Tuesday, November 8, 2016

TRẦN HỒNG CHÂU *NGUỲỄN VỸ *ĐẶNG PHÙNG QUÂN*

NGÔ MINH HẰNG * NGUYỆN ƯỚC CUỐI CÙNG

NGUYỆN ƯỚC CUỐI CÙNG

Khi tôi chết, điều mà tôi ước nguyện
Lá cờ vàng xin phủ áo quan tôi
Bởi vì tôi từ thuở biết yêu đời
Đã tha thiết yêu màu cờ dân tộc
Màu cờ ấy biểu trưng cho nòi giống
Là hồn thiêng tổ quốc Việt Nam tôi
Là anh linh xương máu tự bao đời
Là đại diện cho tinh thần, lý tưởng
Màu cờ ấy, màu ba miền đất nước
Màu tự do, màu nhân bản, yêu thương
Dưới màu cờ, tôi có một quê hương
Dân được sống với nhân quyền, hạnh phúc
Cờ hạ xuống, quê tôi đầy tủi nhục
Dân căm hờn nhìn nước mất nhà tan
Thấy dân lành trong áp bức dã man
Tim tôi đập những nhịp đời thống khổ
Tôi đã than những lời đau của gió
Đã thở dài đất thở tiếng ưu tư
Những hồn thiêng từ các nẻo âm u
Đã nghiêng xuống thơ tôi, dòng tâm sự
Hồn tôi đấy, đau chung hồn quốc sử
Máu từng dòng theo lệ chảy thành thơ
Nhịp tim buồn thao thức đập bơ vơ
Sẽ ấm lắm khi cờ vàng tươi lại
Dẫu tôi chết, hồn tôi còn sống mãi
Xin một lần cờ phủ áo quan tôi
Vì tình yêu từ thuở chớm đôi mươi
Sẽ viên miễn thăng hoa cùng lẽ sống
Đấy, duy nhất, một điều tôi ước vọng
Rất hồn nhiên, xuất phát tự lòng tôi
Lá cờ vàng dân tộc qúy yêu ơi
Rồi sẽ lại huy hoàng trên đất Việt
Ngô Minh Hằng

THƠ TRẦN HỒNG CHÂU

NÚI, ĐI VÀO HỒN XANH MƯỚT
Trần Hồng Châu


Suddenly,I realize
that if I stepped out of my body I would break
into bloosom.
J.Wright


Mưa tạnh
Núi vẽ mày
Điểm trang
Mắt xanh
Tóc thề xanh
Ta nằm cuộn tròn
Núi tử cung ôm ấp
Người tình mẹ
Mặc cảm ấu thơ
Nuốt hoa mật
Nuốt sao trời
Không dưng đôi cánh mọc thân gầy
Níu chặt
Níu chặt
Ngón buồn
Cao xanh
Ta vào xanh
Tan núi lam
Màu khí quyển
Ảo giác không gian
Áo biếc
Ảo giác thời gian
Tím ngát trầm hương
Đi vào hồn xanh mướt
Hoa lá cỏ cây
Bể dầy vĩnh cửu
Đạo hàm vô biên
Đi vào âm vang
Hơi ấm cửa mình núi
Nguồn cảm miên trường
Đi vào quạnh hiu mênh mông
Đắng hạt muối trong lòng sóng lớn...
(NHỚ ĐẤT THƯƠNG TRỜØI)

NGUỲỄN VỸ * HOÀNG HÔN

Hoàng Hôn
  Nguyễn Vỹ



  Một đàn
Cò con
Trắng nõn
Trắng non
Bay về
Sườn non.
Gió giục
Mây dồn,
Tiếng gọi
Hoàng hôn
Buồn bã
Nỉ non
Từ giã
Cô thôn ...
Còn con
Cò con
Trắng non
Nào kia,
Lạc bầy,
Lại bay
Vào mây,
Ô kìa!


SƠN TRUNG * ANH SẼ ĐƯA EM VỀ

ANH SEÕ ÑÖA EM VEÀ
Ngaøy mai khoâng coøn maøu côø ñoû
Anh seõ ñöa em veà thaêm queâ xöa
Anh seõ ñöa em veà Sôn Taây,
Thaêm queâ em Thaïch Thaát
Anh seõ cuøng em leân Saøi Sôn
Thaêm chuøa Thaày
Chuùng mình seõ ñi khaép
Moät traêm gian chuøa coå.
Anh seõ cuøng em,
Thaêm chuøa Taây Phöông
Ñaõnh leã Boà taùt nghìn maét traêm tay.
Anh seõ cuøng em leân nuùi Taûn,
Cao choùt voùt chín taàng maây.
Thaêm ñoäng phuû cuûa Sôn Tinh ñaïi thaéng
Anh seõ ñöa em veà Haø Noäi,
Thaêm phoá phöôøng naêm cöûa OÂ xöa
Anh seõ cuøng em ñi daïo Bôø Hoà
Thaêm chuøa Traán Quoác,
Thaêm ñeàn Ngoïc Sôn
Thaêm nhöõng haøng bia Vaên Mieáu
Thaêm cung ñieän cuûa Ngoïc Haân, Nguyeãn Hueä.
Anh seõ cuøng em ñi traãy hoäi Chuøa Höông
Thaêm am Phaät Tích,
Thaêm ñoäng Tuyeát Quynh
Vaø caàu nguyeän chö Phaät möôøi phöông!
Anh seõ ñöa em veà Baéc Ninh
Queâ höông Quan hoï
Ñeâm traêng raèm nghe khuùc haùt aân tình.
Anh seõ cuøng em
Gheù phuû Töø Sôn
Tìm nhöõng khuùc ca aân aùi
Cuûa Tröông Quyønh Nhö vaø Phaïm Thaùi.
Anh seõ ñöa em veà Quaûng Bình
Qua soâng Gianh
Queâ höông anh,
Boán beà nuùi soâng vaây phuû
Nghe aâm vang thôøi Trònh Nguyeãn phaân tranh!
Anh seõ ñöa em vaøo ñaát Thaàn Kinh
Ñeå nghe tieáng chuoâng chuøa Thieân Muï
Ñeå nhìn nöôùc soâng Höông xanh
Ñeå leân thaêm nuùi Ngöï Bình
Ñeå vaøo trong Ñaïi Noäi
Thaêm cung ñieän caùc ñeá vöong ñôøi tröôùc!
Anh seõ ñöa em leân Ñaø Laït,
Thaêm Cao nguyeân boán muøa thoâng baùt ngaùt.
Anh seõ cuøng em thaêm hoà Than Thôû,
Thaêm thaùc Cam Ly
Thaêm tuaàn traêng maät!
Roài chuùng ta seõ trôû veà Ñoàng Nai
" Nhaø Beø nöôùc chaûy chia hai,
Traêm naêm nghìn kieáp chöa phai aân tình!"
Em ôi!
Vöøng traêng khoâng bao giôø maát,
Vaø muoân naêm coøn nhöõng buoåi bình minh!

ĐẶNG PHÙNG QUÂN * TỰ TRUYỆN

TỰ TRUYỆN
ĐẶNG PHÙNG QUÂN

            Ngăn kéo thứ nhất                                           

       Tôi thường có thói quen buổi sáng vào ngồi uống                 

      cà phê ở một quán trung tâm thành phố trước khi đến             

      lớp dạy.Ngoài trời còn nhá nhem, những ô cửa                      

      kính mờ hơi sương, những ngọn đèn lục khuất ở các                

      góc tường vẫn cháy sáng, một vài khuôn mặt quen thuộc          

      trầm ngâm trước ly trà bốc khói.Trong sớm mai nỗi               

      nhọc nhằn của một ngày mới bắt đầu.Tôi vẫn thường              

      tự hỏi quanh ta những âm mưu thử thách nào sắp sửa             

      bắt đầu                                                                  

Barthes không quan niệm không có tác phẩm, nhưng ông nhận định tác phẩm hiện đại không thể khả hữu, khi nhà văn với văn tự của ông còn ở trong một mâu thuẫn không lối thoát :                            

 Trong bất kỳ hình thức văn chương nào, cũng có sự chọn lựa tổng   

   quát một thái độ, một thái độ đạo đức, chính vì những tương      

    quan giữa suy tưởng của nhà văn về xử thế xã hội đối với hình     

    thức và sự chọn lựa của mình, chọn lựa một luân lý về hình thức  

    chọn lựa không khí xã hội mà trong đó nhà văn quyết định xác    

    nhận bản chất ngôn ngữ của mình.Tóm lại nhà văn định vị trên    

    một thực tế hàm hồ : giao ngộ tương tác giữa nhà văn và xã hội;  

    từ cứu cánh tính xã hội này, đưa đẩy nhà văn tới những nguồn     

    lực cần thiết trong sự sáng tạo của ông, bằng một thứ chuyển      

    hoán bi đát.Chính vì không có tư tưởng nào không cần ngôn ngữ  

    mà Hình thức là phán quyết đầu tiên và sau cùng của trách        

    nhiệm văn chương, và chính vì xã hội không hòa giải mà ngôn      

    ngữ, tất yếu và thiết yếu bị chỉ huy, đã tạo dựng cho nhà văn một 

    thân phận xâu xé, xót xa.

                                 

                                                                                     

                                                                                     

  Trong văn chương chỉ có những nhân vật thực (thực sự)

  Trong triết học chỉ có những nhân vật phi thực (thực chất)

  Cuộc hành trình của nàng gần ba mươi năm, qua gần nửa vòng trái đất mới gặp lại người yêu (cũ).Cuộc tình tưởng chừng không bao giờ được thuật lại, ví như một câu thơ ngẫu hứng (dở dang) trên trang giấy trắng trơn

              chim sẻ về mùa này trên những cành hoang trong



bỗng nhiên chàng hiểu đó không là ảo tưởng nhưng tập hồ sơ lý lịch thứ nhất trong đời người.



    Ngăn kéo thứ hai



         Người đàn bà ấy đã nhắc nhở lại nơi chàng cả một thời tuổi  trẻ.Những cơn mưa trên phố xá Đà lạt.Chao ơi, lâu lắm rồi   chàng mới xuôi về mối tình đầu thưở cũ.Con đường dốc quanh   co lên đỉnh đồi dẫn đến ngôi nhà ở chênh vênh cạnh rừng thông   bạt ngàn đó.Nhớ.Lúc kéo cao cổ áo, đốt một điếu thuốc, ngừng  lại nghỉ một giây mệt mỏi rồi bước trên lối đi lát gạch, bâng  khuâng đứng bên cửa nghe tiếng nàng hát nho nhỏ (dường như chỉ để  nghe một mình) trong lúc làm bếp.Cô thiếu nữ mười lăm  ấy, với khuôn mặt trăng rằm (chàng thường chế nhạo như thế,   cộng với cái răng khểnh làm dáng) là một thế giới thứ nhất đã  mất của chàng.                                                                       

thành phố của nàng nhìn ra Thái bình dương, nơi nhà thơ lưu vong Czeslaw Milosz đã viết những viễn tưởng Widzenia nad Zatoka San Francisco --nàng có biết điều đó ?

thành phố của nàng mỗi sớm mai chuyến tàu điện chạy ngược từ lâm viên quốc gia về khu thị tứ, tiếng chuông bạt trong gió, nàng cũng đã ra khỏi nhà, đi ngang quảng trường ngăn con lộ chính của trục giao thông nam bắc với khuôn viên Đại học, con đường nhỏ và thảm cỏ được cắt tỉa thành hàng như đánh dấu lối đi vì ngày nào nàng cũng thức giấc đều đặn vào lúc năm giờ ngồi tĩnh tâm đợi ngoài trời sáng rõ (có những buổi sương mù giăng tỏa ngập không gian, nàng nhìn qua khung cửa sổ chờ ngọn đèn trên nóc cao ốc xa tắt để đánh dấu ngày mới), như một công chức hành chính làm việc đúng giờ, nàng qua khỏi quảng trường để đón chuyến xe sớm nhất tới Dale, chuyến xe với những khuôn mặt quen thuộc theo một lịch trình nhất định, có nhắm mắt nàng cũng tưởng tượng được mỗi người khách đó ngồi ở hàng ghế nào (như) thể một định mệnh ràng buộc (nàng tự cười thầm về ý nghĩ vơ vẩn) trong khi những âu lo mỗi ngày sắp đặt trong đầu như một con toán đố thuở học trò (gọi cho người cán sự mới nhận việc - đo nhiệt độ - làm công việc vệ sinh buổi sáng - hâm nóng thức ăn sửa soạn từ tối hôm trước - đã đến ngày gội đầu - trước khi tắm - trải nệm giường mới - thay tã - mặc áo mới - chải tóc sau khi lau khô cẩn thận để tránh nhiễm cảm - đặt ngồi ở ghế bành với gối dựa êm, chắc - kể từ lúc bà cụ ngã bệnh, căn bệnh của tuổi tám mươi cầm cự theo ngày tháng) nàng thốt lên nho nhỏ trong miệng như vừa chợt khám phá ra một điều mới lạ, như thể sự khó chịu ấm ách trong lồng ngực vừa được cởi bỏ nghe nh- nhõm (nàng vừa nhận ra cơn đau ngang thắt lưng bấy lâu là vì chiếc giường bệnh kê cao quá so với tầm vóc của nàng, mỗi khi nàng đỡ m- từ chỗ nằm sang phòng tắm),

lại một chuyện bận rộn chiếm khoảng trống trong trí mấy ngày (và  nàng cảm thấy hạnh phúc với điều đó)

những ngày tháng khi còn làm trợ giáo ở Min., nơi nàng tự đặt cho một cái tên là Xứ Tuyết, nghe như tên một tiểu thuyết Nhật bản, mùa hạ cũng nóng bốc lửa, công việc không ràng buộc như bây giờ nhưng sao nàng không cảm thấy chút tự do như giây phút ngồi trên một lộ trình hàng ngày nhất định lúc này.Nàng không thể kể lể cho

người nào.

thành phố của nàng, nơi chàng đã đặt chân đến vào tháng mười

mang theo câu thơ của Milosz

  Bylo nas wielu, z Jass i Koloszwaru, Wilna i Bukaresztu, Sajgonu   

  i Marakesz                                                                      

  Wstydliwie pamietajacych domowe zwyczaje

  lũ chúng ta đến từ Jassy và Koloshvar, Wilno và Bucharest, Saigon với

  Marrakesh nguợng ngùng nhớ lại những tập quán nơi quê nhà         

tâm sự thường xảy đến với những người di dân đến chốn này, một thành phố đang thất lạc trong trí nhớ -  bạn có biết mỗi con đường chỉ những con số (lục lạo trong tiềm thức để hình dung cuộc hẹn)/năm sinh, giờ bay và điện thoại dự liệu nếu khi tới/sự biến đến với nàng - hình dung một Đà lạt của riêng nàng và chàng lúc này (tôi vẫn tưởng tượng nàng đứng ở dưới chân dốc, khép tà áo tung lên trong gió, trông theo cho đến lúc xe chạy khuất cuối đường vòng), tôi vẫn tưởng mang đi được cả hình ảnh tuổi mới lớn của nàng (song thất bại) dẫu chiếm đoạt tất tận những giấc mơ khi nàng xa rời trường học (sống với nhau trọn kiếp) - dường như thuở ấy chiến tranh còn ở tận góc chân trời nào,

(chiến tranh, chia ly, đời sống chỉ là những khái niệm thật mơ hồ đối với nàng) -                                                                        

đó là câu chuyện ba mươi năm về trước đối với chàng, ở một thành phố khác khi chàng khởi cuộc hành trình này - theo đuổi một nhân vật của chàng

         người đàn bà ở một góc khác - không, tất cả chỉ là sự mơ hồ,

         bắt đầu cho cuộc sáng tạo, hay thật ra chỉ là cơn ái tình làm 

         xong, kéo tới, bao vây lấy cơn buồn ngủ lúc này rủ rê, vỗ về ngã

         mình xuống tấm nệm để thiếp đi, quên hết trong khi thân hình

         nhớp nhúa, ý nghĩ thì bồng bềnh trên một khoảnh khắc vừa đoạn

         lìa với khí hậu của căn phòng 3x4 thước chỉ chứa đủ một cái 

         giường sắt không treo mùng đặt song song với cái bàn xếp những

         tạp chí nhiều hình ảnh (những cái gáy nhiều màu sắc, dễ nhận 

         ra) khung ảnh chữ nhật mặt nhựa trong suốt lồng chân dung một

         người đàn bà, nét mặt mờ ảo dưới ánh sáng, đang cười, cái phin

         cà phê để trên chiếc ly bằng sành nung                           

người đàn bà giờ này đã thật trưởng thành (thật sự ở vào lứa tuổi bốn mươi đã tự coi là già lắm rồi, không còn gì để mơ tưởng - như nàng thường nói) - bỗng dưng thời khắc xáo trộn vì chàng xuất hiện

         tưởng anh không còn sau cuộc biến động/ý nghĩ của chàng cũng

         vậy/như một lần tự sát/có thể nào mình gặp lại nhau - ngày xưa

         mình đã vô tình vì nghĩ sự gần gũi chẳng thể có gì chia      

         cách/bây giờ em sợ vô tình/thành phố như một căn phòng ngủ

         khi hai thân xác kề bên nhau                                        

giữa những thân xác khác, biến dời và nghiêng lệch tùy theo ý nghĩa, thấm nhuần xung quanh và vượt qua ý nghĩa thân xác, luôn luôn cầu khẩn và thu phục nội dung, tự biến đóng kín châu thân, trong nội tại cũng như qua các tri thức đắc thủ, những kinh nghiệm từng trải, những cảm tình nuôi dưỡng, đồng thời cũng khám phá cái trống vắng,

sự xóa bỏ mọi nội dung, sự lược giảm hiện diện vào tha tính       

    

    Căn phòng đường Sloat



     Ngay từ buổi đầu tiên khi gặp lại nhau, khí hậu tháng mười nơi thành phố nàng ở đã chớm lạnh, cái lạnh không ẩm thấp làm se da thịt, lúc bước chân vào căn phòng, chàng đỡ chiếc áo khoác ngoài của nàng vắt lên thành ghế, họ đã ôm chầm lấy nhau - nàng dụi mặt vào ngực chàng, nghe như thấm những giọt nước mắt tự nhiên ứa ra (và nàng nức nở không nguôi) - rồi một khoảnh khắc nào đó, họ đã nằm bên nhau, thân thể của nàng (người đàn bà chưa qua lần sinh đẻ nào) không một dấu ngấn, đầu vú tròn, đỏ nhỏ xinh xắn, làn da mịn dưới những cảm giác của bàn tay chàng (và chàng nhận ra một nốt ruồi son ở phía bụng dưới của nàng), chàng thầm thì nói điều đó với nàng

- hai người cùng thốt lên cười trong lúc thân xác đã kề bên nhau - họ cùng chia xẻ một ý nghĩ trong ba mươi năm qua đi tìm kiếm thấy lại một điều gì đó riêng tư của chính mình trong xát-na này (ngày xưa, tại sao? em nhát lắm, có thể vì khung cảnh thời trung cổ Đà lạt, có thể để chờ đợi một ngày thực sự em sẽ là của anh, cái ngày ấy đã trở

thành ngày dài nhất suốt cuộc hành trình đời người, nghe như tiếng than vãn của nàng/của chàng), cái riêng tư ấy đến thật muộn trên thành phố lạ mặt.

    Mười mấy năm sau khi chàng đặt chân đến xứ sở này, chuyến xe đón người tị nạn ở phi trường đã chạy ngang thành phố về hướng thung lũng, cho đến ngày hẹn đến thăm nàng, chàng mới có dịp trở lại, kể cho nàng nghe lúc lái xe trên con lộ mười chín, chàng đã lạc đường đến tận vùng đồi sát bờ biển (đứng ở trên mỏm đất cao nhìn ra trùng dương xa, chân trời mờ mịt trong sương chiều, hình dung nàng cũng nhạt nhòa) bây giờ hiển hiện trong từng cảm giác, chàng thú thực vẫn như ảo tưởng, "ôm chặt em đi" - nàng thầm thì khuyến khích, từ lâu rồi...một nơi để trở về, căn phòng, nơi mà tôi (sẽ) phải đến bởi vì không thể là nơi nào khác - thế giới đã dành cho chúng ta một chỗ này, chàng mơ hồ nhớ như đã đọc (viết) ở đâu đó, một chỗ ngồi với nhau ở thềm cát ngoài bãi biển, ngó mông về phía những đợt sóng trùng trùng lớp lớp dội vào bờ thấy một người đàn ông dáng vẻ Á đông đang thổi chiếc kèn đồng, âm thanh dạt lại theo chiều gió, nàng tưởng tượng tiếng nhạc đó như nói với mình                                                           

                                                                                     

     Ngăn kéo thứ ba                                              

                                                                       

       Khởi đầu là tình yêu.Giống như Cựu Ước viết : Berechit/bara elohim et hachchamáim veet haárets.Derrida cũng khởi từ phần thứ ba trong Rechtsphilosophie của Hegel để viết : Tôi bắt đầu với tình yêu.Con đường gai góc để nói đến Hegel, đến Genet, đến Freud.Có phải tất cả chỉ là phỉnh gạt ? Hãy tin vào sự khởi đầu, vì tình yêu là một khoảnh khắc của Sittlichkeit.

   Hegel ghi nhận trong thiên mở đầu Gia đình :

       Liebe heisst uberhaupt das Bewusstseyn meiner Einheit mit  

       einem Anderen, so dass ich fur mich nicht isolirt bin, sondern

       mein Selbstbewusstseyn nur als Aufgebung meines Fursichseyns

       gewinne, und durch das mich Wissen, als der Einheit meiner 

       mit dem Anderen, und des Anderen mit mir                    

       tình yêu nói chung mang ý nghĩa ý thức tính thống nhất của ta

       với tha nhân, đến độ ta không còn bị cô lập trong ta nữa, nhưng

       ta có thể thắng cái tự thức như thể từ bỏ cái ta quy nội, và kể

       từ cái tự kiến này mà thống nhất được ta với tha nhân cũng như

       tha nhân với ta                                                           

tình yêu lại là Empfindung - die Liebe ist aber Empfindung - sự tìm kiếm cái thất lạc trong nhau, khi phút ban đầu của tình yêu là không muốn sống một mình/dass ich keine selbststandige Person fur mich seyn will/ta thấy ta trong tha nhân/dass ich mich in einer anderen Person gewinne

tình yêu là điều mâu thuẫn không ngờ - die Liebe ist daher der ungeheuerste Widerspruch                                                      

Marx hẳn không thể hiểu quá trình biện chứng này                     

       mâu thuẫn biện chứng của tình yêu với Hegel vượt lên khỏi nhận

       thức lý luận/den der Verstand nicht losen kann - những mặt đối

       lập (chung/riêng, khách/chủ, tổng thể/cá thể...); mâu thuẫn gắn  

       bó với Aufhebung/Vereinigung, những vận động dàn trải khắp tư

       tưởng Hegel khi ông viết tình yêu không có tha thể vì bạn hãy   

       yêu tha nhân như chính bạn - als einen der du ist, vì yêu chính  

       mình là một tiếng không có ý nghĩa (ein Wort ohne Sinn)

tôi không đưa bạn vào con đường hữu thần luận của Hegel (bạn có thể theo chân Derrida đọc lại Freud khi phân tích  sinh thực khí trong cổ thoại hy lạp, kể rằng mỗi khi nhìn thần Medusa là biến thành tượng đá : khủng cụ của Medusa là niềm khủng cụ bị thiến hoạn gắn liền với cái nhìn, bởi vì đứng trước cái đầu bị cắt và miệng mở rộng chính là đứng trước âm hộ của người m-; trong nghệ phẩm biểu hiện tóc trên đầu Medusa bằng hình tượng những con rắn bắt nguồn từ mặc cảm thiến hoạn vì tuy chúng có vẻ dọa nạt nhưng lại làm giảm vẻ khủng khiếp, vì chúng thay thế dương vật mà nguyên ủy của khủng khiếp là do thiếu vắng dương vật (dessen Fehlen die Ursache des Grauens ist) - nhìn đầu Medusa làm bạn sợ cóng đến độ biến thành đá, cóng biểu hiện cương cứng có nghĩa là vẫn còn dương

vật)

Hegel nói đến phân hóa thành hai là cội nguồn của nhu cầu triết học (Entzweiung ist der Quell des Bedurfnisses der Philosophie), mối quan tâm của lý trí nhằm chế giảm sự phân hóa này.Đó chẳng qua là một cách nói của quyền năng thống nhất (Macht der Vereinigung), cho nên cần đến triết học chưa hẳn là triết học.Triết học chỉ bắt đầu

bằng chính nó.Từ triết học từ tự nhiên đến triết học về tinh thần diễn ra cái vòng biện chứng, khởi từ nhu cầu đến cảm thụ cái khuyết, cái khuyết của cá thể trong giống, cái chia cách của giống trong cá thể, như vận động hàn gắn vết cắt, làm đầy chỗ khuyết như hành động giao hợp của chủng loại (Begattung), làm tình giữa giống cái với

giống đực (Geschlechtsverhaltnis).

     tình yêu là mâu thuẫn nằm ngay trong phân hóa giữa hai giống và chỉ trong giao hợp mới lấy đi sự phân hóa này.Cái cơ động của Aufhebung là quan hệ giữa giao cấu và khu biệt đực cái, nhưng giống đực và cái không đối lập như hai từ mà khu biệt của bất phân và phân hoá, như mồng đóc giống với dương vật nhưng thụ  động, cái hình thành tiểu âm thần giống như túi dịch hoàn và đường rãnh ngọc hành làm thành âm đạo nơi đàn bà - giao hoan là thụ cảm (das Empfangen) của đàn bà và cử hoạt (das Tatige) của đàn ông, một bên nhận và một bên mất đi

Cái vòng vo chạy đuổi theo nhau như cút bắt trong cuộc làm tình nơi đàn ông/đàn bà thăng hoá thành Aufhebung trong triết lý Hegel âm u đến thế

nhà thơ như Francis Ponge vỡ lẽ tại sao khoái đọc ngụ ngôn La Fontaine hơn Schopenhauer hay Hegel vì bớt mệt, lại nhiều thú vị , sạch sẽ hơn và ít lợm (moins fatigant, plus plaisant; plus propre, moins degoutant)

Derrida khi đi tìm hiểu điều đó đã tự hỏi :

    Hegel (le philosophe) n'est pas très propre, et il faut, après l'avoir lu, se laver, on dirait même s'en laver les mains...

    Pourquoi les philosophes seraient-ils, sans compter toutes leurs  autres insuffisances, sales?

    Hegel (triết gia) không sạch lắm đến nỗi sau khi đọc ông, ta phải đi tắm nếu không  muốn nói phải rửa tay nữa

    Tại sao các triết gia lại bẩn, chưa kể tới những khiếm khuyết khác?

trong muôn vàn lý do, cái tội nhất của mấy triết gia là cứ "huyên thuyên bất tận"/"volumenplusieurstomineux", không biết cắt ngắn đi và ký tên vì ông nào cũng chối bỏ đặc ngữ của cái tên mình mà chỉ nói những khái niệm và khái quát chẳng sạch sẽ/thích đáng/impropres



     Hành trạng của viết



      Tất cả là quyển sách - cuộc phiêu lưu của chữ viết bắt đầu.Nhưng tại sao lại hành trạng ? Có gì liên quan giữa cuộc đời (bio) và chữ  viết (graphie) ? Quyển sách được khai sinh, những chữ được viết ra, dường như tất cả từ hư vô đổ xô dồn lại; không phải vậy, chỉ có sự phân cách mỏng manh giữa hai biên giới : bên trong và bên  ngoài cuộc đời

  Quyển sách triết học đầu tiên chàng đọc là bản dịch của H.Albert từ tác phẩm Zur Genealogie der Moral sang tiếng Pháp, Mercure de France xuất bản mua lại từ quầy sách cũ, chủ nhân là một bà già (mù chữ ? chàng đoán mò thế vì mặt hàng của bà đầy sách báo ngoại ngữ tạp nhạp, kẹo và thuốc lá) đặt xế cửa quán cà phê Mai Hương (?) ở

Saigon thuở ấy - nhiều năm sau này quầy sách cũ và bà cụ đã biến đi trong những biến động nhiễu nhương.Quyển sách cũng thất lạc, giờ đây chàng chỉ còn giữ nguyên bản copyright 1930 của Alfred Kroner Verlag ở Leipzig.

    Nietzsche kể lể những kẻ thù của Schopenhauer như Hegel, đàn bà, thú nhục dục và toàn bộ ý chí để tồn tại, ngoan cố nên trên hết thẩy là tình dục mà Schopenhauer coi như kẻ thù cá nhân (als personlichen Feind):

     Jedes Tier, somit auch la bête philosophe, strebt instinktiv nach  einem Optimum von gunstigen Bedingungen, unter denen es seine  Kraft ganz herauslassen kann und sein Maximum im Machtgefuhl  erreicht; jedes Tier perhorresziert ebenso instinktiv und mit einer  Feinheit der Witterung, die "hoher ist als alle Vernunft", alle Art  

Storenfriede und Hindernisse, die sich ihm uber diesen Weg zum  Optimum legen oder legen konnten (es ist nicht sein Weg zum  "Gluck", von dem ich rede, sondern sein Weg zur Macht, zur Tat, zum machtigsten Tun, und in den meisten Fallen tatsachlich  sein Weg zum Ungluck).Dergestalt perhorresziert der Philosoph die Ehe samt dem, was zu ihr uberreden mochte,- die Ehe als Hindernis und Verhangnis auf seinem Wege zum Optimum.Welcher grosse   

Philosoph war bisher verheiratet? Heraklit, Plato, Descartes, Spinoza, Leibniz, Kant, Schopenhauer - sie waren es nicht; mehr noch, man kann sie nicht einmal denken als verheiratet.

     Mọi loài thú, kể cả loài thú triết gia, phấn đấu theo bản năng để  đạt tới cái tối hảo từ những điều kiện thuận lợi, nhờ đó nó có thể khai triển sức lực và hoàn thành cảm năng quyền lực tối đa; cũng do bản năng và nhận thức tinh tế cái gì "ở trên hết thảy lý trí", mọi loại xâm nhập hay chướng ngại có thể cản đường tới cái tối hảo  (tôi không nói con đường dẫn đến "hạnh phúc", mà là con đường tới quyền lực, hành động, hoạt động uy quyền nhất, và trong mọi trường hợp ý nghĩa nhất thực sự là con đường dẫn đến bất hạnh).Thế nên triết gia kinh hãi hôn nhân, cùng với những gì có thể thuyết  phục được, - hôn nhân là chướng ngại và tai họa đối với con đường đến chỗ tối hảo.Có ai trong những triết gia lớn lấy vợ đâu ? Như  Heraklit, Plato, Descartes, Spinoza, Leibniz, Kant, Schopenhauer  đều không lấy vợ; hơn nữa không ai có thể tưởng tượng họ lấy vợ

cũng Nietzsche cho Sokrates là trường hợp ngoại lệ, nằm trong nguyên lý hài kịch của ông

thế những triết gia như Khổng Khưu, Thích Ca, Aristoteles, Hegel, Husserl, Heidegger...ở trong hàng ngũ nào ?

còn những Lão Đam, Jesus ở trong nguyên lý nào ?

Nietzsche viết tinh thần tự do chỉ có khi nói không với mọi sự nô dịch rồi đi vào sa mạc (nein sagten zu aller Unfreiheit und in irgend eine  Wuste gingen)

há đó không phải là hình ảnh Lão Đam

triết gia không từ khước tồn tại mà xác quyết tồn tại của chính mình (ở một chỗ nào đó, chàng viết (đọc) : chấp nhận trần gian, tọa thị  thẳng thắn trên mặt trái đất, con người là sự nghiệp của mình ở đời

pereat mundus, fiat philosophia, fiat philosophus, fiam

Maine de Biran trong Nhật ký ca ngợi triết lý là suy tưởng trong quay cuồng thế giới cũng như trong cô tịch thư phòng đạt tới đỉnh cao vòi vọi, trong khi những tinh thần nhỏ nhoi của thế nhân chỉ nghĩ trong hoàn cảnh và thời khắc nhất định khi đầu óc và bao tử ổn định - đến chín phần mười cuộc đời chẳng dành cho tư tưởng

Sau bao năm tháng trôi qua, tôi vẫn đi trên một lối mòn và không bao giờ quay trở lại

Ecce enim breves anni transeunt, et semitam per quam non revertar,  ambulo

Những căn phòng trọ, những thành phố không tọa độ, những hình ảnh người đàn bà trong đời, cuộc hành trình vô định như thể viết, mãi không ngừng nghỉ (nàng hỏi, chàng hay tôi phải ký tên)



đặng phùng quân














 

NGÔ SỸ HÀN* GIA ĐÌNH CÓ NGƯỜI LÀM TRÂU

GIA ĐÌNH CÓ NGƯỜI LÀM TRÂU
 
Ngô Sỹ Hân
thân tặng Phạm Văn Tố và Ngô Thị Ngọc-Dung
     Cũng như các cô giáo khác, đa số bạn bè của cô Nga là dân chợ. Khi hay tin cô sắp lấy chồng về quê, họ ngạc nhiên lườm:
     - Thành thị không ở, lại đút đầu về quê?
     Những người khác ớn cái cảnh theo ông xã nhà binh rày đây mai đó, lại muốn lấy chồng thầy giáo, hoặc kẹt lắm thì đức phu quân ít nhất cũng là công chức cho hạnh phúc đến đầu bạc răng long:
     - Bộ hết người rồi sao?
     Cô giáo Nga cười phân bua:
     - Không phải hết người, nhưng tìm hoài nay mới gặp người trong mộng!
     Các cô bạn mỉa mai:
     - Chà! Lý tưởng dữ ha!
     Cô Nga hơi mắc cở, phang ngang:
     - Kệ tôi. Thời buổi trai thiếu gái thừa, tôi sợ ở giá như bà dì! Không khéo già kén chẹn hom nghe các con!
     Họ cũng trả lời:
     - Kệ tôi. Bà lo thân bà đi!
     Nga khích:
     - Ừ! Thì thân ai nấy lo. Tôi rán chống mắt đặng xem mấy bà về tỉnh thành hay về quê!
     Như vẫn còn ấm ức, cô giáo Nga gỡ gạc:
     - Sợ lấy chồng nhà binh hả? Coi chừng cuối cùng rồi cũng lên núi sống với cọp hay về rừng chơi với vắt và ngủ dưới giao thông hào!
     Cô giáo Nga nghĩ cũng phải! Thời buổi chiến tranh, không lấy chồng nhà binh chỉ có nước thành gái già! Thanh niên học đại học nửa chừng hoặc mới vừa xong trung học đút đầu vào lính, chưa kịp lập gia đình, mới còn độc thân. Còn mấy ông thầy giáo và công chức sống thọ thì đã có người đặt hàng nâng khăn sửa túi từ trước; làm lễ ra trường xong là vội hớn hở bước lên xe hoa để sớm rút kinh nghiệm cuộc đời cay đắng, “đâu tới phiên mình -trẻ lắm cũng hăm bốn hăm lăm!”.
     Các cô vớt vát:
     - Rồi đời con sẽ khổ nghe con!
     Mặc các cô bạn nói gì thì nói, cô giáo Nga lấy chồng về nhà quê thật. Nhưng cô có ở dưới quê ngày nào đâu mà khổ! Ông xã dám về làm đám cưới đúng truyền thống của tổ tiên chỉ để vui lòng gia đình. Ông anh chồng phải nhờ người bạn, trước học cùng lớp, cho một trung đội Địa Phương Quân giữ an ninh cho đám cưới nhà binh. Đấy là ảnh lo xa vậy thôi. Sau Mùa Hè Đỏ Lửa, mấy anh cách mạng nằm vùng biến đâu mất tiêu hết, chắc đang co cụm. Vành đai an ninh quận nới rộng ra đến tận bên này bờ sông Vàm Cỏ. Có lẽ chỉ trừ đám lá Tối Trời bên quận Bình Phước và quận Tân Trụ còn là chỗ dung thân cho những cán bộ còn sống sót. Lúc này nếu có ai cắc cớ tìm một anh cách mạng để xin đóng thuế đỏ con mắt cũng không ra. Từ ngày lấy chồng cho đến lúc trời xập, cô giáo Nga cũng chưa từng nhìn thấy một tên cách mạng thật bằng xương bằng thịt!  
     Hết cái cảnh đào đường cuốc lộ, hết cái cảnh phóng loa kêu gọi lính Nghĩa Quân bỏ đồn theo giặc. Lính tráng và cán bộ Xây Dựng Nông Thôn vô tới tận thôn làng. Họ chơi với con nít, dạy đám trẻ hát, giúp bà con sửa nhà chữa cửa, làm ruộng làm nương; tối lại còn nhậu với đám thanh niên và mấy ông già gân. Điện chưa về làng nhưng ánh sáng văn minh lấp ló đâu đây. Sáng tinh sương trên con đường làng dẫn đến chợ, các cô gái yêu đời nhí nhảnh trong những bộ đồ bà ba cổ trái tim màu mè, cười giỡn líu lo như là sống trong cảnh thái bình. Dĩ nhiên, hơi quê mùa nhưng không đến đổi nào. Rải rác cũng có người học hành đỗ đạt làm công chức, làm thầy cô giáo ngoài thành, và đi sĩ quan khắp bốn vùng chiến thuật. Là dân chợ, cô tự an ủi tại vì hai người “yêu nhau hết biết” thì phải chịu thiệt thòi một chút cũng không sao!
     Tuy nhiên, điều khiến cô giáo tự hào về gia đình chồng không phải là ngôi nhà ngói móc ba gian hai chái, cái sân gạch tàu phơi lúa rộng thênh thang, và vườn dừa sai trái hầu như bốn mùa..., mà là một gia đình nhân từ và đạo đức, được nể vì của lối xóm. Ông cha chồng không học nhiều nhưng còn nhớ đủ để trâm tiếng Tây được với anh Thống học sinh ngữ thứ hai Pháp văn với thầy Lê Văn Nguyện. Ngược lại, bà mẹ chồng mù chữ như đa số người đàn bà ở quê vào lứa tuổi ấy. Bà rất mực nhân từ nhưng nếu diễn tả thì nhiều khi vô tình hay vụng về làm giảm cái lòng nhân ái của bà đi. Ông bà, do cha mẹ đặt đâu ngồi đấy, ở với nhau từ hồi chưa đến tuổi hai mươi cho tới lúc bạc đầu, chỉ sinh được hai thằng con trai rồi ông trời bắt nghỉ luôn không cho biết lý do. Ông anh lớn làm thầy giáo chưa lập gia đình, chỉ một mình phu quân của cô giáo là sĩ quan. Bà con lối xóm nói nhà có phước mới có người làm quan!
     Nhưng sau ngày cách mạng thành công, gia đình bác Tám “có phước mới có người làm quan!” tự nhiên trở thành ngụy, mặc dầu từ trên xuống dưới ai ai cũng mẫu mực đàng hoàng, chớ không hề đầu môi chót lưỡi, giả nhân giả nghĩa, và tranh sống bằng cái mánh lới mới của cách mạng! Con nít lối xóm gọi bác là ông nội ông ngoại như ruột thịt. Đám trẻ xem hai bác như cha mẹ, tá điền lớn tuổi thì coi như anh cả, ông bà già thì như anh em bè bạn; trong vùng này không ai có thể lớn tuổi hơn bác được nữa. Từ bao nhiêu đời, dòng họ ông không có truyền thống tham gia chính quyền làm ông cả ông chủ trong làng, chỉ là thường dân Nam bộ. Dù vậy, cũng nhờ có hai thằng con ăn học mà gia đình được thơm lây. Cưới hỏi, đình đám, đơn từ một tay hai anh học trò. Tết nhất họ mang quà tặng đầy nhà cho dù ông bà không nhận họ cũng bỏ đấy, chạy băng qua cái sân gạch mà về. 
     Ngay tại ngỏ, dù không có cổng như đình làng hay của những gia đình khá giả khác, bác Tám kiểu cách trồng hai khóm hoa dâm bụt cao tới cổ người lớn, lá xanh mướt và bông đỏ lòng thòng trông không giống như cái lồng đèn xưa thu nhỏ lại. Phía bên trong khóm hoa khoảng hai thước là cái cầu thấp dùng để rửa chân trước khi bước lên hai hàng gạch xi-măng ước chừng bốn năm mươi thước dẫn vào nhà. Người ta không thấy tượng Phật, hình Chúa, Khổng Tử, Lão Tử, Quan Công..., mà chỉ thấy hình ông bà tổ tiên theo thứ tự ba đời trên bàn thờ. Bộ trường kỷ chạm trỗ cầu kỳ ở gian giữa dùng tiếp khách quý trang trọng khi có đám tiệc; hai bên là hai bộ ván gõ đỏ lên nước bóng láng nhờ bác trai ở trần ngủ trưa hầu như quanh năm, mãi cho đến cái ngày lỡ khóc lỡ cười!    
     Lúc mới đổi đời, tự nhiên thằng Hai Cò mua ve chai được làm bí thư xã. Con vợ nó giờ đây đổi lốt cho khác với đám đàn bà con gái thường dân; trong bụng không có bếp lò mà nó cũng hét ra lửa được! Tay chân bộ hạ của vợ chồng thằng Hai đa số dân cô hồn các đảng miệng bằng tay tay bằng miệng nên dân ngụy phải sợ! Nếu thế cũng chưa đủ, nó phải dùng thêm một số con nít mới lớn biết đọc biết viết để làm giấy tờ. Không biết do lệnh trên hay chạy theo mốt cách mạng, mấy cô cậu cách mạng ba mươi người nào cổ cũng quấn khăn rằn đỏ, mang một cái túi dết cán bộ nhập từ miền Bắc, và mang dép râu của bộ đội nên đi đường đồng trợt lên trợt xuống!     
Thằng Hai Cò mang súng lục đi với thằng phụ tá đến từng nhà ra lệnh bắt treo cờ xanh đỏ sao vàng và hình ông già râu lên bàn thờ. Bác Tám không thể làm trái nhưng có ý kiến khác với văn hóa cách mạng một chút. Ông tửng tửng theo kiểu kẻ cả:
     - Bàn thờ ngay chánh giữa nhà là để thờ tổ tiên ông bà. Cờ và hình thì tao có treo rồi đó!
     Anh bí thư bây giờ phát tài phát tướng thành bí thơ Hai Mập, không còn là thằng Hai Cò nữa. Nó làm lớn như thế mà không hiểu sao sau lưng hắn, người ta vẫn gọi bằng thằng, thằng bí thơ. Nó nài nỉ:
     - Còn hình Bác Hồ? 
     Hình như Bác Tám khoảng tuổi con heo hoặc con chuột hay trẻ lắm cũng con cọp, biết thằng bí thơ Hai Mập dốt đặc, nói đại: 
     - Tuổi ổng là bác của tụi bây chớ bác tao sao được?
     Thằng Hai Mập, không biết Bác Hồ của nó bao nhiêu tuổi, nhìn theo ngón tay bác Tám chỉ:
     - Bây xem hình tao treo chỗ cao nhứt và sạch sẽ nhứt đó! Tao vẫn kính trọng ổng, tao kêu ổng bằng ông Hồ hay ông chủ tịch mà! 
     Hai Mập đuối lý nói lảng qua chuyện khác để gỡ gạc. Gương mặt hồng hào của nó chuyển sang màu “đấu tranh chánh trị”:
     - Anh Thống có nhiều nợ máu với nhân dân, cách mạng...
     Hiểu thằng bí thơ sắp trả bài, bác Tám cướp lời:
     - ... Thôi! Nó có tội để cách mạng trị nó, không liên quan gì tới tao. Cách mạng vẫn nói “ai làm nấy chịu” mà!
     Mấy ông anh của bác Tám trước khi hy sinh cho cách mạng có nói “ai làm nấy chịu” nên chính quyền Quốc Gia không dám làm gì gia đình ông hết! Nghe phong thanh hình như chính bác Tám cũng có tham gia một thời gian. Anh thầy giáo kể lại rằng Hiệp định Sơ Bộ mồng Sáu tháng Ba tăng cường thêm sự hoài nghi của bác Tám. Hoặc là im lặng nhịn nhục tới đâu hay tới đó hay là đi mò tôm [1]. Cách phản đối tiêu cực nhất và đỡ nguy hiểm nhất là bỏ về. Thừa kế chưa tới một mẫu, ông già gân suốt cuộc đời làm lụng vất vả mới dư được mấy mẫu ruộng và căn nhà ngói, và ráng cho hai thằng con trai ăn học nên người. Thằng anh nối gót theo chú nó đi dạy thầy giáo rồi. Còn thằng nhỏ, thời buổi giặc giã, phải đi lính thôi, chớ chẳng lẽ bỏ vô bưng theo mấy thằng thất học:
     - Thắng làm vua, thua là giặc. Chuyện đời mà!
     Nhiều lúc nhìn mông lung ra ngoài, bác mơ màng đến những mùa xuân thanh bình cách đây không lâu. Lúc ấy tụi trẻ con tung tăng trong những bộ quần áo còn thơm mùi hồ đi chúc Tết ông bà để hí hửng nhận những đồng tiền lì xì mới còn thẳng nếp mang theo vào giấc ngủ mộng mơ. Bác nghĩ đến những nương mạ non màu đọt chuối đầu mùa và màu xanh lúa trổ đòng đòng mởn mơ con gái. Bác nghĩ đến cánh đồng lúa vàng trĩu hạt mùa gặt, gánh về phơi đầy sân gạch. Trả công trâu cày và thợ thầy xong, dư tới mấy thiên. Cái bồ lúa ba tầng cao gần đụng nóc nhà kho. Thuế má có bao nhiêu, chẳng qua như tiền ăn bánh! Chỉ cần mấy mẫu ruộng đồng cũng đủ sống tàng tàng -ngôn ngữ của bác- ở cái xứ quê mùa này: 
     - Hồi thời ông Diệm bình yên biết mấy! Cả đến thời ông Thiệu, họ cũng đâu có hành mình như mấy thằng này!
     Bác gái nghĩ đời nào mình cũng làm dân, ai làm hội đồng xã hay chủ tịch nước cũng được, nhưng hoang mang không ít:
     - Thời buổi gì kỳ: Muốn làm gì thì làm, muốn nạt ai thì nạt, muốn lấy của ai thì lấy! Coi dân như con nít. Thời Tây đô hộ cũng chưa đến đổi như vầy!
     Như mọi khi, ông an ủi:
     - Bà à! Hết rồi những ngày tháng bình yên.... Tôi đã nói trước. Còn gì nữa mà tiếc!
     Không biết gia đình ngụy này có bị ghi tên vô sổ bìa đen của anh bí thư cách mạng ba mươi không nhưng anh ta không ép nữa. Cờ đến tay, vợ chồng Hai Cò dẹp cái nghề mua bán ve chai khổ nhọc. Hồi trào ngụy, nó chỉ mơ được một chân làm lao công ở trường học Tiểu học Tân Chánh cho nhàn tấm thân và đỡ vợ con. Chính nó cũng không ngờ nó nhảy một bước đến chín tầng mây xanh. Đúng như cách mạng nói “chết là cùng -chết là hy sinh cho cách mạng còn hơn sống vất vưởng, mà thắng thì cái gì cũng có...”. Nhưng không dưng người ta mang của đến cho mình à?! Cũng phải dùng cái gì đó mới khiến người ta đưa tiền chớ! Dâng tiền mà ngược lại họ phải cám ơn mình đã nhận nữa! Sống cuộc đời cán bộ cách mạng ở cái xứ này, giấc mơ đã thành hiện thực: Nhà đúc bê-tông, mái ngói móc, tường tô...; nếu ở chợ thì anh cũng phải có cái ô-tô con! 
     Cuối cùng thì không thấy hình ông già râu gian ác đâu. Bác Tám xối nước trây đất cho lem luốt đem dấu đi ở một góc kẹt nào đó. Ông chuẩn bị câu trả lời nếu bị nó hỏi:
     - Bị mưa dột ướt hết trơn rồi. Để mai mốt tao sẽ mua cái khác đàng hoàng đẹp đẽ hơn thay.
     Thấy ông cương với thằng bí thơ Hai Mập, bác Tám gái lo lắng nhìn ông:
     - Ông à! Thời buổi sâu bọ làm người, ông coi chừng tụi nó! Tụi này không hiền đâu!
     Trái với tâm tính nhân từ và độ lượng, tướng tá bác Tám cao lớn, vạm vỡ, và mặt mũi bặm trợn. Bác chỉ cần đứng dậy là anh bí thư tưởng bị tấn cống, định chạy liền:  
     - Bà đừng lo! Tôi biết đánh thì tôi phải biết đỡ chớ!
     Bác gái cũng ậm ừ:
     - Ờ! Để đó cho ông đỡ!
     Bác Tám cương thêm:
     - Má nó à! Trâu già đâu nệ dao phai!
     Ông già trong tư thế chuẩn bị hoài mà nó không đánh cho ông có dịp đỡ. Rồi thời gian nhục nhằn ngày này qua ngày khác chồng thêm gánh nặng khiến tâm hồn bác trai chai đá và lưng bác gái còng thêm. Hai bác không biết ông bà tổ tiên đã sống ở cái đất này từ hồi nào. Nhưng mở mắt ra là bác đã nghe tên và lớn lên chút nữa là biết cái bến đò Bà Nhờ, cái Xóm Vồng, Ấp Chợ, Xóm Bà Lựu, Xóm Lưới...; kéo lên đến ngã ba Tân Lân, Nhà Dài, và con tỉnh lộ 18; đổ xuống Kinh Nước Mặn, đồn Rạch Cốc; qua Cầu Nổi, Mỹ Lợi, tới Vàm Láng.... Bác biết cả tiên nhơn của mấy thằng cách mạng ba mươi và thằng bí thơ này không sót một chỗ nào. Tụi nó mượn nợ ai rồi quịt luôn thế nào, đi ăn trộm bị lính Nghĩa Quân bắt quả tang ra sao, bác biết hết mà bác chưa hề kể cho ai nghe.
     Bác trai giải thích:
     - Hồi xưa chánh quyền người ta dùng người có chữ nghĩa. Bây giờ không xài mấy thằng này thì xài ai? Người có học và đàng hoàng ai chịu làm tay sai cho tụi nó! 
     Khi có dịp ngồi chung với gia đình, bác gái tâm sự:
     - Ba má ít học không có nhiều tiền của ruộng nương. Ăn hiền ở lành chỉ mong để đức lại cho con cháu.
     Còn ông già thì xác quyết như đinh đóng cột:
     - Ở hiền gặp lành. Ở ác gặp ác. Ông trời coi vậy mà có con mắt. Quả báo nhãn tiền chớ chẳng đâu xa!
Nhưng điều xác quyết của bác Tám ít nhất tới ba bốn năm rồi chưa ứng nghiệm. Mới trước ngày ông Dương Văn Minh tuyên bố buông súng, lối xóm còn nể nang và vồn vã gia đình có người làm thầy giáo và làm quan, mà bây giờ tự nhiên xa lánh. Họ lấm la lấm lét, không dám nói chuyện cũng không dám lại gần, chắc sợ vạ lây! “Liên hệ với ngụy quân ngụy quyền” mất mạng như chơi, “nếu không chết thì cũng èo uột khó nuôi”, không sợ sao được?! Gia đình sĩ quan và công chức chế độ cũ trong xóm ấp cũng cùng chung số phận, chớ không riêng gì gia đình bác Tám.
     Trong hai người con của bác, anh Hai làm thầy giáo chỉ mới bị xài xể sơ sơ nên chưa mất dạy, bị buộc tội gián tiếp dạy cho “bọn ngụy tụi nó” đỗ đạt đi sĩ quan chống phá lại cách mạng. Còn anh Thống đi giang đoàn hay giang thuyền hay giang đĩnh gì đó không hề làm hại một sợi lông của cách mạng. Anh chỉ giết mấy thằng Việt cộng phá làng phá xóm thôi, theo lời thành thật khai báo khi ở tù! Thậm chí anh cũng không trực tiếp cầm súng bắn mà chỉ ra lệnh cho xạ thủ bóp cò. Vì không có nhiều nợ máu với nhân dân nên ở tù chưa tới ba năm thì được về sớm. Hộ khẩu thì Bộ Tư Lệnh Hải Quân đã chuyển sang Hoa Kỳ từ năm 1975, vợ chồng anh sĩ quan và cô giáo trẻ phải về quê ông già làm ruộng. Nhưng cách mạng đã lấy gần hết rồi, còn lại mấy sào gia đình năn nỉ cách nào họ cũng không chịu cày cho mình.
     Nước đã nổi, hầu hết ruộng người ta đã cày rồi, chỉ phần của đám ngụy quân ngụy quyền là còn nguyên. Anh con trai dù lo lắng nhưng có vẻ chịu đựng, nhìn cha mẹ:
     - Ba má đừng lo! Con đã có cách.
     Bác Tám trai nôn nóng:
     - Cách gì? Nói tao với má mày nghe đi!
     Anh Thống giải thích:
     - Tụi nó không cày thì mình làm trâu cày!
     Sống từ đầu thế kỷ Hai Mươi tới lúc Đức đánh các nước Âu châu, rồi đến Nhật đánh Pháp tại Đông Dương, bà con và gia đình bác sống lầm than khổ sở trăm điều, nhưng bác Tám cũng không hình dung có cái ngày này, cái ngày thành công của cuộc cách mạng vô sản, mà thằng con sĩ quan nhà ông phải thế trâu cày ruộng!
     Bác nghi ngờ: 
     - Được không? 
     Anh Thống nhìn ông già:
     - Mỗi bên ba con trâu người! 
     Bác Tám thở dài:
     - Coi vậy mà không dễ như hồi xưa tao làm trâu cho hai đứa bây cỡi đâu! 
     Cái lưng thớt của bác gần bằng cái mặt ghế, bác gái cỡi còn được huống hồ gì trẻ con! Thằng em ngồi trước, thằng anh sau, kẹp chân vào bụng và ngực ông già; hai anh em khoái chí cười “hắc hắc”, còn nhún lên nhún xuống khiến bác gái xót ruột cho ông chồng, cứ sợ gãy xương sống nằm một chỗ chẳng làm ăn gì được. Bác bảo các con phải nhẹ nhàng như cỡi con nghé! Ông thầy giáo và ông sĩ quan tiếc rằng từ lúc bắt đầu đi học lớp vỡ lòng - kể như người lớn - thì hết còn đặc ân ấy nữa!
     Bác Tám gái lên tiếng:
     - Hồi xưa ông chỉ làm trò cho tụi nó cỡi thôi! Bây giờ phải thế trâu kéo cây cày thiệt!
     Quay sang Thống chia sẻ, bà hỏi:
     - Làm sao kéo nỗi, con?
     Thống quả quyết:
     - Trong tù, tụi con đã cày rồi!
     Cô giáo Nga bủn rủn tay chân. Không có bầu mà cái cổ dài ra, tong teo ốm yếu vì phải đi bộ hàng ngày và ăn độn khoai lang. Bụng lép, ngực cũng lép; ai không biết cứ tưởng là đứa học trò con nhà nghèo chừng khoảng mười một mười hai tuổi. Vậy mà cô vào lớp sau khi có trớn, người ta không ngờ trong thời xã hội chủ nghĩa lại có một bộ óc đề kháng khôn ngoan đến đổi vài lần bị mời lên văn phòng làm việc! Cô nhớ lại bài học bồi dưỡng chính trị cho giáo viên nói từng bước xây dựng xã hội chủ nghĩa -một xã hội khoa học tiên tiến, phải hiểu ý nghĩa sâu xa là hồi trước dùng máy cày thay trâu, bây giờ dùng sức người thế máy cày!
     Nhìn khuôn mặt nhợt nhạt thất vọng của vợ, anh Thống an ủi:
     - Nga đừng có quá bi quan!
     Cô giáo sư dạy sử địa xuất thân trường Đại học Sư Phạm Sài Gòn tên Ngô Thùy Ngọc-Nga nhỏ thó như đứa con gái suy dinh dưỡng và vàng vọt như người mắc bệnh sốt ngã nước, ngồi đây, mắt mở mà như đứng tròng nhìn những người thân tàn lụi dần theo năm tháng. Cô cũng như đa số thầy cô giáo trong tỉnh được lưu dụng để tiếp tục làm kỹ sư tâm hồn cho thế hệ kế tiếp cũng may mắn nhờ ông Trưởng Ty Giáo Dục tỉnh Long An gốc là thầy giáo hồi kết! Dù cách dạy và những gì phải dạy không đúng theo ý mình hoàn toàn nhưng ít ra cũng còn là sở trường. Nhưng những nơi khác, và nhất là sỹ quan, công chức, và cán bộ, trình độ đại học mà đi làm ruộng, cuốc đất trồng khoai để mỗi ngày cầm hơi bằng bữa đói bữa lép và giải trí bằng đọc báo quốc doanh! 
     Chiều lại anh Thống bàn với đám “ngụy quân ngụy quyền”:
     - Hộ khẩu ở đây, làm sao đi đâu được? Hết cách rồi! Mình áp dụng bài bản cũ trong tù đi! 
     Vì mấy người bạn không ở chung trại Trảng Lớn -Tây Ninh nên còn thắc mắc:
     - Là sao, mậy?
     - Cày người ông ạ! Ba thằng bằng một con trâu!
     Mọi người mới vỡ lẽ ra, thở dài chán ngán:
     - Tưởng tù-trong chúng nó bắt mình cày không cách gì tránh được, không ngờ tù-ngoài mình cũng phải tự nguyện bổn cũ soạn lại!  
     Thế là mấy người tù-ngoài trong phút chốc trở thành trâu hết, không anh nào thoát được. Nhưng nếu được làm trâu thật cũng sướng chán! Chỉ làm việc chừng nửa năm là cùng, có nơi chỉ trong mấy tháng. Không bị mấy thằng cóc cắn hành hạ đánh đập như các anh cải tạo. Cây roi chỉ để hù cho đừng lơ là công việc đồng áng. Cày bừa xong về nhà nằm nhơi cỏ, mùa lúa thì nhơi rơm khô còn hơn khoai mì H34 tồn kho hư mốc. Không ngủ, mắt lim dim nhìn mấy anh chị cách mạng ba mươi, mà khinh bỉ trong lòng, mong có ngày họ sáng con mắt ra. Lại khỏi đi họp tổ mỗi buổi tối để nhàm tai nghe mấy ông quan con cách mạng ba mươi nói xàm nói điên, và để ngoáy lỗ tai nghe những lời chửi rủa buộc tội.
     Trong một xóm nhỏ, nghèo, và kém văn minh như thế, dễ gì mà kiếm đủ bảy ông quan để thành lập một ê-kíp cày. Không đủ sĩ quan làm trâu, phải bắt công chức chế độ cũ; ngoài ra, còn phải tập cho thanh niên em út của gia đình ngụy quân ngụy quyền làm trâu luôn mới đủ trâu cày. Bộ đồ nghề cày có sẵn, nhưng dây dàm và cây roi không xài tới! Cái ách nhà nghề đẽo cong cong cho vừa cái cổ trâu cũng không dùng nữa, mà cái ách bây giờ phải đủ dài cho sáu người, nhưng cũng không quá ngắn cho “trâu” khỏi đụng nhau. Cây dẽo quá thì oằn, mà dùng loại gỗ cứng quá thì dễ gãy, ngay chính giữa dành cột cây đõi nối với cái cày mà một con người làm việc nhẹ -đàn bà con gái cũng được, không kỳ thị nam nữ- theo sau để thá dí cho khỏi lõi đất. Quý quan chuẩn bị đâu đó xong xuôi, quyết định ngày hôm sau ra quân.
     Quen kỷ luật nhà binh, ngay sáng sớm khi mặt trời cách mạng chưa thức dậy, quý quan đã tập hợp điểm danh như trước khi hành quân thật, hay ít nhất trong quân trường. Dù được coi là cải tạo tốt mới được cách mạng khoan hồng cho về đoàn tụ với gia đình và làm trâu thế con trâu thật mà cày, nhưng quý quan cũ vẫn chưa bỏ được lối sống tiểu tư sản! Bên đống lửa lùi khoai lang vừa để đuổi bù mắc, còn có café, trà hoa ngâu, và thuốc rê Long Khánh -vẫn hơn dế[2] và thuốc giả[3] trong tù!
     Một anh nhìn những sợi khói lửng lơ tan chậm vào không gian, hồi tưởng:
     - Như tráng đoàn đi cắm trại!
     Anh khác nhớ cuộc tình dang dở và ngày tự nguyện xách ba-lô rào rọ: 
     - Thật không ngờ! Như giấc mơ!
     Một anh ngồi bẹp trước lò dã chiến đang dùng cây que khều khều những cục than hồng, thấm thía về quyết định ở lại vì không nỡ bỏ người yêu. Giá anh đi thì cuộc tình vẫn đẹp:
     - Mơ còn có thể gặp em. Ác mộng thì có!
     Anh nào đó xổ nho:
     - ĐM! Sáng tạo xã hội chủ nghĩa mà!
     Cứ nghĩ chuyện chưa đánh đấm đã phải buông súng, anh khác hằn hộc:
     - Tao cứ ấm ức hoài! Đâu phải mình dở! Phải chi tụi nó giỏi hơn mình và văn minh hơn mình cũng cam! Giải phóng cái gì? Mình không giải phóng nó thì thôi! Sao nó lại giải phóng mình?
     Anh Thống vốn ít nói ngồi nghe các bạn thảo luận kinh nghiệm xã hội chủ nghĩa cho đã, hai bàn tay đang vấn điếu thuốc rê. Anh le lưỡi liếm cho mép nó dính lại:
     - Tụi bây phải học tánh kiên nhẫn của Nguyễn Công Trứ! 
     - Thắng không kiêu bại không nản!
     - Không phải đâu! “Thắng không kiêu bại không nản!” là binh thư. Còn của Nguyễn Công Trứ là lên voi xuống chó cũng tàng tàng như nhau! 
     Đang nói, bất chợt anh Thống xuống hò dứt câu sáu vọng cổ, tất cả cùng cười vui vẻ cứ như là ở đơn vị khi xưa. Bề ngoài có vẻ an phận, nhưng trong tận cùng, tuy các anh không nói, người ta cảm giác có cái gì cay đắng mỉa mai!
     Anh vừa phát biểu cãi:
     - Đảo đời chớ lên voi xuống chó gì? Lên voi xuống chó khác!
     Một anh gắp cục than đưa cho Thống:
     - Lửa nè, Thống!
     Anh khác phê bình:
     - Chà! Ngon lành như còn làm sếp!
     Anh phân bua:
     - Kệ, để tao điếu đóm cho nó! Coi như phần thưởng cho mầm non văn nghệ! Còn sếp tao hả? Đừng có hòng! Chuyện này để tụi nhỏ làm!
     Không khí mát dịu nhưng ẩm thấp. Nghe mùi cỏ quê hương ngọt lịm từ dưới những bàn chân đất. Lâu lắm mới nghe lại tiếng chim ríu rít trong tàng cây. Lâu lắm mới gặp lại giọt sương long lanh buổi sớm.   
     Đến giờ, anh Thống ôn tồn kết luận:
     - Thôi bỏ mấy chuyện đó đi! Bây giờ rán hy sinh chịu cực để mai mốt con cháu mình được khổ! 
     Đồng ý “Bây giờ chịu cực đặng mai mốt chịu khổ”, theo sự phân công trước, quý vị sĩ quan chiếu theo nhiệm vụ thi hành mang đồ nghề ra ruộng. Dù có mấy năm kinh nghiệm trong trại, không dễ sắp xếp một dàn cày với sáu người cao thấp không đều nhau. Ruộng dân và ruộng chính sách trâu đã cày xong, bây giờ dân cách mạng hay có hơi hướng cách mạng lo làm cỏ, bang đất, phản bờ, chuẩn bị đất, trong lúc ruộng ngụy mới bắt đầu. Nước lên cao quá cũng khó cày cho chính xác mà không bị lõi. Cày trâu cách mạng dù gì cũng không bằng cày trâu thật!
     Không biết anh nào có óc văn nghệ lên tiếng:
     - Nếu có máy hình, đứa nào đứng ngoài chụp một pô đặng tao gởi đi tranh giải phóng sự nhiếp ảnh, và đồng thời ghi vào sách kỷ lục Guinness! 
     Vậy là cả làng Tân Chánh phải học sáng kiến của mấy anh tù này. Quả là hiện tượng lạ lùng, rất mới mẻ, dân miền Nam vốn lạc hậu, từ tạo thiên lập địa tới giờ chưa hề nghe sách vở nào nói, và cũng chưa bao giờ dám nghĩ tới. Cả đám dân cách mạng hồ hỡi xem quên thôi. Họ trầm trồ “không ngờ mấy ông ngụy đi cải tạo được cách mạng dạy cho phương pháp tận dụng nhân lực”. Đúng là thời cách mạng, cách mạng quan hệ sản xuất, cách mạng khoa học kỹ thuật..., dưới sự lãnh đạo của đỉnh cao trí tuệ loài người! Trước khi cách mạng thành công, rải rác đã có người mua máy cày nên trâu bán đi cho những vùng khác. Rồi máy cày cũng được cách mạng trưng dụng về nông trại của quý anh lớn trên tỉnh Long An hay ngoài trung ương Hà Nội!   
     Trong khi Thống và đám bạn tù-ngoài làm trâu cách mạng cày dưới ruộng, cô Nga xăng quần xách dép lội ra quận cách nhà ba cây số làm giáo sư dạy sử địa đệ nhị cấp. Chính nơi này trước đây mấy năm, máy cày thế trâu cho nhiều năng suất, thì mới chỉ hơn ba năm sau, viễn ảnh đất nước rừng vàng biển bạc qua cuộc cách mạng vô sản khiến sĩ quan công chức thay trâu kéo cày. Nga tưởng tiền nhân đời thứ nhất theo bà tổ Âu Cơ lên núi lập nghiệp đang làm việc. Cô xây xẩm tối mặt như bị máu xâm. Chân phải đá chân trái nhiều lần, cố kềm cho khỏi té. Nhưng khi khom xuống lượm đôi dép lại làm rớt cái cặp. Hai củ khoai lang lăng long lóc ra ngoài. Tập soạn bài phải trình cho hiệu trưởng duyệt dính đất lem luốt. Thân 38 ký mà như nặng ngàn cân khiến cô có cảm giác như ngồi trên phi cơ phản lực đang cất cánh. Nếu không nghĩ đến lời chồng chắc cô sẽ bỏ cuộc. Nếu không nhớ tới thái độ của ông cán bộ cách mạng chắc cô đứng dậy không nổi.
     Ông cán bộ đó không ai xa lạ mà là bạn học của anh chồng cô. Anh chồng của cô đi học sư phạm làm thầy giáo, còn ông ấy bỏ học đi theo giặc từ những ngày giặc mới nổi. Dù sau này khi được tín cẩn ông đi đâu cũng kè kè khẩu súng sáu bẻ cổ, nhưng người ta vẫn gọi ông là Mười Búa, vì trước kia ông có thói quen xử tử người ta bằng búa. Khi cách mạng thành công, ông Mười Búa còn sống sót trở về làm trưởng ban giáo dục huyện Cần Đước. Trong buổi họp giáo viên quận, ông sỉ vả những cô giáo có chồng cải tạo, trong số đó có cả những cô đã dạy ông ta học. Không biết sự thể thế nào, Mười Búa buộc tội ông thầy của ông ta trước kia là giáo sư Lê Kim Tiếng làm tay sai cho CIA đã chỉ điểm cho Cảnh Sát Quốc Gia bắt mấy đồng chí của ông nằm vùng trong đám học sinh Trường Trung học Cần Đước.     
     Sau khi qua cái cầu nhỏ xóm Cẩm Hà, cô giáo Nga ghé bệ đá bờ sông rửa chân mang dép vào trước khi bước lên con đường đá đỏ dẫn tới trường. Đối diện với cổng trường là ngôi nhà cha mẹ nơi cô sinh và lớn lên và ở suốt thời gian dài cho đến khi chồng ở tù trở về.
     Bác Tư dịu dàng nhìn con gái khóe mắt đỏ hoe:
     - Con có chuyện buồn?
     Tự nhiên như hồi còn con nít bị giật đồ chơi, cô òa lên khóc ngon lành không cầm được. Bác Tư nắm tay con, vuốt mấy sợi tóc trên trán và sau ót ướt đẫm mồ hôi, như những lần cô gặp tình huống khó xử trong đời. Bà chuyên môn may áo dài mà cô giáo con gái bà mặc áo bà ba cũ đi dạy học. Cách mạng thành công mới chừng ba năm mà con gái bà đã thực hiện một bước cách mạng nhảy vọt! Sao nó tiều tụy quá? Dáng dấp nó trông giống cô Hai Đàm bưng rổ bánh khoai mì bán dạo thường ngang qua nhà bà mấy năm nay.
     Bác Tư nhẹ nhàng như van lơn:
     - Có chuyện gì nói má nghe!
     Cô Nga nghẹn ngào ngập ngừng:
     - Hồi sáng này... mấy ảnh làm... trâu... cày!
     Bác Tư chưa hiểu:
     - Con nói cái gì trâu cày?
     Cô giáo giải thích sáng kiến của chàng rể cho mẹ nghe:
     - Không ai chịu cày. Mấy ảnh phải thế con trâu làm con trâu mà cày ruộng!
     Sống qua mấy thời kỳ bị giặc đô hộ, Bác Tư có nằm mơ cũng không tưởng tượng nổi với kiến thức của một sĩ quan, dưới ánh sáng quang vinh của cuộc cách mạng vô sản, bây giờ cày thế trâu!
     Qua ngấn lệ, bà nghẹn lời: 
     - Trời ơi! Rồi cày được không?
     - Con không biết. Nhưng không được cũng phải được thôi!
     Ngừng một chút, cô Nga mỉa mai:
     - Cách mạng dạy phải khắc phục mà!
     Bà bồi thêm:
     - Ờ thì khắc phục. Khắc phục là tự lo liệu. Khắc phục là chịu đựng. Khắc phục là bảo sao nghe vậy mà!
     Bác Tư nhìn con. Nó học ngôi trường này. Nó học sư phạm rồi có thời gian cũng về dạy ở ngôi trường này. Cấp trên của nó có giáo dục và lịch sự chớ không vô học và sỉ nhục giáo sư như thời này. 
     Chợt nhớ ra, bác Tư nghĩ không biết có nên nói hay không:
     - Có thằng gì nó nói bạn học cũ của con ghé tìm con.  
     Cô Nga tỉnh táo:
     - Con biết rồi. Nó đã ghé trường.
     Bác Tư hốt hoảng:
     - Con làm sao?
     - Không việc gì má phải sợ! Bộ ỷ cách mạng thì muốn làm gì thì làm sao?
Không biết bác Tư sợ gì nhưng bà vẫn sợ. Chắc bà sợ hơi cách mạng! Không nói rõ ràng nhưng cách mạng muốn làm gì thì làm, ai biết được. Cách mạng đã đưa bác trai đi cải tạo cho dù bác chẳng có dính líu gì tới lính tráng. Làm chủ cái tiệm may áo dài ọp ẹp như thế mà cách mạng cũng bắt bà đi học chính sách cải tạo công thương nghiệp.... Theo lý luận của cách mạng thì trong miền Nam ai cũng có tội. Thậm chí mấy người theo cách mạng có con cháu làm công chức hay lính tráng cũng có tội thì còn ai khỏi? Bây giờ thằng bạn theo giặc học chung với nó hồi đó muốn ỷ thế cách mạng đặng cưỡng đoạt đứa con gái của bà nữa sao:
     - Má đã nói với nó: Thôi cháu đừng tìm con Nga nữa. Nó đã có gia đình. Hơn nữa, chồng của nó cũng là bạn hoạc cũ của cháu. Đúng ra đạo đức cách mạng dạy cháu không nên tìm nó nữa! 
     Cô giáo làm thinh. Người mẹ tiếp:
     - Nó bảo thằng Thống bây giờ te tưa trụi lũi còn gì nữa? Phó thường dân còn chưa được!
     Cô uất ức nổi sung lên:
     - Thằng khốn nạn! Đồ vô liêm sỉ! Nếu nó không nói gì, con còn coi nó là bạn. Má đừng lo cho con. Giả dụ Thống có chết trong tù, con có ế chồng đi nữa cũng không tới cái thứ đó!
     Nó nói động tới anh Thống là cô giáo không tha thứ cho nó được. Hai vợ chồng hồi học chung một lớp là kẻ thù của nhau, bởi vì cả hai cùng học giỏi, tranh nhau từng tấc đất! Hai kẻ thù thay phiên nhau giật giải xuất sắc khi trong lớp hoặc khi toàn trường. Hai anh chị gầm gừ nhau cho đến khi cô Nga lên đại học thì hết, vì không còn đối tượng để mà trả thù! Anh Thống tới tuổi động viên phải vào Hải Quân. Trước khi mang ba-lô lên đường, anh Thống thức trọn một đêm, uống ba ly café đen và hút hết hai gói thuốc Bastos xanh, chong đèn ngồi nắn nót viết. Sáng hôm sau, anh ngập ngừng tạt ngang trao bức thư tỏ tình đầu đời cho cô Nga, mà bình thường anh không có can đảm làm. Bức thư của kẻ thù ra đi để sầu để nhớ cho kẻ thù ở lại suốt thời gian bốn năm đại học.      
     Bác Tư không biểu lộ nhưng hãnh diện về con gái, vì trong số các anh chị, tính cô Nga giống bác nhất: thâm trầm nhưng cương quyết. Từ hồi rất trẻ, bác gái đã cương quyết tuyệt tình vì cái tội bay bướm của bác trai. Thật ra thì bác trai cũng không có tội tình gì trầm trọng cho lắm! Chỉ là văn nghệ văn gừng, nhưng chẳng may bị bật mí![4]. Ở cái tuổi chưa tới ba mươi, người phụ nữ nào không cần một vòng tay đàn ông ôm ấp và chở che, nhưng bác dứt khoát. Sau biến cố, bác trai làm việc ở Sài Gòn, ở luôn trên đó lâu lắm mới về thăm con. Với cái tiệm may áo dài nho nhỏ, một bàn tay bác gái lo cho các anh chị nên người, mà thân cận nhất là cô Nga. Và cô Nga, giáo sư dạy sử địa lớp Mười Hai, có người chồng sĩ quan sau cuộc đảo đời làm con trâu cày!  
     Làm trâu cày khi ở tù-trong ù ơ ví dầu thế nào cũng được, nhưng ở tù-ngoài thu hoạch không đủ thì lấy lúa đâu mà đóng thuế cho nhà nước xã hội chủ nghĩa! Có người nghĩ các bà tù-ngoài khổ hơn các ông tù-trong. Ở lâu quá thì các ông liều mạng không cần biết đến ngày mai. Còn các bà ở tù-ngoài một nách mấy đứa con phải chống chọi cùng một lúc nhiều mối hiểm nguy! Cho nên về ở tù-ngoài, quý quan kê vai chia sẻ gánh cái khổ đó cho vợ con. Ngày đầu mới ra quân quý quan chịu không thấu nên về sớm cho trâu dưỡng sức. Bỏ cái ách ra, con trâu người bị thương nhưng còn gắng gượng lo dọn dẹp vườn tược. Ngôi nhà này, cái sân này, vườn dừa này, những con mương ngăn luống dừa này... tất cả không thay đổi nhưng khác xưa. Anh nghe thật rõ ràng tiếng lá xạc xào từng cơn gió đi qua. Anh cảm giác từng cơn gió mát ve vuốt tâm hồn. Nhìn ra thửa đất dưới ánh nắng có sao, một khung trời cách biệt. Ở đó những con người cách mạng đang hồ hỡi tiến tới thiên đường xã hội chủ nghĩa theo sách vở vẽ ra!  
     Ông sĩ quan nằm tại gốc cây không biết bao lâu. Không nhìn thấy tương lai huy hoàng trước mặt mà mơ về quá khứ êm đềm sau lưng. Anh nhớ con đường ướt sương buổi sáng, nhớ cái gò mả đôi tại ngã ba lộ đất, nhớ rặng trâm bầu nhà bác Sáu Tứ thợ mộc, và nhớ bụi mắc cở ven đường mà một trăm lần như một anh rắn mắc phải đá một cái cho lá nó khép lại.... Đến khi nghe tiếng rửa chân của cô giáo từ cái cầu thấp ngoài ngỏ, ông chồng sĩ quan, một tay đang xoa lên cổ đứng dậy bước ra ngoài đón. Trời không còn nắng. Trong cái không khí ảm đạm buổi chiều nhá nhem chỉ còn đủ để nhìn rõ mặt người thân, cô giáo dáng dấp tiều tụy mệt mỏi. Anh Thống nắm tay vợ, an ủi:
     - Nga cực lắm hả?
     Cô giáo nhìn chồng, thở dài:
     - Nga chỉ khổ!
     Ông sĩ quan nhẹ nhàng:
     - Có chuyện gì vậy Nga?
     Cô Nga trấn an: 
     - Thống đừng lo! Không phải chuyện ở trường đâu!
     Ông sĩ quan cố né tránh dấu cái cổ đỏ đang xát dầu dừa, nhưng không qua được mắt cô giáo:
     - Thống đưa cái cổ cho Nga xem!
     Cái cổ con trâu người làm sao bằng của con-trâu-cổ cày chuyên nghiệp! Cái cổ như cái cổ cò được gắn trên cây xương đòn gánh, bây giờ không gánh trách nhiệm quá trừu tượng mà mang cái ách cho cụ thể, nổi đỏ và sưng phù lên. Cô Nga nghẹn lời rươm rướm nước mắt, gục đầu lên vai Thống.
     Một tay vỗ vỗ lên lưng Nga, anh Thống an ủi:
     - Hồi trong tù, Thống còn cực hơn nữa!
     Cô Nga im lặng nuốt những giọt lệ. Anh Thống tiếp:
     - Ruộng tù đang cày, phân người nổi lềnh bềnh. Chúng nó gọi là phân Bắc. 
     Nga lại im lặng. Tiếng cười của Thống méo mó:
- Ruồi nhặng bay đầy! Riết rồi mũi mình hết biết mùi luôn!
     Cô Nga buồn mửa như bị thai hành. Thống không thêm lời nào. Ánh mắt ông sĩ quan đanh lại. Chuyến hải hành thằng bạn nói hôm nọ hiện ra trước trước mắt. 
     Anh Thống cụng trán vợ thì thầm:
     - Nga à! Mình phải đi!
     Cô Nga vói tay bá cổ anh Thống chia sẻ và tìm sự an ủi. Hai vợ chồng ôm nhau, im nghe hai trái tim cùng nhịp đập.
Ngô Sỹ Hân


[1] Mò tôm: Hình thức xử tử phổ biến thời bấy giờ của Việt Minh. Nạn nhân bị cho vào bao bố thả xuống sông.
[2] Dế: Tiếng lóng chỉ đuôi thuốc lá trong tù. Những anh em nghèo không có tiếp tế lượm chừng mươi cái đuôi rồi “recycle” lại hút cho đỡ ghiền! Lúc đầu mắc cở vì sỉ diện, nhưng riết rồi xem như thường! Ngặt là dế trong tù không to như dế ở ngoài!!!     
[3] Thuốc giả: Lấy bất cứ lá gì phơi khô quấn hút như “hút thuốc”!
[4] Bật mí: Tiếng lóng nói lái nghĩa là lộ bí mật.

No comments: