Friday, November 4, 2016

TCHYA=NGUYỄN BÁ HỌC=PHÙNG CUNG=NGUYỄN VĂN PHÚ=PHAN NHẬT NAM=SƠN TRUNG

TCHYA *THẦY CỬ

THẦY CỬ

Tchya


          Ngày hôm ấy, thầy Cử Sinh chán nản việc đời. Mài thoi mực đen, cắn đầu bút thỏ, thầy viết. Thầy viết cổ thi, kim phú, ngón tài hoa bay nhẩy lối Lan đình. Viết xong, thầy đọc, đọc rồi thầy xé, xé rồi thầy đốt.
          Thú làm thơ khôn tiêu tán nỗi lòng tức bực, thầy Cử xách nón đi chơi; không khí chiều thu êm dịu, thầy ngắm cảnh trời xanh trăng bạc, dường như nhè nhẹ cơn sầu. Bóng cây chiếu thẳng giữa đường, trông tựa mấy giọt mực đen, rải rắc trên tờ giấy trắng.
          Say cảnh tiêu điều, tịch mịch, thầy Sinh nghĩ ngợi bâng khuâng; bụi tre cằn lẩn mầu chiếc áo lương thâm, khiến hình ảnh thầy trộn lộn với hình ảnh chung của Tạo vật. Bồi hồi, thất vọng, thầy Cử nhớ lại cuộc đời dĩ vãng, một nỗi buồn vô hạn tự nhiên chan chứa trong lòng.

          Khoa Mão hồi trước, cũng như mọi nhà hàn sĩ, thầy Sinh lều tráp đi thi. May nhờ phúc ấm tổ tiên, thầy được dự tên chót bảng. Không đến nỗi thẹn với hai mươi năm đèn sách, thầy Sinh lấy thế làm mừng. Trên bước vu quy, thầy những mong chen lọt vào lầu hoa, gác thắm, thanh vân nhẹ bước công hầu. Có ngờ đâu thời thế lại đảo điên, mà mệnh đồ nhiều nỗi khó! Nghĩ đến cảnh Lý Quảng nan phong, Phùng Đường dị lão, thầy đâm ra chán hẳn cuộc đời. Thôi thì: "Quân tử an bần", thầy cũng chả thèm bôn tẩu, nhất tâm nằm dạt xó nhà, ngâm thơ uống rượu; dẫu bị cảnh bần hàn thanh bạch, thầy không màng kiếm miếng đỉnh chung!
          Vì thế, quan huyện Thanh Hồ, nghe nói thầy người chí khí, thân hành đến đón tận nhà. Võng lọng linh đình, thầy Cử về nha dạy học; có nhẽ số phong lưu nhàn hạ, ngày nay đã theo thời vận, cứu thầy khỏi bước nghèo nàn. Một quãng thời khắc cỏn con, thầy Sinh đã nghiễm nhiên ra mặt con nhà mô phạm! Rồi, thơ chặt túi, rượu lưng bầu, mặc sức nhà nho lỡ vận rung đùi mà ta thán nhân tình thế thái, hoặc ngậm ngùi cảm khái, ngâm nga những khúc tiêu tao!
          Trông bóng trăng thu, đã nhiều phen, thầy Cử lên giọng đắng cay chua chát, nghe ai oán như tiếng trùng than dưới cỏ, lâm ly như hạt móc đập cành tiêu, khiến tàn canh sực tỉnh giấc cô miên, bà lớn huyện những xúc cảm, sụt sùi bên gối phượng...

          Bà lớn, từ xưa, vẫn có tiếng là người hay chữ; không những làm ăn khéo léo, đi đứng nhu mì, đến nghề thi phú văn chương, bà lớn thực là tài nữ. Yêu thú làm thơ, bà lớn thường đặt ra những khúc não nùng, tiêu sái, lẳng lơ như hoa lả gió, buồn bã như cảnh thu tàn, sành xem văn đến như cụ Bảng Châu Giang, cũng phải phục bà lớn là một thi nhân lãng mạn.
         Thầy Cử, từ ngày về huyện, trà sớm, đèn khuya, chăm nom hai thằng cháu bé. Hai cháu học mỗi ngày một khá, quan lớn rất đỗi vui lòng, bà lớn cũng thường đẹp dạ. Vì thế, cơm tám, rượu sen, chả thơm, canh ngọt, ông thầy thong thả thời cơm; yêu con nên trọng đến thầy, bà lớn là người khéo xử. Vui cảnh xuân tàn, quan lớn thì câu thơ chén rượu; khách thâm nho may lại gặp tay đồng chí, tài nào không ý hiệp, tâm đầu! Trong hoàn cảnh tương kính, tương thân, thầy Cử không đến nỗi thẹn với những kẻ, tình thế giống thầy, mà chịu cúi luồn theo khuôn phép những nhà quyền quý. Kể ra, thầy cũng thực là sung sướng: được chỗ an nhàn ngồi giảng sách, còn gì hơn trong lúc khốn cùng này?
          Tuy nhiên, gặp những buổi gió vàng gieo lá rụng, không tài nào thầy tránh khỏi mối bi thu. Đối cảnh thu sơ, thầy trông cúc nở, sen tàn, bất giác thương thân mình chịu mai mòn theo tuế nguyệt. Giọt móc rụng nhịp nhàng trên khóm trúc, lại khiến thầy đau đớn phận tha hương. Sẵn mối hoài cảm chứa chan, thầy không đủ sức đè nén nổi con tâm thổn thức. Gióng bóng trước ngọn đèn le lói, thầy buồn rầu ngâm nga những khúc "Ly tao". Giọng thầy não nuột, du dương, lúc canh khuya phẳng lặng êm đềm, thường réo rắt vang suốt trong ngoài huyện lỵ. Dư âm man mác như bay lượn nhẹ nhàng trong bóng tối, như giục lòng ai ngây ngất suốt đêm trường...
           Trên gối phượng, đôi phen, bà lớn giật mình tỉnh giấc. Cám cảnh trăng tà gió lạnh, bà lớn xót phận mình, ngao ngán, những hờn duyên. Lại vẳng nghe giọng ai oán, thiết tha, hồn thi sĩ nào tránh khỏi lúc bâng khuâng, tê tái? Dưới chăn loan, bà lớn bất giác ngậm ngùi tuôn lệ ngọc; mà, nằm co ro trong thư viện, thầy Cử vẫn nghêu ngao vẳng ra những khúc não nùng...
          Than ôi! Cái nghiệp văn chương! Nó thường bắt người phải cảm hoài, ảo não, tủi cảnh mình nghĩ thương ai chung hội, mà bẽ bàng trông bóng suốt năm canh!...

*

          - Thì ông cố đẻ lấy một thằng con nữa chứ!

           Bà lớn huyện vốn là con gái yêu cụ Tuần Hà thuở trước, lấy chồng vừa được chín mười năm. Trong mười năm trời, cảnh gia đình bà lớn tuy có nhiều phen bực tức, song ngắm lại hai thằng con nhỏ dại, bà lớn cũng hả lòng vàng. Thoạt bước chân về nhà chồng, tình ân ái nồng nàn, khiến bà lớn vội vã đẻ dồn hai cháu bé: thằng Cả, thằng Hai, một thằng lên chín, một thằng lên tám. Chỉ giận nỗi Hóa công, sau những lúc say vui thường đem lại nỗi buồn dằng dặc của một tương lai lạnh lẽo, nên bà lớn huyện, từ ngày hai em bé nhớn lên đi học, bỗng càng ngày càng yếu càng buồn; mà, sự đâu rõ khéo bẽ bàng: bà lớn tựa hồ quên, không đẻ nữa!
          Tuy nói là bà lớn yếu: đó chỉ là một cách nói cho trại ý mà thôi; thực ra, bà lớn chỉ thường hay sổ mũi, nhức đầu, đau gân, mỏi cốt. Ngoài sự đó, bà lớn vẫn tốt tươi, óng ả: nhan sắc khuynh thành, kiều diễm, đọ với thời gian vẫn không chịu kém màu xuân. Con người mặn mà, bà lớn càng ngày càng đẹp, trong khi, chăn bông, nệm gấm, quan lớn một tuổi một già.
          Quan lớn huyện đỗ Cử nhân từ độ ngoài ba mươi tuổi; về làm rể cụ Tuần Hà, bấy giờ ngài đã bốn mươi. Ngài đến nhậm huyện Thanh Hồ, đến nay, đã hai năm có lẻ. Dân yên, lúa tốt, trong xóm, ngoài làng, ai ai cũng đều công nhận quan lớn là người phúc đức. Mà không những chỉ có thế; về phương diện thanh liêm, cương trực, danh thơm ngài còn lừng lẫy khắp nơi nơi.
          Duy có một nỗi đáng phiền: là mới năm chục tuổi đầu, mà râu tóc quan đã lâm râm đốm bạc, chả bì với bà lớn nhà còn trẻ non, trẻ nõn, đỉnh đầu chưa đội hết hăm chín cái xuân thu. Hai mươi chín cái xuân thu! Bà lớn còn ôm chặt một mối lo mong, nửa bầu nhiệt huyết; con Tạo hóa rõ khéo trêu ngươi quá tệ, cớ làm sao mới được có hai mụn con còn bé dại, mà khiến chốn loan phòng đã lạnh lẽo, hững hờ duyên!
          Không phải rằng quan lớn không chiều, không quý; không phải rằng quan lớn không mến, không yêu; chỉ tại cái yêu ngài là cái yêu suông, mà cuộc đời chửa ngoại ba mươi chưa có thể là cuộc đời suông được! Năm mươi tuổi, nào tuổi ấy già đâu! Thế sao quan đã đầu trắng, mắt mờ, con Tạo sao mà tệ thế? Chỉ những đau lưng, mỏi gối, quan lớn chưa đến tuần ăn thượng thọ đã suy tàn! Vui cảnh xuân già, quan chỉ câu thơ chén rượu; lúc hội tổ tôm cùng thầy Lại, lúc cuộc cờ nhạt với ông Đồ, ngày tháng thanh nhàn, quan chỉ dùng để sống trong những thú suông thậm là suông; có lúc cảm hứng muốn vui, thì lại thết bữa tiệc nhỏ ở mai viên, cùng thầy Cử hùng biện, cao đàm, hăm hở bàn đến chuyện thánh hiền kim cổ...

          Cảnh chồng già, chị em ôi! Rõ là một cảnh éo le! Dẫu có hưởng êm ả những thú đệm ấp, chăn lồng, tính tình lãnh đạm của đức lang quân, lắm phen, càng xui giục bể lòng dào dạt, càng làm cho tấm thân ngà ngọc bồi hồi mơ ước nỗi yêu đương! Một người có tình cảm chứa chan, có thân thể chất đầy sinh khí, nhất là người ấy lại là đàn bà, một người đàn bà còn trẻ nõn, thì, càng sống trong bầu không khí an nhàn lặng lẽ, càng hưởng mùi đỉnh chung êm ái phong lưu, người ấy càng khó lòng tránh khỏi những thời khắc mà tâm hồn mê mỏi, mà các tia gân, các luồng máu, các thớ thịt trong người rung động, bồi hồi gọi thú ái tình. Cho nên bà lớn huyện Thanh Hồ, một đóa hoa quý xuân còn cười với gió chiều chớt nhả, một vừng trăng mười tám còn đủ ánh sáng đục vừng mây ám tạt qua, bà lớn thường thấy mình như khao khát ái ân, như bị một mãnh lực gì bí hiểm của con tâm ngày đêm làm bải hoải cả tấm thân tròn đẹp.
          Muốn khuây mối xuân tình phơi phới, bà lớn chỉ còn cách làm văn, đọc sách, đỡ buồn. Thiếu sách sang mượn thầy Đồ, bà lớn đã nhiều phen sai hai đứa con thơ chạy đến thư viện bắt thầy Cử lục hết ngăn trên, tủ dưới.

          - Thầy cho mợ mượn pho "Tình sử"!
          - Thầy cho mợ mượn bộ "Chiến quốc" có phê bình.

          "Thầy cho mợ mượn quyển nọ, quyển kia..." đến nỗi sau cùng, phát giận, thầy Cử Sinh phải nói dối không có pho truyện nào mới nữa. Có sách mà không cho mượn, nào phải đâu thầy xấu bụng, hẹp hòi; chỉ tại thầy tránh chuyện vô duyên, không muốn dấn thân làm một sự khó coi, nhơ nhuốc. Có ai ngờ bà lớn lại đa tình đến thế: không quyển sách nào trả không kèm theo một bức thơ, mây gió lăng nhăng, khiến thầy Cử đọc thư xong những khắc khoải bồn chồn, nghĩ đến thân phận, chức vụ mình, ruột rối như tơ vò lại.
          Càng nghĩ, thầy càng khó xử, chả biết đến sau này, tấm thân thầy có được ở yên không? Biết bao cuộc thất bại trong đời, mãi ngày nay thầy mới được một chỗ thảnh thơi, nhàn hạ, nào ai biết vận xấu cố theo riết mãi con người lận đận, làm cho thầy mới tạm an đã thấy khó khăn rồi! Ô hay! Ông Trời độc địa làm sao! Ai xui khiến cặp mắt tinh anh sắc sảo của giai nhân lại cứ chiếu thẳng vào một anh đồ xơ xác! Khó xử.
          Đối với quan ông, một ngày cũng là nghĩa, đối với hai cháu bé, một khắc cũng là tình, thầy nỡ nào không nghĩ đến hai chữ "thủy chung", mà nỡ bỏ mấy đứa trẻ kia, để mang tiếng tệ bạc với bố chúng nó là người, đối với mình, đã có chút ơn tri ngộ? Nhưng mà, nếu thực quả thầy bị sao "Hồng Loan" trực chiếu sang cung Thiên di và sao "Đào hoa" sang cung mệnh, nếu cùng bà lớn thầy không may có chút nghiệt duyên tiền kiếp thì, không đang tâm dứt áo ra đi, cũng còn mặt mũi nào ngồi dạy học ở huyện nha mãi được?
          Nghĩ đi mãi rồi nghĩ lại, thầy Cử Sinh càng đâm ra tức bực, chán chường. Ngán ngẩm sự đời, thầy bải hoải biếng ăn biếng ngủ, rượu ngon nhấp chẳng thấy mùi gì thú; mà làm thơ cũng không cảm hứng chút nào! Thầy chỉ lo, lo lại sợ, sợ nhỡ cầm lòng khôn được, thì có phen bị ai kia lôi cuốn vào gầm tội lỗi, rồi suốt đời, hận bên lòng đeo mãi biết bao nguôi!

           Cắn đầu bút lông, thầy những muốn viết thư từ giã, từ quan, từ huyện, từ cả hai đứa học trò ngoan ngoãn thơ ngây, để mặc bà lớn cùng cuộc đời gió lả mây vờn, cùng những ý tưởng trăng hoa không chính đính... Cắn bút, nhưng nào thầy Cử đã tìm ra chữ; thầy phải suy đi tính lại, hạ một câu có khi ngẫm nghĩ đến hàng giờ. Mãi sau cùng, thầy cũng thảo xong thư vĩnh biệt; đọc lại thư, thầy cảm thấy một nỗi buồn vô hạn đè ngang cuống họng nghẹn ngào. Những chứng cớ thầy viện để từ giã bạn, chả qua chỉ toàn điều giả dối mà thôi; song le, sự thế bắt buộc thầy phải thế, xưa nay thầy có từng là người gian trá bao giờ?

          Sửa soạn hành lý xong xuôi, thầy Cử Sinh đem thư ra kiểm duyệt một lần chót nữa. Thấy lời lẽ vẫn chưa được gọn, thầy kiên tâm ngồi sao một bức thứ hai. Bức thứ hai cũng chả vừa lòng, thầy lại nán ở ít ngày, định gọt rũa lời lẽ thế nào cho quan huyện không thể trách được thầy bội bạc. Nhưng, viết làm sao vẫn thấy còn hớ hênh, dại dột, thầy Sinh hết nằm lại ngồi, hết đi lại đứng, vò tai bứt tóc, lưỡng lự bâng khuâng. Viết rồi, thầy vò xé đi; xé xong, còn sợ có người thóc mách, nên đem ra châm lửa đốt. Cứ những sao đi chép lại, chung quy mất ngót một tháng trời. Thầy Cử bứt rứt nôn nao, tự buông một câu hỏi trong tâm thần rối loạn: "Về hay ở? Nên ở hay nên về?".
          Vấn đề giải quyết mãi không xong, thầy đâm ra chán nản. Không khí gian phòng học, vì cớ đó, cũng thành ra khó thở, nặng nề. Thầy Cử cảm thấy lục phủ ngũ tạng nóng bừng lên, cần phải ra sân đổi gió. Thầy đi ra dạo mát ngoài vườn. Tìm một chỗ tối vắng, thầy ngồi phịch xuống cỏ, thả tâm hồn lâng lâng bay theo ngọn gió, nhất định bỏ mặc sau lưng những nỗi ưu tư khổ cực của mọi ngày...

          Bóng thầy chìm lẫn trong bóng cây, bởi chỗ thầy ngồi kề ngay bên một khóm tre dầy, ánh sáng giăng lờ mờ khôn phân biệt rõ hình ảnh thầy với hình ảnh chung của Tạo hóa.
          Thầy ngồi thẫn thờ như thế, chẳng biết được mấy giờ, mấy phút; lòng thầy tự nhiên thư thái, thầy lim dim đôi mắt, thiu thiu dường muốn ngủ gà. Bỗng đâu, những tiếng sột soạt tỉ tê làm lay động quãng đêm trường hiu quạnh. Thầy Cử mở bừng mắt dậy: một bức tranh hoạt động giúp thầy khỏi bị nghĩ đến nát gan nát ruột, mới tìm ra câu trả lời cương quyết cho vấn đề khó xử "ở hay về"...

*

          - Mình! Mình ơi! Chàng có đoán được em yêu chàng đến thế nào không hở? Mình có hiểu, vì mình, em đã hi sinh cả phẩm giá lẫn danh dự của em rồi?
          Tiếng người đàn bà vừa nói đượm một vẻ nũng nịu say sưa; người đàn ông nghe xong không trả lời, chỉ vít cổ bạn tình xuống để đặt lên môi ai một cái hôn chắc hẳn là đậm đà ngây ngất, vì nó lâu đến hai ba phút mới xong. Dưới ánh trăng mờ, hai bóng người thấp thoáng khi ẩn khi hiện, trông xa xa không phân biệt được là ai. Đêm lúc ấy đã gần khuya, những chòm lá cây cùng mấy bụi tre già, găng rậm, từ buổi tàn hoàng hôn, đã đổi màu xanh thẫm ra mầu xám ngắt; không gian nhuộm một vẻ ảm đạm tiêu sơ, biểu hiện của những quãng đêm thu quạnh quẽ.
Thầy Cử ngồi ở góc vườn, cách cặp tình nhân đến non ba chục thước, không nhìn rõ hết mọi cử chỉ của họ, chỉ nhờ sức tưởng tượng mà đoán rằng họ đương cùng nhau đọc một bài kinh ân ái rất nồng nàn. Những cái hôn cứ năm bảy phút lại trao đi đổi lại, diễn tấn trò đắm đuối của ái tình. Rồi, ngoài mấy bận má kề môi giáp, cặp uyên ương bá vai nhau khăng khít như đương cùng thắt mối đồng tâm; họ chỉ thả nhau ra để lặng yên ngắm vuốt mặt nhau; xong lại kéo nhau ngồi bệt xuống cỏ xanh, vỗ về âu yếm và ri rỉ tự tình, nói những câu nhỏ quá, nhỏ quá, khách ngoại cuộc chẳng ai nghe rõ cả.
          Thoạt mới ngắm nhìn, thầy Cử cho là cậu lính dắt một cô sen ra chốn vườn khuya giở những chuyện trong dâu trên bộc; thầy cũng không thèm chú ý lắm. Nhưng, nếu thực quả đôi nhân ngãi kia là kẻ hạ lưu bần tiện, thì cớ sao họ hành vi phong lưu nhàn nhã thế này? Chú lính cô sen nào đâu đã biết trò bá vai, quàng cổ, vuốt má hôn môi? Họ làm gì thừa thãi thì giờ để ngồi chuyện vãn dài dòng như vậy? Giá chú lệ được vài giờ thong thả, hẹn hò chị vú ra vườn, lẽ tất nhiên chúng lo ngại nhìn ngang trông ngửa, thì thào dăm ba câu thân mật, rồi mau chóng thi hành những dục vọng dâm ô. Có đâu hào hoa lịch sự như đôi lứa thiếu niên này, chỉ thấy những thái độ đắm đuối say mê, mà không có chút tư cách nào phàm phu thô bỉ?
          Thế thì chắc không phải hàng người ở trong vòng nô bộc, ắt hẳn là duyên cớ chi đây! Quái! Quan huyện chả có cháu giai cháu gái nào lớn tuổi, cũng chả có họ hàng thân thích theo ngài, cớ sao xảy ra chuyện lạ lùng này nhỉ?
          Con ma tò mò thường rung động tâm người thóc mách; thầy Cử ngắm đôi trai gái, bỗng thấy trong lòng sôi nổi những ý nghĩ muốn đi rình. Thầy bèn rón rén bò đến mé hai chiếc bóng. Nhưng, vốn xưa nay thầy không sành nghề đi lắng trộm, nên không đủ tài nghệ làm cho xuôi công việc táo bạo của thầy. Bị một sợi rễ cây thò lên mặt đất vướng đế giầy, thầy vô ý trượt chân, ngã sóng soài trên bãi cỏ, kêu lên một tiếng.
          Liền lúc ấy, mặt trăng đương bị mây vẩn, cũng tự nhiên thành tỏ rạng; cặp uyên ương nghe tiếng hét, hốt hoảng vùng căng bỏ chạy; người đàn ông can đảm đi lại mé thầy Cử xem kẻ nào hỗn xược dám phá tan giấc mộng ân ái của mình; còn chị đàn bà thì kinh khủng chạy tuột thẳng vào trong tư thất.

          Lồm cồm trở dậy, thầy Sinh chỉ còn được thoáng thấy trước khi biến hẳn vào bóng tối, một tà áo lụa màu sữa, phất phơ bay theo chiều gió heo may. Thầy, hốt nhiên, cảm thấy tâm can tê tái ngậm ngùi, cứ đứng ngẩn người ra như pho tượng. Giữa lúc ấy, một bóng đen sừng sững hiện ra trước mặt thầy, rồi một giọng nói đột ngột làm cho thầy nhận được người đối diện với mình đang ngạc nhiên lo ngại đến cực điểm.

          - Ơ! Thầy Cử!
          - Kìa, ông Thừa, ông làm gì ở đây mà khuya khoắt thế?

*

          - Nhân chi sơ, tính bản thiện, ya, ya...
          - Nhân chi sơ, tính bản thiện, ya, ya...

          Hai đứa bé tinh sương đã dậy, nghêu ngao ngồi học trong thư phòng. Trên tấm phản gụ giữa nhà, chăn màn chưa dọn, trên mặt án thư, từng pho sách chồng chất lên nhau, ngổn ngang bên cạnh ngọn đèn huê kỳ không ai tắt, bên cạnh điếu thuốc lào, ấm tích nước, và bộ khay chén Giang Tây hoen vẩn dấu trà còn sót.
          Thầy đồ, chả biết dậy từ bao giờ, mà bỏ vắng nhà học; những ngày thường, giờ này thầy đương rửa mặt, vấn khăn. Theo lệ mọi hôm, một thằng hề đồng đun nước sôi lên để thầy điểm tâm dăm chén trà ướp hoa, trước khi đốt hương ngồi giảng sách.

          - Ô hay! Thầy đi đâu lâu nhỉ?
          - Có lẽ thầy ra vườn.
          - Không mà, em vừa ra, không thấy thầy.
          - Hay là thầy ra ao sen?
          - Em cũng không thấy!

         Một khắc, hai khắc, nửa giờ, hai đứa bé cứ nghêu ngao, chờ thầy về cho kỳ được.

          - Nhân chi sơ, tính bản thiện, nhân chi sơ, tính bản thiện... Quái! Thầy không về thực, mày ạ! Chả biết thầy đi đâu?
          - Kìa, anh xem thử cái gì trên kia, có phải một lá thư thầy để lại đó không? Chúng ta cầm lên cho ba đọc.
          - Phải rồi, phải rồi! Một bức thư! Ta đem trình ba xem ba bảo thế nào...

          Quan lớn huyện buổi mai đương ngồi vuốt râu hãm ấm chè Ninh Thái, bình tĩnh ngâm mấy vần thơ của Đỗ Thiếu Lăng. Hai cậu ấm ton ton chạy đến.

         - Ba ạ. Thầy đồ đi đâu mất rồi, chả thấy về. Chỉ để lại trên án có bức thư này thôi, chúng con cầm lên ba đọc!

          Quan huyện vuốt xuôi bộ râu lác đác, thưởng nốt chén trà sen, rồi mới thong thả xé bức hoa tiên, đeo mục kỉnh vào, ngồi xem chăm chú lắm.

Thư rằng:

"Kính bẩm quan lớn,

Nổi nênh chân bèo khách địa, lỗi sinh nên phải bước giang hồ; ngậm ngùi gốc tử cố hương, vụng hóa khôn đền ơn tri ngộ.

Lão đệ nay:

Nhớ gốc tử phần, chạnh niềm cố thổ.
Những tưởng một ngày là nghĩa, dạy hai em cho trọn đạo thủy chung; ai ngờ nửa khắc chia tình, mới bẩy tháng đã đến kỳ thượng lộ.
Kết bạn để mong tương ích, ý quan huynh cũng trọng đệ có văn tài; thụ ơn vẫn tính gắng công, lòng lão đệ đối với quan hằng ái mộ.
Kẻ sĩ gặp người tri thức, niềm gắn bó sao không?
Phận hèn nên kẻ gia sư, số tôn vinh hẳn có.
Rắp tâm rèn luyện, cho trẻ em nên bậc tài danh,
Xót nỗi cù lao, để quan lớn ngán duyên thế cố!

Nghĩ như đệ:

Học chỉ biết chi hồ giả giã, đã hợm mình hạ bút quỷ thần kinh; trí không màng Nam Bắc Đông Tây, vẫn múa mép ra tay thành quách đổ.

đây:
Nhất mực phong lưu, đủ nghề thi thố.
Rượu Gia Bì lúc tỉnh khi say; chè Liên Thái sớm phong chiều mở.
Của ngon vật lạ, quan bà gửi đến xiết bao;
áo vóc giầy da, quan ông ban ra vô số.
No lòng, ấm cật, nghĩ thân thực đã vẻ vang,
Nay đến, mai đi, cám cảnh lại càng tủi hổ.

Chỉ bởi vì:

Dâu ngả bóng, cảm tình phụ mẫu, tuyết một vừng xót kẻ bơ vơ; mai chia cành, chạnh nghĩa phu thê, nguyệt ngàn dặm thương ai vò võ;
Láng giềng ít kẻ tới nhà; thân thích chẳng ai nhìn họ.
Vừa nhận được lá thơ tiện nội, báo rằng nhà đương gặp buổi nguy nan; nên kíp đi chẳng biệt quan huynh, sợ nỗi trẻ khó qua cơn khốn khó.
Khi đến dù che võng đỡ, ơn quan khắc tận thâm tâm;
Lúc đi áo xách giầy ôm, tội đệ đáng nên chém cổ.
Hỡi ôi! Giã trò, giã bạn, từ đây buồng văn gió lạnh, cỏ cây sùi sụt sương tuôn;
Thương thay! Cám cảnh cám tình, rồi nữa dặm liễu trăng mờ, thân thế ngậm ngùi lệ rỏ!
Buổi trò chuyện ngàn năm vẫn nhớ, cung cầm tiếng trống, buồn nghĩ càng buồn; tiệc vui vầy bao thuở cho quên, chén rượu câu thơ, nhớ thôi lại nhớ!..
Li đệ chất bằng sông núi, biết đến khi nào gột rửa, xin hiếu sinh mở rộng lượng thứ tha; lượng quan ví tựa bể trời, rồi đây có buổi trùng phùng, thề chí tử cũng cam lòng báo bổ.
Chúc quan lớn quan bà trăm năm giai ngẫu, đệ trước sau chẳng đổi lòng khuyển mã, khấn thầm Thần thánh chở che; mong em Cả em Hai mau chóng thành tài, thầy xa xôi không đến nỗi thẹn thùng, cầu nguyện Phật Trời phù hộ.
Mảy chút chưa đền đức cả, thân mà tàn nát, bên mình quan hồn sẽ khấu đầu; muôn vàn vẫn đội ơn sâu, tình khó phôi pha, trước quy án đệ xin đốn thủ.

Lão đệ: Nguyễn Văn Sinh bái

Ngày mười chín tháng tám năm Kỷ Dậu".

          Quan lớn huyện xem xong, cau mày chép miệng thở dài, không hiểu tại sao thầy đồ có cử chỉ lạ lùng đến thế! Thực là người chẳng biết điều hay dở, để cho quan nghĩ những giận mà buồn! Bỏ huyện nha, bỏ thư viện, bỏ hai đứa trẻ còn thơ, thầy đồ gàn rồi xoay trở nghề gì, cho gia quyến được no thân lành áo? Có phải chăng đó chỉ là hành tung vô nghĩa lý của một anh đồ nho cuồng chữ muốn ngông nghênh? Sao không thân lên bẩm rõ việc quan nghe, rồi vay ít chục quan tiền gửi bà vợ mang về quê cho ổn thỏa? Lạ, lạ thực!

          Thầy đồ là người bội bạc, phản trắc; đến thì võng điều đem đón, đi lại không chính đính giã từ! Mà đi, thì biết đi đâu, những lẽ viện trong thơ này xem chẳng phải những lời thành thực! à mà quên! Lão ta còn đâu có mẹ, vợ cũng không có nữa mà, cớ sao lại nói về quê vì thương xót mẹ già, vợ dại? Lão đồ này có lẽ hóa điên rồi!

          Thầy Cử ngày nay đi mất, một đi, đi chẳng trở về! Bèo nổi mây trôi, rồi thầy sẽ phiêu bạt tấm thân yếu ớt, điêu linh mảnh hồn trụy lạc, biết ngày nào mới tìm được chỗ ấm no? Quan huyện chợt nghĩ tới đây, bất giác ngậm ngùi thương hại kẻ cùng nho, bỏ mục kỉnh xuống lau hai khóe mắt...

          Cho hay cái nghiệp văn chương! Nó thường bắt kẻ yêu văn phải hoàn toàn vong kỷ, giữ tiết giá chẳng làm điều nhục nhã, vì tha nhân mà âm thầm chịu khổ, để bẽ bàng trông bóng suốt năm canh...


Tchya

(Phổ Thông bán nguyệt san - số 39 - 16.7.1939)

TRUYỆN PHẠM DUY TỐN

CON NGƯỜI SỞ KHANH
Phạm Duy Tốn


          Thầy thông Ất làm việc ở sở... tỉnh, mới kết duyên với cô Giáp, là lệnh ái ông bá hộ Ðinh. Hai bên lấy nhau cũng là xứng đôi phải lứa. Thiên hạ chẳng ai chê cười điều gì. Thầy Ất đẹp trai, mặt mày nhẵn nhụi. Chàng vừa trạc tuổi thanh xuân; hình dung chải chuốt, áo quần bảnh bao. Cô Giáp, người mũm mĩm, trông cũng xinh xinh. Nàng đương xuân chỉ nhị đào, rượu nồng dê béo, ai nào chẳng ưa!
          Nhà ông bá, bà bá cũng có, cho nên đám cưới to. Ðồ tư trang sắm đủ: vòng, xuyến, hột, hoa, mớ ba, mớ bảy, chẳng thiếu thứ gì. Giá người không kể, chỉ những đồ vàng cô dâu đeo ở trong mình, cũng đã ngót nghìn đồng bạc. Lại còn tiền hồi môn, kẻ đồn một nghìn, người nói năm trăm; nhưng thực sự thì chỉ có bốn gói mà thôi, mỗi gói là năm mươi nguyên (Ðồng, tiếng Hán) chẵn. Quý hóa lắm thay! Thầy Ất được cả người lẫn của! Thật là chuột sa chĩnh gạo...           Cưới xong, hai vợ chồng mới, dọn nhà ở riêng. Trừ lúc nào thầy thông đi làm việc thì thôi, còn khi ở nhà, hai người cứ bám chặt lấy nhau, không chịu rời ra một phút. Ngày đêm đóng kín cửa lại, vợ chồng hú hí với nhau: Loan ôm phượng, phượng bồng loan. Miệt mài trong cuộc truy hoan, trai tơ gái nõn, xuân đang mặn mà. Tha hồ vui chữ "nghi gia"!... *           Cách ít lâu, một hôm chồng bảo vợ rằng:

          - Mình ơi, mình với tôi, ta lên Hà Nội chơi một phen cho phỉ chí. Tôi sẽ đưa mình đi coi hát tuồng, đi ăn cao lâu; lên xem Quán-thánh, trại Hàng-hoa, xuống chơi Bôn-be, hồ Hoàn-kiếm. Thuê xe cao su dạo khắp nơi cho thỏa thích. Mình có ưng không ? Vợ hớn hở vui mừng, hỏi:

          - Thế thì hôm nào đi?
          - Ðể yên xem... Hôm nay thứ mấy?... Thứ tư, có phải không?... Vậy thì mai tôi xin phép, đến thứ bảy ta đi.
          - Thật chứ?
          - Thật.
          - Ừ, thế thì nhẤt định thứ bảy đi, nhé!
          - Nhất định.

 Tối thứ sáu, vợ bảo chồng rằng:

          - À này, mình ạ. Hai trăm bạc, tôi đem gửi thầy đẻ, nhé? Mang đi làm gì cho nó phiền, nhỉ?

          Chồng đáp:

          - Ừ, đem cả đi làm gì!... Ơ! Thế nhưng mà ngộ mình còn muốn mua bán sắm sửa gì nữa chăng? Bất nhược cứ đem quách cả đi cho tiện.
          - Ừ, mà phải. Mấy khi lên Hà Nội, tội gì chẳng sắm? Ðể mai đổi cả lấy giấy, mang đi cho khỏi nặng.



         
Chiều hôm sau, lúc sắp ra tàu, bố vợ dặn rằng:

          - Trong mình mang nhiều tiền bạc, đi đường phải cẩn thận lắm mới được. Tôi chỉ lo vợ chồng trẻ, mê ăn mê ngủ, mà ở tàu thủy, thì kẻ cắp như rươi.

          Chàng rể thưa:

          - Xin thầy đừng ngại. Con ở sở, lắm khi chủ giao cho bạc nghìn, giắt ở trong lưng, một mình con còn chẳng hề gì, huống hồ nay lại có cả nhà con nữa, thì thầy còn lo sợ gì!

          Bà bá bảo rằng:

          - Ấy ở nhà không sao, chứ đi tàu thì phải giữ. Tiền đã bỏ cả trong ví, mà để vào va-lít cẩn thận rồi, có phải không?... Thế thì những hoa, hột, vòng, xuyến, nhẫn của chị thông, cũng nên tháo hết ra mà cất vào trong va-lít ấy. Người ngồi đâu thì để liền ngay bên cạnh; hễ nằm thì gối đầu lên trên, nhé.

          - Vâng, vâng.

          Vội vàng miệng nói tay làm, bao nhiêu bộ cánh thu cả vào va-lít, chỉ để lại đôi hoa đeo tai mà thôi.


*

          Tàu xúp-nê (Tiếng Pháp souffler: thổi còi), kéo neo, xịch xịch chạy. Hai giờ đêm, đến bến Hà-thành. Ðèn hiệu sáng trưng, cô thông nom cũng choáng mắt. Chồng bảo vợ rằng:

          - Ta thuê xe cao su vào ô-ten (Tiếng Pháp hôtel: khách sạn) cho tiện.

          Vợ ưng:

          - Ừ, đi đâu cũng được. Nhưng mà có xa không?

           Chồng nói:

          - Không. Chỉ năm xu xe, chạy nhoáng một cái đến nơi ngay.

           Rồi gọi:

          - Cao su!... Hai cái!

         Vợ lên một xe, chồng lên một xe. Xe vợ chạy trước, xe chồng chạy sau. Xe kéo rập rình, qua hết phố này sang phố khác. Ðêm khuya, đường sá vắng ngắt, thiên hạ ngủ im. Ðến Hàng-đào, phu xe hỏi:

         - Ði cà-phê nào đây, cô?
         - Tôi cũng chẳng biết nữa. Anh thử hỏi xe sau xem.

          Phu xe ngoảnh lại, chẳng thấy bóng cao-su nào. Cô thông thò đầu ra, bảo quay xe lại; nhìn mãi cũng không thấy gì. Hai bên hàng phố, cửa đóng kín mít; bốn bề im lặng như tờ. Dãy đèn điện sáng choang, thăm thẳm một dải đường dài trắng xóa... Cô thông giật mình:

          - Ô, hay! Xe kia đi vào đường nào?... Ðây là phố gì, hử bác?
          - Phố Hàng Ðào.
          - Bác có biết xe sau chạy ngả nào, không?
          - Không biết!
          - Chết chửa! Coi khéo chẳng lại lạc, nhé!...

          Cậu cu-li (Tiếng Pháp: coolie: phu) giở giọng ngay:

          - Ơ, hay! Có lẽ bây giờ cứ đứng giữa đường này, ư? Cô bảo tôi kéo đi đâu, chứ?
          - Hãy khoan đã, bác. Thử đợi tí nữa, xem sao. Ngộ xe nhà tôi đi chậm chăng, vì còn mắc cái va-lít nặng.

         Cu-li bèn nạc mỡ rằng:

         - Thôi, mất câu rồi. Ðừng mong người với va-lít nữa. Hụt món này, ta lõng món khác vậy.
Cô ta nghe nói, lạnh gáy cả người; những lo ngay ngáy, bụng bảo dạ rằng: "Chết nỗi! Bây giờ làm thế nào đây? Bơ vơ phận gái, đêm khuya một mình ở nơi đẤt khách, biết nương vào đâu?... Mà chồng thì đi đường nào? Sao lại có lạc được? Lẽ đâu vô ý thế!...".

          Còn đang lúng túng, thì có phu-lít (Tiếng Pháp: police: cảnh sát) đi qua hỏi: "Cái gì?" Cô kia vừa buồn, vừa hãi, thấp cao kể rõ sự tình. Phu-lít bảo: "Ði lên bóp!" ấy mới rầy rà! ấy mới thật là chết! Làm thế nào được bây giờ. Trời ơi?...May sao, giữa lúc ấy, có một thầy ra dáng làm việc Tây, cũng đi qua đó, thấy lôi thôi, đứng lại gần, xem. Thốt nhiên, thầy ta giương mắt trừng trừng, nhìn vào tận mặt người đàn bà mà hỏi:

          - Có phải cô Giáp đấy không?

          Cô Giáp ngạc nhiên, đổi lo ra mừng:

         - Phải, tôi đây... Kìa, thầy Bính!...
          - Chết rồi! Cô lên đây bao giờ?... Lên làm gì trên này?... Ði với ai?... Ðêm hôm khuya khoắt, sao lại chỉ có một mình thôi?
          - Tôi vừa ở tàu thủy lên với nhà tôi...
          - Vậy... thầy đâu?
          - Xe tôi đi trước, xe nhà tôi đi sau. Bây giờ trông lại, không thấy đâu nữa. Dễ thường lạc rồi, thầy ạ.
          - Hừ!... Lạ thật! Sao lại lạc được?

         Thầy Bính nghĩ một lát, rồi lại đoán rằng:

          - Hay là gặp anh em, còn đứng lại nói chuyện, chăng?... Nhưng cũng không có lẽ... Ai lại bỏ vợ bỡ ngỡ, đi một mình trong thành phố đêm khuya như vậy!... Thôi, để tôi nói với thầy đội. Xin mời cô hãy về tạm đằng nhà, nghỉ ngơi với mẹ cháu cho tiện. Rồi sáng mai ta sẽ liệu.


*

          Mai cũng chẳng thấy gì; kia cũng chẳng thấy gì. Trong hai ba ngày, tịnh vô âm tín. Cô Giáp sốt gan sốt ruột. Hai vợ chồng thầy Bính trong lòng cũng áy náy mà phân vân: "Ô, hay! Tìm hết nơi này, hỏi hết chỗ kia, sao mà chẳng thấy tăm hơi đâu cả, là nghĩa làm sao? Kỳ thật!..."
          Ðến ngày thứ tư nhân ngồi nói chuyện việc cưới mình, cô Giáp mới thuật lại cả đầu đuôi: "Chồng tôi nghe đâu như người ở tỉnh X (nguyên in: XXX). Cha mẹ mẤt sớm, mồ côi một mình, trước sau chẳng có ai cả; thân lập lấy thân. Thầy đẻ thương tình mà gả, chứ nào có phải rằng là tham của tham cải gì đâu! Vả chưng chồng tôi vốn là thanh bạch. Thôi thì nhờ trời, nhờ quan trên, có lẽ nay mai cũng lo được bổ vào làm việc Nhà nước. Tiền của bây giờ chẳng ngại, chỉ cốt lấy chút công danh với họ hàng làng nước. Nay hai vợ chồng đem nhau lên Hà Nội chơi. Có mang cả mấy trăm bạc đi nữa..."
          Thầy Bính bèn hỏi rằng:

          - Thế thì bạc ấy đâu?
          - Ấy, nhà tôi giữ. Bỏ ở trong va-lít... Va-lít nhà tôi mang... Lại bao nhiêu đồ vàng của tôi, cũng để cả trong va-lít ấy.

        Thầy Bính lắc đầu, thở dài nhìn cô Giáp mà nói rằng:

        - Thôi, cô mắc lừa rồi, cô ạ.

Cô Giáp không hiểu:

          - Mắc lừa ai?... Thầy bảo tôi mắc lừa ai?...
          - Mắc lừa thằng bợm, chớ mắc lừa ai?... Nó cuỗm cả vàng lẫn bạc, nó tếch lên ngàn rồi... Sao lại tin cái đứa vu , trên không chằng dưới không rễ thế?!...
          - Nhà... nhà... nhà tôi ấy, ư?

          - Chứ lại gì!

          Cô Giáp chết điếng người. Ngồi lặng im một lát, rồi bưng mặt khóc òa lên:

          - Trời đất ôi! Ngờ đâu con người thế, mà xỏ lá ba que!...
          - Cô ơi, đời bây giờ thiếu gì những giống tốt mã dài đuôi, làm nghề cậu Sở!... Thôi đà mắc lận thì thôi, đi đâu chẳng biết con người Sở khanh!...


*


            Cách hai ba tháng sau, dò la mãi, quả nhiên biết rõ tin rằng: cậu Sở ấy đồng mưu với một ả giang hồ, để lập cái kế tàn nhẫn này, mà lấy của và hại một đời người đờn bà đầu xanh tuổi trẻ. Xong rồi, hai đứa đem nhau đi trốn sang đâu Xiêm, Lào, để cùng vui hưởng cái của bất nhân bất nghĩa.

Phạm Duy Tốn 
(tháng 2 năm 1919)

TRẦN TIÊU * MA

MA

 

Trần Tiêu


         Thủa nhỏ, tôi tin cả ma lẫn quỷ.
         Quỷ, theo trí tưởng tượng của tôi, là những quân đầu trâu mặt ngựa, hung ác vô ngần, có những cánh tay nổi đầy bắp thịt rắn như sắt, và những bàn tay gân guốc cầm những kìm để cặp lưỡi, vặn răng, những bàn vả, những búa rìu, những cưa để bổ xẻ tội nhân. Tôi liên tưởng đến những hình cụ ghê gớm như vạc dầu, cột đồng lửa… đến cả những cầu vồng với đàn chó ngao đứng chực sẵn dưới. Những hình ảnh kỳ quái, ghê sợ ấy không phải tự óc non nớt của tôi nghĩ ra, mà do ở những bức tranh treo ở chùa Huệ, mỗi khi có đám chay lập đàn phá ngục.
         Còn Ma thì mỗi lúc tôi tưởng tượng một khác, tùy theo câu chuyện người ta kể cho tôi nghe. Có lúc tôi tưởng tượng ra một người con gái xinh đẹp như một nàng tiên. Có lúc là một vị ác thần với nét mặt thay đổi đủ các hình kỳ quái, dữ tợn. Những sự tưởng tượng ấy in sâu mãi vào óc tôi và nung đúc tôi thành một đứa trẻ nhút nhát. Nhưng tính tự đắc của tôi lại rất mãnh liệt, có khi làm át hẳn tính nhút nhát của tôi đi.

         Tôi còn nhớ, một đêm tối trời và giá lạnh, anh tôi kể xong một chuyện ma. Rồi muốn thử xem trong chúng tôi có đứa nào bạo, anh tôi đặt ra một cuộc thi rất giản dị nhưng rất khó cho những tay nhút nhát.
         Cuộc thi như thế này: ở tận cùng vườn có cây ngâu. Ai ra tận đấy, bẻ được cành ngâu cầm về, sẽ được cuộc.
         Vừa nghe nói đến cây ngâu, tôi đã rủn cả người, rợn cả tóc gáy. Vì cây ngâu không cách cây sung mọc trên bờ ao mấy. Và cây sung đã nổi tiếng sẵn ma.Chúng tôi nhìn nhau. Xem chừng anh nào cũng muốn thi tài, song chẳng một anh nào dám nhúc nhích… Bỗng một anh ló đầu ra khỏi cửa lại thụt vào ngay, lè lưỡi, trợn mắt, tỏ vẻ sợ hãi.
         Sách, người anh họ đã lớn, đứng cạnh phỉnh tôi: “Ai chứ Tíu thì bạo lắm. Đâu nó còn đi được nữa là từ đây đến cây ngâu.”

Anh tôi nói khích:
         - có các vàng cũng đố dám!

          Lòng tự đắc của tôi bỗng sôi nổi. Mặt tôi nóng bừng vì cơn tức khí. Không nghĩ ngợi, tôi chạy vụt ra sân, bước mạnh bạo vào trong vườn. Trời tối đen như mực. Tôi đâm choạng vào các bụi cây. Luống cuống, quên cả lối, mò mãi chẳng tìm thấy cây ngâu. Trở về không thì bẽ quá. Anh em còn ai cho mình là bạo nữa. Họ sẽ thi nhau chế riễu mình. Lòng tự đắc bắt tôi tìm cho được cây ngâu, dù lúc ấy trí tôi rối loạn, chân tay tôi bủn rủn và quả tim tôi đập như trống ngũ liên. Vừa đi vừa sờ soạng, tôi lần ra tận gốc sung mà không biết. Sờ đến cái da xù xì của nó, tôi giật mình, lạnh toát cả người. May mà lúc ấy yên gió. Không một quả sung nào rụng, không một con ếch, con nhái nào nhẩy xuống ao. Thật, chỉ thêm một tiếng tõm, không biết tôi sẽ trở nên thế nào?
         Tôi bước giở lại, mồm luôn luôn đọc hai câu chữ nho: “Thiên tích thông minh, thành phù công dung.” Thường tôi vẫn thấy nói: ma bao giờ cũng sợ giời, sợ thần thánh, nên lúc nào đi đêm, tôi cũng nhẩm đọc hai câu ấy để làm bùa trừ tà.
         Cây ngâu cách cây sung có vài bước. Tôi tìm được, bẻ vội một cành. Cái mừng đắc thắng làm cho lòng tôi bớt sợ. Song chỉ một loáng, đâu lại hoàn đấy. Cái sợ có phần tăng gấp bội. Hai cẳng chân tôi như bị chuột rút. Tôi cố dấn bước mà không sao dấn lên được. Đằng sau tôi như có người đuổi theo, tiếng chân nện thình thịch, sắp sửa vồ lấy tôi. Lúc ấy, nếu có ai hét một tiếng, chắc tôi sẽ ngã sấp xuống, chết ngất đi.

         Tôi được cuộc, được tiếng bạo nhất nhà, nhưng đã hao tổn bao nhiêu tinh thần. Từ đấy, nhiều phen tôi điêu đứng khổ sở về cái bạo bề ngoài. Còn gì khổ bằng một anh tí hon nhát gan, làm ra mặt bạo. Động có cuộc thử thách là bắt buộc phải đến tôi. Nhát cũng được, nào ai cấm. Nhưng mà đã trót bạo mất rồi, không sao đủ can đảm mà thú thực mình nhát được nữa.
         Một buổi chiều, tình cờ chúng tôi đứng trước một túp lều tranh bỏ hoang, ở sau trường học. Túp lều ấy, khi trước là nhà Cai trường. Từ khi hắn chết, người kế chân hắn sợ, không dám ở. Họ đồn nhà ấy có ma. Vì thế, chưa nói đến cuộc thi, tôi đã tái mặt, đau khổ như người sắp chịu tội. Trời ơi! ước gì anh tôi quên.
         Tôi chưa kịp lủi thì anh tôi đã họp lũ trẻ lại, thách vào trong túp lều, đánh nhau với ma. Sách cũng có đấy. Hình như giời sinh ra anh chỉ để làm khổ tôi. Anh quay ra nhìn tôi, nói: “Xem chừng ở đây lại chỉ có Tíu là bạo nhất. Quỷ nó còn chả sợ nữa là ma”.

Tôi tìm cách thoái thác:
- Cuộc thi phải có thưởng.
- Một xu nhé? – Anh tôi hỏi.
- Một xu thì chả bõ.
- Thế bao nhiêu?
- Một hào.

         Tôi chắc không khi nào anh tôi chịu bỏ ra một hào. Như thế cuộc thi sẽ hoãn và tôi cũng không đến nỗi mất thể diện. Chẳng ngờ anh tôi nhận lời ngay. Làm thế nào? Đành nhắm mắt bước liều vậy. Trong nhà ba gian xiêu vẹo, tường vách kín như bưng. Và hôi hám và ẩm thấp, lạnh lẽo, rùng rợn như một nhà hầm chứa… ma. Tôi chưa kịp định thần thì hàng chục con đom đóm lập lòe bay loạn xạ. Không biết anh tôi bắt bỏ vào từ lúc nào? Con nào con ấy như sấn lại tôi, khiêu khích. Tôi liều mạng, đấm đá, quay tít đi mấy vòng, rồi chạy vội ra ngoài thở hồng hộc.
         Anh tôi và lũ trẻ kêu lên: “Vừa mới thoáng một cái đã ra. Không được! Thua cuộc rồi!”
         Tôi làm ra mặt giận dỗi, vừa nói vừa lảng đi chỗ khác: “Tôi biết mà! Các anh đánh lừa.”.
         Đêm ấy và luôn mấy đêm liền, tôi chiêm bao thấy toàn ma, và mắt con nào con nấy tròn xoe, đỏ như hòn than hồng. Con kéo lên ngực bóp cổ, con nhe răng nhọn như răng bừa, con lè lưỡi dài lê thê. Tôi thất đởm, kêu ú ú, hai tay ôm chặt lấy anh tôi.
         Thầy tôi cho vì âm hư huyết ráo, bốc thuốc cho tôi uống. Thầy tôi biết thuốc. Me tôi vẫn mê tín, cho là bệnh nhà người, mua vàng hương đi lễ các đền miếu. Chỉ có tôi là biết rõ bệnh tôi, song vì lòng tự đắc quá mạnh, không khi nào tôi chịu thú…

*
         Tôi đã lớn, đã theo học năm thứ nhất trường Bảo hộ. Nhờ về khoa học tôi đã hiểu biết, đã quả quyết nói là không có ma. Và những ma trơi, những thần đất chập chờn, đuổi nhau trên gò đống, chỉ là chất lân tinh ở hồ, ao tù hãm bốc lên, gặp dưỡng khí trong khí giời, bùng cháy. Tôi hiểu biết thế. Nhưng tính tôi vẫn nhút nhát sợ ma, sợ quỷ như xưa.
Lắm đêm, ngồi một mình trong căn phòng vắng vẻ, đèn sáng hẳn hoi, tôi thấy rờn rợn, tưởng một vật ghê gớm như một con ma ở trên nóc nhà sắp rơi phịch xuống, hoặc ở xó xỉnh hay trước mặt sắp hiện lên để hại tôi. Rồi thần hồn nát thần tính, một con chuột khẽ động dưới khe hòm, một tiếng cú vẳng ngoài xa, cũng đủ làm cho tôi mất vía. Có khi chẳng cần phải có tiếng gì, tôi cũng sợ. Sau lưng tôi như có một quái vật đứng lù lù, chỉ chờ tôi ngoái cổ lại là trợn mặt, lè lưỡi ra nhát. Thế là tôi phải rời căn phòng, tìm đến chỗ đông người. Nhiều khi, vấn tâm, tôi xấu hổ, tự bỉ sao mình lại nhát gan đến thế. Hay là tính nhút nhát là một bệnh, một cố bệnh không sao chữa được? Vì hiện giờ, tôi thú thực, tôi vẫn còn tính nhút nhát, sợ ma, mặc dầu đầu óc suy xét của tôi tin rằng: người ta cũng như các sinh vật, một khi đã chết, xác thịt sẽ mục nát, tiêu tán đi. Còn linh hồn hoặc không có, hoặc có thì cũng khác nào như hơi thở, tan vào trong không khí, hòa lẫn với các linh hồn khác; óc suy xét tôi tin rằng: không khi nào linh hồn lại hiện ra được thành người, thành quái vật để dọa nạt, hãm hại người sống.
         Ngoài tính nhút nhát, tôi còn một tính xấu nữa, là tính dễ tin, dễ thay đổi ý tưởng. Vì thế mà khi xem xong quyển sách thuyết về chủ nghĩa vật chất “Matériellisme”, tôi đã một dạo gần như bạo dạn, dám đi đêm một mình. Đến khi xem hết bộ sách thần linh học “Spiritisme”, đồng cốt học “médiumnisme”, tôi lại trở lại nhút nhát quá trước.

*

         Năm 19… tôi xin thôi giáo học, xoay về quê nhà làm ruộng. Tôi thường giao thiệp với những ông Lý, ông Khán quê mùa cục mịch. Trong câu chuyện xã giao, họ hay kể đến chuyện ma quỷ.
          Vì họ mà tôi biết được trong làng tôi, ở xóm Cõi Hùng có con ma to lắm. Nó dám cả gan đè cả cụ Thượng làng tôi xuống cái rãnh sâu, ngay sát khóm tre cu. Đồng Mộ Và những đêm giăng suông, nó uốn rập một cành tre xuống mặt đường. Ai vô ý bước qua, nó sẽ bật cành tre lên, như bật cần câu để làm cho người ta ngã dập đầu, vỡ sọ. Có khi nó dìm cả người ta xuống cái ao gần đấy.
         Vì họ mà tôi biết được ở trước quán Ngói có con ma chẳng kém con ma Cõi Hùng. Con này, chính ông Quản Sâm đã gặp. Theo lời ông kể, một hôm, một hôm giăng suông, ông đi thăm bệnh cho ông Chánh Bá làng Đoài, liền cạnh làng tôi. Đến quán Ngói, ông đâm phải vật gì nhũn nhũn, mềm mềm. Ông cúi xuống thấy một cái đầu lâu nhìn ông, nhe răng ra cười. Cái đầu lâu, trước còn bằng cái đầu thường, bỗng to ra bằng cái thủ lợn, rồi bằng cái thúng. Ông vốn là người trong đạo Gia tô, lại bạo có tiếng. Sẵn gậy, ông giơ lên, vụt một cái thật mạnh, mồm nói: “Giêsu ma, lạy chúa tôi!” Cái đầu lâu biến mất, chỉ còn trơ lại một hòn đất thô. Ông bước qua, chẳng tỏ chút sợ hãi. Phục thật!
         Lại một ông, ông Xã Chưởng vừa mất năm ngoái, một buổi chiều, xâm xẩm tối, ông đi chợ Hạ Am về. Cũng đến quán Ngói, ông gặp một người con gái rất đẹp cắp thúng đi ngược lại. Ông nói ghẹo:
- “Cô đi đâu đấy? Muốn lấy tớ thì về nhà với tớ.”
Cô con gái nhoẻn miệng cười, trả lời:
- “Vâng, mình cứ về trước, rồi em về.”
Xã Chưởng về đến nhà, vào buồng đã thấy người con gái ban nãy, ngồi trên giường, cười nói lả lơi:
- “Mình về chậm thế? Em về trước mình đã lâu,”
Vừa nói vừa ôm ghì lấy Xã Chưởng hôn. Cặp môi cô ta ép vào má Xã Chưởng, lạnh buốt đến tận ruột. Từ đấy, đêm nào người con gái cũng hiện lên, nằm sát cạnh, lạnh như bùn.
Sau Xã Chưởng phải cầu cứu đến ông Pháp Rục, một thầy phù thủy cao tay có tiếng trong làng chữa chạy ba ngày ba đêm mới trừ được nó.

         Vì họ, tôi còn biết cây đa chợ Cầm, lối đi ra trường học, có một con ma tuy không ghê gớm bằng hai con kia nhưng cũng đáng sợ. Con này là vong hồn một người đàn bà chết đuối ở giếng chùa, gần đấy. Đêm đến, nó thường ngồi chồm chỗm trên cành đa, rũ tóc xuống tận đất. Người nào yếu bóng vía, nó sẽ giương đôi mắt xanh như mắt mèo và lè lưỡi dài lê thê ra nhát.
         Còn, còn nhiều chuyện ma. Tôi không tin. Tin sao được những chuyện hoang đường vô lý như thế, trừ phi là trẻ con mê tín như tôi khi xưa. Nhưng mà một đêm về… phải, về tháng chạp, hai mươi mốt tháng chạp, năm 19… Tôi còn nhớ rõ ràng như vừa mới hôm qua vậy.
         Tôi đến ăn cơm đằng ông Giáo. Ăn xong, chúng tôi bày ra đánh cờ. Mải nghĩ nước cờ, lúc giở ra về thì giời tối mịt. Ông Giáo ở ngay trường. Trường có hai buồng: một buồng học và một buồng ông dùng làm chỗ ở. Trong buồng vẻn vẹn có hai chiếc giường thì một chiếc vợ chồng ông nằm còn chiếc phần người vú với thằng bé lên ba, con ông. Thằng nhỏ ốm, xin phép về từ ban sáng. Tình hình như thế, ở lại bất tiện.Bên ngoài, giời mưa phùn và tối đen như mực. Gió bấc thổi từng cơn mạnh. Không dùng được đèn đóm. May sao bà Giáo, hôm rằm đi lễ, còn để lại một thẻ hương. Đành lấy hương thay đèn đóm vậy. Hai vợ chồng ông Giáo ái ngại hộ:
-“Giời mưa rét này mà về thì khí phiền cho anh lắm nhỉ. Hay là…”
Tôi vẫn không bỏ được tính tự đắc, vội trả lời, không kịp nghĩ:
-“Không sao. Từ đây về nhà tôi cũng gần”.
Cổ áo tơi che kín má, tôi mạnh bạo bước xuống sân, một tay thọc trong túi, một tay cầm nắm hương cháy, khua đi khua lại cho sáng. Ông Giáo đứng trên thềm nói ra:
-“Rét lắm nhỉ!”

          Trời ơi! Nếu chỉ có rét.Đôi cánh cửa trường vừa khép thì một chút mạnh bạo bám hờ lấy tôi, bay đi như một hơi thở. Khắp người tôi chỉ còn toàn sợ. Bao nhiêu sợi tóc trên đầu tôi dựng ngược cả lên. Hai hàm răng tôi thi nhau đập. Tay chân tôi run lật bật, cầm không chắc, đi không vững. Chốc chốc lại một khối đen hiện ra, lù lù tiến đến trước mặt tôi, làm tôi rùng mình lùi lại mấy bước.Không bao giờ tôi thấy tôi cô độc, sợ hãi bằng lúc này. Người lạc vào trong rừng rậm, vừa đi vừa nghĩ đến ác thú còn hy vọng vào đôi mắt, vào tứ chi. Tôi chẳng còn hy vọng vào đâu. Trước mặt tôi, đằng sau tôi, chung quanh tôi, toàn bí mật của tối đen. Một tiếng xào xạc, một tiếng rền rĩ của côn trùng, một tiếng cỏ ẹp dưới gót chân cũng đủ khiến tâm hồn tôi kinh hoảng. Không hiểu sao, lúc ấy lại là lúc tôi giầu tưởng tượng quá. Và toàn những tưởng tượng ghê gớm về huyền bí. Tiếng thông chùa Đông, theo luồng gió bấc đưa lại là những tiếng than khóc bi ai của những linh hồn đau khổ, đương quằn quại dưới mồ. Những đom đóm lập lòe trong tối là những con ma nghịch ngợm, từ dưới mà vụt lên để đi trêu ghẹo những người yếu bóng vía. Những tiếng kẽo kẹt của những gốc tre già cọ vào nhau là những tiếng nghiến răng của những con ma hung ác hay là những tiếng võng đưa của một Bà Nàng trên rừng xanh, núi thẳm… Rồi bao nhiêu những chuyện ma người ta kể cho tôi từ thuở nhỏ, bỗng trở lại trong trí nhớ tôi.
Bực quá. Tôi cố nghĩ sang chuyện khác để xua đuổi cái ý nghĩ vô lý ấy đi mà không sao được. Hình như nó xuất phát từ cảm giác yếu đuối của tôi và tâm tính tôi như không chịu theo cùng một điệu với trí xét đoán xác thực của tôi. Không còn cách gì hơn, tôi bèn huýt sáo… Chợt có tiếng động trong bụi tre. Nghĩ đến rắn, tôi hoảng sợ, im bặt. Rồi như một cuồng sĩ, tôi lảm nhảm nói triết lý một mình, cốt để khỏi nghĩ. Vô hiệu. Mồm tôi vẫn nói, mà ý nghĩ, mà cảm giác, nhất là cảm giác vẫn chìm đắm trong cái sợ vô biên…
- Thế là nghĩa lý gì? Chậc, mặc kệ! Cứ sợ đi. Cóc cần!… Liều!
Nói đoạn, tôi vứt bó hương, vì bó hương với cái ánh sáng đỏ lòm của nó xem chừng cũng vô ích. Hai tay thọc trong túi áo len, tôi vươn thẳng mình, ưỡn ngực, bước mạnh bạo để cố chống với cái sợ, chẳng khác lúc đứng trên phà, chống với những cơn gió rét buốt thịt.
Chưa kịp thấy công hiệu thì vài tiếng cú thất đảm kinh hồn báo trước tôi biết: tôi sắp đến chơ. Cầm và cái giếng chùa gần đấy. Một cảm giác rùng rợn chuyển khắp người tôi, làm cho da thịt tôi tê tái, tứ chi và gân cốt tôi rời rạc, bủn rủn.
- Sắp đến cây đa rồi nhỉ. Chả còn mấy bước nữa đến nhà. Tôi nói to để gợi hết can đảm, nhưng chỉ tổ làm cho tôi bối rối thêm.
Khó nghĩ quá. Tránh cây đa thì lại gần cái giếng. Mà tránh cái giếng thì…

         Hú… ú… ú… Một tiếng hú ngân dài vang động cả một bầu trời đen, dầy đặc, vừa ai oán, vừa ghê rợn như tiếng… ma kêu. Tiếp liền sau, một chuỗi cười khanh khách… lạnh lẽo, khô sắc, rắn chắc như hai ống xương gõ vào nhau. Đấy là cảm giác của tôi về sau, khi nhớ lại, chứ lúc ấy hồn vía tôi bay đi đằng nào rồi, còn đâu. Hai chân tôi như cái máy đưa xác thịt tôi về phía cây đa. Một vật gì lơ lửng trên không, lơ thơ như tóc, bay tạt vào mặt tôi. Chết rồi! Tóc nó! Hai chân tôi lùi lại. Tiếng hú ngân dài và tiếng cười khanh khách vang lên lần nữa. Đầu tôi díu về đằng trước, hai chân tôi chạy bán sống bán chết. Còn hai tay tôi làm gì? Mắt tôi thấy gì? Cảm giác, trí lực tôi thế nào? Làm sao tôi chạy về được đến nhà mà không vấp ngã? Tôi chịu, không sao biết được. Có lẽ vì hằng ngày tôi đi lại nhiều lần, nên chân tôi bước đã quen, như bước chân thầy bói vậy. Phải, chắc thế. Vì hai bên đường có ao, có ruộng, có rãnh, và đường có chỗ cong, chỗ rẽ vào nhà. Nếu không quen như thầy bói quen đường thì sao thoát khỏi ngã.

         Bây giờ, nếu ai hỏi tôi: “Trong đời, anh bạo nhất lúc nào?” Tôi sẽ quả quyết trả lời là lúc ấy. Lúc ấy, mặc dầu đạn bay bom nổ ngay trước mắt, tôi cũng chẳng coi vào đâu. Tôi coi như không, vì lẽ cố nhiên là tôi chẳng còn hồn vía, trí giác đâu nữa mà biết để mà sợ. Có lẽ những tên lính hùng mạnh, đánh giáp lá cà, dấn mình trong mưa đạn, cũng đến như tôi lúc ấy mà thôi.
         Thấy tôi tái nhợt như cái xác, nhà tôi hốt hoảng nắm lấy cánh tay tôi hỏi dồn:
-“Chết chửa! Cậu làm sao thế? Có việc gì thế, cậu?”
Rồi quay ra giục đầy tớ:
-“Đóng ngay cổng lại, mày!
Tôi nằm vật xuống giường, nói như người thở hắt ra:
- Ma! Ma! Mợ ạ… Tôi gặp ma!
         Cái dáng điệu với giọng nói thành thực ấy khiến nhà tôi không thể không tin được, dẫu ngày thường không bao giờ tôi ngỏ ý sợ ma, không bao giờ tôi nói đến chuyện ma hay chuyện gặp mạ
         Tôi ngủ thiếp đi. Sáng hôm sau tôi hoàn hồn, và tối sau tôi bắt đầu sợ, sợ quá đến nỗi không lúc nào dám ngồi một mình, dám rời khỏi nhà, dám bén mảng xuống bếp. Lúc đi ngủ, tôi đã nằm len vào giữa. Một bên nhà tôi, một bên thằng con nhỏ mà vẫn thấy rờn rợn. Mỗi luồng gió lọt qua khe cửa, tôi nghe như tiếng hú của con ma. Tiếng chuột rúc, tiếng dế kêu tôi nghe như tiếng cười khanh khách của nó. Chốc chốc tôi lại lay người nhà tôi dậy, hỏi vơ hỏi vẩn cốt để nhà tôi thức giấc.

         Cách vài hôm, vào ngày chủ nhật, tôi đến chơi ông Giáo, Giáp và Dần, bạn tôi cũng có đấy. Tôi đem chuyện ma ra kể. Ông Giáo không tin, cười nói:
         - Thôi đi, anh đừng thấy tôi ở vào chỗ hẻo lánh, gần tha ma mà đem ma ra dọa. Tôi chẳng sợ đâu.
         Giáp không cười, nói, giọng chân thật:
         - Có lẽ thật đấy, các anh ạ. Chính tôi cũng gặp ma một lần, mà cũng ở giếng Chùa gần cây đa chợ Cầm. Đêm ấy, cách đây độ… nửa tháng, giời sáng giăng hẳn hoi, tuy sáng lờ mờ. Tôi đi đến gần giếng, thì thấy một cái bóng người ngồi xõa tóc trên bờ bên kia. Tôi dừng bước hỏi:
         - Ai? Cái bóng lừ lừ đứng dậy, lừ lừ đi đến cái tháp rồi biến mất.
Ông Giáo cãi lại:
         - Chắc đâu là ma hay là người thật.
         - Đích thực ma chứ không phải người, vì tôi thấy cái bóng nó mập mờ, ẩn hiện như ma, và người tôi lúc ấy thấy rờn rợn. Mọi lần đi đêm, có bao giờ tôi thấy rợn đâu.
          Ông Giáo nhìn Dần, nói, coi Dần như đã biểu đồng tình với ông vậy:
         - Cái đó thì đã dĩ nhiên. Vì mọi lần anh Giáp tôi không có cái gì để mà rùng rợn, có phải không anh Dần?
         Dần từ nãy vẫn giữ vẻ điềm tĩnh, yên lặng ngồi nghe, bèn cất giọng nói thong thả: “Tôi chưa gặp ma bao giờ vì lẽ không mấy khi đi đêm. Nhưng mà người ta thường nói: “hay đi đêm lắm có ngày gặp ma. Câu ấy có lẽ đúng.”
Ông Giáo chau mày, ném mẩu thuốc lá hút dở qua cửa sổ:
“Lại nhà triết học này nữa. Nhà triết học cũng tin nhảm như hai bác mê tín kia ư? Thế thì hỏng, hỏng bét.”
          Dần nhếch mép cười, rút một điếu thuốc lá trong bao “ba tốt” để trên bàn, cầm dỗ mấy cái xuống mu bàn tay rồi bật diêm hút ba bốn hơi liền. Đoạn anh ung dung đáp lại:
         - Tin hẳn thì không dám chắc, nhưng mà phân vân thì có… Các anh đã đọc quyển “Spiritisme” chưa nhỉ. Anh Tíu thì chắc đã xem rồi, vì quyển sách ấy chính anh cho tôi mượn… Chưa à? Vậy các anh cũng nên đọc qua. Trong sách có nhiều đoạn họ viện khoa học ra thuyết đúng lý lắm, có phải không, anh Tíu nhỉ. Như đoạn… họ nói: linh hồn một khi đã thoát khỏi xác thịt, vẫn giữ được tính chất riêng của từng cá nhân, chứ không tan vào không trung như lời của phần nhiều nhà triết học khác. Theo thuyết họ thì linh hồn còn có một chất bọc ngoài là “périsprit”. Chất ấy giữ cho linh hồn nguyên tính như khi còn tù hãm trong phần xác vậy. Vì thế mà có linh hồn cao siêu, linh hồn tầm thường, linh hồn hèn kém, linh hồn lương thiện, linh hồn hung ác, linh hồn giảo quyệt, nghịch ngợm, đủ hạng như đủ hạng người trên dương gian… Chả biết ý tưởng các anh thế nào, chứ tôi thì tôi cho là phải.
         Ông Giáo xem chừng không phục cái thuyết ấy, nhưng vì tò mò muốn nghe, nên ông cũng nói:
         - Được! Nhà triết học cứ thuyết đi.
         Giáp nghe có vẻ chăm chú lắm. Còn tôi tuy đã đọc qua, cũng muốn nghe lại.
Dần uống vài ngụm nước nhấp giọng. Đoạn, anh nói tiếp:
         - Linh hồn có khi tan ra như không khí khiến mắt ta không nhìn thấy được. ấy là theo thuyết của họ chứ không phải thuyết của tôi đâu nhé, vừa nói anh vừa tủm tỉm cười. Có khi tụ lại như sương mù, có khi đọng lại thành hình tùy theo ý muốn của linh hồn. Vì thế mà ban đêm, thường trong sáng trăng suông, có người nhìn thấy linh hồn hiện hình tức là ma…
         Ông Giáo không nhịn được, ngắt lời:
         - Thuyết ấy vô lý lắm, tôi bất phục. Có lẽ nào đương vô hình mà lại thành hình, nhất là hình người…
         Giáp đương thích nghe, cản lại:
        - Thì anh hãy để anh Dần nói nốt đã nào.
        Không nể lời bạn, ông Giáo còn chêm một câu hỏi nữa:
        - Thí dụ như con ma ngồi xõa tóc của anh Giáp. Vậy tóc lấy ở đâu ra? Lại còn có người thấy ma hiện thành con gái, cắp thúng. Vậy những thức ấy ở đâu ra hay cũng ở linh hồn là chất vô hình? Vô lý! Vô lý!
         Dần vẫn điềm tĩnh, bật diêm châm lại điếu thuốc hút dở rồi khoan thai đáp:
        - Xem đến đoạn ấy, tôi cũng nghĩ như anh Chữ (tên ông Giáo), nhưng mà, các anh ạ, vũ trụ của Tạo hóa… Chẳng nói gì vũ trụ, ngay cõi dương gian chúng ta đương sống đây, biết bao nhiêu sự mà ta cho là lạ lùng huyền bí. Song đối với Tạo hóa không có sự gì là huyền bí, lạ lùng cả. Chữ “surnaturel” chỉ là lời nói của ta đặt, những cái mà ta thấy khác thường với ta đó thôi: với Tạo hóa nó vẫn là thường “naturel”.
          Nghỉ một lát để hút thêm vài khói (Dần vốn nghiện thuốc lá và nghiện nặng). Đoạn anh nói tiếp:
         - Lại còn thuyết này nữa: cái gì có ở thế gian, ở trên quả đất của ta, đều có hết thẩy trong không trung. Thí dụ như nước. Theo phép thí nghiệm, là hai chất dưỡng khí và khinh khí (H2O) hợp lại mà thành ra. Hai chất ấy không ở không trung thì ở đâu? Lấy một nhẽ ấy mà suy thì hết thẩy, từ con vi trùng nhỏ nhỏ biến, cho chí các loài các giống, các đồ đạc, các thứ, đều là những chất “éléments” sẵn có trong không của Tạo hóa cả. Vậy thì sao linh hồn, nhờ quyền phép của Tạo hóa, lại không lấy các chất cần dùng ở đấy mà lập thành ra được. Theo lý ấy, linh hồn có thể làm ra cái nhẫn vàng, hạt kim cương, đủ mọi thức tùy theo sở thích của linh hồn… Chắc các anh sẽ bẻ: Sao những thức ấy không thành thật được, nghĩa là không thành những thức mà ta có thể cầm trong tay, giữ lấy mà dùng được. Tôi cũng nghĩ vậy. Nhưng đó lại là bí quyết của Tạo hóa. Ta chỉ nên lấy những việc xảy ra “les faits” mà xét đoán. Ma, tức linh hồn hiện hình đã xẩy ra. Anh Chữ không gặp. Tôi cũng không gặp. Nhưng mà anh Tíu, anh Giáp đã gặp, thì tức cũng như chúng ta đã gặp vậy.
          Ông Giáo vốn có óc thiết thực, vẫn không chịu, cãi lại:
         - Như thế nào được. Hai anh ấy sẵn có tính nhút nhát. Động đêm đến là sợ ma, lúc nào cũng nơm nớp gặp ma. Rồi tưởng tượng giúp trí nghĩ, khiến mắt các anh ấy nhìn ra hình người, hình quái vật, khiến tai các anh ấy nghe thấy đủ mọi thứ tiếng, như tiếng hú, tiếng cười khanh khách chẳng hạn. ừ ma, nói đến tiếng, tôi lại xin hỏi tiếng hú, tiếng cười khanh khách lấy ở đâu ra hay lại cũng ở không trung? Hay chính linh hồn kêu, linh hồn cười?
 Nói rồi anh đắc chí cười khanh khách.
         Dần vứt mẩu thuốc xuống đất, rút điếu khác hút, rồi điềm nhiên hỏi lại:
         - Tiếng máy hát ở đâu ra? Tất ở cái kim chuyển trên đĩa nhựa. Cái kim, đĩa nhựa đều hợp thành bởi những chất có sẵn trong không. Vậy thì linh hồn có thể lấy ở đấy mà ra, lập thành tiếng hú, tiếng cười khanh khách.
 Nói rồi anh cũng cười trả lại. Đoạn anh tóm tắt:
         -Tạo hóa huyền bí vô cùng. Ta cũng là một huyền bí của Tạo hóa. Tạo hóa tạo ra ta, cho ta biết đến đâu, ta được biết đến đấy. Ta không thể lấy triết lý mong manh và kiêu hãnh của ta mà quyết đoán được Tạo hóa.

         Cuộc đàm đạo đã thấy lâu. Sau chiếc bình phong, tiếng bát đũa chạm vào nhau lạch cạch. Bà Giáo ra vào, băn khoăn. Thằng nhỏ nói thì thầm. Tôi biết ý đứng dậy. Dần, Giáp sực nhớ tới bữa ăn của nhà chủ, đứng dậy theo. Ông Giáo cũng đứng dậy nói:
         - Cứ kể cãi lý với anh Dần thì tôi cãi mãi được. Nhưng thuyết ấy, tôi không phục lắm. Nhưng mà, nếu có thể được, anh cho mượn quyển “Spiritisme, của anh Tíu. Chắc trong ấy còn có nhiều thuyết nó sẽ làm cho tôi phục lăn
.Ông Giáo vừa cười như chế nhạo.
         Giáp xem chừng đã ham mê quyển sách, vội nói:
         - Anh Chữ xem xong lại chuyển sang cho tôi nhé. Hay là anh còn bận dậy học, anh để tôi xem trước.
         Ông Giáo vui vẻ xua tay:
         - Không! Không được! Phải để mỗ xem trước. Mỗ nói mượn trước.
Dần đập vào vai tôi, cười nói:
         - Được hay không, còn phải hỏi chủ nhân của nó đã chứ đệ không có quyền.
Tôi vội đáp:
         - Được, anh nào muốn mượn thì mượn, tôi xin sẵn lòng. Miễn là anh Giáo tôi đừng cáu với nó quá mà vò nát nó ra thôi.
Tôi cười theo và tiếp liền:
        - Còn quyển “Đồng cốt”, anh nào muốn học lên đồng cô, đồng cậu, đồng quan lớn quan liếc thì tôi cho mượn nhân thể.
Ông Giáo vốn lười đọc, hỏi:
         - Có dầy lắm không, anh?
Tôi cười:
         - Dầy chẳng kém quyển “Spiritisme”
         - Thế quyển “Spiritisme”?
          - Dầy bằng quyển “Đồng cốt”.
Mọi người cười ồ.
Dần nói dọa:
         - Bằng hai quyển tự vị của anh kia kìa. Thấy ông Giáo chau mày, thở dài, Dần thương hại, nói tiếp:
         - Đùa đấy. Dầy độ gấp rưỡi quyển Tiêu Sơn tráng sĩ của anh để trên ngăn tủ ấy.

         Ra khỏi cổng trường, chúng tôi bắt tay nhau, rồi mỗi anh một ngả. Tôi vừa đi, vừa nghĩ đến những lời của Dần. Cả ngày hôm ấy, tôi thơ thẩn như một thi sĩ đương tìm vần thơ. Những thuyết trong quyển “Thần linh học” lần lượt thức dậy trong trí nhớ. Tôi còn nhớ mang máng một câu: “Nhờ Tạo hóa, nhờ cả khoa học mở mang tột bực, rồi một ngày kia ta sẽ biết rõ đời vô hình của linh hồn trên thế giới vô hình của họ, rõ như một với một là hai vậy. Lúc ấy chỉ có kẻ nào điên hay loạn óc mới dám nói: Không có linh hồn. Người chết đi là hết, là hư vô…”
         Không biết bao nhiêu ngày, bao nhiêu đêm, trí tôi luẩn quẩn trong quyển “Thần linh học” đến nỗi nhãng bỏ cả thực hiện. Trong nhà, ngoài sân, ngoài đường, trên không, chỗ nào cũng nhan nhản những linh hồn.
         Tôi sắp thành một người mê tín như các ông đồng, bà cốt thì một buổi chiều, đi thăm đồng về, gần đến chơ. Cầm, tôi thấy một đám đông, phần nhiều là trẻ con, đứng vây bọc chung quanh gốc đa. Tôi thoáng nghe thấy tiếng hát lanh lảnh, rồi những tiếng cười reo của lũ trẻ làm lấp đi. Tôi lại gần, dãn lũ trẻ ra. Một người đàn bà còn trẻ, quần áo lấm láp và rách để hở từng mảng da sém nắng. Đầu óc rối bù, xõa xuống trông không rõ mặt. Hai tay ôm khúc chuối áp vào vú để lõa lồ. Biết bà là con điên, tôi quay gót giở ra… Bỗng một chuỗi cười khanh khách giòn tan, khô xác, rắn chắc… làm tôi rùng mình ghê rợn. Từ đấy, tôi như trút được gánh nặng. Trí tôi và tâm hồn tôi trở lại bình tĩnh. Linh hồn và thế giới vô hình cùng với quyển sách thần linh học cũng dần dần chìm trong bể quên.

Trần Tiêu

(Sau luỹ tre - nxb. Đời Nay, Hà Nội, 1942)

NGUYỄN BÁ HỌC *CÂU CHUYỆN NHÀ SƯ

CÂU CHUYỆN NHÀ SƯ

 

Nguyễn Bá Học



         Ngày tháng 6 năm 1906, vừa độ các trường nghỉ hè, tôi cũng đi thăm một vị sư ở chùa hàng Bưởi, về hạt Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh. Đến nơi thì bản sư cùng tăng chúng đi đọc hạ(1) bên chùa Thiên Thai, từ mấy hôm trước. Bấy giờ trời đã gần hôm, tôi phải nghỉ lại đó. Một mình ngồi trong phòng khách trông sang hiên tây, vắng ngắt không có người đi lại. Bóng chiều phản chiếu, lá cây lẫn với rêu sân một màu nhàn nhạt, trong cảnh thanh tịch hiện ra một cái vẻ thê lương, khiến cho lòng kẻ khách du ngao ngán nỗi mây ngàn hạc nội.
         Trong một cái phòng sâu và tối, nghe có tiếng người ho khoải khắc(2). Hỏi ra mới biết là một vị hành tăng(3) tạm trụ cảnh chùa để xem kinh và dưỡng bệnh. Tôi liền tới nơi, có ý cùng sư nói mấy câu chuyện nhà chùa cho khuây cơn sầu tịch.
          Bước vào, vừa thấy một người chừng năm mươi tuổi, mặt xanh mình gầy, ngồi tựa lưng vào cột, nét mặt đăm đăm, trông ra cửa sổ, thỉnh thoảng thở dài một cái, như đem bao nhiêu cái uất cái não đã chất chứa trong óc nhờ hơi thở để tiết ra bên ngoài. Tôi sẽ lên tiếng mà chào:

         - A di đà Phật! Tôi là người có quyến thuộc với sư bản tự(4) đến chào người.

Người kia nhìn tôi lúc lâu, rồi nói một tiếng nặng nề rằng:

         - Thầy hãy đứng xa tôi ra. Tôi là một người có tội: tôi là người sắp xuống địa ngục. Thầy hỏi tôi làm gì?

          Tôi nghe nói phát lạnh cả người, như mình đứng bên ma quỷ. Tôi nói:

         - Tội nghiệp thay, người ở cảnh nào? Người có bệnh gì? Sao người không vào nhà thương mà uống thuốc?

         Người kia nói:

         - Tôi không có nơi thường trụ. Bệnh tôi đã lâu, không có thể chữa khỏi, mà cũng không ai có thể chữa khỏi; chẳng bao lâu mà tôi sẽ ra người dưới cửu trùng địa ngục. Thôi, thầy về phòng khách mà nghỉ.
         Nói rồi cứ đăm đăm trông ra cửa sổ.

         Tôi lui về phòng khách, cứ một mình mình nghĩ: người này hẳn có oan nghiệt gì đây, cho nên cái lương tâm nó cứ dõi theo mà cắn giắt(5), ấy là một sự hình phạt rất nặng. Than ôi sinh, lão, bệnh, tử là bốn nghiệp của loài người, đã có thân phải có nghiệp. Kìa người đã xả thân diệt tục còn phải mang lấy nghiệp vào mình, huống chi người túng dục tứ tình(6), biết bao giờ cho ra khỏi bến mê bể khổ.
         Đương ngồi đương nghĩ thấy thoáng có bóng người vào cửa, như có hơi gió lạnh thổi lọt vào mình, sởn cả gai ốc. Trông ra thì là người bên tây hiên, bước vào kéo ghế mà ngồi. Tôi cũng vội vàng đứng lên mà chào hỏi. Người kia liền nói:

         - Hẳn thầy đang nghĩ ngợi về việc tôi. Nếu tôi không nói chuyện cho thầy nghe, để cái nghi đoan(7) bận trí khôn cho thầy cũng không phải. Vả lại, chẳng bao lâu mà tôi sẽ bỏ cái thế giới này, cũng nên đem chuyện mình để làm gương cho thiên hạ. Tôi xem thầy cũng là người văn sĩ, cũng nên ký lấy những nỗi khắt khe ở đời, điều hay để mà khuyên, điều dở để mà răn, cũng không phải là sự vô ích.

         Tôi nói:

         - Người ta ai cũng có điều hay điều dở, hễ biết dở ấy là người hay. Cho nên đạo Thích ca cho chúng sinh sám hối, đạo Thiên chúa cho con chiên rửa tội. Nếu người đã sẵn lòng nói thật, tự mình không phụ với lương tâm, trời Phật nào chẳng chứng minh cho lòng người ngay thật. Người kia ngồi đối diện với tôi mà nói:

         - Tôi họ Trần, hiệu là Nguyễn Khuê, người Hà Đông. Cha mẹ mất sớm ở với chị, cũng cho ăn đi học. Năm 15 tuổi chị chết, anh rể lấy vợ khác, thế không ở được, phải bỏ mà đi. May gặp một bà họ Lý, ở một làng bên, thấy con nhà khốn khó, đem về mà nuôi. Bà không có con trai, chỉ nuôi một người cháu gái tên là Lý cô. Bà thấy tôi đã lớn, cho lên tỉnh vào tràng(8) Pháp Việt mà học.
      Nghĩ tôi có khác gì chiếc lá lìa rừng, con chim lạc tổ; sao cho khỏi sa ngã chìm đắm đã là khá, còn mong gì sự học hành, dù có thiên tư thông tuệ thế nào, cũng phải đoạ lạc ra con nhà thất giáo(9). Nay thân trầm luân đã được nhờ tay tế độ, được ấm no, có giáo dục tưởng cái ân cái nghĩa ấy, biết lấy gì mà trả cho phu(10).

         Một hôm nhân ngày nghỉ học, tôi về thăm Lý bà. Bà lấy mẹ con mà xưng hô, tình âu yếm, cách ôn tồn, đã cảm động lòng tôi cho đến rơm rớm hai hàng nước mắt. Tôi nói: "Tôi là một đứa con nhà bạc đức, đã không cha không mẹ lại không anh không em. Trời đất sinh tôi ra có ý đày đoạ vào một đời khốn cùng khổ nhục, dù bà có lòng từ thiện thế nào, không tô điểm đất bùn cho nên tượng được". Lý bà nói: "Già hiếm hoi, thèm chút con hiền cháu thảo, thấy con cũng là con nhà lương thiện, coi người dĩnh ngộ, có vẻ thông minh, để già sớm khuya bầu bạn và tin cậy về sau. Con ôi, đường sinh phúc con còn dài, việc gì mà lỗi chí(11). Từ nay mẹ khuyên con phải phấn phát tinh thần, học hành tấn tới cho bằng người, cho khỏi phụ lòng mẹ đã thương con ngày nay". Nói rồi Lý bà gọi Lý cô đến mà bảo: "Nay Trần sinh đã là người trong một nhà, cháu phải lấy đạo anh em mà xử, không có điều gì phải hiềm nghi, phải giúp anh mày những việc mà mày có thể làm được". Lý cô nghe nói, sẽ ngoảnh lại mà chào tôi, rồi cứ cúi đầu mà đứng. Tôi vô ý cứ chú mắt mà nhìn, làm cho Lý cô thẹn đỏ cả tai cả cổ. Lý bà biết ý gọi Lý cô ra ngoài nói sang chuyện khác. Tôi cũng ngơ ngẩn hồi lâu, rồi xin trở về trường học.
         Tự bấy giờ Lý cô thường đem tiền gạo cho tôi ở nhà trọ, vá may giặt gịa đều là việc Lý cô. Lần kia tôi phải đau ở nhà trọ, một tay Lý cô thuốc thang cơm nước; thực là một người có nữ công, có đức hạnh; con nhà khuê tú chưa dễ đã có mấy người. Vả từ thuở nhỏ đã quen ăn cần ở kiệm, không nhiễm một chút gì là thói đãng tình kiêu.
         Một bữa, Lý cô bưng thuốc đến, tôi lấy lời cảm tạ mà bảo Lý cô rằng: "Lý cô đã khó nhọc với tôi là biết dường nào! Tôi là con nhà bạc đức, sống thác có kể chi mà cái ân cho toàn, nghĩa trân trọng của Lý cô tôi biết lấy gì mà đền bù cho xứng đáng?" Lý cô nói: "Việc giúp đỡ anh em cũng là việc trong nhà, có gì mà kể ân kể nghĩa". Tôi nói: "Tôi thương Lý cô hết lòng, không biết Lý cô có thương tôi như thế không?" Lý cô nói: "Anh em thương nhau là lẽ tự nhiên". Tôi nói: "Tuy nhiên, chẳng những tôi thương Lý cô vì tình anh em, và thương Lý cô vì tình...:". Nói đến đây tôi ngừng lại. Lý cô lại hỏi: "Còn vì tình gì?" Tôi nói: "Vì tình ân ái". Lý cô nhìn tôi một cách nghiêm nghị mà nói: "Tôi không hiểu lời anh nói. Thôi anh uống thuốc đi kẻo nguội, tôi cũng phải về kẻo cô mong".

         Nói rồi thảo thảo(12) ra về, đến cửa còn trông lại.

         Bấy giờ tinh thần tôi chuyên chú vào mình Lý cô. Lý cô mới mười sáu tuổi, kém tôi hai tuổi. Như trăng còn non, như hoa còn tụ, chưa có thể lấy tình động, lấy ý dụ. Vả Lý bà đã hứa nhận mình là con nuôi, hẳn không có ý cho mình là cháu rể. Nếu nghe Lý cô kể lại những lời thô bỉ của mình vừa rồi, có khi bao nhiêu lòng âu yếm xưa nay sẽ đổi ra tình yếm bạc(13). Tôi cứ nghĩ quanh nghĩ quẩn, nửa thẹn nửa buồn. Sau thấy Lý cô vẫn đi lại như thường, mới yên lòng dần dần. Từ đó không còn dám giở thói khinh bạc ra nữa. ấy là sự giao thiệp lần thứ nhất của tôi với người họ Lý; mà chính là điều ân sâu tình nặng đã in sâu vào óc đã nhuộm vào lòng, không bao giờ tôi quên đi cho được.

         Năm 20 tuổi, tôi thi đỗ thông ngôn(14), 21 tuổi bổ lên thượng du. Vừa được bảy tháng thuỷ thổ bất phục(15), phải cáo mà về. Lần ấy Lý cô lại vất vả nuôi tôi hơn là lần trước.
         Một tối tôi đang băn khoăn dằn dọc vì mối tình riêng, Lý bà liền lại mà hỏi rằng: "Nay bệnh con đã thanh thả, sao còn trằn trọc canh khuya! Nay con đã đến ngày khôn lớn, mà mẹ cũng một tuổi một già, mong cho con trẻ sớm thành gia thất, để già được yên lòng. Nay Lý cô là con nhà có nết, có thể giúp cho con trong việc tảo tần, thực đã hoa vừa thắm cánh, trăng vừa tròn gương; để đợi ngày lành tháng tốt, mẹ hãy định liệu cho chúng con thành duyên phu phụ".
Tôi nghe nói như thừa ngọc sắc(16) tự chín tầng mây trời chuyền xuống, mừng mừng tủi tủi, không biết lấy gì mà hình dung.
         Chẳng bao lâu nguyện xưa đã vẹn, duyên mới càng nồng, thực là cái hạnh phúc mà sinh bình tôi mới được hưởng là lần thứ nhất. Bây giờ Lý bà đã nên vật hóa(17), Lý cô cũng còn phải trầm oan. Trời ơi! Biết bao giờ...
         Đến đấy tiếng thổn thức làm cho dứt câu nói, cứ gục đầu xuống cánh tay mà khóc, nước mắt ròng ròng, không ngẩng đầu lên được.Chưa biết câu chuyện kết cục ra làm sao, mà cái tình đau đớn của người này đến cực điểm. Một lúc nhà sư lại ngồi ngay lên, hai tay ôm lấy ngực, lông mày chau lại thành một cái rãnh giữa trán, vai so lên tận tai. Trông bộ gớm ghiếc, như một người tù bị giam đã lâu nay đem ra mà hỏi án.
         Tôi trông mặt cầm lòng không đậu, bảo hãy ngồi yên mà nghỉ cho khỏi mệt. Nhà sư mỉm cười miễn cưỡng làm bộ mạnh mẽ, cho tôi khỏi chán. Rồi cứ tiếp tục mà nói: "Chúng tôi cùng hưởng cái lạc cảnh đoàn viên trong gia đình được hơn một năm, sinh được một đứa con trai, rồi tôi lại bổ ra làm thông ngôn dưới tàu trận(18), nay đóng cửa này, mai ra bể nọ. Từ bấy giờ lại kẻ ra hồ thỉ bốn phương, người chịu sớm hôm chiếc bóng, sum họp có ít biệt ly thì nhiều; thương thay! Sự sinh hoạt của chúng tôi nó đã tiêu ma mất bao nhiêu là cái thanh niên hạnh phúc!

       Sáu năm sau tôi mới lại được đổi về toà Sứ ở trung châu, thì Lý bà mất đã hết việc(19), bao nhiêu di sản cũng để lại cho vợ chồng tôi. Đứa con trai tôi cũng đã biết đi học. Làm việc ở toà Sứ như tôi cũng là bậc có danh giá, từ tỉnh quan cho đến phủ huyện ai cũng tới lui, cho nên bổng lộc cũng nhiều mà chi tiêu cũng lắm. Tưởng ngày nào vợ còn cắp từng rổ khoai, đội từng thúng gạo đi nuôi chồng, nay đã dù che ngựa cưỡi, ăn trắng mặc trơn, sự hy vọng của chúng tôi, tưởng thế đã là mãn nguyện.  Ai ngờ no đủ sinh ra dâm dật, quyền quý sinh ra kiêu căng; sự tai hoạ ở đời thường phát đoan(20) từ những khi đắc chí.

         Một hôm tôi vừa ở nhà hầu ra thấy có cái xe sừng sực(21) trước mặt đi lại, một người trong xe bước xuống mà nói: "Thầy quên tôi rồi ư? Tôi đã đến mấy hôm nay, cứ đi tìm thầy mãi". Tôi cũng mừng rỡ mà nói: "Chào cô Ba". Cô Ba nói: "Quan lớn tôi đã về, có khi không sang đất thuộc địa nữa". Tôi vừa cười vừa nói: "Thế thì cô Ba càng được tự do". Cô Ba nói: "Phải, chẳng thế sao tôi được đến đây mà tìm thầy?".
         Nguyên người này là vợ một viên quan ở tàu trận. Vẫn ở trên bộ, trước có dan díu cùng tôi. Ngày nay lại gặp, không kịp tính gần tính xa, cứ đón rước về nhà, nhận là người quen thuộc cũ.
Đại để những người đã lũa(22) đường giao thiệp, không quen lấy lễ phép buộc mình, từ lời ăn tiếng nói cho đến nết đứng nết ngồi, đều đủ cho người ta chỉ trích. Trong bấy nhiêu ngày cô Ba lui tới ở nhà tôi thì Lý cô miệng nói không ra, mà thực như đanh đóng trong con mắt.
         Sau tôi phải thuê một cái nhà khác cho cô Ba ở, mà một mình tôi cứ tả xung hữu đột, như ông chiến tướng đứng giữa trùng vi. Một là tránh cho khỏi tiếng chì tiếng bấc trong gia đình, hai là dê béo rượu nồng; ai thấy của trời mà chẳng tiếc. Thân thế tôi bấy giờ chẳng khác gì Tiết Đinh Sơn đã hãm vào mê hồn trận, lên, lui, tả, hữu, chẳng còn bước nào là một bước quang minh. Mấy nơi ca quán, mấy chỗ để trường, không chỗ nào là không có tôi với cô Ba làm khai mạc chủ.

         Một hôm canh đã tàn, rượu đã tỉnh, cô Ba ngần ngại mà nói với tôi rằng: "Sự hành lạc của chúng ta nay sắp đến ngày thu cục(23), vậy phải liệu mà tính cách duy trì, cuộc cạnh tranh có nhanh chân, nhẹ bước mới hơn người, nếu ngồi chờ nước đến chân có khi nhỡ bước. Tôi ngắm anh cũng có vẻ phát đạt, sao anh không liệu thế mà ra làm quan? Cứ lấy tài lực tôi mà xem, tưởng cũng là việc dung dị(24)". Mới nghe thấy hai chữ "làm quan" thì tôi rộn rịp cả tâm thần, như ai đã mở lá cờ trong bụng, xưa nay chỉ tơ tưởng quan lớn, bây giờ hóa ra sự thực thì biết đâu? Tôi vội vàng hỏi: "Nói chơi hay nói thật? Đường sĩ hoạn bây giờ mỗi ngày một hẹp; có phải đồ trong túi đâu để tuỳ ý mình vét". Cô Ba tủm tỉm mà nói: "Không phải nói chơi. Nếu mấy tay cốt yếu với mình đã là người quen; nhất sắc nhị tài (25), thiên hạ còn có sự gì là khó!".

          Tôi mới nghe, mặt nóng lên bừng bừng, sau lạnh như nước đổ vào lưng, bao nhiêu ý khí tiêu ma đi đâu mất cả. Nghĩ mình với người này chẳng qua là duyên gặp gỡ, có lý gì lấy trinh bạch mà buộc nhau. Và xem tính tình cô Ba như chim ngoài lồng, như thú sổ cũi, hồ dễ chịu cho ai lung lạc hay cơ mi (26), của tam bảo chỉ để bố thí cho thập phương ai có duyên thì hưởng. Tôi làm bộ ngẩn ngơ mà nói: "Tôi coi cô Ba mày cao trán rộng, đường đường một vị phu nhân, mà trong số tôi quan lộc có đào hồng lại là số công danh phải nhờ nội trợ. Không biết cô Ba sẽ liệu ra cách nào?". Cô Ba nói: "Muốn ăn lãi thì phải bỏ vốn. Thầy cần phải chuộc về cho tôi mấy bọn đồ vàng là đồ cần dùng của tôi, còn việc gì nữa thì cứ mặc tôi tuỳ cơ ứng biến".

         Tôi vội vàng về nhà vét được bao nhiêu đưa cả cho cô Ba mà cô Ba vẫn còn chưa đủ dụng. Nghĩ đi nghĩ lại chỉ còn mấy bức văn tự của di sản Lý bà để lại và còn ở tay Lý cô, phải lập thế mà lấy cho được, thế là hết.
         Tối hôm ấy về nhà, thấy Lý cô đang ngồi dưới bóng đèn mà vá áo. Tôi ghé lại mà bảo rằng: "Nay vì chút công danh nên phải tiêu cũng tốn. Tôi muốn mượn mấy bức văn tự của Lý bà để lại. Rồi đây có bổng có lộc lại kiếm ra bằng trăm bằng nghìn bấy nhiêu, bấy giờ cũng của chồng công vợ chớ đi đâu mất mà sợ". Lý cô vội gạt lời tôi đi mà nói: "Thôi, lâu nay tôi đã biết thân phận mẹ con tôi rồi. Công danh phú quý cũng xin nhường cả cho ai. Thầy hãy xem tôi bây giờ đã mình trần tay trắng còn có cái gì mà cho ai nhờ được nữa".

         Nghe mấy tiếng châm phong(27), tôi đã tím gan tức ruột phải bấm bụng mà lui ra. Vừa gặp cô Ba vồn vã mà hỏi: "Này, đây vừa có tin may mắn lắm, thật là cái dịp tốt cho mình. Nào khoản tôi bảo thầy biện đã đủ chưa? Sợ chậm ra thì nhỡ cả".
         Nhiệt trường của tôi bấy giờ lại nóng như lửa đốt. Nghĩ đến mấy bức văn tự phải dùng vũ đoán mới xong. Tối hôm ấy lại về nhà, không thấy Lý cô ngồi ngoài. Hỏi con ở nói Lý cô đau bụng, từ mấy bữa không ăn, phải uống thuốc mới vào phòng nghỉ.
         Tôi biết ngay Lý cô thóai thác: vợ con như thế, còn nhờ nhau lấy gì! Tôi vào ngay chỗ nằm mà hỏi: "Mấy bức văn tự cô để đâu? Nếu cô chối tôi một lời là có sự chẳng lành đến tính mệnh". Lý cô còn tưởng là nói doạ, cứ thủng thỉnh mà nói: "Văn tự nào của thầy mà cứ tra hỏi?". Nói rồi lại cứ nằm vật xuống. Tôi căm quá, vừa bước ra rít lên một tiếng. Như có người giẫy lại, hai con mắt nóng như kéo màng, bao nhiêu mạch máu trong mình sưng lên hết. Bấy giờ tôi trông thấy Lý cô như người đi săn đè được con thú dữ, cố đánh cho thật phải phục xuống kẻo chạy thóat đi chăng. Khi đã móc được cuốn văn tự ở trong lưng Lý cô, thì Lý cô không còn một hơi thở. Tôi cũng bước rảo ra mà đi thẳng. Đem cuộn văn tự ký lấy mấy trăm đồng bạc mà đưa hết cho cô Ba.

         Mấy hôm sau, lén về nhà, vừa đến cửa đã thấy rộn rịp kẻ vào người ra, nghe nói Lý cô phải chứng băng huyết đã mấy hôm nay nguy lắm. Thấy nói chột dạ mà mình không mặt nào dám vào trông thấy Lý cô, cứ bàng hoàng thất thế, như người không hồn không vía. Dù xin phép ở nhà nuôi vợ ốm, cũng cứ lẩn lút một nơi, bưng mặt mà khóc.
         Một hôm thấy thằng con chạy lại, mắt hoe hoe đỏ nói: "Mẹ cứ gọi thầy mãi, xin thầy vào". Tôi liền theo đứa con mà vào. Lý cô còn trông tôi miệng muốn nói mà không nên tiếng nữa. Tôi đứng chân không vững, dựa mình vào vách, hai tay bưng lấy mặt, tưởng mình như một đứa tù nặng đưa ra mà xử án. Thấy có người vực tôi ra ngoài rồi mê thẳng đi. Việc Lý cô mất rồi tống táng ra làm sao không biết gì nữa.
         Bâng khuâng tưởng mình ra khỏi cửa lại tìm đến nhà cô Ba. Trông lên nhà gác, không có bóng đèn, đã hồ nghi. Hỏi người ở nói: "Cô đi chơi ngay từ hôm thầy không ở đó". Hỏi cô đi với ai? Người ở nói: "Cô đi với một ông khách lạ". Tôi tưởng chẳng có lẽ thấy anh vừa dốc túi mà chị đã đổi lòng; hẳn cô này đi vận động câu chuyện của mình, hãy chờ lâu thế nào cũng có giai tín. Cô này những lúc biếng son nhạt phấn, tóc xoã ngang vai áo che nửa ngực, cũng đủ cho người ta điên đảo, huống lại vàng đeo ngọc giắt, gấm bọc hoa cài, thì sắt nào mà chẳng ngây, đá nào mà chẳng chuyển.
         Tôi lại thơ thẩn đi ra, vừa đến cửa nhà hát, thấy suýt qua một cái xe ngựa. Người trong xe chính là cô Ba ngồi với một người luật sư, nhác thấy tôi ngoảnh mặt làm thinh, giục đứa đánh xe ra roi cho ngựa tế.
         Tôi cứ đứng đực một bên đường, rồi đến nhà một người chị em mà hỏi chuyện, vừa đến, người chị em đưa cho tôi cái thư của cô Ba để lại. Tôi bóc tuột cái thư ra mà xem. Thư rằng: "Anh Phán, khi anh đọc cái thư này, thì tôi đã thuộc về tay một người khác. Duyên kỳ phùng chúng ta có thế mà thôi, không còn bồi tiếp với anh được nữa. Xin anh về hà mà hưởng cái hạnh phúc vợ hiền con thảo, bấy giờ sẽ quên có biết một người con gái tên là cô Ba. Cái khoản anh đã gửi cho tôi cũng đủ chi son phấn. Cảm ơn anh lắm".
         Đọc cái thư rồi, mắt nẩy đom đóm, tay run cầm cập, như con thú dữ phải cái tên thuốc mà phát điên. Muốn hét lên một tiếng: "Ai ngờ?" giật mình thành ra một cơn ác mộng.
          Biết chính mình đã phạm một tội rất lớn là tội giết người, biết Lý cô đã chịu khuất nhục đau đớn mà chết; biết cái lòng tham dục mình nó đã đưa dắt mình vào những đường tội lỗi, biết nhân tình thế lợi chẳng qua là một cảnh chiêm bao, bấy giờ óc tôi không sao mà chứa cho hết những điều hối hận. Thôi! Mình đã vị một người xấu xa, rất hèn hạ, mà phụ với một người đáng quý hóa, đáng ơn nghĩa; mặt mũi nào còn đối với mọi người? Lý cô có biết cũng tha thứ cho tôi chăng? Đa mang phóng túng cũng là cái thông bệnh của người đàn ông, còn tội ngộ phạm của người nóng, cũng như người điên, hoặc có thể nguyên tình mà khoan giảm. Tuy nhiên cái lương tâm tôi nó càng nghiêm nhặt, nó bắt tôi nhớ mãi cái tội tôi, rửa cũng không phai, mài cũng không sạch, đã mười năm nay, tôi bỏ hết mọi sự ái luyến ở đời, đã quy y đầu Phật, đội đức từ bi, mở đường tế độ, cho tôi gặp lại bạn tôi cùng về chính giác. Đứa con tôi cũng theo chúng bạn mà đi Sài Gòn. Khi đi có gửi lại cho tôi một cái thư, xin thầy hãy đọc cái thư này, thì biết can tràng con trẻ...".

         Nói rồi đưa tôi một cái thư gói kỹ lưỡng lắm, rồi cứ dựa ghế mà ngồi, hoặc sa nước mắt hoặc cau đôi mày, tình thái thê lương, lâu lâu thiu ngủ. Tôi đem cái thư đến bóng đèn mà đọc.

         Thư rằng:

         "Thưa cha. Tôi là một đứa con trẻ rất khốn nạn(28). Vì chính mắt con đã làm chứng một cái thảm kịch đáng kinh hãi đã diễn ra ở trong gia đình. Cái ác cảm ấy không bao giờ cho con khuây đi được. Thù mẹ khôn trả, nghĩa cha chưa đền, thực con không đáng kể là một người trên thế giới. Nếu con chưa tìm đến non cao vực thẳm cũng vì không nỡ để cha thêm nặng tội tình. Xin cha hãy quên có sinh đứa con tên là X... hãy sẵn lòng mạnh mẽ ăn năn cải hối. Sự sum họp của chúng ta ở nơi chín suối, ngày hãy còn dài".

         Tôi vừa đọc cái thư xong thì nhà sư cũng vừa thức dậy; hỏi tôi đọc đã xong chưa. Tôi nói:

         - Sự tình thuộc thực, thì cái thương tâm của người cũng là quá đáng.

         Khi về nhà nhân ký đầu đuôi như thế. Năm sau có người nhà chùa về hội Phủ Giầy, hỏi thăm, thì nói: Vị hành tăng ấy đã tịch tại chùa Thiên Thai ngày tháng Chạp năm ấy.

Nguyễn Bá Học
(Tạp chí Nam Phong - số 26 - Tháng 8 – 1919).



1. Mỗi năm, sư tăng phải tập trung học tập kinh sách một thời gian, vào mùa hạ, nên gọi là "kết hạ", "đọc hạ".

2. Như khúc khắc.
3. Vị sư đi vân du nơi này nơi khác.
4. Chùa sở tại.
5. Cắn rứt.
6. Buông thả tình dục.
7. Mối ngờ.
8. Trường
.
9. Như thất học.
10. Có lẽ là phủ hoặc phù: vừa, đủ.
11. Bại chí.
12. Tất tả, qua loa.
13. Khinh rẻ.
14. Phiên dịch
15. Không hợp thuỷ thổ.
16. Nhận được sắc chỉ quý báu.
17. Hóa thành vật khác, tức đã chết.
18. Tàu chiến.
19. Mãn tang.
20. Bắt nguồn.
21. Như sừng sững.
22. Lũa: thạo, sành.
23. Kết cục.
24. Dễ dàng.
25. Thứ nhất là sắc đẹp, thứ nhì là tiền tài.
26. Cơ my hay ky my là dây giàm ngựa, bò, ý là ràng buộc.
27. Như mũi kim chích vào mình.
28. Chữ khốn nạn ở đây chỉ có nghĩa như khốn khổ. Nguyễn Văn Vĩnh thời ấy dịch Những người khốn khổ là Những kẻ khốn nạn

No comments: