Tuesday, November 8, 2016

SIRIK MATAK * TỰ LỰC VĂN ĐOÀN * NHẤT HẠNH *

THỦ TƯỚNG SIRIK MATAK, TẤM GƯƠNG OAI HÙNG



(H1: Từ trái qua phải : Sisowath Sirik Matak,Lon Nol, and In Tam)

Vào tháng 4 năm 1975 , khi quân đội Cộng sản đang trên đường tiến vào Nam vang thì người Mỹ đã mời Thủ tướng Sirik Matak và toàn bộ chính phủ Miên nên ra đi, vì ở lại thì sẽ bị Khờ Me Đỏ sát hại.Ngày 16 tháng 4 năm 1975, Thủ tướng Sirik Matak đã viết một lá thơ vô cùng cảm động gởi cho Đại sứ Mỹ tại Nam Vang là ông John Gunther Dean . Lá thơ đầy nghĩa khí và tiết tháo của một người anh hùng “sinh vi tướng, tử vi thần” như sau :Phỏng Dịch.-Nam Vang ngày 16 tháng 4 năm 1975.Thưa Ngài và Bạn, Tôi thành thật cảm tạ ngài đã viết thư và còn đề nghị giúp tôi phương tiện đi tìm tự do .


Than ôi ! Tôi không thể bỏ đi một cách hèn nhát như vậy ! Với Ngài (đại sứ John Gunther Dean) và nhất là với xứ sở vĩ đại của Ngài , không bao giờtôi lại tin rằng quý vị đã nhẫn tâm bỏ rơi một dân tộc đã lựa chọn tự do . Quý vị từ chối bảo vệ chúng tôi và chúng tôi chẳng thể làm được gì hết . Ngài ra đi, tôi cầu chúc Ngài và xứ sở của Ngài được hạnh phúc dưới bầu trời này ..


Nhưng xin Ngài nhớ cho rằng nếu tôi phải chết ở đây và ở lại đất nước tôi yêu dấu thì tuy đó là điều tệ hại , nhưng tất cả chúng ta đều sinh ra và cũng sẽ chết vào một ngày nào đó . Tôi chỉ ân hận một điều là đã quá tin và chót tin ở nơi quý vị, những người bạn Hoa Kỳ ! Xin Ngài nhận những cảm nghĩ chân thành và thân hữu của tôi .


Sirik Matak




Sau ngày 17 tháng 4 năm 1975, tổng cộng có 150 người trong chính phủ Miênđã di tản theo ngưỡi Mỹ .Còn lại toàn bộ chính phủ Miên đều bị giết hết .Riêng gia đình ông Sisowath Sirik Matak, từ con cháu đến các người giúp việctrong nhà ông đều bị Khmer Đỏ sát hại.__._,_.___

TS. NGUYỄN PHÚC LIÊN, * KINH TẾ VIỆT NAM & TRUNG QUỐC




TRUNG QUỐC VÀ VIỆT NAM:
KINH TẾ BẤP BÊNH VÀ TỤT DỐC


Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Web: http://vietTUDAN.net/11604/index.html
30.10.2008

Mục đích của chúng tôi khi viết về cuộc Khủng hoảng Tài chánh 1997 của Á châu và nhất là theo rõi cuộc Khủng hoảng Tài chánh hiện nay của Thế giới là để: (i) phân tích tình trạng bấp bênh phát triển Kinh tế tại Việt Nam theo mẫu Trung quốc; (ii) xem hậu quả của của cuộc Khủng hoảng Tài chánh Thế giới hiện nay 2007/08 lên hai nước Cộng sản này như thế nào.



Bối cảnh hệ thống Ngân Hàng
Tại Trung quốc và Việt Nam

Vào những năm 1997, những nước bắt đầu phát triển tại Á châu có một hệ thống Ngân Hàng luộm thuộm, quyết định tài chánh mang tính gia đình hay quyền lực Chính trị. Khi Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (IMF/FMI) lập Plan Bailout cho những nước bị Khung hoảng 1997, IMF đòi buộc những nước này trước tiên là phải chỉnh đốn lại hệ thống Ngân Hàng, đặt Cơ quan kiểm soát độc lập đối với các Ngân Hàng.

Đối với Trung quốc và Việt Nam ngày nay, trong lúc hai nước này ca ngợi độ phát triển Kinh tế cao của họ, thì người ta cũng quan sát thấy tính cách luộm thuộm của hệ thống Ngân Hàng hai nước và những quyết định Tín dụng Ngân Hàng bị ảnh hưởng trầm trọng bởi liên hệ gia đình, phe nhóm băng đảng chính trị.

Tại Trung quốc, Oâng TSANG SHU-KI, Giáo sư Đại học tại Hong Kong, nói về tầm ảnh hưởng của Khủng hoảng Tài chánh cho chính Trung quốc: “... un système bancaire national perchus de mauvais crédits... “(LE MONDE, No.19813, Mercredi 08.10.2008, page 15). (... một hệ thống Ngân Hàng quốc gia có đầy những tín dụng xấu...”. (Trích LE MONDE, số 19813, Thứ Tư ngày 08.10.2008, trang 15).

Tại Việt Nam, chính Nguyễn Tấn Dũng đã phải than lên rằng có những Ngân Hàng đã lấy vốn ngắn hạn để đầu tư cho những dụ án dài hạn.

Ký giả Gia Huy đã viết đãng trong VietNamNet ngày 09.10.2008 như sau:”Bức tranh kinh tế xã hội 2008 có nhiều biến động đã bộc lộ thực tại đời sống ngân hàng từ quản lý vĩ mô đến việc quản trị điều hành, việc thực thi chiến lược quản lý tiền tệ cũng như các kế hoạch kinh doanh và hàng loạt các vấn đề liên quan khác. Chính sách tiền tệ quốc gia và kinh doanh tài chính ngân hàng còn nhiều bất cập. Khi có biến cố thị trường tất cả đều bị động chạy theo. Công cụ và kiểm soát quản trị rủi ro có không ít vấn đề.”

Cái bối cảnh của hệ thống Ngân Hàng tại Việt Nam và Trung quốc cũng có những điểm giống năm 1997 tại những quốc gia bị Khủng hoảng Tài chánh trong vùng như Thái Lan, Mã Lai, Nam Dương và Nam Hàn mà chính IMF/FMI đòi đỏi phãi cải tổ như một điều kiện được hưởng Plan Bailout của Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế.

Một bối cảnh của hệ thống Ngân Hàng/ Tài chánh như vậy tự nó là nguồn Khủng hoảng cho Tài chánh/ Kinh tế cho một nước theo như phân tích của Bà Francoise NICOLAS về cuộc Khủng hoảng Á châu năm 1997.

Và trước cuộc Khủng hoảng Thế giới hiện nay về Ngân Hàng/Tái chánh, hai nước Trung quốc, Việt Nam, với bối cảnh Ngân Hàng/Tài chánh luộm thuộm lúc này, không thể chống đỡ lại tầm ảnh hưởng Tài chánh đang diễn ra trên Thế giới.

Chúng tôi nhìn tầm ảnh hưởng Tài chánh Thế giới dưới ba góc cạnh: (i) về Vốn nước ngoài; (ii) về Giảm sút độ tăng trưởng Kinh tế; (iii) về Xáo trộn xã hội ảnh hưởng lên Chính trị.

Với hạn hẹp của bài viết và với những dữ kiện chưa dồi dào ở bước đầu của tầm ảnh hưởng, chúng tôi chỉ phác họa tổng quát hướng đi của tầm ảnh hưởng. Chúng tôi sẽ viết tiếp tục để khai triển thêm theo với thời gian và theo những dữ kiện từ từ thu lượm.

Aûnh hưởng trực tiếp
Khủng hoảng Tài chánh Thế Giới 2007/08
Lên Trung Cộng và Việt Nam về Vốn nước ngoài

Trung Cộng và Việt Nam chủ trương Chính trị độc tài độc đảng và chế độ Chính trị ấy nắm độc quyền Kinh tế. Ở hai nước, Lao động bị kềm chế ở mức lương thấp. Nhiều những bài báo cáo Quốc tế đã viết về Lao động tại hai nước như một sự khai thác Nhân lực bất chấp Nhân quyền. Tại Trung quốc, nhân công từ những vùng nghèo khổ nội địa kéo về các tỉnh công nghệ ven biển và làm việc cực nhọc như những đàn súc vật. Tại Việt Nam, đồng quê bị bỏ rơi, nông dân về những khu chế xuất công nghệ làm việc trong những điều kiện tồi tệ.

Các Công ty Liên quốc nước ngoài (Le Multinationales Etrangeres), trong chủ trương quản trị Chi tiêu cho xí nghiệp (Gestion des Charges de l’Entreprise) đã tìm đến hai nước này để khai thác nhân công rẻ với sự đồng ý và phụ lực khai thác của một chính thể độc tài độc đảng khóa miệng nhân công.

Vốn nước ngoài đổ vào hai nước này để mở xưởng chế xuất hàng hóa không phải là Vốn Đầu tư lâu dài cho hai nước, mà là Vốn ngắn hạn khai thác nhân lực nhằm sản xuất hàng hóa rẻ mạt xuất khẩu sang những nước đã Kỹ nghệ hóa để bán với giá cao.

Với cuộc Khủng hoảng Tài chánh Thế giới hiện nay, hệ thống Ngân Hàng/Tài chánh tại những nước đã Kỷ nghệ hóa như Mỹ và Liên Aâu rơi vào tình trạng thiếu Vốn. Trong tình trạng này, họ có thể cắt xuống hoạc rút Vốn ra từ Trung quốc cũng như từ Việt Nam. Có những Dự án đã ký kết, nhưng có thể không được giải ngân vì tình trạng thiếu Vốn.

Oâng TSANG SHU-KI, Giáo sư Đại học tại Hong Kong, nói về tầm ảnh hưởng của Khủng hoảng Tài chánh cho vấn đề Vốn ở Trung quốc: “Les investissements étrangers qui se sont déversés sur la Chine depuis son accession à OMC, avaient contribue à solvabiliser un système bancaire national perchus de mauvais crédits... Aujourd’hui, l’accouplement de la Chine à un système financier international piloté par les Etats-Unis est lourd de conséquence...”. (LE MONDE, No.19813, Mercredi 08.10.2008, page 15). (Những đầu tư nước ngoài đã đổ vào Trung quốc từ khi nước này vào WTO, và đã giải quyết việc xoay sở vốn cho một hệ thống Ngân Hàng quốc gia có đầy những tín dụng xấu...Ngày nay, sự lệ thuộc cấu kết của Trung quốc vào hệ thống tài chánh quốc tế dẫn đầu bởi Hoa kỳ mang hậu quả nặng nề...”. (Trích LE MONDE, số 19813, Thứ Tư ngày 08.10.2008, trang 15)

Oâng Jonathan MANTHORPE, Vancouver Sun 13/10/08, đã nhận xét: “Nhưng các vấn đề của các quốc gia đang phát triển còn tuỳ thuộc vào sự phát triển đầu tư và các thị trường trong quỹ đạo kinh tế toàn cầu chuyển động chung quanh Hoa Ky.“ø

Trong THE WALL STREET JOURNAL Europe, ngày 15.10.2008, dưới đầu đề CHINA DRAWS LESS CAPITAL, Ký giả Andrew BATSON đã viết: ”Capital flows into China have slowed sharply and even reversed in recent months, according to official data that show how the financial crisis has disheartened investors and disrupted banks in this fast-growing nation” (page 4) (“Trào lưu Vốn chảy vào Trung quốc đã chậm lại mạnh and ngay cả chảy ngược lại trong những tháng gần đây, theo những dữ kiện cho thấy, cuộc khủng hoảng tài chánh đã làm mất can đảm những nhà đầu tư và đã làm ngưng trệ các ngân hàng trong cái nước đang phát triển mau lẹ này.” (trang 4)

Đối với Trung quốc, tình trạng Vốn nước ngoài đã như vậy, huống chi đối với Việt Nam. Việt Nam còn bị thiếu vốn trầm trọng hơn Trung quốc vì nguồn Vốn nọi địa yếu kém hơn Trung quốc.

Aûnh hưởng trực tiếp
Khủng hoảng Tài chánh Thế Giới 2007/08
Lên Trung Cộng và Việt Nam về Độ Tăng trưởng Kinh tế.

Tại những nước đã Kỹ nghệ hóa, các Chính phủ đang lo ngại tầm ảnh hưởng của Khủng hoảng Tài chánh lan sang Lãnh vực Kinh tế thực làm cho đà Tăng trưởng giảm xuống trong những năm tới.

Ba lý do chính cát nghĩa tầm ảnh hưởng của cuộc Khủng hoảng Tài chánh Thế giới đối với Lãnh vực Kinh tế thực tại Trung quốc và Việt Nam, nghĩa là làm giảm Độ tăng trưởng Kinh tế tại hai nước này:

=> Lý do thứ nhất: Khi nguồn Vốn nước ngoài giảm thiểu và nguồn Vốn nội địa không đủ, thì tất nhiên một số Công ty không trường vốn sẽ bị phá sản. Tại Liên Aâu và Hoa kỳ, những Công ty có nguồn vốn nội địa và những Công ty này đã tạo trong nhiều năm rồi số vốn riêng của họ tích lũy (Cumulation des Fonds propres) để có độc lập về Tài chánh (Autonomie Financìere), nhưng tại những nước mới bắt đầu phát triển, những Công ty lệ thuộc vào Thị trường Tài chánh mang tính cách bấp bênh.

=> Lý do thứ hai: Cuộc Khủng hoảng Tài chánh Thế giới làm cho các nước Liên Aâu, Hoa kỳ và những nước trong vùng Á châu giảm thiểu việc mua hàng mà trước đây Trung quốc và Việt Nam vẫn cung cấp cho họ: những linh kiện cho Kỹ nghệ hay những hàng thường dùng cho dân chúng. Nên lưu ý rằng việc chế xuất hàng hóa từ Trung quốc hay Việt Nam là để cung cấp cho nước ngoài tới 70%. Việc giảm thiểu mua hàng này từ những nước đã Kỹ nghệ hóa tất nhiên làm ngưng trệ Kinh tế Trung quốc và Việt Nam, nghĩa là làm giảm độ Tăng trưởng Kinh tế.

=> Lý do thứ ba: Sau những cuộc Khủng hoảng, những Quốc gia dù có chủ trương Tự do Mậu dịch mấy đi nữa, cũng dễ có khuynh hướng Che chở (Protectionnisme) cho những Công ty quốc gia mình tại nội địa. Tại cuộc họp thượng đỉnh giữa Liên Aâu và Canada, dưới đầu đề A QUEBEC, MR.SARKOZY MET EN GARDE CONTRE LE PROTECTONNISME, Báo LE MONDE ngày Thứ Hai 20.10.2008 đã viết như sau: “Derrìere la crise bancaire, le spectre du protectionnisme qui hanta les années 1930. Avant de rencontrer, Samedi 18 Octobre, le président américain George BUSH dans sa résidence de Camp David, Nicolas SARKOZY, président en exercice de l’Union Européenne (UE), et le président de la Commission, José Manuel BARROSO, ont lancé vendredi, depuis Québec, un appel contre la fermeture des frontìeres.” (Đàng sau cuộc khủng hoảng tài chánh, con quỉ Che Chở (Protectionnisme) đã hiện về trong những năm 1930. Trước khi gặp, Thứ Bảy 18.10, Tổng thống Mỹ George BUSH ở Camp David, Nicolas SARKOZY, Chủ tịch đương nhiệm của Liên Aâu, và Oâng Chủ tịch Uûy Ban Liên Aâu, đồng kêu gọi hôm Thứ Sáu, từ Québec, chống lại việc đóng các biên giới.).

Dù không công khai tuyên bố Che Chở, nhưng các nước áp dụng những Biện Pháp Không giá biểu (Mesures non-tarifaires) để hạn chế nhập khẩu. Trong trường hợp Che Chở, hay những Biện pháp không giá biểu, thì Trung quốc và Việt Nam điều bị thiệt hại vì hai nước này làm việc cho xuất cảng.

Thứ Hai 20.10.2008, Trung quốc công khai cho biết rằng độ tăng trưởng Kinh tế của họ từ 11% xuống tới 9% trong Tam Cá Nguyệt thứ ba của năm nay.

Trong Tờ FINANCIAL TIMES, thứ Hai 20.10.2008, Ký giả Geoff DYER tại Bắc Kinh còn trích lời Oâng HA Jiming, Kinh tế trưởng của China International Capital Corporation ỡ Bắc Kinh, tiên đoán rằng độ tăng trưởng Kinh tế Trung công có thể thụt xuống 7.3% (Ha Jiming, Chief Economist at China International Capital Corporation in Beijing, predicts that growth will fall to 7.3 per cent.)

Tờ THE WALL STREET JOURNAL Europe Thứ Hai 20.10.2008 loan tin về tình trạng một số khá nhiều Công ty tại Trung quốc sẽ phá sản. Đặc biệt tờ báo còn loan tin sự phá sản của Công ty sản xuất đồ chơi với 6’500 nhân công làm việc.

Tờ FINANCIAL TIMES hôm nay Thứ Ba 21.10.2008 cho chạy tít lớn ở trang nhất: CHINA GROWTH SLOWS SHARPLY. Cũng vậy, Tờ THE WALL STREET JOURNAL hôm nay thứ Ba cũng đăng bài dài về sự xuống dốc của Kinh tế Trung Cộng với đầu đề THE WORLD FEELS CHINA’S DECLINING GROWTH.

Việt Nam, cùng một thể chế Chính trị với Trung Cộng, cùng một hệ thống Kinh tế làm việc cho xuất cảng, tất nhiên chịu cùng những hậu quả của cuộc Khủng hoảng Tài chánh như tại Trung quốc. Chính Báo Việt Nam đã loan tin tình trạng phá sản tới 20% các Công ty.

Jonathan Manthorpe, Vancouver Sun 13/10/08, đã viết: “Ông Dũng đã giảm bớt sự ước lượng mức tăng trưởng của tổng sản lượng nội địa trong năm nay xuống còn 7% từ mục tiêu ban đầu là 9%. Nhưng ít nhà kinh tế tin rằng mục tiêu đó thực tế vì mức tăng trưởng chỉ có 6.5% trong 9 tháng đầu năm và triển vọng cho những tháng còn lại thì thậm chí còn tối tăm ảm đạm hơn“.

Aûnh hưởng gián tiếp
Khủng hoảng Tài chánh Thế Giới 2007/08
Lên Trung Cộng và Việt Nam về Xã Hội và Chính trị.

Tình trạng Kinh tế xuống dốc tất nhiên ảnh hưởng tới những vấn đề Xã hội và Chính trị mà hai đảng Cộng sản Trung quốc và Việt Nam phải lo lắng.

Giáo sư TSANG SHU-KI, Giáo sư Đại học tại Hong Kong, nói về tầm ảnh hưởng của Khủng hoảng Tài chánh cho chính Trung quốc: “Les investissements étrangers qui se sont déversés sur la Chine depuis son accession à OMC, avaient contribue à solvabiliser un système bancaire national perchus de mauvais crédits... Aujourd’hui, l’accouplement de la Chine à un système financier international piloté par les Etats-Unis est lourd de conséquence. Si les exportations chinoises reviennent à une croissance à un chiffre, le produit intérieur brut pourrait perdre deux points de croissance... Les autorités craignent des troubles sociaux. (LE MONDE, No.19813, Mercredi 08.10.2008, page 15). (Những đầu tư nước ngoài đã đổ vào Trung quốc từ khi nước này vào WTO, và đã giải quyết việc xoay sở vốn cho một hệ thống Ngân Hàng quốc gia có đầy những tín dụng xấu...Ngày nay, sự lệ thuộc cấu kết của Trung quốc vào hệ thống tài chánh quốc tế dẫn đầu bởi Hoa kỳ mang hậu quả nặng nề... Nếu những xuất cảng của Trung quốc trở về độ tăng có một con số, thì sản xuất nội địa sẽ mất độ tăng... Chính quyền đang lo sợ những xáo trộn xã hội”. (Trích LE MONDE, số 19813, Thứ Tư ngày 08.10.2008, trang 15)

Oâng còn nói thêm rằng những xáo trộn xã hội này gồm việc phải thải nhân công đã bỏ nội địa xa xôi về các thành phố ven biển làm việc. Bây giờ đẩy họ về nội địa nghèo khó không phải là dễ dàng. Tại Việt Nam, nhân công cũng từ thôn quê miền Nam, từ những tỉnh miền Trung nghèo khổ và từ những tỉnh miền Bắc kéo về Thủ đô. Khi họ bị sa thải, làm thế nào đẩy họ tở về nguyên quán.

Để giải quyết vấn đề này, Trung ương đảng CS Trung quốc đã họp kín 4 ngày trong tuần vừa rồi. Ký giả GILLIAN WONG, Associated Press Writer Gillian Wong, Associated Press Writer – Sun Oct 12, 11:20 am ET AP, đã viết: “BEIJING – China's ruling Communist Party on Sunday said it would seek to expand its massive internal market to counter the global economic slowdown that has reduced international demand for Chinese goods. The party, led by President Hu Jintao, released a statement at the end of a four-day meeting of its Central Committee where it also approved a plan aimed at doubling rural incomes by 2020.”(Bắc Kinh—Ban Điều hành đảng Cộng sản Trung quốc nói là Trung quốc tìm cách khai triển thị trường nội địa kếch xù của họ để bù trừ vào việc đình trệ của kinh tế tổng quát đã giảm thiểu việc đặt mua hàng của quốc tế đối với hàng hóa Trung quốc. Đảng, lãnh đạo bởi Chủ tịch HU JINTAO, tuyên bố sau 4 ngày họp của Trung ương đảng rằng đảng đã chấp nhận một chương trình nhằm tăng gấp đôi thu hoạch nông thôn vào khoảng năm 2020.”

Đây là chương trình không dễ thực hiện và rất tốn kém bởi vì trong nội địa Trung quốc, phải mất tối thiểu 20 năm nữa mới có thể có một hệ thống đường sá khả dĩ hỗ trợ cho phát triển kinh tế nông thôn.

Tại Việt Nam, vì quá hồ hởi với việc công nghệ hóa, nên đảng CSVN đã hầu như bỏ quên nông thôn. Đây là điều vô cùng đáng tiếc bởi vì Việt Nam có căn bản địa lý đồng bằng để phát triển mau chóng nông nghiệp.

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế

Tuesday, December 16, 2008

ĐỘC TỐ TRONG HÀNG TRUNG QUỐC



Độc tố có trong các thực phẩm và đồ dùng được sản xuất tại China





Các vụ phát hiện độc tố trong sữa của China đã làm mọi người kinh sợ khi đọc các bản tường trình.
Mỗi ngày, các bản tường trình đều thay đổi nhưng không ai cho chúng ta biết rõ phải ăn những gì và không nên ăn những gì.

1/ Sữa độc thật ra nó là gì? Đó là bột sữa trộn lẫn với độc tố "Melamine".
Độc tố Melamine dùng để làm gì? Melamine là một loại hóa chất kỹ nghệ dùng sàn suất đồ như.a. Ngoài ra, melamine cũng được dùng trong các sản phẩm trang trí nhà cửa.
http://www.vacceb.net/image0011.jpg http://www.vacceb.net/image0022.jpg
Điều mà tất cả chúng ta cần phải biết là Melamine được dùng trong kỹ nghệ sản xuất...và nó KHÔNG THỂ DÙNG ĐỂ ĂN.

2/ Người ta thêm chất melamine vào bột sữa để làm gì?
Chất dinh dưỡng quan trọng nhất trong bột sữa là protein. Độc tố Melamine cũng có cùng loại protein này nhưng lại có chứa thêm chất "NITROGEN".
http://www.vacceb.net/image0033.jpg
Thêm Melamine vào sữa sẽ giảm đi hàm lượng sữa thật sự cần phải có, và do vậy giá thành sẽ rẻ hơn nhiều so với các loại sữa khác. Điều này làm giảm giá thành trong việc sản xuất các sản phẩm sữa. Như vậy, thêm melamine sẽ giúp cho các nhà sản xuất sữa đạt được lợi nhận cao hơn!




Dưới đây là một mẫu Melamine.
http://www.vacceb.net/image0044.jpg http://www.vacceb.net/image0055.jpg
Trông nó cũng giống như sữa hay bột sữa đấy chứ, phải không nào? Vi nó không có mùi vị gì cả, nên chúng ta không thể khám phá ra nó được trong các thực phẩm dùng hàng ngày!




3/ Melamine đã được phát hiện thêm vàobột sữa khi nào?
Vào năm 2007, chó và mèo ở Mỹ bất ngờ bị đột tử và người ta đã tìm ra là thực phẩm cho gia súc được sản xuất ở China có chứa chất Melamine.
Đầu năm 2008, tại China, nhiều tường trình cho thấy là các ca bệnh về sạn thận trong trẻ em ngày càng gia tăng bất bình thường.
http://www.vacceb.net/image0066.jpg




Vào tháng 8, 2008, sữa bột China Sanlu được biết có chứa chất Melamine. Vào tháng 9, 2008, chính phủ New Zealand đã yêu cầu China điều tra về vấn đề này. Đến tháng 9, 2008, người ta khám phá ra rằng nhiều thực phẩm được sản xuất ở Đài Loan cũng có chứa chất melamine.
http://www.vacceb.net/image0077.jpg



4/ Điều gì sẽ xảy ra khi ăn phải chất melamine?
http://www.vacceb.net/image0088.jpg
Melamine sẽ ở lại trong thận, kết tụ lại thành sạn và làm nghẽn các ống dẫn khiến bệnh nhân đau đớn và không thể tiểu tiê.n. Sau đó, nó làm cho các quả thận bị sưng lên. Thận bị hư và không hoàn thành chức năng của nó và bệnh nhân cần phải trải qua tiến trình gọi là dialysis , nhiều khi có thể dẫn đến tử vong do tiểu ra máu.
http://www.vacceb.net/image0099.jpg



Vậy Dialysis là gì? Thật ra, thuật ngữ này có thể hiểu nôm na là "rửa máu". Nói cách khác là phải cho tất cả máu trong cơ thể bệnh nhân chạy qua một máy lọc trước khi trở về cơ thể. Tiến trình lọc này phải mất 4 tiếng đồng hồ và cứ 3 ngày lại phải lọc một lần như vậy và làm trong suốt cuộc đời còn lại của bệnh nhân do chứng trụy thận sinh ra.
Bên dưới: Một trung tâm lọc máu
http://www.vacceb.net/image01010.jpg
Bên dưới: Một trung tâm lọc máu qui mô hơn.
http://www.vacceb.net/image01111.jpg
Bệnh nhân cần một lỗ nhỏ nơi cánh tay để thọc bộ phận lọc máu vào:
http://www.vacceb.net/image01212.jpg





Tại sao điều này lại quá nguy hiểm cho các bé sơ sinh? Thận của các trẻ sơ sinh quá nhỏ nhưng chúng lại uống quá nhiều sữa bô.t.
Bên dưới: Một bé đang trải qua tiến trình lọc máu.
http://www.vacceb.net/image01313.jpg http://www.vacceb.net/image01414.jpg
Hiện China có 13,000 trẻ em đang nhập viê.n.
Ăn nhiều hay ăn ít chất melamine vào cơ thể không phải là điều quan tro.ng. Điều quan trọng là: MELAMINE KHÔNG PHẢI LÀ CHẤT ĐỂ ĂN.




5/ Những thực phẩm nào cần phải tránh?
Nên tránh các thực phẩm dùng hằng ngày được nhập từ Trung co.ng.
http://www.vacceb.net/image01515.jpg
Cần nhớ: Các loại thực phẩm cream hay sữa cần tránh dùng.

6/ Những công ty nào sẽ bị ảnh hưởng?
Dưới đây là các công ty bị ảnh hưởng bởi độc tố Melamine:
http://www.vacceb.net/image01616.jpg

7/ Chúng ta cần phải làm gì?
Tránh các loại thực phẩm nêu trên ít nhất trong vòng 6 tháng tới.
Nếu bạn sở hữu hay đang điều hành một tiệm ăn, một quán càphê, v.v... hãy ngừng bán các thực phẩm có chứa độc tố Melamine.
Nếu bạn có trẻ sơ sinh tại nhà, hãy đổi sang dùng sữa mẹ hay tìm một loại sữa khác thay thế.
Sau hết, hãy chia xẻ thông tin này cho các bạn hữu hầu cho họ hiểu được nguy cơ của sữa có độc tố melamine.
Cả thế giới đang lo sợ về các sản phẩm "máu đen" được sản xuất từ China.




Các bạn có biết phân biệt sản phẩm nào được sản xuất ở đâu không, chẳng hạn sản phẩm nào sản xuất ở Mỹ, sản phẩm nào ở Taiwan, hay ở China?
Đây là cách để bạn biết:
Ba con số đầu tiên của mã số sản phẩm là mã số của quốc gia mà sản phẩm đó được chế ta.o.

Ví dụ: Tất cả các mã số sản phẩm bắt đầu 690, 691.. đến 695 là các sản phẩm được sản xuất từ China. Như mã số sản phẩm dưới đây là 471 được in trên các sản phẩm được sản xuất từ Đài Loan, Made in Taiwan.
http://www.vacceb.net/image01717.jpg
Bạn có quyền biết điều này nhưng chính phủ và các ban ngành liên hệ không bao giờ thông tin cho bạn biết hay là chỉ dẫn cho công chúng. Vì vậy, chúng ta phải chỉ dẫn cho nhau, biết thận trọng hơn để tự cứu lấy chúng ta.





Ngày nay, những thương gia Tàu biết rằng khách hàng sẽ không chọn các sản phẩm "Made in China" nữa, do vậy họ sẽ không cho biết sản phẩm của họ được Made in China. Tuy nhiên, chúng ta cũng không cần, cứ việc nhìn vào các mã số của sản phẩm là biết ngay sản phẩm có xuất xứ từ nước nào.
Nhắc lại, nếu 3 con đầu tiên của mã số sản phẩm là một trong các số từ 690 đến 695 (kể cả hai số này) thì đích thị là sản phẩm Made in China. Đừng mua những sản phẩm đó.


Dưới đây là mã số sản phẩm của các quốc gia khác:
00 - 13: Mỹ và Canada
30 - 37: Pháp
40 - 44: Đức
49: Nhật
50: Liên hiệp Anh
57: Đan Mạch
64: Phần Lan
76: Switzerlang và Liechtenstein
628: Arập Saudi
629: United Arab Emirates
690 - 695: China
740 - 745: Trung Mỹ
Các mã 480 là Philippines

Chuyển ngữ: Thẩm Vân
(Forwarded by Phuong1110@aol.com, 11/24/08, 9.59PM)


Sunday, December 14, 2008

KHÚC HÀ LINH * HAI NGƯỜI ĐÀN BÀ PHÍA SAU TỰ LỰC VĂN ĐOÀN




HAI NGƯỜI ĐÀN BÀ PHÍA SAU TỰ LỰC VĂN ĐOÀN
KHÚC HÀ LINH



14/12/2008 0:13 Đằng sau lùm cây cạnh ga Cẩm Giàng là trại văn chương Tự Lực Văn Đoàn -



Thế kỷ trước, ở phố huyện Cẩm Giàng, Hải Dương, trong gia tộc Nguyễn Tường có hai người phụ nữ được nhắc nhiều trong đời sống văn học. Chồng, con say mê hoạt động văn chương, xã hội… còn họ lùi vào phía sau với thiên chức làm mẹ, làm vợ. Danh vọng, thành công của những người đàn ông đó có một phần ở sự tảo tần của họ.



I. THÂN MẪU CỦA NHẤT LINH - Trại Cẩm Giàng bà Nhu


Bà Lê Thị Sâm là con gái đầu lòng cụ Lê Quang Thuật, người gốc Huế, làm quan võ ở huyện Cẩm Giàng. Bấy giờ tri huyện Cẩm Giàng Nguyễn Tường Tiếp (tục gọi là huyện Giám), quê gốc Quảng Nam, có con trai là Nguyễn Tường Nhu đến tuổi lấy vợ, mới cho người mai mối hỏi cô Lê Thị Sâm về làm dâu họ Nguyễn Tường. Bà đã gồng mình gánh vác cơ nghiệp nhà Nguyễn Tường để nuôi mẹ chồng và bảy người con ăn học thành người, trong đó có ba nhà văn thuộc vào hàng trụ cột của Tự Lực Văn Đoàn (TLVĐ) - một phong trào văn chương nổi tiếng trên văn đàn nước nhà những năm 30-40 thế kỷ trước: Nhất Linh, Hoàng Đạo, Thạch Lam.




Lấy chồng hơn chục năm, bà có sáu người con, dời từ ấp Thái Hà về số 10 Hàng Bạc, Hà Nội, rồi hết về quê Cẩm Giàng lại theo con cả Nguyễn Tường Thụy ở Tân Đệ, Thái Bình. Do buôn bán ở Thái Bình được một năm chẳng thuận, bà Nhu lại đưa cả con thuyền gia đình về Hà Nội.


Khi vợ Nguyễn Tường Thụy xin ra ở riêng, bà lại về Cẩm Giàng. Đang bơ vơ không biết ăn ở ra sao thì người bạn cân gạo ngày trước là bà cả Hội nợ bà Nhu 60 đồng Đông Dương từ trước, trừ tiền nợ bằng hai mẫu đất cho bà Nhu. Thế là đào ao, đắp nền, làm nhà... Bà làm nhà gỗ, lợp rạ, cột vuông, bốn chung quanh hiên rộng. Nhà ba gian, gian đầu phòng khách, gian giữa thờ gia tiên, gian trong để ở. Trần nhà lát nứa dập thẳng. Mái rạ lợp dày xén rất đẹp, quanh nhà có lan can gỗ, gọi là Nhà ánh sáng.





Thời ấy khách đi tàu Hà Nội -Hải Phòng có thể nhìn rất rõ một khuôn viên trang trại có những ngôi nhà thấp thoáng dưới lùm cây xanh. Đến sau này các con trưởng thành, hoạt động văn chương, làm báo Phong Hóa, Ngày Nay ở Hà Nội, nhưng cuối tuần họ lại rủ bạn bè về trại thăm mẹ và nghỉ ngơi bàn luận chuyện văn. Cái tên trại văn chương TLVĐ hoặc trại Cẩm Giàng bà Nhu ra đời và đi vào văn học sử nước nhà.





Những ngày cuối năm 1932, ba anh em Nhất Linh mới ra làm báo Phong Hóa, còn gặp khó khăn, ai cũng sợ báo ế. Bà nói như đinh đóng cột: "Cái ấy khó gì, nếu không bán hết, mang về cho mợ gói cau càng tiện...". Câu nói ấy như luồng gió gạt bỏ hết những lo lắng trong những ngày đầu gian khó của nhóm.




Nhờ có người giúp đỡ, ngày 31.8.1917, tức 14.7 năm Đinh Tỵ, ông Nhu sang Lào (Sầm Nưa) làm thông phán tòa sứ, được đem theo vợ để buôn bán mưu sinh. Thật không may, được tám tháng, ông bạo bệnh qua đời. Một mình nơi xa xứ, lo chôn cất chồng xong, bà Nhu trở về Việt Nam đi hết 12 ngày đường bộ và đường thủy, gian nguy vô ngần. Mãn tang chồng một năm, bà cùng bốn người thân lại sang Lào để mang hài cốt ông về nước đặt mộ bên bờ ao thuộc làng La A, xã Kim Giang, huyện Cẩm Giàng.




Bà Nhu tôn trọng chí hướng của các con. Ngày Hoàng Đạo tốt nghiệp cử nhân luật, được bổ chức tri huyện, đã về xin ý kiến mẹ. Bà bảo con: "Nay con thành đạt rồi mỗi người có chí hướng riêng, tùy con định đoạt. Ông cha ngày xưa nổi tiếng thanh liêm, làm quan thương dân để đức cho con cháu. Các con đừng làm gì hại đến thanh danh tiên tổ...".





Góa chồng khi mới 37 tuổi, bà tảo tần khuya sớm đi về làng quê cân gạo. Không đủ sống, đành nấu thuốc phiện, biết là hiểm nguy có thể bị Tây bắt bỏ tù bất cứ lúc nào. Chỉ đến khi các con học hành thành đạt, đi làm có lương mới mát mặt. Trừ Thạch Lam, và con gái Nguyễn Thị Thế, còn lại 5 người đều có bằng cử nhân, riêng Nhất Linh đỗ cử nhân khoa học Pháp trở về nước làm báo, làm văn chương...



Nuôi dưỡng được ngần ấy người con, bà Nhu vượt qua bao nhiêu sóng gió. Nhưng bù đắp lại bà Nhu có những niềm vui. Đó là năm 3 người con trai Nguyễn Tường Tam (Nhất Linh), Nguyễn Tường Long (Hoàng Đạo) và bác sĩ Nguyễn Tường Bách đều trở thành đại biểu Quốc hội khóa I của nước Việt Nam độc lập. Rồi Hoàng Đạo làm Bộ trưởng Bộ Quốc dân kinh tế trong chính phủ liên hiệp lâm thời, sau đến Nhất Linh làm Bộ trưởng Ngoại giao trong chính phủ liên hiệp kháng chiến.




Sau ngày Tổng khởi nghĩa tháng 8.1945, bà tu ở chùa Đào Xuyên, qua chùa sư nữ ở Bối Khê, rồi về Hà Nội tu tại chùa Hai Bà. Khi biết tin Hoàng Đạo đột tử ở ga Thạch Long, Trung Quốc, vị sư già đã làm lễ cầu siêu cho con trong nơi cửa Phật. Rồi bà theo con vào Sài Gòn, tu ở chùa Xá Lợi cho đến năm 1960. Ít lâu sau bà viên tịch tại đó.




II.NGƯỜI BẠN ĐƯỜNG CỦA NHẤT LINH


Người đàn bà ấy dưới mắt một phóng viên báo Đông Tây ở Hà Nội thời bấy giờ, được khắc họa: "Đôi mắt bà chớp chớp... Một đôi mắt to mênh mông, có hàng mi dài óng ả. Ánh sáng vừa dịu, vừa như có một cái gì như sẵn sàng vì mọi người... Tôi nhớ mãi cặp mắt ấy.


Cặp mắt có vẻ chịu đựng mọi hy sinh, vì người thân yêu của mình. Cặp mắt của người đàn bà Việt Nam, cũ kỹ, tảo tần, không ý thức được rằng những việc mình làm đã đóng góp cho sự nghiệp của chồng không nhỏ". (trích từ Từ bến sông Thương, Anh Thơ - hồi ký 1986).



Ấy là bà Phạm Thị Nguyên (1909-1981), quê làng Phượng Dực, Thường Tín, tỉnh Hà Đông, trước năm 1945 là chủ hiệu buôn cau khô có tiếng ở Hà Nội mang tên Cẩm Lợi.


Vào tuổi đôi mươi, Phạm Thị Nguyên kết hôn với nhà văn Nhất Linh, ở nhà 15 phố Hàng Bè, Hà Nội. Bà vẫn bán cau khô, mở rộng quan hệ buôn bán suốt trong Nam ngoài Bắc, toàn tâm toàn ý vì sự nghiệp của chồng.


Những năm tháng chồng mải mê làm báo, cổ súy phong trào Ánh Sáng..., bà vật lộn với nghề buôn bán cau, nuôi đàn con (13 lần đẻ chỉ nuôi được 7), làm hậu thuẫn cho chồng thi thố giữa cuộc đời. Hiếm ai biết rằng bà từng tham gia phong trào Ánh Sáng, xóa nhà ổ chuột, làm nhà tranh tre sáng sủa cho dân nghèo thợ thuyền...




Bà Nhu (thứ 2 từ phải sang) trong lần đi du lịch cùng báo Ngày Nay Người đàn bà có tấm lòng bao dung ấy được chồng yêu... Mỗi lần viết xong và xuất bản được một cuốn truyện mới, Nhất Linh luôn đưa vợ đi biển Sầm Sơn nghỉ ít ngày. Hồi Nhất Linh ẩn cư ở Đà Lạt giữa thiên nhiên ngoạn mục cũng không quên đưa bà lên cùng thưởng thú chơi phong lan. Có những buổi sớm mai khi con còn trong giấc ngủ, hai ông bà đã bên nhau uống trà nóng, rất là tương đắc. Nhất Linh yêu quý vợ, còn yêu cả cái tên đất tên làng của vợ. Ở Sài Gòn, ông cho in lại các tác phẩm cũ thời TLVĐ và viết tác phẩm mới. Ông đã lấy chữ Phượng (Phượng Dực quê vợ) và chữ Giang (Giàng) nơi sinh trưởng của mình là Cẩm Giàng, rồi ghép thành tên Nhà xuất bản Phượng Giang.



Làm vợ nhà văn Nhất Linh, một nhân vật nổi tiếng thời TLVĐ, bà Nguyên sống trong nụ cười và nước mắt. Bà đau buồn nhất là những năm Nhất Linh lưu vong ở nước người trên đảo Sường Châu, Trung Quốc. Bà đã vượt dặm đường gian nan nguy hiểm đi thăm và tiếp tế cho ông.



Lo lắng khi thấy chồng sống cô độc trên đất khách, bà tìm cách nhắc lại một cách khéo léo về thời TLVĐ làm báo, viết sách của chồng. Như một phép lạ, nét mặt Nhất Linh vui, tươi sáng. Ở trang đầu bản thảo tiểu thuyết Xóm Cầu Mới, Nhất Linh viết tại Hương Cảng có mang những dòng chữ: Tặng Nguyên, người rất thân yêu, đã khuyên tôi trở lại đời văn sĩ và nhờ thế cuốn Xóm Cầu Mới này khởi đầu từ 1940 mới được viết tiếp theo. Hương Cảng trên núi, ngày 16.10.1949. Nhất Linh.



Sống dưới chế độ độc tài Ngô Đình Diệm, Nhất Linh cực lực phản đối chính quyền đàn áp những người đối lập và tham gia ủng hộ cuộc đảo chính của Nguyễn Chánh Thi và Vương Văn Đông. Việc không thành, ông bị Tòa án quân sự đặc biệt gọi ra tòa xét xử. Trước lúc quyên sinh, Nhất Linh để lại 2 bản di chúc. Một bản nói với cuộc đời và một bản dành riêng cho vợ với hai mươi từ tuyệt mệnh: "Mình, mối tình của đôi ta hàng bao năm đẹp đẽ lắm rồi, không... mong ước gì hơn nữa. Anh, Nhất Linh. 7.7.1963".




Năm 1981, bà sang Pháp đoàn tụ với con, mất tại đó. Năm 2001, hài cốt của bà được đem về nghĩa trang Hội An, Quảng Nam. Mộ bà nằm bên mộ chồng và mộ cụ tổ Tiến sĩ Nguyễn Tường Phổ, vị quan triều Nguyễn, ra Bắc làm Tri phủ Cẩm Giàng, Hải Dương, người khai nguyên dòng họ Nguyễn Tường trên đất Bắc.




KHÚC HÀ LINH. TRICH THANH NIÊN ONLINE.
http://www.thanhnien.com.vn/News/Pages/200850/20081214001323.aspx
===

LÝ ĐẠI NGUYÊN * NGHỊ QUYẾT CỦA PHẬT GIÁO VNTN



VIẾT VỀ NGHỊ QUYẾT 9 ĐIỂM CỦA
GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤT


LÝ ĐẠI NGUYÊN



Trong khi nhóm Man Cộng Hànội, ngày càng đẩy Viêt nam lún sâu vào vòng tay khống chế của bọn Bành Trướng Bắc Kinh, chúng coi thường dư luận quốc tế, thẳng tay xiết chặt báo giới, đàn áp những người chống tham nhũng, khủng bố những người đòi Dân Chủ và Tự Do Tôn Giáo, Công Bằng Xã Hội, thì ngày 15-11-2008 Hội Đồng Lưỡng Viện Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, dưới sự chủ tọa của Hòa Thượng Thích Quảng Độ, Viện Trưởng Viện Hóa Đạo kiêm Xử Lý Thường Vụ Viện Tăng Thống, gồm đông đủ các thành viên Hội Đồng Lưỡng Viện và một số thành viên Ban Đại Diện Tỉnh Giáo Hôi.



Sau 8 giờ thảo luận đã thông qua Bản Nghị Quyết 9 điểm, ngoài việc khẳng định:


“1- Quyết tâm nối tiếp sự nghiệp phụng sự chánh pháp và dân tộc, mà Đức cố Đệ Tứ Tăng Thống GHPGVNTN đã vạch ra, cho dù còn rất nhiều khó khăn phía trước đang chờ đón, vẫn không nao núng chùn bước”.Giáo Hội đã nhất tâm tuyên hứa:



“2- Nguyện cùng toàn dân trong ngoài nước cương quyết bảo vệ vẹn toàn lãnh thổ, yêu cầu nhà cầm quyền Hànội phải có trách nhiệm bào vệ tổ quốc, mà trước mắt là hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Nhất là các Hiệp Ước về biên giới trên bộ, vùng đánh cá chung…đã ký kết với Trung Cộng như thế nào? Nhượng, bán cho Trung Cộng bao nhiêu đất đai, lãnh hải? Số ngư dân vùng đánh cá chung, đã bị Trung Cộng bắn giết trong trường hợp nào? Bao nhiêu người? và giải quyết ra sao? Hãy can đảm công bố minh bạch cho quốc dân trong ngoài nước và thế giới cùng biết.



Tránh những dư luận bức xúc, bàn tán xôn xao, trong nhân dân ngày càng gia tăng” Lời yêu cầu này được nêu lên với nhà cầm quyền Hàinội, giữa lúc toàn dân trong ngoài nước và thế giới đang chứng kiến chiến hạm Trịnh Hòa của Trungcộng, ngày 18-11-08 cập bến Đànẵng, tiếng là chuyến thăm hữu nghị. Nhưng thực tế là Trungcộng đưa con tầu mang tên Trịnh Hòa vào Viêtnam là cố tình xác nhận với Viê.tnam và Thế Giới rằng: 2 quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và toàn cõi Biển Đông là của chúng. Vì Trungcộng từng lên tiếng cho là, chính viên thái giám Trịnh Hòa, dưới thời Nhà Minh Trung hoa này, năm 1405 được phong làm Thủy Sư Đô Đốc, điều khiển một đoàn chiến thuyền vượt đại dương tìm xứ lạ, là người đầu tiên đã khám phá ra 2 quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và toàn vùng biển ở đây.



Xem vậy, vì tâm từ bi và tình yêu nước, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất đã vượt lên trên mọi đối kháng đời thường, mà chính mình đang là nạn nhân bị ngược đãi, để làm một sự gợi ý cho nhà cầm quyền Hànội, nếu còn có lương tri và chút ít tự ái dân tộc thì cần lên tiếng bạch hóa mọi vấn đề khúc mắc giữa quan hệ 2 nước Việt Hoa. Đừng để cho Trungcộng coi thường dân tộc Viêtnam, mà tổ tiên người Hoa trước kia, tuy từng nhiều phen bị bại trước Viê.tnam, nhưng vẫn tự coi là Thiên Triều và khinh miệt gọi nước ta là Nam Man.


Giáo Hội cũng:



“3- Kêu gọi nhà cầm quyền Hànội hãy nhanh chóng phục hồi quyền sinh hoạt pháp lý của GHPGVNTN theo lập trường 4 điểm mà Viện Hóa Đạo đã đề xuất (trước đây). Trong đó có việc: “Đưa Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam, mà đảng Công sản và nhà nước CHXHCNVN đã thiết lập năm 1981, ra khỏi Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam, một cơ quan ngoại vi của đảng Côngsản”. Việc này đồng nghĩa với việc tất cả các giáo hội của mọi tôn giáo đang sinh hoạt công khai hợp pháp tại Viê.tnam, phải được ra khỏi quy chế “xin cho” của Pháp Lệnh Tín Ngưỡng Tôn Giáo, hiện buộc các giáo hội đó phải nằm trong và do Mặt Trận Tổ Quốc trực tiếp điều khiển. Đây là thực trạng của các tôn giáo tại Viê.tnam đang bị nhà cầm quyền Viêt cộng dùng luật lệ phi pháp và tổ chức ngoại vi của đảng Cô.ngsản để trói buộc các giáo hội vào một cơ chế độc tài toàn trị, chứ không phải là việc công nhận quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng như ở các chế độ dân chủ pháp trị. Nên GHPGVNTN:



“4- Tiếp tục vận động dân chủ nhân quyền và tự do tôn giáo thực sự tại Viê.tnam cho đến khi đạt mục đích” . Năm điều còn lại thuộc về vấn đề nội bộ của Giáo Hội như:



“5- Kiện toàn nhân sự HĐLV, củng cố và tiếp tục thành lập Ban Đai Diện GHPGVNTN các Miền, các tỉnh thành, và đặc biệt là kiện toàn đoàn thể Gia Đình Phật Tử Việt Nam.



6- Tùy hoàn cảnh địa phương, tổ chức các khoá tu học, các khóa hội thảo Phật Pháp, Tu Bát Quan Trai, hành thiền…tạo điều kiện cho Phật Tử tại gia học Phâ.t.




7- Hơn bao giờ hết, hàng xuất gia cũng như tại gia nỗ lực hành trì GiớiĐDi.nh-Tuệ để tích tập phước đức tự thân trang nghiêm Giáo Hội, nêu cao đời sống phạm ha.nh. thiểu dục, tri túc và thận ngôn…nhằm ngự chế tình trạng suy thoái như hiện nay trong đời sống xã hô.i.




8- Đề cao cảnh giác trước mưu toan xảo trá, luận điệu xuyên tạc, vu khống, lường gạt của các thế lực vô minh, của nội ma ngoại chướng đang nỗ lực đánh phá GHPGVNTN.




9- Sau hết đối với chư tôn đức và số đoàn viên Gia Đình Phật Tử, đã từ bỏ GHPGVNTN, nếu thấy cần thành lập một tổ chức Phật Giáo khác, điều đó không ai cấm cản. Nhưng chúng tôi phản đối việc sử dụng danh xưng GHPGVNTN khi không tuân thủ nội dung Hiến Chương GHPGVNTN”.





Nghị quyết 9 điểm của Hội Đồng Lưỡng Viện GHPGVNTN xuất hiện đúng lúc, đúng thời, đúng thế của hoàn cảnh Viê.tnam. Trong khi thế giới đang rối mù vì cuộc khủng hoảng tài chánh quốc tế. Hoakỳ là siêu cường duy nhất làm cho bọn Bành Trướng Bắc Kinh phải kiêng nể, đang trong thời kỳ chuyễn đổi chính quyền. Nên chính sách “Nhập Nội Việt Nam” tuy nhất quán, nhưng không phải là không có kẽ hở. Nương vào đó, bọn Bành Trướng Bắc Kinh đã hà hơi tiếp sức cho nhóm Man Cộng Hànội, vùng lên chống phá quyết liệt chủ trương “Nhập Nội Việt Nam ” của Hoakỳ, qua việc Tư Doanh Hóa Kinh Tế, Tự Do Hóa Xã Hội, Dân Chủ Hóa Chế Độ. Cũng như Trungcộng, nhóm Mancộng tại Viê.tnam cũng chỉ chấp nhận để cho đảng viên làm kinh tế tư doanh, còn tìm mọi cách để giới hạn công cuộc tư doanh của tư nhân. Riêng về Tự Do Hóa Xã Hội, thì chúng để cho dân chúng tự do trong thế hổ lốn, sống chết mặc bay. Không cho thành lập các tổ chức Xã Hội Dân Sự, nhất là lãnh vực Tự Do Ngôn Luận, để bảo vệ và tranh đấu cho quyền lợi chính đáng của các công dân và các tập thể xã hô.i. Còn việc Dân Chủ Hóa Chế Độ, như sửa Hiến Pháp, cho Bầu Cử Trực Tiếp và sinh hoạt Chính Trị Đa Đảng thì bị cấm tiê.t. Chính việc Viê.tnam không có Tự Do Dân Chủ Thực Sự, nên bọn Bành Trướng Bắc Kinh chỉ cần nắm được đảng và chính phủ tại Hànội là Viê.tnam trở thành thuộc quốc của chúng. Cho dù nhóm Man Cộng Hànội có thiết lập mối tương quan quân bình giữa Hoa, Mỹ và thế giới như chúng trông đợi, mà Viê.tnam chưa có Tự Do Dân Chủ Nhân Quyền Thực Sự, thì vẫn chỉ là một nước làm tôi mọi cho các nước lớn mà thôi. Vậy việc GHPGVNTN tiếp tục vận động dân chủ nhân quyền và tự do tôn giáo thực sự tại Viê.tnam là nhu cầu của Dân Tộc và của mỗi chúng ta.




Little Saigon ngày 18-11-2008.




TIN TỨC * VIỆT CỘNG TỐNG XUẤT ĐÁM ĂN CÓ NHẤT HẠNH



ĐÁNG ĐỜI CHO BỌN TU HÀNH THEO ĐUÔI CỘNG SẢN BỊ VẮT CHANH BỎ VỎ THÊ THẢM!

Lâm Đồng: Công an trục xuất 400 tăng ni Làng Mai và tố vi phạm pháp luật



Nov 13, 2008 22:44:00 (Calitoday) Sau khi nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam đón tiếp Thiền sư Thích Nhất Hạnh và tăng đoàn Làng Mai về Việt Nam để tổ chức đại lễ Vesak rầm rộ, mọi người tưởng rằng Hà Nội sẽ dễ dãi để cho giáo hội này hoạt động tại Việt Nam. Thế nhưng sau khi đạt được mục đích, Hà Nội đã nhanh chóng trở mặt và mới đây đã gửi văn thư trục xuất Tăng Thân Làng Mai ra khỏi Tu Viện Bát Nhã, Lâm Đồng cách nay 3 tháng.


Nguồn tin mới nhất cho biết Công an địa phương đã bắt đầu cưỡng hành lệnh trục xuất, đem đồ đạc quăng ra ngoài phòng, xua đuổi và bạo hành hàng trăm Tăng Ni, cả ngoại kiều lẫn Việt Nam, ghi nhận là hơn 400 đệ tử xuất gia và tập sự tu học theo Đạo Tràng Làng Mai của Thiền Sư Nhất Hạnh đã bắt đầu rời Lâm Đồng, trong đó có ít nhất 40 sư cô đã về lại Huế, tạm ở Chùa Tây Linh




Ý Kiến của Diễn Đàn Quốc Tế Của Các Phong Trào Dân Chủ VN:


Theo đuôi Cộng Sản và mưu toan đẩy Giáo Hội Truyền Thống là Giáo Hội PGVNTN sáp nhập với Quốc Doanh, kẻ chủ trương Thiền Tiếp Hiện đáp ứng lục dục con người mới đây đã bị một cú trời giáng từ Đảng CSVN:


Đệ tử Đạo Tràng Làng Mai bị quăng đồ đạt ra đường và bị bạo hành tại Lâm Đồng, sau khi ác Đảng CS đã đạt được mục đích mà Thích Nhất Hạnh đem lại: Rút tên khỏi danh sách các Quốc Gia bị Quan Tâm Đặc Biệt vì Vi Phạm Tự Do Tôn Giáo (CPC) hồi 2006 và tổ chức xong VESAK rình rang hồi tháng 5-2008. Bây giờ CSVN thấy sự hiện diện và phát triển của Đạo Tràng Làng Mai ở VN là một đe dọa cạnh tranh với Giáo Hội Quốc Doanh của Nhà Nước, cho nên CS áp dụng ngay sách lược: “TIÊN HẠ THỦ VI CƯỜNG!”. Có điều là bọn ác ôn công an CS đã hành xử quá tàn nhẫn đối với Đạo Tràng Làng Mai ở Lâm Đồng: quăng đồ đạt ra đường, xua đuổi và bạo hành các đệ tử của Nhất Hạnh tại Đạo Tràng này, khiến những kẻ theo Nhất Hạnh đã phải “bay mô” tứ tán, 40 sư cô đã về lại Huế, tạm ở Chùa Tây Linh, như bản tin trên cho biết.


Chắc chắn sẽ còn những đàn áp khốc liệt tiếp theo một khi những tăng ni này và những người theo Nhất Hạnh tiếp tục tập trung củng cố để làm thành một giáo phái Đạo Tràng Làng Mai ở VN. Việt Cộng là không có chơi được, nhưng Thích Nhất Hạnh vì muốn phát triển Đạo Tràng ở VN bắt tay với VC, với hy vọng lập công để được ơn mưa móc! Không ngờ kết quả thê thảm! Thật đáng đời cho một Ma Tăng bắt tay với CS, phản lại Giáo Hội chân truyền! Đó là gương tày liếp cho bọn QUỐC DOANH HẢI NGOẠI đang chủ trương “LÀM VĂN HÓA - HOẰNG PHÁP - TỪ THIỆN” với trong nước, tức là với bọn QUỐC DOANH CỘNG SẢN CHÓ CHẾT! Thật đáng đời!



LỜI BÀN CỦA VẠN MỘC CƯ SĨ:

NGƯU TẦM NGƯU, MÃ TẦM MÃ. THẾ NHƯNG CÁI HỢP TÁC GIỮA QUỶ VÀ MA THÌ KHÔNG LÂU DÀI VÌ MA LÀM SAO ĐICH NỔI QUỶ?
VÔ NHẤT HẠNH, NGUYỄN CAO KỲ, PHẠM DUY CHỈ LÀ NHỮNG LƯU MANH XÓM, LƯU MANH CHỢ THEO KIỂU BA GIAI TÚ XUẤT SAO MÀ ĐẤU NỔI QUỶ VƯƠNG!
ĐÁM MA TĂNG NÀY QUẢ THẬT LÀ LŨ YÊU MA ĐỘI LỐT TU HÀNH CHO NÊN KHÔNG CÓ GIỚI, ĐỊNH TUỆ


THAN ÔI!
" CHỊU ĐẤM ĂN XÔI, XÔI LẠI HỎNG,
CẦM BẰNG ĐI Ở, Ở KHÔNG CÔNG"

BAO NHIÊU CÔNG PHU TIỀN BẠC CÚNG VÁI CHO CỘNG SẢN NAY THÌ MẤT SẠCH! QUẢ LÀ " KY CÓP CHO CỌP NÓ THA".
HỌ ĐÃ HIỂU THẾ NÀO LÀ ĐẠO LÝ, LÀ VÔ THƯỜNG CỦA PHẬT GIÁO!

ĐỖ THÔNG MINH * TỰ VẤN 5



TỰ VẤN 5:
Trọng Từ Chương,
Bằng Cấp!?
Trọng Hình Thức?

Đỗ Thông Minh




Cụ Huỳnh Thúc Kháng (1876-1947) là một người theo Nho học, nhưng cực lực bài bác lối học từ chương, khoa cử, thiếu hẳn nhiệt tình dấn thân đối với đất nước. Trong lời tựa cuốn Phan Tây Hồ Tiên Sinh Lịch Sử, cụ Huỳnh Thúc Kháng đã viết:
"... Cái học khoa cử ở nước ta đã thành ra không khí, cha dạy con, thầy bảo trò, anh em bạn bè khuyên nhau, gần như trong đời không có việc thứ hai nữa; cho đến đất nước suy mòn, giống nòi tan tác mà sĩ phu vẫn cứ say mê trong vực ấy mà không tỉnh dậy...".



Người Việt hầu như ai cũng biết câu: "Đại đăng khoa rồi tiểu đăng khoa" , là thi đậu rồi lấy vợ và bức tranh "Vinh Quy Bái Tổ", cảnh ngựa chàng đi trước, võng nàng đi saụ Ngày nay ,nhiều người Việt có nhà cao cửa rộng cũng hay treo bức tranh "Vinh Quy Bái Tổ", có thể chủ nhân thích vì lý do nghệ thuật, nhưng có thể cũng là để thỏa mãn ước mơ trong tiềm thức. Chúng tôi muốn nói đến tinh thần trọng từ chương từ thời Tứ Thư Ngữ Kinh, tinh thần trọng bằng cấp từ thời Thi Hương, Thi Hội, Thi Đình, dù nay biết rằng lối học và hành đó thiếu hẳn tinh thần khoa học, thực nghiệm, thực dụng và thực nghiệp (áp dụng vào công nghiệp).



Tinh thần từ chương, khoa cử đã ăn sâu trong tim óc người Việt, tạo ra một nhân sinh quan vừa làm vừa hưởng nhàn kiểu Nguyễn Công Trứ. Như cố gắng học để thi lấy cái bằng, rồi tìm một công việc nhàn hạ mà lương cao... không cần biết là cơ quan hay công ty nơi mình làm việc sẽ đi về đâu.
Hình thức - nội dung hay vật chất - tinh thần là những cặp lưỡng nhất thể, luôn luôn đi đôi với nhaụ Ai cũng biết nội dung và tinh thần giá trị lâu dài hơn hình thức và vật chất, nhưng hầu hết người ta vẫn bị cái bề ngoài và cụ thể cuốn hút. Giữ được thăng bằng hai mặt ấy không phải là dễ, vì thường mặt này mạnh, mặt kia sẽ yếụ
Thêm nữa, "Tốt khoe, xấu che.", đó là lẽ thường, một thứ bản năng văn hóa chung của cả loài người, người nào cũng vậy, dân tộc nào cũng vậy, nhưng nếu "Chưa đậu ông Nghè đã đe hàng tổng." thì vấn đề lại khác, vì đó là tính khoe khoang, hách dịch, muốn đem uy quyền cuả mình ra đè đầu người khác.




Từ Chương:
Năm 2007, tính theo truyền thuyết Việt Lịch là năm 4886. Sau thời lập quốc, vào năm 111 trước Công Nguyên, nước Việt đã bị nhà Hán chi phối cho tới năm 939, là khi Ngô Quyền nổi lên giành độc lập.
Dưới thời Bắc Thuộc, người Việt dù muốn dù không, bên cạnh văn minh văn hóa bản địa, cũng đã du nhập văn hóa Trung Quốc, do Nhâm Diên, Sĩ Nhiếp là những người đầu tiên đem vào, một nền văn hóa phong phú và rực rỡ, nhưng thiếu tính thực dụng.
Giới trí thức Việt thời bấy giờ đã học chữ Hán và tiếng Hoa phát âm theo lối đời Đường để giao thiệp với quan lại phương Bắc. Họ học chữ rồi học Tứ Thư, Ngũ Kinh, và nhiều kinh sách khác, nói chung là của Nho Giáo và Khổng Tử, người được coi là "vạn thế sư biểu" (Thầy của vạn đời).


Tứ Thư là 4 bộ truyện, gồm: Đại Học, Trung Dung, Luận Ngữ và Mạnh Tử. Ngũ Kinh là 5 bộ kinh, gồm: Kinh Dịch, Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ và Kinh Xuân Thu.
Đây là những pho sách quý, tinh hoa, không những của Trung Quốc mà của cả nhân loạị Tuy nhiên có khiếm khuyết lớn ở chỗ quá chú trọng về đạo đức trong việc đối nhân xử thế về nhân, lễ, nghĩa, trí, tín, về công, dung, ngôn, hạnh... và văn chương thi phú là khoa học nhân văn mà quên đi khoa học tự nhiên thực dụng.
Theo Thầy Triệt Học Trần Đức Giang, Trung Quốc đã có những phát kiến rực rỡ về văn minh và văn hóa như:
- Về tư tưởng: Nho Giáo, Lão Giáọ
- Về binh pháp: Tôn Tử Binh Pháp
- Về phát minh: 4 phát minh lớn là làm ra giấy, nghề in sách, kim chỉ nam, thuốc súng.
- Về thiên văn học: Trương Nghi phát minh ra máy đo sự chuyển vận của quả đất (Địa động nghi) lâu nhất trên thế giới, trước máy của Âu Châu 1.700 năm, y sĩ Hoa Đà phát minh ra thuốc mê sớm nhất thế giới, phép kế toán của Tổ Xung Chi đã tìm ra số Pi đầu tiên trên thế giới, lịch Thọ Thời đã có trước lịch Thái Dương hơn 300 năm, sách Bản Thảo Cương Mục là sách nói về dược thảo lâu đời và công phu nhất thế giới v.v...
Trung Quốc đã là cái nôi văn hóa và văn minh của nhân loại một thời, thế mà do mải mê từ chương và khoa cử, nhất là vào đời nhà Tống... mà lụn bại dần. Trong khi các nước Âu-Mỹ và Nhật Bản vươn lên, tìm đến xâu xé đất nước Trung Quốc.
Nói chung, trong suốt một thời gian dài, các dân tộc chịu ảnh hưởng Nho Giáo đã bị tụt hậu so với Âu-Mỹ. Chưa kể là ngày nay, con người bình đẳng hơn, tinh thần tam tòng (tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử), trung quân (trung với vua)... không còn cần thiết nữạ


Trong khi người Đông Phương nặng về tình cảm, duy tâm, thì người Tây Phương thiên về duy lý và duy vật. Tây Phương suy nghĩ có luận cứ và làm việc có phương pháp, đã đưa những đất nước của họ nhanh chóng vươn lên. Họ cũng say đắm trong thế giới văn chương, nghệ thuật, nhưng không quên dấn thân trong việc khám phá thiên nhiên, ứng dụng khoa học vào đời sống.


Cũng là một quốc gia ở Đông Phương, nhưng nước Nhật nhờ đâu mà nhanh chóng thoát khỏi lạc hậu, vươn lên ngang hàng với hoặc hơn các nước Âu-Mỹ? Bác Sĩ kiêm Học Giả Nhật là Fukuzawa Yukichi (Phúc Trạch Dụ Cát, 1835-1901), nhà tư tưởng canh tân lừng danh, được coi là Voltaire (nhà cách mạng tư tưởng Pháp) của Nhật, người đã mở đại học tư Keio Gijuku đầu tiên ở Nhật cho rằng: "Nền giáo dục Nho Giáo ở Đông Phương, về hữu hình không để ý tới việc bồi dưỡng lối suy nghĩ khoa học và về vô hình không chú trọng đến tinh thần độc lập của mỗi cá nhân.".


Biết rõ được sự yếu kếm của mình trước Âu-Mỹ, ông đã cố gắng tìm con đường đi lên, trong sách Văn Minh Luận Khái Lược, ông đã viết:
"Để bảo vệ độc lập (Nhật Bản), không còn cách nào ngoài con đường tiến đến văn minh. Lý do duy nhất để người dân nước ta tiến đến văn minh là để bảo vệ độc lập quốc gia.".
Ông định nghĩa tinh thần độc lập ấy như sau:
- Biết tự mình lo toan cho chính mình mà không nhờ người khác.
- Biết phân biệt sự vật phải trái một cách đứng đắn mà không ỷ lại vào trí khôn của người khác.
- Biết tự mình dùng tâm lực lao động để nuôi lấy chính mình mà không cậy vào sức người khác.


Theo ông, cách giữ nước hay nhất là:
"Làm cho đất nước tràn đầy không khí tự do độc lập, không phân biệt sang hèn, trên dưới, mỗi người gánh vác trách nhiệm quốc gia, người tài kẻ ngu, người sáng kẻ mù, nhất nhất phải ráng sức gánh vác bổn phận của người dân nước đó.".


Những vị trí thức Việt từng đi Pháp, Âu Chảu về, có tư tưởng canh tân như Nguyễn Trường Tộ (1828-1871), Phạm Phú Thứ (1820-1883), Nguyễn Lộ Trạch (1852-1895)... cũng đã từng trình biết bao bản điều trần lên triều đình nhà Nguyễn kêu gọi cải cách nhưng bị khước từ, trù dập. Vậy thì không phải không có người Việt nhìn ra vấn đề và lên tiếng, nhưng quán tính văn hóa, đã làm cho những người trí thức khác và quần chúng thường ngại cái gì mới lạ, đâm ra lưỡng lự không dám mạnh dạn làm theo.



Cho đến thập niên 40, 50 của thế kỷ 20, khi vừa thoát khỏi phong kiến lạc hậu thì Trung Quốc từ năm 1949 đến cuối thập niên 70 và Việt Nam từ năm 1954 đến năm 85 lại rơi vào vòng quá khích, phi hiện thực của chủ nghĩa Cộng Sản. Trường hợp Việt Nam, các người lãnh đạo còn máy móc và độc đoán áp dụng mô hình Liên Xô, rồi Trung Quốc như cơ chế nhà nước, đấu tranh giai cấp... khiến người dân không còn đường sống. Tới khi hoàn toàn bế tắc rồi họ mới thức tỉnh giấc mê sảng và bắt đầu dò dẫm đưa đất nước đi lên theo con đường Dân Chủ - Tư Bản mà họ đã từng sống chết đả phá kịch liệt. Do đó, tại Trung Quốc và Việt Nam... chủ nghĩa Cộng Sản nay chỉ còn cái vỏ, đảng viên và cán bộ nhà nước lo làm giàu bằng mọi giá, còn nhanh hơn cả Tư Bản.
Việt Nam sống bên cạnh nước Trung Quốc khổng lồ vượt trội về nhiều mặt, để tồn tại và thăng tiến, suốt chiều dài lịch sử, người Việt có hai thái độ trái nghịch, tiếp thu hầu như trọn vẹn về văn hóa, nhưng kháng chiến đến cùng để bảo toàn lãnh thổ. Cho đến tận hôm nay, hầu hết người Việt, giới trí thức thì thường viện dẫn sách Tàu, giới bình dân thì vẫn mê truyện Tàu, phim Tàu...


Sự lệ thuộc quá sâu đậm của Việt Nam với Trung Quốc về văn hóa đã giúp bồi đắp văn hóa Việt, nhưng đồng thời cũng kéo theo những hệ lụy về cách học hỏi, cách suy nghĩ. Tinh thần của người Việt nói chung là sùng bái anh hùng, nhân sĩ, rồi khiêm tốn đến độ tự ty và thiếu tự tin, không dám vượt ra ngoài những gì được coi là khuôn vàng thước ngọc. Vẫn biết "Không thầy đố mầy làm nên.", nhưng nếu lúc nào cũng "Nhất tự vi sự, bán tự vi sự", không dám suy nghĩ độc lập, không dám mạo hiểm, khám phá thì sẽ không thể nào tiến bộ được.


Thêm một điều tốt, nhưng cũng có cái tệ hại riêng của nó, đó là người Việt vốn tính dễ dãi, suy nghĩ đơn giản, nên lỏng lẻo trong làm việc và dễ dàng bằng lòng với những thành quả khiêm nhường, những sản phẩm kém cỏi, kiểu "Có là vui rồi.". Ông Minagawa, một chuyên gia của Bộ Ngoại Giao Nhật với khoảng 40 năm kinh nghiệm về Việt Nam cho rằng người Nhật theo chủ nghĩa toàn bích nên làm được những sản phẩm tốt, nhưng đôi khi dẫn đến bế tắc và tự tử, còn người Việt theo chủ nghĩa 60%, có nghĩa là thỏa mãn với những gì đạt được trên trung bình và thường dừng lại ở đó, không tiến thêm nữạ


Tóm lại, con đường đi lên của dân tộc Việt là chúng ta không bỏ, cũng như không thể bỏ văn hóa Đông Phương, nhưng không nên tự khép kín mãi trong đó, mà phải biết hấp thu cái tinh túy của văn hóa Tây Phương và sáng tạo thêm để làm giàu cho văn hóa Việt.


Khoa Cử:
Sau đó Việt Nam còn du nhập cả lối khoa cử, học cho thuộc lầu kinh sách, học mà không vấn, không suy, chỉ biết lý lẽ mà không áp dụng thực tế. Học để khi làm bài thi đối ứng cho trôi chảy và minh họa cho hay, làm thơ phú cho hay, đi thi cầu cho đậu để được bổ làm quan. Như vậy kể như một đời vinh hưởng bổng lộc, danh vọng, không những cho cá nhân mà còn cho cả gia đình. Nhưng Nhật Bản dù đã du nhập chữ Hán qua ngả Triều Tiên vào thế kỷ thứ 5, sau đó khoảng thế kỷ thứ 7 mới trực tiếp giao dịch với Trung Quốc, họ cũng đã tiếp thu rất nhiều tinh hoa trong văn hóa Trung Quốc như Nho Giáo, Thiền, tranh thủ ấn họa, trà đạo, thư đào, cây kiểngtrong chậu (bonsai), võ thuật..., nhưng hầu như không du nhập chế độ khoa cử, mà chọn theo khả năng ứng xử, điều hành việc nước.


Dùng khoa cử để chọn nhân tài thì xưa nay đều như vậy, nhưng tính phiến diện của từ chương xưa vốn coi trong trật tự xã hội, quan hệ quân-thần... nên khó chọn được người có tài kinh bang tế thế hay người có khả năng ứng dụng khoa học kỹ thuật để có thể nhanh chóng nâng cao mức sống của người dân.

Nếu thời xưa thi đậu thì ra làm quan, càng đậu cao càng làm quan to, vinh hiển, phú quý biết baọ Còn thời nay, hình thức thi cử và việc tiến thân tuy có khác, nhưng học cao, đậu cao cũng vẫn là có một bảo đảm vững chắc cho cuộc sống ở một nấc thang cao trong xã hội. Nên học kiểu máy móc, học tủ, nhồi nhét để rồi quên...
Tinh thần quá chuộng khoa cử ấy lâu dần thành nếp. Thường cứ 3 năm triều đình lại mở khoa thi, có người đậu ngay, có người lận đận thi cả chục khoa không đậu, vẫn chi miệt mài kinh sách không lo làm gì khác, đến lúc già rồi mà vẫn còn lều chõng đi thi để mong làm quan, không chức lớn thì cũng chức nhỏ.


Tinh thần khoa cử ấy kéo dài cả 2.000 năm. Chỉ cho tới đầu thế kỷ thứ 20 thời nhà Nguyễn, khi Pháp đô hộ Việt Nam thì mới có dấu hiệu thay đổi. Nhiều Nho sĩ Việt bắt đầu ý thức về vận mệnh đất nước nên đi thi để có vị thế, có cơ hội tiếp sức với các Nho sĩ khác, và nhất là có tiếng nói mạnh với quần chúng... nhưng họ chỉ làm quan một thời gian rất ngắn như các cụ Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh..., hay hoàn toàn không ra làm quan như cụ Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp, Ngô Đức Kế, Võ Bá Hạp... Các Nho sĩ ấy bắt đầu mạnh dạn từ bỏ danh vọng, bổng lộc riêng tư, chọn con đường dấn thân gian khổ, đứng về phía người dân để cùng tranh đấu giành độc lập và phát triển đất nước.


Các cụ là những nhà trí thức, đồng thời là những nhà cách mạng rất đáng kính của dân tộc. Nhưng thời của các cụ, nhất là giai đoạn đầu, hầu hết vẫn còn lặn ngụp trong thế giới từ chương, thuộc làu kinh sách. Cụ Phan Bội Châu đã nhìều lần bầy tỏ nỗi đau buồn về vấn nạn dân trí thấp kém, nhưng chính cụ cũng phải tự phán đại ý rằng "Năm tôi 38 tuổi mà không biết 9x9 = 81 là gì." (cụ không biết phép nhân cửu chương), nói chi tới những môn khoa học khác.


Người Việt nổi tiếng chăm học và tỷ lệ thành đạt về học vấn khá caọ Ngày nay có gia đình tới 3, 4, thậm chí 5, 6 người làm Tiến Sĩ, Bác Sĩ, Cao Học (Thạc Sĩ) hay Kỹ Sư... Phải công nhận đó là những gia đình có cha mẹ tốt, biết hy sinh và giáo dục con cáị Các con cũng thông minh hơn người mới học thành tài ở những ngành khó khăn và tốn kém như vậy. Nhưng mặt khác, nhìn từ khía cạnh xã hội, dường như một số trong đó thiếu lý tưởng phục vụ, với họ thì công phu học hành cần phải được đền bù bằng việc kiếm tiền, không còn biết gì khác. Hầu như số người đó chỉ tìm một công việc tương đối nhàn hạ không phải lao động chân tay và nhất là lương caọ Một việc có tính cách dịch vụ hơn là nghiên cứu, khám phá, thiếu hẳn sáng kiến, mạo hiểm, dấn thân... Vì vậy, ngay cả bắt việc chước cũng không mấy khi bằng người chứ đừng nói tới hơn người.


Chúng tôi có dịp gặp và trao đổi với một vị Bác Sĩ ở Úc, vị ấy công nhận là từ khi ra trường tới giờ khoảng 40 năm trời, chỉ chăm đi làm kiếm tiền mà không chú tâm nghiên cứu, học hỏi thêm. Có lẽ rất nhiều trí thức Việt cũng ở trong tình trạng đó.
Bên cạnh việc thờ phượng các anh hùng dân tộc qua công lao giữ nước hay các thần linh, người Việt thường lấy từ chương làm nền tảng đo lường sự hiểu biết, rất trân trọng với những người khoa bảng nên đã lập bia tưởng niệm các Tiến Sĩ... nhưng không chú trọng đề cao các nhà khoa học, thực nghiệp, thương mại.

Ông Akio Morita (Thịnh Điền Chiêu Phu, 1921-1999), Tổng Giám Đốc công ty đồ điện tử lừng danh Sony, từng viết chung với Dân Biểu, sau là Đô Trưởng 3 nhiệm kỳ, Shintaro Ishihara (Thạch Nguyên Thận Thái Lang, 1932-) cuốn sách gây chấn động thế giới "The Japan That Can Say No" (Nhật Bản Nói Không (với Hoa Kỳ)) vào năm 1989. Ông Akio Morita là một số trong số những người mạnh mẽ chủ trương đả phá quan niệm coi trọng bằng cấp, ông đã viết nguyên một cuốn sách mang tên "Học Lịch Vô Dụng Luận" (学歴無用論) vào năm 1987 để nói rõ về vấn đề nàỵ Ông là người sáng lập công ty Sony, người đã khởi nghiệp bằng học vấn căn bản ở nhà trường, nhưng quan trọng là lăn lộn ngoài đời và nhất là sự kiên trì và óc sáng tạo.



Ngày nay, vấn nạn này ở Việt Nam rất trầm trọng và thường được gọi là bệnh thành tích, vì có nhiều người không quen nhìn thẳng vào thực tế yếu kém, chỉ thích đọc những thống kê tốt đẹp mà quên đi sự giả dối bên trong. Rất rất nhiều học lịch của học sinh Việt đã được nâng điểm, tô hồng không đúng với thực tế, chưa kể là dù có đúng thì lối học ly thuyết cũng không giúp ích gì cho thực dụng.



Ái quốc:
Ngày nay cái học đã thay đổi rất nhiều, mở rộng ra khoa học tự nhiên thì lại rất ít người chú trọng đến khoa học nhân văn, giềng mối đạo đức bị coi nhẹ, mọi thứ như được đánh giá qua sự thành công về tài chính. Như vậy, dường như lúc nào chúng ta cũng chạy theo một hướng, thiên lệch, thiếu sự trung dung, quân bình? Nhưng nói chung, tinh thần học để có mảnh bằng như cần câu cơm, cầu an, hưởng thụ chắc là không khác xưa mấy.


Có người thắc mắc không biết tinh thần du học sinh ngày nay so với những người đi theo Phong Trào Đông Du của cụ Phan Bội Châu năm 1905... thì thế nào?
Nay chúng ta không chỉ Đông Du, Tây Du mà còn "tứ phương du", có đến 3 triệu người, tuy rằng nhiều người trong số đó đã phải trả giá rất đắt nhưng đã có cơ hội ra nước ngoàị Trong khoảng 15 năm qua, chính thức cũng có thêm khoảng 35.000 du học sinh từ Việt Nam đi du học khắp nơi trên thế giới.



Thời Phong Trào Đông Du, du học sinh hầu hết là con em những người tuy rằng nghèo nhưng có lòng với đất nước. Tuổi tác thì từ 9 đến trên 20, học lực thì không rõ ràng, không đồng đều, họ được gửi đi bằng cách trốn lánh, sống cực kỳ thiếu thốn, vất vả trên đất Nhật, thậm chí có người phải đi ăn xin... với mục đích rõ ràng là cố gắng học để về giúp nước.


Ngày nay việc du học tương đối dễ dàng, hầu hết sinh viên đều nhắm tới các môn học thực dụng, nhưng không coi chuyện về giúp nước là quan tro.ng. Đa số sẽ ở lại nước ngoài vì hoàn cảnh đất nước chưa thuận tiện cho công việc cũng như vì thể chế độc tài, để rồi dần dần nhiều người lãng quên chuyện nước non, đi tìm sự sung sướng, hạnh phúc cho riêng bản thân!?


Nói như thế hoàn toàn không có nghĩa là tác giả bài bác việc học, mà ngược lại luôn luôn đề cao việc học, vì có học mới biết làm. Về việc học, không những học ở trường mà còn học trong sách, qua truyền thông và nhất là ở ngoài đờị Tác giả chỉ muốn nói nội dung học thiếu quân bình và thiếu mục đích vì mình song song với vì người.
Bàn về tính trọng hình thức thiếu thực dụng, giả thử nếu có vốn trong tay, người Việt làm gì?


1- Vốn tài chính.
Người Việt đã học và sao chép gần như nguyên văn lối từ chương khoa cử của Trung Quốc, nhưng không học lối kinh doanh cần cù, chịu khó và rất tính toán của ho.. Vì vậy, vốn tài chính của người Việt xưa nay yếu kém vì đất nước chậm tiến, làm ăn cá thể, ít nghĩ tới chuyện làm sao để "tiền đẻ ra thật nhiều tiền". Phong Trào Duy Tân năm 1904 đã mạnh mẽ cổ động việc làm ăn chung bằng cách thành lập nông hội, thương hội nhưng xem ra mãi cho đến nay vẫn chưa được thực thi mấy.
Nói chung, rất nhiều bậc cha mẹ sẵn sàng hy sinh, tiếp kiệm để dành tiền lo cho con ăn học. Nhưng cũng không ít người thích bề ngoài, có đồng nào là ăn chơi đồng đó cho chắc, đối với họ, dường như con đường đầu tư học hành quá gian nan mà lại xa vời, mơ hồ.


Tài chính mà người Việt ở hải ngoại và người đi lao động gởi về cho thân nhân trong 30 năm qua là khoảng 50-60 tỷ Mỹ Kim tiền mặt. Số tiền ấy thường không đầu tư vào kỹ nghệ, mà lo xây nhà ở, lo mua sắm nên tư bản không tăng trưởng. Còn đầu tư nếu có thì thường là lo xây khu giải trí, mua máy móc về mở các dịch vu.... Nhà hàng xóm tân trang, lên cao tầng thì mình cũng ráng lo tiền để cất cao hơn, rộng hơn, tranh nhau "tiếng gáy" mà không tính tới nhu cầu, có thực sự cần dùng không, hay rồi để trống!? Một số người trong nước đang tay trắng, được thân nhân ở hải ngoại giúp tiền thì đâm ra ăn chơi, không biết vận dụng đồng tiền đó cho việc làm ăn lâu dài...
Ngay người Việt sống ở hải ngoại, trong những xã hội thực dụng, nhưng vẫn còn nhiều người ôm nặng tinh thần ganh đua, hơn nhau cái nhà đẹp, cái xe mới...



2- Vốn kiến thức.
Kiến thức khoa học của người Việt thường là thuần lý, cũng có khi được kể là rộng nhưng không sâu, nhất là không đem áp du.ng. Ngay cả trong khoa học nhân văn cũng vậy, như khi người Việt học chữ Hán, dù là lên tới trình độ cao, thường đa số vẫn ở không học nói được tiếng Hoa, vẫn dừng ở trong phạm vi văn chương, thi phú không tiến sang văn xuôi (bạch thoại), không đưa vào thực dụng.
Biết rành chữ Hán mà chỉ quanh quẩn với chữ nghĩa, câu đối... Có vốn chữ Hán quý giá mà không biết khai triển thành 3 chìa khóa quan trong:
a- Hiện tại: Giúp mở rộng giao thương giữa Việt Nam với các quốc gia thuộc hệ chữ Hán như Trung Quốc,Hồng Kông , Đài Loan, Nhật Bản và cả Hàn Quốc. (70% vốn đầu tư vào Việt Nam bây giờ là từ các quốc gia thuộc hệ chữ Hán)
b- Quá khứ: Giúp khai quật di sản Hán, Nôm bị bỏ quên, vẫn nằm ngủ trong các kho sách hay rải rác trong dân gian.
c- Tương lai: Giúp phiên dịch các thuật ngữ, mở đường thăng tiến và phổ cập các thuật ngữ khoa học tự nhiên cũng như khoa học nhân văn...
Người Hoa đi đến đâu, họ học tiếng nơi đó, tuy phần đọc viết họ thường kém, nhưng nói được đủ để làm ăn buôn bán. Tới hầu hết các nhà hàng ăn cỡ trung nào của người Hoa trên thế giới cũng thấy có người nói được tiếng Việt nên người Việt vào gọi thức ăn dễ dàng, còn tiệm ăn Việt Nam thì không quan tâm chuyện nói tiếng Hoa.



Trọng nội dung hay hình thức?
Về vấn đề này, có thể tạm chia ra hai giới:
- Một số người trong giới trí thức Việt thường có quan niệm trọng tinh thần hơn vật chất, trọng nội dung hơn hình thức, cho cuộc sống đạm bạc là đủ, bàn cãi nhiều hơn là bắt tay vào việc, xa rời thực tế nên không cố công làm việc để cải thiện cuộc sống.
- Đa số người trong giới bình dân Việt thì không tìm hiểu sâu xa, dễ bị thu hút, lôi cuốn bởi những hình thức bề ngoài. Họ chậm chạp đi theo giới trí thức, nhưng nếu giới này không đưa ra điều gì mới lạ có lợi ích thực tiễn và trước mắt, thì họ lại càng cứ thế yên tâm mà đi theo lối mòn có sẵn.
Nên nói chung cả hai giới không có những bước đột phá ngoạn mục. Cùng lắm là bắt chước nửa vời, một cách hình thức những điều học được từ bên ngoài... điều đó đã ảnh hưởng lớn, làm cản trở tiến độ phát triển của quốc giạ Các trào lưu văn hóa thời thượng về ăn mặc, âm nhạc... của Âu-Mỹ dễ dàng ảnh hưởng người Việt, nhưng về lối suy nghĩ, làm việc của họ đối với người Việt thì sự ảnh hưởng vẫn còn ở mức độ rất thấp.
Người trọng hình thức thường ăn mặc mầu mè để khoe khoang, miệng lanh lợi nhưng thiếu thực chất. Thực ra ở mực độ nào đó, hình thức là cách che mắt và che dấu sự yếu kém bên trong.

- - - - -


Để kết luận, chúng tôi xin mượn lời của anh Trọng Tín, một sinh viên du học Nhật Bản, luôn luôn trăn trở về tình hình đất nước, dân tộc như sau:
"... Mặc dù đã độc lập về mặt chủ quyền song họ vẫn không hề nhận thấy rằng họ vẫn là một trong những dân tộc bị nô lệ bởi tư tưởng. Cuộc xâm lăng nô dịch của người Pháp tưởng rằng đã báo hiệu cho dân tộc những tư tưởng mới, tuy nhiên cho đến nay người Việt vẫn vùng vẫy, luẩn quẩn trong cái mớ tâm lý nô lệ hàng ngàn năm ấỵ Những nét thể hiện tiêu biểu nhất là:
- Tôn sùng và chạy theo "bằng cấp", "khoa bảng", hình thức chủ nghĩa.
- Sùng bái cá nhân và tâm lý ỷ lại trông chờ phép mầu nhiệm từ "các anh hùng cái thế" dẫn đến tâm lý nô lệ, không tự lực, tự cường, không tự phấn đấu vươn lên.
- Lười biếng trong việc suy nghĩ cải tiến phương pháp và đường lối lạc hậu dẫn đến bảo thủ trong tư duy và tự đào thải các cơ hội giao tiếp để học hỏị Từ đó tính thần vấn và tự vấn yếu, vì vậy tinh thần cách mạng không được phát triển.
- Cục bộ địa phương, tinh thần đoàn kết, tinh thần cộng đồng kém do xuất phát từ hình thức làm ăn đơn giản, nhỏ, lẻ.
- Tính sáng tạo yếu do tự hài lòng với cuộc sống vật chất tầm thường
- Dân tộc Việt Nam đang đứng trước những nguy cơ tụt hậu do hai điều:
 + Những người đang lãnh đạo đất nước, phần lớn là những kẻ thiếu trình độ nên thường giáo điều, gian trá và mang tư tưởng nô lệ ngoại bang.
 + Những người dân thì chưa tự vấn bản thân, vì chưa thoát khỏi tâm lý bảo thủ, cầu an, lười biếng, ỷ lại, cục bộ..."

DTM - 2006, 2007

- - - - - -

-
Chúng tôi dự trù viết loạt bài Tự Vấn gồm 10 đề tài, nay đã được 5 đề tài, sẽ tiếp tục viết và kính mong sự góp ý của tất cả quý độc giả.

TỰ VẤN 1: Người Việt Mạnh Yếu Chỗ Nào?
TỰ VẤN 2: Vai Trò Văn Hóa Trong Phát Triển Quốc Gia
TỰ VẤN 3: Tại Sao Người Việt Hay Đi Trễ? Phải Giải Quyết Ra Sao?
TỰ VẤN 4: "Kết Đoàn" Mà Không "Đoàn Kết"!?
TỰ VẤN 5: Trọng Từ Chương, Khoa Cử? Trọng Hình Thức?
Đang viết:
TỰ VẤN 6: Tinh Thần Vị Kỷ!? Ganh Đua, Ganh Tỵ!?
TỰ VẤN 7: Tính Nói Dối, Quyết Định Liều, Giữ Lời!?
TỰ VẤN 8: Tính Cẩu Tha?? Nhìn Xa, Nghĩ Sâu?
TỰ VẤN 9: Tinh Thần Tự Tôn - Tự Ty, Vọng Ngoại!?
TỰ VẤN 10: Tìm Về Dân Tộc... Con Đường Canh Tân Đất Nước.

Song song đó, chúng tôi cũng đã viết loạt bài:
1- Con Đường Dân Chủ
2- Quy Luật Đấu Tranh
3- Đấu Tranh Bạo Động Hay Bất Bạo Động
4- Cách Vật Trí Tri…
5- Tiếng Việt Mến Yêu 1
6- Tiếng Việt Mến Yêu 2
7- Tiếng Việt Mến Yêu 3…

Quý độc giả nào muốn nhận những bài trên xin cho địa chỉ e-mail, chúng tôi sẽ gửi tới. Liên lạc:
dothongminh2001@yahoo.com



Saturday, December 13, 2008

TRẦN BÌNH NAM * TRUNG QUỐC DẠY BÀI HỌC NỮA?



Trung quốc lại muốn
dạy Việt Nam một bài học

Trần Bình Nam



Hôm 7 tháng 8, 2008 trên đường đến Bắc Kinh dự Thế Vận Hội mùa hè thứ XXIX (khai mạc ngày 8 tháng 8), tổng thống George W. Bush dừng chân tại Bangkok. Đến Bangkok, chủ ý của tổng thống Bush – theo lời ông – là để thăm viếng Thái Lan, một quốc gia đồng minh quan trọng nhất sau khối NATO, vừa là quốc gia đứng đầu các nước dân chủ trong khối Asean (1) để phát họa chính sách Hoa Kỳ tại Á châu trước khi ông mãn nhiệm. Trong một bài diễn văn dài hơn 30 phút tổng thống Bush chỉ nhắc đến Việt Nam hai lần, nhưng dường như Trung quốc và Việt Nam là hai quốc gia tổng thống Bush muốn nói đến nhiều nhất trong bài diễn văn của ông.




Việt Nam được nói đến như một thành viên của Hiệp hội Asean. Và nếu lồng trong tinh thần văn bản của Thông cáo chung Việt-Mỹ ngày 24/6/2008 nhân cuộc thăm viếng Hoa Kỳ của thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng qua đó Hoa Kỳ cam kết tôn trọng và bảo vệ sự vẹn toàn lãnh thổ Việt Nam (2), người ta có thể hiểu tổng thống Bush muốn nhấn mạnh đến quan hệ của Việt Nam và Hoa Kỳ trong bối cảnh các biến chuyển gần đây.


Tổng thống Bush nói: “Hoa Kỳ đã cải tiến quan hệ với tất cả các quốc gia có sức mạnh tại Á châu. Và ai cũng phải ngạc nhiên về thành quả này. Những điều kiện thực tế đã làm cho sự xích lại gần nhau đó có thể xẩy ra. Trong thời đại toàn cầu hóa, khi đối diện với một mối đe dọa chung, tự do và dân chủ đến cho một nước là cái lợi chung cho các nước dân chủ khác nữa chứ không phải là nơi này có lợi thì nơi kia phải bị thiệt thòi. Tương lai của các quốc gia nằm trong sự thay đổi cùng có lợi đó. Tất cả các nước trong vùng đều có trách nhiệm bảo đảm rằng Á châu sẽ phát triển trong tự do thịnh vượng và hy vọng.” (3)



Về Trung quốc mối bận tâm nhất của tổng thống Bush không phải vì chính quyền Bắc Kinh vi phạm nhân quyền và các quyền căn bản khác của con người (mặc dù ông Bush nói nhiều đến vấn đề này) mà bận tâm vì mục tiêu chiến lược của Trung quốc là tranh giành với và áp đảo ảnh hưởng của Hoa Kỳ trên thế giới trong thế kỷ này.
Tổng thống Bush nói: “Tại Á châu và trên toàn thế giới mọi người tự hỏi hướng tương lai của Trung quốc là gỉ”. Và ông xác định: “Mối quan hệ giữa Hoa Kỳ và Trung quốc là một mối quan hệ phức tạp và tôi đã tìm cách gỡ rối mối quan hệ này dựa trên 4 nguyên tắc : củng cố liên minh, tìm bạn mới, thắt chặt quan hệ kinh tế, và sau cùng hợp tác bảo vệ quyền lợi chung. Bốn nguyên tắc này giúp Hoa Kỳ và đồng minh tại Á châu tạo nên một chính sách căn bản để đối đáp với Trung quốc. Hòa bình và thịnh vượng tại Á châu đòi hỏi sự hợp tác của Trung quốc và Hoa Kỳ. Và điều quan trọng là mọi động thái của Hoa Kỳ tại Á châu Thái bình dương đều có chủ đích và bền chặt.” (4)




Sau cùng tổng thống Bush xác định chính sách “chiến tranh và hòa bình” với Trung quốc qua vấn đề Đài Loan. Tổng thống Bush xác định rằng Hoa Kỳ ủng hộ chính sách một nước Trung Hoa, nhưng Hoa Kỳ sẽ không để cho Trung quốc dùng vũ lực để tước đoạt quyền của người Đài Loan có một lối sống riêng của họ.(5)
Trong hai năm qua có những biến chuyển căng thẳng trong mối quan hệ tay ba giữa Hoa Kỳ, Trung quốc và Việt Nam. Nhưng tổng thống Bush không làm nổi bật sự căng thẳng này vì chưa cần thiết (và các cơ sở truyền thông Tây phương nhạy cảm chính trị cũng vậy), nhưng các sự việc diễn ra trong vùng Á châu Thái Bình Dương đã không che dấu được sự căng thẳng này.




Trên bàn cờ Đông Nam Á các sự việc dồn dập xẩy ra:
(1) Đại hội 10 của đảng Cộng sản Việt Nam giữa năm 2006.(6)
(2) Tháng 12/2007 Trung quốc công bố ý định thành lập thành phố Tam Sa cấp huyện sát nhập vào tỉnh Hải Nam bao gồm hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.
(3) Ngày 1/6/08 tại hội nghị thượng đỉnh về an ninh Á châu ở Singapore bộ trưởng quốc phòng Hoa Kỳ Robert Gates tuyên bố Hoa Kỳ không quên cam kết của mình đối với an ninh và ổn định tại Á châu.
(4) Cuộc thăm viếng tháng 6/08 của Tổng bí thư Nông Đức Mạnh tại Bắc kinh và sự thiết lập đường dây điện thoại nóng giữa hai thủ đô.
(5) Chuyến công du Hoa Kỳ 23-26/6/08 của thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.
(6) Trung quốc âm thầm (trong những tháng đầu năm 2008) áp lực công ty ExxonMobil chấm dứt các dự tính dò tìm và khai thác dầu khí với Việt Nam
(7) Phản ứng mạnh mẽ của Bộ ngoại giao Hoa Kỳ rằng việc làm ăn của ExxonMobil với Việt Nam là chính đáng và theo đúng luật lệ quốc tế.
(8) Việt Nam chính thức yêu cầu công ty ExxonMobil tiếp tục các dự tính giao kèo với Việt Nam bất chấp lời cảnh cáo của Trung quốc .



Các sự việc này báo hiệu khá rõ ràng có sự chuyển hướng trong chính sách ngoại giao của Việt Nam từ nhiều năm nay, ít nhất kể từ đại hội 10 của đảng Cộng sản Việt Nam, và sự quan tâm của Hoa Kỳ (hay ít nhất là của bộ trưởng quốc phòng Robert Gates) đối với vùng Á châu Thái Bình Dương.
Những dấu hiệu khác như cuối tháng 7/2008 Bộ chính trị đảng Cộng sản Việt Nam cách chức đột ngột 5 tướng lãnh (và cho về vườn 4 trong 5 tướng) lãnh đạo quân khu thủ đô, tiếp theo đó là việc thay đổi nhân sự lãnh đạo tại một số Bộ và Tỉnh, Thị, được giải thích là chuẩn bị nhân sự cho đại hội 11 của đảng Cộng sản Viêt Nam cho thấy đã có một cuộc chỉnh lý quan trọng trong khối lãnh đạo trước nhu cầu an ninh của đất nước.



Trong bối cảnh đó, các quan sát viên ghi nhận phản ứng của Trung quốc qua một bài báo trên tờ Văn Hối Báo phát hành tại Hồng Kông và nội dung một số blog và trang Web tại Trung quốc của những nhóm nghiên cứu hay thương mãi nói là không thuộc chính quyền.



Tờ Văn Hối Báo bằng tiếng Hoa ở Hồng Kông (7) phát hành ngày 1/8/08 viết rằng việc Việt Nam “thực hiện ước mơ khai thác dầu ở Nam Hải nhờ sự giúp đỡ một công ty Mỹ” là một trò chơi “tiểu xảo” và Trung Quốc cần “giảng cho Việt Nam một bài về thế nào là đồng thuận” (8), ám chỉ Việt Nam đã không giữ lời cam kết với Trung quốc năm 1999 và qua văn bản (như một thành viên của khối Asean) đồng ý giải quyết các bất đồng về lãnh thổ trong Biển Đông với Trung quốc bằng đường lối hòa bình qua thương lượng song phương theo tinh thần của “Thỏa ước về cung cách hành xử và giải quyết các tranh chấp trên biển Đông” (Declaration on the Conduct of Parties in the South China Sea – DOC) ký năm 2002.




Để yểm trợ cho lời đe dọa này, mạng Sina đưa ra một kế hoạch hành quân chi tiết thanh toán Việt Nam trong vòng 31 ngày (9). Mặc dù những người chủ trương mạng Sina nói là không thuộc chính phủ, nhưng nội dung cho thấy những người viết là những chuyên viên quân sự nắm vững chiến lược và chiến thuật quân sự và sự áp dụng các phương tiện kỹ thuật mới như sự phối hợp hải, lục, không quân trong những trận đánh hiện đại như cuộc oanh kích của không quân Hoa Kỳ vào Bắc Việt vào những năm 1966-1972 và cuộc không tập của Hoa Kỳ trong hai cuộc chiến Iraq 1991 và 2003.




Người viết mạng Sina đã đưa ra những nghiên cứu về thực địa Việt Nam và chủ trương ba mũi tiến công bao vây thủ đô Hà Nội, hai mũi từ Vân Nam và Quảng Tây tiến xuống, một mũi bằng quân đổ bộ chiếm đồng bằng Thanh Hóa đánh ngược lên phía Bắc. Rút kinh nghiệm không kích của Hoa Kỳ mạng Sina chủ trương bộ binh Trung quốc phải tiến chiếm Việt Nam trong một thời gian ngắn để dùng bộ binh trên diện địa hướng dẫn các cuộc oanh kích tiêu diệt của không quân, đồng thời không cho Hoa Kỳ kịp thời can thiệp.
Xét tương quan quân sự giữa Trung quốc và Hoa Kỳ như hiện nay không ai nghĩ Trung quốc dám tấn công Việt Nam một cách quy mô như vậy. Cho nên bài báo của Văn hối Báo và các thông tin trên mạng Sina chỉ có thể là một dấu hiệu Trung quốc muốn đe dọa Việt Nam. Trung quốc cảnh cáo Việt Nam về sự thay đổi lập trường gần đây và nhắm mục đích yểm trợ thành phần còn lưng chừng trong nhóm lãnh đạo cấp cao tại Hà Nội.
Nhưng câu hỏi vẫn là: Trung quốc có đánh Việt Nam không nếu Việt Nam cương quyết liên minh với Hoa Kỳ để bảo vệ kho dầu trong biển Đông?




Thực tế là Trung quốc có thể đè bẹp Việt Nam, nhưng Trung quốc chỉ có thể thắng ván cờ lớn nếu Hoa Kỳ không can thiệp. Trung quốc có thể nghĩ Hoa Kỳ sẽ không can thiệp vì đang bận tay với hai cuộc chiến Iraq và Afghanistan, quân lực đang bị trải mỏng, hoặc không kịp can thiệp nếu Trung quốc tấn công chớp nhoáng như kế hoạch hành quân mạng Sina trình bày ở trên.




Trung quốc có dám đùa với lửa không? Tại Hoa Kỳ có một khuynh hướng lượng định rằng nếu trước sau Hoa Kỳ và Trung quốc cũng sẽ đụng độ nhau trên chiến trường (trong thế kỷ này), thì đụng sớm có lợi cho Hoa Kỳ hơn là đụng chậm.
Và nếu vậy, nếu Trung quốc đánh chiếm Việt Nam để kiểm soát toàn bộ con đường biển huyết mạch qua quần đảo Trường Sa thì đây là cơ hội ngàn năm một thuở để Hoa Kỳ nhân cơ hội đại tấn công hủy diệt tiềm năng quân sự và kinh tế của Trung quốc và đẩy lùi mối đe dọa của Trung quốc xa ra năm bảy chục năm. Đây cũng là một kịch bản để các nhà lãnh đạo hiện nay tại Việt Nam vạch một con đường sống cho dân tộc.
Nếu chính sách đe dọa của Trung quốc không làm cho Việt Nam lùi bước thì Trung quốc sẽ chọn con đường nảo? Đe dọa không được thì gặm nhấm. Trung quốc có thể sẽ dùng chiến thuật bàn tay sắt bọc nhung “nhẹ lời trên bàn hội nghị, nặng tay trên thực địa” đánh chiếm dần các hải đảo trong quần đảo Trường Sa như Trung quốc đã làm năm 1988 và gây nên tình trạng bất ổn trong Biển đông để làm nản lòng các công ty dầu trên thế giới, nhất là các công ty dầu khí của Hoa Kỳ.




Để yểm trợ sách lược này Trung quốc sẽ dùng sức mạnh kinh tế và thế chính trị toàn cầu của mình (qua thế chủ nợ của Hoa Kỳ và vai trò thành viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc) để tạo khó khăn cho Hoa Kỳ.
Biển Đông lại dậy sóng! Và qua đó thế mất còn của Việt Nam.



==

Trần Bình Nam
Aug. 11, 2008
binhnam@sbcglobal.net
www.tranbinhnam.com
(1) Trích diễn văn của tổng thống Bush đọc tại Bangkok “…America looks to Thailand as a leader in the region and a partner around the world. I was proud to designate Thailand a major non-NATO ally of the United States.”

(2) Bản Thông cáo chung viết Hoa Kỳ “tái khẳng định sự ủng hộ của Chính phủ Hoa Kỳ đối với chủ quyền quốc gia, an ninh, toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.”
Hoa Kỳ và Việt Nam sẽ “trao đổi việc mở rộng và tăng cường đối thoại giữa các quan chức cao cấp của hai nước. …. sẽ ủng hộ việc lập cơ chế đối thoại mới về chính trị-quốc phòng và chính sách nhằm tăng cường sự trao đổi thường xuyên và sâu hơn về các vấn đề chiến lược và an ninh”.

(3) Trích diễn văn của tổng thống Bush đọc tại Bangkok: “Overall, America has improved our relationships with all of Asia's major powers at the same time. Experts would have said this was impossible because of historical tensions between these nations. But something has rendered the old patterns obsolete: In an era of integrated markets and common threats, the expansion of freedom in one nation benefits all other free nations. This change marks a sharp departure from the zero-sum mentality of the past. And this change provides a clear change for the future: Every nation in this region has a stake in ensuring that Asia continues to grow in liberty and prosperity and hope.”
(4) Trích diễn văn của tổng thống Bush: “One question on the minds of many here in Asia -- and many around the world -- is the future direction of China.” ….
“Over the years, America has had complex relations with China. I was determined to set our relationship on sturdy and principled footing. Four goals we've pursued in Asia -- reinforcing our alliances, forming new democratic partnerships, deepening our economic ties, and cooperating on shared challenges -- have given America and our allies valuable new platforms from which to confidently engage China. A peaceful and successful future for this region requires the involvement of both China and the United States. And it's important that America's engagement throughout the Asia Pacific be purposeful and enduring.”
(5) Trích diễn văn của tổng thống Bush tại Bangkok: “America has also stressed our determination to maintain peace across the Taiwan Strait. From the beginning of my presidency, I have stated clearly that America's approach to Taiwan would be based on our longstanding "one-China" policy, our three joint communiques, and our steadfast commitment to the security of Taiwan's democracy under the Taiwan Relations Act. I've also articulated a principle that there should be no unilateral attempts by either side to alter the status quo. And as a result of frank engagement and firm diplomacy, the tensions that once roiled the Taiwan Strait have calmed, and we're witnessing a new period of stability and peace.”

(6) Xem (Việt Nam trên đe dưới búa)

(7) Một tờ báo thường chuyển những tín hiệu của Bắc Kinh.

(8) Nhắc lại lời của Đặng Tiểu Bình nói việc xua quân xâm lăng Việt Nam tháng 2/1979 là để dạy cho Việt Nam một bài học vì Việt Nam đã lật đổ chính quyền Polpot thân Bắc Kinh.

(9) Link http://de.blog.360.yahoo.com/blog-x1zJTRU5dKHoggT9liVN5liH8KM-?cq=1&p=484#comments

**

KHUYẾT DANH * XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM : TO VÀ NHỎ

KHÔNG RÕ TÁC GIẢ



Việt Nam ! Một đất nước nhỏ, trong đất nước rất nhỏ đó có một cái thủ đô rất to. Trong cái thủ đô rất to này có những con đường rất nhỏ. Bên những con đường rất nhỏ lại có những ngôi biệt thự rất to Trong những ngôi biệt thự rất to có những cô vợ nhỏ. Những cô vợ nhỏ dành cho các ông quan to. Những ông quan to đeo những cái cặp rất nhỏ, trong những cái cặp rất nhỏ thường có những dự án rất to. Những dự án rất to nhưng hiệu quả lại rất nhỏ. Hiệu quả rất nhỏ nhưng thất thoát thì rất to , những thất thoát đó thường được coi là những lỗi rất nhỏ..

TIN TỨC TRUNG CỘNG ĐÒI THÊM ĐẤT



Tin Khẩn: Việt Nam Sắp Mất Thêm
Bãi Tục Lãm Thuộc Tỉnh Quảng Ninh



Theo nguồn tin từ giới quân sự cao cấp cộng sản Việt Nam và được kiểm chứng qua http://take2tango.com/MyFiles/image/News/12-2008/Tuan%205/QuangNinh-01.jpgmột số thành viên ngoại giao đoàn tại Hà Nội thì Bắc Kinh đang đòi buộc cộng sản Việt Nam phải nhượng thêm Bãi Tục Lãm thuộc tỉnh Quảng Ninh cho Trung Cộng trước khi dứt điểm kế hoạch cắm cột mốc dọc theo biên giới 2 nước.

Trung Cộng đòi các lãnh tụ cộng sản Việt Nam phải trả lời dứt khoát tại cuộc họp giữa hai bên ngày 12/12/2008 tại vùng Hữu Nghị - Lạng Sơn.

Tục Lãm là một trong 3 điểm nóng nhất còn bàn cãi giữa hai bên, nhưng hiện đang thuộc chủ quyền của Việt Nam. Hai vùng còn lại là khu Bản Giốc và khu mộ Cao Bằng. Phía Trung Quốc đòi Việt Nam phải nhượng hẳn Tục Lãm và nhượng thêm đất 2 vùng kia.

Cũng theo nguồn tin trên, các ủy viên Bộ Chính Trị đảng cộng sản Việt Nam đã nghiêng hẳn về giải pháp giao nhượng Bãi Tục Lãm cho Tàu Cộng, bất kể sự phản đối từ phía quân đội.

Đảng cộng sản Việt Nam do Hồ Chí Minh thành lập đã ươn hèn khiếp nhược, cắt đất của tổ tiên dâng hiến cho ngoại bang.

Hiện nay Tàu Cộng đã áp lực với các đầu sỏ đảng cộng sản Việt Nam tiếp tục nhượng thêm đất cho bọn chúng.

Còn đảng cộng sản Việt Nam là còn mất lần mất hồi đất đai mà tổ tiên đã tốn xương máu biết bao đời mới giữ được và lưu truyền cho hậu thế cháu con.

Theo Vietland

Friday, December 12, 2008

ĐỖ THÔNG MINH * TỰ VẤN 1





ĐỖ THÔNG MINH *TỰ VẤN 1


TỰ VẤN 1:
Người Việt Mạnh Yếu Chỗ Nào?

Đỗ Thông Minh



Chuyện quá khứ thắng hay thua, không quan trọng bằng nhìn lại mình bây giờ để hướng vào tương lai. Trong chúng ta, chắc ai cũng có dịp nhìn lại mình, nhìn lại dân tộc mình. Vui buồn lẫn lộn bởi những xấu tốt do chính mình tạo ra và tự hỏi nguyên do từ đâủ Khi nhìn ra thế giới, nói chung, chúng ta còn thua kém nhiều dân tộc trên thế giới, thế nên, xin miễn được đề cao người mình, những cái hay cái tốt mà nhiều người đã nói tới, mà hãy cùng nhau nhìn thẳng vào khuyết điểm của mình, để may ra có sửa chữa, thăng tiến hơn không.

- - -

Thấy người mà nghĩ đến ta, chúng tôi thấy chúng ta phải quan tâm nhiều hơn và đúng mức đối với vấn đề của dân tộc, vì rằng, nói chung dân tộc ta kém xa các dân tộc tiến bộ khác trên thế giới. Còn lý do tại sao chúng ta kém, chúng ta cần thẳng thắn nhìn vào sự thực. Đã có hằng trăm cuốn sách khen người Việt rồi, nếu chúng ta tự mãn với những điều đó, liệu chúng ta khá lên không, hay từ bao trăm năm qua vẫn thế. Văn hóa Việt có những ưu khuyết điểm nào? Ai cũng biết một số ưu điểm, nhưng phải biết khai thác ưu điểm và quan trọng hơn là nhìn thẳng vào khuyết điểm lớn để sửa chữa ngay.




Ai chẳng tự ái, muốn bênh vực dân tộc mình, nhưng nhìn lại từ thời hữu sử tới nay đã hơn 2.000 năm qua, chúng ta chỉ có một số thời gian ngắn yên bình thịnh trị, còn hầu hết là chiến tranh, không nội chiến thì ngoại xâm. Nội chiến vì chúng ta chia rẽ, còn ngoại xâm vì chúng ta ở một vùng địa lý chính trị quan trọng mà lại không biết giữ. Tại sao dân tộc ta cứ mãi mãi lầm than, khốn khổ như vậy?
Học giả Trần Trọng Kim trong cuốn Việt Nam Sử Lược trang 6 đã viết: "Về đàng trí tuệ và tính tình, thì người Việt có cả các tính tốt và các tính xấụ Đại khái thì trí tuệ minh mẫn, học chóng hiểu, khéo chân tay, nhiều người sáng dạ, nhớ lâu, lại có tính hiếu học, trọng sự học thức, quý sự lễ phép, mến điều đạo đức: lấy sự nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, làm 5 đạo thường cho sự ăn ở. Tuy vậy, vẫn hay có tính tinh vặt, cũng có khi quỷ quyệt, và hay bài bác chế nhạo. Thường thì nhút nhát, hay khiếp sợ và muốn có sự hòa bình, nhưng mà đã đi trận mạc thì cũng có can đảm, biết giữ kỷ luật.".



Học giả Nhất Thanh Vũ Văn Khiếu trong cuốn Đất Lề Quê Thói (Phong Tục Việt Nam) trang 68, cũng nhận xét rằng: "Người mình phần đông thường ranh vặt, qủy quyệt, bộ tịch lễ phép mà hay khinh khi nhạo báng. Tâm địa nông nổi, khoác lác, hiếu danh...".
Chúng ta có rất nhiều gương bất khuất, dám hy sinh tính mạng để bảo vệ đất nước, dám vượt biển, vượt biên tìm tự do. Nhưng nói chung các hành vi ấy còn thụ động và tiêu cực. Không trực tiếp góp phần cụ thể trong việc phát triển đất nước. Chúng ta với những đức tính tốt, cũng đã có nhiều thành tựu, nhưng những tính xấu đã làm lu mờ hay làm tan nát ít nhiều những thành tựu đó.
Thế giới đã có các cuốn "Lịch Sử Những Thói Xấu Của Người Pháp", "Người Nhật Xấu Xí", "Người Mỹ Xấu Xí" và mới đây có cuốn "Người Trung Quốc Xấu Xí" của ông Bá Dương, do ông Nguyễn Hồi Thủ ở Pháp dịch ra tiếng Việt, mà tạp chí Thế Kỷ 21 và một số người cho là chỉ cần thay chữ "Trung Quốc" bằng chữ "Việt Nam" thì cũng đúng thôi. Cuốn sách xuất bản ở Đài Loan và năm 2000 được in và phát hành tại Trung Quốc là điều chúng ta càng nên quan tâm. Tôi không đồng ý lắm với ông Bá Dương vì lối phê bình mang nặng tính tự ty mặc cảm, bài bác tất cả những gì của mình, trong khi mới nhìn của người một cách phiến diện mà đã khen ngợi một cách quá đáng. Trước đó, đại văn hào Lỗ Tấn của Trung Quốc đã từng ví người Hoa như ba con vật: "Tàn bạo như sư tử, gian sảo như hồ ly, nhút nhát như thỏ đế."... Không vì những ý kiến thẳng thẳn đó mà dư luận người Hoa cho rằng ông bôi bác hay phản bội dân tộc.




Giới sĩ phu, trí thức Việt từ xưa cũng đã từng đề cập tới vấn đề này như Nguyễn Trãi, Tản Đà, Nguyễn Văn Vĩnh, Trương Tửu... Chúng ta được biết đến một số tác phẩm, bài viết như:
1- Báo Phong Hóa có mục thường xuyên "Xét Tật Mình" hay tranh biếm Lý Toét, Xã Xệ...
2- Việt Nam chúng ta đã từng có cuốn "Tự Phán" (Phan Bội Châu Niên Biểu) của cụ Phan Bội Châu viết sau khi bị Pháp bắt và an trí ở Huế năm 1925.
3- Năm 1998, có bài "Thập Đại Thất Bại Hay Thập Đại Bất Hạnh" của Đức Ông Giám Mục Nguyễn Văn Thuận.
4- Năm 2001, có cuốn "Tổ Quốc Ăn Năn" của ông Nguyễn Gia Kiểng, cuốn sách đào sâu nhiều khuyết điểm trong văn hóa, lịch sử nhưng có nhiều dữ kiện khó xác định và đi quá xa gây ra nhiều tranh luận.
5- Năm 2002, có cuốn "Văn Hóa Trì Trệ Nhìn Từ Hà Nội Đầu Thế Kỷ 21" của bà Lê Thị Huê..
6- Năm 2003, có cuốn "Nhìn Lại Mình" của anh Lê Khôi, "Dân Tộc Tự Vấn" của bình luận gia Trần Văn Sơn... đã nêu lên nhiều khuyết điểm của người mình.
7- Năm 2003, trên mạng "Tin Tức Việt Nam" tại Việt Nam (http://www.tintucvietnam.com), trong mục Nhịp Sống Trẻ - Góc Nhìn..., có một loạt khoảng 15 bài thuộc loại tự vấn mang tên "Người Việt Xấu Xí"... của nhiều tác giả khác nhau.
- Ai Dám Nhận Là Mình Xấu Xí? Phạm Thị Vàng Anh.
- Chữ Tín Không Quan Trọng, Cao Tự Thanh - Sơn Nam
- Đi Tìm Nhân Cách Người Việt Nam, KS Trần Quốc Khảị
- Giáo Dục Nước Ta Đang Đứng Ở Đâu? GS-TSKH Nguyễn Xuân Hãn.
- Giáo Dục Việt Nam: Ngôi Nhà Cần Đổ Lại Móng, GS-TSKH Dương Thiệu Tống.
- Lấy Hòa Làm Quý, Nhà Nghiên Cứu Cao Tự Thanh.
- Lòng Ganh Tị Của Các Nhà Khoa Học, Cao Xuân Hạọ
- Những Nghịch Lý Giáo Dục, Hoàng Tụỵ
- Những Tính Cách Trì Níu Dân Tộc, GS Nguyễn Chung Tú.
- "Sợ" Những Vật Lạ, Khuê Văn - Thảo Hảọ
- Thiếu Tính Hợp Tác, GS-TSKH Dương Thiệu Tống.
- Thích Buộc Mình Vào Mảnh Đất Trời Tây, Cao Xuân Hạọ
- Vì Sao Học Sinh Việt Nam Không Sáng Tạo, Nguyễn Hiếu Nhân...
8- Năm 2004, Đức Giám Mục Mai Thanh Lương gởi Tâm Thư cho đồng hương...
9- Ở Việt Nam có cuốn "Ngẫu Hứng Sáng Trưa Chiều Tối" của Tạ Duy Anh.
10- Năm 2005, có bài "Chân Dung Người Việt Quốc Gia Xấu Xí" của Nguyễn Việt Tự Dọ Trong đó nhấn mạnh đến tiềm năng rất lớn của hơn 3 triệu người Việt ở hải ngoại, tuy đang sống ở mơi trường tự do, dân chủ nhưng đã không đoàn kết đủ chặt chẽ để huy động sức mạnh của chính mình.


11- Từ năm 2003, Giáo Sư Khảo Cổ kiêm Cổ Sử Trần Quốc Vượng cho hay định viết cuốn "Những Thói Hư Tật Của Người Việt Nam Trước Công Cuộc Đổi Mới", nhưng còn đang giai đoạn chờ duyệt nội dung thì đã mất ngày 8/8/2005...
Tuy mỗi người nhìn và đặt vấn đề một cách khác nhau, nhưng họ có chung niềm trăn trở và chúng tôi công nhận là họ đã can đảm nói lên những điều xấu của người mình, là một trong những điều tối kỵ, ít ai dám nói tớị Đôi khi chúng ta cần gạt bỏ tự ái để nhìn thẳng vào sự thật, cố gắng sửa chữa để tiến thân, cho mình cũng như cho dân tộc.
Chúng tôi thấy hơn bao giờ hết, đây là dịp người Việt thẳng thắn nhìn lại người mình, cởi mở và dọn mình để mang tâm thức lớn, cùng nhân loại bước vào thế kỷ 21. Nói vậy chứ cũng đã trễ lắm rồi, bây giờ mà sửa soạn thì may ra vài chục hay cả trăm năm sau mới bắt đầu có kết quả.



Người Việt có những tính tốt nào? Người Việt hiếu học ư, cũng hiếu học đấy, nhưng vẫn chỉ là một số nào đó, một số lớn vẫn ít học, cho là nghề dạy nghề, tức tùy tiện tới đâu hay tới đó. Mà đa số trong số hiếu học ấy vẫn mang nặng tinh thần từ chương, quan lại, trọng bằng cấp từ ngàn xưạ Họ học để tìm sự giầu có, phong lưu cho bản thân và gia đình hơn là giúp đời. Họ được gọi là trí thức, nhưng chỉ biết tri thức chuyên môn, hầu như họ sống cách biệt, không dính gì tới đại đa số đồng hương mà họ cho là thấp kém. Kiến thức tổng quát của họ là một mớ hời hợt, thường có được là qua những buổi trà dư tửu hậu, chứ không qua sách vở nghiêm túc. Nói chi tới dân thường, có nhiều người cả năm không mua một cuốn sách, một tờ báo. Họ chỉ thích nghe lóm và chỉ đọc sách báo khi có ai đó mua thì mượn đọc ké thôi. Người mình lại suy nghĩ thiếu khoa học nên dễ tin, đọc một bản tin trên báo hay nghe truyền miệng mà đã tin, nên dễ bị kẻ xấu lừa.



Khi trả lời phỏng vấn của đài BBC ngày 2/3/2005, nhà phê bình văn học Vương Trí Nhàn ở Hà Nội, Biên Tập Viên nhà xuất bản Hội Nhà Văn đã nói: "Cứ nói người dân mình thích đọc sách và ham học lắm, nhưng tôi có cảm tưởng không phải như thế. Thực ra, dân mình mê khoa cử, kiếm chút bằng để kiếm ăn. Sách in ra đa số nhận rất ít phản ứng... Việc đọc sách chưa được xã hội hóa, hàng tháng không có thông tin về sách mới ra, không giới thiệu, không phản hồi, không thống kê, giới viết và đọc không hội họp...".



Nhờ tới họ việc gì, luôn luôn họ giẫy nẩy lên trả lời là bận lắm, bận lắm; Biết họ bận gì không? Họ bận kiếm nhiều tiền để mua nhà, mua xe, chứng tỏ sự thành đạt của mình với chung quanh. Để tỏ ra là cha mẹ có trách nhiệm, họ luôn luôn bận lo cho tương lai học hành của con cái, thúc đẩy con học những ngành yên ấm mà kiếm được nhiều tiền chứ không tạo cho chúng tinh thần xã hội, góp phần xây dựng đất nước... Trong khi họ mới lớp tuổi 40, 50 mà đã tự cho là "già rồi" không thấy tự học hành lo cho chính cuộc đời của họ và xã hội mà họ đang sống. Họ lúc nào cũng bận quây quần với vợ con, bận tụm đám bạn bè vui chơi!!!



Người Việt luôn nặng tình cảm, đôi khi đến độ che mờ lý trí. Chúng ta có được tinh thần gia đình thương yêu, đùm bọc khá cao, nhưng qua những cuộc đổi đời mới đây, một số gia đình cũng bắt đầu tan nát. Tinh thần hiếu khách, dù là nhà nghèo, nhưng hầu hết người Việt có gì cũng sẵn sàng đem ra cho khách dùng.
Người Việt có những tính xấu gì? Có thể nói là thiếu ý chí, thiếu sáng tạo, thiếu tinh thần khoa học, thiếu nghiên cứu, thiếu mạo hiểm, thiếu tầm nhìn xa, nói dối quanh, ít nhận lỗi, thiếu trật tự, thiếu nguyên tắc, thiếu tôn trọng của công, ăn cắp vặt, tự cao, tự ty, ỷ lại, thù dai, nặng mê tín, mau chán, thiếu tinh thần dân chủ vì độc đoán ít dung hợp ý kiến người khác, lúc nào cũng có cả trăm lý do để trễ hoặc không giữ lời hứa, nặng tình cảm mà thiếu lý trí, tinh thần địa phương, tôn giáo... Nhưng đáng kể là thói ích kỷ và nhất là đố kỵ làm trầm trọng thêm sự chia rẽ, đó là những cố tật lớn nhất đã làm cho người Việt không đoàn kết, hợp quần, tiến nhanh lên được. Xin hiểu cho là cà một dân tộc thì có người nay người kia, nên nói như thế không có nghĩa mọi người như vậy và một người đồng thời có tất cả những tính xấu ấy cùng lúc.
Điểm đáng nói là từ khi chủ nghĩa Cộng Sản du nhập vào Việt Nam cuối thập niên 20 của thế kỷ 20, thì sự quỷ quyệt và tàn ác của chủ nghĩa này càng làm cho những tính xấu có cơ hội phát triển mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Sự dối trá và gian ác, phi nhân và vô đạo, hà hiếp và bóc lột, tham nhũng và đục khoét của công được đưa lên cực đỉnh, trở thành thói quen, và “không ngoan” để tồn tại. Cảnh hàng chục, hàng trăm phụ nữ trần truồng cho ngoại nhân ngắm nghía lựa chọn trong những năm đầu thế kỷ 21, hay cảnh trường thi Nam Đàn, tỉnh Nghệ An (quê hương của cụ Phan Bội Châu và Hồ Chí Minh) vào năm 2006, bát nháo y như giờ ra chơi, được quay và đưa lên trang nhà nhật báo điện tử Tuổi Trẻ trên Liên Mang và biết bao chuyện bỉ ổi xảy ra hàng ngày tại Việt Nam… khiến mọi người đều cảm thấy xấu hổ cho một đất nước băng hoại trầm trọng về văn hóa. Những di hại này, thời hậu Cộng Sản sẽ phải mất hàng vài chục năm mới dần dần tẩy xóa được.
Tại sao trong khi hầu hết người Nhật và Hoa thường tìm đến cộng đồng của họ thì có một số khá nhiều người Việt tìm cách xa lánh nếu không muốn nói là sợ chính cộng đồng của mình (trừ khi gặp khó khăn cần giúp đỡ)?
Chúng ta không thể thay đổi truyền thuyết chia ly giữa Lạc Long Quân và bà Âu Cơ, hẹn khi cần mới gọi nhau hợp sức. Tức là bình thường thì chia rẽ, chỉ khi không sống được mới đoàn kết, rồi lại chia rẽ. Nhưng chúng ta, bằng lòng thành và ý chí phải vượt qua "định mệnh" không hay này.



Về bản thân người Việt, thân hình nhỏ bé, tuổi thọ thấp, sức lực kém, không bền bỉ, mà làm việc lại hay qua loa, tắc trách, đại khái nếu không nói là cẩu thả, nên nói chung năng suất kém.
Chúng ta thử nhìn xem, trong bất cứ một nhà ăn quốc tế như ở các trường Đại Học có nhiều nhóm người thuộc nhiều nước thì nhóm nào nhỏ người nhất, lộn xộn và ồn ào nhất có nhiều phần chắc đó là nhóm người Việt. Nhóm này còn thêm cái tật hút thuốc, xả rác khá bừa bãi nữa.
Nay đã là đầu thế kỷ 21, thử nhìn việc lưu thông ở các thành phố lớn Việt Nam xem. Thật là loạn không đâu bằng. Người ngoại quốc nào đến Việt Nam cũng sợ khi phải hòa mình vào dòng xe cộ đó, và nhất là khi băng qua đường. Tỷ lệ tai nạn xẩy ra rất cao, ai cũng ta thán, thế mà bao năm qua vẫn mạnh ai nấy chạy, mạnh ai nấy đị Những ngã năm, ngã bảy xe đông nghẹt mà hầu như không chia làn đường, nhiều nơi không có bệ tròn để đi vòng, không cảnh sát hướng dẫn lưu thông, Từ mọi phía xe cứ đổ dồn thẳng vào rồi mạnh ai người nấy tìm đường tiến lên. Đã cấm đốt pháo được mà sao tệ nạn lưu thông đầy rẫy, mỗi một chuyện cỡi xe gắn máy phải đội nón an toàn đã bao năm qua vẫn chưa giải quyết được. Sống trong xã hội mà dường như có rất đông người Việt hầu như không muốn bất cứ một luật lệ nhỏ nào ràng buộc mình. Cứ làm đại, làm càn rồi tới đâu hay tới đó!?


Chúng tôi vẫn nghĩ, một dân tộc có văn hóa cao, thực sự hùng mạnh không thể nào nẩy sinh ra lãnh đạo tồi và chỉ biết xâu xé nhaụ Chính tính xấu chung của người Việt mới nẩy sinh ra lãnh đạo tồi và chia rẽ mà sinh ra chiến tranh, chiến tranh mới đào sâu thêm hố chia rẽ và làm lụn bại dân tộc. Thất phu hữu trách mà, vận nước hôm nay là trách nhiệm chung của mọi người, không chỉ có người lãnh đạo mà người dân cũng chung trách nhiệm.



Thử nhìn các lãnh vực văn, thơ, nhạc của chúng ta mà xem, đâu đâu cũng than mây khóc gió là chính. Đồng ý là có nhiều chuyện buồn nên sáng tác nội dung buồn, nhưng buồn mãi vậy ích lợi gì, sao không tìm cách giải quyết cái buồn. Có biết đâu những tư tưởng yếm thế đó càng làm cho tình hình xấu thêm. Nếu có tư tưởng nào tích cực thì muôn đời vẫn chỉ thuần là tư tưởng, vì chính tác giả của tư tưởng ấy chỉ viết hay nói ra cho sướng, nói ra để lấy tiếng với đời, chứ chính họ không có trách nhiệm thực thi.
Những gì cụ Phan Bội Châu báo động, kêu than trong cuốn "Tự Thán" đã gần một thế kỷ qua mà như đang xẩy ra quanh đây thôị Nếu chúng ta không có can đảm trị căn bệnh ngàn năm của mình thì dù có hết chiến tranh, dân Việt vẫn mãi mãi khó mà vươn lên được.
Chí sĩ Phan Bội Châu đã hy sinh cả cuộc đời vì nước, vào sinh ra tử không tiếc thân, thế mà trong cuốn "Tự Phán", cụ đã thẳng thắn nhận đủ thứ lỗi về phần mình. Cụ hối hận nhất là không đủ tri thức về ngoại ngữ và tình hình thế giớị Nhưng trong đó, cụ cũng không quên nêu lên một số khuyết điểm chính của người mình thời đó. Như người lãnh đạo không lo cứu nước, dân không lo việc nước. Chỉ tranh thắng với nhau trên bàn cờ, hay cốc rượu, mà bỏ mặc vận nước cho ngoại xâm giày xéo...


Ai cũng biết, Nhật Bản là một đảo quốc, đất hẹp, dân đông, nhưng người Nhật đã khéo léo thu thập tinh hoa thế giới để bồi đắp quê hương mình trở thành một cường quốc, đôi khi vượt qua cả những nước bậc thầy của họ trước đó. Thật là hiện tượng hiếm có, không mấy dân tộc nào làm được. Nhật Bản có thể ví như một nhà nghèo mà đông con, thế mà đã nuôi được cho tất cả các con ăn học thành tài. Nên đây thật là tấm gương lớn cho người Việt chúng ta học hỏi vậy.



Kinh nghiệm lịch sử cho thấy, Việt Nam và Nhật Bản thời cận đại và hiện đại đã có những chọn lựa hướng đi khác nhau.
Khi Pháp đòi Việt Nam mở cửa và đe dọa bằng cách bắn phá đồn Đà Nẵng năm 1856, Việt Nam đã chủ trương bế môn tỏa cảng. Thế nên năm 1858, Pháp đem 14 tàu chiến và 3.000 lính đến bắn tan đồn lũy Đà Nẵng. Phía Việt Nam chống cự đến cùng, để rồi bị thua và toàn quốc bị đô hộ 80 năm. Chúng ta có tính can trường và bất khuất, nhưng thiếu khôn ngoan về một tầm nhìn xa cho đất nước chăng? Đặc biệt Việt Nam hầu như chỉ dựa vào một cường quốc, khi sợ nước nào thì chỉ dựa theo nước đó, thiếu tầm nhìn toàn diện. Thật vậy, khi thấy Pháp Quốc mạnh thì bỏ Trung Hoa theo Pháp Quốc, rồi theo Nhật Bản, theo Hoa Kỳ hay Liên Xộ Theo đuổi chính sách như vậy, dễ bị một cường quốc lấn át và khi các cường quốc này yếu đi thì hoang mang, không biết trông vào đâụ Sau Thế Chiến Thứ 2, thế giới có phong trào giải thực, hàng chục quốc gia được độc lập một cách dễ dàng, riêng một số nhà lãnh đạo Việt Nam chọn con đường chiến tranh, hy sinh khoảng 4 triệu người và 30 năm chiến tranh. Điều này đã khiến quốc gia bị tụt hậu, trở thành chậm tiến và nhất là phân hóa, chưa biết bao giờ mới hàn gắn được.



Tại sao Việt Nam ở bao lơn Thái Bình Dương, vị trí địa lý chính trị cực kỳ quan trọng như vậy mà chỉ trở thành mục tiêu cho các đế quốc xâm lăng, còn không học hỏi để tự vươn lên được? Tại sao các đế quốc nhìn ra vị thế quan trọng của Việt Nam mà chính người Việt lại không nhìn ra và tự tạo cho mình một vị thế tương xứng như vậỷ Tại sao người Việt đã đầu tư quá nhiều vào chiến tranh mà chúng ta vẫn thiếu hẳn một đường hướng xây dựng, phát triển quốc gia thích hợp? Với lối phát triển quốc gia trong nhiều thế kỷ qua, bao giờ Việt Nam mới theo kịp các nước trung bình trên thế giới, tức ngang với tầm vóc đáng lẽ phải có về dân số và diện tích của Việt Nam?



Trong lúc đó, năm 1853, khi bị Hoa Kỳ uy hiếp, Nhật Bản cắn răng chịu nhục, quyết định bỏ chính sách bế môn tỏa cảng. Nhưng họ mở rộng ngoại giao, không chỉ với Hoa Kỳ mà với cả ngũ cường, thêm Anh, Pháp, Nga, Đức... mặt khác, họ cố gắng học hỏi ở các nước ấy, để 30, 40 năm sau vươn lên ngang hàng. Nhưng Nhật đã bắt chước các đế quốc, đi vào con đường chiến tranh sai lầm, góp phần gây nên Thế Chiến Thứ 2, hy sinh khoảng 3,1 triệu người và đất nước tan hoang. Sau Thế Chiến Thứ 2, Nhật Bản đứng trước một tương lai cực kỳ đen tối chưa từng có. Nhưng họ đã chọn con đường xây dựng quốc gia bằng hòa bình, cố gắng làm việc, chỉ 25 năm sau, Nhật Bản lại trở thành cường quốc.



Giờ đây, vận nước vẫn còn lênh đênh, mà người lãnh đạo lẫn người dân, nhiều người vẫn như xưa, chưa thức tỉnh. Đặc biệt, nay có cả mấy triệu người được ra nước ngoài, tri thức thăng tiến bội phần, nhưng chỉ có một phần nhỏ quan tâm tới cộng đồng và đất nước, còn phần lớn mạnh ai nấy lo làm giàu cá nhân... Thật là hỡi ơi!
Vài chục năm trước, chúng tôi có được đọc trong một cuốn sách, đại ý thuật lại lời một người trí thức Nhật với một người Việt ở Việt Nam ngay sau khi Thế Chiến Thứ 2 vừa chấm dứt năm 1945. Người Nhật ấy nói rằng, vì thua trận, từ nay đất nước Nhật Bản bước vào thời kỳ đen tối, còn Việt Nam sẽ thoát khỏi nạn thực dân, được độc lập và tương lai sán lạn. Nghĩ vậy, thế nhưng người Nhật đã cố gắng phục hưng đất nước một cách nhanh chóng. Trong khi đó, tình hình Việt Nam đã không diễn biến như hoàn cảnh thuận lợi cho phép.



Tại sao có điều nghịch lý là sách giáo khoa Nhật Bản viết nước Nhật vốn "rất nghèo tài nguyên", mà nay người Nhật xây dựng thành "giàu có", còn sách giáo khoa Việt Nam có lúc viết nước Việt vốn "rừng vàng biển bạc" mà lại hóa ra "nghèo nàn"? Tại sao người Việt chỉ biết đem tài nguyên sẵn có và nông phẩm là thứ đơn giản và rẻ nhất đi bán? Dù ai cũng biết đây là thứ kinh tế mới chỉ ngang tầm thời trung cổ.
Ngay nước gần chúng ta như Thái Lan cũng ở tình trạng tương tự, nhưng khéo ngoại giao hơn, không tốn xương máu mà vẫn giữ được hòa bình để phát triển.
Do đó, điều chúng tôi muốn nhấn mạnh là không chỉ thu học kỹ thuật của người, mà cần để ý đến văn hóa, là mặt tinh hoa tạo nên tinh thần người Nhật hay người Đức. Có tinh thần mạnh thì như họ, dù thua Thế Chiến Thứ 2, cũng nhanh chóng vươn lên. Tinh thần yếu thì dù đất nước có giàu có cũng sẽ bị lụn bại đi như nhiều đế quốc trước đây trong lịch sử.



Vậy người Việt bị thua kém, tụt hậu vì những khâu nàỏ Tại sao đa số người Việt mua thực phẩm là món ăn vật chất hàng ngày, có thể mua nhạc hàng tháng để giải trí mà có khi cả năm mới mua một cuốn sách là món ăn tinh thần? Tại sao, năm 2007, người Việt dù có 3 triệu ở hải ngoại hay 85 triệu ở quốc nội, mỗi tựa sách (đầu sách) cũng chỉ in trung bình khoảng 1.000 cuốn? Như vậy người Việt có thực sự chăm tìm tòi, học hỏi không? Nếu bảo rằng sách đắt thì số người Việt tới thư viện sao cũng không cao.



Nói chung, không có dân tộc nào tiến mạnh mà sách vở lại nghèo nàn. Bởi chính sách vở là kho kiến thức, làm nền tảng để phát triển. Người Nhật tiến mạnh được là nhờ họ biết tích lũy kinh nghiệm. Người đi trước khi học hỏi, họ ghi chép rất cẩn thận, sau này nhiều người trong số đó viết sách để lại cho người đi sau và cứ thế. Có những người Việt giỏi, nhưng không chịu khó viết sách để lại, nếu người ấy mất đi thì bao nhiêu kinh nghiệm tích lũy hàng mấy chục năm cũng mất theo luôn, thật là uổng phí. Hơn nữa, ai cũng rõ, nếu hiểu biết chỉ được thu thập thuần bằng kinh nghiệm chưa hẳn đã là chính xác và phổ quát, lúc viết sách, người viết sẽ phải tham khảo rất nhiều, khi đó, từ các suy nghĩ cho tới dữ kiện mới dần dần được hoàn chỉnh hơn.



Tại sao người Việt ở cả trong và ngoài nước được kể là học khá, nhất là về toán, mà không tìm ra một công thức hay có được một phát minh thực dụng đáng kể nàỏ Tại sao lúc nào cũng đầy người tụ ở quán cà phê và hiệu ăn mà không hề nghe có lấy được tên một nhà thám hiểm Việt Nam nào? Tại sao chúng ta thiếu hẳn óc tìm tòi, mạo hiểm, nhẫn nại và cố gắng?




Người ngoại quốc nào nghe người Việt nói cũng thấy lạ, thấy hay, vì líu lo như chim, âm thanh trầm bổng như có nhạc. Bởi tiếng Việt có khoảng 15.000 âm với 6 dấu thinh/giọng, lên xuống như "sắc, huyền", uốn éo như "hỏi, ngã", rung động như "r"... thế nhưng, đa số người Việt không biết gì về nhạc lý cả. Trong khi tiếng Nhật rất nghèo nàn về âm, chỉ có 120 âm, mà đa số người Nhật rất giỏi nhạc, có nhiều nhạc trưởng hòa tấu hàng quốc tế, còn đi sửa các dàn organ cho cả Âu Châu... Người Việt hầu hết chỉ biết mua nhạc cụ chơi, tới khi hỏng thì chịu, thấy tình trạng bết bát quá, chính người Nhật phải qua sửa giúp nhạc cụ của dàn nhạc giao hưởng Việt Nam khoảng đầu thập niên 90.



Trong tiến trình phát triển quốc gia, cụ thể là trên bình diện kinh tế, từ khâu đầu tư, tụ vốn, lập công ty, khai thác nguyên liệu, nhiên liệu, nghiên cứu, sản xuất, cải tiến, quản lý phẩm chất, quản lý tài chính, quảng cáo, buôn bán, phân phối, bảo trì, tái biến chế, bảo vệ môi sinh... Tất nhiên làm ăn cá thể thì người Việt thường chỉ mạnh ở khâu buôn bán nhỏ hoặc kinh doanh hiệu ăn lấy công làm lời.
Ngay khâu buôn bán, người bán thường chú trọng mua hàng ngoại hạng nhất về bán kiếm lời và người tiêu dùng cũng lo bỏ ra thật nhiều tiền tìm mua hàng ngoại hạng nhất để khoe mà nhiều khi không biết dùng hoặc không cần dùng tới! Tại sao lại chuộng "hàng ngoại" đến như vậy? Hàng hóa ở Việt Nam ngày nay khá nhiều, nhưng người Việt không tự sản xuất lấy được khoảng 10% trong cấu thành sản phẩm đó. "Sản xuất" nếu có, "hàng nội" nếu có, thực ra chỉ là đốt giai đoạn, dùng máy ngoại quốc rồi nhập vật liệu và làm gia công. Sau này, khi máy hư hỏng thì lại mua máy mới, không dần dần tự chế máy thay thế như người Nhật hay Hoa được.
Cạnh tranh trong thương trường, người Việt thường tìm cách hạ nhau, coi thành công của người khác là thiệt hại của mình; như bầy cua trong rọ, cứ kẹp nhau để rồi kết quả là không con nào ra khỏi rọ được. Người Hoa Kỳ có châm ngôn làm ăn đại ý rằng: "Cạnh tranh là tự cải tiến sản phẩm của mình chứ không phải bỏ thuốc độc vào hàng của người khác.". Người Nhật thì chủ trương: "Khách là nhất. Khách nuôi nhân viên chứ không phải chủ, phải làm sao cho vừa lòng khách.".
Sự phồn vinh rất "giả tạo" hiện nay ở Việt Nam là do sự cởi mở về kinh tế, nhưng phần lớn là do tiền từ bên ngoài. Tới năm 2007, trong hơn 30 năm qua, Việt Kiều gởi về khoảng 70 đến 80 tỷ Mỹ Kim, cộng thêm một số tiền đầu tư trực tiếp và gián tiếp của ngoại quốc 100 tỷ MK (trong các công trình hợp doanh, phía đầu tư của Viện Nam chỉ chiếm khoảng 10% số này) và viện trợ ODA khoảng 20 tỷ MK. Với số tiền khổng lồ khoảng 200 tỷ MK đó chưa kể Tổng Sản Lượng Quốc Dân (GDP) khoảng 500 tỷ MK do người Việt làm ra trong thời gian này, nếu có chính sách giáo dục, kinh tế tốt hơn và nhất là không bị quốc nạn tham nhũng thì mức sống của người dân có lẽ đã gấp hai, gấp ba lần hiện nay, mức chênh lệch lợi tức giữa người thành thị và nông thôn sẽ không quá xa. Ở hải ngoại cũng vậy, với nhà cửa rộng lớn, xe hơi sang trọng tất nhiên do nhiều nỗ lực cá nhân, nhưng yếu tố chính cũng là do may mắn từ môi trường thuận tiện sẵn có, như thể "đẻ bọc điều, chuột sa hũ gạo". Chứ xét về bản chất, không khác với người trong nước.


Phải chăng các điều trên chỉ là những câu hỏi luôn làm trăn trở, bứt rứt một số rất ít những người Việt có tâm huyết với sự tồn vong của quốc gia, dân tộc. Phải chăng còn đại đa số thì không quan tâm và bằng lòng với công việc buôn bán nhỏ hay đi làm thuê hiện tại? Vì kiếm thật nhiều tiền cho mình và gia đình là quá đủ và hết thì giờ để nghĩ và làm thêm bất cứ chuyện gì khác? Thử hỏi như vậy Việt Nam sẽ đi về đâu?
Tất nhiên, đã là con người thì dân tộc nào cũng có đủ các tính tốt và xấu, nhưng người Việt dường như bị nhiễm nhiều tính xấu ở mức độ rất trầm trọng.
Chúng tôi xin mạo muội bầy tỏ phần nào những ưu tư đối với đất nước và dân tộc. Xin tất cả chúng ta hãy cùng thành tâm nhìn lại mình, vì tương lai đất nước, để thế hệ mai sau có được cuộc sống đáng sống hơn, hãy tự chế để bỏ dần các khuyết điểm mà tăng tiến các ưu điểm.

No comments: