một ngành nghề , chỉ cần xử dụng khối óc và hai tay ( khẳng khiu yếu đuối ) học về văn thơ , hay học về computer chẳng hạn , còn hai chân thì cứ kệ cho nó lười biếng đặt trên xe lăn ...
Nghe Mẹ nói vậy , tôi cốù tảng lờ đi . Nhưng mẹ tôi không bỏ cuộc , bà cứ theo khuyến khích , thuyết phục tôi mãi bà nói :
- Học vấn rất cần thiết cho con . Tri thức đưa con đến với thế giới bao la , cho con đời sống vui vẻ hơn , hạnh phúc hơn . Con thử nghĩ xem , tại sao Mẹ đã luống tuổi rồi mà còn đi học , với mơ ước sẽ tốt nghiệp « Medical Assisstant » để biết lối mà chăm sóc cho con một cách khoa học , và Mẹ còn mơ ước xa hơn nữa , là được tình nguyện săn sóc những bệnh nhân hoạn nạn , tàn tật ở những nước nghèo đói , khi Mẹ có điều kiện và hoàn cảnh cho phép .
Tấm gương hiếu học của Mẹ đã nâng đỡ , khuyến khích tôi , nhưng chủ đích cũng vẫn là để làm vui lòng Mẹ , nên tôi đã theo Mẹ đến trường Mesa College làm thủ tục nộp đơn xin nhập học . Việc đơn từ ở trường , mẹ tôi rành lắm vì bà đã theo học ở Mesa College từ năm trước rồi , tôi không phải lo lắng gì cả đã có Mẹ giúp đỡ .
Những năm tháng hai mẹ con tôi theo học ở trường Mesa College tràn đầy thử thách , nhiều lúc tưởng đâu đã phải bỏ cuộc , không kham nổi những vất vả khó khăn , trần ai lắm khi đi học .
Trong diện dân nghèo « low income » , mấy mẹ con chúng tôi chỉ thuê được căn hộ trên lầu của một Apartment . Nên mỗi ngày đi học , mẹ tôi phải thức dậy từ rất sớm , dọn dẹp nhà cửa , lo điểm tâm cho cả nhà , lo nhắc nhở các em gái tôi đừng để lỡ chuyến xe Bus , phải đi học cho đúng giờ ...
Khi các em gái tôi đã ra khỏi nhà đi học , lúc đó bà mới đem cặp sách của tôi và Mẹ xuống dưới lầu , cất bỏ vào trong xe trước , rồi đi trở lại nhà trên lầu , bồng tôi trên hai tay đi ra cửa và đưa chân đá cho cánh cửa đóng khoá lại , rồi khệ nệ bồng tôi xuống thang lầu , đặt tôi vào xe , kéo dây an toàn gài móc vào cẩn thận cho tôi , rồi bà mới ngồi vào ghế tài xế .
Từ nhà tôi , Mẹ lái xe chạy khoảng 20 phút thì đến trường . Đậu xe vào parking của trường xong xuôi , bà ra sau xe mở « cốp » xe lên , lôi chiếc xe lăn ra ráp lại cho ngay ngắn , vững chắc , rồi mới mở cửa xe , nghiêng người vào bồng tôi ra , đặt ngồi trên xe lăn và đẩy tôi đến lớp học của tôi , tìm chỗ để xe của tôi vào đâu cho thuận tiện nhất , rồi Mẹ mới đi đến lớp của bà .
Trong lớp học , vì hai tay tôi yếu , rất khó khăn « take note » , nên nhà trường trả tiền « work study » cho một sinh viên , giúp tôi ghi chép vào « note book » những lời thầy giảng dậy hay dặn dò làm « home work » ở trang nào , sách nào , và hết buổi học thì đẩy tôi đến lớp kế tiếp hay lên phòng Lab ...
Khi tan học , Mẹ lại vội vôi vàng vàng chạy đến đón tôi ở phòng Lab hay ở lớp học cuối cùng nào đó . Lại đẩy xe lăn tôi ra Parking , bồng tôi vào xe , cài dây an toàn , đem cất xe lăn vào « cốp » xe và lái về nhà . Về đến nhà , tôi vẫn ngồi trên xe , chờ mẹ tôi đem cặp sách của hai mẹ con lên nhà trước , sau đó Mẹ mở sẵn cửa phòng , rồi mới trở xuống xe , ì ạch bồng tôi bước 18 bậc thang lên tầng lầu . Vào trong nhà , đặt tôi lên giường xong , Mẹ thường phải thay tã cho tôi ngay . Sau đó hỏi tôi có muốn ăn hay uống gì không để Mẹ lấy .
Lo cho tôi tạm xong , Mẹ bắt đầu làm việc nhà , làm đủ thứ việc không tên , rồi lại đi học thêm một , hai lớp nữa , còn tôi ở nhà lo làm « home work » và chờ Mẹ về lo bữa ăn tối cho cho cả nhà .
Mùa Đông nước Mỹ có nhiều ngày mưa phùn gío rét , tôi muốn nghỉ học ở nhà lắm , nhưng mẹ tôi vẫn cương quyết không bỏ lớp nào , nhất định chịu ướt , chịu lạnh bồng bế tôi lên , xuống thang lầu và đi học rất đúng giờ . Nhằm mùa học không có lớp ban ngày , trùng giờ cho cả hai mẹ con , chúng tôi phải chọn lớp đêm để học . Mùa Đông trời mau tối và ban đêm rất lạnh , có khi Mẹ bồng tôi đặt được vào xe rồi , là cả hai mẹ con ngồi run cầm cập , thế mà xe lại phải mở máy lạnh cho kiếng trong xe hết mờ , sáng trong trở lại mới thấy đường mà lái xe về nhà , những lúc ấy Mẹ luôn xuýt xoa nói :
- Tội nghiệp con quá , con ráng chịu lạnh một tí Mẹ mở lại heat là ấm ngay nhé !
Đâu phải một mình tôi lạnh , Mẹ cũng lạnh vậy , nhưng Mẹ không lo cho Mẹ mà chỉ nghĩ đến con . Mẹ con tôi chịu đựng vất vả như thế trên con đường trau giồi kiến thức . Và Mẹ đã tốt nghiệp « Medical Assisstant » hồi tháng 05/1997 . Tôi rất hãnh diện về Mẹ .
Tác giả , ngày ra trường trên xe lăn  
Và tôi cũng tự hãnh diện về mình , khi được nhận mảnh bằng AS « Associate of Art » ngành « Computer Information Science » vào tháng 06/2000 . Mảnh bằng này rất khiêm tốn , nhỏ bé , nhưng tôi có được nhờ vào tất cả công lao khó nhọc của Mẹ . Mẹ đã đổ biết bao mồ hôi , nước mắt cho con niềm tin , niềm tự hào còn có Mẹ nâng đỡ ủi an . Ngoài mảnh bằng tôi có được sau 6 năm , ( trong khi người bình thường chỉ cần 2 năm ) tôi còn học được thêm bài học « vượt gian khó » quý gía , và biết ý thức cần phải học vươn lên trong mọi hoàn cảnh .
Cầm được mảnh bằng AA nhỏ bé trong tay , tôi tự tin và mơ ước đến ngày sẽ cầm được mảnh bằng lớn hơn là BA hoặc BS ( 4 năm Đại Học ) thì căn bệnh « Muscula Dystrophy » trầm trọng hơn , theo thời gian đã làm teo hết các cơ bắp vùng ngực và lưng , ép phổi tôi teo lại , khiến tôi ngộp và khó thở , nguy hiểm đến tính mạng .
Tôi được đưa ngay vào bệnh viện « SHARP » , bác sĩ trách nhiệm đã khuyên tôi phải chọn một trong hai giải pháp :
1 . Không cần sự can thiệp của khoa học , chấp nhận sự rủi ro sẽ đến . Có nghĩa là tôi sẽ chết ngộp bất cứ lúc nào .
2 . Phải phẫu thuật , mở một lỗ nơi cổ , đặt ống gắn máy trợ giúp cho sự hô hấp . Như vậy mối nguy hiểm sẽ bớt đe doạ tính mạng và sự sống của tôi sẽ được dài thêm .
Thương Mẹ , tôi đã chấp nhận giải pháp thứ hai .
Trước khi mổ , Mẹ và tôi đã phải ký giấy chấp nhận mọi tình huống có thể xảy đến với tôi , kể cả tôi sẽ « ngủ » luôn trong ca mổ , không bao giờ thức dậy nữa . Mười giờ sáng ngày ấn định mổ , Mẹ đẩy xe lăn đưa tôi đến nhập viện . Mẹ đã cầm hai bàn tay khẳng khiu của tôi , ôm hôn trán tôi trước khi hai bà y tá đẩy tôi vào phòng mổ , còn Mẹ được hướng dẫn xuống lầu , đến phòng chờ đợi chờ kết quả ca mổ kết thúc ( tốt đẹp hay xấu ) . Tại phòng chờ đợi , vì lo cho tính mạng của con , Mẹ đứng ngồi không yên , đi ra đi vào bồn chồn đếm thời gian từng phút chậm chạm trôi qua như người ngớ ngẩn .
Trong năm tiếng đồng hồ chờ đợi , mẹ tôi không ăn uống gì cả , bà chỉ biết cầu nguyện rồi phó thác và xin vâng theo thánh ý Thiên Chúa . Rồi cũng tới lúc nghe cô y tá dùng máy phóng thanh gọi mẹ tôi lên lầu . Lên lầu vừa trông thấy tôi , nét mặt Mẹ liền rạng rỡ , vì Mẹ biết là tôi vẫn còn sống , còn ở lại trần gian với bà , Mẹ chưa vĩnh viễn mất con đứa con bất hạnh .
Mắt Mẹ rưng rưng lệ nhìn vào cổ tôi , sau khi giảu phẩu đã được đặt vào một ống plastic tròn , to bằng 3 ngón tay chụm lại , trong khi tay Mẹ vuốt tóc tôi như chia xẻ , như muốn gánh vác bớt cho tôi những đau đớn mà tôi đang chịu . Hiểu lòng Mẹ bao la , tôi cố nén mọi đau đớn , ráng gượng nở nụ cười với Mẹ cho Mẹ an lòng . Nhưng nụ cười đầu tiên của con dành cho Mẹ , sau khi hồi sinh vẫn còn ảnh hưởng thuốc mê , nên không trọn vẹn , không đủ xoá hết những lo âu , sợ hãi của Mẹ . Tuy vậy , bao nhiêu mệt mỏi của Mẹ như đã tan biến , khi cuộc đời Mẹ tưởng đã cạn kiệt hy vọng , lại đong đầy niềm vui và ý nghĩa cuộc sống , khi núm ruột của Mẹ vẫn còn đây . Mẹ lại được tiếp tục yêu thương , ấp ủ con trong vòng tay ấm áp , ngọt ngào tình mẫu tử . Tôi không thể ôm Mẹ được , tủi thân nên nước mắt tôi trào ra , không kìm chế được nữa , dù tôi đã tự hứa không bao giờ để Mẹ thấy con khóc mà đau lòng . Mẹ ơi , thế là cuộc đời con từ đây phải sống nhờ vào máy móc , và Mẹ phải thêm công việc chăm sóc sệ sinh , thay ống , rửa những linh kiện nối từ máy thở vào ống thở đặt nơi cổ họng chuyền qua vòm họng , thay thế cho buồng phổi của con , giúp con duy trì sự sống .
Phần tôi , rất đau đớn vì một vật lạ , luôn nằm nơi cổ họng , nối vào khí quản . Mỗi cử động dù nhỏ đều làm tôi đau đớn khôn cùng và luôn phải nhờ Mẹ giúp đỡ . Thân xác tôi như nằm trên bàn chông chịu cực hình . Tôi quá tuyệt vọng vì nỗi đau thể xác , nên tinh thần bấn loạn . Lần này , tôi thực sự không muốn sống nữa , tôi muốn từ gĩa cõi đời , muốn được giải thoát khỏi cực hình . Dù sao tôi cũng đã có 34 năm sống trong vòng tay êm đềm của Mẹ , thế là đã quá đủ rồi xin hãy cho tôi trở về với cát bụi . Tôi bày tỏ cùng Mẹ ý định này của tôi .
Nghe vậy , bà vội vàng ôm chầm lấy tôi , nức nở , nghẹn ngào qua làn nước mắt :
- Con bỏ Mẹ đi , Mẹ biết sống cùng ai , sống cho ai nữa đây ! Con đi rồi còn ai để Mẹ nâng giấc ủi an ! Ai sẽ cho Mẹ những giây phút dịu dàng hạnh phúc và hy vọng dù rất hiếm hoi , để cùng nhau đi hết đoạn đường đời cay nghiệt ! Triệu ơi ! mất con rồi đời Mẹ thành vô nghĩa . Lạc lối về Mẹ mất cả ánh sao đêm trông mong hy vọng . Con đừng bỏ Mẹ bơ vơ trơ trọi giữa đường đời , vốn đã nghiệt ngã với mẹ con ta . Triệu ơi , hãy vì mẹ con can đảm lên mà sống ! Mẹ ẵm bồng con , con an ủi Mẹ chúng ta đỡ nâng nhau . Con ơi , đừng bỏ Mẹ ...
Lời Mẹ than vãn làm tim tôi đau nhói , thắt ngặt lại và tôi cũng nức nở như chưa bao giờ được khóc trong đời . Tôi phải sống ! Cho dù tôi tàn tật ; cho dù tôi đau yếu mang bệnh nan y , nhưng sự hiện hữu của tôi mới làm cho nụ cười còn đọng mãi trên đôi môi Mẹ .
Mẹ ở bên con ngày ra trường 
Sự sống là cao quý . Cuộc đời dù là bất hạnh , cùng khổ đến đâu cũng đều có ý nghĩa sống , sống vị tha và rất cần đức hy sinh cùng lòng hiếu thảo . Mẹ ơi ! Hai hàng lệ của Mẹ hoà với nước mắt con , tự làm thành tờ giao ước của hai mẹ con ta , phải đồng lòng gắn bó đời nhau cho đến « khi Chúa thương gọi về » . Thân xác dù tàn tật cũng không được tự ý huỷ bỏ .
Tôi phải sống vì Mẹ như Mẹ đã từng sống vì tôi ! Tôi hiểu lòng Mẹ tan nát mỗi lúc nhìn tôi và lòng tôi cũng nát tan khi thấy Mẹ nước mắt mãi lưng tròng !
Có phải tại vì Mẹ đẹp người , đẹp nết nên phải chịu cảnh hồng nhan là đa truân ?
Có thật định mệnh đố kỵ muốn làm chết đuối « người trên cạn mà chơi » ?
Ôi , định mệnh ! Định mệnh sao quá trớ trêu ! Định mệnh đã dành riêng cho Mẹ những bất hạnh truân chuyên . Từ tuổi 30 , Mẹ đã phải một thân một mình nuôi dạy bốn đứa con thơ dại , vất vả nhất là chăm sóc đứa con tật nguyền , chăm sóc bà nội nay ốm mai đau , thay Cha báo hiếu , lo mộ phần an nghỉ cho bà nội , lo kiếm thêm tiền thăm nuôi , tiếp tế lương thực , thuốc men cho Cha trong suốt 10 năm tù cải tạo từ Bắc vào Nam . Mẹ quá vất vả , tảo tần , dãi nắng dầm mưa , bất chấp mọi gian nan , khốn khó , hiểm nguy luôn đe doạ đến tính mạng , vì Mẹ phải buôn chui , bán chợ đen , chợ đỏ dưới mắt cú vọ của công an nhân dân , Mẹ mới đem lại sự ấm no cho gia đình 6 người , trong hoàn cảnh cả nước ăn bo bo , mì sợi , ngô , khoai thay cơm gạo , sau ngày miền Nam được « giải phóng » , Cha được « đi học » mút mùa .
Ôi ! Mẹ hiền của tôi , một người Mẹ vất cả đời mà không hề than vãn , Mẹ âm thầm tận tuỵ , cống hiến trọn vẹn cuộc đời cho gia đình . Qua Mẹ , tôi nhớ đến câu danh ngôn : « Thượng đế không thể ở khắp mọi nơi , nên Ngài phải sinh ra những người Mẹ » . Và tôi liên tưởng đến Đức Mẹ Maria đã phải chứng kiến những nhục hình tra tấn của quân dữ trước giờ Jesus , con một của Người bị đóng đinh trên thập giá . Còn mẹ tôi , cũng khổ đau không kém gì Mẹ Maria vì Mẹ suốt đời phải xót xa nhìn đứa con trai đầu lòng duy nhất của mình , hằng ngày phải chịu khổ hình trong bệnh tật .
Thật không giấy bút nào tả xiết và tôi cũng không đủ khả năng để nói lên được lòng can đảm và sự chịu thương chịu khó , sự kiên trì cùng trái tim đầy ắp yêu thương , nhân hậu của mẹ tôi . Tôi chỉ biết yêu Mẹ bằng luỹ thừa tình yêu Mẹ mỗi ngày và sống , dù là sống nhờ Mẹ và máy móc dây nhợ quanh người .
Có lần tôi những tưởng đã mất Mẹ vĩnh viễn , khi bà bị một tai nạn xe hơi rất nặng giữa xa lộ 163 , bà bị gãy chân và bể đầu bất tỉnh . Tưởng mẹ tôi đã chết trong xe , người gây ra thảm trạng cho mẹ tôi đã bỏ chạy trốn mất . Ấy thế mà , sau bảy tiếng đồng hồ phẩu thuật , vừa hồi tỉnh , điều Mẹ tôi quan tâm đầu tiên là hỏi :
- Triệu đâu ? Con tôi vẫn bình yên chứ ?
Sau tai nạn đó mẹ tôi lại mang thêm trong chân những chiếc đinh vít inox , mà những lúc trái gió trở trời thường làm mẹ tôi nhức nhối khổ sở lắm . Những lúc ấy , tôi thương Mẹ biết chừng nào .
Mẹ Hoàng Minh Đức ơi , chúng con yêu thương và kính trọng Mẹ vô ngần , vì trong bất cứ hoàn cảnh nào , Mẹ cũng luôn dậy bảo , nhắc nhở anh em chúng con phải biết vâng lời , sống ngoan ngoãn , chăm chỉ học hành , luôn thật thà , khiêm cung , không hiềm tỵ ganh ghét bất cứ ai . Nhờ có Mẹ răn dậy cẩn thận như thế nên anh em chúng con , chưa hề biết gian dối hay ganh ghét ai bao giờ .
Mẹ chính thật có trái tim vĩ đại dành của chúng con ( và Cha nữa ) . Nhưng Cha đã từ chối nhận , đã rũ bỏ Mẹ và 4 anh em chúng con ngay sau khi đến được nước Mỹ , trong khi Mẹ luôn nghĩ sẽ cùng Cha sống đến già , yêu đến già ...
Thử hỏi có người nào không âu sầu , khi biết đứa con trai duy nhất , bị mắc căn bệnh nan y , không thể nối dõi tông đường . Mẹ cũng vậy , Mẹ rất đau buồn và còn phải nhận thêm cay đắng khi « thuyền tình đã neo bến mới » . Dù đau buồn cay đắng , Mẹ vẫn không hề biểu lộ sự giận dữ vì lòng Mẹ rất nhân hậu , bao dung . Mẹ đã nói :
- Cha khổ nhiều vì CS rồi , đừng ép buộc Cha thêm khổ sinh ra uất ức , la hét , chưởi rủa khi phải ở lại với chúng ta . Hãy để Cha quyết định theo cách tốt nhất mà Cha chọn . Nếu từ bỏ mẹ con mình mà Cha hạnh phúc , thì hãy chấp nhận .
Tôi biết , Mẹ nói vậy là để trấn an anh em chúng tôi và để che dấu cõi lòng tan nát , an phận chấp nhận quyết định của Cha . Cách đây không lâu , Mẹ nhờ cô bạn mở cho một địa chỉ e-mail , khi được hỏi Mẹ chọn « password » là những chữ gì , Mẹ đã nói ngay câu « đả đảo ông chồng » rồi Mẹ và cô bạn cùng cười vang . Tôi cũng chua xót cười theo và thương Mẹ hiền lành chỉ biết hô « đả đảo » khi Cha tuyệt tình !
Cha ơi , hai mươi năm đã trôi qua , Cha sống có hạnh phúc không , Cha có toại nguyện với các em trai khôi ngô , khoẻ mạnh « nối dõi tông đường » , Cha có cõng các em trên lưng Cha , như Mẹ đã cõng con nhiều năm tháng trên lưng Mẹ . Lưng Mẹ êm đềm và ấm áp lắm , không biết lưng Cha thế nào , con chưa một lần được Cha cõng trên lưng , được vòng tay ôm cổ Cha âu yếm , đấy là điều con mãi nuối tiếc . Và bây giờ thì con không còn có thể vòng tay ôm cổ Cha được nữa , nếu như Cha có về và muốn cõng con , khi hai cánh tay con thịt đã teo biến hết , chỉ còn da bọc lấy xương , lõng thõng và vướng víu khi Mẹ tắm rửa , thay quần áo cho con . Khi con xử dụng computer , Mẹ phải nhấc cánh tay khẳng khiu của con đặt lên bàn , cầm mấy ngón tay con đặt trên con chuột ( mouse ) kéo từng ngón vào vị trí chính xác thuận tiện nhất , để con có thể bấm xử dụng được dễ dàng . Tuy vậy , chốc chốc con lại gọi Mẹ ơi , Mẹ hỡi để Mẹ chạy đến giúp , vì đẩy tới đẩy lui , con « mouse » đã chuồi ra khỏi tay con rồi , mà con không thể tự nắm bắt nó lại được .
Cha ơi , con chợt nhớ đến Cha mà viết những dòng chữ này , nếu Cha có tình cờ đọc được , xin hiểu lòng con , đứa con trai tàn tật thân xác từ thuở ấu thơ , luôn khao khát tình Cha . Bởi vì tình Mẹ dù có bao la , cũng không thể phủ trùm thay thế tình Cha cho con . Con đã có « Ánh Sao Tình Mẹ » , con cũng muốn có những nốt nhạc cho tình phụ tử , là thật lòng con đấy !
Và hơn tất cả con luôn cảm tạ hồng ân Thiên Chúa , đã ban cho con đủ sức chịu đựng và « xin vâng" đón nhận mọi khổ đau và cho con còn sống đến hôm nay .
Con xin tri ân nước Mỹ . Vinh danh Mẹ . Tạ ơn Cha . Cám ơn các em gái Trinh - Trâm - Bình và các cháu đã chăm ngoan , học giỏi thay anh , thay bác Triệu bù đắp , đóng góp tài sức cho gia đình , cho xã hội . Cám ơn các em rể thuỷ chung , mạnh mẽ , thẳng ngay như tùng như bách làm cột trụ vững chắc cho gia đình được tràn đầy hạnh phúc , luôn vang tiếng cười .
Con cũng nguyện xin Thiên Chúa trả công bội hậu cho tất cả mọi người đã đối đãi tử tế với gia đình con , cách riêng là an ủi , giúp đỡ Mẹ và con trong hoạn nạn . Đặc biệt cám ơn anh chị Cao Ngô An đã không quản ngại vất vả làm tài xế đưa Mẹ đi chợ , giúp Mẹ nấu nướng , đưa em đi khám bệnh , đi những nơi cần thiết , từ khi Mẹ bị tai nạn xe hơi trên xa lộ , không lái xe được nữa . Em ơn anh nhiều lắm .
Đỗ Minh Triệu , San Diego 2011/03/03

No comments: