Tuesday, November 8, 2016

TRẦN HỒNG CHÂU * NGUYỄN MINH CẦN * SƠN TRUNG *

TRẦN HỒNG CHÂU * SAI GON TRONG HỒI TƯỞNG

Buổi Chiều Hằng Cửu
Trần Hồng Châu

Chúng tôi xin trích đăng một đoạn trong Thành phố trong hồi tưởng của tác giả viết về Tết Sàigon

 Năm tháng qua, như nước chảy dưới cầu Khánh Hội, như mây bay trên 18 thôn vườn trầu, tôi vẫn không hết ngạc nhiên, xúc động đến thảng thốt, mỗi khi mây Sàigòn bủa vây, tới tấp, hay khi nắng Sàigon nung nấu đến rùng mình cả một bầu khí quyển siêu thực, vàng ánh nhu tranh Van Gogh với cái chói chang bỏng lửa củz trưa hè đúng ngọ. Mỗi khi hoa mai bừng nở ở Minh Phụng hay khi con đò Thủ Thiêm đủng đỉnh bắc cầu cho những Sâm Thương thời đại. Mỗi khi sông Nhà Bè bồn chồn nước chảy chia đôi hay khi tấm lòng son của những trái dưa Hà Tiên bằng ngọc thạch dược giãi bày trên lề đường đi về cầu Ông Lãnh trong những ngày đầu xuân.
Dưa đỏ, mai vàng. . . Nhớ lại không khí Tết, gần gũi cũng như xa vắng, gắn liền với hai màu tượng trưng đang dàn trải trên đường phố Sàigon. Đỏ, vàng. Máu đỏ, da vàng.. ., điểm xác minh cũng như nhận diện của lịch sử và giống nòi. Vàng, son. . . sắc màu của những cung điện tâm hồn và ý thức nghệ thuật.
Trái dưa là chứng tích bình minh dân tộc với sức sống mạnh và lòng tin yêu,lạc quan không gì lay chuyển nổi của thời dựng nước. Cành mai thanh tao, thân hình uốn lượn, đơn sơ và khỏe. Vừa khắc khổ đạm bạc, vừa rực rỡ ,lãng mạn. Nói lên khí phách người quân tử " thế gia thanh bạch tỉ sơn mai,"một mình đương đầu với cái đa số, có khi a dua, sai lầm, phi lý. Nói lên cốt cách nghệ sĩ, có thể cương nhu, đậm nhạt, ở những thời và không gian khác nhau, nhưng luôn bảo vệ được sinh mệnh tinh thần của mình trong tư thế mắt sáng, đầu ngủng cao.
Hai s8ác đỏ vàng nở rộ trên đường phố đô thành có nghĩa là mùa xuân đã tới, không một lần lỡ hẹn. Cũng như tiết điệu và ý lời những bài thơ xuân từng vượt qua trường thành của thời gian và quên lãng. Xuân giang hoa nguyệt dạ hay Xuân nhật khởi ngôn chí. . .
Dưa đỏ ,mai vàng trên đường Nguyễn Văn Học và Trần Hưng Đạo. Xuân về đúng chu kỳ, chính xác như một định lý toán học. Đồng thời cũng biện minh cho một nhận định tâm lý: s8ác màu, âm thanh thường quấn quít, đan xen nhau trong một tổng thể hồi tưởng đa dạng.Quá khứ thường trở về trên đỉnh trời âm và săc . Vì đó là hai chất xúc tác, khơi động, gợi nhớ. . . Là tố chất không thể thiếu được của bản thể cái đã qua, dù ở thời điểm nào.
Mùa xuân đã trở về với dưa đỏ, mai vàng và tiếng ngâm thơ Hồ Điệp, giai điệu muôn màu, âm vang trên suốt chiều dài phố phường Sài gòn.
 
Tất cả là một bừng nở sáng chói. Hương và sắc. Hoa thảo mộc và hoa biết nói, theo sáo ngữ. Cùng đứng bên nhau. Thân thiết: nhân diện đào hoa tưong ánh hồng. Lan tỏa mênh mang : Xuân thành vô xứ bất phi hoa. Thoạt tiên là thược dược, cẩm chướng rồi hướng dưong, cánh mở rộng như một mặt trời Van Gogh. Tiếp theo là mãn đình hồng với thân cây cao vồng đi nhanh hơn cả thời gian, với nhụy hoa reo rắc phấn vàng óng ả của loài hoa nhiệt đới làm bằng sắc đậm tươi và hương nồng say đến choáng váng. . .
Nhưng vẫn nhiều nhất là cúc,hồng và lan, những nữ hoàng của hội hoa, của mùa xuân bất tận.Cúc vàng, cúc trắng.. .đi từ kim cúc bé nhỏ đến đại đóa bời bời tóc rối. Từ trắng đục, vàng nhạt, hoàng anh của Nguyễn Du trong những ngày Kinh Bắc, bệnh hoạn và mai danh ẩn tích, đến vàng cam, sơn mài , của những cánh vạn thọ ngoại thành Lộc Uyển mà có lẽ Thích Ca đã từng yêu mến trong những buổi chiều thuyết pháp.
Hồng nhung, hồng quế.. . tất cả sắc tố đậm nhạt của màu hồng đi từ hồng tầm xuân đến huyết dụ đỏ tía. Như sắc tố đậm nhạt của những thỏi son khác nhau đã lần lượt đi trên môi, từ thuở người gái dậy thì khởi đầu biết làm dáng tới những ngày " mùa thu thiếu phụ" đầy ngậm ngùi và hồi tưởng.
Lan là vương giả chi hoa. Địa lan. Phong lan. Yểu điệu. Mảnh mai. Cánh bướm vàng phơi phới. Hạc đồng nội nhởn nhơ. Chiếc hài vân đong đưa gợi mùa xưa cũ. Một diểm hồng. Vài bông ngọc trắng rung rinh trước gió xuân ngọt ngào như nửa tỉnh, nửa say. Thế giới của lan là một thế giới mềm mại, gần như yếu lả, nhạt nhòa, thoang thoảng. Hương sắc, hình hài, âm thanh tưởng như có,như không. Thế giới ấn tượng của buổi chiều Monet, vàng sáng Pissaro và làn da Renoir,thấp thoáng, mờ ảo, bấp bênh, có lẽ cũng chỉ đước xây dựng bằng những tố chất đó thôi.
Trong biển hoa Nguyễn Huệ ngưòi và hoa dường như cùng chung một ý thức về thời gian. Mọi chuyện đều là phù du, hư ảo, sớm nở tối tàn. Hãy sống với hiện tại, với những gì hiện hữu nhất trong phút giây hiện hữu của hôm nay!
Có những cặp vợ chồng đi xem hoa như một nghi lễ cuối năm không thể thiếu đuợc. Để nhớ kỷ niệm một chợ tết xưa. Để tìm lại trong rừng hoa niềm yêu đời và sức sống cần phải có trước lớp ưu tư đang ló dạng ở chân trời.Có những người tình bé nhỏ, ngồi bên nhau,lặng lẽ ngắt và đếm từng cánh hoa cúc vàng. Dò hỏi về tương lai, đầu năm theo truyền thống nhân gian? Hay suy nghĩ về kiếp mong manh để bàng hoàng lo sợ, rồi quyết tâm buồm lái đi ngược lại giòng sông định mệnh ?
Có những chàng trai đi chợ hoa với tân hồn nghệ sĩ vượt thời gian và không gian. Niềm hoài cổ chợt như sóng biển tràn lan.. . Không biết Thăng Long xưa vào những đêm chợ hoa ngày Tết ra sao? Trong khuôn viên Văn miếu lộc xuân nõn nà ció trổ lại nhiều không ? Ngoài cửa Kim mã trai thanh gái lịch chắc phải có hơn một cuộc hẹn hò đầu xuân. Những buổi khán hoa và bình thơ xuân trên sóng nước Tây hồ tưởng như vẫn còn để lại dư âm và phong vị của ngày xa xưa khi Lê Quý Đôn hay Nguyễn Nghiễm từ những phiến trấn xa xôi trở lại thăm cố đô và các bạn vong niên mỗi độ xuân về. . .
Êm ái chiều xuân đến khán đài,
Lâng lâng chẳng gợn chút trần ai.
Rồi những hội chùa đầu xuân nữa chứ! Đâu rồi những Ngọc hồ và Quảng Vân đình những Tiên du và Phật tích, những cành mẫu đơn và tranh tố nữ Cầu đông ? Có lẽ trong lòng thanh niên Sài gòn giữa chợ hoa vẫn còn phảng phất đâu dây nhiều kỷ niệm đẹp. Kỷ niệm những kỳ ngộ và kỳ tích trong đó hoa thường gần gũi người, gắn bó với người.
Đêm khuya trên phố vắng. Chợ tàn. Những xe lam cuối cùng đã đưa về Bình triệu, Phú xuân mấy chậu hoa còn sót lại. Hoa lỡ thời, ràu rầu, chưa nở rời chợ hoa vì còn ngậm ngùi" nhớ nơ kỳ ngộ."
Gió lạnh thêm. Đêm trở nên hoang liêu. Những cành hoa chết nằm la liệt trong lòng đường, bơ vơ, lạc lỏng. Bạc mệnh cầm chung oán hận trường.
Có ai nhỏ một giọt lệ thương vay ? Có phải đây là oan hồn những vong nữ mà không một bài thơ đoạn mệnh, không một trang Liêu trai nào có thể giải tỏa hết nổi u ẩn, niềm thưong đau của kiếp người và kiếp hoa mãi mãi đắm chìm trong vòng trần lụy.
 

SƠN TRUNG * NHÌN LẠI THẾ KỶ XX

NHÌN lại THẾ KỶ HAI MƯƠI
Sơn Trung



Một trăm năm qua, những gì quan trọng đã xảy đến cho nhân loại?Và con ngườI đã đạt được những thành tích nàoto lớn ?
Sự việc thì nhiều,viết thành năm mườI quyển sách cũng không nói đủ lịch sử thế kỷ hai mươi.Ở đây, chúng tôi chỉ nêu lên một vài nét quan trọng.
Về khoa học, con ngườI đã đạt nhiều thành tích vĩ đại.
Năm 1928 ,nhà bác học Anh quốc Fleming đã tìm ra thuốc trụ sinh, và đã cứu được hang triệu ngườI thoát tay tử thần. Nhưng con ngườI đã mang một chứng bệnh nan y là bệnh AID mà hiện nay ngườI ta chưa tìm ra thuốc chữa.
Về nông nghiệp, nhờ cuộc cách mạng xanh, ngườI ta đã tìm ra nhiều giống lúa mớI,như luá thần nông, có năng suất cao và ngắn hạn. NgườI ta cũng nghiên cứu về ‘gen’để cải tiến nhiều giống cây, trái.
Nay ta có thể ăn nhiều loại trái cây không hột, và ăm những trái ổI, cà chua thật to, thật ngon. . .
Quan trọng nhất là sự ra đờI của computer.Ngày nay, computer đã đi sâu vào các lãnh vực quân sự, khoa học, kỹ thuật, thương mại, văn hóa, thông tin. ..Ngành này đã đưa Bill Gates trở thành tỷ phú và rất nhiều tân triệu phú. Không biết trong tương lai, computer sẽ còn tiến đến đâu nữa ?
Đó lá mặt tích cực của con người.
Chúng ta hãy nhìn đến khía cạnh tiêu cực của nó.
Một sự kiện vô cùng quan trọng trong lịch sử là sự ra đờI chủ của chủ nghĩa Marxist. Marx và Engels đã soạn thảo cuốn Tư Bản Luận.Trong tài liệu này, hai ông đã chỉ trích chủ nghĩa tư bản và hô hào giai cấp vô sản đoàn kết lại.Hai ông tiên đoán chủ nghĩa tư bản sẽ dẫy chết và chủ nghĩa cộng sản sẽ ra đờI tại Đức là một quốc gia có nền khoa học kỹ thuật tiến bộ. Thuyết của Marx đã được Lénine hưởng ứng, áp dụng vào công cuộc lật đổ Nga hoàng năm 1911 và lập nên đảng Cộng sản Nga. Lénine chết, quyền bính lọt vào tay Staline. Staline ra sức củng cố đîa vị, thanh toán Trostky và lập nên một hệ thống quốc tế cộng sản chuyên chính và sắt máu.
Những nước nghèo đói và bị thực dân đô hộ đã trở thành nạn
nhân của chủ nghĩa cộng sản trong đó có nhân dân Liên Xô ,Trung Hoa, Việt Nam,Đại Hàn, Mông CỔ.Cộng sản Liên Xô, Trung quốc, Việt Nam, Cambodge. . .đã giết hàng chục triệu người, bắt bớ giam cầm hàng triệu người.. .ghê gờm hơn thực dân và phát xít...
Cũng trong thế kỷ XX, một phát minh vĩ đại đã làm nhân loại kinh hoàng. Đó là sự ra đờI của bom nguyên tử, bom khinh khí. . .Nước Đức đã có nhiều nhân tài về khoa học kỹ thuật
Trước đệ nhị thế chiến, Đức đã là nước có nhiều phi cơ chiến đãu, có hạm đội hung mạnh, có hỏa tiển liên lục địa.Sau trận chiến, các nhân tài khoa học của Đức bị Nga và Mỹ đem về. Họ trở thành những khoạ học gia về nguyên tử và không gian của hai nước này.Vì vậy, trong thế kỷ XX, Nga và Mỹ đã đua nhau phát triển bom hạch tâm,và phi thuyền không gian.Một hệ quả nữa là sự ra đờI của các lò nguyên tử. Lò này có ích vì cho con ngườI năng lượng xài nhất là khi hết xăng dầu nhưng nó cũng có nguy hại là gây ô nhiễm môi trường và có cơ hủy diệt nhân loại.
Trong đệ nhị thế chiến, Nga và Mỹ là đồng minh nhưng sau đó hai nước này trở thành thù địch. Chiến tranh lạnh đã xảy ra non bán thế kỷ, và kết thúc nhờ chính sách ngoại giao của ngoại trưởng Mỹ Kissinger trong thập niên 60.
Vì Mỹ thu xếp được cuộc chiến tranh lạnh vớI Nga và Trung cộng, Mỹ đã bỏ rơi Việt Nam. Ngày 30-4-1975 là ngày bi thảm cho những ngườI Việt Nam tự do, đất nước hoàn toàn rơi vào tay cộng sản.Bao nhiều triệu ngưòi đã chết trong ngục tù, trên biển cả, trong núi rừng ?
Trong thế kỷ này con người đã gây ra ba cuộc thế giới chiến tranh: hai cuộc chiến tranh quy ước và một cuộc chiến tranh lạnh.
Đối vớI ngườI dân Việt,lịch sử thế kỷ 20 là một lịch sử bi đát.
Năm 1989-1991, khôi Liên Xô và Đông Âu sụp đổ. Hơn nữa nhân lọại đã thấy được tư do nhưng vì ảnh hưởng quá trầm trọng của cộng sản, nước Nga và các nuớc cộng sản Đông Âu vẫn chưa chấn hưng được.
Trong thiên niênkỷ thứ ba, chúng ta ươc mong chủ nghĩa cộng sản phải bị tiêu diệt để nhân loại được hưởng tự do, dân chủ thực sự.
` Sơn Trung

TRẦN HỒNG CHÂU* VONG BẮC PHƯƠNG

Vọng Bắc Phương
Trần Hồng Châu


Suối lụa tình thơm người viễn xứ
Cố nhân chăng đó nghĩa xa gần
Nhớ chăng tuyết trắng chiều hiu hắt
Bâng khuâng viễn xứ mộng vơi đầy
Dạ y bừng nở thân ngọc biếc
Hoa trôi cửa động chín tầng mây !
Muôn hộc trời xanh chìm đáy mắt
Vàng rơi suối tóc chảy hoàng hôn
Ai về Bồng đảo cho ta nhắn
Vọng bắc phương hề ta nhớ chăng ?
Hồng nhật đông thăng môi ảo mộng
Bạch vân tây vọng tuyết da ngà
Hải âu tung cánh trời cao rộng
Gotland sóng biếc thị Thần châu
Liễu mi cong vút buồm thuyền trắng
Tay tiên hồn nhạc khóc dương cầm
Tuyết xây mộng nhỏ men say đắng
Nửa đêm nhật nguyệt nhập hồn em
Hào quang thánh nữ rừng bạch lạp
Mười sáu mùa hoa một ánh mi
Ai vẫn đi về qua đại lục
Rừng phong biển rộng suối vi vu.
Rượu đào nghiêng mắt biếc lưu ly
Ly bôi tóc rối nỗi niềm xưa
Karen, Igne, Anita !
Vọng bắc phưong hề ta nhớ chăng ?
Trần Hồ ng Châu

BÙI DIỄM * TÌNH HÌNH THẾ GIỚI

Đại Hội X Và Những Tranh Luận
Trong Nội Bộ Về Nhận Định Tình Hình Thế Giới
Và Chủ Trương Đối Ngoại
         
Bùi Diễm




Đại Hội của Đảng Cộng Sản Việt Nam thường được tổ chức 5 năm một lần. Như đã được dự trù, Đại Hội sắp tới, gọi là Đại Hội X, sẽ được tổ chức vào cuối mùa Xuân sang năm, 2006. Thời gian từ nay đến đó cũng còn hơn một nửa năm nữa, tuy nhiên ngay lúc này, để chuẩn bị cho hội nghị, dự thảo báo cáo tổng quát về 20 năm “đổi mới” cũng như những văn kiện khác như báo cáo chính trị, kinh tế và xã hội đã gần như được hoàn tất. Một Hội Nghị Ban Chấp Hành Trung Ương sẽ duyệt lại những bản dự thảo báo cáo này để rồi sau chót, các cơ sở Đảng sẽ có cơ hội đóng góp thêm ý kiến.



Trên dây là về phần công khai của việc chuẩn bị Đại Hội như thường lệ. Còn lại là phần không công khai, phần vận động ngấm ngầm trong bóng tối giữa các khuynh hướng, hay nói đúng hơn, giữa các phe nhóm trong nội bộ Đảng. Và đây mới chính là phần quan trọng hơn cả mà người ngoài Đảng chỉ được nghe nói qua những lời đồn đại hay bàn tán lọt ra ngoài. Trong một xã hội bưng bít như xã hội Cộng Sản, tình trạng này phải coi là một chuyện thường có trước ngày Đại Hội. Với bối cảnh chung đó, trường hợp Đại Hội X sắp tới đây xem ra cũng không khác những Đại Hội trong quá khứ, nếu có khác thì chỉ ở chỗ những lời bàn tán này tăng lên gấp bội, gần như lan tràn trong mọi giới ngay cả ở những vùng quê vì nhà cầm quyền không còn bưng bít tin tức được nữa. Kể ra thì không hết nhưng trước hết là những tin từ trong nước đưa ra về rất nhiều những lá thư tố cáo, không phải là nặc danh mà là của những thành phần cách mạng lão thành công khai đứng tên, tố cáo đủ mọi chuyện bê bối trong nội bộ Đảng. Rồi tiếp đến là những bài báo (từ giới truyền thông do chính nhà nước trực tiếp hay gián tiếp kiểm soát) phanh phui những vụ tham nhũng tại những cơ quan công quyền và những lời thú nhận về tham nhũng của những người trong giới lãnh đạo nay đã về hưu như cựu Tổng Bí Thư Lê Khả Phiêu trong bài phỏng vấn của báo Tuổi Trẻ, ngày 22 tháng 5 vừa qua: “…bệnh tam nhũng bất trị của chế độ là một bằng chứng về nhà dột từ nóc của chế độ độc tài toàn trị…” Dầu cho không ai lúc này đo lường được mức độ lan rộng hay bề sâu của phong trào chống đối ngay ở trong Đảng hay ngoài dân gian, nhưng đây là những chỉ dấu của một tình trạng phân hóa và khủng hoảng lãnh đạo trầm trọng trong Đảng.



Về mặt đối nội của tình hình thì đã vậy, còn về mặt đối ngoại thì người dân cũng không kém phần thắc mắc. Người ta được chứng kiến trường hợp ít thấy, gần như cùng trong một khoảng thời gian ngắn ngủi vài ba tuần, ba nhân vật cấp cao của chế độ lên đường công du nước ngoài: Tổng Bí Thư Nông Đức Mạnh qua thăm nước Pháp, Chủ Tịch Nước Trần Đức Lương sang thăm Trung Quốc, còn Thủ Tướng Phan Văn Khải thì viếng thăm nước Mỹ. Phải chăng vì cần phải đánh lạc dư luận mà Đảng phải tỏ ra tích cực về mặt đối ngoại? Đảng đánh giá tình hình chung trên thế giới ra sao, và đặc biệt chủ trương đối ngoại của Đảng có còn dựa vào ý thức hệ như trong quá khứ không? Nhân kỳ Đại Hội X sắp tới, và đặc biệt nhân dịp chuyến công du của ông Phan Văn Khải viếng thăm nước Mỹ, một số câu hỏi như trên đây cần phải được đặt ra và trong chiều hướng đó, tiểu luận này sẽ cố gắng để làm sáng tỏ vấn đề.



Chính sách ngoại giao của Việt Nam trước và sau “đổi mới”



Nếu trở lại giai đoạn trong lịch sử cận đại của Việt Nam, chạy dài từ ngày có chế độ Cộng Sản được thành lập năm 1945 cho đến ngày chiến tranh hoàn toàn chấm dứt trên hai miền Nam Bắc năm 1975 thì một cách tổng quát ai cũng thấy rõ là chính sách ngoại giao của Hà Nội được đặt hoàn toàn dưới sự kiểm soát chặt chẽ của Bộ Chính Trị và có đầy đủ tính cách một chính sách của một nước xã hội chủ nghĩa chính thống, lấy chủ nghĩa Mác-Lênin làm căn bản, trung thành triệt để với “nghĩa vụ quốc tế” và đường lối chống đế quốc tư bản của khối những nước Cộng Sản trong thời kỳ chiến tranh lạnh. Đi sâu vào phần phân tích thì người ta cũng có thể ghi nhận thêm là chủ trương của Hà Nội đã nhiều lúc chao đảo, lúc thì ngả về phía Liên Bang Xô Viết, lúc thì ngả về phía Trung Cộng (chiều theo những nhận định tùy hứng và chủ quan của giới lãnh đạo trong Đảng lúc đó), nhưng tuyệt nhiên vẫn không ra khỏi những tiêu chuẩn đã bị ý thức hệ buộc chặt. Và dĩ nhiên tất cả những tài liệu chính thức của Đảng đều ca tụng giai đoạn này như một thắng lợi lớn của sự “vận động tư tưởng Hồ Chí Minh vào tình hình trong nước và hoàn cảnh quốc tế” để “kết hợp đấu tranh ngoại giao với đấu tranh quân sự và chính trị nhằm bảo vệ và xây dựng tổ quốc” (1)



Tiếp theo giai đoạn trên đây là giai đoạn từ ngày hòa bình trở lại trên hai miền đất nước cho đến ngày có “đổi mới” (1975-89 và 90, 91) và sau hết là giai đoạn từ sau “đổi mới” cho đến ngày nay.



Riêng về trường hợp đất nước từ Bắc vào Nam được đặt hoàn toàn dưới quyền cai trị của Đảng Cộng Sản Việt Nam và ngay sau khi chiến tranh chấm dứt thì một đặc điểm nổi bật của giai đoạn “đỉnh cao trí tuệ của loài người” này là tính cách tự cao tự đại của chế độ đưa dẫn đến những lầm lỗi quan trọng về mặt ngoại giao tai hại cho đất nước. Được cơ hội chính quyền Mỹ dưới thời Tổng Thống Carter muốn bình thường hóa ngoại giao với Việt Nam gần như vô điều kiện vào những năm 1977-78 (Ngoại Trưởng Mỹ Cyrus Vance tuyên bố ngày 10 tháng 1, 1977: “Việc tiến tới bình thường hóa quan hệ Mỹ-Việt phù hợp với quyền lợi của hai nước”, Mỹ quyết định không phủ quyết Việt nam vào Liên Hiệp Quốc, tháng 7, 1977), Việt Nam ngây ngô nhất quyết đòi hỏi Mỹ phải bồi thường chiến tranh dưới hình thức viện trợ cho Việt Nam 3,2 tỷ dollar, điều mà không một chính quyền Mỹ nào có thể chấp nhận được. Việc điều đình giữa hai bên bất thành, liền sau đó Việt Nam lại gia nhập tổ chức COMECOM của khối Cộng Sản và ký Hiệp Ước Hữu Nghị với Liên Xô vào cuối năm 1978, chặt đứt hẳn cầu với Mỹ, để cho Mỹ từ đó có cơ hội thiết lập quan hệ ngoại giao với Trung Cộng. Về tất cả những diễn tiến này, người trong cuộc là Thứ Trưởng Ngoại Giao Trần Quang Cơ về sau này có nói: “Tôi thật sự đau xót vì ta đã bỏ lỡ cơ hội bình thường hóa quan hệ với Mỹ, khiến Việt Nam gần như đơn độc trước một Trung Quốc đầy tham vọng” (2) (bản thảo Hồi Ức và Suy Nghĩ của Trần Quang Cơ được bổ sung và hoàn chỉnh tháng 5, 2003). Rồi đến lúc Việt Nam đưa quân vào Căm Bốt thì như lời tuyên bố của Ngoại Trưởng Mỹ Cyrus Vance: “Các cuộc nói chuyện Mỹ- Việt về bình thường hóa đã tan vỡ do cuộc xâm lăng Campuchia của Việt Nam”. Rút cuộc, hậu quả của tất cả những lầm lẫn của Đảng Cộng Sản Việt Nam là trước hết chiến tranh với nước bạn đàn anh phương Bắc và Việt Nam phải đợi thêm 17 năm nữa mới trở lại được với Mỹ. Và, vẫn theo lời của ông Trần Quang Cơ (3) “… chỉ hơn 4 năm sau khi giải phóng đất nước, ta lại bị xô đẩy vào cuộc chiến thảm khốc ở Campuchia, đối đầu ngay với Trung Quốc, kẻ đã từng là đồng minh chiến lược của ta trong 30 năm chiến đấu chống xâm lăng phương Tây. Sau hai cuộc kháng chiến gian khổ, dân ta mới chỉ được hưởng mùi vị của chiến thắng và hòa bình êm ả chưa đầy 5 năm thì đã lâm vào cảnh nửa hòa bình nửa chiến tranh…Trong cuộc chiến đấu chống Polpot thì Việt Nam hầu như hoàn toàn bị cô lập. Các nước trong khu vực thì lo sợ Việt Nam sau khi hạ xong Campuchia sẽ phát huy sức mạnh ra cả Đông Nam Á, còn Trung Quốc thì ra sức vu khống Việt Nam xâm lăng Campuchia và mưu đồ lập Liên Bang Dông Dương để làm chủ cả Lào lẫn Campuchia…” “ Nửa cuối thập kỷ 70 này là thời gian ta chồng chất nhiều sai lầm về đối ngoại nhất trong suốt lịch sử dựng nước sau cách mạng năm 1945”. (4)



Trên căn bản, những sai lầm này thực ra bắt nguồn từ những nhận định chủ quan về tình hình thế giới của hàng ngũ lãnh đạo lúc nào cũng nhìn sự việc qua lăng kính của ý thức hệ. Đến lúc ý thức hệ này sụp đổ cùng với sự sụp đổ vào cuối thập niên 80 của những chế độ Cộng Sản Đông Âu và sau đó của Liên Bang Xô Viết (được coi từ trước đến nay như “thành trì” vững chắc của “thiên đàng Cộng Sản”) thì những khó khăn mới lại ập đến. Không còn trông cậy được vào bực đàn anh lớn là Liên Xô và các chư hầu về cả ba mặt quân sự, chính trị và kinh tế và phải đối phó với tình hình nguy ngập về mặt kinh tế ở ngay trong nước, từ những năm 86, 87 nhà cầm quyền bước vào một giai đoạn mới, một mặt về phương diện đối nội tìm đường “đổi mới” và một mặt khác về phương diện đối ngoại tìm điểm tựa bên ngoài. Đổi mới thì, vì ý thức hệ, vẫn phải thòng một cái đuôi “theo định hướng xã hội chủ nghĩa” trong khi từ trên cao chót đỉnh trong hàng ngũ lãnh đạo (theo lời thú nhận của ông Nguyễn Văn Linh, Tổng Bí Thư thời đó, với một người thân trong gia đình) cho đến người dân, không ai hiểu trên thực tế thế nào là “định hướng xã hội chủ nghĩa”. Còn về điểm tựa thì biết quay đầu vào đâu bây giờ? Các nước láng giềng trong khu vực Đông Nam Á chăng, trong khi đã bị họ cô lập vì cuộc xâm lăng Campuchia và chính Việt Nam đã làm cao với họ? (Việt Nam phải vất vả chờ đợi đến năm 1955 mới được họ cho gia nhập ASEAN). Ngoài ra, có thể quay lại với nước đàn anh Trung Quốc không? Một vấn nạn mà cho đến ngày nay vẫn chưa được giải quyết dứt khoát.  



Những mâu thuẫn và khúc mắc trong quan hệ Việt-Trung



Nếu không kể đến tình rạng nội bộ nguy ngập về mặt kinh tế và những biện pháp “đổi mới” còn trong vòng thử thách của những năm đầu, giai đoạn vào cuối thập niên 80 và đầu thập niên 90 là một trong những giai đoạn cực kỳ khó khăn cho Việt Nam về mặt đối ngoại. Những đột biến ở Đông Âu, Liên Xô cùng với vụ Thiên An Môn ở Bắc Kinh làm cho giới lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam không còn biết đứng chỗ nào cho vững, nhất là ngay ở sát nách vấn đề Campuchia vẫn còn như một cục xương không nuốt nổi. Để giải tỏa áp lực của quốc tế, rút quân từ đất chùa Tháp về đã đành là một việc không thể tránh được nữa, nhưng tìm được một giảp pháp để khỏi bị mất

mặt và ra khỏi được tình trạng cô lập về mặt ngoại giao không phải là dễ vì không có Trung Quốc thì không có giải pháp, trong khi quan hệ với Trung Quốc không còn là giữa anh em cùng chung một ý thức hệ nữa. Trung Quốc chắc chắn không quên là sau “bài học” mà ông Đặng Tiều Bình đã dành cho Việt Nam năm 1979, Việt Nam đã ghi, ngay trong phần dẫn nhập của bản hiến pháp được sửa lại năm 1980, Trung Quốc là “kẻ thù trực tiếp và nguy hiểm nhất” của Việt Nam.



Ngoại giao của Việt Nam vào thời điểm này là làm sao tìm được một lối thoát. Nhưng không may cho Việt Nam, chính vào thời điểm khó khăn lại có sự lục đục trong nội bộ, đặc biệt là giữa Bộ Ngoại Giao và Bộ Chính Trị về cách đối xử với Trung Quốc. Một bên là Bộ Trưởng và Thứ Trưởng Ngoại Giao Nguyễn Cơ Thạch và Trần Quang Cơ thì không chịu thái độ trịch thượng của Trung Quốc muốn ép Việt Nam phải chấp nhận giải pháp của Trung Quốc về vấn đề Campuchia (tương đối có lợi cho Polpot mà Trung Quốc vẫn ủng hộ từ trước), và một bên là Tổng Bí Thư Nguyễn Văn Linh và Bộ Trưởng Quốc Phòng Lê Đức Anh thì nôn nóng muốn lấy lòng Trung Quốc để trở lại quan hệ bình thường với nước bạn đàn anh. Một tỷ dụ cụ thể và điển hình cho thấy giới lãnh đạo trong Đảng lúng túng ngay trong cả vấn đề nhận định tình hình. Một cán bộ ngoại giao tương đối còn ở cấp thấp, tên là Từ Đôn Tín, được Bắc Kinh cử tới Hà Nội để thảo luận với Việt Nam về vấn đề Campuchia. Họ Từ gặp phải lập trường cứng rắn của Bộ Ngoại Giao, nhưng do sự tính toán sai lầm của Bộ Chính Trị, lại được cả Tổng Bí Thư Nguyễn Văn Linh và Bộ Trưởng Quốc Phòng Lê Đức Anh tiếp đón. Trong nội bộ Việt Nam, thái độ và hành động không được thống nhất không những giữa ngành ngoại Giao và Bộ Chính Trị mà còn cả giữa những nhân vật trong Bộ Chính Trị. Kết quả là một mặt Trung Quốc lên chân cho rằng Việt Nam quá nôn nóng muốn quay đầu lại với Trung Quốc, do đó có thể chèn ép Việt Nam và mặt khác trong hàng ngũ lãnh đạo của Việt Nam nẩy sinh ra hai khuynh hướng rõ rệt, “chống Tầu” và “thân Tầu”.



Về phương diện này, bản Hồi Ức và Suy Nghĩ của ông Trần Quang Cơ nói khá rõ. Ông thuật lại trường hợp to tiếng giữa Từ Đôn Tín và Nguyễn Cơ Thạch, và đồng thời ghi nhận những phản ứng trong nội bộ Bộ Chính Trị đối với vấn đề quan hệ Việt -Trung như: “Cần phải nói lại mạnh mới được” (Đào Duy Tùng), “Nếu Anh không phản ứng mạnh thì chúng tôi không hiểu nổi” (Đồng Sĩ Nguyên), “…tôi đã nói 3 lần là không được hớ, phải rất thận trọng với Trung Quốc, đằng này các anh lại ngửa bài trước để cho họ biết hết… không thể đưa ngực cho nó đấm” (Anh Tô, tức là cựu Thủ Tướng Phạm Văn Đồng), “…ta thăm dò thật thà quá” (Võ Văn Kiệt), “Trung Quốc lấy lợi ích dân tộc của họ là chính, không phải theo lợi ích chung của xã hội chủ nghĩa. Họ khác ta, dù ta có muốn hợp tác, họ cũng không chịu đâu” (Võ Chí Công) (5)



Chính trong bối cảnh ấy mà đột nhiên Trung Quốc mời Việt Nam đi họp bí mật ở Thành Đô vào cuối tháng 8 năm 1990. Họ treo cao giải thưởng cho Việt Nam, quan hệ bình thường trở lại như Việt Nam mong muốn, nhưng thực sự họ dụ Việt Nam vào việc giải quyết vấn đề Campuchia. Việt Nam hăm hở đi dự họp (phái đoàn Việt Nam gồm có Tổng Bí Thư Nguyễn Văn Linh, Thủ Tướng Đỗ Mười và Cố Vấn Phạm Văn Đồng) với lập luận là sau khi Liên Xô và các chế độ Cộng Sản Đông Âu sụp đổ thì Việt Nam cần phải hợp tác với Trung Quốc để bảo vệ xã hội chủ nghĩa. Rút cuộc, quan hệ bình thường thì chưa có nhưng Việt Nam đã phải nhượng bộ những yêu sách của Trung Quốc về những mặt khác, điều mà về sau này những người như ông Nguyễn Cơ Thạch và Trần Quang Cơ cho là bước đầu của những sai lầm khác, bắt nguồn từ những nhận định thiếu khách quan về tình hình thế giới và đặc biệt về mối quan hệ Việt Trung. Trong hai nhận xét: Trung Quốc có hai bộ mặt, một bộ mặt là “xã hội chủ nghĩa” và một bộ mặt là “ bành trướng, bá quyền”, trong hai bộ mặt đó, bộ mặt nào là thực. Lập luận trên đây và những câu hỏi được đặt ra về bộ mặt nào của Trung Quốc thực ra vẫn đeo đuổi giới lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam cho đến ngày nay, mặc dầu sau hội nghị Thành Đô chỉ có 10 tháng, tại Đại Hội 7 của Đảng Cộng Sản Việt Nam (tháng 6, 1991), thái độ của Việt Nam đã thay đối theo chiều hướng nhượng bộ Trung Quốc. (Nguyễn Văn Linh bị thay thế bởi Đỗ Mười trong chức vụ Tổng Bí Thư, Lê Đức Anh lên làm Chủ Tịch Nước, và Võ Văn Kiệt thay Đỗ Mười trong chức vụ Thủ Tướng, còn Nguyễn Cơ Thạch thì do áp lực của Trung Quốc bị gạt hẳn ra ngoài, mất cả chân trong Bộ Chính Trị và Trung Ương Đảng). Rồi chỉ một tháng sau Đại Hội 7, Lê Đức Anh lại sang Trung Quốc với tư cách là Đại Diện Đặc Biệt của Trung Ương Đảng Việt Nam để thông báo lãnh đạo Trung Quốc về Đại Hội 7 (nhân dịp này Lê Đức Anh đã thấy cần phải xin lỗi Từ Đôn Tín về vụ to tiếng với Nguyễn Cơ Thạch năm trước). (6)



Kể từ ngày đó, quan hệ giữa hai bên lần lần trở lại bình thường và được tô điểm bằng những khẩu hiệu như: “láng giềng hữu nghi, hợp tác lâu dài “ v.v… mặc dầu trên thực tế một bên từ phía nước bạn đàn anh thì vẫn là một sự chèn ép nặng nề và một bên là thái độ khiếp nhược của nhà cầm quyền Việt Nam, được thể hiện qua nhiều vụ như: việc ký kết những hiệp ước biên giới trên bộ và thỏa hiệp về lãnh hải trong vịnh Bắc Bộ, những vụ đụng độ đẫm máu tại vùng biển Đông và bắn phá giết hại ngư phủ Việt Nam gần đây, và những lời xác quyết từ Bắc Kinh nhắc đi nhắc lại nhiều lần là quần đảo Trường Sa thuộc lãnh thổ Trung Quốc. Thật là một mối quan hệ đầy mâu thuẫn với những khúc mắc mà Việt Nam không vượt khỏi được.



Chủ trương đối ngoại ở vào thời đại toàn cầu hóa



Vì từ cả ngàn năm nay dân tộc Việt Nam đã phải sống bên cạnh một láng giềng khổng lồ lúc nào cũng lăm le muốn đặt nền đô hộ của họ lên mảnh đất miền Nam, nên không phải riêng gì chính quyền Cộng Sản mà bất kỳ chính quyền nào khác ở Việt Nam cũng phải lo một mặt giữ gìn bờ cõi; và một mặt khác duy trì mối giao hảo với phương Bắc. Nhưng những người Cộng Sản Việt Nam lại ở vào một hoàn cảnh đặc biệt. Không phải là họ không biết đến hay không cảm thấy sự đe dọa từ phương Bắc, vì ngay trong thời kỳ tình đồng chí “thắm thiết” và “môi hở răng lạnh”, họ đã phải trải qua kinh nghiệm cay đắng của bài học mà đồng chí đàn anh đã dành cho họ những ngày đầu năm 1979.



Rồi vết thương chưa lành thì lại đến sự sụp đổ của cả khối Cộng Sản Đông Âu và Liên Xô vào đầu thập niên 90. Trong hoàn cảnh lúc bấy giờ, bỗng nhiên bị hoàn toàn cô lập, thì còn chủ trương đối ngoại nào nữa ngoài chủ trương quay đầu về với Trung Quốc với lập luận là phải hợp tác với nước bạn để chống lại kẻ thù chung là đế quốc?



Nội lực không còn, giới lãnh đạo Việt Nam từ ngày ấy khó tránh được tình trạng lệ thuộc vào Trung Quốc, điều mà những người có tinh thần độc lập ở ngay trong Đảng hay ngoài dân gian, không ai chấp nhận. Và cũng từ ngày ấy mà trong đầu óc mọi người, không ai bảo ai, vấn đề đa dạng hóa mối quan hệ với những nước ngoài được đặt ra.



Về phương diện này thì nhiều người cho rằng điều hợp lý nhất là quay về với những nước láng giềng trong khối Đông Nam Á. Nhưng cái phao này thực ra cũng không lấy gì làm vững chắc, vì ngay trong nội bộ của ASEAN cũng có những mâu thuẫn và mầm mống xung đột (như giữa Mã Lai và Nam Dương hay giữa Mã Lai và Singapore) tạo ra cảnh “đèn nhà ai, nhà ấy rạng”, biến ASEAN thành một thứ “câu lạc bộ ngoại giao” chưa đủ trọng lượng trên chính trường quốc tế. Rồi nếu loại dần ra những thái độ ủng hộ nhất thời của Liên Hiệp Âu Châu hay Nhật Bản thì cuối cùng còn lại chỉ có Mỹ, một siêu cường quốc với ảnh hưởng bao trùm cả vùng Châu Á-Thái Bình Dương. Như vậy, rút cuộc, nếu quay về với Mỹ để thoát khỏi được tình trạng lệ thuộc quá đáng vào Trung Quốc thì tất cả sẽ trở thành một mối quan hệ tay ba. Nhưng liệu có đi được với Mỹ không, trông cậy vào Mỹ được tới mức nào và làm sao để khỏi chọc giận nước bạn đàn anh?



Những người Cộng Sản luôn luôn đặt nặng vấn đề “đánh giá tình hình” thế giới và đánh giá bạn cũng như thù. Đối với Trung Quốc thì câu hỏi đã từng được đặt ra, “thực chất Trung Quốc là bành trướng, bá quyền hay xã hội chủ nghĩa”, còn đối với Mỹ thì sự lo ngại là “diễn biến hòa bình”. Ở vào thời đại toàn cầu hóa như ngày nay thì tình hình thế giới biến chuyển nhanh chóng và bạn hay thù cũng tùy thời điểm mà thay đổi, duy chỉ có quyền lợi dân tộc là vĩnh viễn. Do lịsh sử và địa dư chi phối, Việt Nam ở vào một vị trí tế nhị đứng giữa luồng ảnh hưởng của hai cường quốc lớn, vì vậy mà một chủ trương đối ngoại hợp lý bắt buộc phải là một chủ trương minh mạch gồm cả ba mối quan hệ cân bằng, thân thiện và hợp tác với Trung Quốc; cũng như với những nước láng giềng và với siêu cường quốc Mỹ. Tranh chấp hay xung đột giữa các cường quốc trong vùng không phải là không thể xẩy ra được, do đó điều tối kỵ cần tránh là trường hợp, vì ý thức hệ hay phản ứng ngược lại khi bị chèn ép, tự đặt mình vào hoàn cảnh không có chọn lựa, phải đứng vào phe này hay phe khác, khu vực ảnh hưởng này hay khu vực ảnh hưởng khác. Việt Nam không nên trông chờ vào bất kỳ một nuớc nào vì trên chính trường quốc tế chỉ có quyền lợi là đáng kể. Nếu cần một điểm tựa, thì không có điểm tựa nào vững chắc bằng sự ủng hộ của cả khối dân tộc. 



Tại Đại Hội X của họ vào năm tới, tất nhiên giới lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam phải lo giải quyết tình trạng lủng củng ngay trong nội bội để sự chống đối Đảng không lan ra ngoài dân gian, nhưng đồng thời với những vấn đề lớn của đất nước như tham nhũng, chênh lệch giầu nghèo, thành thị thôn quê và tụt hậu, việc lựa chọn một chủ trương đối ngoại hợp với trào lưu tiến hóa theo chiều hướng tự do và dân chủ của thế giới bên ngoài thực ra cũng không kém phần quan trọng. 7



Bùi Diễm

Hoa Thịnh Đốn ngày 25 tháng 6, 2002





Chú thích:

(1) 50 năm Ngoại Giao Việt Nam, Học Viện Quan hệ Quốc Tế 22 tháng 8, 1995

(2) Hồi Ức và Suy Nghĩ , Trần Quang Cơ. Bản thảo được bổ sung và hoàn chỉnh ngày 22 tháng 5, 2003             Trang 6 và 7

(3) Hồi Ức và Suy Nghĩ, trang 7

(4) Hồi Ức và Suy Nghĩ, trang 8

(5) Hồi Ức và Suy Nghĩ, trang 47

(6) Hồi Ức và Suy Nghĩ, trang 105


DƯ THỊ DIỄM BUỒN * MẸ

NT 139 - tháng 10 - 2005

DƯ THỊ DIỄM BUỒN  
MẸ
Hai mươi tuổi tôi thấy mình vẫn bé
Theo mẹ đến chùa dự lễ niệm kinh
Tiếng mõ chuông, lòng thanh thản an bình
Mùi nhang khói thơm lừng trên chánh điện

Quỳ bên mẹ đang lâm râm khấn nguyện
Tôi gọi thầm, "Con thương mẹ, mẹ ơi!"
Thân yếu gầy, nhan sắc nhạt phai rồi
Cha chết sớm, mẹ vẫn còn trẻ quá!

Vì các con, mẹ ngược xuôi vất vả
Mưa nắng hai mùa, mua gánh bán bưng
Nhìn lũ con khôn lớn, mẹ vui mừng
Lệ hạnh phúc, ngày các con mãn khóa

Lòng của mẹ bao la, và cao cả
Anh chị tôi lần lượt lập gia đình
Mẹ vẫn tròn niềm son sắt kiên trinh
Vẫn thờ phượng vong linh người quá cố

Đời quả phụ trải biết bao gian khổ
Tôi yêu thương sùng kính mẹ vô ngần
Nên bao lần chiêm ngưởng Đức Quan Âm
Tôi vẫn tưởng mẹ với ngài là một

Giặc đỏ về, bao lầm than cùng tột
Cùng lũ con dìu dắt chuyến vượt biên
Cái sống như xa, cái chết gần miền
Mẹ vững dạ, giữa biển trời dông bão

Năm tháng dài, sống lất lây hoang đảo
Bới khoai khô, đun nước với lá rừng
Con ốm đau, mẹ canh giấc đêm trường
Và ngồi quạt muỗi thâu canh quạnh quẻ

Khi đói khát, yếu đau con gọi mẹ
Lệ sụt sùi, mắt mệt mỏi quầng thâm
Dang đôi tay, ôm con chặt thì thầm
"Con yêu quý, mẹ đây đừng sợ hãi..."

Xứ của người, mùa đông sương tuyết trải
Thời tiết đổi thay mẹ vất vả thêm
Vì việc làm, phải thức trắng cả đêm
Vẫn kiên nhẫn, không một lời than thở

Quỳ bên mẹ, tôi nguyện cầu nho nhỏ
"Nay vào mùa báo hiếu lễ Vu Lan
Xin Đại Bi Bồ Tát rải tuôn tràn
Nguồn cam lộ cho mẹ hiền vui khỏe...

Mẹ cô đơn nhọc nhằn thời son trẻ
Dưới mắt mọi người, mẹ rất bình thường
Nhưng trong tôi, mẹ cao cả nghìn thương
Như sông Thái, như núi cao, biển thẳm

LÊ DINH * CHUYẾN ĐI

Chuyến đi thập tử nhất sinh
LÊ DINH


Giữa tháng 12 năm 1977, từ một nhà tù nhỏ là trại Phan Đăng Lưu ở chợ Bà Chiểu ra nhà tù lớn là cả nước Việt Nam, thật sự tôi cảm thấy còn lo sợ hơn là khi còn ở trong nhà tù Phan Đăng Lưu. Vì là một người đã bị kết tội vượt biên, dù được tự do, về nhà tôi cứ mãi bị ám ảnh và thần kinh lúc nào cũng căng thẳng. Ban ngày, nghe tiếng ai nói chuyện lớn tiếng trước nhà cũng sợ, ban đêm, nghe tiếng ai gõ cửa càng cuống cuồng hơn nữa, ở nhà thì sợ sệt đủ thứ, sợ ông chủ khóm, chủ ấp, sợ công an khu vực, công an phường, sợ lối xóm, ra đường sợ những người quen, sợ bạn bè, sợ đồng nghiệp cũ. Có một lần, tôi đạp xe bên này lề đường Hồng Thập Tự, nhìn thấy bên kia đường, nhạc sĩ Nguyễn Hiền cũng đạp xe đi ngược chiều về phía tôi, tôi liền hạ thấp vành nón đang đội trên đầu để giấu mặt, không dám nhìn anh. Không nhìn anh nhưng tôi cũng đoán biết là anh cũng nhìn thấy tôi nhưng giả vờ không thấy nhau, như vậy tốt hơn, mặc dù trước kia tôi và Nguyễn Hiền rất thân nhau, phòng Điều Hợp của anh ở cạnh phòng Sản Xuất của tôi và tôi với anh có với nhau vài sáng tác hợp soạn như Hoa đào năm trước, Phố vắng đêm mưa v.v... Bạn bè cũ ở đài Phát thanh ngày trước, tôi không dám gặp ai, nhất là những người nào còn ở lại cộng tác với chế độ mới, ra đường rủi gặp họ mình cứ lờ đi, coi như xa lạ. Thế mà cũng không yên. Có một nhân viên cũ của tôi còn làm việc, cho tôi biết, trong một buổi học tập hàng tuần, cựu chủ sự một phòng nọ, vẫn còn làm việc, đứng lên phát biểu rằng: "Sao cách mạng quá dễ dãi như thế, tôi thấy nhạc sĩ Lê Dinh còn cỡi xe đạp tà tà ngoài đường phố, mấy anh có biết rằng thằng Lê Dinh nó đã làm biết bao nhiêu bài nhạc tố cộng, biết bao nhiêu bài nhạc chiến dịch không?". Nghe kể lại, tôi rụng rời và từ đó, có những việc thật cần thiết, tôi mới đạp xe đạp ra khỏi nhà.

Rồi còn vấn đề sinh sống nữa. Đồ đạc trong nhà đã bán hết, nhà cửa trống toát, không còn gì giá trị để bán nữa. May mà chúng tôi còn cha mẹ, anh chị em hai bên ở dười tỉnh, thỉnh thoảng mang lên cứu trợ chúng tôi vài chục kí gạo, một nồi cá kho, một trái bầu, vài nải chuối, vài trái dừa. Vợ tôi và mấy đứa nhỏ làm bịch nước ngọt đong đá để bán cho trẻ con lối xóm, còn tôi và đứa con gái lớn thì dạy Pháp văn và âm nhạc cho hai đứa con của một gia đình cán bộ giàu. Nhờ vậy mà chúng tôi cũng đắp đổi được qua ngày. Nhưng cái khổ về sinh kế không bằng cái khổ về tinh thần. Nào là hộ khẩu, đổi tiền, xét văn hóa phẩm đồi trụy, kêu đi nghĩa vụ, học tập cải tạo, dân công thủy lợi, đuổi đi kinh tế mới, học tập phường khóm, kêu đi biểu tình, phải có giấy phép di chuyển nếu muốn đi đâu và còn loa phóng thanh oang oang inh ỏi những bài hát CS chói tai... tất cả phối hợp lại làm thành một sự tra tấn không chân dung, giết dần giết mòn tinh thần mình ngày này qua ngày khác. Không thể nào chịu nỗi nữa, dù đã một lần vượt biên thất bại, tôi cũng cố gắng, còn nước còn tát, biết đâu Trời Phật thương, giúp cho mình thoát khỏi chốn ngục tù này. Đã một lần bị bắt và bị giam rồi nhưng gia đình tôi vẫn không chút sợ sệt và nghĩ rằng dù bị bắt, bị giết hay chết dưới biển sâu, làm mồi cho cá mập hay gì gì đi nữa thì cũng không khổ bằng sống với CS. Cái sống với CS là cái chết dần chết mòn, đau đớn về cả hai mặt, thể xác và tinh thần, còn cái chết khi vượt biên là cái chết một lần thôi, nhanh chóng và cả nhà đều chết một lượt, còn ước ao gì hơn nữa. Khi người ta đã đến tận cùng của đau khổ, người ta không còn sợ gì nữa cả, dù là cái chết. Ai ai rồi cũng chết, thà chết bây giờ còn sướng thân hơn là phải sống chung với CS. Bởi không mảy may sợ chết cho nên chúng tôi mới quyết định thoát thân một lần nữa, rời khỏi địa ngục này, nếu sống thì tốt mà có chết cũng không sao. Nếu may mà sống thì mai này, ở trên một vùng đất yên vui nào đó, với hai bàn tay không bị gông cùm, với một khối óc không bị áp đảo, chúng tôi sẽ làm lại từ con số không, trong khung cảnh yên bình, tràn đầy tình người ở quốc gia tự do đó.

 Thành phố Gò Công của chúng tôi, về hướng Đông, chỉ cách bãi biển Tân Thành, Vàm Láng 14 cây số. Vùng đó là địa điểm xuất phát rất tiện lợi cho những chuyến vượt biên và là đất sinh sống của một số đông dân chúng trong vùng làm nghề đi biển. Nhờ sự giới thiệu của một học trò cũ của tôi là nhạc sĩ Hoàng Phương (tác giả Hoa sứ nhà nàng, đã qua đời), tôi được quen biết với anh Nguyễn văn Sinh, tự Tư Xuân, chủ nhân chiếc ghe đánh cá mang tên Hồng Vân ở Tân Thành. Tuy là một người dân lao động, nhưng anh Tư Xuân không chịu nổi CS, quyết tâm «vượt biển» cùng với một số trai tráng trong làng, mà số đông cũng cùng hành nghề đi biển, đánh cá, bắt tôm như anh. Là một người quanh năm không xa rời miền biển nhưng tâm hồn anh Tư Xuân rất phóng khoáng, thích văn nghệ. Không hiểu sao, trong đầu anh có những tên tuổi trong giới ca nhạc mà anh mến mộ cho nên, qua nhạc sĩ Hoàng Phương, anh đồng ý cho gia đình tôi theo ghe anh trong chuyến vượt biển do anh tổ chức và đồng thời bảo tôi tìm nhạc sĩ Nghiêm Phú Phi và nhạc sĩ Quốc Dũng để cùng đi. Tôâi trở về Saigon, gặp Nghiêm Phú Phi và chị Phi là cô Ngọc Sương (xướng ngôn viên Đài Phát thanh Saigon trước 1975), nói lên ý kiến của anh Tư Xuân nhưng ông bà Nghiêm Phú Phi im lặng, gián tiếp chối từ bằng cách không có mặt ở bến xe ngày hôm sau để đi Gò Công theo lời hẹn của tôi. Mà đúng như vậy, làm sao tin được ai, dù người đó là bạn, trong thời buổi nhiễu nhương này? Có người nào quá tốt, trong thời buổi này, cho đi vượt biên mà không phải trả một chỉ vàng nào cả. Về phần Quốc Dũng, tôi có lên nhà của anh trên lầu đường Trần Hưng Đạo nhưng không có ai ở nhà. Riêng nhạc sĩ Hoàng Phương (lúc đó chưa có làm bài «Hoa sứ nhà nàng») không chịu đi, vì - theo tôi hiểu - cơ sở làm ăn của HP tại Gò Công trong hồi phát đạt và một phần nữa là HP còn dính líu tình cảm ở đó cho nên ra đi không đành. Tội nghiệp, chỉ vài năm sau, tiệm vàng và sửa đồng hồ của Hoàng Phương suy sụp và anh qua đời trong sự nghèo túng.

Thế là giữa đêm tối 6 rạng ngày 7 tháng 8 năm 1978, chúng tôi, tất cả gồm 40 người, 32 đàn ông, 5 phụ nữ và 3 trẻ em, chia nhau thành từng tốp 5, 3 người âm thầm đến địa điểm đúng hẹn. Toán chúng tôi gồm có 6 người, kể cả người dẫn đường, cũng thuộc trong nhóm, âm thầm nương theo ánh sáng lờ mờ trên những con đê gập ghềnh để đến nơi hẹn. Một tiếng chó sũa cũng làm chúng tôi giật mình. Chiếc Hồng Vân, bề dài 12m, ngang 2,5m với 40 sinh mạng trong đó, trực chỉ miền Đông, theo hướng mặt trời mọc để hy vọng đến Phi Luật Tân. Chúng tôi ra đi không mang theo một dụng cụ hải hành nào, ngoại trừ một số gạo đựng trong một cái lu nhỏ và một thùng nước ngọt, nhưng hành trang duy nhất là ý chí và sự căm thù tột cùng những người CS. Rời bãi biển Tân Thành chỉ được 2 ngày, là chúng tôi bị một trận gió mùa dữ dội, ghe bị thủng lỗ, chạy lòng vòng, nước tràn vào, gạo nước trong lu đổ tung toé. Chúng tôi phải liên tục luân phiên nhau tát nước ra ngoài. Ba ngày trôi qua, chúng tôi không có một chút gì trong bụng, kể cả nước. Con gái út của chúng tôi, năm đó 13 tuổi, như muốn nổi cơn điên loạn, ai đụng đến nó cũng không được. Trong đêm 12 rạng ngày 13-08-1978, có 8 chiếc tàu lớn chạy ngang qua chiếc ghe bị nạn của chúng tôi, nhưng không dừng lại mặc dù chúng tôi cố sức la to để kêu cứu. May sao đêm đó trời mưa nhỏ, vợ tôi đưa tay ra bên ngoài ghe, hứng được chút nước mưa trong một cái chén để cho mọi người uống và nhờ vậy mà con gái tôi mới qua cơn cuồng loạn.

 Tôi xin trích ra đây một đoạn ghi lại giai đoạn này, từ một tập sách nhỏ mà tôi ấn hành năm 1983, có tên là «More Hope On The Horizon», nhân dịp kỷ niệm 5 năm ngày được cứu vớt: «7 giờ sáng ngày 13-08-1978, một chiếc tàu màu đỏ hiện ra ở đàng xa. Hy vọng lại trở về với 40 người đang chờ chết, những tiếng kêu la cầu cứu, những cánh tay vẫy, những chiếc áo có 3 chữ; được đưa lên cao, đàn bà, trẻ con thì quỳ xuống lạy về phía tàu... Thế rồi chúng tôi thấy chiếc tàu màu đỏ với ống khói đen từ từ chậm lại và cuối cùng đánh một vòng tròn chung quanh chiếc ghe đánh cá nhỏ bé của chúng tôi. Một người trên tàu (mà sau này chúng tôi mới biết đó là vị thuyền trưởng) dùng súng bắn giây để bắn một sợi giây qua ghe của chúng tôi nhưng chẳng may đầu sợi giây rơi xuống biển. Nhanh như nháy mắt, hai thanh niên để nguyên quần áo nhảy ngay xuống biển để lấy sợi giây lên. Chiếc ghe dần dần được kéo lại gần chiếc tàu lớn mà giờ đây chúng tôi nhìn thấy rõ 2 chữ «Avon Forest» ở bên hông tàu. Trẻ em và phụ nữ được người trên tàu xuống dìu lên bằng thang có máy kéo và đàn ông thanh niên thì lần lượt leo lên bằng thang giây. Thế là chúng tôi được cứu thoát».

Cũng cần nói thêm, tôi là một trong vài thuyền nhân cuối cùng leo thang giây lên chiếc thương thuyền và khi chúng tôi cùng với vài thủy thủ lên hết trên tàu Avon Forest, chiếc Hồng Vân nhỏ bé đã chìm sâu vào lòng biển. (Những thủy thủ này là những người đầu tiên xuống ghe đánh cá của chúng tôi khi chiếc Hồng Vân vừa được kéo đến sát tàu Avon Forest),

 Chiếc Avon Forest chở 2,700 chiếc xe hơi Nhật trên đường từ Tân Gia Ba qua Đài Loan, cho nên khi thuyền trưởng, ông Rodrigue McDougall, dự định ghé Hong Hong để xin cho chúng tôi lên bờ nhưng không được chính quyền ở đây chấp thuận. Sau khi cung cấp lương thực cho tất cả 72 người ở trên tàu (32 người thuộc thủy thủ đoàn và 40 thuyền nhân), chiếc Avon Forest tiếp tục lộ trình đến hải cảng Cao Hùng (Kaoshiung), Nam Đài Loan. Chúng tôi được chính quyền Đài Loan chấp thuận cho lên bờ, được chuyển bằng tàu qua đảo Peng Hu, nằm gần Kim Môn, Mã Tổ, giữa Đài Loan và Trung Hoa Lục địa. Nửa tháng sau, chúng tôi sang Hong Kong và ngày 27-10-1978 chúng tôi được đưa định cư ở Montréal, Canada vì chiếc Avon Forest là một chiếc tàu của hãng Hàng hải Federation Commerce and Navigation (viết tắt là FEDNAV) của Canada. Chúng tôi đặt chân lên miền đất hứa ngày 28 tháng 10 năm 1978. Thế là sau 3 năm, 3 tháng, 7 ngày sống chung với CS chúng tôi được hoàn toàn tự do sau một chuyến vượt biển 2 tháng 20 ngày, gồm có những giây phút thập tử nhất sinh và những ngày ở trại tị nạn.

27 năm sau, hồi tưởng lại chuyến vượt biên, 10 phần chết, 1 phần sống của ngày 13 tháng 8 năm 1978 đó, giờ đây tôi mới thấy sợ. Vượt biên mà chúng tôi coi như là đi chơi du thuyền, không có bản đồ, không có la bàn, không có ống dòm, không biết khoảng cách của biển Trung Hoa từ Việt Nam đến Phi Luật Tân là bao nhiêu ngày đêm đường đi để ước tính mà đem theo dầu, đem theo lương thực, nước uống. Thế mà chúng tôi ra đi chẳng chút sợ sệt. Dù đến bờ bến hay không, đến hôm nay, chúng tôi vẫn cho rằng quyết định của chúng tôi là đúng. Nếu quyết định của chúng tôi sai thì nhìn lại những ngày cuối tháng 4 năm 1975 xem, thiên hạ đều sai hết à? Nhớ lại những ngày đó, ôi thật là kinh hãi. Cả Saigon như một thủ đô trong cơn điên loạn, tựa như một thành phố bị một đàn thú rừng hung dữ với hàng ngàn con hổ báo, chó sói, voi dữ về dày đạp. Mạnh ai nấy chạy, tiếng kêu la thất thanh, tiếng khóc vang trời, đôi mắt thất thần. Những gương mặt hoảng hốt hối hả đi tìm sự sống ở bến tàu, ở phi trường, ở bờ biển. Sao họ không ở lại để cầm cờ CS tiếp đón «đoàn quân giải phóng»? Những người này có nợ máu - theo lối nói của CS - phải không? Thưa không, họ chỉ là những người dân bình thường, nhưng khi nghe tới hai tiếng «Cộng sản» là hồn phi phách tán, nỗi hãi hùng này bắt nguồn từ sự dã man, tàn ác của CS mà dấu vết còn để lại qua những lần pháo kích vào nhà thường dân, vào trường học giết hại trẻ thơ, vụ Mậu Thân, đại lộ kinh hoàng mùa hè đỏ lửa năm 1972.

(Kỳ sau: Những tấm lòng vàng)




--------------------------------------------------------------------------------


Chú thích hình:

Hình 1: Anh Nguyễn văn Sinh và Lê Dinh, ngày mới đặt chân lên Montréal (1978).

Hình 4: Thuyền trưởng Rodrigue McDougall.

Hình 3: Tàu Avon Forest (1978).




--------------------------------------------------------------------------------

TS. LÂM LỄ TRINH * VIỆT NAM CỘNG HÒA

NGUYỄN PHÚ ĐỨC, NGUYỄN XUÂN PHONG VÀ NGUYỄN TIẾN HƯNG VIẾT VỀ CÁI CHẾT CỦA ĐỆ NHỊ CỌNG HOÀ


Lâm Lễ Trinh
“We betrayed you”
(W.Westmoreland) 
Từ ba thập niên nay, không đợi đến ngày 30 tháng tư trở lại mới có thêm tài liệu giải mật được phổ biến từ ba phiá Mỹ, Côïng sản và Quốc gia liên hệ đến giai đọan hấp hối của chính phủ Nguyễn Văn Thiệu kết thúc bằng cuộc tháo chạy của Hoa kỳ năm 1975. Về cánh quốc gia, người viết bài này may mắn gặp lại và phỏng vấn một số nhân vật chính yếu trong cuộc như cố Tổng thống Thiệu, đại tướng Cao Văn Viên (tác giả của The Final Collapse và Những ngày cuối cùng của VNCH), ngọai trưởng Trần Văn Lắm trước khi ông qua đời tại Úc, bác sĩ Nguyễn Lưu Viên, nguyên chủ tịch phái đoàn VN tại Hội nghị La Celle Saint Cloud và ông Nguyễn Xuân Phong, cựu Quốc vụ khanh phụ trách đàm phán tại Paris, thay thế đaị sứ Phạm Đăng Lâm sau tháng giêng 1973. Những bài phỏng vấn vưà kể được đưa lên internet và đăng trên báo.
Người viết cũng có dịp đọc qua và so sánh các dữ kiện trình bày trong năm quyển hồi ký của ba nhân chứng còn sống: Pourquoi les Eùtats-Unis ont-ils perdu la guerre ? (nxb Godefroy De Bouillon, Paris 1996) và The VN Peace Negotiations, Saigon’s Side of the Story (nxb Arthur J Dommen,VA, 2005) của Nguyễn Phú Đức; Hope and Vanquished Reality (nxb Xlibris Corp., NY, 2001) của Nguyễn Xuân Phong; Hồ sơ Mật Dinh Độc lập (viết chung với Jerrold Schecter, nxb The C & K Promotions Inc., LA , 1986) và Khi Đồng minh tháo chạy (nxb Hưá Chấn Minh, 2005) của Nguyễn Tiến Hưng. Gs Đức hiện đã về hưu sau khi dạy luật năm 1975 taị ESSEC, École Supérieure des Sciences Économiques et Commerciales, Paris, còn hai ông Phong và Hưng thì định cư ở Hoa kỳ, người đầu là chuyên viên nghiên cứu ở Trung tâm VN Center, Lubbock, Texas Tech University, và người sau dạy tại Đại học Howard, Washington.
Phạm vi hạn hẹp của bài này không cho phép đi sâu vào chi tiết diễn tiến của những cuộc đàm phán mật và công khai của các phái đoàn tham nghị, đặc biệt giữa Kissinger và đại diện Bắc Việt, kéo dài từ 25.3.1965 (là ngày Tổng thống Lyndon Johnson tuyên bố sẳn sàng nói chuyện hoà bình với CS ) cho đến 27.1.1973 là ngày ký Hiệp định Paris. Người viết sẽ phân tích vai trò thật sự của ba tác giả nêu trên, các đặc điểm trong những hồi ức của họ và bối cảnh hỗn loạn ở Miền Nam VN vào tháng tư 1975.
Chính sách tóm thu quyền bính và bố trí nhân sự của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu.

Từ ngày đảo chính 1.11.1963 lật đổ Đệ nhứt Cọng hoà cho đến 1967 là năm ban hành Hiến pháp Đệ nhị Cọng hoà, Chính phủ Quân nhân cai trị thiếu căn bản pháp lý nên Miền Nam VN biến lọan liên tiếp. Tháng 5.1967, Hoa kỳ thúc Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia và Ủy ban Hành pháp Trung ương tổ chức bầu cử hai ngành Hành pháp và Lập pháp. Mười liên danh tranh chức Tổng thống và Phó Tổng thống. Liên danh Quân đội Thiệu-Kỳ đắc cử. Trong vòng hai năm, TT Thiệu củng cố địa vị, vô hiệu hoá Hội đồng Giám sát của Tướng lãnh, cắt lông cắt cánh Phó Tổng thống Kỳ và ngày 1.9.1969, thay thế con gà yểu số của Kỳ là Thủ tướng Nguyễn Văn Lộc bằng Nội các Trần Văn Hương do Thiệu kiểm soát hoàn toàn. Năm 1971, Thiệu độc diễn và đắc cử dễ dàng nhiệm kỳ hai với “chính sách 4 không” : không liên hiệp, không hoà giải hoà hợp với CS, không nhượng đất và không trung lập.
Qua trung gian hai Pháp kiều Raymond Aubrac (bạn thân của Hồ Chí Minh) và Herbert Marcovich (một khoa học gia), giáo sư Kissinger (K) tổ chức cho Averell Harriman, đại diện Hoa kỳ, gặp ngày 10.5.1968 ngoại trưởng Xuân Thủy, có Hà Văn Lâu dự kiến và Lê Đức Thọ cố vấn. Khi chính thức trở nên Phụ tá an ninh cho Nixon, K nhờ Jean Sainteny, nguyên đại diện cho Pháp taị Bắc Việt (1945-1947), sắp xếp cho y gặp riêng ngày 4.8.1969 Xuân Thủy taị tư thất của Sainteny, đường Rivoli, Paris. Năm 1971, cuộc thương thuyết công khai bắt đầu. Hoa Thịnh Đốn ép Chính phủ Sàigòn chấp nhận sự tham gia của Mặt trận Giải phóng Miền Nam, (MTGPMN). Hòa đàm dẩm chân khá lâu vì bốn phe nghị hội: Mỹ, VNCH. Bắc Việt và MTGPMN tranh luận về thủ tục và kèn cựa mặc cả. Bắc Việt áp dụng chiến thuật vưà đánh vừa đàm vì biết người khổng lồ Hoa kỳ với đôi chân đất sét thiếu kiên nhẩn và bị cánh phản chiến trong nước khoá tay. Chiến cuộc trở nên khốc liệt với biến cố Tết Mậu thân (1968). Ngày 2.3.1971, Việt cộng pháo kích Sàigon, Đà nẵng, Biên Hoà và 115 chổ. Ngày 9.7.1971, để gây áp lực với Bắc Việt, K qua Bắc kinh viếng Chu Ân Lai và chuẩn bị cuộc gặp mặt đầu năm 1972 giữa Nixon và Mao Trạch Đông. CS tổng tấn công vào lễ Phục sinh, lối năm tuần sau chuyến công du của Nixon taị Bắc kinh. Ngày 8.5.1972, Nixon ra lệnh gài mìn Hải phòng và dội bom Bắc Việt.
Để đối phó với tình hình bên trong và bên ngoài, Tổng thống Thiệu cẩn thận sắp xếp một Bộ tham mưu quân chính gồm những thành phần tin cẩn, dựa vào sự trung thành cá nhân hay huyết thống gia đình, bất chấp dư luận dèm pha. Về quân sự, Tổng tư lệnh Quân đội N V Thiệu nắm hết quyền bính trong tay, Tổng tham mưu trưởng Cao Văn Viên chỉ đóng vai trò tuân hành và thị chứng. Bộ Quốc phòng là “hộp thơ” giữa Tổng thống và Bộ Tổng tham mưu. Thiệu chọn trung tướng Đặng Văn Quang, cựu Tư lệnh Quân đoàn 4, làm Phụ tá an ninh. Ông bổ nhiệm vào chức Tư lệnh vùng hay sư đoàn trưởng Nguyễn Văn Toàn, Phạm Văn Phú, Ngô Dzu, Đỗ Kiến Nhiểu, Hoàng Đức Ninh.. Với một hệ thống máy truyền tin đặt taị Dinh Độc lập, Tổng thống liên lạc thẳng với cấp chỉ huy Quân khu và theo dõi sít sao việc điều động các đơn vị tác chiến hầu ngăn chận mọi mưu toan đảo chánh. Nhiều thân nhân của ông Thiệu nắm giữ các cơ cấu chính quyền như hai anh ruột là Nguyễn Văn Kiểu (đại sứ ở Đài loan) và Nguyễn Văn Hiếu (đại sứ taị La mã); xui gia Nguyễn Tấn Trung (TGĐ Air VN), Ngô Xuân Tích (chủ tịch Giám sát viện), Ngô Khắc Tỉnh (Tổng trưởng - Thông tin rồi Giáo dục và Thanh niên), Ngô Khắc Tịnh (Tổng trưởng Tư pháp), cháu Hoàng Đức Nhã (Bí thư đăc biệt rồi Tổng ủy Dân vận và Chiêu Hồi), em cột chèo Nguyễn Xuân Nguyên (bí thư), Nguyễn Khắc Bình (Tổng giám đốc Cảnh sát kiêm đặc ủy trưởng Trung ương tình báo)..v..v..Là đảng viên Cần lao thời Đệ nhứt Cọng hoà và Đại Việt, TT Thiệu trọng dụng một số nhân vật chế độ cũ hay đảng phái trong Thượng viện hoặc bộ máy chính trị như các ông Nguyễn Văn Hướng (tự Mười Hướng), Nguyễn Văn Ngãi, Trần Trung Dung, Trần Chánh Thành, Trần Văn Lắm, Lê Văn Đồng, Phạm Như Phiên, Trần Hữu Phương.. (hai ông Lắm và Thành có lúc được bổ nhiệm Tổng trưởng Ngoại giao). Tại Quốc hội, các phe nhóm chống Chính phủ lần hồi bị vô hiệu hoá bằng sự chia rẽ nội bộ, đàn áp, mua chuộc, không kể việc xâm nhập của Cộng sản. Đa số thẩm phán Tối cao Pháp viện bị Phủ Đầu Rồng chi phối nghiêm trọng.
Vì biết khả năng của mình giới hạn, ông Thiệu - theo Ngô Khắc Tỉnh nói với người viết – chiụ khó hỏi ý kiến của nhiều chuyên viên, phân tíùch kín đáo và đúc kết lại thành ý kiến riêng để lấy quyết định cuối cùng. Với bẩm tánh đa nghi, kiên nhẫn, chiụ đựng, và khi cần, chấp nhận khổ nhục kế, ôâng Thiệu đã gở nhiều thế bí trong cuộc tranh quyền với Kỳ. Cuối cùng, Kỳ bị loại vì ba hoa hơn mưu lược. “Làm chính trị, phải lì “, ông Thiệu nói.
Trong lúc đàm đạo thân tình, người viết có dịp hỏi đại tướng Cao Văn Viên: “Nếu sánh hai ông Diệm và Thiệu thì người nào độc tài hơn ?”. Suy nghĩ một phút, tướng Viên đáp: “Ông Thiệu độc tài trong dân chủ ”, ngụ ý TT Thiệu khôn ngoan che lấp độc tài dưới võ ngoài dân chủ. Khác với TT Diệm, ông chấp nhận sự chỉ trích khi cần thiết. Nhờ thế, ông Thiệu tồn tại lâu hơn ông Diệm.
Dư luận thắc mắc vì sao, từ 1972, Tổng tham mưu trưởng Cao Văn Viên buông xuôi và Thủ tướng Trần Thiện Khiêm giữ thái độ bất động? Nghị sĩ Trần Văn Đôn ghi như sau nơi trang 430-431 của hồi ký Việt Nam Nhân chứng (1989): “..Ông Thiệu nghĩ rằng hai tướng Viên và Khiêm không có can đảm phiêu lưu làm đảo chánh, nhất là không có lịnh của Mỹ……... Năm 1971, TT Thiệu nhờ tôi nói với đại tướng Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng, về việc ông này cứ ở mãi trong văn phòng, không chiụ đi ra ngoài. Ông Viên trả lời: Tôi đã xin từ chức mấy lần mà ông Thiệu không chấp thuận nên tôi cứ ở văn phòng làm việc mà thôi!”. Nơi trang 429, Đôn ghi thêm: “ Tôi hỏi ông Thiệu: Nếu Tổng thống không bằng lòng về hai ông Viên và Khiêm thì sao không đổi người khác để làm việc hữu hiệu hơn? Ông Thiệu đáp: Hai người này của Mỹ, nếu tôi đổi hai người này thì Mỹ sẽ phản đối, tôi sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc lãnh đạo Miền Nam. Cái khó khăn của tôi ai cũng nghĩ là đối đầu với Cộng sản. Thật ra trở ngại và khó khăn cho tôi là Mỹ.”
Điều mà Ns Đôn quên nêu ra là cả hai tướng Khiêm và Viên từng tuyên bố “không ham thích chính trị.” TT Thiệu tìm đâu ra những nhân vật “lý tưởng hơn” để tránh sự cạnh tranh về quyền lực ?
Nguyễn Phú Đức, Nguyễn Xuân Phong và Nguyễn Tiến Hưng:
Ba nhân chứng, ba giai đọan, ba trách vụ.
Như đã ghi trên, cuộc đàm phán tại Paris gồm có ba giai đọan liên tiếp: mật đàm (từ 25.3.1965 cho đến đầu 1968), đàm phán công khai (từ 1968 cho đến 27.1.1973 là ngày Hiệp ước hoà bình được ký tại Paris) và giai đọan thi hành Hiệp ước, (từ 27.1.1973 cho đến 30.4.1975, kết thúc bằng sự vi phạm của Bắc Việt) .
Chính phủ VNCH không liên hệ đến giai đọan mật đàm. Năm 1965 và 1966, K qua Sàigòn với tư cách chuyên gia tư vấn của Thống đốc Nelson Rockefeller (Dân chủ) tìm hiểu vấn đề VN. Y tiếp xúc với vài nhân vật đối lập như Trần Văn Tuyên, Phan Huy Quát... và thẩm lượng (bi quan) khả năng lãnh đạo của các tướng trẻ Jeunes turcs. Năm 1968, Nixon đắc cử Tổng thống. K mau lẹ xoay qua cố vấn chủ mới Cọng hòa. K say mê ánh đèn sân khấu và thích thú đi đêm với Hànội. Từ tháng 8.1969 cho đến cuối tháng giêng 1973, K gặp riêng Lê Đức Thọ, Cố vấn phái đoàn Bắc việt, lối 15 lần ở Choisy- Le -Roi hay Gif -sur –Yvette (taị tư thất khoa học gia Trần Thanh Vân, em củøa linh mục Trần Thanh Giản)
Khi đàm phán tiến vào giai đọan công khai, TT Thiệu giao cho Ngoai trưởng Trần Chánh Thành phụ trách. Trần Văn Lắm thay thế Thành sau cuộc hội kiến Johnson-Thiệu ở Honululu ngày 18.7.1968. Tại Paris, đại sứ Phạm Đăng Lâm hướng dẫn phái đoàn VNCH, gồm có Nguyễn Xuân Phong (Phó trưởng đoàn), Trần văn Ân, Trần Văn Đỗ, Nguyễn Quốc Định, Nguyễn Đắc Khê, Nguyễn Ngọc Huy, Nguyễn Văn An, Nguyễn Thị Vui, và Nguyễn Triệu Đan (phát ngôn viên). Cố vấn Kỳ và vợ gây nhiều tai tiếng tại Thủ đô Ánh sáng. Tiến sĩ Nguyễn Phú Đức, phụ tá ngoại giao cho TT Thiệu, đóng một vai trò kín đáo, khiêm nhường bên sau hậu trường còn Gs Nguyễn Tiến Hưng thì chưa tham chính lúc đó.
Hiệp định Paris được thi hành ra sao? Sau ngày 27.1.1973 ký xong Hiệp định Paris, Trần Văn Lắm trở về Thượng viện để giữ chức Chủ tịch, nhường ghế Ngoại trưởng cho Phụ tá Nguyễn Phú Đức. Phó thủ tướng Nguyễn Lưu Viên được chỉ định làm trưởng đoàn VNCH taị Hội nghị La Celle Saint Cloud để chuẩn bị cuộc bầu cử tại Miền Nam VN với chính phủ MTGPMN. Bs Viên, về sau, tiết lộ với người viết: “ Chúng tôi biết trước Hội nghị La Celle Saint Cloud không đi đến đâu, chỉ có tác dụng câu giờ, mọi vấn đề sẽ giải quyết trên chiến trường.” Hai ông Nguyễn Xuân Phong và Nguyễn Tiến Hưng tham gia Nội các vắn số Nguyễn Bá Cẩn, thành lập ngày 14.4.1975, vào lúc Chính Phủ Sàigòn sắp sửa sập tiệm, người đầu trong chức Quốc vụ khanh đặc trách Hoà đàm (thay thế đại sứ Phạm Đăng Lâm) và người sau, trong chức Tổng trưởng Kế hoạch. Dưới danh xưng này, Hưng được TT Thiệu động viên (tuyệt vọng) vào giờ thứ 25 sang Hoa kỳ van xin cứu viện. Nhiệm vụ của Bs Nguyễn Lưu Viên và Đs Nguyễn Xuân Phong chỉ có trên giấy tờ vì Bắc Việt từ chối nhóm họp và ào ạt xua quân thôn tính Miền Nam. bất chấp các điều ký kết.
Vai trò đặc biệt của hai cố vấn Huỳnh Văn Trọng và Hoàng Đức Nhã

Chính quyền Nguyễn Văn Thiệu từng gây xôn xao trong quần chúng bởi xử dụng một số nhân vật tai tiếng như Nguyễn Cao Thăng, Vũ Ngọc Nhạ, Nguyễn Văn Ngân, Huỳnh Văn Trọng, Hoàng Đức Nhã…Ba cố vấn của Thiêu bị điều tra, cách chức hay đưa ra Toà: Trọng, Nhạ (tình báo CS) và Ngân (xây dựng uy thế riêng). Bài này chỉ đề cập đến Trọng và Nhạ vì cả hai liên hệ đến hoà đàm Ba Lê.
A- HÙYNH VĂN TRỌNG.
Năm 1958, khi người viết phụ trách Bộ Nội vụ thời Đệ nhứt Cọng hoà, Bernard
Hùynh Văn Trọng (Pháp tich và công giáo) bị Đoàn công tác đặc biệt Miền Trung lùng bắt trong vụ mệnh danh Gián điệp Tây ở Nhà hàng Morin, Huế. Y thoát được qua Nam Vang và tại đây, móc nối với Ca Văn Thỉnh, trưởng đoàn đại diện thương mại CS Bắc Việt. Trọng có bằng cử nhân luật, thông thạo Pháp - Anh ngữ, từng làm thẩm phán ở Huế và năm 1950 giữ chức Tổng thơ ký Chính phủ và Bộ trưởng Nội vụ trong Nội các Nguyễn Phan Long. Sau chính biến 1963, D V Minh thả bưà bãi tù nhân chính trị. Trọng trở về Sàigòn và tham gia cụm tình báo chiến lược A22 do Vũ Ngọc Nhạ phụ trách. Để sinh sống, Trọng dạy tiếng Pháp cho nhân viên ngoại giao Mỹ và nhờ cha Trần Ngọc Nhuận giới thiệu với TT Thiệâu . Y được Thiệu tin dùng và bổ nhiệm phụ tá Tổng thống về chính trị, ngoại giao. Đầu 1969, vợ Trọng đến Văn phòng luật sư của người viết, đường Hàn Thuyên, nhờ biện hộ trước Toà Nhà phố trong vụ bị đuổi ra khỏi một khách sạn đường Lê Lợi Sàigòn vì thiếu tiền thuê nhiều tháng. Trọng nói không dư dã tiền bạc tuy có chức vụ cao.
Tháng 11.1969, vụ án Điệp báo Cố vấn TT Thiệu gây chấn động dư luận. Trọng nhờ tác giả bài này bênh vực trước Toà án Quân sự vùng 3 Chiến thuật. Trọng tiết lộ với người viết rằng y và cụm trưởng Vũ Ngọc Nhạ muốn giúp TT Thiệu tìm ra với MTGPMN một giải pháp cho cuộc chiến, không ngờ CIA theo dõi và phá vỡ mọi việc. Trọng còn cho biết năm 1968, để chuẩn bị hoà đàm taị Ba Lê, TT Thiệu đã gởi Trọng cùng đi với linh mục gốc Bỉ Raymond de Jeagher (cựu cố vấn của TT Diệm và một thành viên năng động trong Liên Minh Á châu chống Cộng) qua Hoa kỳ vận động với Quốc hội, báo giới và nghiệp đoàn. Chuyến công du này không gặt nhiều kết quả vì , theo Trọng, dư luận Mỹ chán ngán chiến tranh.
Vụ án kết thúc ngày 29.11.1969. H V Trọng rất sợ bị tử hình. Người viết khuyên y bình tỉnh vì bên trong sân khấu chính trị, những dàn xếp bất ngờ có thể xảy ra, Hoa kỳ còn một số phi công tù binh tại Hànội Hilton; hơn nữa, trong vụ này, Trọng chỉ đóng vai trò “Lê Lai cứu chúa”.Vị Chánh thẩm cho phép các bị can nói lời chót trước khi tuyên án. Vũ Ngọc Nhạ cường điệu tuyên bố nhóm của y hành động vì quyền lợi quốc gia, họ tin sẽ thắng và hẹn có ngày trở về vinh quang. Trọng lên tinh thần, ngỗ ngáo lập lại trước Toà câu nói của người viết: “Tôi chỉ đóng vai trò Lê Lai cứu Chúa, tôi không có tội.’ Các sự kiện này được kể lại trong quyển hồi ký Ông Cố vấn do CS xuất bản năm 1984 tại VN, với nhiều khoản thêu dệt. Vũ Ngọc Nhạ, Huỳnh Văn Trọng, Lê Hữu Thuý và Nguyễn Xuân Hoè bị chung thân khổ sai, đày đi Côn Đảo. Sau 1975, chúng dược CS giải thoát. Nhạ thăng Thiếu tướng, ngành tình báo.
B- HOÀNG ĐỨC NHÃ.
Tuy không phải là thành viên của phái đoàn VNCH dự hoà đàm tại Ba Lê, Nhã là người gây bực bội nhứt cho K (Kissinger) trong nhiều lần chạm trán. Trần Văn Đôn (trong hồi ức VN Nhân chứng, trang 406- 415) , Nguyễn Phú Đức (trong quyển sách The VN Peace Negotiations, trang 400-403) và K (trong Ending the VN War, trang 310) đề cập nhiều đến Nhã. N P Đức cho biết Nhã là cháu kêu ông Thiệu bằng cậu, tốt nghiệp đại học Oklahoma, trở về VN trong Khối chuyên viên, tiến thân rất mau trong các chức vụ liên tiếp: thông dịch viên, Bí thư tin cẩn của Tổng thống và cuối cùng, Tổng ủy Dân vận /Chiêu hồi, phụ trách sau Hiệp ước Ba Lê mạng lưới Thông tin Quốc ngoại có nhiều quyền lực. Ảnh hưởng của Nhã gia tăng từ tháng 8.1972 (khi K đề nghị Thiệu từ chức hai tháng trước ngày bầu cử với CS) và tăng cao hơn sau ngày Hiệp ước được ký cuối tháng giêng 1973. Nhã luôn luôn có mặt trong các buổi họp riêng giữa Thiệu và K, Haig và Bunker cũng như trong những phiên nhóm Hội đồng An ninh Quốc gia để thông dịch vì Phó Tổng thống Nguyễn Văn Hương, Chủ tịch Thượng viện Nguyễn Văn Huyền và Hạ viện Nguyễn Bá Lương không rành Anh ngữ. Theo N P Đức, Nhã thiếu kinh nghiệm và sự già giặn để thảo những công văn ngoại giao trao đổi giữa hai chính phủ Mỹ-Việt. Nhã nuôi nhiều cao vọng chính trị và trong những ngày tháng chót của TT Thiệu, Nhã tìm cách gài phe cánh vào Nội các tuy họ thiếu khả năng. Điều này làm cho chính gia quyến ông Thiệu cũng lo ngại, đặc biệt Ngô Khắc Tỉnh và đại sứ Nguyễn Văn Kiểu (trang 403).
Trong Ending the VN War, K viết như sau: “Nhã là cháu tâm phúc của Thiệu, lối 30 tuổi, phụ tá báo chí, từng du học taị Hoa kỳ, tiêm nhiểm gương thành công của các chàng trẻ lanh lợi trong phim xi-nê, ăn bận đúng mốt Hollywood, tướng mạo hao hao giống Alan Ladd thời thanh xuân, nói tiếng Anh trôi chảy và vẫn giữ lại từ bản gốc Việt Nam một khả năng mưu loạn vô biên, an infinite capacity for conspiracy…Bunker và tôi đều đồng ý rằng Nhã đã gây nhiều rắc rối bằng cách thổi phồng mỗi sự hiểu lầm” (trang 310).
K hậm hực kể lại trong hồi ký thái độ “bất nhã” của Nhã: ngày 19.10.1972, theo lệnh của Nixon, K qua Sàigòn trình TT Thiệu taị Dinh Độc lập toàn bản dự thảo Thoả hiệp. Sau khi bắt đợi 15 phút, Nhã ra đón K và Bunker vào, Thiệu không có một lời xã giao, thản nhiên đọc và không phê bình bức thơ riêng của Nixon do K trao lại, xong Thiệu mời hai vị khách bước sang phòng kế bên để gặp Hội đồng An ninh Quốc gia. Giữa bầu không khí nặng nề, Thiệu giao cho Nhã thông dịch mặc dù phiá VN nói được tiếng Anh. K viết: Nhã “bắt đầu chế diễu vai trò của mình” bằng cách chỉ tóm lược gần phân nửa lời thuyết trình của K. Khi K lưu ý về điểm này, Nhã đáp ngáo ngỗ: “ I am a master of contraction, Tôi là bậc sư về khoa cắt ngắn!”. Ngày 21 tháng 10, theo chương trình, K và Bunker gặp lại Hội đồng An ninh lúc 2 giờ 30 trưa. Đợi đến 3 giờ, Nhã điện thoại để thông báo – không cho biết lý do, không xin lỗi – phiên nhóm hoãn đến 5 giờ chiều. “ Y hịch theo kiểu cách của Humphrey Bogart mà có lẽ Nhã đã học đòi đâu đó trên màn ảnh”. 5 giờ 30, vẫn không tin tức. Bunker bực mình gọi Dinh Độc lập, đòi nói chuyện với Nhã, Văn phòng đáp Nhã vưà bước ra ngoài. Một giờ sau – tức là trễ gần 5 giờ theo ước hẹn – Nhã điện thoại báo tin TT Thiệu sẽ tiếp K và Bunker hôm sau lúc 8 giờ sáng. Bunker bắt bẻ: “Có sự chậm trễ ít nữa 24 giờ, giờ Hoa Thịnh Đốn!” Nhã gát điên thoại. K và Bunker hỏi nhau: “Những hành vi xấc xược này phải chăng báo hiệu một vụ chạm trán sắp đến ? Về vấn đề gì? “
Hoàng Đức Nhã hiện ở Chicago. Đến nay, ông chưa kể lại đầy đủ những kỷ niệm cá nhân. Mong được nghe thêm tiếng chuông chân thực của một nhân chứng về giai đọan lịch sử này.
Những đặc điểm trong hồi ký của ba tác giả
1- Về Ts Nguyễn Phú Đức, hiện định cư ở Paris, tốt nghiệp trường luật Hànội và Harvard, cựu Phụ tá Tổng thống về quốc ngoại và Tổng trưởng ngoại giao VNCH sau Hiệp ước Ba Lê, K phê bình châm biếm: “Ông Đức là một sản phẩm mỹ lệ của hệ thống giáo dục Pháp, chuyên định nghĩa trừu tượng, kết luận lạc đềà và có tài cãi bướng” Trong lời tựa của VN, Pourquoi les Eùtats-Unis ont perdu la guerre xuất bản 21 năm sau ngày Sàigòn thất thủ, ông Đức thanh minh rằng ông cần đợi thời gian lắng đọng để phân tích thanh thản cuộc chiến VN. Quyển sách này dày 410 trang, viết bằng tiếng Pháp, chia thành năm phần mổ xẻù chính sách Hoa kỳ tại Đông Dương sau Đệ nhị thế chiến, sự can thiệp của Mỹ vào VN, việc Mỹ chuẫn bị rút quân, kế hoạch Nixon và những ngày cuối của Miền Nam. Phần chót dài 66 trang, không đi sâu vào chi tiết cuộc hoà đàm Ba Lê. Đầu năm 2005, Ts Đức cho phát hành tại Virginia, Hoa kỳ, quyển hồi ký thứ hai, The VN Peace Negotiations, Saigon’s Side of the Story, nxb Dalley, dày 463 trang, gồm có ba phần: mở đầu hoà dàm 1968-1969, những khúc quanh thương thuyết và chiến tranh chấm dứt 1973-1975.
Cố vấn Nguyễn Phú Đức tháp tùng Tổng thống Thiệu ngày 18.7.1968 hội kiến với Lyndon Johnson tại Honolulu (Mỹ hứa không áp đặt một chính phủ liên hiệp taị Miền Nam VN) và ngày 8.6.1969 gặp Richard Nixon tại Midway (Mỹ tuyên bố rút 25,000 quân). Mỗi lần, phái đoàn VNCH gồm có vài chuyên viên khác. Ngày 29.11.1972, Ts Đức được phái qua Hoa Thịnh Đốn trình với Nixon quan điểm của TT Thiệu hầu tránh hoà đàm Ba Lê bế tắc. Ông không có trách nhiệm trực tiếp thương thuyết taị bàn hội nghị. Nói cách khác, ông là một luật gia phụ trách phần “đấm bóp thời cuộc” hơn là một nhà ngoại giao chuyên nghiệp. Tuy nhiên, một số nhận xét của ông vẫn có giá trị. Đặïc biệt, thay vì dùng danh từ vietnamization, Việt nam hóa chiến tranh, Ts Đức đề nghị chữ de-americanization, kế hoạch giải kết vai trò chiến đấu của Hoa kỳ, nhằm mục tiêu võ trang một quân đội quốc gia VN đủ mạnh để giúp Mỹ rút quân tuần tự. Ngoài ra, về mối liên hệ giữa K và Nixon, Ts Đức nhận xét rằng Nixon không tin dùng Bộ Ngoại giao, nhưng đồng thời cũng bực bội không ít về cách tự đề cao ba hoa của K với báo giới, tự cho mình là một “ phù thủy hoà bình, a peace magician”, đặc biệt sau chuyến công du bí mật của y qua Bắc kinh, làm lu mờ vai trò của Nixon về mặt đối ngoại. Tại sao Nixon không hãm bớt K? Nixon không quên K đã phản Rockefeller và Đảng Dân chủ để giúp Nixon (Cọng hoà) thắng cử năm 1968. Bởi thế, Nixon ngán K có thể trở cờ một lần nữa vì quyền lợi cá nhân. (trang 337-338). Sau hết, Ts Đức lưu ý: Khác với Eisenhower từng mời thượng khách Ngô Đình Diệm đọc diễn văn tháng năm 1957 trước lưỡng viện Quốc hội Hoa kỳ, hai Tổng thống Johnson và Nixon đều tránh tiếp chính thức ông Thiệâu taị thủ đô Washington, viện lẽ sợ phe phản chiến biểu tình. Sau Hiệp định Ba Lê, Nixon miễn cưởng mời vợ chồng TT Thiệu qua San Clemente, tiếp taị tư thất La Pacifica, để an ủi xã giao. Nixon và Thiệu gặp nhau ba lần. Nixon đã gởi Thiệu trên 20 mật thơ hứa hưu, hưá vượn.
2- Ông Nguyễn Xuân Phong, tốt nghiệp đaị học Oxford, nguyên Tổng trưởng Xã hội và Chiêu hồi, thay thế đại sứ Phạm Đăng Lâm sau 3.2.1973 trong chức vụ Trưởng đoàn VNCH tại hoà đàm Ba Lê. Ông cho phổ biến “Hope and Vanquished Reality, Hy vọng và Khắc phục Thực tại” năm 2001 tại New York, nhà xuất bản là Center for A Science of Hope trực thuộc ICIS (International Center for Integrative Studies), một tổ chức truyền giáo Thụy điển ở Hoa kỳ đấu tranh cho nhân quyền và chuyên nghiên cứu về vai trò của Hy Vọng trong tín ngưỡng. Ông Phong cọng tác trong Hội đồng Cố vấn ICIS từ 1988. Quyển hồi ký Hope dày 374 trang, chia thành 11 chương kể lại việc tác giả từ Paris trở về Sàigòn năm ngày trước khi Sàigòn sụp đổ vào tháng tư 1975, 5 năm cải tạo trong trại học tập Cộng sản, đời sống cơ cực ở VN khi được phóng thích năm 1980, những tang tóc liên tiếp trong gia đình và thủ tục phiền toái để xuất ngoại. Ông Phong được phép nhập cảnh Hoa kỳ năm 2000.
Hope & Vanquished Reality là cuốn sổ tay của một nhà ngoại giao chấm phá ghi lại những âm vang gây trên đức tin của mình bởi sự phá sản của chế độ mà y phục vụ nhiều năm. Người đọc có cảm tưởng tác giả muốn chứng minh Hy vọng là ngọn hải đăng dắt dẫn ông vượt qua mọi thử thách gian nguy cá nhân, mọi cảnh tan nát của Quê hương. Bởi thế N X Phong không đi sâu vào chi tiết của Hoà đàm Bá Lê, không đề cập nhiều đến giai đoạn đấu khẩu gay go giữa hai phái doàn Bắc-Nam tại bàn hội nghị.
Sau khi Phạm Đăng Lâm qua Luân đôn nhâïn chức đại sứ tháng giêng 1973 và Bs Nguyễn Lưu Viên rời vĩnh viễn La Celle Saint Cloud để trở về VN, ông Phong phải một mình đảm trách tại Paris các công tác tồn đọng và tẻ nhạt: gặp báo chí, dự các cuộc thảo luận không đi đến đâu và tiếp xúc với các phái đoàn. Nhờ sự giao thiệp cởi mở và khả năng ngoại ngữ, ông Phong là nhân vật VNCH thường có dịp trao đổi ý kiến ngoài bàn hội nghị với phiá Mỹ như Harriman, Cyrus Vance, Negroponte và đặc biệt, Kissinger. Sự kiện đáng lưu ý là chương 11 trong hồi ký “ The Longest Road: The Communicative Hope, Con đường dài nhất: Hy vọng truyền cảm”, trang 290-392, kể lại việc Phong tiếp xúc và giữ liên lạc với Nguyễn Cơ Thạch, thứ trưởng Ngoại giao, phụ tá cho Lê Đức Thọ, vai trò chính trong phái đoàn Bắc Việt. Chính K đã giới thiệu Phong với Thọ và Thạch trong một đêm tiếp tân của Ngoại trưởng Pháp Maurice Schumann, sau đó Thạch và Phong gặp nhau lại nhiều lần ngoài phòng hội nghị, trao đổi ý kiến cởi mở và trở nên “đôi anh em đối nghịch thành thực, true brother-enemies” tuy dị biệt về một số quan điểm. Phong đánh giá Thạch “thông minh, hiểu biết, có văn hoá, không quá khích và chủ trương thỏa hiệp hơn là hận thù”. Thạch và Phong đồng ý với nhau ít nữa về một điểm: “Hatred and bitterness have never generated anything really good in the end, Cuối cùng Hậân thù và Đắng cay không bao giờ sinh sản điều gì tốt thật sự .”
Sau 1980, Phong ra khỏi trại cải tạo, phải đi dạy Anh văn để sanh sống với số lương năm chục đô hằng tháng, Thạch trở nên một nhân vật của Chính trị Bộ, Phó Thủ tướng kiêm Ngoại trưởng. Thạch có mời Phong đến Văn phòng để hỏi ý kiến, đối xử lịch sự như trước, Phong thẳng thắn đề nghị cần đổi mới kinh tế và bình thường hoá ngoại giao với Mỹ. Một thời gian sau, Nguyễn Cơ Thạch mất ghế trong Chính trị bộ và Chính phủ vì bị xem như thành phần quá cấp tiến.
3. Ts Nguyễn Tiến Hưng cho ra mắt tại Little Saigon, Californie, tháng tư năm nay, quyển hồi ký thứ hai “Khi Đồng Minh Tháo chạy” (KĐMTC) vào lúc George Bush chuẩn bị tiếp Phan Văn Khải taị Hoa Thịnh Đốn, cộïng đồng người Việt hải ngoại sôi sục chống đối. Việc giới thiệu sách thành công về thương mại. Giòng tít lớn (và cũng là lời nguyền rủa của K) “Sao chúng không chết phứt cho rồi” mà tác giả khôn ngoan cho in trên bià làm cho đồng bào ta muốn biết thêm, mua sách. Hồi ức KĐMTC dày 705 trang, chia thành bốn phần: “Làm sao thoát khỏi vũøng lầy”, “Thân phận tiểu quốc”, “Khi Đồng minh tháo chạy” và “Rước của nợ hay được của có”ù. Quyển sách in lại nhiều đoạn và tài liệu - như các bức thơ và mật điện trao đổi giữa Nixon, Ford và Thiệu từ 1972 đến 1975, luôn cả lời nguyền rủa của Kissinger - đã đăng trong Hồ sơ mật Dinh Độc lập (HSMDĐL), bản dịch ra tiếng Việt của The Palace File xuất bản năm 1986, dày 908 trang.
Về cách bố cục nội dung, phương pháp sưu tầm, trình bày các chứng liệu và ngay cả văn phong, HSMDĐL súc tích và có trọng lượng hơn KĐMTC, có lẽ vì nhờ sự hợp tác khoa học của đồng tác giả Jerrold L Schecter, nguyên chủ bút của tạp chí Time, và khả năng chuyển dịch của Cung Thúc Tiến và Nguyễn Cao Đàm
Trong Lời Nói Đầu của KĐMTC, Ts Hưng xác nhận ông chỉ làm việc trực tiếp với tướng Thiệu trong những ngày tháng hấp hối của chế độ sau khi Hiệp định Ba Lê được ký. Bởi vậy các ông Cao Văn Viên, Trần Thiện Khiêm, Trần Văn Lắm, Nguyễn Lưu Viên, Nguyễn Phú Đức và Nguyễn Xuân Phong xác nhận với người viết không có dịp tiếp xúc với Hưng. Ts Hưng than: “Trong cương vị điều hợp viên viện trợ kinh tế cho VNCH, nhiều lúc tôi phải dẹp bỏ tự ái, lui tới Quốc Hội Hoa kỳ như một người đi cầu xin” (trang21). Khi tình hình an ninh trở nên bi đát, quân đội cạn đạn dược / xăng nhớt, ngân sách hết tiền trả lương cho lính và cảnh sát, ông Thiệu mới nghĩ đến việc sai đại tá Đức trao cho Ts Hưng đầu tháng 4.1975 một hồ sơ bià đen đựng các thơ mật nói trên để ông Hưng gấp đi lobby (?!) chính khách và báo giới Mỹ. Ngày 15.4.1975, một tuần trước khi Thiệu từ chức (21 tháng 4), Hưng đáp máy bay Panam qua Washington. Đây là một sứ mạng biết trước vô vọng vì quá trễ. Không còn nước để mà tát. Hoa kỳ đang xoá sổ đồng minh. VNCH hết được coi như “tiền đồn của thế giới tự do” trấn giữ làn sóng đỏ. Để sớm dứt điểm, Mỹ vận dụng mọi thủ đoạn: đi đêm với Bắc Việt, dành quyền thương thuyết thế cho chính phủ Sàigòn, trấn an, tránh né, đe dọa ký riêng, hăm cắt viện trợ, cam kết đầu môi và bảo đảm suông. Hoa Thịnh đốn - và Ngoại trưởng Kissinger, gốc Do Thái - dồn viện trợ vào Israel, “tiền đồn bảo vệ dầu lửa ở Trung Đông.” Chính sách đối ngoại của Mỹ thực tế, realpolitik, không nặng về luân lý, ý thức hệ hay lòng chung thủy. Căn cứ vào quyền lợi mà thôi. Quyền lợi thô bạo. “Who pays, commands, Ai chi tiền thì người đó chỉ huy” là câu châm ngôn gối đầu ở nước này.
Vì nhận thấy Quốc hội Hoa kỳ phủi sạch tay về VN, Ts Hưng quyết tổ chức cho kỳ được một cuộc họp báo kiểu nhà nghèo ngày 30.4.1975 tại khách sạn Mayflower, đường Connecticut, Hoa Thịnh Đốn, với 3.000 đô vay của gia đình. Ông không lấy ra được ngân khoản 20.000 mỹ kim mà TT Thiệu hưá miệng để trang trải chi phí. Thầy cũ của Hưng là Giáo sư Warren Nutter, cựu Phụ tá Bộ trưởng Quốc phòng thời Nixon, hết lòng ủng hộ nhưng không giúp được gì nhiều. Ts Hưng làm công việc của một người chửa lửa không có dụng cụ trong tay khi nhà cháy sắp tan thành tro. Trong phiên họp báo, ông không đề cập đến những mật điện do Ford gởi cho Thiệu và chỉ dùng vài bức thơ cam kết của Nixon để xin cứu vớt đoàn người đang đổ xô ra Biển Đông. Kết quả là – cọng với áp lực của dư luận thế giới và đặc biệt nhờ sự can thiệp mạnh của Tổng thống Jimmy Carter - Quốc hội HK chấp nhận trợ cấp 455 triệu đô và mở cưả đón làn sóng tị nạn VN trên con số 50.000 người dự trù lúc đầu. Tại Sàigòn lúc đó, ba chiến xa T54 của Bắc Việt phá cổng xông vào Dinh Độc lập, trương cờ Mặt trận Giải phóng Miền Nam. Cố TT Thiệu cho người viết biết: sau 1975, Ts Hưng có trở về VN làm việc trong lãnh vực tài chính. Mặt khác, nơi trang 18 của quyển hồi ký “Câu chuyện một di dân tỵ nạn Việt” vừa xuất bản năm nay tại San José, cựu trung tá không quân Trần Đỗ Cung, trước kia từng giữ chức Cục trưởng Tổng Cục Tiếp tế thời Nguyễn Cao Kỳ, hiện ở Monterey, Californie, có ghi rằng năm 1988 Nguyễn Tiến Hưng từ Hànôi có nhờ một người bà con của Cung là vợ của Tôn Quang Phiệt, một cán bộ cao cấp CS, nhắn Cung “trở về giúp nước” nhưng Cung không nhận lời.
Kết luận.
Về cái chết của Miền Nam VN, TT Thiệu tuyên bố: “ Tôi có trách nhiệm nhưng tôi không có lỗi”. Mặt khác, trong hồi ký Ending the VN War, Kissinger viết: “Nếu không có sự sụp đổ của quyền hành pháp vì vụ Watergate, tôi tin rằng chúng ta có thể thành công”. Một ngày sau Hiệp định Ba Lê, Phụ tá Nixon là John Ehrlichmann hỏi VNCH tồn tại được bao lâu, K đáp: “Nếu may mắn thì họ có thể cầm cự được một năm rưỡi”. Chính phủ Sàigòn sống lâu hơn decent interval ấy, khiến K mất kiên nhẫn, buông lời nguyền rủa thô bỉ.
Trong thất bại, thay vì trách người, ta phải tự trách mình trước, Tiên trách kỷ, hậu trách nhân. Watergate và Quốc hội Mỹ cắt viện trợ là hai yếu tố làm Đệ nhị Cộng hoà tan rã nhưng chủ trương bỏ Miền Nam đã có trước cả Watergate. Cá nhân TT Thiệu gánh chiụ trách nhiệm vì một số sai lầm tai hại:
1 - Quá tin vào sự ủng hộ của Hoa kỳ, nghĩ rằng Hoa kỳ sẽ không bỏ rơi vì VN
có nhiều dầu lửa (!). Thiệu không thông hiểu và không đánh giá đứng đắn vai trò của Lập pháp và Truyền thông ở xứ này, coi thường công cuộc hoạt động hành lang, lobby, và nhất quyết bám víu vào 30 bức thơ và mật điện trao đổi với Nixon mà ông giữ kín như bảo vật đến giờ chót theo lời cam kết riêng tư. Thiệu không dám tiết lộ vì sợ chính quyền Mỹ “tố cáo là bội ước“ (KĐMTC, trang 258). Cuối cùng, TT Thiệu nhận thấy – nhưng quá trễ! – mình bị gạt vì chủ tâm của Nixon và Kissinger là dấu không cho Quốc hội HK biết những hứa hẹn thiếu thành thật.
2- TT Thiệu không có kế hoạch thiết thực cứu nguy Đất nước và đã để xứ sở tuỳ
thuộc Hoa kỳ quá sâu về chính trị, quân sự và kinh tài. Ông áp dụng muộn màng những biện pháp hốt hoảng vào những ngày cuối cùng như tiết lộ các bức thơ mật của Nixon, chạy vay tiền của quốc vương Saudi Arabia, thế chấp 16 tấn vàng của Ngân Hàng Quốc gia, thế chấp tiềm năng dầu hỏa, xuất cảng gạo..v..v..để mượn tiền Mỹ. Đầu năm 1975, TT Thiệu làm chính trị như đánh bạc thử thời vận. Chơi đòn thấu cáy, ông cho rút quân khỏi Cao Nguyên và Miền Trung trong một kế hoạch “tái phối trí” mệnh danh “đầu bé, đít to” để trắc nghiệm lời cam kết can thiệp của Nixon. Hoa kỳ dững dưng trước hành vi của Bắc Việt xé bỏ thô bạo Hiệp định Paris. Ông Thiệu hố lớn, cụt vốn lẫn lời, tàm tan rã Quân đội. Trung tướng Ngô Quang Trưởng xác nhận với người viết rằng không có nhu cầu gấp rút bỏ Huế và Đà nẵng. Thay vì nêu gương ở lại chiến đấu với đồng đội sau ngày từ chức, ông Thiệu bỏ xứ ra đi.
3- TT Thiệu nắm trọn trong tay vận mạng của quốc gia, coi thường hai ngành
Lập pháp và Tư pháp, quyết định một mình việc bỏ rơi hỗn loạn Cao nguyên và Miền Trung và ngang nhiên hành động vi hiến. Điều 39 Hiến pháp buộc các hiệp ước về hoà bình (Hiến pháp dùng danh từ “nghị hoà”) phải được Quốc hội chuẫn phê. Thiệu phạm một sai lầm căn bản khi ông chọn không tuân hành điều này vào tháng 10.1968 để tránh chạm trán với Johnson. Ông mời chủ tịch Thượng viện và Hạ viện tham gia thảo luận trong Hội đồng An ninh Quốc gia để tạo cảm tưởng Quốc hội chính thức chấp thuận các quyết định của Hội đồng. Trên thực tế, Thiệu truất quyền của Lập pháp kiểm soát đường lối thương thuyết của Hành pháp. Đồng lúc, TT Thiệu vô hiệu hoá luôn khả năng của Hành pháp (mà ông đại diện) chống lại áp lực của Johnson và Nixon, để Hoa kỳ tự ý rút quân. Ông Thiệu có dịp tâm tình với người viết rằng ông bị ám ảnh bởi vụ đảo chính và hạ sát TT Diệm do Mỹ sắp xếp khi TT Diệm chống đối.
Ngày nay, ôn cố tri tân, nhắc lại chuyện đau buồn đã qua, không phải là để quy
trách tiêu cực mà là để rút tỉa những bài học từ những thiếu sót trong dĩ vãng hầu giúp cho thế hệ cầm quyền sắp tới đừng tái phạm. Mỗi lãnh tụ đều gặp những khó khăn và khổ tâm riêng, đặc biệt khi hoàn cảnh bắt buộc, cùng một lúc, đương đầu với một đồng minh đanh thép như siêu cường Hoa kỳ và một kẻ thù gian ngoan như Cộng sản. Sau buổi phỏng vấn dài tại Dinh Độc Lập đầu tháng giêng 1973, trước ngày ký Hiệp định Paris, nữ ký giả Ý Oriana Fallaci, (người đã từng phỏng vấn Kissinger, Phạm Văn Đồng và Võ Nguyên Giáp), nhận xét: “Có ít nhiều nhân cách trong TT Thiệu và thảm kịch của ông. Chúng ta có thật hiểu ông hay không? Ít nữa, trong giờ phút đặc biệt này, ông không còn là con múa rối lố bịch của người Mỹ như chúng ta tưởng...Tôi hoan hỉ tỏ lòng thương xót và kính trọng đối với ông.” (Interview with History , Oriana Fallaci, trang 48). Với cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, lời an ủi cuối cùng này – một Requiescat in pace! – có đủ hay không?
Dân tộc là sức mạnh vạn năng, vạn thắng. Lãnh tụ thất bại vì đánh mất lòng tin và sự ủng hộ của Dân tộc. Khi lãnh tụ thất bại và gục mặt ra đi, chỉ còn lại Dân tộc. Dân tộc trơ trọi, dân tộc cô đơn, dân tộc đau khổ. Dân tộc gánh chịu hết mọi oan khiên và tủi nhục. Nhiều thế hệ trẻ vô tội phải trả một cái giá rất đắt cho sự sai lầm của cha ông. 
LÂM LỄ TRINH
Thủy Hoa Trang
Ngày 9.8.2005 - Californie
THƯ TỊCH:
1 - “Điểm sách Ending the VN War của Kissinger, TT Thiệu và Hoà đàm Paris” by Lâm Lễ Trinh 17.8.2001, trong tạp chí VN Forum , Đức quốc
2 – “Mạn đàm với Bs Nguyễn Lưu Viên, Từ Hội nghị La Celle Saint Cloud đến những ngày VNCH hấp hối” by Lâm Lễ Trinh, 1.9.2001 trong Thời Luận, Los Angeles.
3 – “Kissinger nhận định trong hồi ký Ending the VN War: Kinh nghiệm VN và thế trận hiện đại” by Lâm Lễ Trinh, 9.10.2002 trong tạp chí Dân chủ & Phát triển, Đức quốc.
4 – “Mạn đàm với cựu Ngoại trưởng Trần Văn Lắm: Bề trái trong Hoà đàm tại Bá Lê” by Lâm Lễ Trinh, 9.8. 1999, trong tạp chí Hải Ngoại Nhân Văn, Boston
5 – “Điểm sách: Nguyễn Thị Bình tiết lộ về Hoà đàm Bá Lê trong “Chung một Bóng Cờ” by Lâm Lễ Trinh, 6.12. 2000, trong tạp chí Cánh Én, Đức quốc
6 – “Our Endless War, Inside VN” (Presidio Press, CA, 1978) và VN Nhân Chứng, nxb Xuân Thu, CA, 1989, by Trần Văn Đôn
7 – Interview with History, by Oriana Fallaci, Houghton Mifflin Co, Boston, 1976
8 – Tháng 3/05, Ts N.P. Đức cho phát hành taị Virginia quyển hồi ký thứ hai, bằng Anh ngữ, dày 463 trang, với tựa The VN Peace Negotiations, Saigon’s side of the story, nxb Dalley, gồm có ba phần: mở đầu đàm phán 1968-1969, những khúc quanh của cuộc thương thuyết và chiến cuộc chấm dứt 1973-1975.

NGUYỄN MINH CẦN * NHỮNG HẠT NGỌC

Những Hạt Ngọc Kết Tinh Từ Máu Lệ
Nguyễn Minh Cần
Sứ mệnh thơ ơi !
Trong sáng tuyệt vời !

(Thơ Phùng Cung)
Bạn đọc yêu thơ sắp có dịp được thưởng thức những vần thơ độc đáo của một nghệ sĩ tài ba bị đày đoạ suốt bốn mươi năm trời dưới chế độ cộng sản toàn trị. Đó là tập thơ "Trăng Ngục" in trong cuốn "Phùng Cung, Truyện và Thơ Chưa Hề Xuất Bản" do Nhà xuất bản Văn Nghệ ấn hành.
Ở nước ta, còn quá ít người biết về nhà thơ Phùng Cung (1928-1997)! May lắm là chỉ biết sơ sơ - anh đã tham gia trào lưu "Nhân Văn - Giai Phẩm" hồi giữa thập niên 50, đã cho đăng truyện ngắn "Con Ngựa Già Của Chúa Trịnh" trên báo Nhân Văn số 4, tháng 10 năm 1956, sau đó bị đấu tố tơi bời, rồi bị cầm tù ròng rã 12 năm, ra tù còn bị hành hạ, sách nhiễu cho đến ngày qua đời. Còn với tính cách một nhà thơ thì hầu như không ai biết !. Tập thơ "Xem Đêm" của anh, tuyển chọn những bài sáng tác vào các thời kỳ khác nhau, được xuất bản một cách thầm lặng ở trong nước cách đây không lâu, bị giới phê bình "cung đình" ém nhẹm, nên cũng ít ai được biết tới.
Vì thế lần này, tập thơ "Trăng Ngục" trong cuốn "Phùng Cung, Truyện và Thơ Chưa Hề Xuất Bản" chắc chắn sẽ đem lại một sự bất ngờ thú vị cho nhiều người yêu thơ. Tập "Trăng Ngục" gồm có 35 bài làm trong thời gian 12 năm bị giam cầm tại những nhà tù khét tiếng độc ác của chế độ cực quyền cộng sản Việt Nam, như Hỏa Lò, Bất Bạt, Yên Bái, Phong Quang ... Có những bài được sáng tác ngay trong xà lim biệt giam - dưới một số bài tác giả có ghi rõ những dòng chữ: "Biệt giam Bất Bạt 61", "Biệt giam Yên Bái 65", "Biệt giam Lao Cai 71", "Biệt giam Bảo Thắng, Lao Cai 72" .... Chỉ có một bài làm khi mới ra tù - Đêm Vó Ngựa.
Chính trong "ngục luyện" vô cùng ác độc đó của chế độ cộng sản, đã rèn đúc nên tính chất, ý chí, phong cách, bút pháp của nhà thơ, đã mài giũa ngòi bút của người nghệ sĩ thêm sắc bén, thêm sức mạnh tấn công vào chế độ tàn bạo lầy lụa máu và nước mắt của những người dân vô tội. Vì nhận thức rõ "sứ mệnh trong sáng tuyệt vời" của thơ, nên Phùng Cung đã dùng ngòi bút của mình vạch trần những tội ác của chế độ đang đày đoạ biết bao dân lành, trong đó có cá nhân anh. Chắc ai cũng đều biết là sáng tác trong tù ngục của chế độ độc tài Việt Nam, khi sự kiểm soát của đám cai tù - mệnh danh là "quản giáo"! - vô cùng nghiệt ngã, khi không có một tý giấy bút nào trong tay, đã là một điều rất khó. Mà sáng tác với nội dung như Phùng Cung tự đề ra cho mình đúng với quan niệm của anh về "sứ mệnh" thi ca, thì cái khó đó lại nhân lên hàng chục lần! Vì nó đòi hỏi tác giả phải có ý chí và dũng khí sắt đá, đòi hỏi nhà thơ phải kiên trì cao độ, phải học thuộc, ghi kỹ vào "kho nhớ", và khi ra tù thì phải khôi phục lại, chép ra giấy, rồi cất giấu kỹ... để có ngày, như hôm nay, bạn đọc được nâng niu những sáng tác đó trong tay.
Qua tập "Trăng Ngục", bạn đọc nghe rõ tiếng khóc da diết của một con tim chan chứa tình yêu quê hương, đất nước, yêu dân tộc lầm than, xót xa trước bi kịch của quê hương "đường quan lầy nước mắt", của "xóm làng queo quắt", đất nước bị lũ "rắn rết đang hoành hành dữ dội Biết bao dân lành ngày đêm rên siết", "dối trá đê hèn Trùm muôn cửa ngõ", cả nước tuồng như chìm đắm trong "nhật thực triền miên Ngày tối hơn đêm"... Nhà thơ khóc cho số phận bao người dân khốn khổ, nghèo nàn, bất hạnh - đó là những người vợ, người mẹ có chồng con bị bắt đi lính "hòng hõng mong thư tuyến lửa", "văng vẳng nỉ non tiếng lòng chinh phụ", những thiếu phụ khóc chồng tử trận "hòng hõng đợi người chồng tử trận Mấy chục năm rồi Đã mỏi xanh ! Nước mắt hoa râm Câm trôi duyên phận", là bà mẹ khóc con mới mười sáu tuổi đầu bị lấy đi chiến tranh, chết bỏ xác ở Khe Sanh - Dốc Miếu, là những cụ già cô đơn "dờ dệt sức già - gãi đất" vì "tuổi trẻ - gái trai Bị lôi đi - đi hết" để ném vào cuộc chiến tranh ở miền Nam, là những người dân khốn khổ bị "cái đói lăn kín bốn mùa", là những oan hồn ngày đêm "thổn thức dưới mồ", là những trí thức, văn nhân, nghệ sĩ "bơ vơ một nẻo", bị Đảng "hết móc ruột moi gan Lại réo tên chỉ mặt" "nửa thế kỷ bị lưu đầy Trong cõi tung hô", là "Em Quỳnh", em bé gái 12-13 tuổi, lần lượt bị "đồng chí chủ nhiệm, đảng viên cốt cán", "chú bí thư đảng uỷ mới bầu" lợi dụng thoả mãn tình dục, rồi tống vào trại tù để "giáo dưỡng", ở đây em lại bị "bác cảnh binh, chánh giám thị Quê làng Sen trọ trẹ" "tự xưng danh chức Đại diện bác Hồ Đại diện đủ ba lực lượng Đảng tiền phong - chính quyền - quốc hội" giở trò cưỡng hiếp, em "dại dột khóc to", chánh giám thị sợ tai tiếng tìm cách lấp liếm, buộc tội cho em rồi đẩy em đến toán lao động cực nhọc cho em chết thảm trong tù, v.v... Triệu triệu giọt nước mắt của những con người bất hạnh đó trên đất nước đau thương lã chã nhỏ xuống và nhà thơ cảm thấy dường như chúng rúng động cả thiên cầu làm muôn vàn sao băng xao xuyến rơi ...
... Tôi đứng trong đêm
Ngửng đầu nhìn cao xa
Vọng hỏi
Có phải nước mắt con người
Đằm đằm dội xuống
Mà trên thiên cầu
Bao vì sao xao xuyến đổi ngôi.
Lòng ái quốc, tinh thần nhân bản sáng ngời trên mỗi vần thơ !
Đất nước ơi
Tôi mến người
Như khi nhìn em bé ngủ
Tôi thương người
Như thương mẹ ốm
Vì đâu
Người khoác manh áo đỏ
Thừa sai - cũn cỡn
Tủi nhục tháng ngày
Long đong chiều sớm
Ôi ! có bao giờ
Người đau đớn như thế này không.
Trong 12 năm tù ngục, tiếng thổn thức của nhà thơ cho số phận đất nước, quê hương không ngớt vang lên: "Tổ quốc kính yêu ơi! Văn hiến - thuần phong mỹ tục Phút chốc bàn tay cộng sản dập vùi" ... "Quê hương ơi! Đường quan lầy nước mắt", "Ơi đất nước sa cơ Già - trẻ bơ vơ nheo nhóc"... "Ơi quê hương Hỡi những ngày xưa! Thuỷ chung - nhân ái Tất cả chìm - ngâm Trong lừa dối cuồng điên"... "Quê nôi" ơi ! Dối trá đê hèn Trùm muôn cửa ngõ"...
Đọc "Trăng Ngục", đồng thời chúng ta cũng nghe được tiếng thét căm hờn đối với chế độ cường bạo, độc tài chuyên chế, đầy sắt máu. Bạn đọc nhận thấy Phùng Cung, vốn là một người cộng sản - do "lòng cả tin - nhẹ dạ" thời niên thiếu - đã tự "lột xác" triệt để như thế nào. Nhà thơ tuyên bố dứt khoát "quyết khước từ bước chân cộng sản Lội máu dân lành Hàng thế kỷ chưa ngơi". Không chút kiêng nể, e sợ, anh dám chĩa thẳng mũi nhọn tố cáo vào chính những "vật thờ thiêng liêng nhất" của chế độ cộng sản toàn trị, như "thò lò muôn mặt lê-mác-mác-lê" "mạ màu mao-ít", "đảng tiền phong - chính quyền - quốc hội", "bác Hồ". Anh "vả mạnh tim đen quyền lực", vả mạnh vào chính những biểu tượng của quyền lực độc tôn - "tàn bạo lên ngôi", "sừng sững dựng khải hoàn môn máu", "cờ máu rợp trời Lợm gió!", "máu cờ đỏ phấp phới hờn ghen", "bóng cờ ma", "nghênh ngáo quốc huy", ..."Thề phanh thây uống máu!..." - "có quốc thiều nào man rợ thế không", "đài phát thanh Bắc Việt Vẫn tối ngày bốn lần leo lẻo"... Anh dám lớn tiếng tố cáo thẳng thừng sự lừa dối bịp bợm và độc ác của đảng cộng sản cầm quyền, vạch rõ bộ mặt thật của giai cấp thống trị, "bản chất nó là cuồng bạo" lại "huênh hoang lấp biển vá trời "Kiến tạo địa đàng - hạnh phúc", v.v... Có một điều đáng nói là ngay từ cuối thập niên 50-đầu thập niên 60, nhà thơ đã âm thầm lo lắng trước âm mưu của tập đoàn thống trị chuẩn bị nội chiến. Anh "đã ưu tư" về điều đó trong bài "Sông Thương - Sao Thương" sáng tác năm 64:
... Ôi ! lòng đã ưu tư
Lại thai nghén chiến tranh
Hoạ cơm áo !
Vẫn giằng co súng gươm oan trái
Chăn viện trợ phủ kín biên thuỳ ...
Và trong nhiều bài khác cái tinh thần chống chiến tranh, chống cảnh huynh đệ tương tàn cũng thường bật lên một cách mãnh liệt:
... Chính chúng nó
Phường cộng sản
Lái buôn binh lửa
Ôi ! Binh lửa triền miên
Tuổi trẻ gái - trai
Bị lôi đi - đi hết ...

... Quan hà lộng gió chinh phu
Rừng thu tắm máu
Máu thu gội chiều
Tơ vàng nhỏ giọt lệ điều
Đăm đăm tay vẫn chiều chiều quay xa ...

... Khe Sanh - Dốc miếu là đâu
Vắng con nhớ đến bạc đầu cô đơn
Máu chiều gội đỏ hoàng hôn
Nghĩa trang mồ giả, nắm xương không mồ
Đồng chiều gió tím mấp mô
Nén hương đẹn khói, mấy mùa khóc vay.

... Tôi biết em khóc nhiều
Vì chồng em tử trận
Em khóc lúc hừng đông
Nước mắt cử hành
Mặt nạ tay hèn
Lẻn vào đong đếm ...

... Em khóc lúc hoàng hôn
Thì quanh em
Lộng gió cô đơn
Từng giọt rực sáng
Trong nhiều thế giới ...

... Não lòng thay !
Mảnh đất bán khai
Tình nguyện tiền đồn
Đăng cai binh lửa ...

... Tổ quốc kính yêu ơi !
Khói lửa ngút trời
Cháy gia phả
Cháy tình bằng hữu
Cháy cơi trầu bách niên giai lão
Cháy tia trăng thơm
Trên làn tóc trẻ thơ
Hiếu chiến thừa sai
Ruổi cờ dẫn lộ
Giàn cầu lửa
Di lăn - bách hại
Ngập máu !
Lời thơ Phùng Cung nhẹ nhàng, thanh thoát, trang nhã, ý nhị, sâu thẳm và giàu hình tượng, với những ngôn từ chắt lọc, sắc cạnh, đặt đúng nơi đúng chỗ, đem lại cho người yêu thơ nỗi xúc động bàng hoàng và nhiều khoái cảm đê mê. Bài "Trăng Ngục" - mà tác giả dùng làm nhan đề cho tập thơ - chỉ có hai mươi tám chữ, mà vô cùng xúc động. Bài thơ ghi lại một hoạt cảnh nhỏ của cuộc sống trong xà lim chật chội, tối tăm, lạnh lẽo, hôi hám - giữa đêm khuya tĩnh mịch, ánh trăng lọt qua song sắt vào tận ngục thăm nhà thơ, lúc đó đang lơ mơ ngủ, bỗng anh chợt tỉnh và lặng người đi vì xúc động: anh cảm thấy trăng thương xót cảnh tù biệt giam cô đơn, đã nhẹ nhàng "vá lụa" trên vai áo sờn rách của anh. Và tác giả thốt lên vô cùng ai oán: "Ôi, cái ngày tự do xưa kia, sao mà cứ xa mãi, biết bao giờ quay trở lại!". Bài này, theo tôi, đáng coi là một tuyệt tác !
Trăng qua song sắt
Trăng thăm ngục
Bỗng ta chợt tỉnh - sững sờ
Trên vai áo tù
Trăng vá lụa
Ngày xưa ơi !
Xa mãi đến bao giờ.
Mà không chỉ một bài "Trăng Ngục" đó! Còn bao nhiêu bài hay nữa, như Biển Cả, Em Quỳnh, Tổ Quốc, Quê Hương, Nước Mắt, Cung Trời, Thu Xa, Dòng Sông, Quê Xa, Mỏi Xanh, Mẹ, Sông Thương - Sao Thương, Sống Chết, Bước Vô Định, Tội Nghiệp ...
Về thơ Phùng Cung, còn có thể viết nhiều nữa, nhưng ở đây tôi chỉ xin giới thiệu vài đoạn dể thấy rõ cái tình cảnh bi thảm của nhà thơ, cũng như ý chí bất khuất của anh.
... Ta một con người
Nạn nhân đang vòng tù ngục
Đêm ngày chân rỉ máu cùm lim
Linh hồn bất khuất
Trên đầu là thượng đế
Dưới chân là mặt đất hiếu sinh
Bức xúc lương tri
Ta phải xuống đường ...

... Còng sắt cùm lim ngấy máu tù
Vầng dương mãi bỏ quên ta
Bóng du nguyệt chưa qua đã khuất
Thâu ngày đêm
Bị sự im lặng quấy rầy
Tóc mủn trạt vai chờ di chúc
Trái tim vẫn đều đặn
Mô phỏng nhịp trữ tình ...
Trong cảnh đoạ đày khủng khiếp như vậy, "đêm ngày chân rỉ máu cùm lim" đến nỗi "còng sắt cùm lim ngấy máu tù", bản thân anh thì bị lao phổi, viêm loét dạ dày mạn tính do bị tù ngục, lại phải sống trong những điều kiện khủng khiếp - hoàn toàn thiếu ánh nắng, ánh trăng thì chỉ thoáng qua trong giây lát, "đêm xà lim lạnh buốt", bị sự im lặng giày vò, tóc đã mủn ra rồi chỉ chờ ngày chủ của chúng vĩnh biệt cõi trần, nhưng ... lương tri của nhà thơ vẫn giục giã xuống đường, trái tim của anh vẫn đập theo nhịp trữ tình của Nàng Thơ. Thật là đẹp biết bao! Một tâm hồn cao thượng biết bao! Chính vì thế anh đứng trên cao khinh bỉ nhìn xuống bọn thống trị - "tụi mặt dày""tim rắn" - và xót xa vì đất nước bị lọt vào tay chúng.
Đất nước tôi
Triền miên bất hạnh
Tụi mặt dày - tay bẩn
Tim rắn - lời cừu
Văn hoá lớp hai
Điều hành cuộc sống
Tránh làm sao
Khỏi nát ngọc nhân quyền ...
Ngay cả lúc chúng thét gào dữ tợn thì thái độ nhà thơ vẫn ung dung, tự tại, không chút khiếp sợ:
... Ôi ! Bao yên lặng thanh cao
Đang chìm lăn
Trong thét gào man rợ
Thì nhắm mắt
Thì bưng tai
Phải đâu khiếp sợ
Chỉ điếc đui vừa đủ
Để làm ngơ ...
Và anh suy tư, suy tư rất nhiều, "nghiễm nhiên thành triệu phú trầm tư", vất vả "lặn lội" để kiếm tìm "sứ mệnh trong sáng tuyệt vời" của thi ca !
... Nhà thơ chân đất
Đãy vải - gió đưa
Kiếm tìm sứ mệnh
Mỗi ý nghĩ trong ta
Đều trải qua lặn lội
Như phận chiếc cò
Lặn lội trong phong dao ...
Bài "Xuống Đường", làm trong xà lim biệt giam Lao Cai hồi năm 71, là một trong những bài thơ vừa có sức mạnh tố cáo, vừa nêu bật ý chí mãnh liệt của nhà thơ.
Lãnh thổ mến yêu ơi !
Nai lưng trần dưới vòm trời nhiệt đới
Xứ sở của thi ca
Của lòng cả tin - nhẹ dạ
Của đói nghèo nhẫn nhục
Úp mặt - rủi may - đắp đổi
Khóc mếu tối ngày ...
Thế rồi, cái "học thuyết Rắn-hổ-mang-vua" (tôi đoán nghĩa của chữ lạ trong bài như thế) đội lốt công nông từ trời Tây du nhập vào, lúc đầu - khi chưa nắm được chính quyền - nó làm ra vẻ ngoan ngoãn, hiền lành lắm, thậm chí còn tình nguyện làm ngựa làm trâu cho người dân (cái ý này có xuất xứ của nó: tôi còn nhớ trong một cuộc kỷ niệm của Đảng cộng sản Việt Nam - hồi còn đội lốt Đảng lao động - ông Hồ có đọc hai câu thơ của một tác giả Trung Quốc để ví với Đảng lao động, không sợ bất kỳ kẻ địch nào, nhưng lại nguyện làm trâu ngựa cho nhân dân: "Liếc mắt xem khinh nghìn lực sĩ, Cúi đầu làm ngựa đứa nhi đồng"):
Học thuyết King-cô-bra
Đội lốt công nông - rình rập
Từ trời tây ập tới
Lúc thoát thai
Nó vờ xin rửa tội
Trộm cắp ánh tà dương
Trước mọi người
Nó khoanh tay - quỳ gối - cúi đầu
Tình nguyện đời đời
Làm ngựa làm trâu
Khi gấp khúc nó ngoan ngoãn
Giành hoàn thiện chức năng gia cẩu
Hầu hạ phấn son
Len lỏi trong lẵng hoa
Trong đồ chơi em bé ...
Thế nhưng, khi nắm được chính quyền rồi thì nó gây biết bao thảm hoạ cho nhân dân ...
Mong hiện nguyên hình
Như dưới vòm trời bất hạnh - hôm đây
Bản chất nó là cuồng bạo
Huênh hoang lấp biển vá trời
"Kiến tạo địa đàng - hạnh phúc"
Tiếc thay, những người thường dân ngây thơ, mộc mạc đã trót lỡ chìa tay cho nó, nên nó càng mặc sức gây ra muôn vàn đau thương cho dân chúng. Có những đoạn trong thơ làm người đọc liên tưởng đến cuộc cải cách ruộng đất đầy tội ác ở miền Bắc ...
... Khốn nạn thay !
Chân đất đầu trần chót chìa tay
Đã lỡ !
Thảm hoạ triền miên
Ôi ! tay chúng cầm lê
Đâm người - dấu mặt
Lại vội lau tay - vu cáo - gây thù
Cha con nghi ngờ
Vợ chồng cảnh giác
Già trẻ xóm giềng
Nhìn nhau len lén
Di hoạ đứng rình
Trong tối lửa tắt đèn
Ngột ngạt - tối tăm - quằn quại
Vô phương khả đảo ...
Bắt chước "thiên triều" đỏ ở Liên Xô và Trung Quốc, tập đoàn thống trị cộng sản Việt Nam đã làm biết bao điều bạo ngược.
... Nhịp bước thiên triều
Giày xéo thuần phong mỹ tục
Lăng nhục miếu đền
Sừng sững dựng khải hoàn môn máu
Quay quắt đổi đầu
Thò lò muôn mặt Lê-mác-mác-lê ...
Còn người dân Việt Nam khốn khổ thì
Lầm than buộc bụng vác cờ
Tung hô bỏng họng
... Thiên triều tiếp sức
Õng ẹo điệu ương ca
Mạ màu mao-ít
Ma thuật ngoan tay
Tạt độc dược vào tâm - vào não ...
Và khi người dân "trúng độc" rồi, chúng lại càng thêm bạo ngược:
... Cờ máu ngợp trời
Lợm gió !
Tiếng quốc thiều
Tăng âm cực đại thét gào

... "Thề phanh thây uống máu !..."
Ta lùng trong kho nhớ
Nhẩm biên niên sử
Xin hỏi loài người
Có quốc thiều nào man rợ thế không
Trước mặt sau lưng
Ngàn trùng khóc lóc
Ôi ! mỗi tiếng chim kêu
Đếm từng đọi máu
Sóng máu ào ào
Tràn bờ thế kỷ ...
Trong tình cảnh đó, nhà thơ dù đang trong vòng tù ngục cũng thấy lương tri giục giã phải xuống đường tranh đấu, cái ý chí đó vô cùng mạnh mẽ, quyết hy sinh mình vì sự sống của muôn dân. Hình ảnh "mài gươm dưới nguyệt" của Đặng Dung trong bài "Cảm Hoài" hồi đầu thế kỷ 15, đã được Phùng Cung khéo dùng lại để tạo nên một tứ thơ mới nói lên ý chí của mình - "nước mắt mài gươm", vừa hợp với hoàn cảnh của nhà thơ, lại gây ấn tượng mạnh.
... Phải xuống đường
Tìm sinh trong tử
Nước mắt mài gươm
Gươm bén dân lành
Ta chắp tay - ngửa mặt
Cầu xin các đấng linh thần
Cho ta sức mạnh phi trần
Đủ tung hoành, xông xáo
Tận cùng hang ổ
Băm xả vào đầu con rắn đỏ
Cây cỏ vươn reo
Mượn gió nhắn bốn phương
Con rắn đỏ tử thương - rãy giụa
Nó lí nhí van xin chôn cất ...
Còn có thể nói rất nhiều nữa về thơ Phùng Cung, nhưng thiết tưởng với chừng ấy cũng đủ để bạn đọc thấy chúng ta đang có trong tay những di sản quý báu của thi ca nước nhà. Chỉ riêng việc những vần thơ này được trân quý, bảo trọng còn lại cho đến ngày nay và tới tay bạn đọc đã là một điều kỳ diệu! Chắc điều đó đáp ứng được phần nào ước nguyện thầm kín mà nhà thơ hằng ấp ủ mấy chục năm trường khi còn ở cõi trần.
Hy vọng rằng những "hạt ngọc" quý mà người nghệ sĩ Phùng Cung chiết ra từ máu và nước mắt của mình để hiến cho đời, sẽ càng thêm phô sắc, thêm rực rỡ dưới ánh mặt trời và đem lại cho bạn đọc Việt Nam nhiều xúc động và khoái cảm, đồng thời cũng đem lại những suy tư về trách nhiệm và hành động của mỗi người trong sự nghiệp cứu nước, cứu dân./.
Hè Moskva 03.08.03
Nguyễn Minh Cần

No comments: