Tuesday, November 8, 2016

SƠN TRUNG *PHAN NHẬT NAM * PHAN BỘI CHÂU * LINH BẢO

SƠN TRUNG * NGHỀ ĐÀO VÀNG

Nghề đào vàng tại Việt Nam
Sơn Trung




Sau 1975, nhiều nghề cũ mới đã phát triển tại Việt Nam như nghề buôn bán chợ trời, nghề đào rác Mỹ, nghề tìm trầm, nghề tìm máy bay Mỹ, nghề tìm xác chết Mỹ, nghề tìm mộ tử sĩ, và nghề đào vàng. Trong bài này, chúng tôi xin nói về nghề tìm vàng.
Không hiểu tại sao sau 1975, ở Việt Nam chỗ nào cũng có vàng. Trước đây chúng ta chỉ nghe nói vàng Bồng Miêu ở Quảng Ngãi. Có lẽ Trời Phật thương dân Việt đọa đày, nghèo khổ vì chiến tranh cho nên ban phát vàng bạc xuống cho dân ta. Trước 1975, một ông bạn tôi là trung úy ở Phan Rang có tìm được một chỗ có vàng, ông bạn nhờ tôi tìm người phân kim thì họ cho biết là vàng còn non. Không biết ai là người đầu tiên tìm ra vàng, và tại sao lại tìm ra vàng. Có nhiều người cho rằng khởi đầu là do việc tìm rác Mỹ tại những nơi xa xôi như Long Bình, Chu Lai, Plei Me. Có người tìm được răng vàng, nhẫn vàng. Có người tìm được những thỏi vàng. Một đồn mười, mười đồn trăm, người ta rủ nhau đi tìm vàng. Trước là đào tại hố rác Mỹ, sau lan rộng đến những nơi khác. Vàng ở ngoài bắc thì ít và chỉ là lấm tấm. Vàng từ Huế trở vào thì nhiều và to, có khi là cả khối nguyên, nhưng phần nhiều chỉ là quặng, phải qua sự phân chất. Vàng có nhiều hình dạng. To bằng nắm tay hoặc là như gói mì ăn liền, nghĩa là từng sợi xoắn laị với nhau. Có người đuợc hai ba ký. Có người đào được vài lạng, có người đuợc vài chỉ. Đó là hoàn toàn may rủi. Vàng có nhiều ở vùng Nha Trang, Quảng Nam, Quảng Ngãi. Vàng phần nhiều ở núi rừng. Người ta tìm mò, không có máy móc dụng cụ, không có phương pháp gì ráo trọi. Hễ nơi nào có người tìm được vàng là cả bọn xúm lại. Sự tranh giành, cãi cọ, đấm đá là chuyện hiển nhiên. Vì vậy, người ta thường rủ anh em, họ hàng hay bạn bè để chia quyền lợi và bảo vệ cho nhau. Dân trong Nam lính tráng đi tù về không nghề nghiệp rủ nhau đi đào vàng. Dân ngoài bắc trốn Hợp tác xã, một ngày không được lon gạo cũng rủ nhau vào nam tìm vàng. Người ta đào sâu xuống một hai thước, có khi ba bốn thước tây, tạo thành một cái giếng. Không có kinh nghiệm, không có khoa học chỉ đạo, họ làm ẩu, làm mò, nhiều vụ sụp hầm chết người. Tìm được quặng vàng, người ta đãi vàng tại chỗ hoặc phải ra sông. Nhiều nơi tập trung cả trăm, cả ngàn người. Đây là một dịp béo bở cho công an địa phương. Công an hạch hỏi giấy tờ. Công an phân lô cấp đất, cấp giấy phép đào vàng. Mỗi giấy phép là hàng trăm ngàn, hàng triệu bạc. Nếu nơi nào nhiều vàng thì người tứ xứ đổ về. có cơ sở phân kim, có nơi thu mua vàng, có quán cà phê, hủ tiếu, có nhà trọ, có em út, và dĩ nhiên có các tay anh chị, có cướp bóc như là như là cái xã hội miền tây Hoa kỳ trong cơn sốt đào vàng ở thế kỷ trước. Nếu chỗ nào trở thành quy mô lớn lao, dân đào được nhiều vàng thì chính quyền tỉnh, chính quyền trung ương xía vào, đuổi dân và đảng độc quyền đào vàng mặc dầu đã cấp giấy và bán đất!
Ca dao có câu về thân phận người nghèo:
‘ Cây khô xuống nước cũng khô,
Phận nghèo đi đến nơi mô cũng nghèo’
Đa số người đi đào vàng là người nghèo. Một số người đào được vài ký vàng thì dĩ nhiên là trở nên người giàu sang phú quý. Một số người nghèo cũng nhờ đào vàng mà cải thiện đời sống. Nhưng đa số thì điêu tàn vì nhiều lý do. Thứ nhất là đất ở nơi có vàng thường rất độc. Bệnh sốt rét là một bệnh kinh khủng. Những người tham dự đào vàng phải nằm sương gió, bị muỗi độc, nhất là bệnh sốt rét cấp tính ở Việt Nam chỉ vài ngày thôi là đủ đi đong! Rồi nạn sụp hầm làm cho bán thân bất tọai hay gảy chân tay, bầm dập thân thể. Nạn cướp bóc, đâm chém có thể làm cho nạn nhân phải nằm nhà thương vài tháng. Thế là bao chỉ vàng kiếm được không đủ tiền thuốc. Chỉ làm giàu cho các ông bác sĩ chuyên tu, y sĩ tại chức và y tá nông thôn. Một ông bạn trẻ đi tù về thất nghiệp, sắp sửa đi diện H.O. nghe theo bạn bè đi đào vàng. Kết quả thì anh cũng nâng cấp được căn nhà lụp xụp cho vợ con nhưng anh đã phải bán mình cho ma thiêng nước độc để lấy vài chỉ vàng mong manh !
Nước ta hiện nay do cộng sản nắm quyền, mọi quyền lợi lớn bé, trong nước và ngoài nước đều do cộng sản mặc tình thao túng. Tiền viện trợ, tiền cứu trợ, tiền vay ngân hàng quốc tế, cho đến ruộng đất, cà phê, thịt cá trong nước cũng do cộng sản nắm giữ. Nghề đào vàng cũng vậy. Dân chỉ là lao công ăn chút cơm thừa canh cặn để rồi hoặc mang bệnh tật, hoặc chết vì ma thiêng nước độc, bao lợi lộc vẫn là vào tay công an địa phương và các tổ chức đảng.
Xin Đoc :
VĂN Học tân kỷ nguyên

PHAN NHẬT NAM * ĐI VỀ PHÍA MẶT TRỜI

Phan Nhật Nam
--------------------------------------------------------------------------------

ĐI VỀ PHÍA MẶT TRỜI

--------------------------------------------------------------------------------
Dẫn nhập
Do vận động của Đỗ Thông Minh, Người Bạn Đông Kinh từ hai thập niên qua của giới báo chí truyền thông, sinh hoạt văn hóa, văn nghệ của cộng đồng người Việt hải ngoại, tiếp theo lần tìm gặp, tiếp xúc chạy vòng từ đông-tây, dọc theo trục nam-bắc nước Mỹ qua trung gian của Dương Phục (Đài Phát Thanh Sài Gòn- Houston, Texas), và Huỳnh Lương Thiện (Báo Mõ, San Francisco, CA).. Cuối cùng, người bạn kiếm ra anh nơi hẻm hóc, chốn giá lạnh, nóc nhà nước Mỹ để giao nhiệm vụ - Đi về phía Đông, đến nói cùng người Nhật và thế giới Ký Ức về Chiến Tranh Việt Nam - Công việc mà tự thân anh đã tình nguyện gánh vác dài theo hơn bốn mươi năm của đời người, từ đầu thập niên 60, lúc chọn nghiệp lính vào năm thanh xuân 17 tuổi.

Người Lính-Viết Văn không có một nhiệm vụ nào khác- Phải nói, viết cho đến tận cùng - Bởi Nỗi Đau nầy luôn là Nỗi Đau chung.

Cách đây hai mươi năm, ngày 7 tháng 9, 1981, nơi Trại Lam Sơn, Thanh Hóa bắc Việt Nam, bắt đầu lần kiên giam đợt thứ hai, anh bước vào căn hầm kín cửa dài hai thước, rộng một thước, cao ba thước, sau bốn lớp cửa gỗ bọc tôn thiếc, ngăn cách khu kiên giam với khu giam giữ tù nhân; nhưng nếu tính với xã hội bên ngoài, miền đất phương Nam xa xôi, thế giới của những quốc gia văn minh, dân chủ - Khu kiên giam nầy, nơi giam tù cấm cố, hoặc tử tội chờ ngày đem đi bắn, cách biệt đủ 10 cánh cửa - bằng số cửa địa ngục Dante mô tả trong The Inferno. Người Lính-viết văn nhìn lên ô cửa thông hơi rộng hơn gang tay chắn lưới sắt, tự hỏi: "Con người có thể đối xử với nhau như thế nầy hay không? Người có thể bị kết tội từ những chữ viết mà quả thật không hề là một đe dọa, xúc phạm đối với bất cứ ai?!" Trong nỗi bi phẫn khốn cùng ấy, quả thật anh thấy được chết dễ dàng hơn phải sống - Tuy nhiên anh không hề tuyệt vọng.

Anh không tuyệt vọng bởi vững tin: Sẽ có một ngày (nếu như không phải bức tử), anh được quyền nói lên tình cảnh bi thảm nầy. Bởi, tình cảnh đau thương mà anh phải hứng chịu, chứng kiến, sống cùng, đã và đang trải qua không của riêng cá nhân anh; cũng không phải chỉ là hậu quả thua trận của một quân đội; và cũng không là tác động có giới hạn đối với những công dân của chế độ cộng hòa phần đất phía Nam nước Việt. Không phải như thế - Nỗi Đau không từ một ai, xuyên suốt theo cùng Lịch Sử, rung động tự thâm sâu vận mệnh Dân Tộc Việt.

Người Lính-Viết Văn không có một nhiệm vụ nào khác- Phải nói, viết cho đến tận cùng - Bởi Nỗi Đau nầy luôn là Nỗi Đau chung.

Qua hai vòng thế giới, xuyên suốt khắp đại lục Bắc Mỹ từ ngày anh ra khỏi nước (5 tháng 11, 1993), hơn bốn mươi lần anh đi đến nơi những cộng đồng Người Việt, ngày 14 tháng Giêng, 2002, Lễ Thành Nhân cổ truyền của Nhật, nơi diễn đàn vinh hạnh, trước hiện diện của những Người Bạn trung thực, thêm một lần, ước vọng sâu xa dài hơn phần tư thế kỷ nay đã trở thành hiện thực. Anh cám ơn Bằng Hữu Thế Giới và Đất Nước Nhật Bản - Nơi đi lên của Mặt Trời, biểu hiện bất diệt Con Người - Sự Sống. Và anh bắt đầu bản tường trình dài dường như không hề chấm dứt về những con người của một quê hương khắc nghiệt bi thảm, nhưng không thiếu phần siêu việt kỳ diệu - Người và Khổ Nạn Việt Nam.

Chiến tranh nhìn từ nhiều phía

Buổi sinh hoạt được tổ chức tại Trường Đại Học Ngoại Ngữ, Học Viện Ngoại Giao Tokyo vào Ngày Lễ Thành Nhân (14 tháng 1 Dương Lịch) của truyền thống Nhật. Ngày lễ đánh dấu buổi con người từ tuổi thiếu niên nên trưởng thành, khởi đầu giai đoạn mới - giai đoạn quyết định- từ đấy người tự lập, chủ động cuộc sống riêng mình. Buổi sinh hoạt không vô cớ chọn ngày, tháng, thời điểm ý nghĩa sâu xa nầy - ý hẳn ban tổ chức muốn truyền đạt một thông điệp - Từ đây, chúng ta nhìn lại cuộc chiến không chỉ tác động riêng đối với người và xã hội Việt Nam, nhưng liên hệ đến nhiều sắc dân, quân đội của những chế độ chính trị khác nhau - những nước đã từng tham dự cuộc chiến mà hậu quả đến hôm nay vẫn còn sâu xa ảnh hưởng. Hội chứng Việt Nam hiện tại vẫn hằn sâu lên tâm lý giới cầm quyền, điều hành nước Mỹ, cũng như hệ lụy Đệ Nhị Thế Chiến, phần đau thương của nước Nhật gây nên tự quân đội Nhật (đối với các nước vùng Đông -Nam Á, Trung Hoa, Đại Hàn, Việt Nam), hoặc nhân dân Nhật hứng chịu hôm nay vẫn hằng (được và phải) nhắc lại. Nhắc lại để tránh những lỗi lầm của quá khứ, nhắm đến tương lai - Thiên niên kỷ Thứ Ba của nhân loại mà Châu Á-Thái Bình Dương sẽ là diễn trường quyết định với vai trò quan trọng hàng đầu của Nhật Bản. Nước Nhật hẳn đang chuẩn bị cho tương lai hiện thực nầy. Thế nên, buổi sinh hoạt chắc đã hình thành không do những lý do tùy tiện, ngẫu nhiên.

Sau phần giới thiệu của ban tổ chức gồm có các Giáo Sư Susumu Fugita, Minoru Iwasaki, và Imai Akio của học viện, các thuyết trình viên lần lượt trình bày nội dung chủ đề mà ban tổ chức đã thông báo, chỉ định từ tháng 11 năm 2001. Người thuyết trình xử dụng ngôn ngữ của quốc gia mình, thông dịch sang Nhật ngữ do những giáo sư, sinh viên đang giảng dạy, hoặc theo học các học trình tiến sĩ chuyên khoa ngôn ngữ của quốc gia đó.

Theo chương trình dự định, Bảo Ninh, tác giả Nỗi Buồn Chiến Tranh (đã được dịch sang Nhật ngữ), và Thân Phận Tình Yêu (những cuốn sách nói về mất mát, đau thương của tuổi trẻ miền Bắc Việt Nam trong chiến tranh) phát biểu trước. Nhưng vào tuần lể đầu tiên của tháng 1, 2002, tác giả nầy thông báo không tham dự buổi hội thảo được vì lý do "trở ngại giấy tờ hành chánh", nên anh gởi một bản văn đến ban tổ chức hội thảo. Văn bản nầy được dịch ngay sang tiếng Nhật, và được phổ biến vào giờ khai mạc. Sự kiện Bảo Ninh vắng mặt sẽ được đề cập lại trong phần hậu từ của bản tường trình nầy. Người thay thế Bảo Ninh, Nguyễn Minh Tuấn, nguyên biên tập viên, chuyên bình luận kinh tế của Báo Đại Đoàn Kết, Hà Nội, hiện là giảng viên tiếng Việt của trường từ năm 2000, di dân qua Nhật theo diện gia cảnh (do kết hôn cùng cô Keiko Watanabé, biên tập viên Báo Yomiuri, nhật báo lớn nhất của Nhật) bắt đầu buổi hội thảo. Nguyễn Minh Tuấn khởi đầu phần trình bày với tư thế: "..Năm 1975, tôi mới mười-lăm tuổi, nên dẫu đã khai thêm hai tuổi để đang ký vào quân đội thì cũng chỉ đi lính được một ngày, và miền Nam đã được "giải phóng".. Tất cả ký ức về chiến tranh của tôi là những ngày sơ tán tại miền Bắc Việt Nam để tránh bom Mỹ.. Những hoàn cảnh cực khổ và dễ sợ." Tuấn có những nhận xét trong phần kết luận: "Hiện tại ở Việt Nam, hầu hết mọi người hình như không ai muốn nói về chiến tranh. Hằng năm, vào những ngày lễ lớn như "giải phóng miền Nam 30 tháng Tư", ngày Quốc Khánh 2 Tháng 9, chỉ những tờ báo nhà nước (Báo Nhân Dân, Quân Đội Nhân Dân, Công An..) mới nhắc lại những chiến thắng quân sự. Còn phần đông dân chúng chỉ chú trọng vào đời sống, lo toan sinh kế vật chất. Và đời sống xã hội, thị trường tài chính, kinh tế thì bị nạn tham nhũng hoành hoành, hiện tượng áp bức tràn khắp.. với thành phần nạn nhân đầu tiên chính là những người đã dựng nên những chiến thắng kể trên." Nguyễn Minh Tuấn cũng không "ngạc nhiên" về sự kiện Bảo Ninh vắng mặt. Qua kinh nghiệm làm báo ở Việt Nam, anh đã quá quen với những lý do "trở ngại giấy tờ hành chánh" nầy, bởi chính bản thân anh cũng đã là nạn nhân của những lý do tương tự đôi ba phen. Phần phát biểu của Nguyễn Minh Tuấn được chuyển sang Nhật Ngữ bởi Giáo Sư Odaka Tai, Giảng Viên Khoa Quan Hệ Quốc Tế, Đại Học Daitobunka.

Tiếp đến phần trình bày của Người Lính-viết văn. Trái với người bạn đến từ miền Bắc Việt Nam kia, anh đã chứng kiến, chịu đựng chiến tranh từ thuở thơ ấu, khi chưa đến tuổi lên mười trong những vùng gọi là chiến khu (địa phương thuộc quyền kiểm soát của lực lượng Việt Minh trong giai đoạn chiến tranh 1945-1954) suốt một đời dài cho tới hôm nay, sắp đến tuổi 60. Anh chịu đựng với chính thân xác mình, nghe bằng tai, thấy tận mắt, hít thở thấm đẫm hơi người chết, đầm đìa khắc khoải tiếng kêu thương tâm của vạn, triệu cảnh đời khốn cùng, đau đớn oan khốc diễn ra qua từng ngày, từng giờ trên suốt giải quê hương - không chỉ giới hạn nơi những xóm làng, đồng ruộng, thị trấn miền Nam, nhưng đến tận đầu nguồn biên giới, vùng núi non cực bắc đối diện lãnh thổ Trung Quốc, hoặc nước Lào ở phía Tây. Tình cảnh anh không phải là trường hợp đơn lẻ, cá biệt, nhưng là cảnh huống điển hình của toàn dân tộc khổ nạn. Anh chỉ là một con người sống tận cùng với khổ nạn Việt Nam. Anh không nói quá lời mà sợ rằng không đủ tiếng lời để nói. Và không chỉ trong ba mươi phút ấn định, nhưng nếu có thể với ba mươi giờ vẫn chưa đủ để kể hết toàn cảnh xót xa khắc nghiệt kéo dài hơn nửa thế kỷ, từ ngày Mặt Trận Việt Minh (do đảng cộng sản Việt Nam ẩn danh lãnh đạo) khởi đầu cuộc chiến, 19 tháng 12, 1946, đến khi mặc áo lính, 1960-61, cho đến ngày tàn cuộc 30 tháng tư, 1975, tiếp lần vào trại tập trung sau đó, chuyển ra giam cấm cố ở miền Bắc, 1976, và cho đến tận hôm nay - Dấu vết, ký ức chiến tranh vẫn còn nguyên độ sắc. Anh sống đủ đời với của cuộc chiến và hứng trọn hệ quả của nó dẫu hôm nay tạm lìa bỏ quê hương.

Nầy đây, hãy anh kể lại: "Chỉ trong vòng bốn mươi tám giờ kể từ khi bắt đầu cuộc hành quân trực thăng vận của ngày 20 tháng 8, 1964, từ phi trường Bến Tranh xuống một ngôi làng Quận Bình Đại, tỉnh Kiến Hòa.. Đi sau hai người khinh binh, tôi bước e dè, nhọc mệt, do tiểu đoàn đã đụng nặng từ lúc xuống trực thăng, thêm việc nhặt những xác chết của đơn vị bạn, người tôi lao đao trong cảnh trận địa nguy khốn, mùi hôi tanh từ máu người lẫn hơi bùn xông lên ngây ngây ngật ngật. Đến ngày thứ hai thì nỗi thảm hại trong lòng càng thêm độ sắc, bởi đám tàn binh cộng sản bị thiệt hại của ngày hôm trước nay không đường thoát thân, phải chui vào đụn rơm, ao bèo lẫn trốn. Tôi kéo ra một gã du kích.. Chỉ là một thiếu niên mặt mày ngơ ngẫn do quá sợ hãi, mồm ngậm búng cơm. Tôi nhìn kỹ vào mắt hắn ta, tự hỏi: Đây là kẻ thù của mình sao? Đây là "chiến sĩ giải phóng", đầu mối tai họa, kiệt cùng khổ nạn Việt Nam? Thêm một ngày nơi trận địa, cảnh tượng bi thảm càng thêm nặng nề, vây bọc, siết cứng lại.. Tôi đi vào khu vực Nhà Thờ Công Giáo xã Bình Đại, ngôi nhà thờ đẹp đẽ đã trở nên đống gạch đổ nát giữa hàng rừng dừa ngã nghiêng trốc gốc bốc khói xanh. Khi cúi xuống nhặt bàn tay gãy của tượng thiên thần, tôi khám phá ra năm xác chết. Đấy là gia đình người giữ nhà thờ, hai vợ chồng, ba đứa con. Năm người chết từ đâu ngày hôm trước. Chết không biết do đạn của bên nào? Những xác chết còn "tươi" do sức nổ gây hơi ép, nét mặt in dấu, vẻ kinh hoàng, chết ở vị thế ngồi dưới bàn thờ Chúa. Năm xác người được kéo ra nằm trên sân đá lạnh, nắng dọi xuống gây gây im lặng vàng khô. Nhìn lên hàng rào, chiếc áo tím của cô con gái đầu lòng bay dật dờ như nỗi oan khuất không nói ra.

Tiếp ngày hôm sau, quân đi vào một khu vườn với căn nhà đang cháy nghi ngút khói, những cột gỗ cháy đỏ xiêu lệch, nền gạch vỡ loang lỗ những dấu đạn pháo.. Có người đàn bà chưa đến tuổi ba mươi, nét mặt đôn hậu, trong sáng của người phụ nữ miền Nam chưa phải chịu đời khó khăn, vất vả. Chị ngồi ngơ ngẩn trên thềm ngôi nhà đang cháy dỡ. Tôi đi đến... Không biết đang có đánh nhau hay sao mà chị lại ngồi đây? Im lặng, chị ta đứng dậy, đưa chiếc giỏ mây vào mặt tôi. Động tác nhanh gọn như người tập thể dục. Tôi mở gói giấy cột chặt bởi những vòng cao su... Sợi giây chuyền vàng, đôi bông tai, hai chiếc nhẫn và cái kiềng. "Vàng, chắc hơn một lượng, con mẹ nầy sợ quá hoá điên rồi. Lấy đi thiếu úy, không ai thấy, em cũng không nói cho ai biết đâu.. Ê, đi đi.." Người lính mang máy truyền tin thầm thì bên vai tôi. Anh hươi mũi súng đuổi chị đàn bà. Người nầy bước đi với nét mặt không cảm giác.

- Không được, vàng của người ta, mình đâu có quyền lấy. Nầy, chị trở lui đi, tôi trả lại đây". Tôi nói với theo. Người đàn bà quay lại, cũng với bước chân vô hồn không cảm giác. Nhưng khi đưa tay đón lấy chiếc giỏ, nét mặt chị ta bỗng nhiên nhăn nhúm lại như đang phải chịu cơn đau quá độ: Chị buông thỏng hai tay, chiếc giỏ rơi xuống đất.. Từ từ người đàn bà đưa tay lên hàng nút áo.. những ngón tay xoắn giữ chặt, toàn thân run bần bật.

- Trời đất ơi!! Tôi kêu lên tiếng nhỏ. Người đàn bà có thể đã không hiểu lời tôi do từ cách phát âm giọng người miền Trung pha âm Bắc, nhưng chắc rằng, bởi đã sống trong vùng du kích cộng sản kiểm soát, chịu sự tuyên truyền dai dẵng dài lâu, nên chị đã nhìn tôi như "một gã lính hung bạo với áo quần rằn ri, chuyên hiếp dâm, giết người, cướp giật - như lời "tuyên truyền giáo dục" thường trực tác động sâu xa của cán bộ chính trị cộng sản. Động tác trả vàng lại cho người đàn bà cũng không phải là thái độ, hành vi đạo đức lớn, đấy chỉ là việc làm nhỏ bé, bình thường của một người "có giáo dục tại Miền Nam"- Biết trọng người và yêu thương đồng loại. Sự hiểu lầm cay đắng của người đàn bà đồng thời chỉ cho tôi hiểu ra rằng: Tính ác độc tàn nhẫn của chiến tranh, không chỉ làm cho người trở nên "hai kẻ xa lạ", nhưng là đầu mối, tai họa thống khổ đối với nhau.

Tôi dẫn người đàn bà ra bến sông qua Mỹ Tho. Chị đi tới với bước chân vô định.. Lai! Lai! Má đây con ơi!! Một người nào dưới sông kêu thất thanh, chị quay lại. Aùnh mắt trống không. Vẫn bước chân vô hồn, chị đi về chỗ thuyền đậu chen chúc.. Má! Má, nhà mình cháy rồi, cháy hết rồi. Chị vẫn còn trong cơn mê của sợ hãi. Chị vẫn chưa phục hồi trí nhớ để nhận ra rằng: "Mình đã được gìn giữ, bảo vệ bởi gã lính trẻ tuổi mà chị vừa hiểu nhầm rằng y đòi lấy của, muốn hiếp dâm". Tôi nói với những người lính đang đứng nhìn theo người đàn bà: "Nhìn gì mấy cha, đi lẹ lẹ còn qua phà, về Sài Gòn cho kịp." Về Sàigòn lại đứng đường, gác chợ cứ như thằng ăn mày, sung sướng gì mà ham về sớm thiếu úy ơi!!

Đơn vị xuống phà qua Mỹ Tho để tiếp lên xe về Sàigòn, nhận nhiệm vụ chống biễu tình, giữ an ninh thủ đô.. Hai gã thiếu niên đi đầu đoàn người căng biễu ngữ màu vàng: "Cương quyết bảo vệ Đạo Pháp". Hai gã khác mang một tấm khác có giòng chữ nguệch ngoạt, "Hoan hô quân đội".. Đám đông la ó, những viên đá ném tới.. Những viên đá rơi trên nón sắt, thân áo giáp, lời chưởi bới ào ào nghiệt ngã:"..đ..má chúng mầy ăn tiền mỹ-ngụy bao nhiêu hỡ... Ai trả lương cho chúng mầy giết thầy, hại đạo!!" Những người lính chúng tôi chưa kịp rửa đôi giày lấm bùn của chiến trận ngày hôm qua, vết cháy ở áo Hạ Sĩ Ty, máu khô còn đóng trên mặt Binh Nhất Thái, và chính tôi - mùi người chết còn nguyên nơi miệng, lưỡi.. Tất cả chỉ vừa qua của bốn-mươi tám bốn giờ từ một vùng đất gọi là Bình Đại, Tỉnh Kiến Hòa. Bình Đại- Sài Gòn chỉ khoảng trăm cây số đường chim bay."

"Câu chuyện kể tiếp tục với cảnh tượng những đứa trẻ sống sót trong ngôi làng Xã Chánh Khoan, vùng Quận Phù Cát, Tỉnh Bình Định. Làng trù phú, vườn củ đậu xanh ngắt, lúa chín vàng, chĩu nặng bông trái nhưng không bóng người, nhà nhà cửa đóng kín, mùi tử khí âm âm.. Những đứa bé được tìm thấy từ căn nhà cha mẹ đã chết vì dịch hạch. Bé kiệt sức vì đói, rét do trời đang ở cuối mùa Đông 1966.

Câu chuyện tiếp tục với hoạt cảnh xót xa im lặng nơi vùng đất lửa hai tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên, biên giới cực bắc của miền Nam đối diện với miền Bắc qua vùng "Phi Quân Sự". Mùa Đông năm 1967, hai giờ sáng từ Cửa Việt, đơn vị anh, Tiểu Đoàn 9 Nhảy Dù đưa quân lên hướng Bắc sát sông Bến Hải. Trời sáng dần để thấy lẫn sau giải đụn cát, gò đất có những "ngôi nhà" nhỏ. Không biết đáng để gọi là "nhà" hay chăng, vì thật sự chỉ là những hầm hố, trên đó người dân úp lên một mui thuyền và cả gia đình, những con người ngồi bó gối sát vào nhau. Khi nhận ra những người lính đang làm việc lục soát, những con người ngồi trong những căn nhà kia cử động.. Họ bò ra. Vâng, những "con người gọi là người Việt Nam" kia bò ra bằng hai bàn tay và đầu gối, như một loại dã nhân tiền sử chưa đứng thẳng được cột sống. Bao đời nay, người đàn bà ở hai tỉnh Quảng Trị-Thừa Thiên, bất kể giai cấp xã hội nào, theo phong tục kín đáo luôn có thói quen luôn mặc áo dài, dù áo dài cũ kỷ, rách vá, hoặc đang làm việc nặng nhọc, lầm than. Những chiếc áo dài rách tay, độn vai bởi hàng chục miếng vá, khác màu, khác vải. Nhưng chiếc áo dài của người đàn bà làng Diêm Hà Thượng ở vùng giới tuyến không còn chức năng của mục đích, ý niệm ban đầu - Để bảo vệ phẩm tính cao quý, thể hiện phong cách kín đáo của người nữ. Tất cả những danh, tỉnh từ huênh hoang, tô vẻ mà những kẻ lãnh đạo chiến tranh của cả hai bên hằng nại đến để chiếm đoạt "lý chính nghĩa" đã trở nên vô dụng, mất ý nghĩa đích thực, vì vạt áo dài kia không được kéo dài hơn, không đủ lành lặn để thay thế chiếc quần che phần hạ thể trong động tác bò lết."

Nhưng chiến tranh bên cạnh chuỗi cảnh tượng thê thiết dằng dặt kể trên vẫn có những hoạt cảnh bi tráng mà mỗi người lính, người dân miền Nam hằng hiện thực qua từng ngày giờ bão táp với cách thế chịu đựng vô vàn kỳ lạ tưởng chừng như không thật. Chúng ta hãy chứng kiến những phận người sống-chết qua lửa đạn.. "Ngày 25 tháng 6, 1972, Trung Tướng Ngô Quang Trưởng, Tư Lệnh Quân Đoàn I quyết định khai diễn chiến dịch tái chiếm Quảng Trị. Khi đổ quân xuống bãi cát nam Quận Hải Lăng, trên trục tiến quân hướng khu Nhà Thờ La Vang, mục tiêu cực tây, vị trí giữ cạnh sườn trông về hướng Trường Sơn, những người lính thấy những luồng hơi ong óng trên mặt cát kia sao. Trời sáng dần, quân tiến sâu vào vùng hơi bốc lên kia thì họ khám phá ra.. Luồng khí bốc lên ấy là tàn hơi của một loại lửa đặc biệt. Lửa được cấu tạo không chỉ do vật chất bị đốt cháy như gỗ, sắt, thép của các loại súng đạn, xe cộ, vật dụng chiến tranh; lửa còn được tăng cường nung nấu bởi áo quần, quang gánh, giày dép...Và cuối cùng, lửa được bền bỉ gìn giữ bởi một chất liệu bất ngờ, phí phạm và thực sự không cần thiết - Những tế bào hữu cơ của thân thể người bị xé rách, vùi dập, thiêu đốt cháy âm ỉ làm chảy sênh sếâch mặt nhựa đường. Loại lửa thuần túy "nhân tạo" nầy đã tồn tại từ bao ngày qua - từ ngày 29 tháng Tư, 1972, thời điểm những sư đoàn Miền Bắc tấn công, cưỡng chiếm thị xã Quảng Trị, phục kích đoàn người di tản, chạy loạn qua vùng đất 9 cây số từ La Vang xuống Cầu Câu Nhi Phường, nam Quảng Trị. Con người nghe tiếng nổ cấp kỳ và thân người tung xé bay bay lên với lửa.. Họ "biết rõ" như thế và chỉ biết giương tròng mắt ngó trân..

Lửa! Lửa! Lửa!
Lửa dậy từ Hải Lăng
Giăng giăng triền cát trắng
Lửa phần phật nung rền
Đỏ cọng cỏ đồi sim.
Bao xác người cháy đen
Dọc dài Đường số I
Xác mẹ chồng xác con
Chập chờn màu lửa nghẹn
Dòng "Đá Chảy Mồ Hôi"
Sôi sục hơi tử khí
Đồi"Thánh Mẹ Sầu Bi"
Nhầy nhầy thây kinh dị.
Thây thê thảm quắp co
Đặc quánh vũng máu đỏ
Đất sềnh sệch thịt người
Lặng nở trời nắng to...
Những cái chết kia không chỉ một lần, vì cảnh tượng thương tâm kia không chỉ riêng cho ngày 29 tháng 4, mà được lập đi lập lại suốt gần hai tháng qua với đạn, bom cực độ của cả hai bên, bên nầy lẫn bên kia sông Bến Hải để tạo nên một địa ngục lặng im dưới trời sáng nắng, trên bãi cát lây lất màu máu cặn. Nhưng loại lửa nhân tạo kia lại không đủ độ nóng cần thiết để thiêu cháy toàn diện, nên những xác người dù qua bao ngày chết lâu dài vẫn còn nguyên vẹn nét kinh hoàng của lần bức tử, dẫu chỉ là khối xương sọ nằm trơ bên hố bom kho cạn nước, sênh sếch váng lớp thịt xương, dạng thây người chưa hoàn toàn tiêu hủy.
... Kẹt trong xích xe tăng
Xác thân ai rây máu
Trời ơi đau Hải Lăng
Hồn cào sôi bi phẫn.
Nhưng từ sâu khổ nạn với cảnh chết tận cùng kia, bỗng sáng chói điều kỳ diệu như tia chớp của giữa đêm đen giông bão. Khi những người lính vượt tuyến xuất phát, đội pháo vượt qua vũng lửa Hải Lăng, Giáp Hậu, La Vang thì trên đồng cháy xuất hiện những bóng người thấp thoáng xiêu lệch.. Họ chạy ngã nghiêng, chập choạng như những bóng ma nhập tràng vừa dựng dậy từ đám xác chết. Và như được hồi sinh bởi một năng lực mầu nhiệm, đám "ma người" đồng thất thanh kêu lớn... Lính tới! Lính tới! Lính cộng hoà tới! Và chắc rằng chính tiếng kêu trong đáy thẵm chết chóc của những người dân nầy là tin cậy trao gởi cổ vũ mãnh liệt nhất để những người lính dựng nên kỳ tích của trận chiến Mùa Hè 1972 ở mặt trận Quảng Trị trong ngày 14 Tháng 9- Khi những chiến binh của các Tiểu Đoàn 1 và 6 TQLC đồng khép chặt, diệt gọn ổ kháng cự cuối cùng nơi Cổ Thành Đinh Công Tráng, dựng NGỌN CỜ VÀNG lúc đúng Ngọ- Giờ mặt trời lên thiên đỉnh chiếu ánh sáng rực rỡ uy nghi xuống Ba Vạch Đỏ thắm tươi thêm sắc máu của những người hằng chết cho một điều không bao giờ nói nên lời: Con người luôn sẵn chết vì TỰ DO - Những người LÍNH vô danh, những người DÂN không ai biết đến - Dân và Lính Miền Nam. Của Quốc Gia tên gọi VIỆT NAM CỘNG HÒA."
Câu chuyện vốn còn rất dài, nhưng bởi thời lượng không đủ, anh chấm dứt phần trình bày với kết luận: "Thượng đế ban cho con người sự sống, và kế hoạch hóa tình cảnh, thời điểm từ giả cuộc đời trần thế- Nhưng con người trong chuỗi sinh tồn kia đã hiện thực điều bi thiết vĩ đại của mình - Người quyết định lần chết cho chính bản thân. Người trao gởi lại sau cái chết xác thân một trị giá vinh diệu. Người Việt Nam đã hiện thực điều cao cả kia một cách tự nhiên trong suốt đêm đen bất hạnh dài theo thế kỷ, giữa vũng lửa chiến tranh mà toàn dân tộc đang gánh chịu một cách khắc kỷ- Xem như một sự cùng đành. Chúng tôi không nói điều tán tụng với chữ nghĩa phù phiếm, không nội dung- Chúng tôi xác tín với giá máu của mỗi người anh em đã, đang hằng hằng lâu dài gánh chịu... Không chỉ là những người lính nơi trận điạ, mà là hằng loạt tướng lãnh giữ chức tư lệnh đại đơn vị, hoặc sĩ quan cấp tá cao cấp: Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, Nguyễn Khoa Nam, Chuẩn Tướng Trần Văn Hai, Lê Văn Hưng, Lê Nguyên Vỹ, Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn, Nguyễn Hữu Thông, Trung Tá Cảnh Sát Nguyễn Văn Long... Người không chỉ chết một mình, mà với toàn gia đình cùng một lần quyết tử- Chị Nguyễn Thị Thàng, vợ một nghĩa quân chết với chồng và đàn con nơi chiếc đồn cô quạnh ở vùng IV; Thiếu Tá Vĩnh, bào huynh của gia đình niên trưởng Hà Thượng Nhân (Trung Tá Phạm Xuân Ninh, Chủ Nhiệm Báo Tiền Tuyến) chết cùng với cả nhà gồm ba thế hệ: ông, cha, cháu; những người lính Thủy Quân Lục Chiến đồng tự sát nơi Bãi Mỹ Khê, Đà Nẵng cuối tháng 3, 1975; Trung đội Nhảy Dù của Huỳnh Văn Thái cùng nỗ chung một lần lựu đạn sáng 30 tháng Tư. Ánh chớp thanh quang của anh hồn bao người trung liệt kia hẳn đã rung mờ nhật, nguyệt hiện thực lần Núi Sông cùng khóc với Con Người. Và Người cùng một lần sống mãi với Quê Hương."(*)

Phần trình bày của anh đã được Giáo Sư Nguyễn Ngọc Bích, Giám Đốc Đài Phát Thanh Á Châu Tự Do (RFA), Washington DC chuyển sang Anh Ngữ, bản dịch quay ronéo để sẵn nơi cửa phòng hội, cùng với văn bản tiếng Việt, được tóm lược qua Nhật Ngữ. Giáo Sư Nhật Văn, Lê Văn Cừ, bạn cùng lớp Trần Viết Đại Hưng (San José, CA) cựu học sinh Hàm Nghi, Huế, người đã thấm hiểu, và chịu cơn đau của sự kiện lực lượng cộng sản tàn sát người Huế trong dịp Tết Mậu Thân 1968; lần chạy loạn oan khốc của ngày 29 tháng 4, 1972 nơi 9 cây số "Đại Lộ Kinh Hoàng", phiên dịch cho anh theo kỹ thuật phiên dịch nghị trường qua phối hợp với anh từ đêm đầu tiên đến Nhật. Người Lính-viết văn cũng chuẩn bị sẵn ấn bản tiếng Anh "The Stories Must Be Told", cuốn sách được huynh đệ, bằng hữu khắp nơi giúp hoàn thành trong một thời gian kỹ lục trước ngày đi.

Tiếp theo, Cô Ku Sujeong, Hàn Quốc (tên Mỹ Suzane; tên Việt, Trâm), sinh viên học trình tiến sĩ sử học trình bày chủ điểm, "Những đơn vị Đại Hàn có mặt trong chiến tranh Việt Nam" (Các Sư Đoàn Bộ Binh, Thủy Quân Lục Chiến, Thanh Long, Bạch Mã, Bạch Hổ chịu trách nhiệm vùng duyên hải Miền Trung từ Quảng Ngãi đến Bình Thuận, 1965-1973). Cô Sujeong được một sinh viên người Đại Hàn hiện theo học tại học viện giúp phiên dịch.

Chu Kiên, người Trung Hoa trình bày "Chiến tranh Việt Nam đối với Mao Trạch Đông". Với những chứng liệu lịch sử cận đại còn rất mới, diễn giả người Hoa nầy minh xác ảnh hưởng lý thuyết, lẫn kinh nghiệm thực tiển của Mao Trạch động đối với những quyết định chiến lược, cũng như chiến thuật của giới lãnh đạo miền Bắc, đặc biệt đối với Hồ Chí Minh. Diễn giả nầy trình bày trực tiếp bằng Nhật Ngữ.

Và cuối cùng, Ado Makoto, thủ lãnh của phong trào phản chiến Nhật trong suốt nhiều thập niên qua những vận động đòi quân đội Mỹ rút khỏi Okinawa, phản đối Hiệp Ước An Ninh Nhật-Mỹ, trình bày quan điểm "Nhật Bản và Phong Trào chống Chiến Tranh" do ông và các nhóm bạn đồng quan điểm lãnh đạo, vận động, thực hiện.

Sau lần trình bày của Ông Ado Makoto, buổi hội thảo chuyển qua phần thứ hai: Đối thoại giữa cử tọa và các diễn giả, hoặc phần bổ túc giữa những người thuyết trình. Khoảng bốn trăm người tham dự, phần đông thuộc lớp sinh viên trẻ tuổi (đang theo học các phân khoa chính trị, lịch sử của trường) hoặc những người lớn tuổi có lòng quan tâm đến thời cuộc, sinh hoạt chính trị. Đáng kể nhất là các ký giả, phóng viên Hara, Tabata, Oshima phụ trách trang tiếng Nhật của tờ Mê-Kông do Hồ Thông Minh chủ biên. Các anh Hà Ngọc Giao, Lê Văn Xe, Trần Kiến Võ, chị Hà Anh Võ, và những thanh niên, thiếu nữ người Việt đến Nhật từ lúc tuổi ấu, thiếu, ở những nơi rất xa Tokyo (di chuyển ở Nhật luôn là một vấn đề khó khăn vì khoảng cách quá xa, dân số quá lớn. Tokyo là một trong những thành phố đông dân nhất của thế giới với 12 triệu người) đã đến tham dự buổi nói chuyện. Tuy nhân số ít nhưng các anh, chị, các cháu trẻ tuổi đã theo dõi với tất cả tấm lòng của những người Việt hằng thấm đau cảnh khổ. Các anh Lê Văn Xê, Trần Kiến Võ thuộc các khoá 19, 25 Trường Võ Bị Đà Lạt, anh Hà Ngọc Giao là sĩ quan Hải Quân QLVNCH.

(*) Bản tường trình đầy đủ "Nỗi Đau Đầy Hơn Trí Nhớ" đã được chuyển sang Anh ngữ trong "The Stories Must Be Told".

Sự Thật ở đâu?

(Nếu lần phát biểu được ban tổ chức điều hành theo thứ tự kể trên, sang đến phần đối thoại thì thực hiện theo chiều ngược lại. Và Bản Tường Trình chỉ ghi lại những đối thoại của hai diễn giả người Việt, và những nội dung có liên hệ trực tiếp đến người và việc từ, của Việt Nam.)

Ông Ado với tinh thần phản chiến cực đoan, đã nhận định: "Chiến cuộc Việt Nam là biểu hiện nhất quán của chính sách "thực dân kiểu mới" được Mỹ hóa (Americanized, Ado lập lại nhiều lần) với những phương tiện quân sự khổng lồ, sức mạnh siêu đẳng của nền kinh tế, tài chánh của chủ nghĩa tư bản." Do quan niệm một chiều nầy được diễn đạt bằng tư thế trấn áp cơ hữu của diễn giả qua cách phát âm Nhật ngữ mạnh mẽ, với dẫn chứng sự kiện quân lực Mỹ đã từng tham chiến ở Đại Hàn, trấn đóng tại Nhật trước khi có mặt ở Việt Nam, nên từ phía cử tọa đã có thắc mắc với cô Sujeong (Đại Hàn): "Phải chăng lần tham dự của quân đội Đại Hàn có nguyên do từ sự đe dọa của Bắc Hàn?" Có thể do cô đã không chuẩn bị cho câu hỏi thắc mắc nầy (vì chỉ đặt trọng tâm vào hoạt động quân sự của lực lượng Đại Hàn tại Nam Việt Nam), nên Người Lính-viết văn đã xin phép được phép trả lời hộ, anh nói: "Chúng tôi đã quả đã dự tri cho câu hỏi nầy nên đem sẵn theo đây một dĩa CD có 30 hình ảnh về chiến tranh không phải chỉ riêng với hoàn cảnh VN mà còn của nhiều vùng đất, và những sắc dân khác. Một của 30 bức ảnh nầy là cảnh tượng người Bắc Hàn vượt sông Naktong chạy về phía nam vĩ tuyến 38 trong chiến tranh 1950-1953 (cũng được trích đăng trong phụ bản của The Stories Must Be Told). Hình ảnh nầy đủ để chứng minh sự kiện đe dọa của lực lượng quân sự, chính sách hà khắc chính trị của phe cộng sản không chỉ xảy ra với chiến tranh Việt Nam (mà chỉ do nguyên cớ là tham dự của người Mỹ như ôngAdo vừa kể ra)- Nhưng đe dọa mang tính danh cộng sản đã có và hằng tác động lên toàn cầu, nên đã xẩy ra cảnh tượng như vừa kể trên trong nam 1950ở Đại Hàn; sự kiện người lính Đông Đức đào thoát qua bức tường Bá Linh năm 1960; và hiện tượng vạn, triệu người Việt chấp nhận cái chết để thoát khỏi tay người cộng sản ở Việt Nam.. Di cư, vượt tuyến khỏi miền Bắc sau tháng 10 năm 1954; chạy loạn Mậu Thân 1968; chạy tỵ nạn năm 1972; di tản tháng Ba, Tư năm 1975, và cuối cùng đồng loạt (cả hai miền Bắc, Nam) vượt biên suốt hơn một thập niên sau 30 tháng Tư, 1975. Tóm lại, không những chỉ có đe dọa của Bắc hàn đối với Đại Hàn, của Đông Đức đối với Tây Đức, của Bắc đối với Nam Việt Nam- Nhưng đe dọa cộng sản là thực tiển của tình hình chính trị-quân sự toàn cầu trong suốt nửa thế kỷ vừa qua. Tóm lại, chiến tranh Việt Nam là chiến tranh hai miền Bắc-Nam, giữa chế độ cộng sản Miền Bắc và chế độ cộng hòa, dân chủ Miền Nam - Chiến tranh nầy khởi đi rất lâu trước khi chính phủ Mỹ đổ quân vào đến Việt Nam (mùa Hè 1965 tại bãi Đà Nẵng)- Ít nhất cũng chính thức từ 19 tháng 12, 1960, ngày thành lập Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam theo nghị quyết của Đại Hội 3 Trung Ương Đảng Lao Động (cộng sản), ngày 10 tháng 6, 1960 tại Hà Nội. Và chiến tranh ấy vẫn kéo dài sau khi quân nhân Mỹ hoàn toàn rút khỏi Miền Nam (27 tháng 3, 1975), ngoại trừ một văn phòng tùy viên quân lực (DAO) theo điều khoản của Hiệp Định Paris. Có một cán binh bộ đội nào đã giao tranh với đơn vị chiến đấu Mỹ trong khoản thời gian trước, sau thời đoạn 1965-1973 ngắn ngủi của cuộc chiến tưởng chừng bất tận đau thương kia?

Một người khác (mà anh đoán chừng phải là người am hiểu rõ tình hình, văn hóa Việt do chữ viết (Việt ngữ) rất đều và đẹp) đặt cho anh câu hỏi: 1/ Phải chăng ở Miền nam có chánh sách cưỡng ép người vào lính? 2/Đời sống vật chất của cấp sĩ quan rất thoải mái bởi có mức lương cao. 3/Chính sách giam giữ của chính quyền miền Nam đối với tù binh bộ đội cộng sản? Anh có trả lời như sau: "Trong một nước có chiến tranh thường trực, lẽ tất nhiên phải có chính sách tổng động viên nhân, vật lực cho cuộc chiến. Tuy nhiên như trường hợp anh, tự nguyện vào lính năm 17 tuổi đã chứng tỏ, miền Nam không thiếu những thanh niên tình nguyện vào quân ngũ, (không những chỉ tình nguyện vào Trường Võ Bị mà còn phải thi tuyển gắt gao). Hơn thế nữa, đơn vị anh, binh chủng nhẩy dù chỉ nhận người tình nguyện - từ cấp binh sĩ đến hàng tướng lãnh- và được gia nhập vào binh chủng nầy là một vinh dự lớn, mà người sĩ quan khi tốt nghiệp trường võ bị phải đậu thứ hạng cao, hoặc thủ khoa khóa học mới có quyền ưu tiên chọn lựa. Tuy nhiên, hoàn toàn không phải phải vì đồng lương mà người thanh niên vào lính- bởi đây là một nghề nghiệp có mức sống thấp nhất của xã hội miền nam- Số tiền lương của cấp sĩ quan chỉ ngang chừng 10 Đô-la Mỹ, chứ đừng nói binh sĩ, hạ sĩ quan. Anh dẫn chứng với lời tự sự cá nhân anh trong mục tiểu sử tác giả của cuốn "Những Chuyện Cần Được Kể Lại: Chưa hề có một tài sản nào lớn hơn 10 đô-la Mỹ, tài sản lớn nhất có được là số tiền Bộ Xã Hội Mỹ cấp phát vào ngày nhập cư đất Mỹ năm 1993". Anh cũng không quên kể lại câu nói của người đàn anh thương mến, Trung Tá Nguyễn Xuân Phúc, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 2 TQLC: "Tao mấy năm làm tiểu đoàn trưởng chưa hề cầm số tiền lớn hơn 100.000 đồng (thời giá năm 1970, khoảng 60 đô-la Mỹ)" Chương "Người Lính Không Hề Chết"- NCCDKL (sđd)". Về câu hỏi thứ ba, tương tự như vấn nạn đối với cô Sujoeng về vấn đề "Mối đe dọa từ Bắc Hàn", lần nầy anh cũng chuẩn bị đủ đối với tình thế (dự liệu) qua chương "Tù Binh, Anh đi về đâu?" của cuốn sách viết từ 1974, "Tù Binh và Hòa Bình". Trong chương nầy anh đã viết nên lời: "Ở trại giam Phú Quốc do quân cảnh VNCH quản trị, người tù cộng sản được bảo vệ bởi những quy luật trại giam theo Công Ước Quốc Tế Genève về tù binh (cố vấn Mỹ của đơn vị quân cảnh lại là người giám sát nghiêm chỉnh việc thi hành nầy). Và trái lại, mối đe dọa nguy khốn đến từ những "đồng chí" của họ - Những cán bộ chính trị của tập thể tù binh cộng sản. Và khi ra khỏi nhà tù, trả về phía cộng sản, họ tiếp tục bị đày ải bởi nhà cầm quyền Miền Bắc bởi tội danh "đã để phía ngụy quân bắt cầm tù". Anh đã không dự tri điều hoang tưởng- Năm 1976, khi chuyển ra giam giữ ở đất Bắc, anh gặp lại đủ những người mà anh đã trao trả về phía cộng sản trong những tháng đầu năm 1973 tại địa điểm trao trả bên kia sông Thạch Hãn (Quảng Trị)".

Nhưng Nguyễn Minh Tuấn đã không tin về câu trả lời trên, anh cho rằng, sự hà khắc, độc ác của chế độ giam giữ của VNCH là một điều không thể chối cải được, vì sự kiện nầy đã bị chính các nhân vật "hòa bình" ở Miền Nam tố cáo. Vì thời giờ không cho phép, hơn nữa vần đề đã đẩy qua vùng chính trị mà nếu muốn đề cập thì phải dẫn chứng với nhiều người, việc khác (thành phần thứ ba, các phong trào hòa bình ở Miền Nam, những nhân vật phản chiến "ngụy danh" mà sau 1975 đã hoàn toàn lộ mặt.. Những Lý Chánh Trung, Nguyễn Thị Thanh Vân (vợ Ngô Bá Thành), Huỳnh Tấn Nẫm..) Và anh cũng đã dự tri chính xác về những con người nầy cùng cái gọi là "cuộc cách mạng gọi là giải phóng miền Nam" qua khẳng định đã viết thành lời từ 30 năm trước: "Rồi đây trận chiến cuối cùng sẽ là giữa chúng tôi với những sư đoàn chính quy cộng sản Bắc Việt.. Lá cờ ba mầu của mặt trận giải phóng (Miền Nam), cùng những kẻ múa rối ở Miền Nam sẽ bị vất đi như một thứ phế phẩm!! (TB& HB, Trang 411-417, ấn bản 1974, Hiện Đại Sàigòn)". Anh cũng không trả lời câu hỏi có tính cách "chiến thuật nầy" là cốt dùng thì giờ còn lại để trả lời về câu hỏi mấu chốt: "Ông nghĩ thế nào về sự kiện Hà Nội bị Mỹ dội bom". Câu hỏi nầy do một thính giả nêu ra nhưng Nguyễn Minh Tuấn chuyển "gánh nặng" qua cho anh. Không chút bối rối và ngạc nhiên, anh trả lời: "Trước tiên tôi cực lực phản đối việc Mỹ ném bom Hà Nội, vì một lẽ rất giản dị: Không ai cam tâm muốn đất nước mình bị tàn phá. Mà cũng không hẳn như thế, tất cả những con người có lương tri, lương năng không ai hoan nghênh những vụ tàn phá, tấn công bằng bom đạn. Nhưng nói đi thì cũng phải nói lại, trong dĩa CD sẵn mang theo hôm nay (nhưng rất tiếc vì lý do kỹ thuật, CD nầy đã không phóng chiếu được. Anh đưa CD lên thêm một lần) có hình ảnh phố Khâm Thiên, khu dân cư Hà Nội bị dội bom trong chiến dịch dội bom 12 ngày (Tháng 12, 1972) của chính quyền Mỹ. Nhưng nếu đã kết án vụ việc phi cơ Mỹ ném bom ở Khâm Thiên thì cũng phải kết án những vụ pháo kích của lực lượng cộng sản vào những thành phố, khu dân cư ở Miền Nam. Trong dĩa CD nầy cũng như trong những cuốn sách tôi trình bày trước quý vị hôm nay (có những ảnh do chính bản thân hoặc các phóng viên chiến trường bạn hữu tôi chụp trong trận chiến mùa Hè 1972), những ảnh nầy trình bày đủ cảnh tượng thường dân bị tàn sát trên 9 cây số "Đại Lộ Kinh Hoàng" nam Quảng Trị, ngày 29 tháng 4, 1972; thị xã An Lộc bị san thành bình địa, dân chạy loạn về Chơn Thành, Bình Dương bị tàn sát bởi cuộc pháo kích tập trung đêm 12 tháng 4, 1972. Trường Tiểu Học Cai Lậy, Định Tường (vùng đồng bằng Cửu Long) ngày 9 tháng 3, 1974 gây thương vong 43 trẻ nhỏ, bị thương 70 em khác.. Những vụ giết người không cần thiết và cực độ vô nghĩa nầy phải một lần bị lên án cùng lần với việc phố Khâm Thiên Hà Nội bị dội bom. Và trở lại vấn đề dội bom thì thật ra mà nói- ba phần tư số bom Mỹ với chất độc khai quang là dội xuống Miền Nam- Thế nên, nhân dân Miền Nam mới là người có đủ toàn quyền trước hết để nói lên vấn nạn đau xót nầy. Phải, chính chúng tôi - Người Miền Nam mới là nạn nhân đầu tiên và hứng chịu phần nặng nề nhất của cuộc chiến. Hai trăm ngàn dân, lính trong lần di tản Tây Nguyên khởi từ 15 tháng Ba, 1975 kết thúc ngày 28 cùng tháng, chỉ còn khoảng 60.000 con người đếm được tại trại tiếp cư đèo Rù Rì, Nha Trang, không có một đơn vị quân đội nào còn được khả năng chiến đấu khi về đến vùng đồng bằng. Biết bao nhiêu người đã chết trong chiến tranh? Chỉ biết sau 1975, trong hai triệu người Nam, Bắc vượt biên ra khỏi nước đã có 600.000 ngàn người bỏ mạng trên biển đông, nơi rừng già biên giới Việt- Miên-Thái (thống kê của Ủy Ban Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc). Biết bao nhiêu người Việt Nam đã chết trong chiến tranh? Biết bao người Việt Nam đã chết sau thống nhất, trong hòa bình? Anh hỏi mình, hỏi cử tọa, hỏi người bạn Nguyễn Minh Tuấn đến từ miền Bắc, hỏi người phản chiến Ado Makoto.. Người nào đã chiến thắng, kẻ nào đã thua trận? Phải chăng chỉ Dân Tộc Việt Nam chịu nguồn uất hận dằng dặt khôn nguôi!!

Còn có những câu hỏi về việc Tướng Nguyễn Ngọc Loan bắn tên đặc công ở Chợ Lớn (1968); thái độ đối với kẻ khủng bố hiện tại? Nhưng anh có thể nói gì thêm và nói gì hơn nữa (dẫu cũng đã tiên liệu cho những vấn đề nầy) ngoài mối đau thương quá đỗi lớn lao còn rất mới sau 26 năm gọi là hòa bình ở Việt Nam.

Hậu từ

Tương tự như những lần ở sông Thạch Hãn, Quảng Trị sau những cuộc trao trả tù binh đầu năm 1973, mỗi buổi chiều trở về bờ sông phía nam, phần đất kiểm soát của Thủy Quân Lục Chiến VNCH, qua thành phố đổ nát, hoang tàn, hậu quả của lần tàn phá cực độ trong suốt năm 1972.. Anh có cảm giác ngậm ngùi, khắc khoải: Rồi đây sẽ chẳng đi đến đâu, tất cả chỉ là vô ích, những nỗ lực của bản thân, bằng hữu, chiến hữu trong cuộc chiến nhiều thiên lệch, không cân sức, bị xuyên tạc, ngộ nhận, mạ lỵ từ nhiều phía- Cuộc chiến đấu tự tồn của dân và lính Miền Nam từ lâu nào đã mấy ai hay, cho dù bậc đại trí, đạo hạnh như Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc, Giáo Hoàng Vatican.. ?! Nay cũng thế, dẫu anh đã nói đến tận cùng, đã chuẩn bị thật chu đáo, đã diễn dịch vô vàn từ sự thật, nhưng làm sao đẩy được khối đả tảng "chiến tranh Việt Nam được Mỹ hóa trong tất cả mọi tình thế, mọi điều kiện" ra khỏi quan niệm cố định của những người phản chiến Nhật như Ado Makoto? Và dẫu cho anh thật lòng tin tưởng về tính trong sáng, trung trực của thế hệ người trẻ tuổi (điển hình qua số đông của phòng hội), mà thái độ nghiêm túc, cẩn mật của họ trong suốt buổi hội thảo đã làm anh cảm khích- nhưng phần đông những người nầy đều nhận quá trình huấn luyện, sưu khảo từ học trình đại học Việt Nam hiện tại - mà lý thuyết xã hội chủ nghĩa vẫn là quan điểm chủ đạo của tất cả mọi công trình văn hóa, văn nghệ, giáo dục, kể cả kinh tế. Từ "thực tế- thực tế gọi là xã hội xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam" nầy anh rơi vào một tình trạng não nề với câu hỏi nhói đau: "Nước Nhật chỉ sau mười lăm năm (1945-1960), từ hoang tàn đổ nát do hai trái bom nguyên tử; danh dự, kiêu hãnh dân tộc, quân đội bị xúc phạm (Nhật Hoàng Hirohito tuyên cáo đầu hàng, Mỹ thiết lập tòa án Tokyo xử tội phạm chiến tranh); cảnh cùng khổ, sa đọa xã hội hiện ra cùng khắp (đến nổi cảnh sát phải dùng đến biện pháp truy quét mới dọn sạch được cảnh sống lầm than của dân bụi đời ở khu nhà ga Ueno, Tokyo những năm sau 1945)- Nhưng chỉ đến thập niên 60 Nhật đã là một cường quốc kinh tế, và hiện nay là đối thủ không khoan nhượng của Mỹ trong tất cả mọi lĩnh vực kinh tế, tài chánh, sản xuất. Phép mầu nầy đến bao giờ xuất hiện ở Việt Nam - Đất nước đang ở đầu thiên niên kỷ thứ ba với chiến lược kinh tế "nhất quyết tiến lên xã hội chủ nghĩa dựa trên cơ sở nông nghiệp và công nghiệp nhẹ". Hình thái phát triển xã hội (và chỉ thực hiện được) do dịch vụ tiêu thụ và tệ nạn bàn giấy thông qua thủ tục hối lộ. Hơn một phần tư thế kỷ kể từ ngày thống nhất đất nước số phận người dân vẫn bị chi phối và quyết định bởi Bộ Hình Luật An Ninh Tổ Quốc- biến thái của nghị quyết An Ninh Tổ Quốc từ đại hội III năm 1960 của trung ương đảng chuẩn bị lần xâm chiếm Miền Nam bằng vũ lực - Công An Bộ Nội Vụ toàn quyền bắt và kết án người bằng biện pháp tập trung cải tạo!! Linh Mục Nguyễn Văn Lý (bạn đồng hành chung chiếc cùm với người viết trong lần chuyển trại 8 tháng 1, 1988 từ Thanh Cẩm, Thanh Hóa ra trại Ba Sao, Hà Nam Ninh) nay đang chịu thêm một án tù thứ ba trong đời cũng chỉ vì lý do "vi phạm an ninh tổ quốc".

Trong bữa cơm từ giả tại nhà Nguyễn Minh Tuấn, anh có kể cho chúng tôi nghe về nỗ lực của báo giới Vệt Nam hiện tại.. Báo Đại Đoàn Kết của anh đã có công đầu trong vụ án xét xử ông Nguyễn An Trung, một Việt kiều mang tiền về nước để phát triển ngành giao thông, nhưng bị kết án tù vì tội khai gian thuế, chịu án tù, tịch thu tài sản và phạt vạ 1 triệu đô-la Mỹ; hoặc báo đã làm sáng tỏ vụ công an bắn chết một thanh niên trên cầu Chương Dương Hà Nội, cướp tiền của người nầy, xong vu oan nạn nhân là kẻ cướp giật. Cha nạn nhân đưa đơn thưa kiện khắp nơi các cấp nhưng đều bị chìm lấp vì hồ sơ (giả tạo) của công an đã hoàn tất. Nỗi oan uổng của người chết chỉ được sáng tỏ khi báo Đại Đoàn Kết (qua đều tra của Nguyễn Minh Tuấn) đưa nội vụ ra ánh sáng. Hoặc vụ một chị đàn bà sắc tộc Tày bị vu oan đã thiếu nợ 200.000 đồng (khoản chừng 15 Mỹ Kim), bị kết án 18 tháng tù trong tình trạng ung thu bướu đang giai đoạn nguy kịch!! Tuấn kết luận: "Báo chí phải biết tránh né, muốn viết phải nhắm vào, đánh tỉa từng cá nhân- nhưng đừng bao giờ đụng đến chính sách và trung ương đảng!" Anh biết người bạn nói điều thật lòng, và can đảm thực hiện nghĩa vụ báo chí - Nhưng anh nghĩ thầm: "Nếu là một nước có kỹ cương người dân có bao giờ lâm cảnh nguy biến đến như thế? Và anh biết có hỏi người bạn chăng nữa thì mối xót xa nầy vẫn giữ nguyên độ sắc nên anh đành im lặng. Và anh chợt hiểu ra: Tại sao Bảo Ninh không được tham dự buổi hội thảo - Hẳn những người cầm quyền ở Việt Nam e ngại về tiếng nói của một người viết văn trung trực.

Từ nhà Tuấn, anh cùng Đỗ T. Minh và Ng. Thủy đi bộ ra đường đón taxi, ngang qua cơ sở chính của Hãng Sony, nhìn lên, chỉ là một tấm bảng đơn giản ghi tên hiệu của cơ quan nắm giữ quyền lực, khả năng kinh tế - kỹ thuật toàn cầu. Anh hỏi thầm thêm một lần.. Biết đến bao giờ ở Việt Nam. Về đến Mỹ, tin tức đầu tiên anh đọc được: "Những người cầm quyền ở Hà Nội đang chuẩn bị thông qua đạo luật về biên giới và lãnh hải ký với Bắc Kinh trong những năm 1999 và 2000- Theo đó Việt Nam chỉ còn 53, 23% vùng biển chủ quyền và Trung Quốc chiếm 46, 77%. Và công an thành phố Sàigòn tìm cách phá đám tang Hòa Thượng Thích Đức Nhuận.

Anh chờ đợi gì nơi những người cầm quyền Hà Nội, hôm nay đang lập lại lần đê nhục của Mạc Đăng Dung ở thế kỷ 16, nhưng với lý do thậm tệ đốn hèn hơn - chỉ để củng cố vị thế chính trị của cá nhân và tổ chức của họ.

Hóa ra, những kẻ có tội luôn ở tình trạng sợ hãi. Họ sợ Anh Linh Con Người dẫu đã chết và quỳ lạy loại xác ma hủy hoại hư thối.

Phan Nhật Nam
17 tháng 1, 2002.
Để nhớ ngày ký kết "Hiệp Định Tái Lập Hòa Bình ở Việt Nam" 
hai-mươi chín năm trước tại Paris.


TRÂN NHẬT TÂN * ĐIỆU SÁO

Điệu Sáo Cuối Cùng Của Người Duy Mộng
Trần Nhật Tân



Khi ra đi, trong hành lý của tôi có tập thơ CÕI LÒNG của ông bạn Trần Nhật Tân ấn hành
năm 1994 tại Sàigon. Nay xin giới thiệu cùng độc giả(Gia Hội).
Đêm nay mặt trăng xám dần rồi trổi lên điệu sáo cuối cùng của người
duy mộng.
Rừng xõa tóc ngọc nào những chiếc cánh linh hồn còn xanh trong hồ
mắt em.
Bầu trời in hình người con gái nằm phơi linh hồn trên đài lan mà hoàng tử
đã chết vì lòng yêu cây cỏ.
Linh hồn tôi quạnh hiu đầu thai người thế kỷ đợi thời gian về đổi mới.
Mùa Xuân mang nhạc và thơ về dạy tôi viết trên trán em tên vị hoàng tử
thường cưỡi ngựa bạch khắp miền hải lưu để tìm một ánh trăng mà chỉ nghe
biển vọng áo não.
Nhạc vương giả reo len phím hương thần thoại của linh hồn anh đứng trên
lưng thú hoang sử thổi sáo gọi tên em

LÂM CHƯƠNG * QUỶ LOẠN

Lâm Chương

Quỷ Loạn


Lê Điệt, người làng Phước Trạch, huyện Gò Dầu, lúc nhỏ học hành chăm chỉ thông minh, đậu bằng tiểu học, bằng cấp thấp nhất trong ngành giáo dục thời bấy giờ. Khi tuyển sinh vào trường tỉnh, tên của Lê Điệt đứng đầu bảng niêm yết kết qủa, nức tiếng học giỏi.
Một lần, Điệt đi chơi với đám bạn, ngang qua miếu Thành Hoàng, vô tình, Điệt quay măt vào cửa miếu mà đái. Thần quở, về nhà, Điệt bệnh mấy ngày, bộ phận sinh dục đau buốt. Cha mẹ Điệt biết chuyện, sắm sưœa nhang đèn, hoa quaœ mang đến miếu tạ tội cho con. Điệt khỏi bệnh. Một lần khác, Điệt đi ngang qua miếu, đứng lại nhìn vào và nói:

“Làm thần thụ hưởng hương khói, không lo vun bồi công đức, phù trì dân làng, chỉ gây nỗi sợ hã lấy sự hành tội người khác làm điều linh hiển. Mai sau, ta thành đạt, sẽ ra lệnh phá boœ miếu này!”

Năm hai mươi tuổi, Điệt thi tú tài bị hỏng, về nhà đóng cửa, ôn luyện bài vở, quyết tiến thân theo đường khoa bảng. Chữ nghĩa làm Điệt mờ mắt, phải mang kính cận. Người làng khen Điệt ý chí săt đá. Năm nào mở khoa thi, Điệt cũng thi, và cũng hỏng.

Lê Điệt có đứa cháu gái. Lúc Điệt thi tú tài lần đầu, nó còn bé, vừa lên đệ thất. Mãi đến khi nó thành thiếu nữ, chú cháu cùng vào trường thi tú tài, nó đậu, Điệt vẫn hỏng. Nổi giận, Điệt quăng bút, xé sách, chửi cả quan trường giám khảo. Điệt thề không bao giờ thi nữa.

Đời Thiệu Nguyễn năm thứ tư, giặc giả nổi lên như châu chấu, bao nhiêu sinh mạng cung ứng cho chiến trường cũng không. Lệnh tổng động viên ban ra, biện pháp gắt gao, đón đường bắt lính. Túng thế, Điệt chui vào cưœa tu hành, núp bóng từ bi, trốn lính. Ba năm sau, Điệt bỏ ra ngoài, luôn mồm chửi rủa. Có người hỏi lý do, Điệt nói:

“Chỉ là những thứ dung tục, thối ta, không ngửi nổi. Giáo chủ đã chết mấy ngàn năm rồi, bọn đệ tử đang lao đầu về địa ngục.”

Điệt lất phất lang bang, khinh đời, ngạo thế. Đang dự định trở về làng cũ, ẩn thân làm người sằn dã thì bị tóm cổ lôi vào quân trường. Tập cách bắn giết sơ sơ vài tháng, Điệt bị đẩy ra trận mạc. Chưa bắn được viên nào, Điệt đào ngũ. Xã hội không chấp nhận con người bất mãn kinh niên. Điệt lại bị bắt, và lần này không phaœi vào quân trường nữa, người ta đưa Điệt vào tù.




Cuối tháng Tư năm Ất Mão, giặc tràn lên như nước vỡ bờ, phất cờ đỏ khắp nơi. Quan quân Thiệu Nguyễn xẻ nghé tan đàn, đạp lên nhau mà chạy ra biển. Một số chết chìm, xác thân làm mồi kình ngạc. Những kẻ chậm chân lần lượt bị xô xuống hầm tai vạ. Nhà tù chế độ cũ bị phá cửa. Tù cũ thoát ra ngoài, trong đó có Điệt. Cánh cửa tù mau chóng khép lại vớ những người tù mới. Dân gian thời ấy đã khóc hết nước mắt cho nỗi nghiệt ngã kinh thiên của tù mới.

Khí thế “cách mạng” như dầu sôi. Cuộc đổi đời diễn ra nhanh như cướp cạn. Nền tảng xã hội bị bứng tận gốc. Vô lại, đày tớ, ăn mày... nhảy lên làm ông chủ . Trí phú, địa hào... bỗng chốc hóa thành tên đầu đường xó chợ. Sấm ký rao truyền quỷ loạn. Nhà nhà đóng cửa. Đêm nghe tiếng ma tru rợn tóc. Qủy đỏ hiện giữa ban ngày, quấy nhiễu. Dân tình ta thán, ám khí xung thiên, mây mù vần vũ, mống trời vắt ngang đỉnh núi. Điềm báo thiên tai, chết chóc. Điệt kinh hoàng, muốn tìm chỗ ẩn thân. Trước kia, có thể lẩn trốn tu hành. Bây giờ, tất caœ đều bị quét sạch, chui xuống đất, trốn trong lùm bụi cũng không khỏi. Người chết còn không yên mồ mả, nói chi người sống.

Phá mả tìm vàng
Cạy nắp áo quan
Huyệt sâu chấn động hồn thiên cổ
Gỗ đá còn đau nhức thấu xương.
Điện bị bắt trong đợt truy quét tàn dư Mỹ Ngụy, phải đi học tập chính sách mới một tuần, chủ yếu là tự giác làm tờ khai ba đời lý lịch. Điệt khai: Đời ông, không biết rõ. Đời cha, không theo thực dân Pháp. Và đời của Điệt, bị bắt đi lính nhưng đào nguœ để tỏ rõ tinh thần phản chiến.
Thời “cách mạng” mới vào, ban ngày lo lùng bắt tàn dư Mỹ Ngụy, việc tra hỏi thường diễn ra vào ban đêm. Một đêm, Điệt được gọi lên phòng làm việc.

“Phản chiến nghĩa là gì?”

“Chống chiến tranh!”

“Láo! Phản động! Chống cách mạng hả!”

“ Không chống cách mạng.”

“Lý luận một cách logic, cách mạng làm đấu tranh giải phóng. Chống chiến tranh là chống cách mạng! Chống cách mạng là bảo vệ Mỹ Ngụy! Ngươi là ai?”

“Lê Điệt!”

“Lê Điệt là ai?”Là ta!”

“Quân xả lá! Hãy trả lời nghiêm túc! Ta là ai?”

“....”

“Câm hả? Là Ngụy! Hiểu chưa?”



Điệt được trả về làng cũ, bắt đi làm xâu công trường thủy lợi. Thót bụng cháo rau, khoai sắn, suốt ngày quần quật giữa chốn đầm lầy nước đọng. Muỗi, đỉa hoành hành hút máu. Keœ đói lao nhao. Thuốc thang không đến tay người bệnh. Thiên tai, mất mùa, lại thêm sưu cao, thuế nặng. Dân lành kêu rên khôn xiết. Khổng Khâu viết Hoàng Thiên hữu nhãn, mà Lão Đam lại nói Thiên Địa bất nhân. Làm người chẳng biết tin ai, kêu trời không thấu, đau khổ nhìn nhau, không dám khóc. Thời ấy, có ông thi sĩ tên Chu Vương Miện, làm thơ tả oán, còn truyền lại đến sau này:

Ta đến đó vùng đất phèn vàng xậm
Cuốc đất cằn trên lớp cỏ tai heo
Ngày mười tiếng khom lưng cùng nước đục
Nào bùn non beng xeœng mũ tai bèo
Yêu quê hương không gì hơn đào kinh
Dẫn nước biển vào đồng bằng phá lúa
Ôi một thuở gạo cơm thành sỏi đá
Đời văn thơ đi vỡ núi be bờ
Ta ở đó ba năm dài sáu tháng
Đến tình cờ và ra đi chẳng tiển đưa
Quần áo rách phơi ra lòng no ấm
Chút tự do như cơm sấy trên lò...

Thời Tần Thủy Hoàng, kẻ trọng tội bị khắc chữ lên mặt đày đi xây Vạn Lý Trường Thành đến chết. Thời “cách mạng”, ai mang tiếng Ngụy, ba đời con cháu không ngóc đầu lên được. Điệt còn độc thân, quyết không lấy vợ, tuyệt đường con cái, khỏi chịu cái di họa đời sau. Điệt nói với người đồng cảnh:
“Ta hối, xưa kia hai thế đối đầu còn đang tranh chấp, ta không chịu tiếp tay diệt lũ vô thần. Bây giờ đã muộn. Ta không thiết sống nữa!”

Người ấy sợ hãi, lãng đi, không dám nghe.

Một ngày, Điệt đang cầm xẻng đắp đê. Có hai đốc công đến gần. Bất ngờ Điệt vung xẻng chém tét đầu một tên chết tốt. Điện bị tên thứ hai bắn gục. Lôi trong túi áo Điệt, có một bức thư ngắn như một lời nguyền:

“Ta chết, thề làm ma báo oán kẻ phủ nhận thiên địa qủy thần.”

Điệt chết bảy ngày, miếu Thành Hoàng bị phá bỏ. Và không lâu sau đó, những kẻ phá miếu bỗng nằm lăn ra hộc máu tươi mà chết. Có người nói, chúng ăn uống bị trúng độc. Cũng có người nói, chúng bị hồn ma của Điệt vật chết.




PHAN BỘI CHÂU * CAO ĐẲNG QUỐC DÂN

TI”U S±
Phan B¶i Châu trܧc tên là Phan Væn San, hiŒu Sào Nam, Häi Thu, ThÎ Hán, ñ¶c Tïnh Tº, Hãn Mån Tº, quê làng ñan NhiÍm, huyŒn Nam ñàn, tÌnh NghŒ An. Næm 1900 LJ giäi nguyên trÜ©ng thi NghŒ An. Sau khi thi LJ, ông vào nam ra b¡c vÆn Ƕng chÓng Pháp. Næm 1904, ông thành lÆp h¶I Duy Tân, næm sau, ông cùng Tæng Båt H° sang Trung quÓc rÒi NhÆt Bän gây d¿ng phong trào ñông Du.Næm 1908, ông bi trøc xuÃt khÕi NhÆt Bän, ông sang Trung quÓc và Thái Lan xây d¿ng cÖ sª.
Næm 1911, sau cách mång tân h®i, ông thành lÆp ViŒt Nam  Quang Phøc h¶i. Næm 1922, Ç°I Viêt Nam Quang Phøc h¶i thành ViŒt Nam QuÓc Dân Çäng. Næm 1925, ông bÎ HÒ Chí Minh báo Pháp b¡t ông ª ThÜ®ng Häi, giäi vŠ nܧc. Dân chúng phän ÇÓi, Pháp không dám gi‰t ông, chúng  giam lÕng ông ª B‰n Ng¿ Hu‰. Tác phÄm T¿ Phán, LÜu Càu Huy‰t LŒ Tân ThÜ, Häi Ngoåi Huy‰t ThÜ, Giác QuÀn ThÜ, Chu DÎch QÓc Âm Chú Giäi, Phan Sào Nam Tiên Sinh QuÓc Væn Thi TÆp, ViŒt Nam QuÓc Sº Khäo, Nam QuÓc Dân Tu Tri, N» QuÓc Dân Tu Tri, Kh°ng H†c ñæng, Sào Nam Thi TÆp....

Cao Đẳng Quốc Dân
     

     

Dn ngôn

 

      Nước ta bây giờ đang cần có sách ho.c. Học sách Tàu\? Hán văn đã không còn thích dụng ở đời naỵ Học sách Tây\? Pháp văn còn chưa mấy người thông hiểu. Lấy
      người mình đọc tiếng mình, thì sách nước mình ở lúc bây giờ không gì hơn làm bằng quốc văn. Tuy nhiên việc làm sách đó có dễ dàng đâu! Tất phải: dò xét lịch sử của nước mình đời xưa, thăm dò tệ bệnh của nước mình ngày nay, trông các gương liệt cường ở hiện tại, đo tính vận mạng dân tộc ở tương lai, nghĩ thế nào, viết một chữ, mở một lời mà hữu ích cho nhân tâm thế đạo, có thế sách mới có giá trị...
      Tôi viết quyển sách này, chẳng qua dâng một phần nghĩa vụ với Quốc dân, hay dở, đúng không, hoặc có công hiệu gì không, thì quyền ở người đọc sách. Khổng Tử
      nói:"Tri ngã giả, kỳ duy Xuân thu hồ, tội ngã giả, kỳ duy Xuân thu hồ" , nghĩa là ai biết lòng ta tất ở sách Xuân thu, ai bắt tội ta tất cũng ở sách Xuân thu. Quyển sách tôi viết đây cũng nói như vậy.
     
Sào Nam, 1927
     
1. Chương thứ nhất Nghĩa hai chữ "quốc dân"
        Xưa nay người ta thường hay nói đến nước thì trước hết kể vua, thứ nửa quan, còn dân không bao giờ kể đến. nhưng đời bây giờ thì khác thế! Bên Âu, bên Mỹ cho đến Nhật Bổn, Trung Hoa ở Á Đông, họ không nói đến nước thì thôi, thoạt nói đến nước thì tức khắc nói đến dân, tai nghe chữ Quốc dân, mắt thấy chữ Quốc dân, miệng đọc chữ Quốc dân. Quốc dân! Quốc dân! Hai chữ đó như hình cha cha mẹ mẹ, không bao giờ quên.
      Gần mấy năm đây, làn sóng Âu Mỹ tràn vào nước ta, mà người bảo hộ ta lại là người nước dân chủ, người ta trông có dân chủ mà hai chữ quốc dân mới phãng phất trong óc mình, nhưng miệng đọc hai chữ Quốc dân mà hỏi nghĩa chữ Quốc dân là sao chắc không ai trả lời đươ.c.
      Chữ "Quốc" vì sao liền chữ "Dân", chữ "Dân" vì sao dính chữ "Quốc". Muốn trả lời câu hỏi đó, tất phải theo lịch sử. Sử nước ta đến đời Đường Nghêu mới có hai chữ "Việt thường", đời nhà Hán mới có hai chữ "Giao chỉ", đời nhà Đường mới có hai chữ "Yên Nam". Vậy từ đời nhà Đường Nghêu về trước, đã có gì nên nước đâu, núi rậm rừng hoang, đồng không mông hoạnh, bốn mặt chim kêu vượn hót, một vùng nước bạc đất vàng, xó này năm ba chú mọi, góc nọ sáu bảy anh Lào, kể bộ lạc cũng chưa nên gì, huống gì là nước\? Vì ai gây dựng, vì ai mở mang, ai dọn đường, ai trổ lối ai xẻ núi, ai đốt rừng, bỗng chốc núi rậm hóa nên thôn cử đồng hoang gây nên thành thị\? Đó chẳng phải ngìn vạn ức những người tổ tiên cao tằng ta làm nên ử Huống gì Quãng bình dĩ Nam Cao man dĩ Bắc, xưa vẫn có đất, mà đất gì của ta đâu\? Vẫn có người mà người gì của nòi giống ta!
      Nào Lâm Ấp, nào Chiêm Thành, nào Mên nào Lạp, nếu không dân ta xưa dắt đoàn kéo đội, từ Bắc vào Nam, chải gió gội mưa, trèo non vượt bể, khua nòi Chiêm, đuổi bầy Lạp, hốt mấy nghìn dặm non sông mà bỏ vào túi mình, thì cơ đồ gấm vóc như sau này, chúng ta làm sao trông thấy được\?
      Suy thấu lẽ ấy, mới biết rằng Quốc là Quốc của dân ta, dân là ông chủ tiên chiếm của Quốc ta. Xưa tôi làm quyễn "Hải ngoại huyết thư" mà ông Lê Đại dịch đã có câu rằng: "Nghìn muôn ức triệu người chung hiê.p. "Gầy dựng nên cơ nghiêp nước nhà. "Người dân ta, của dân ta "Dân là dân nước, nước là nước dân" Đọc mấy câu ấy thời nghĩa "Quốc dân" cũng đã rõ lắm.
      Anh em thử nghĩ, trên dưới bốn nghìn năm, trong ngoài ba mươi vạn dặm, biết bao nhiêu giây máu hột mủ tuôn đổ ra cung cấp cho nước đó, có một giọt nào là không phải của dân ta đâủ Biết bao lũ trước đàn sau, dắt díu nhau kinh dinh cho nước đó, có người nào không phải dân ta đâu! Vì vậy nếu không dân thì ai làm nên nước\? Nếu không nước thời còn quý gì dân\? Linh hồn nước là đâu! hẳn là dân đó! Khu xác dân ở đâu, hẳn là nước đó! Quốc tức dân, dân tức Quốc, hai chữ "Quốc dân" không thể rời nhau đươ.c. Nghĩa hai chữ "Quốc dân" là thế.
2. Chương thứ hai  Quốc dân với gia nô
     
      Đau đớn thay! Thãm hại thay! Địa vị mình quốc dân mà chưa từng một ngày nào được chịu cái ơn giáo dục cho làm quốc dân; thân phận mình quốc dân mà chưa từng một ngày nào được hưỡng cái quyền lợi quốc dân.
      Tục ngữ có câu: "Dân như trùn như dế" lại có câu thường nói: "Dân như gổ tròn", điều đó suốt xưa nay, khắp Đông Tây không một dân nước nào như dân nước ta cã. Vì sao\? Hay là trời cách chức quốc dân của nước mình rồi chăng\? Hay là người nước mình không đang nổi cái chức quốc dân chăng\? Hai lẽ tất có một . Đạo trời rất công, lòng trời rất nhân ái, người nước nào cũng là con trời cả, trời vẫn xem làm bình đẵng, trời có thương riêng gì dân nước Pháp, nước Anh, nước Mỹ, nước Nhật Bản\? Có ghét riêng gì nước ta\? Cái chức Quốc dân này, có lẽ nào trời cho ở họ mà cướp mất ở ta\? Vậy thời cái chức làm Quốc dân vẫn là trời thưỡng cho ta đó, nhưng tội tình thay! Trời vẫn ban cho ta mà ta không biết vâng chịu! Xem lịch sử nước ta từ xưa đến nay hơn ba nghìn năm chỉ có gia nô mà không quốc dân thâ.t. Quyền vua quá nặng, nặng không biết chừng nào; gia dĩ quyền quan lại hứng đở quyền vua mà tầng tầng áp chế, từ cửu phẩm kể lên đến nhất phẩm, chồng càng cao, ép càng nặng đến dân là vô phẩm, thân giá lại còn gì. Thằng này là con ngựa, thằng nọ là con trâu, buộc cương vào thì cắm cổ cứ đi, gác ách vào thì cúi đầu cứ lủi, gặp Đinh thời làm nô với Đinh, gặp Trần thời làm nô với Trần, gặp Lê Lý thời làm nô với Lê Lý, phận con hầu với thằng ở, được đôi miếng cơm thừa canh thải thời đã lấy làm hớn hở vinh quang, tối năm đứng đầu ruộng mới được bát cơm, suốt đêm ngồi trên bàn khung cửi, mới có tấm áo mặc, mà thoạt mở miệng ra thời chỉ nói rằng "cơm vua áo chúa", đồn điền nầy sông núi nọ, mồ hôi lẫn nước mắt mà cày cấy mở mang, nhưng mà "chân đạp đất vua", lại giử chặt một câu hoạt kê vô lý. Than ôi! Cái tư tưởng gia nô! Bệnh gia truyền làm nô đó không biết tự bao giờ để lại cho chúng ta, bắt ta phãi gông đầu khóa miệng, xiềng tay xích chưn, mà chịu gánh gia nô cho già đời mãn kiếp! Đau đớn thật! Thãm hại thật! Anh em ôi! "Dân vi quý" là câu nói của ông Mạnh Đại Hiền, "Dân vi ban bản" là câu nói của ông thánh Hạ Vũ hai người đó có phải nói lừa ta đâi\? Ta ngu, ta ngẫn, ta hèn hạ quá chừng!
      Mình ta sang trọng nhứt là cái quốc dân mà ta bỏ xó đi không nhắc tới, khăng khăng chỉ ôm lấy cái phẩm hàm gia nô làm vinh quý; Ôi! phẩm hàm làm gì anh em ôi! Nhà giàu phỉnh thằng ở thời vất cho một hai đồng tiền, nhà vua phỉnh đứa dân thời vất cho một hai trương giấỵ Nhưng nghĩ cho ra kỹ, thời một đồng tiền của nhà giàu phỉnh ta đó mà thân giá ta vẫn còn, đến như một trương giấy của nhà vua phỉnh ta đó, thời thân giá ta đã ô hô, ai tai rồi hẳn. Lại còn khi rủi gặp cơn dâu bể đổi đời, tờ giấy của nhà Đinh trải qua nhà Lý thời đã không đáng một xu, tờ giấy của nhà Lý trải qua nhà Lê hoặc nhà Trần thời cũng không ai ngó đến, huống gì vì một trương giấy đó mà quỳ mòn đầu gối, lạy lắm cả cằm râu, lại phải vất vô số máu me, ép vô số dầu mở cung cấp cho nhà ai mới hủ hỉ được một trương giấy đó, thời còn gì vinh quý nữa đâu! Gia nô! Gia nô! Cái oai kiếp đó, từ đây nên sám hối là phải.
3. Chương thứ ba  Quốc dân nên tự lập
       
      Ô hô gia nô! Ô hô gia nô! tủi thân vai ngựa lưng lừa, một kiếp gia nô biết bao giờ là thôỉ Câu hỏi đó là một câu hỏi rất thiết ở đời bây giờ. Tôi xin trả lời rằng:"Gia nô nay đã biết thân, thời lo gánh chức quốc dân mới là". Gia nô là thằng ở của một nhà, Quốc dân là ông chủ của một nuớc, một bên thì ty tiện rất mực, một bên thì cao quý rất mực, mắt còn chưa mù, miệng còn nói được thời chắc cũng muốn lấy phần cao quý mà bỏ phần ty tiện. Ham cao quý mà chê ty tiện là gốc tự tấm lòng lương tri của chúng tạ Người xưa có câu rằng:"Vương giã dĩ dân vi thiên", nghĩa là dầu ông vua cũng phải xem dân bằng trờị Vậy thời không gì cao quý hơn dân hẳn. Nhưng với cái chúc Quốc dân đó, chúng ta đã ngu hèn dại dột, bị ai cướp bóc những tự bao giờ, nay muốn khôi phục lại cái chức quốc dân, chúng ta phải gấp lo thế nào mới được.  Chức Quốc dân đó ta muốn khôi phục lại, có lẽ xin xõ với ai mà được rủ Xin với trời, thời trời vẫn cho ta tự bao giờ, không cần xin nữạ Sách Tây có câu: mình hãy tự giúp lấy mình, thời trời giúp cho (aide-toi, le ciel t’.aidra). Sách Đông Phương có câu:"Dân ta muốn điều gì, trời vẫn nghe theo điều ấy". Nếu đạo lý ấy mà thật, không cần gì xin ở trời.
      Hay là xin ở người mà được rủ Lòng beo dạ thú, mắt ó miệng hùm, người thế giới đời bây giờ không ai thương ta hẳn. Nếu một mai mà ta lấy chức quốc dân quốc dân ta lại, thời ách cổ trâu, cương đầu ngựa, tức khắc phải giải phóng cho ta ngaỵ Lòng tham dục họ lấy gì đầỷ Tay hung tàn họ lấy gì sướng. Nào xe, nào ngựa, nào lầu, nào đài, nào vợ đẹp hầu non, nào của ngon vật lạ: những giống ép nặn máu mủ ta mà được đó, lấy gì như ý sở cầủ Ta một ngày thoát ngục gia nô thời nó một ngày đổ nền phú quý, nếu ta rày xin may xõ, lưỡi rát cổ khan, chúng nó có ân thưỡng cho ta chỉ qua "ngọn roi" và "ngòi bút", có đời nào mà chúng nó đem chức quốc dân cho ta đâụ Huống hố chức quốc dân là chúc sẵn trời ban cho ta, ta lấy lại thời còn, ta bỏ đi thời mất, không cần ai cho, mà ta cũng không cần gì xin ai cả.
      Ôi quốc dân! Ôi! quốc dân! Cái chúc đó là chức rất cao quý của chúng ta, vẫn không ai cách được, mà cũng không ai cho được, chỉ cốt ở lòng ta cầu, vai ta gánh, tay ta đỡ, sức ta đua trí khôn ta tìm tòi, quyết lấy được mà thôị  Thiệt là : "Của ta, ta cậy gì ai  Gánh ta ai có nghiêng vai đỡ cùng". 
      Vậy nên tôi nói rằng: Quốc dân nên tự lập.
 
4. Chương thứ tư Bài thuốc tự lập có những vị gì?
      Muốn cho quốc dân hay tự lập, trước hết phải biết tệ bệnh của quốc dân ta những điều gì. Có biết tệ
      bệnh quốc dân ta vậy sau chứng nào thuốc ấy mới bày ra phương tự lập được. Bây giờ tôi xin kể những tệ bệnh của quốc dân:
      1. Tính ỷ lạị
      2. Lòng giả dốị
      3. Thói nhút nhát.
      4. Tham lợi riêng.
      5. Đua những việc hư danh vô vị
      6. Không lòng thực yêu nước.
      7. Không biết nghĩa hiệp quần.
      8. Mê tín những tục hủ cổ.
      9. Không biết đường kinh tế.
      10. Không thương nòi giống.
      Những bệnh đó muốn chữa cho lành, phải theo bệnh nguyênmà trị cho đến gốc. tôi xin kê bài thuốc như sau này:
      1. Khí tự cường: nặng vô số ki-lô-gờ-ram (kg)
      2. Lòng thành thực: mười phần già.
      3. Gan quả quyết: hai lá thực lớn
      4. Lòng công ích: một tấm rất dày
      5. Vai thực nghiệp: một gánh càng nặng càng haỵ
      6. Bụng nhiệt thành: mười phân luyện chín.
      7. Giãi đồng tâm: một dây càng kiên thực càng tốt.
      8. Trí thúc mới: 100 phân, trộn vào "hoa tự do" không kỳnhiều ít.
      9. Nội hóa: một vạn thức: kiêng ngoại hóa
      10. Giống thân ái: hằng hà sa số, hột nào càng chắc càng haỵ
      Hiệp cả bài như trên kia, tổng cộng 10 vị, bài thuốc đó là hiệp cả Đông Tây lại một lò, hòa cả tân, cựu làm một tể, dùng làm thuốc tự lập, chắc là không bài nào hơn.Anh em ta muốn biết cái ý dụng được, tôi xin kể vị thuốc nào chứng ấy như sau:
5. Chương thứ năm Chữa chứng bệnh "tính ỷ lại"
        Bệnh người nước ta, kể có 10 chứng , tôi đã nói như bài trên kia mà thăm xét cho ra chúng gì nặng thứ nhất thời có một chứng gọi rằng "ỷ lại tính".
      Ỷ lại tính như thế nàỏ Tục ngữ có câu rằng " Tháp đổ có Ngô xây, việc gìvợ góa lo ngày lo đêm". Xem như câu ấy thực đáng nực cười! Tháp đó là tháp của ta, ta không xây được hay saỏ Nghễnh đầu nghểnh cổ trông ngóng vào Ngô, nếu Ngô không xây thời vạn tuế thiên thu chắc không bao giờ có tháp. Kìa người vợ góa thấy tháp đổ mà lo ngày, lo đêm, vẫn là một người có tâm huyết, mà lại bị những món bàng quan kia mỉa mai chê trách, thế thời những người đứng xung quanh tháp đó, tháp đổ mặc tháp, khoanh tay đứng dòm, chém cha món này, nghiễm nhiên là một đống bồ nhìn rồi hẳn? Hỏi vì can cớ làm saỏ
      Thời chỉ ỷ lại mà thôị Câu tục ngữ ấy thiệt vẽ đúng tâm tính của người nước tạ Hai muơi triệu người, ai nấy cũng mắt cũng tai, cũng tay chân mày mặt, nếu ai cũng lo gánh vác một phần trách nhiệm của mình thời có gánh gì không cất nổỉ
      Nhưng tội tình thay! Anh nào chị nào trong óc cũng chất đầy một khối ỹ lại: anh Cột trông mong vào chú Kèo, cô Hường trông mong vào thiếm Lục, lại chắc chắn có anh Cột cô Hường rồị Rày lần mai lửa, tháng đợi năm chờ, kết cục không một người làm mà cũng không một người phụ trách nhiệm. Thế thời 25 triệu người, kỳ thực thời không người nào cả.
      Chao ôi! Ma bệnh tính ỷ lại không xua đuổi cho sạch, còn mong có nòi giống ta nữa đâu! Bây giờ muốn chữa bệnh ỷ lại đó, tất cần phải dùng một vị rất quý trọng đem dùng chửa bệnh tính ỷ lại chắc kiến hiệu như thần. Tên vị thuốc này gọi rằng "khí tự cường". Khí tự cường đó không phải vay mượn cùa ai đâu: khi trời đất inh ra ta thời phải phú dữ cho ta một vừng chính khí. Xưa thầy Mạnh Tử có câu nói rằng:"chí đại, chí cường", bốn chử đó tức là khí tự cường của tạ Xương sắt, gan đồng ngang tàng 7 thước, đã mang tiếng ở trong trời đất, phải có danh gì với núi sông. Ta chẳng phải là người hay saỏ Cớ gì người mạnh mà ta hèn? Người vinh mà ta nhục? Người chủ nhân mà ta nô lệ? Ta chẳng oan uỗng kiếp người lắm ru! Thôi cái tội tự bạo, tự khí, ta quyết rửa sạch cái vết nhơ này mới thôị
      Ỷ lại mà chi! Ỷ lại mà chi! Ta quyết tự cường cho chúng mày biết. Xin các anh em! Xin các chị em! Ai nấy cũng nhức nhối tinh thần, rán vai nong cánh, đồng một lòng, đều một sức, mình sắp lấy núi sông mình, tháp mình mình xâỵ Khí tự cường đã đầy đủ như thế, thời ma bệnh tính ỷ lại còn dám dùng dằng nữa đâủ
      Vậy nên bài thuốc tự lập, vị thứ nhất phải dùng khí tự cường nặng vô số ki-lô-gờ-ram.
6. Chương thứ sáu Chữa bệnh "giả dối"
        Bởi vì có tính ỹ lại mới nảy ra các chứng bệnh nữa: một chứng là hay giả dốị Xưa Đức Khổng Tử có câu: "Dân vô tín bất lập" nghĩa là người không có thành tín thời không có thể nào đứng nổị Sách Tây có câu: "Tin thực là một cục vàng vô giá", nghĩa là người ở đời không có gì quí trọng hơn tin thực. Quái gở cho người nước ta thời lại đua nhau giả dối!
      Tục ngử có câu "Trăm voi không được bát nước xáo" lại có câu "Mười thóc không được một gạo" Xem đó mới biết tính chất người nước ta, chứng bệnh giả dối là một chứng rất nặng: Sĩ hay giả dối thời tìm tòi đạo lý, không cậy óc mình mà cậy tai; nông hay giả dối thời cày cấy ruộng trưa, không cậy mình mà cậy đất; công hay giả dối thời phấn sức lừa đời mà không cầu thực dụng; thương hay giả dối thời đua nhau bợm vặt mà mất cả lợi tọ Thậm chí mướn đạo đức làm lối cầu danh mà chá vàng ở ngoài mặt; mướn nhân nghĩa làm mồi câu lợi mà xức mật ở đầu môị Chẵng những ngoài đối với xả hội, trên đối với quốc gia, gốc cây trăm năm đã bị con mọt giả dối kia đục đổ, bức thành muôn dặm đã bị con mọt giả dối kia xoi tan, mà lại trong đối với một nhà, dưới đối với một mình cũng mắc con ma bệnh giả dối đó đục thấu cao hoang, khoét vào cốt tủỵ Tay dối lòng, miệng dối dạ, ăn bánh vẻ mà toan đầy bụng, mặc áo giấy mà đi với ma, kết quả không việc gì là thật. Bệnh giả dối đó mà không chừa, còn mong gì nước ta phú cường được? Xưa nay đất tốt mới vắt nên khuôn, đồng tốt mới vắt nên tượng, người tốt mới làm nên sự nghiệp lớn, mà lòng tin thực đó là chất rất tốt của con ngườị Lời tục ngữ có câu: " ngay thật mọi tật mọi khỏi".
      Sự ngay thật đó là bộ xương sống của thân thể người; nếu người không có xương sống mà muốn tay chân đẹp đẽ mạnh mẽ, có lẽ nào được? Vậy nên muốn làm người tốt cần thứ nhất là lòng thành thực. Nói một tiếng tất thành thực, dầu ngoài muôn nghìn dặm, mà lời vàng ngọc không bao giờ phai; làm một việc tất thành thực, dầu trải mười trăm năm mà dạ sắc son không bao giờ dời đổị Mình đã dốc một lòng thành thực như thế thời phẩm hạnh mình càng ngày càng chắc, thanh giá mình càng ngày càng cao, ngưòi ta tin dụng mình ngày càng nhiều, mà thế lực mình lớn thời có việc gì không làm nên. Vì vậy trong bài thuốc "tự lập" cốt ở chữa chứng bệnh giả dối, tất phải dùng vị thuốc này: "Lòng thành thực" mười phân già.
7. Chương thứ bảy Chữa chứng bệnh nhút nhát
        Bệnh giả dối đã chữa lành rồi, nhưng còn có một chúng bệnh nữa là thói nhút nhát. Chứng bệnh đó chữa không lành thời người mạnh hóa người hèn, người khôn hóa người dại, trăm việc gì ưu thắng nhượng cho người mà mình cam chịu về đường liệt bại; biết việc nên nói mà tiếng không dám hở môi, biết đường nên đi mà một bước không dám ra khỏi cửa, miệng hùm gan sứa, thiệt là những bọn anh hùng hào kiệt của nước ta, mà huống chi những kẻ thôn quê hèn hạ đó còn maong gì với chúng nó bàn việc to lớn được?
      Xưa ông Hải quân đại tướng nước Anh là Nốt Nhỉ Tốn có nói: "Trong pho tự điển của người giỏi không bao giờ viết chử khó." Người anh hùng nước Pháp là ông Nã Phá Luân có nói: "Kìa chử khó đó chỉ thấy trong pho tự điển của người ngu mà thôi". Tục ngử ta cũng có câu: "Có gan thời chọi với trời", lại có câu hát: " Đố ai lượm đá quăng trời, đan gàu tát bể, mới người khôn ngoan". Xem mấy câu nói đó thời thiên hạ có việc gì khó đâủ Mà thế thật. Ta có gan xuống vực thời thuồng luồng phải sợ ta; ta có gan vào rừng thời hùm beo phải kiêng tạ
      Hùm beo với thuồng luồng chỉ bắt nạt được những người nhát gan mà thôị Bây giờ người ta chưa thấy bóng thuồng luồng mà đã rỡn ốc, chưa nghe tiếng hùm beo mà đã rùng mình!
      Ôi! nước ta là một nước thỏ hay saỏ Rụt rụt rè rè, sợ đầu sợ đít, còn có gì là tư cách con người nữa rủ Bệnh nhút nhát còn đeo lấy một ngày, thời công việc tự lập tự cuờng không một ngày nào cất nổi, mà muốn chữa chứng bệnh đó, thời phải dùng vị thuốc này mới hay: vị thuốc gan quả quyết.
      Xưa nay những người can đãm cũng phải luyện tập mới nên, mà khi đầu luyện tập thời phải có một tấm gan quả quyết. Toan vượt núi thời chớ thấy núi mà gớm cao; toan qua sông thời chớ thấy sông mà ghê sông rô.ng.
      Bao nhiêu nguy hiểm, ta kể cho là sự rất thường; bao nhiêu khó khăn ta kể cho là sự rất dể. Bước con đường muôn dặm phải cậy tấm gan quả quyết đó làm roi ngựa, máy xe, dầu chông gai mà quản gì. Đã có tay chân ta đó, nhứt chết nhì sống, còn mình thời việc ấy chắc phải xong, có sợ gì mà nhút nhát? Vậy nên trong bài thuốc "Tự lập", phải dùng một vị như sau: "Gan quả quyết" hai lá rất lớn.
8. Chương th tám  Cha Chng Bnh "Tham Li Riêng"
 
      Lại có chứng bệnh nữa là chứng bệnh "Tham lợi riêng".
      Chứng bệnh ấy, người các nước tuy có ít nhiều, nhưng người nước ta tất cả 25 triệu người, ai nấy cũng trúng bệnh ấy đó. Tục ngữ có câu "cơm ai đầy nồi ấy", lại có câu "Thử thân bất độ, độ hà thân", lại có câu rằng " con vua, con dấu, con chậu chậu yêu". Đọc bấy nhiêu lời thời biết rằng: trong ruột người nước ta, viết dọc viết ngang, vạch xuôi vạch ngược, chỉ một chử "tham" mà ở trong chử "tham" chỉ có vài nét "Lợi riêng" là vừa hết bút mực. Xưa cụ Uy Viễn có câu rằng:
      "Tiền tài hai chủ son khuyên ngược,"
      "Nhân nghĩa đôi đường nước chảy xuôi"
      Mười bốn chủ đó, thật là vẽ đúng tâm tính người nước tạ Than ôi! cái lòng tham dục mà muốn cho như ý, mới nảy ra kế mưu, vì kế mưu mà muốn cho thành công, mới nảy ra sự nghiệp. Tục ngữ có câu: "muốn ăn hoét phải đào trùn", nhất thiết việc đời đều ở lòng tham dục, bảo cấm tham tuyệt dục không có lẽ thiệt! Ôi! Các anh em! Các chị em! Tôi vẫn không cho các ngài biết tham biết dục. Thà không tham, nếu tham thời tham cho lớn; thà không dục, nếu dục thời dục cho hàọ Xưa ông Đế Nghêu muốn thiên hạ làm của chung mà bỏ ngôi vua của mình, vì vậy nước Trung Hoa bây giờ xưng ông Nghêu là đại thánh. Ông Hoa Thịnh Đốn muốn nước Hoa Kỳ thành một nước dân chủ, mà bỏ ngôi phú quý của mình, vì vậy nước Hoa Kỳ bây giờ còn gọi ông Hoa Thịnh Đốn là "Quốc Phụ". Kìa hai ông đó há phải không tham đâu, nhưng tham dục về cái lợi chung của ức muôn người, thời tham dục càng to, làm lợi ích cho loài người càng lớn, nhờ tham dục của một người đó mà gió xuân mưa hạ tràn trề khắp bốn bể năm châu, đội đức mang ơn dài đặc đến thiên thu vạn thế. Tham dục mà được như những bậc người ấy, ai bảo rằng tham dục là dở đâủ Đau đớn thay cho những người nước ta, trước mắt không bao giờ thấy lợi chung, trong óc không bao giờ có tư tưởng cao thượng, túi chất đầy tham, mà tham tột mực, chẳng qua là nghiện hơi đồng, hối vẫn đầy dục, mà dục kỳ cùng, chẳng qua là hầu xác thịt, kết quả đến nổi hy sinh hết lương tâm thiên lý mà làm nô lệ cho những món tư tình; vì lo sung sướng cho vợ, vì lo sung suớng cho con, vì lo sung sướng cho thân mình, suốt đêm suốt ngày hết khôn hết khéo, nhưng chắc rằng núi đồng không bao giờ lở, cây tiền không bao giờ lá rụng hoa rơị Nào hay "Nhứt đán vô thường vạn sự hưu", của cải tiền tài không thể nào vào tay người chêt; vợ vì sẳn của mà vợ hóa nên vợ hèn, con vì sẳn của mà con hóa nên con dại, tiền bạc hóa ra của phá nhà, ruộng vườn hóa ra mồ chôn sống, chẳng những nhân quần xã hội không lợi ích một tí gì, mà chính giữ thân với gia cũng lợi chưa xong mà hại đã tớị Ấy là tử chứng của những người tham lợi riêng đã rành rành rồi đó. Người ta mắc bệnh đó gần đây càng ngày càng nặng thêm, nếu không gấp chữa cho mau thì nòi tuyệt giống mòn, không thể nào cứu được. Tôi xin vì đồng bào dâng một vị thuốc này gọi rằng "Lòng công ích". "Lòng công ích" là cầu sự lợi ích chung cho xã hội, mà cầu lợi chung xã hội tức là lợi ích cho mình. Đạo lý đó chẳng phải nói không đâụ Những người có tai mắt, có ruột gan chắc cũng hiểụ Bao bọc chung quanh mình là xã hội, nhờ ơn xã hội mới có thân mình, mình ăn thóc thời nhờ có người cầy, mình mặc áo thời có người dệt, mình cần có công dùng thời phải nhờ người người thợ thuyền, mình cần có giao thông thời phải nhờ người buôn bán; nếu một ngày không xã hội tức một ngày đó không thân mình. Vun trồng cho xã hội sung sướng vẻ vang thời chẳng những một thân mình đã hưỡng hạnh phúc chung, mà con cháu mình sau cũng sung sướng chung mãi mãị Vậy thời cái lòng công ích đó, thật là một phương thuốc trường xuân bất lão cho người tạ Vậy nên trong bài thuốc tự lập, phải có một vị nầy: "Lòng công ích" một tấm rất dàỵ
9. Chương thứ chín  Chữa Chúng Bệnh Đua Đuổi Hư Danh
        Còn một chúng bệnh nữa là chứng bệnh người ta hay đua đuổi theo cái hư danh vô vi..
      Muốn chữa cái chứng bệnh đó thời trước phải giải quyết một số vấn đề như sau này: Lòng tham người ta chỉ có hai hạng: một là lợi, hai là danh.
      Danh nên tham hay không? Bảo rằng không nên tham thời từ xưa đến nay không người thánh hiền hào kiệt nào mà không thành danh cả. Sách truyện có câu: "Đạo đức giả tất tất đắc kỳ danh", nghĩa là những người đạo đức lớn, nhứt định được cái danh dư.. Thế thời danh có phải không nên tham đâu! Bảo rằng nên tham ử Thời từ xưa đến nay, những người phấn sức hư danh, kết quả hữu danh nhi vô thực, chẳng những không lợi ích gì cho xã hội, mà cũng không thêm được giá trị cho mình tạ Thế thời danh có gì đáng tham. Nói cho đúng lẽ, danh vẫn đáng tham, mà cũng không đáng tham. Cớ sao thế? Bởi vì danh có nhỏ, có lón, danh có gần có xa, danh nhỏ và gần, như lữa lốm đốm đầu hôm, tiếng ve ve khi mùa hạ, vẫn cũng lập lòe chòe choẹt ở trong một lúc, nhưng chẳng bao lâu thời tắt ngay; danh lớn và xa thời như sấm mùa xuân, nhu bóng thái dương mùa hạ, vang một tiếng mà lừng lẫy cả năm châu, dọi môt tia mà chói chang khắp bốn bể. Người ta thử cân nhắc hai đường danh đó thời danh gì đáng tham, danh gì không đáng tham. Không cần phải nói nữa.
      Bây giờ tôi chỉ bệnh người nước tạ Tục ngữ có câu: "Tiếng lành đồn xa, tiếng dữ đồn ba ngày đường" lại có câu rằng: "Cọp chết để da, người ta chết để tiếng". Xem những câu đó thời danh vẫn nên quý, người ta cũng biết dư rồị Nhưng tội tình thay! Óc tí ti như óc dơi, mắt ti hí như mắt muỗi, ngoài buồng the bếp núc, vẫn không biết gì là nước non, trừ sọ bò đầu lợn không biết gì là rồng rắn, mà huống gì vết xấu trong gia đình, thói hư ở xã hội gắn sâu buộc chặc, trải mấy ngàn năm ông Nghè ông Cử đã tràn đất chó rơm, mà ông Đốc ông Tham lại đầy phên rồng vẽ. Đoàn thanh niên cho đến phường tân tấn, đua danh cạnh giá, chẳng cu li thượng đẵng, thời nô lệ tối ưu, ức chưa rời nôi mà đã ưu mề đay, kim khánh, mệng chưa ráo sữa mà đã lóc lẽm những thẽ bạc ngà. Ôi! thế là vinh danh, đáng quý hóa hay sao?
      Anh chị em sao không nghĩ, đội mảo mo cho khỉ, mặc áo giấy cho ma, những giống ấy là rặc giống của người phỉnh phờ ta, chẳng những không vinh gì, mà thật là một cái gương sỉ nhục. Anh gì mà danh như thế, còn gì đáng quý nữa đâu . Gông đầu khóa cổ, núi sông đã mãn kiếp ngựa trâu, mỏi gối chân chồn, cây cỏ cũng chán vai tôi tớ, thế mà còn bằng sắc, sắc bằng gì? Thế mà còn hàm, thế mà còn phẩm, phẩm hàm gì? Người ta bỏ đi mà ta lượm lấy, người xem làm rẽ rúng mà ta xem làm vinh hoa! Óc khôn ngoan ta đi đâủ Chí khí ta ở đâủ Xin các anh chị em, chứng bệnh đua hư danh đó, ta phải gấp chữa lành mới được.
      Muốn chữa chứng bệnh đó, thời phải có một vị thuốc rằng "vai thực nghiệp".
      Thực nghiệp là những giống gì? Là nghiệp nông, nghiệp công, nghiệp thương, nghiệp sâm lâm, nghiệp lục súc, nghiệp ngư diêm, nói tóm lại là nghiệp lao đô.ng.
      Lao động về nông, nông siêng thời gạo thóc đầy đủ; lao động về việc công thời công siêng mà nghề nghiệp mở mang; lao động về việc thương, thời thương siêng mà giao thông phát đạt, còn ra các việc hể lao động hết bổn phận thời việc nào việc ấy chắc cũng được thành công. Các nước Âu Mỹ bây giờ, những người quý trọng là rặt những người rất cần khổ, đắp nền danh giá, tất lấy thực nghiệp làm gốc, mở bể phú cường, tất lấy thực nghiệp làm nguồn. Thủ xem nước Hoa Kỳ mới đây, những người rất hữu danh rặt là nhà thực nghiệp; ông Hỏa du đại vương, ông Thiết lộ đại vương, ông Ngân hàng đại dương, những người đó là nhà thực nghiệp lớn. Vì thực nghiệp lớn nên tư bản nhiều, vì tư bản nhiều nên cất nổi những việc công ích lớn. Vì vậy mang ơn đội đức, khắp cả muôn người, trổi tiếng vang tăm nghe khắp cà vạn quốc.
      Lời cổ ngử có câu rằng "Hữu thực dã danh tất qui chi" nghĩa là những người có việc thực thời danh tất đến chọ Người ta nếu biết thấu đạo lý ấy, thời hư danh còn đua đuổi làm gì! Bắt cân công lý mà cân, một li thực nghiệp quí trọng hơn một đồng hư danh, người ta xưa nay quen thói dã man, đua tuồng huyền ảo, giấc chiêm bao lợi lộc, ngày tháng say mê tuồng trò rối hư vinh, trẻ già hớn hở, những mua chuốc hư danh đó, hao biết bao nhiêu tiền của, những trau chuốc cái hư danh đó, tốn bao nhiêu thời giờ, mà hư danh càng ngày càng múa men, thời tướng thực nghiệp không bao giờ xuất thế. Kết quả dân ngày càng nghèo, nước càng ngày yếu, nòi giống mình càng ngày càng đê tiện, mà giá trị người mình cân đi nhắc lại chỉ có "thân bồi phận bếp" mà thôi, việc đáng khóc đáng than, không gì hơn thế! Anh chị em ta, nếu một mai tỉnh giấc mê, thay lốt cổ, những tiền của mua hư danh đó, xây nền thực nghệp, những thời giờ đuổi hư danh đó dùng vào trường thực nghiệp, thực nghiệp đã phát đạt thời nền móng phú cường đã vững bền; giá trị người lao động nước ta chắc cũng có một ngày lừng lẫy tiếng tăm cùng thế giớị
      Tục ngữ có câu rằng: "Trăm năm bia đá vẫn mòn, ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ". Người nước ta nếu biết tham danh thời không gì đáng tham hơn thế nữạ vậy nên bài thuốc "Tự Lập" lại phải gia vào một vị như sau này: "vai thực nghiệp" một gánh càng nặng càng hay.
10. Chương th mười  Cha chng bnh "ái quc gi"
        Chứng bệnh hay giả dối là chúng bệnh chung của người nước ta, mà ở trong chứng bệnh đó lại có một chứng đặc biệt là ái quốc giả.
      Gần mấy năm nay, cuộc Âu chiến cũ vừa xong, mà cuộc "thế giới đại chiến" mới đã toan gây núi, chủ nghĩa quốc gia bành trướng cực điểm, người nước ta bây giờ, ngoài thời bị làn sóng thế giới xô đẩy, ngủ không thể nào yên trong thòi bị dây sắt cường quyền trói đau, mà sống không thể nào khõẹ Lúc bấy giờ những bạn thiếu niên với phường học mới, cho đến những người ngủ say quá độ mớI đánh thót ở trong giấc chiêm bao; thấy con em mà đau đớn cho kiếp ngựa thân trâu, trông non sông mà ngậm ngùi những ngày mưa sầu gió thảm.
      Tiếng hai chử "Ái quốc" mới văng vẳng ở bên tai người ta, hồn ái quốc tuy còn dở tỉnh dở say, mà bóng ái quốc đã nửa mờ nửa tỏ, nào là đám truy điệu, nào là tiệc hoan nghinh, nào là kỷ niệm anh hùng, nào là sùng bái chí sĩ, chuông dồn trống dục, nam bắc hát hò, xem ở trong một đám rần rần rực rực, cũng đã có mấy phần người biết quyền nước mất. Biết quyền nước mất thời tính mạng không còn, hồn nước có về thời giang sơn mới sống. Ngòi bút ái quốc cũng đã có một đôi kẻ múa men, trên tờ giấy nhật trình cũng đã tô vẻ một vài câu thương nòi thương nước.
      Nếu những tấm lòng ái quốc đó thật thà chắc chắn, thời giống Tiên Rồng, giống Hồng Lạc chẳng hạnh phúc lắm saỏ Nhưng tội tình thay! Người ưu thời mẫn thế chẳng bao lăm, mà người bán tiếng mua danh thời đầy đường chật ngõ; giọt nước mắt khóc vẫn đêm ngày chan chúa, mà xem cho kỷ thời rặt là nuớc mắt gừng, tiếng chuông trống kêu hồn, vẫn trong ngoài dóng dã, mà nghe cho tới nơi thời rặt là tiếng chuông trống trò bội; ngoài miệng thời ái quốc mà trong bụng vẫn là ái kim khánh mề đay, khi trước mặt người vẫn ái quốc, mà đến đêm thời tính toan những việc chó săn chim mồị
      Chao ôi! Trời ôi! Ái quốc thế ru?
      Treo mặt nạ ái quốc để phỉnh chúng lừa đời, một mặt thời mua chuốc lấy tiếng chí sĩ nhân dân, một mặt thời ôm chặt lấy lốt ông Tham bà Đốc. Ôi! Các anh em! Ôi các chị em! người Âu châu Nhật Bản, ai ái quốc nhu thế, thà không ái quốc còn hơn, chá vàng ngoài mặt làm tai vạ cho những kẻ chuộng vàng, xức mật đầu môi, làm khổ cực cho những người say mật, vì đã vũ phu mà oan đến ngọc, vì tròng mắt cá mà họa đến châụ
      Ôi! Chứng bệnh ái quốc giả kia, chết nước chết nòi vì chứng bệnh đó, chứng bệnh đó nếu không trừ khỏi 25 triệu dân tộc chắc chôn sống ở rày maị Tôi ngồi sâu nghỉ lặng, khấn nguyện chín phương trời, ước ao thần hộ phật phù, cứu khổ cứu nạn cấp cho tôi vị thuốc để chữa chứng bệnh đó cho người ta, mới được vị thuốc này: "Bụng nhiệt thành".
      Bụng nhiệt thành đó là gốc ở một tấm lòng đỏ của loài ngườị Khi mẹ mới hoài thai thời đã đúc sẵn một hòn máu nóng, đến khi sinh thành trưỡng đại, thời hòn máu đó càng nuôi nấng càng lớn lao, càng nấu nung càng tươi thắm, giọt máu đó xối vào sắt, sắt phải tan, giọt máu đó rưới vào ma, ma phải tránh. Người Nhật Bản có câu rằng "Tinh thành sở chí kim thạch năng khai" nghĩa là khi tinh thành đã tới nơi, dầu đá vàng cũng nức nở. Ông Khổng Tử có câu: "Thất phu bất khả đạt chí", nghĩa là chí vững bền của một người không ai cướp được. Những câu nói đó, đều là vẽ cả nết nhiệt thành người ta, có đầy đủ một tấm nhiệt thành mới trọn vẹn mười phần ái quốc, thành mà không nhiệt thời kém phần nóng sốt, mà cái thành đó dễ nguội, nhiệt mà không thành kém sức vững bền, mà cái nhiệt đó dễ lạnh, đã thành lại nhiệt, đã nhiệt lại thành thời thần quỷ phải kinh, gió mưa chông gai cũng phải dẹp, chỉ có ai sợ ta, mà ta không phải sợ ai, chỉ có ai ỷ lại vào ta, mà ta không ỷ lại vào aị
      Đã biết nước là mẹ ta, thời dầu hy sinh ta với nước mà ta không quản, trong óc chỉ có nước, ngoài việc nước ta không màng gì lợi, ta không thiết gì danh; nhiệt thành thế này mới là ái quốc, ái quốc thế này mới hay cứu quốc.
      Ruột tằm máu quốc thề sống thác với non sông, dạ sắt lòng son chẳng lụt sờn vì mưa nắng, nhiệt thành như vậy, người nước ta có khó gì tự lập đâụ Vậy nên trong bài tự lập lại cần nhất là vị thuốc này: "Bụng nhiệt thành" 10 phân luyện chín.
11. Chương thứ mười một  Chữa chứng bệnh "không biết hợp quần"
        Các chứng bệnh như trên kia là các chứng bệnh cá nhân. Bây giờ lại kể một chúng bệnh như sau này là bệnh chung về đoàn thể. Người ngoại quốc thường khinh bỉ người nước ta, có một câu rằng: "Không có một đoàn thể nào từ ba người trở lên". Câu nói đó, thoạt mới nghe, tưỡng chừng là quá đáng, nhưng xét cho đến tình hình xả hội nưóc ta, tinh thần người dân nước ta, tan tan, tác tác, rạc rạc, ghét nhau, ngờ nhau, ai lo thân nấy, bảo rằng không đoàn thể từ ba người trở lên, vẫn có thể thật.
      Suy cho đến nguyên cớ bởi vì sau đây, thời chỉ vì không biết nghĩa hợp quần mà thôị Hợp quần là saỏ Là hợp cả một bầy lại cho thành một đoản thể. Ví như tay chơn tai mắt có hợp mới thành được một thân; cột kèo rui mèn có hợp mới thành được một nhà; từ việc nhỏ đến việc to, muốn nên một việc, tất phải có một bầy; muốn nên một bầy, tất phải có cách hợp. Thuở xưa giao thông chật hẹp, núi bể chia lìa, mưa gió riêng trời mình, bờ cỏi riêng đất mình, người mình đua đuổi với người mình, dầu kém dầu hơn, dầu thua dầu được, cũng chẳng qua là nhà mình mình ở, của mình mình ăn, nếu không biết hợp quần cũng chưa lấy gì làm tai hại lắm. Thử xem đời bây giờ có thể được ử Bể Đông Tây chung nhau làm một vũng câu; châu Âu Á chung nhau làm một rừng bắn, người đem cả trăm chân nghìn tay, trăm khôn nghìn khéo dắt đoàn kéo lủ mà áp đến nhà mình, xô cửa phá buồng, bửa rương móc túi, bầy người càng đông thời thế người càng mạnh, bầy mình càng ít thời thế mình càng cô, lửa đốt nhà đã tận nóc, nước nuốt thuyền đã tận mui, mà bà con trong nhà, trong thuyền đây hãy còn anh với em cắp dao trỏ nhau, lái với bạn trừng mắt dòm nhau, kể việc rất ngu ở trong loài người có ai hơn thế nữa! Than ôi! Thịt nát thì xương cũng tan, môi mất thì răng cũng la.nh. Nghĩa hợp quần đó còn mờ mịt thêm một ngày thời họa diệt chủng càng câp bách thêm một ngàỵ Ôi! Các anh chị em! Cái chứng bệnh không biết nghĩa hợp quần đó không biết chữa mau, còn chờ gặp ma Chiêm Thành mà gục đầu thú tội saỏ Thấy tình cảnh các anh chị em mà óc tôi nhức, máu tôi sôi, tay chân tôi nổi gai gốc. Tổ tiên ta nếu còn thiêng, nòi giống ta nếu còn phúc thời chứng bệnh ly quần đó chắc được một vị thuốc sẽ chũa lành ngaỵ Tôi nghĩ đi nghĩ lại, suốt mấy đêm ngày mới được một vị thuốc là giãi "Đồng tâm". Đồng tâm nghĩa là người nào người nấy đồng một lòng: giãi đồng tâm nghĩa là ức muôn triệu người kết hợp nhau làm một dây, thân thể tuy khác nhau, mà tinh thần in nhau như hệt. Xưa ông Trụ có ức muôn người, hưng cũng ức muôn bụng: vua tôi Võ Vương có mười người, kết quả thời vua Võ Vương được mà ông Trụ thuạ Đó mới biết rằng tâm đồng nhau thời nhược hóa nên cường, tâm chẳng đồng thời cường hóa nên nhược, Vì sao thế? Lòng khác nhau thời rẽ bầy, rẽ bầy thời mạnh hóa nên hèn; lòng đồng nhau thời chung bầy, chung bầy thời hèn hóa nên ma.nh. Vậy nên hai chử "Đồng tâm" là phương thuốc hiệp quần rất thiêng liêng, rất ứng nghiệm.
      Tuy nhiên có kẻ nói rằng: "đông ngưòi thời tất phải nhiều bụng, nhiều bụng thời không thể nào đồng lòng. Cái sự đồng tâm đó thật là khó khăn lắm". Ôi! Các anh chị em! Câu nói đó thật quá ngu! Xưa nay đồng lòng, không đồng lòng chỉ vì có một cớ: chủng tộc không đồng, ngôn ngữ không đồng, tập tục không đồng, thế mà muốn đồng lòng vẫn khó lắm. Đến như người nước ta, nòi giống vẫn đồng với nhau, ngôn ngữ vẫn đồng với nhau, tập tục vẫn đồng với nhau, mà huống gì lối tử sinh đường vinh nhục lại đồng với nhau; chim ở chung một rừng, cá ở chung một bể, nếu chẳng may bể khô rừng cháy thời một lồng, một tấm vãy còn mong sống sót được saỏ May gặp lúc bây giờ rừng hãy còn cây, bể hãy còn nước, kết hợp cả bầy, đồng một lòng, chung một dạ, tính đường đi đứng, lựa bước lên lui, dắt nhau ra khỏi ngục trầm luân, kéo nhau thoát khỏi vùng đồ thán, xoay họa xưa làm phúc, rửa vết dơ trong pho sử củ, thay lấy vẻ vinh quang biết bao nhiêu công nghiệp lớn lao chỉ ở trong một gốc lòng anh chị em mà nên tất cả. Vậy thời giãi đồng tâm đó thật là phương thuốc khỡi tử hồi sinh của món ta không còn gì hơn nữạ Vậy nên trong bài thuốc "Tự Lập" có một vị thuốc như sau này: "Giãi đồng tâm" một dây càng kiên thực càng tốt.
12. Chương thứ mười hai  Chữa chứng bệnh "mê tín hủ tục"
        Nưóc ta kể người có 25 triệu, kể đất có 70 vạn ngàn thước vuông tây, nếu làm một nước tự lập chắc không khó gì! Cớ sao mà hèn hạ suy đồỉ Thuở xưa còn làm một nước phụ dung, tới bây giờ lại trụt xuống làm một nước nô lê.. Ôi! Nước ta không phải một nước hay saỏ Người nước ta không phải là người hay saỏ
      Không phải, nước ta vẫn là một nước, người nước ta vẫn là người, nhưng chỉ vì dân không có quyền, nên mỗi bước không tự lập. Dân vì sao mà không có quyền? Thời vì dân không trí; dân không có trí; nên mới mê tín quá nhiềụ Bệnh mê tín rất nặng là mê tín quyền vua; vì mê tín quyền vua, nên mê tín quyền quan, mà quyền vua quyền quan lại lợi dụng quyền thần làm xe pháọ Ba quyền đó một ngày một nặng, thời quyền dân không còn một tí gì; quyền dân đã không còn, thời dân dại, dân yếu đuối hư hèn, muôn việc chỉ trông mong vào vua với quan. Vua với quan không làm xong, thời trông mong vào thần; đến thần cũng không làm xong, thời bó tay chịu chết. Mấy ngàn năm trở lại triều đình là bồi bếp của một nhà, nhân dân là ngựa trâu của một họ; mấy mươi triệu đầu đen máu đỏ, còn gì là tư cách người; rặt là mù mà người mù có mắt; rặt là điếc, mà người đếc có tai; rặt là câm; mà người câm có miệng, rặt là què mà người què mà ngưới què có chân tay; cái việc lạ lùng quái gở ở thế gian, không ai như người nước ta nữạ Thăm cho đến gốc bệnh, chỉ vì mê tín những tục hủ cổ mà thôị Mê tín vua, mê tín quan, chưa lấ gì làm kỳ, kỳ thứ nhất là mê tín thần; vì mê tín thần đó mà sinh ra vô số việc nực cười; ngày giờ nào cũng là trời bày định, mà bảo rằng có ngày dử ngày lành; núi sông nào cũng là đất tự nhiên, mà bảo rằng có đất tốt đất xấu; vì nấu ăn mới có bếp mà bảo rằng ông thần táo; vì che mưa gió mới có nhà; mà bảo rằng có ông thần nhà; cho đến thần cửa, thần đường, thần cầu tài, thần cầu tử, trăm việc gì cũng trông mong vào thần, kết quả thời thần chẳng thấy đâu, chỉ thấy cửa nát nhà tan, của mòn người hết.
      Tin thần bao nhiêu thời tai họa bấy nhiêụ Kìa xem như đạo Thiên Chúa chỉ sùng phụng một vị Đức Chúa Trời ngoài ra không thần gì cả, nhưng nuớc vẫn mạnh, nhà vẫn giàu, người họ vẫn sung suớng, họ chỉ thua ta một việc: thần đã không tế thời xôi không, thịt không, heo bò cũng không, mà phần kỉnh phần biếu đều không tất cả; nhưng họ vì đó mà của hao thời ít, của nở thời nhiều, tốn phí vô ích bớt một phân. Ấy mới biết rằng mê tín thần quyền là tục ngu hủ của người ta, thật rõ ràng rồi đó. Tục ngu hủ đó không quét sạch thời nền phú cường kia không bao giờ dựng nên. Nhân vì ngu mà sinh ra hủ, nhân vì hủ lại thêm ngu, mắt người bị người bịt, mà lại bảo rằng trước mí mắt không nước non; tai bị người bưng mà lại bảo rằng bên lổ tai không gió sấm; tay chân bị người người xiềng khóa mà lại bảo rằng tay chân mình đáng số cu li! "Chúng tôi dại dột", câu nói ấy giắt chặc ở bên lưng. Quỳ lạy trước tượng đất hình bùn mà xem làm quốc túy; giữ gìn lấy áo hôi mũ thúi mà bảo rằng gia truyền! Ngẫn ngơ, ngơ ngẫn đến thế thời thôi! Trông người lại gẫm đến ta, thiệt cười dở mà khóc cũng dở.
      Than ôi! Xưa nay chứng bệnh mê tín hủ tục kia phải gấp chữa mau mới có lẽ sống. Tuy nhiên, muốn chữa chúng bệnh đó, phải thế nàỏ Xưa nay, những tập tục hủ bại vì có hai lẽ; một thời vì cơ quan giáo dục chẳng hoàn toàn, một thời vì trí khôn người ta chưa phát đạt.
      Từ thế kỹ 19 trở lại đây, khoa học các nước cảng ngày càng phát sinh, trí não các nước càng ngày càng nẫy nở. Thử xem điện học phát minh mà ông "thần lôi" đã không dám hống hách; địa học phát minh mà nhà phong thủy long hổ đã không dám múa men; sinh lý học phát minh mà thần rắn quỷ trâu đã cùng đường trốn tránh; huống gì học thuyết Lư thoa đã xuất hiện thời quyền dân với quyền lao động đã vùn vùn vụt vụt như gió thổi, như thủy triều lên, dầu ai muốn ngăn mà ngăn sao đặng? muốn cấm mà sao cấm đặng? Ngọn cờ thần quyền chắc rày mai cũng bị trận gió văn minh kia đánh đổ, mà vách tường hủ tục cũ chắc cũng bị làn sóng văn minh kia đánh tan.
      Thế thời muốn chữa bệnh mê tín ngưới nước ta, không thuốc gì hơn trí thức mới nữạ Trí thức đó, nếu tìm tòi suy xét thăm cho tận gốc, dò cho tận nguồn biết tính người là thiêng hơn vạn vật thời không thần gì hơn thần ở tâm; biết nhơn dân là quí trọng hơn vua với quan, thời không quyền gì hơn quyền lao đô.ng. Có óc thời ta dùng sức nghĩ, có tai thời ta dùng sức nghe, có mắt thời ta dùng sức thấy, có tay chân thời ta dùng sức hoạt động, đua khôn đấu mạnh cùng dân các nước đời nay, 20 triệu con Lạc cháu Hổng bỗng chốc mà tỏ ra giòng thần giống thánh.
      Người nước ta có khó gì tự lập đâủ Vậy nên dùng bài thuốc tự lập, phải có một vị dầy "Trí thức mới" 10 phân, trộn vào "hoa tự do" không kỳ nhiều ít.
13. Chương th mười ba Cha chng bnh "không biết đường kinh tế"
        Nếu có ai hỏi rằng: nước vì sao mà mạnh, dân vì sao mà giàủ Thời tôi xin trả lời rằng: "Nguồn bể phú cường chỉ cốt ở đường kinh tế." Người ta nghe hai chử "kinh tế", chưa hiểu nghĩa ra làm sao, huống gì là đường kinh tế. Xưa truyện Đại học có câu rằng: "Sinh chi giả chúng, thực chi giả quả, vi chi giả tật, dụng chi giả thư", nghĩa là của sinh nở ra thời nhiều, của ăn tiêu đi thời ít, người làm của thời cần kíp, người dùng của thời dè dặt. Sách Tây cũng có câu: "Những hạng người sinh ra lợi thời nhiều, những hạng người chia mất lợi thời ít", Góp hai câu nói đó thời cách đường kinh tế, dầu đông tây cũng chẳng khác gì. Nói tóm lại, chỉ có một cách sinh nở thời thường vô cùng, mà tiêu hao thời thường phải hạn, của trời đất sinh ra thời biết đường lợi dụng, của nhân lực làm ra thời biết đường mở mang, có thế mới gọi là "Kinh Tế". Người nuớc ta thời thế nàỏ Việc tiêu dùng thời không biết đường hạn chế, cách làm ăn thời không biết đường cải lương, sự nghiệp dân sinh trong một nước chỉ nhờ cậy về nông, chân lấm tay bồng, kẻ làm khôn hết mực, cày sâu cuốc bẩm, xem làm khéo cùng kỳ. Ngoài mấy đám đồng cạn ruộng sâu, nào khoáng sản, nào sơn lâm, nào công trình nào thủy lợi chẳng biết một tí gì. Người ngoại quốc lấy máy móc đở tay chân tay, mà mình thời không biết đua, của sinh sản ngày không một hào một li, mà của tiêu xài ngày có hàng nghìn hàng vạn; thấy người ta sang trọng, ta cũng sang trọng, nhưng cái đồ sang trọng đó rặt là cắt thịt nhà để vá cánh giặc; thấy người ta sung sướng, ta cũng sung sướng nhưng cái mồi sung sướng đó, rặt là nặn sữa mẹ để nuôi người dưng. Bao nhiêu vật lạ của ngon, nào rượụ nào thuốc, nào trà, nào vải bông, gấm vóc, không một thức gì là tay chân mình chế tạo, mà cũng không một đồng tiền nào không phải máu mủ mình ép ra; tiền của người không một đồng nào vào tay mình, mà máu mủ mình thời trót tháng quanh năm chỉ những trét miệng hùm, no bụng sấụ Trí khôn người ta như thế, còn nói "Kinh Tế" được đâu! Than ôi! Thiên thời ta vẫn tốt, địa lợi ta vẫn giàu, mà tay mắt tay chân ta vẫn không kém gì ai cả! thuốc ta, rượu ta, trà ta, vải vóc ta, không dùng được hay saỏ
      Không chế tạo được hay saỏ Cớ sao thợ thuyền buôn bán thời không thấy tới, mà chỉ thấy lui; xài phí ăn tiêu thời chỉ thấy thêm mà không thấy bớt, đã một mặt thời quen nết tham thanh chuộng lạ, một mặt thời giử nết ở nể ăn không; bể toan khô nước mà ngồi đợi trời mưa, đèn toan hết dầu mà nằm chờ trăng mọc.
      Người ngu ngẩn đến thế, không chết rày thời chết mai, chỉ e mấy tấm ván hòm chưa dự bị bao giờ đă.ng. Tôi nghỉ đến nông nổi thế mà khóc than cho vận mệnh người nước ta, chúng bệnh về đường kinh tế nếu không lo chạy chữa cho mau thời nòi giống chúng ta chẳng tuyệt diệt về thủy hỏa, binh đao, mà tuyệt diệt về đồ ăn thức mặc! Ai là người có tâm huyết, chắc cũng lấy lời nói làm đúng rồị Bây giờ xin nghĩ một vị thuốc để chữa chứng bệnh nàỵ Vị thuốc ấy là giải đấỷ Là vị "Nội Hóa" Trình độ dân ta còn thấp trí thức dân ta còn non, bảo nhờ cậy việc công, việc thương, sẽ đấu mạnh đua giàu với các nước, cái hy vọng đó, ở ngày nay thiệt chưa có được ngay, song e tục ngữ có câu rằng "Khéo ăn thời no, khéo co thời ấm", đồng bào ta bây giờ mà muốn cho được điều no, điều ấm thời phải có một cách khéo mà thôi.
      Đường sanh lợi chưa có thể phát đạt được đến mười phân thời đường tiêu xài phải dè dặt từ một li, một mảy cần thứ nhứt là dùng nội hóạ Đó thiệt là một vị cứu cho chứng bệnh người tạ Đồ ăn ta; ta ăn, đồ mặc ta; ta mặc, đồ dùng ta; ta dùng, dầu mỡ máu mủ ta, ta bồi bổ cho ta, bớt một li của ra tức là thêm một li của vào, bớt một đồng tiền chết, tức là thêm một đồng tiền sống. Nội hóa tiêu dùng ngày càng chảy, thời các món công thương nghề nghiệp cũng nhân đó mà cạnh khéo đua khôn, đắp tư cơ sẽ tạo nên thời, đúc trí tuệ sẽ gây nên thế, họa may bụng đà khỏi đói, mà óc cũng thêm no; dân sinh đã khỏi nỗi khốn cùng thời dân trí cũng có cơ tấn bô.. Theo tạo nhân mà tìm đường kết quả, cái việc chấn hưng nội hóa đó chẳng phải là gấp lắm saỏ Vậy nên trong bài thuốc tự lập phải có một vị thuốc như sau này "Nội hóa" một vạn thức, kiêng ngoại hóạ
     
14. Chương th mười bn "Cha chng bnh" "không biết thương nòi ging"
        Người ta còn một chứng bệnh rất to, là chứng bệnh "không biết thương nòi giống ". Người ta mắc lấy chứng bệnh đó, chẳng những trái hẵn tính loài người, mà với các giống vật có một điễm trí khôn cũng còn thua kém nữạ
      Kể chứng bệnh ác độc thứ nhất, không gì hơn chứng bệnh này: Kìa con ong vẫn có nọc, mà ong ở chung một ổ không bao giờ cắn nhau; cọp vẫn hay ăn thịt, mà cọp ở chung một xứ không bao giờ ăn nhaụ Thường xem bầy kiến, nó vẫn là một loài vật rất nhỏ nhen, mà cũng có một điễm tốt rất lạ: nó ở chung nhau một bộng, có hàng trăm hàng ngàn con, một con đi ra thoạt thấy được mồi ăn, thời tức khắc chạy về tin cho anh em mình cả; tha mồi thời khó nhọc chia với nhau, ăn mồi thời ngon ngọt chung với nhau, không bao giờ được mồi mà ăn riêng cả; lại có khi tránh mưa trốn gió, dắt đoàn kéo lũ đi chung, con nhỏ, con lớn, đoàn trước, đoàn sau, dắt nhau đi không khác gì một đội quân lính; chẳng may giữa đường có con nào bị tử thương thời chúng kiến xúm nhau cõng nó về hang, không bao giờ bỏ bạn chết mà đi cả! Thế mới biết thương nòi giống, dầu loài vật cũng có tấm lòng thành, chung một máu mủ thời họa phúc chia nhau, nghĩa đồng tO17; đồng sinh vẫn trước sau một mực.
      Vật còn như thế, người có lẽ thua nó hay saỏ Quái ngán thay! Lạ lùng thay! Đến người nưóc ta thời khác hẵn! Tục ngữ có câu rằng: "Gà một chuồng bôi mặt đá nhau!" lại có câu: "Kẻ chết đã xanh, người nhăn nanh mà cười!" lại có câu: "Đi ra tưỡng bắt trâu cò, trâu cò không bắt, bắt bò, bò ôi!", mấy câu thí dụ đó, ngẫm nghĩ cho kỹ thiệt là về nết xấu của người nước ta quá đúng rồi đó.
      Ôi! Các anh chị em! Máu in nhau giọt đỏ, da in nhau sắc vàng, đầu in nhau tóc đen, mắt in nhau tròng mắt, giống
      Tiên Rồng, nòi Hồng Lạc trãi qua mấy nghìn năm mới có bây giờ con một họ, cháu một giòng, nếu cứ như lẽ thường chắc máu ai thấm thịt nấy, đánh đá thời đau đến lòng gạch, chết thỏ thời sa nước mắt hồ; vẫn đạo trời có thế mới đương nhiên, mà tính người cũng có thế mới chính đáng. Cớ sao mấy mươi năm gần đây tình hình ở xã hội, cách hành động các anh chị em ta, thương nhau, bênh nhau, chẳng bao lăm người, mà ghét nhau, hại nhau thời không xiết kê?? Rước voi dầy mồ ông vải, cõng rắn về cắn gà nhà, việc đó thiệt bất nhân vô đạo đã quá chừng, mà người mình trở lại nhận làm khôn làm khéo!
      Xin ai thử nghĩ, mồ ông vải trúc, mà voi có ơn gì đến mình không? Một mai gió mây biến hóa, dâu bể đổi dời, voi đã tan xương, rắn cũng đứt nọc, các ngài lúc bấy giờ đêm khuya mò bụng hỏi bóng thăm hình, mồ tan hoang vì aỉ Gà nhao nhác vì aỉ Mình còn mặt mũi nào thấy ông bà ở dưới đất, trông cô bác ở trên đờỉ Đau đớn thay! Tội tình thay! Cái chút bệnh không biết thương nòi giống đó, hú ba hồn chín vía các ngài, nên thang thuốc cho mau mới phải! Bây giờ tôi xin làm ơn cho các ngài vị thuốc này: "Giống thân ái" đó, vào trong lòng ngườị Người v ` có hột giống ấy mới khai nên hoa, mới kết nên quả, mà nòi giống người mới sinh trưỡng vô cùng. Nếu lòng người mà không có hạt giống ấy thời gọi rằng "Lòng chết" .
      Ông Lão Tử có câu: "Ai mạc đại ư tâm tử", nghĩa là người ta lòng chết không gì đau đớn hơn; nếu thiệt lòng người thời bao giờ chết đặng! Lòng mà đến chết, vì không hột "giống thân ái" mà thôị
      Đức Gia Tổ có câu: "Ái nhân như kỹ", nghĩa là thương yêu người như thương yêu mình. Đức Phật Tổ có câu: "Nhất thiết từ bi", nghĩa là không kể người không kể ta, nhứt nhứt luật thương yêu cả.
      Đạo Nho cũng có hai chử "Khiêm ái". Nhà triết học Tây cũng chủ trương hai chử "Bác ái". Xem chừng như những đạo lý các thánh hiền nói đó, thời hể chung một loài người dầu ai cũng nên thân ái, huống gì chung một nòi giống nữa ru! Nòi giống ta, ta thương yêu lấy nhau; có cơm ta no chung, có áo ta ấm chung, có nhà cửa ta ở chung, gặp việc vui ta vui chung, vì hột giống thân ái đó càng ngày càng nẩy nở, hoa tự do nhân đó mà muôn tía ngàn hồng, Nam reo Bắc thổị Việc đồng tâm của 25 triệu nòi giống ta chắc cũng do ta rày mai mà trông được hẳn! Vậy nên ở trong bài thuốc tự lập lại còn có một vị như sau này: giống "thân ái". Hằng hà sa số hột, hột nào càng chắc càng hay!
15. Chương sau hết Bài tóm cách làm vic
        Các chứng bịnh đã chữa lành rồi bây giờ mới tính cách làm việc.
      Thứ nhất là phải có chủ nghĩa, thứ nhì là phải có chương trình, thứ ba là phải có kế hoạch. Có đủ ba điều đó thời việc mới có thể làm nên.
      Bây giờ xin giãi thích điều thứ nhất:
      Hể phàm làm một việc, tất trước phải có chủ nghĩạ Chủ nghĩa có tốt có xấu, có phải có chẳng, Khi ta bắt đầu sắp sửa làm việc thời ta phải hết sức kén chọn
      Thấy chủ nghĩa gì đã tốt lại phải, thời ta phải giử chặc chủ nghĩa ấy mà làm; ví như bắn bia phải nhìn các trung tâm bia cho chắc chắn; ví như vượt bể tất phải dòm xét cái mũi châm phương hướng cho kỹ càng. Trung tâm bia đó đã nhìn được chắc chắn bắn mới không sai, châm phương hướng đó xét được rành thời thuyền đi mới không lỗị Người làm việc mà có chủ nghĩa, đó là vào trường bắn mà xem thấu bia, vặn máy thuyền mà định chắc hướng, Vậy nên người làm việc, trước hết phải kén chọn chủ nghĩa cho vững vàng. Bây giờ lại giãi thích điều thứ nhì: Khi sắp sửa làm việc thời kén chọn chủ nghĩa vẫn cần lắm; nếu đã có chủ nghĩa mà khi bắt tay vào làm mà không có chương trình, thời như người đánh cờ mà không tính suốt cả bàn, vội vàng lụp chụp, thấy nước thời đi, nước sau đem lại nước trước, nước trước đem lại nước sau, thời bàn cờ đó tất nhiên phải thuạ Vì vậy, làm một việc gì, tất phải định một cái chương trình cho việc ấỵ Ví như muốn đi một lối đường từ Huế ra Hà Nội, tất phải tính toan từ khi bước chân ra đi, cho đến khi tới Hà Nội, tiền đi xe lửa tốn hết bao nhiêu, tiền đi ô tô hết bao nhiêu, tiền đi xe tay và tổn phí ở trên xe hết bao nhiêu, lại phải nghĩ trước cả mọi điều, như giấy thông hành, giấy căn cước, đồ hành trang, người đày tớ, với giữa đường phải xuống ga nào; đến nơi thời trú những nhà nào; vả lại, khi giữa đường hoặc khi đến nơi, có điều gì trở ngại hay không, thời phải tính làm cách gì cho trơn chảỵ Lại như tiền tổn phí, tất phải phòng dự, chớ "đo bò làm chuồng", lỡ khi thiếu thời dang dở; việc phòng bị tất phải sắp đặt sẵn sàng, chớ "bắc nước đòi gà"; sợ khi gấp thời không xong.
      Người trỏ lối đưa đường phải lựa cho thập phần chắc chắn, chớ có rước thầy mù coi đất mà đến khi lỡ làng. Tính toán các điều ấy đủ rồi thời ta định sẵn một cái chương trình, việc gì trước ta làm trước, việc gì sau ta làm sau, việc gì lành ta theo, việc dữ thời ta tránh. Chương trình chắc chắn, noi đó mà đi, có sợ gì đi không tới nơi đâủ Bây giờ lại giãi thích về điều ba: Hể phàm một chủ nghĩa vẫn chính đáng, chương trình vẫn tinh tường, còn một điều đáng lo là còn sợ kế hoạch không được hoàn thiện, vậy nên cần có kế hoa.ch. Ông Khổng tử có câu rằng:
      "Hiếu mưu nhi thành", nghĩa là làm việc phải có tìm mưu mẹo, mà mưu mẹo phải tìm cho đến chốn đến nơị Sách Binh thư có câu: "Đa toán thắng, thiểu toán bất thắng", nghĩa là tính toán được nhiều nước thời ăn hơn, tính toán được ít nước thời phải thuạ Ví như hai người vật nhau một người sức mạnh mà không có mẹo, một người sức yếu mà có nhiều mẹo, thời người sức yếu chắc ăn hơn. Cái mẹo đó, tức là kế hoạch; mà trong khi tính toán kế hoạch, thời phải đủ ba điều: một là cân nhắc về phần trí khôn; hai là cân nhắc về phần lực lượng; ba là cân nhắc về phần thời thế. Lựa trong ba điều đó, mà tính toan bày đặt cho đủ cả mọi đường, như làm một bài tính, không bỏ sót một con số nàọ Đó là kế hoa.ch. Việc thiên hạ đầu nhỏ đầu to, nhưng mỗi một việc tất phải có một kế hoạch; nếu kế hoạch được tinh tường chu đáo, thời có việc gì là chẳng nên? Nói tóm lại, làm việc phải có chủ nghĩa, mà mình đối với chủ nghĩa tất phải hết sức trung thành, thà là vì chủ nghĩa mà giết mình, chẳng nên vì mình mà giết chủ nghĩa. Như ông Tôn Văn trót một đời người hết sức trung thành với "Tam Dân chủ nghĩa", thật là gương cho ta đó. Còn ngoài ra như chương trình tất phải châm chước cho kỹ càng, tổ chức cho hoàn thiện, mà lại phải có kế hoạch cho kỹ càng thời chương trình mới thực hành được; nếu có chủ nghĩa mà không có chương trình, thời chủ nghĩa không bao giờ thực hiện; nếu có chưong trình mà không kế hoạch thời chương trình không bao giờ thành công. Vậy nên ở trong cách làm việc phải cần có cả ba điều đó.
      Lại còn có một lẽ người ta cần phải biết, biết không thấu thời làm không xong. Ông Tôn Văn có câu nói rằng "Tri nan hành dị", nghĩa là biết được rành thời khó; đã biết rồi mà làm thời dễ. Nếu anh em làm việc cần phải biết cho rành. Lại còn một tệ bệnh, người ta càng nên biết lắm.
      Thí dụ: Muốn lấy trộm một nhà ông giàu thời làm thế nàỏ những khi bình thường phải giả ngẫn giả ngơ, giả khờ giả dại, chớ cho ông nhà giàu đó biêt mình là kẻ trộm bợm. Vậy sau khi thực hành mới dễ được thành công. Ông Lão Tử có câu nói rằng: "Đại trí nhược ngu", Nghĩa là những người khôn rất to thời phải làm như hình người ngụ Lại có câu rằng: "Đại xảo nhược chuyết", nghĩa là những người khéo rất to, thời phải làm như hình người vu.ng. Vậy nên những người muốn làm việc, trước phải bồi dưỡng hai cái tinh thần:
      1 Tinh thần nín nhịn;
      2 Tinh thần tránh tiếng.
      Hay nín nhịn thời chớ có giận vặt với hung hăng những thói vũ phu; hay tránh tiếng thời chớ có bán tiếng mua danh, để cho những người tầm thường không kể mình là giỏi mới là haỵ
      Sách Binh Thư có câu rằng: "Tịnh như xử nử, động như thoát thố". Câu trên nghĩa là: Khi ta hãy còn lặng lẽ, thời êm đềm kín đáo như chị con gái chưa lấy chồng ở trong một chốn buồng sâu, vẫn mình là rất muốn lấy chồng, mà không để cho ai biết". Câu nói đó là bày vẻ cách kế hoạch cho người ta làm việc. Câu nói dưới nghĩa là: "Khi ta hành động tất phải nhìn theo thời thế mà theo cho gấp, như con thỏ ở trong lồng mà được xổ ra, thời bổng chốc mà chạy rất mau, dầu ai lanh đến mấy cũng không có thể bắt được nó". Câu nói đó là bày vẻ cho cách người ta hành động. Cách làm việc nếu được như hai câu nói đó thời việc gì cũng thành công; nếu không được như hai câu nói đó, thời việc gì cũng thất bại.
      Tuy nhiên, lại có một lẽ: Hể phàm tính việc thời tất muốn thành công, mà đã có gan làm việc thời lại phảI không sợ thất bại; bởi vì, hể làm việc tất phải trải qua một lối thất bại mới đến thành công.
      Sách Tây có câu: "Thất bại là mẹ đẻ ra thành công". Tục ngữ ta có câu rằng: "Đứt tay mới hay thuốc", Vây nên những việc thất bại, chính là trường học thiên nhiên mà dạy bảo cho mình đến thành công. Người ta chỉ sợ mình không có gan làm việc, còn thất bại thời không nên sợ gì; càng thất bại càng làm, càng làm càng sinh ra khôn khéo; trải qua một phen thất bại thời thêm ra được một mối thành công. Vậy mới biết: Thất bại là mẹ đẻ ra thành công, có thế thật!

     

Chung

     
Cao Đẳng Quốc Dân này.
     

     

Dn ngôn

 

      Nước ta bây giờ đang cần có sách ho.c. Học sách Tàu\? Hán văn đã không còn thích dụng ở đời naỵ Học sách Tây\? Pháp văn còn chưa mấy người thông hiểu. Lấy
      người mình đọc tiếng mình, thì sách nước mình ở lúc bây giờ không gì hơn làm bằng quốc văn. Tuy nhiên việc làm sách đó có dễ dàng đâu! Tất phải: dò xét lịch sử của nước mình đời xưa, thăm dò tệ bệnh của nước mình ngày nay, trông các gương liệt cường ở hiện tại, đo tính vận mạng dân tộc ở tương lai, nghĩ thế nào, viết một chữ, mở một lời mà hữu ích cho nhân tâm thế đạo, có thế sách mới có giá trị...
      Tôi viết quyển sách này, chẳng qua dâng một phần nghĩa vụ với Quốc dân, hay dở, đúng không, hoặc có công hiệu gì không, thì quyền ở người đọc sách. Khổng Tử
      nói:"Tri ngã giả, kỳ duy Xuân thu hồ, tội ngã giả, kỳ duy Xuân thu hồ" , nghĩa là ai biết lòng ta tất ở sách Xuân thu, ai bắt tội ta tất cũng ở sách Xuân thu. Quyển sách tôi viết đây cũng nói như vậy.
     
Sào Nam, 1927
     
1. Chương thứ nhất Nghĩa hai chữ "quốc dân"
        Xưa nay người ta thường hay nói đến nước thì trước hết kể vua, thứ nửa quan, còn dân không bao giờ kể đến. nhưng đời bây giờ thì khác thế! Bên Âu, bên Mỹ cho đến Nhật Bổn, Trung Hoa ở Á Đông, họ không nói đến nước thì thôi, thoạt nói đến nước thì tức khắc nói đến dân, tai nghe chữ Quốc dân, mắt thấy chữ Quốc dân, miệng đọc chữ Quốc dân. Quốc dân! Quốc dân! Hai chữ đó như hình cha cha mẹ mẹ, không bao giờ quên.
      Gần mấy năm đây, làn sóng Âu Mỹ tràn vào nước ta, mà người bảo hộ ta lại là người nước dân chủ, người ta trông có dân chủ mà hai chữ quốc dân mới phãng phất trong óc mình, nhưng miệng đọc hai chữ Quốc dân mà hỏi nghĩa chữ Quốc dân là sao chắc không ai trả lời đươ.c.
      Chữ "Quốc" vì sao liền chữ "Dân", chữ "Dân" vì sao dính chữ "Quốc". Muốn trả lời câu hỏi đó, tất phải theo lịch sử. Sử nước ta đến đời Đường Nghêu mới có hai chữ "Việt thường", đời nhà Hán mới có hai chữ "Giao chỉ", đời nhà Đường mới có hai chữ "Yên Nam". Vậy từ đời nhà Đường Nghêu về trước, đã có gì nên nước đâu, núi rậm rừng hoang, đồng không mông hoạnh, bốn mặt chim kêu vượn hót, một vùng nước bạc đất vàng, xó này năm ba chú mọi, góc nọ sáu bảy anh Lào, kể bộ lạc cũng chưa nên gì, huống gì là nước\? Vì ai gây dựng, vì ai mở mang, ai dọn đường, ai trổ lối ai xẻ núi, ai đốt rừng, bỗng chốc núi rậm hóa nên thôn cử đồng hoang gây nên thành thị\? Đó chẳng phải ngìn vạn ức những người tổ tiên cao tằng ta làm nên ử Huống gì Quãng bình dĩ Nam Cao man dĩ Bắc, xưa vẫn có đất, mà đất gì của ta đâu\? Vẫn có người mà người gì của nòi giống ta!
      Nào Lâm Ấp, nào Chiêm Thành, nào Mên nào Lạp, nếu không dân ta xưa dắt đoàn kéo đội, từ Bắc vào Nam, chải gió gội mưa, trèo non vượt bể, khua nòi Chiêm, đuổi bầy Lạp, hốt mấy nghìn dặm non sông mà bỏ vào túi mình, thì cơ đồ gấm vóc như sau này, chúng ta làm sao trông thấy được\?
      Suy thấu lẽ ấy, mới biết rằng Quốc là Quốc của dân ta, dân là ông chủ tiên chiếm của Quốc ta. Xưa tôi làm quyễn "Hải ngoại huyết thư" mà ông Lê Đại dịch đã có câu rằng: "Nghìn muôn ức triệu người chung hiê.p. "Gầy dựng nên cơ nghiêp nước nhà. "Người dân ta, của dân ta "Dân là dân nước, nước là nước dân" Đọc mấy câu ấy thời nghĩa "Quốc dân" cũng đã rõ lắm.
      Anh em thử nghĩ, trên dưới bốn nghìn năm, trong ngoài ba mươi vạn dặm, biết bao nhiêu giây máu hột mủ tuôn đổ ra cung cấp cho nước đó, có một giọt nào là không phải của dân ta đâủ Biết bao lũ trước đàn sau, dắt díu nhau kinh dinh cho nước đó, có người nào không phải dân ta đâu! Vì vậy nếu không dân thì ai làm nên nước\? Nếu không nước thời còn quý gì dân\? Linh hồn nước là đâu! hẳn là dân đó! Khu xác dân ở đâu, hẳn là nước đó! Quốc tức dân, dân tức Quốc, hai chữ "Quốc dân" không thể rời nhau đươ.c. Nghĩa hai chữ "Quốc dân" là thế.
2. Chương thứ hai  Quốc dân với gia nô
     
      Đau đớn thay! Thãm hại thay! Địa vị mình quốc dân mà chưa từng một ngày nào được chịu cái ơn giáo dục cho làm quốc dân; thân phận mình quốc dân mà chưa từng một ngày nào được hưỡng cái quyền lợi quốc dân.
      Tục ngữ có câu: "Dân như trùn như dế" lại có câu thường nói: "Dân như gổ tròn", điều đó suốt xưa nay, khắp Đông Tây không một dân nước nào như dân nước ta cã. Vì sao\? Hay là trời cách chức quốc dân của nước mình rồi chăng\? Hay là người nước mình không đang nổi cái chức quốc dân chăng\? Hai lẽ tất có một . Đạo trời rất công, lòng trời rất nhân ái, người nước nào cũng là con trời cả, trời vẫn xem làm bình đẵng, trời có thương riêng gì dân nước Pháp, nước Anh, nước Mỹ, nước Nhật Bản\? Có ghét riêng gì nước ta\? Cái chức Quốc dân này, có lẽ nào trời cho ở họ mà cướp mất ở ta\? Vậy thời cái chức làm Quốc dân vẫn là trời thưỡng cho ta đó, nhưng tội tình thay! Trời vẫn ban cho ta mà ta không biết vâng chịu! Xem lịch sử nước ta từ xưa đến nay hơn ba nghìn năm chỉ có gia nô mà không quốc dân thâ.t. Quyền vua quá nặng, nặng không biết chừng nào; gia dĩ quyền quan lại hứng đở quyền vua mà tầng tầng áp chế, từ cửu phẩm kể lên đến nhất phẩm, chồng càng cao, ép càng nặng đến dân là vô phẩm, thân giá lại còn gì. Thằng này là con ngựa, thằng nọ là con trâu, buộc cương vào thì cắm cổ cứ đi, gác ách vào thì cúi đầu cứ lủi, gặp Đinh thời làm nô với Đinh, gặp Trần thời làm nô với Trần, gặp Lê Lý thời làm nô với Lê Lý, phận con hầu với thằng ở, được đôi miếng cơm thừa canh thải thời đã lấy làm hớn hở vinh quang, tối năm đứng đầu ruộng mới được bát cơm, suốt đêm ngồi trên bàn khung cửi, mới có tấm áo mặc, mà thoạt mở miệng ra thời chỉ nói rằng "cơm vua áo chúa", đồn điền nầy sông núi nọ, mồ hôi lẫn nước mắt mà cày cấy mở mang, nhưng mà "chân đạp đất vua", lại giử chặt một câu hoạt kê vô lý. Than ôi! Cái tư tưởng gia nô! Bệnh gia truyền làm nô đó không biết tự bao giờ để lại cho chúng ta, bắt ta phãi gông đầu khóa miệng, xiềng tay xích chưn, mà chịu gánh gia nô cho già đời mãn kiếp! Đau đớn thật! Thãm hại thật! Anh em ôi! "Dân vi quý" là câu nói của ông Mạnh Đại Hiền, "Dân vi ban bản" là câu nói của ông thánh Hạ Vũ hai người đó có phải nói lừa ta đâi\? Ta ngu, ta ngẫn, ta hèn hạ quá chừng!
      Mình ta sang trọng nhứt là cái quốc dân mà ta bỏ xó đi không nhắc tới, khăng khăng chỉ ôm lấy cái phẩm hàm gia nô làm vinh quý; Ôi! phẩm hàm làm gì anh em ôi! Nhà giàu phỉnh thằng ở thời vất cho một hai đồng tiền, nhà vua phỉnh đứa dân thời vất cho một hai trương giấỵ Nhưng nghĩ cho ra kỹ, thời một đồng tiền của nhà giàu phỉnh ta đó mà thân giá ta vẫn còn, đến như một trương giấy của nhà vua phỉnh ta đó, thời thân giá ta đã ô hô, ai tai rồi hẳn. Lại còn khi rủi gặp cơn dâu bể đổi đời, tờ giấy của nhà Đinh trải qua nhà Lý thời đã không đáng một xu, tờ giấy của nhà Lý trải qua nhà Lê hoặc nhà Trần thời cũng không ai ngó đến, huống gì vì một trương giấy đó mà quỳ mòn đầu gối, lạy lắm cả cằm râu, lại phải vất vô số máu me, ép vô số dầu mở cung cấp cho nhà ai mới hủ hỉ được một trương giấy đó, thời còn gì vinh quý nữa đâu! Gia nô! Gia nô! Cái oai kiếp đó, từ đây nên sám hối là phải.
3. Chương thứ ba  Quốc dân nên tự lập
       
      Ô hô gia nô! Ô hô gia nô! tủi thân vai ngựa lưng lừa, một kiếp gia nô biết bao giờ là thôỉ Câu hỏi đó là một câu hỏi rất thiết ở đời bây giờ. Tôi xin trả lời rằng:"Gia nô nay đã biết thân, thời lo gánh chức quốc dân mới là". Gia nô là thằng ở của một nhà, Quốc dân là ông chủ của một nuớc, một bên thì ty tiện rất mực, một bên thì cao quý rất mực, mắt còn chưa mù, miệng còn nói được thời chắc cũng muốn lấy phần cao quý mà bỏ phần ty tiện. Ham cao quý mà chê ty tiện là gốc tự tấm lòng lương tri của chúng tạ Người xưa có câu rằng:"Vương giã dĩ dân vi thiên", nghĩa là dầu ông vua cũng phải xem dân bằng trờị Vậy thời không gì cao quý hơn dân hẳn. Nhưng với cái chúc Quốc dân đó, chúng ta đã ngu hèn dại dột, bị ai cướp bóc những tự bao giờ, nay muốn khôi phục lại cái chức quốc dân, chúng ta phải gấp lo thế nào mới được.  Chức Quốc dân đó ta muốn khôi phục lại, có lẽ xin xõ với ai mà được rủ Xin với trời, thời trời vẫn cho ta tự bao giờ, không cần xin nữạ Sách Tây có câu: mình hãy tự giúp lấy mình, thời trời giúp cho (aide-toi, le ciel t’.aidra). Sách Đông Phương có câu:"Dân ta muốn điều gì, trời vẫn nghe theo điều ấy". Nếu đạo lý ấy mà thật, không cần gì xin ở trời.
      Hay là xin ở người mà được rủ Lòng beo dạ thú, mắt ó miệng hùm, người thế giới đời bây giờ không ai thương ta hẳn. Nếu một mai mà ta lấy chức quốc dân quốc dân ta lại, thời ách cổ trâu, cương đầu ngựa, tức khắc phải giải phóng cho ta ngaỵ Lòng tham dục họ lấy gì đầỷ Tay hung tàn họ lấy gì sướng. Nào xe, nào ngựa, nào lầu, nào đài, nào vợ đẹp hầu non, nào của ngon vật lạ: những giống ép nặn máu mủ ta mà được đó, lấy gì như ý sở cầủ Ta một ngày thoát ngục gia nô thời nó một ngày đổ nền phú quý, nếu ta rày xin may xõ, lưỡi rát cổ khan, chúng nó có ân thưỡng cho ta chỉ qua "ngọn roi" và "ngòi bút", có đời nào mà chúng nó đem chức quốc dân cho ta đâụ Huống hố chức quốc dân là chúc sẵn trời ban cho ta, ta lấy lại thời còn, ta bỏ đi thời mất, không cần ai cho, mà ta cũng không cần gì xin ai cả.
      Ôi quốc dân! Ôi! quốc dân! Cái chúc đó là chức rất cao quý của chúng ta, vẫn không ai cách được, mà cũng không ai cho được, chỉ cốt ở lòng ta cầu, vai ta gánh, tay ta đỡ, sức ta đua trí khôn ta tìm tòi, quyết lấy được mà thôị  Thiệt là : "Của ta, ta cậy gì ai  Gánh ta ai có nghiêng vai đỡ cùng". 
      Vậy nên tôi nói rằng: Quốc dân nên tự lập.
 
4. Chương thứ tư Bài thuốc tự lập có những vị gì?
      Muốn cho quốc dân hay tự lập, trước hết phải biết tệ bệnh của quốc dân ta những điều gì. Có biết tệ
      bệnh quốc dân ta vậy sau chứng nào thuốc ấy mới bày ra phương tự lập được. Bây giờ tôi xin kể những tệ bệnh của quốc dân:
      1. Tính ỷ lạị
      2. Lòng giả dốị
      3. Thói nhút nhát.
      4. Tham lợi riêng.
      5. Đua những việc hư danh vô vị
      6. Không lòng thực yêu nước.
      7. Không biết nghĩa hiệp quần.
      8. Mê tín những tục hủ cổ.
      9. Không biết đường kinh tế.
      10. Không thương nòi giống.
      Những bệnh đó muốn chữa cho lành, phải theo bệnh nguyênmà trị cho đến gốc. tôi xin kê bài thuốc như sau này:
      1. Khí tự cường: nặng vô số ki-lô-gờ-ram (kg)
      2. Lòng thành thực: mười phần già.
      3. Gan quả quyết: hai lá thực lớn
      4. Lòng công ích: một tấm rất dày
      5. Vai thực nghiệp: một gánh càng nặng càng haỵ
      6. Bụng nhiệt thành: mười phân luyện chín.
      7. Giãi đồng tâm: một dây càng kiên thực càng tốt.
      8. Trí thúc mới: 100 phân, trộn vào "hoa tự do" không kỳnhiều ít.
      9. Nội hóa: một vạn thức: kiêng ngoại hóa
      10. Giống thân ái: hằng hà sa số, hột nào càng chắc càng haỵ
      Hiệp cả bài như trên kia, tổng cộng 10 vị, bài thuốc đó là hiệp cả Đông Tây lại một lò, hòa cả tân, cựu làm một tể, dùng làm thuốc tự lập, chắc là không bài nào hơn.Anh em ta muốn biết cái ý dụng được, tôi xin kể vị thuốc nào chứng ấy như sau:
5. Chương thứ năm Chữa chứng bệnh "tính ỷ lại"
        Bệnh người nước ta, kể có 10 chứng , tôi đã nói như bài trên kia mà thăm xét cho ra chúng gì nặng thứ nhất thời có một chứng gọi rằng "ỷ lại tính".
      Ỷ lại tính như thế nàỏ Tục ngữ có câu rằng " Tháp đổ có Ngô xây, việc gìvợ góa lo ngày lo đêm". Xem như câu ấy thực đáng nực cười! Tháp đó là tháp của ta, ta không xây được hay saỏ Nghễnh đầu nghểnh cổ trông ngóng vào Ngô, nếu Ngô không xây thời vạn tuế thiên thu chắc không bao giờ có tháp. Kìa người vợ góa thấy tháp đổ mà lo ngày, lo đêm, vẫn là một người có tâm huyết, mà lại bị những món bàng quan kia mỉa mai chê trách, thế thời những người đứng xung quanh tháp đó, tháp đổ mặc tháp, khoanh tay đứng dòm, chém cha món này, nghiễm nhiên là một đống bồ nhìn rồi hẳn? Hỏi vì can cớ làm saỏ
      Thời chỉ ỷ lại mà thôị Câu tục ngữ ấy thiệt vẽ đúng tâm tính của người nước tạ Hai muơi triệu người, ai nấy cũng mắt cũng tai, cũng tay chân mày mặt, nếu ai cũng lo gánh vác một phần trách nhiệm của mình thời có gánh gì không cất nổỉ
      Nhưng tội tình thay! Anh nào chị nào trong óc cũng chất đầy một khối ỹ lại: anh Cột trông mong vào chú Kèo, cô Hường trông mong vào thiếm Lục, lại chắc chắn có anh Cột cô Hường rồị Rày lần mai lửa, tháng đợi năm chờ, kết cục không một người làm mà cũng không một người phụ trách nhiệm. Thế thời 25 triệu người, kỳ thực thời không người nào cả.
      Chao ôi! Ma bệnh tính ỷ lại không xua đuổi cho sạch, còn mong có nòi giống ta nữa đâu! Bây giờ muốn chữa bệnh ỷ lại đó, tất cần phải dùng một vị rất quý trọng đem dùng chửa bệnh tính ỷ lại chắc kiến hiệu như thần. Tên vị thuốc này gọi rằng "khí tự cường". Khí tự cường đó không phải vay mượn cùa ai đâu: khi trời đất inh ra ta thời phải phú dữ cho ta một vừng chính khí. Xưa thầy Mạnh Tử có câu nói rằng:"chí đại, chí cường", bốn chử đó tức là khí tự cường của tạ Xương sắt, gan đồng ngang tàng 7 thước, đã mang tiếng ở trong trời đất, phải có danh gì với núi sông. Ta chẳng phải là người hay saỏ Cớ gì người mạnh mà ta hèn? Người vinh mà ta nhục? Người chủ nhân mà ta nô lệ? Ta chẳng oan uỗng kiếp người lắm ru! Thôi cái tội tự bạo, tự khí, ta quyết rửa sạch cái vết nhơ này mới thôị
      Ỷ lại mà chi! Ỷ lại mà chi! Ta quyết tự cường cho chúng mày biết. Xin các anh em! Xin các chị em! Ai nấy cũng nhức nhối tinh thần, rán vai nong cánh, đồng một lòng, đều một sức, mình sắp lấy núi sông mình, tháp mình mình xâỵ Khí tự cường đã đầy đủ như thế, thời ma bệnh tính ỷ lại còn dám dùng dằng nữa đâủ
      Vậy nên bài thuốc tự lập, vị thứ nhất phải dùng khí tự cường nặng vô số ki-lô-gờ-ram.
6. Chương thứ sáu Chữa bệnh "giả dối"
        Bởi vì có tính ỹ lại mới nảy ra các chứng bệnh nữa: một chứng là hay giả dốị Xưa Đức Khổng Tử có câu: "Dân vô tín bất lập" nghĩa là người không có thành tín thời không có thể nào đứng nổị Sách Tây có câu: "Tin thực là một cục vàng vô giá", nghĩa là người ở đời không có gì quí trọng hơn tin thực. Quái gở cho người nước ta thời lại đua nhau giả dối!
      Tục ngử có câu "Trăm voi không được bát nước xáo" lại có câu "Mười thóc không được một gạo" Xem đó mới biết tính chất người nước ta, chứng bệnh giả dối là một chứng rất nặng: Sĩ hay giả dối thời tìm tòi đạo lý, không cậy óc mình mà cậy tai; nông hay giả dối thời cày cấy ruộng trưa, không cậy mình mà cậy đất; công hay giả dối thời phấn sức lừa đời mà không cầu thực dụng; thương hay giả dối thời đua nhau bợm vặt mà mất cả lợi tọ Thậm chí mướn đạo đức làm lối cầu danh mà chá vàng ở ngoài mặt; mướn nhân nghĩa làm mồi câu lợi mà xức mật ở đầu môị Chẵng những ngoài đối với xả hội, trên đối với quốc gia, gốc cây trăm năm đã bị con mọt giả dối kia đục đổ, bức thành muôn dặm đã bị con mọt giả dối kia xoi tan, mà lại trong đối với một nhà, dưới đối với một mình cũng mắc con ma bệnh giả dối đó đục thấu cao hoang, khoét vào cốt tủỵ Tay dối lòng, miệng dối dạ, ăn bánh vẻ mà toan đầy bụng, mặc áo giấy mà đi với ma, kết quả không việc gì là thật. Bệnh giả dối đó mà không chừa, còn mong gì nước ta phú cường được? Xưa nay đất tốt mới vắt nên khuôn, đồng tốt mới vắt nên tượng, người tốt mới làm nên sự nghiệp lớn, mà lòng tin thực đó là chất rất tốt của con ngườị Lời tục ngữ có câu: " ngay thật mọi tật mọi khỏi".
      Sự ngay thật đó là bộ xương sống của thân thể người; nếu người không có xương sống mà muốn tay chân đẹp đẽ mạnh mẽ, có lẽ nào được? Vậy nên muốn làm người tốt cần thứ nhất là lòng thành thực. Nói một tiếng tất thành thực, dầu ngoài muôn nghìn dặm, mà lời vàng ngọc không bao giờ phai; làm một việc tất thành thực, dầu trải mười trăm năm mà dạ sắc son không bao giờ dời đổị Mình đã dốc một lòng thành thực như thế thời phẩm hạnh mình càng ngày càng chắc, thanh giá mình càng ngày càng cao, ngưòi ta tin dụng mình ngày càng nhiều, mà thế lực mình lớn thời có việc gì không làm nên. Vì vậy trong bài thuốc "tự lập" cốt ở chữa chứng bệnh giả dối, tất phải dùng vị thuốc này: "Lòng thành thực" mười phân già.
7. Chương thứ bảy Chữa chứng bệnh nhút nhát
        Bệnh giả dối đã chữa lành rồi, nhưng còn có một chúng bệnh nữa là thói nhút nhát. Chứng bệnh đó chữa không lành thời người mạnh hóa người hèn, người khôn hóa người dại, trăm việc gì ưu thắng nhượng cho người mà mình cam chịu về đường liệt bại; biết việc nên nói mà tiếng không dám hở môi, biết đường nên đi mà một bước không dám ra khỏi cửa, miệng hùm gan sứa, thiệt là những bọn anh hùng hào kiệt của nước ta, mà huống chi những kẻ thôn quê hèn hạ đó còn maong gì với chúng nó bàn việc to lớn được?
      Xưa ông Hải quân đại tướng nước Anh là Nốt Nhỉ Tốn có nói: "Trong pho tự điển của người giỏi không bao giờ viết chử khó." Người anh hùng nước Pháp là ông Nã Phá Luân có nói: "Kìa chử khó đó chỉ thấy trong pho tự điển của người ngu mà thôi". Tục ngử ta cũng có câu: "Có gan thời chọi với trời", lại có câu hát: " Đố ai lượm đá quăng trời, đan gàu tát bể, mới người khôn ngoan". Xem mấy câu nói đó thời thiên hạ có việc gì khó đâủ Mà thế thật. Ta có gan xuống vực thời thuồng luồng phải sợ ta; ta có gan vào rừng thời hùm beo phải kiêng tạ
      Hùm beo với thuồng luồng chỉ bắt nạt được những người nhát gan mà thôị Bây giờ người ta chưa thấy bóng thuồng luồng mà đã rỡn ốc, chưa nghe tiếng hùm beo mà đã rùng mình!
      Ôi! nước ta là một nước thỏ hay saỏ Rụt rụt rè rè, sợ đầu sợ đít, còn có gì là tư cách con người nữa rủ Bệnh nhút nhát còn đeo lấy một ngày, thời công việc tự lập tự cuờng không một ngày nào cất nổi, mà muốn chữa chứng bệnh đó, thời phải dùng vị thuốc này mới hay: vị thuốc gan quả quyết.
      Xưa nay những người can đãm cũng phải luyện tập mới nên, mà khi đầu luyện tập thời phải có một tấm gan quả quyết. Toan vượt núi thời chớ thấy núi mà gớm cao; toan qua sông thời chớ thấy sông mà ghê sông rô.ng.
      Bao nhiêu nguy hiểm, ta kể cho là sự rất thường; bao nhiêu khó khăn ta kể cho là sự rất dể. Bước con đường muôn dặm phải cậy tấm gan quả quyết đó làm roi ngựa, máy xe, dầu chông gai mà quản gì. Đã có tay chân ta đó, nhứt chết nhì sống, còn mình thời việc ấy chắc phải xong, có sợ gì mà nhút nhát? Vậy nên trong bài thuốc "Tự lập", phải dùng một vị như sau: "Gan quả quyết" hai lá rất lớn.
8. Chương th tám  Cha Chng Bnh "Tham Li Riêng"
 
      Lại có chứng bệnh nữa là chứng bệnh "Tham lợi riêng".
      Chứng bệnh ấy, người các nước tuy có ít nhiều, nhưng người nước ta tất cả 25 triệu người, ai nấy cũng trúng bệnh ấy đó. Tục ngữ có câu "cơm ai đầy nồi ấy", lại có câu "Thử thân bất độ, độ hà thân", lại có câu rằng " con vua, con dấu, con chậu chậu yêu". Đọc bấy nhiêu lời thời biết rằng: trong ruột người nước ta, viết dọc viết ngang, vạch xuôi vạch ngược, chỉ một chử "tham" mà ở trong chử "tham" chỉ có vài nét "Lợi riêng" là vừa hết bút mực. Xưa cụ Uy Viễn có câu rằng:
      "Tiền tài hai chủ son khuyên ngược,"
      "Nhân nghĩa đôi đường nước chảy xuôi"
      Mười bốn chủ đó, thật là vẽ đúng tâm tính người nước tạ Than ôi! cái lòng tham dục mà muốn cho như ý, mới nảy ra kế mưu, vì kế mưu mà muốn cho thành công, mới nảy ra sự nghiệp. Tục ngữ có câu: "muốn ăn hoét phải đào trùn", nhất thiết việc đời đều ở lòng tham dục, bảo cấm tham tuyệt dục không có lẽ thiệt! Ôi! Các anh em! Các chị em! Tôi vẫn không cho các ngài biết tham biết dục. Thà không tham, nếu tham thời tham cho lớn; thà không dục, nếu dục thời dục cho hàọ Xưa ông Đế Nghêu muốn thiên hạ làm của chung mà bỏ ngôi vua của mình, vì vậy nước Trung Hoa bây giờ xưng ông Nghêu là đại thánh. Ông Hoa Thịnh Đốn muốn nước Hoa Kỳ thành một nước dân chủ, mà bỏ ngôi phú quý của mình, vì vậy nước Hoa Kỳ bây giờ còn gọi ông Hoa Thịnh Đốn là "Quốc Phụ". Kìa hai ông đó há phải không tham đâu, nhưng tham dục về cái lợi chung của ức muôn người, thời tham dục càng to, làm lợi ích cho loài người càng lớn, nhờ tham dục của một người đó mà gió xuân mưa hạ tràn trề khắp bốn bể năm châu, đội đức mang ơn dài đặc đến thiên thu vạn thế. Tham dục mà được như những bậc người ấy, ai bảo rằng tham dục là dở đâủ Đau đớn thay cho những người nước ta, trước mắt không bao giờ thấy lợi chung, trong óc không bao giờ có tư tưởng cao thượng, túi chất đầy tham, mà tham tột mực, chẳng qua là nghiện hơi đồng, hối vẫn đầy dục, mà dục kỳ cùng, chẳng qua là hầu xác thịt, kết quả đến nổi hy sinh hết lương tâm thiên lý mà làm nô lệ cho những món tư tình; vì lo sung sướng cho vợ, vì lo sung suớng cho con, vì lo sung sướng cho thân mình, suốt đêm suốt ngày hết khôn hết khéo, nhưng chắc rằng núi đồng không bao giờ lở, cây tiền không bao giờ lá rụng hoa rơị Nào hay "Nhứt đán vô thường vạn sự hưu", của cải tiền tài không thể nào vào tay người chêt; vợ vì sẳn của mà vợ hóa nên vợ hèn, con vì sẳn của mà con hóa nên con dại, tiền bạc hóa ra của phá nhà, ruộng vườn hóa ra mồ chôn sống, chẳng những nhân quần xã hội không lợi ích một tí gì, mà chính giữ thân với gia cũng lợi chưa xong mà hại đã tớị Ấy là tử chứng của những người tham lợi riêng đã rành rành rồi đó. Người ta mắc bệnh đó gần đây càng ngày càng nặng thêm, nếu không gấp chữa cho mau thì nòi tuyệt giống mòn, không thể nào cứu được. Tôi xin vì đồng bào dâng một vị thuốc này gọi rằng "Lòng công ích". "Lòng công ích" là cầu sự lợi ích chung cho xã hội, mà cầu lợi chung xã hội tức là lợi ích cho mình. Đạo lý đó chẳng phải nói không đâụ Những người có tai mắt, có ruột gan chắc cũng hiểụ Bao bọc chung quanh mình là xã hội, nhờ ơn xã hội mới có thân mình, mình ăn thóc thời nhờ có người cầy, mình mặc áo thời có người dệt, mình cần có công dùng thời phải nhờ người người thợ thuyền, mình cần có giao thông thời phải nhờ người buôn bán; nếu một ngày không xã hội tức một ngày đó không thân mình. Vun trồng cho xã hội sung sướng vẻ vang thời chẳng những một thân mình đã hưỡng hạnh phúc chung, mà con cháu mình sau cũng sung sướng chung mãi mãị Vậy thời cái lòng công ích đó, thật là một phương thuốc trường xuân bất lão cho người tạ Vậy nên trong bài thuốc tự lập, phải có một vị nầy: "Lòng công ích" một tấm rất dàỵ
9. Chương thứ chín  Chữa Chúng Bệnh Đua Đuổi Hư Danh
        Còn một chúng bệnh nữa là chứng bệnh người ta hay đua đuổi theo cái hư danh vô vi..
      Muốn chữa cái chứng bệnh đó thời trước phải giải quyết một số vấn đề như sau này: Lòng tham người ta chỉ có hai hạng: một là lợi, hai là danh.
      Danh nên tham hay không? Bảo rằng không nên tham thời từ xưa đến nay không người thánh hiền hào kiệt nào mà không thành danh cả. Sách truyện có câu: "Đạo đức giả tất tất đắc kỳ danh", nghĩa là những người đạo đức lớn, nhứt định được cái danh dư.. Thế thời danh có phải không nên tham đâu! Bảo rằng nên tham ử Thời từ xưa đến nay, những người phấn sức hư danh, kết quả hữu danh nhi vô thực, chẳng những không lợi ích gì cho xã hội, mà cũng không thêm được giá trị cho mình tạ Thế thời danh có gì đáng tham. Nói cho đúng lẽ, danh vẫn đáng tham, mà cũng không đáng tham. Cớ sao thế? Bởi vì danh có nhỏ, có lón, danh có gần có xa, danh nhỏ và gần, như lữa lốm đốm đầu hôm, tiếng ve ve khi mùa hạ, vẫn cũng lập lòe chòe choẹt ở trong một lúc, nhưng chẳng bao lâu thời tắt ngay; danh lớn và xa thời như sấm mùa xuân, nhu bóng thái dương mùa hạ, vang một tiếng mà lừng lẫy cả năm châu, dọi môt tia mà chói chang khắp bốn bể. Người ta thử cân nhắc hai đường danh đó thời danh gì đáng tham, danh gì không đáng tham. Không cần phải nói nữa.
      Bây giờ tôi chỉ bệnh người nước tạ Tục ngữ có câu: "Tiếng lành đồn xa, tiếng dữ đồn ba ngày đường" lại có câu rằng: "Cọp chết để da, người ta chết để tiếng". Xem những câu đó thời danh vẫn nên quý, người ta cũng biết dư rồị Nhưng tội tình thay! Óc tí ti như óc dơi, mắt ti hí như mắt muỗi, ngoài buồng the bếp núc, vẫn không biết gì là nước non, trừ sọ bò đầu lợn không biết gì là rồng rắn, mà huống gì vết xấu trong gia đình, thói hư ở xã hội gắn sâu buộc chặc, trải mấy ngàn năm ông Nghè ông Cử đã tràn đất chó rơm, mà ông Đốc ông Tham lại đầy phên rồng vẽ. Đoàn thanh niên cho đến phường tân tấn, đua danh cạnh giá, chẳng cu li thượng đẵng, thời nô lệ tối ưu, ức chưa rời nôi mà đã ưu mề đay, kim khánh, mệng chưa ráo sữa mà đã lóc lẽm những thẽ bạc ngà. Ôi! thế là vinh danh, đáng quý hóa hay sao?
      Anh chị em sao không nghĩ, đội mảo mo cho khỉ, mặc áo giấy cho ma, những giống ấy là rặc giống của người phỉnh phờ ta, chẳng những không vinh gì, mà thật là một cái gương sỉ nhục. Anh gì mà danh như thế, còn gì đáng quý nữa đâu . Gông đầu khóa cổ, núi sông đã mãn kiếp ngựa trâu, mỏi gối chân chồn, cây cỏ cũng chán vai tôi tớ, thế mà còn bằng sắc, sắc bằng gì? Thế mà còn hàm, thế mà còn phẩm, phẩm hàm gì? Người ta bỏ đi mà ta lượm lấy, người xem làm rẽ rúng mà ta xem làm vinh hoa! Óc khôn ngoan ta đi đâủ Chí khí ta ở đâủ Xin các anh chị em, chứng bệnh đua hư danh đó, ta phải gấp chữa lành mới được.
      Muốn chữa chứng bệnh đó, thời phải có một vị thuốc rằng "vai thực nghiệp".
      Thực nghiệp là những giống gì? Là nghiệp nông, nghiệp công, nghiệp thương, nghiệp sâm lâm, nghiệp lục súc, nghiệp ngư diêm, nói tóm lại là nghiệp lao đô.ng.
      Lao động về nông, nông siêng thời gạo thóc đầy đủ; lao động về việc công thời công siêng mà nghề nghiệp mở mang; lao động về việc thương, thời thương siêng mà giao thông phát đạt, còn ra các việc hể lao động hết bổn phận thời việc nào việc ấy chắc cũng được thành công. Các nước Âu Mỹ bây giờ, những người quý trọng là rặt những người rất cần khổ, đắp nền danh giá, tất lấy thực nghiệp làm gốc, mở bể phú cường, tất lấy thực nghiệp làm nguồn. Thủ xem nước Hoa Kỳ mới đây, những người rất hữu danh rặt là nhà thực nghiệp; ông Hỏa du đại vương, ông Thiết lộ đại vương, ông Ngân hàng đại dương, những người đó là nhà thực nghiệp lớn. Vì thực nghiệp lớn nên tư bản nhiều, vì tư bản nhiều nên cất nổi những việc công ích lớn. Vì vậy mang ơn đội đức, khắp cả muôn người, trổi tiếng vang tăm nghe khắp cà vạn quốc.
      Lời cổ ngử có câu rằng "Hữu thực dã danh tất qui chi" nghĩa là những người có việc thực thời danh tất đến chọ Người ta nếu biết thấu đạo lý ấy, thời hư danh còn đua đuổi làm gì! Bắt cân công lý mà cân, một li thực nghiệp quí trọng hơn một đồng hư danh, người ta xưa nay quen thói dã man, đua tuồng huyền ảo, giấc chiêm bao lợi lộc, ngày tháng say mê tuồng trò rối hư vinh, trẻ già hớn hở, những mua chuốc hư danh đó, hao biết bao nhiêu tiền của, những trau chuốc cái hư danh đó, tốn bao nhiêu thời giờ, mà hư danh càng ngày càng múa men, thời tướng thực nghiệp không bao giờ xuất thế. Kết quả dân ngày càng nghèo, nước càng ngày yếu, nòi giống mình càng ngày càng đê tiện, mà giá trị người mình cân đi nhắc lại chỉ có "thân bồi phận bếp" mà thôi, việc đáng khóc đáng than, không gì hơn thế! Anh chị em ta, nếu một mai tỉnh giấc mê, thay lốt cổ, những tiền của mua hư danh đó, xây nền thực nghệp, những thời giờ đuổi hư danh đó dùng vào trường thực nghiệp, thực nghiệp đã phát đạt thời nền móng phú cường đã vững bền; giá trị người lao động nước ta chắc cũng có một ngày lừng lẫy tiếng tăm cùng thế giớị
      Tục ngữ có câu rằng: "Trăm năm bia đá vẫn mòn, ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ". Người nước ta nếu biết tham danh thời không gì đáng tham hơn thế nữạ vậy nên bài thuốc "Tự Lập" lại phải gia vào một vị như sau này: "vai thực nghiệp" một gánh càng nặng càng hay.
10. Chương th mười  Cha chng bnh "ái quc gi"
        Chứng bệnh hay giả dối là chúng bệnh chung của người nước ta, mà ở trong chứng bệnh đó lại có một chứng đặc biệt là ái quốc giả.
      Gần mấy năm nay, cuộc Âu chiến cũ vừa xong, mà cuộc "thế giới đại chiến" mới đã toan gây núi, chủ nghĩa quốc gia bành trướng cực điểm, người nước ta bây giờ, ngoài thời bị làn sóng thế giới xô đẩy, ngủ không thể nào yên trong thòi bị dây sắt cường quyền trói đau, mà sống không thể nào khõẹ Lúc bấy giờ những bạn thiếu niên với phường học mới, cho đến những người ngủ say quá độ mớI đánh thót ở trong giấc chiêm bao; thấy con em mà đau đớn cho kiếp ngựa thân trâu, trông non sông mà ngậm ngùi những ngày mưa sầu gió thảm.
      Tiếng hai chử "Ái quốc" mới văng vẳng ở bên tai người ta, hồn ái quốc tuy còn dở tỉnh dở say, mà bóng ái quốc đã nửa mờ nửa tỏ, nào là đám truy điệu, nào là tiệc hoan nghinh, nào là kỷ niệm anh hùng, nào là sùng bái chí sĩ, chuông dồn trống dục, nam bắc hát hò, xem ở trong một đám rần rần rực rực, cũng đã có mấy phần người biết quyền nước mất. Biết quyền nước mất thời tính mạng không còn, hồn nước có về thời giang sơn mới sống. Ngòi bút ái quốc cũng đã có một đôi kẻ múa men, trên tờ giấy nhật trình cũng đã tô vẻ một vài câu thương nòi thương nước.
      Nếu những tấm lòng ái quốc đó thật thà chắc chắn, thời giống Tiên Rồng, giống Hồng Lạc chẳng hạnh phúc lắm saỏ Nhưng tội tình thay! Người ưu thời mẫn thế chẳng bao lăm, mà người bán tiếng mua danh thời đầy đường chật ngõ; giọt nước mắt khóc vẫn đêm ngày chan chúa, mà xem cho kỷ thời rặt là nuớc mắt gừng, tiếng chuông trống kêu hồn, vẫn trong ngoài dóng dã, mà nghe cho tới nơi thời rặt là tiếng chuông trống trò bội; ngoài miệng thời ái quốc mà trong bụng vẫn là ái kim khánh mề đay, khi trước mặt người vẫn ái quốc, mà đến đêm thời tính toan những việc chó săn chim mồị
      Chao ôi! Trời ôi! Ái quốc thế ru?
      Treo mặt nạ ái quốc để phỉnh chúng lừa đời, một mặt thời mua chuốc lấy tiếng chí sĩ nhân dân, một mặt thời ôm chặt lấy lốt ông Tham bà Đốc. Ôi! Các anh em! Ôi các chị em! người Âu châu Nhật Bản, ai ái quốc nhu thế, thà không ái quốc còn hơn, chá vàng ngoài mặt làm tai vạ cho những kẻ chuộng vàng, xức mật đầu môi, làm khổ cực cho những người say mật, vì đã vũ phu mà oan đến ngọc, vì tròng mắt cá mà họa đến châụ
      Ôi! Chứng bệnh ái quốc giả kia, chết nước chết nòi vì chứng bệnh đó, chứng bệnh đó nếu không trừ khỏi 25 triệu dân tộc chắc chôn sống ở rày maị Tôi ngồi sâu nghỉ lặng, khấn nguyện chín phương trời, ước ao thần hộ phật phù, cứu khổ cứu nạn cấp cho tôi vị thuốc để chữa chứng bệnh đó cho người ta, mới được vị thuốc này: "Bụng nhiệt thành".
      Bụng nhiệt thành đó là gốc ở một tấm lòng đỏ của loài ngườị Khi mẹ mới hoài thai thời đã đúc sẵn một hòn máu nóng, đến khi sinh thành trưỡng đại, thời hòn máu đó càng nuôi nấng càng lớn lao, càng nấu nung càng tươi thắm, giọt máu đó xối vào sắt, sắt phải tan, giọt máu đó rưới vào ma, ma phải tránh. Người Nhật Bản có câu rằng "Tinh thành sở chí kim thạch năng khai" nghĩa là khi tinh thành đã tới nơi, dầu đá vàng cũng nức nở. Ông Khổng Tử có câu: "Thất phu bất khả đạt chí", nghĩa là chí vững bền của một người không ai cướp được. Những câu nói đó, đều là vẽ cả nết nhiệt thành người ta, có đầy đủ một tấm nhiệt thành mới trọn vẹn mười phần ái quốc, thành mà không nhiệt thời kém phần nóng sốt, mà cái thành đó dễ nguội, nhiệt mà không thành kém sức vững bền, mà cái nhiệt đó dễ lạnh, đã thành lại nhiệt, đã nhiệt lại thành thời thần quỷ phải kinh, gió mưa chông gai cũng phải dẹp, chỉ có ai sợ ta, mà ta không phải sợ ai, chỉ có ai ỷ lại vào ta, mà ta không ỷ lại vào aị
      Đã biết nước là mẹ ta, thời dầu hy sinh ta với nước mà ta không quản, trong óc chỉ có nước, ngoài việc nước ta không màng gì lợi, ta không thiết gì danh; nhiệt thành thế này mới là ái quốc, ái quốc thế này mới hay cứu quốc.
      Ruột tằm máu quốc thề sống thác với non sông, dạ sắt lòng son chẳng lụt sờn vì mưa nắng, nhiệt thành như vậy, người nước ta có khó gì tự lập đâụ Vậy nên trong bài tự lập lại cần nhất là vị thuốc này: "Bụng nhiệt thành" 10 phân luyện chín.
11. Chương thứ mười một  Chữa chứng bệnh "không biết hợp quần"
        Các chứng bệnh như trên kia là các chứng bệnh cá nhân. Bây giờ lại kể một chúng bệnh như sau này là bệnh chung về đoàn thể. Người ngoại quốc thường khinh bỉ người nước ta, có một câu rằng: "Không có một đoàn thể nào từ ba người trở lên". Câu nói đó, thoạt mới nghe, tưỡng chừng là quá đáng, nhưng xét cho đến tình hình xả hội nưóc ta, tinh thần người dân nước ta, tan tan, tác tác, rạc rạc, ghét nhau, ngờ nhau, ai lo thân nấy, bảo rằng không đoàn thể từ ba người trở lên, vẫn có thể thật.
      Suy cho đến nguyên cớ bởi vì sau đây, thời chỉ vì không biết nghĩa hợp quần mà thôị Hợp quần là saỏ Là hợp cả một bầy lại cho thành một đoản thể. Ví như tay chơn tai mắt có hợp mới thành được một thân; cột kèo rui mèn có hợp mới thành được một nhà; từ việc nhỏ đến việc to, muốn nên một việc, tất phải có một bầy; muốn nên một bầy, tất phải có cách hợp. Thuở xưa giao thông chật hẹp, núi bể chia lìa, mưa gió riêng trời mình, bờ cỏi riêng đất mình, người mình đua đuổi với người mình, dầu kém dầu hơn, dầu thua dầu được, cũng chẳng qua là nhà mình mình ở, của mình mình ăn, nếu không biết hợp quần cũng chưa lấy gì làm tai hại lắm. Thử xem đời bây giờ có thể được ử Bể Đông Tây chung nhau làm một vũng câu; châu Âu Á chung nhau làm một rừng bắn, người đem cả trăm chân nghìn tay, trăm khôn nghìn khéo dắt đoàn kéo lủ mà áp đến nhà mình, xô cửa phá buồng, bửa rương móc túi, bầy người càng đông thời thế người càng mạnh, bầy mình càng ít thời thế mình càng cô, lửa đốt nhà đã tận nóc, nước nuốt thuyền đã tận mui, mà bà con trong nhà, trong thuyền đây hãy còn anh với em cắp dao trỏ nhau, lái với bạn trừng mắt dòm nhau, kể việc rất ngu ở trong loài người có ai hơn thế nữa! Than ôi! Thịt nát thì xương cũng tan, môi mất thì răng cũng la.nh. Nghĩa hợp quần đó còn mờ mịt thêm một ngày thời họa diệt chủng càng câp bách thêm một ngàỵ Ôi! Các anh chị em! Cái chứng bệnh không biết nghĩa hợp quần đó không biết chữa mau, còn chờ gặp ma Chiêm Thành mà gục đầu thú tội saỏ Thấy tình cảnh các anh chị em mà óc tôi nhức, máu tôi sôi, tay chân tôi nổi gai gốc. Tổ tiên ta nếu còn thiêng, nòi giống ta nếu còn phúc thời chứng bệnh ly quần đó chắc được một vị thuốc sẽ chũa lành ngaỵ Tôi nghĩ đi nghĩ lại, suốt mấy đêm ngày mới được một vị thuốc là giãi "Đồng tâm". Đồng tâm nghĩa là người nào người nấy đồng một lòng: giãi đồng tâm nghĩa là ức muôn triệu người kết hợp nhau làm một dây, thân thể tuy khác nhau, mà tinh thần in nhau như hệt. Xưa ông Trụ có ức muôn người, hưng cũng ức muôn bụng: vua tôi Võ Vương có mười người, kết quả thời vua Võ Vương được mà ông Trụ thuạ Đó mới biết rằng tâm đồng nhau thời nhược hóa nên cường, tâm chẳng đồng thời cường hóa nên nhược, Vì sao thế? Lòng khác nhau thời rẽ bầy, rẽ bầy thời mạnh hóa nên hèn; lòng đồng nhau thời chung bầy, chung bầy thời hèn hóa nên ma.nh. Vậy nên hai chử "Đồng tâm" là phương thuốc hiệp quần rất thiêng liêng, rất ứng nghiệm.
      Tuy nhiên có kẻ nói rằng: "đông ngưòi thời tất phải nhiều bụng, nhiều bụng thời không thể nào đồng lòng. Cái sự đồng tâm đó thật là khó khăn lắm". Ôi! Các anh chị em! Câu nói đó thật quá ngu! Xưa nay đồng lòng, không đồng lòng chỉ vì có một cớ: chủng tộc không đồng, ngôn ngữ không đồng, tập tục không đồng, thế mà muốn đồng lòng vẫn khó lắm. Đến như người nước ta, nòi giống vẫn đồng với nhau, ngôn ngữ vẫn đồng với nhau, tập tục vẫn đồng với nhau, mà huống gì lối tử sinh đường vinh nhục lại đồng với nhau; chim ở chung một rừng, cá ở chung một bể, nếu chẳng may bể khô rừng cháy thời một lồng, một tấm vãy còn mong sống sót được saỏ May gặp lúc bây giờ rừng hãy còn cây, bể hãy còn nước, kết hợp cả bầy, đồng một lòng, chung một dạ, tính đường đi đứng, lựa bước lên lui, dắt nhau ra khỏi ngục trầm luân, kéo nhau thoát khỏi vùng đồ thán, xoay họa xưa làm phúc, rửa vết dơ trong pho sử củ, thay lấy vẻ vinh quang biết bao nhiêu công nghiệp lớn lao chỉ ở trong một gốc lòng anh chị em mà nên tất cả. Vậy thời giãi đồng tâm đó thật là phương thuốc khỡi tử hồi sinh của món ta không còn gì hơn nữạ Vậy nên trong bài thuốc "Tự Lập" có một vị thuốc như sau này: "Giãi đồng tâm" một dây càng kiên thực càng tốt.
12. Chương thứ mười hai  Chữa chứng bệnh "mê tín hủ tục"
        Nưóc ta kể người có 25 triệu, kể đất có 70 vạn ngàn thước vuông tây, nếu làm một nước tự lập chắc không khó gì! Cớ sao mà hèn hạ suy đồỉ Thuở xưa còn làm một nước phụ dung, tới bây giờ lại trụt xuống làm một nước nô lê.. Ôi! Nước ta không phải một nước hay saỏ Người nước ta không phải là người hay saỏ
      Không phải, nước ta vẫn là một nước, người nước ta vẫn là người, nhưng chỉ vì dân không có quyền, nên mỗi bước không tự lập. Dân vì sao mà không có quyền? Thời vì dân không trí; dân không có trí; nên mới mê tín quá nhiềụ Bệnh mê tín rất nặng là mê tín quyền vua; vì mê tín quyền vua, nên mê tín quyền quan, mà quyền vua quyền quan lại lợi dụng quyền thần làm xe pháọ Ba quyền đó một ngày một nặng, thời quyền dân không còn một tí gì; quyền dân đã không còn, thời dân dại, dân yếu đuối hư hèn, muôn việc chỉ trông mong vào vua với quan. Vua với quan không làm xong, thời trông mong vào thần; đến thần cũng không làm xong, thời bó tay chịu chết. Mấy ngàn năm trở lại triều đình là bồi bếp của một nhà, nhân dân là ngựa trâu của một họ; mấy mươi triệu đầu đen máu đỏ, còn gì là tư cách người; rặt là mù mà người mù có mắt; rặt là điếc, mà người đếc có tai; rặt là câm; mà người câm có miệng, rặt là què mà người què mà ngưới què có chân tay; cái việc lạ lùng quái gở ở thế gian, không ai như người nước ta nữạ Thăm cho đến gốc bệnh, chỉ vì mê tín những tục hủ cổ mà thôị Mê tín vua, mê tín quan, chưa lấ gì làm kỳ, kỳ thứ nhất là mê tín thần; vì mê tín thần đó mà sinh ra vô số việc nực cười; ngày giờ nào cũng là trời bày định, mà bảo rằng có ngày dử ngày lành; núi sông nào cũng là đất tự nhiên, mà bảo rằng có đất tốt đất xấu; vì nấu ăn mới có bếp mà bảo rằng ông thần táo; vì che mưa gió mới có nhà; mà bảo rằng có ông thần nhà; cho đến thần cửa, thần đường, thần cầu tài, thần cầu tử, trăm việc gì cũng trông mong vào thần, kết quả thời thần chẳng thấy đâu, chỉ thấy cửa nát nhà tan, của mòn người hết.
      Tin thần bao nhiêu thời tai họa bấy nhiêụ Kìa xem như đạo Thiên Chúa chỉ sùng phụng một vị Đức Chúa Trời ngoài ra không thần gì cả, nhưng nuớc vẫn mạnh, nhà vẫn giàu, người họ vẫn sung suớng, họ chỉ thua ta một việc: thần đã không tế thời xôi không, thịt không, heo bò cũng không, mà phần kỉnh phần biếu đều không tất cả; nhưng họ vì đó mà của hao thời ít, của nở thời nhiều, tốn phí vô ích bớt một phân. Ấy mới biết rằng mê tín thần quyền là tục ngu hủ của người ta, thật rõ ràng rồi đó. Tục ngu hủ đó không quét sạch thời nền phú cường kia không bao giờ dựng nên. Nhân vì ngu mà sinh ra hủ, nhân vì hủ lại thêm ngu, mắt người bị người bịt, mà lại bảo rằng trước mí mắt không nước non; tai bị người bưng mà lại bảo rằng bên lổ tai không gió sấm; tay chân bị người người xiềng khóa mà lại bảo rằng tay chân mình đáng số cu li! "Chúng tôi dại dột", câu nói ấy giắt chặc ở bên lưng. Quỳ lạy trước tượng đất hình bùn mà xem làm quốc túy; giữ gìn lấy áo hôi mũ thúi mà bảo rằng gia truyền! Ngẫn ngơ, ngơ ngẫn đến thế thời thôi! Trông người lại gẫm đến ta, thiệt cười dở mà khóc cũng dở.
      Than ôi! Xưa nay chứng bệnh mê tín hủ tục kia phải gấp chữa mau mới có lẽ sống. Tuy nhiên, muốn chữa chúng bệnh đó, phải thế nàỏ Xưa nay, những tập tục hủ bại vì có hai lẽ; một thời vì cơ quan giáo dục chẳng hoàn toàn, một thời vì trí khôn người ta chưa phát đạt.
      Từ thế kỹ 19 trở lại đây, khoa học các nước cảng ngày càng phát sinh, trí não các nước càng ngày càng nẫy nở. Thử xem điện học phát minh mà ông "thần lôi" đã không dám hống hách; địa học phát minh mà nhà phong thủy long hổ đã không dám múa men; sinh lý học phát minh mà thần rắn quỷ trâu đã cùng đường trốn tránh; huống gì học thuyết Lư thoa đã xuất hiện thời quyền dân với quyền lao động đã vùn vùn vụt vụt như gió thổi, như thủy triều lên, dầu ai muốn ngăn mà ngăn sao đặng? muốn cấm mà sao cấm đặng? Ngọn cờ thần quyền chắc rày mai cũng bị trận gió văn minh kia đánh đổ, mà vách tường hủ tục cũ chắc cũng bị làn sóng văn minh kia đánh tan.
      Thế thời muốn chữa bệnh mê tín ngưới nước ta, không thuốc gì hơn trí thức mới nữạ Trí thức đó, nếu tìm tòi suy xét thăm cho tận gốc, dò cho tận nguồn biết tính người là thiêng hơn vạn vật thời không thần gì hơn thần ở tâm; biết nhơn dân là quí trọng hơn vua với quan, thời không quyền gì hơn quyền lao đô.ng. Có óc thời ta dùng sức nghĩ, có tai thời ta dùng sức nghe, có mắt thời ta dùng sức thấy, có tay chân thời ta dùng sức hoạt động, đua khôn đấu mạnh cùng dân các nước đời nay, 20 triệu con Lạc cháu Hổng bỗng chốc mà tỏ ra giòng thần giống thánh.
      Người nước ta có khó gì tự lập đâủ Vậy nên dùng bài thuốc tự lập, phải có một vị dầy "Trí thức mới" 10 phân, trộn vào "hoa tự do" không kỳ nhiều ít.
13. Chương th mười ba Cha chng bnh "không biết đường kinh tế"
        Nếu có ai hỏi rằng: nước vì sao mà mạnh, dân vì sao mà giàủ Thời tôi xin trả lời rằng: "Nguồn bể phú cường chỉ cốt ở đường kinh tế." Người ta nghe hai chử "kinh tế", chưa hiểu nghĩa ra làm sao, huống gì là đường kinh tế. Xưa truyện Đại học có câu rằng: "Sinh chi giả chúng, thực chi giả quả, vi chi giả tật, dụng chi giả thư", nghĩa là của sinh nở ra thời nhiều, của ăn tiêu đi thời ít, người làm của thời cần kíp, người dùng của thời dè dặt. Sách Tây cũng có câu: "Những hạng người sinh ra lợi thời nhiều, những hạng người chia mất lợi thời ít", Góp hai câu nói đó thời cách đường kinh tế, dầu đông tây cũng chẳng khác gì. Nói tóm lại, chỉ có một cách sinh nở thời thường vô cùng, mà tiêu hao thời thường phải hạn, của trời đất sinh ra thời biết đường lợi dụng, của nhân lực làm ra thời biết đường mở mang, có thế mới gọi là "Kinh Tế". Người nuớc ta thời thế nàỏ Việc tiêu dùng thời không biết đường hạn chế, cách làm ăn thời không biết đường cải lương, sự nghiệp dân sinh trong một nước chỉ nhờ cậy về nông, chân lấm tay bồng, kẻ làm khôn hết mực, cày sâu cuốc bẩm, xem làm khéo cùng kỳ. Ngoài mấy đám đồng cạn ruộng sâu, nào khoáng sản, nào sơn lâm, nào công trình nào thủy lợi chẳng biết một tí gì. Người ngoại quốc lấy máy móc đở tay chân tay, mà mình thời không biết đua, của sinh sản ngày không một hào một li, mà của tiêu xài ngày có hàng nghìn hàng vạn; thấy người ta sang trọng, ta cũng sang trọng, nhưng cái đồ sang trọng đó rặt là cắt thịt nhà để vá cánh giặc; thấy người ta sung sướng, ta cũng sung sướng nhưng cái mồi sung sướng đó, rặt là nặn sữa mẹ để nuôi người dưng. Bao nhiêu vật lạ của ngon, nào rượụ nào thuốc, nào trà, nào vải bông, gấm vóc, không một thức gì là tay chân mình chế tạo, mà cũng không một đồng tiền nào không phải máu mủ mình ép ra; tiền của người không một đồng nào vào tay mình, mà máu mủ mình thời trót tháng quanh năm chỉ những trét miệng hùm, no bụng sấụ Trí khôn người ta như thế, còn nói "Kinh Tế" được đâu! Than ôi! Thiên thời ta vẫn tốt, địa lợi ta vẫn giàu, mà tay mắt tay chân ta vẫn không kém gì ai cả! thuốc ta, rượu ta, trà ta, vải vóc ta, không dùng được hay saỏ
      Không chế tạo được hay saỏ Cớ sao thợ thuyền buôn bán thời không thấy tới, mà chỉ thấy lui; xài phí ăn tiêu thời chỉ thấy thêm mà không thấy bớt, đã một mặt thời quen nết tham thanh chuộng lạ, một mặt thời giử nết ở nể ăn không; bể toan khô nước mà ngồi đợi trời mưa, đèn toan hết dầu mà nằm chờ trăng mọc.
      Người ngu ngẩn đến thế, không chết rày thời chết mai, chỉ e mấy tấm ván hòm chưa dự bị bao giờ đă.ng. Tôi nghỉ đến nông nổi thế mà khóc than cho vận mệnh người nước ta, chúng bệnh về đường kinh tế nếu không lo chạy chữa cho mau thời nòi giống chúng ta chẳng tuyệt diệt về thủy hỏa, binh đao, mà tuyệt diệt về đồ ăn thức mặc! Ai là người có tâm huyết, chắc cũng lấy lời nói làm đúng rồị Bây giờ xin nghĩ một vị thuốc để chữa chứng bệnh nàỵ Vị thuốc ấy là giải đấỷ Là vị "Nội Hóa" Trình độ dân ta còn thấp trí thức dân ta còn non, bảo nhờ cậy việc công, việc thương, sẽ đấu mạnh đua giàu với các nước, cái hy vọng đó, ở ngày nay thiệt chưa có được ngay, song e tục ngữ có câu rằng "Khéo ăn thời no, khéo co thời ấm", đồng bào ta bây giờ mà muốn cho được điều no, điều ấm thời phải có một cách khéo mà thôi.
      Đường sanh lợi chưa có thể phát đạt được đến mười phân thời đường tiêu xài phải dè dặt từ một li, một mảy cần thứ nhứt là dùng nội hóạ Đó thiệt là một vị cứu cho chứng bệnh người tạ Đồ ăn ta; ta ăn, đồ mặc ta; ta mặc, đồ dùng ta; ta dùng, dầu mỡ máu mủ ta, ta bồi bổ cho ta, bớt một li của ra tức là thêm một li của vào, bớt một đồng tiền chết, tức là thêm một đồng tiền sống. Nội hóa tiêu dùng ngày càng chảy, thời các món công thương nghề nghiệp cũng nhân đó mà cạnh khéo đua khôn, đắp tư cơ sẽ tạo nên thời, đúc trí tuệ sẽ gây nên thế, họa may bụng đà khỏi đói, mà óc cũng thêm no; dân sinh đã khỏi nỗi khốn cùng thời dân trí cũng có cơ tấn bô.. Theo tạo nhân mà tìm đường kết quả, cái việc chấn hưng nội hóa đó chẳng phải là gấp lắm saỏ Vậy nên trong bài thuốc tự lập phải có một vị thuốc như sau này "Nội hóa" một vạn thức, kiêng ngoại hóạ
     
14. Chương th mười bn "Cha chng bnh" "không biết thương nòi ging"
        Người ta còn một chứng bệnh rất to, là chứng bệnh "không biết thương nòi giống ". Người ta mắc lấy chứng bệnh đó, chẳng những trái hẵn tính loài người, mà với các giống vật có một điễm trí khôn cũng còn thua kém nữạ
      Kể chứng bệnh ác độc thứ nhất, không gì hơn chứng bệnh này: Kìa con ong vẫn có nọc, mà ong ở chung một ổ không bao giờ cắn nhau; cọp vẫn hay ăn thịt, mà cọp ở chung một xứ không bao giờ ăn nhaụ Thường xem bầy kiến, nó vẫn là một loài vật rất nhỏ nhen, mà cũng có một điễm tốt rất lạ: nó ở chung nhau một bộng, có hàng trăm hàng ngàn con, một con đi ra thoạt thấy được mồi ăn, thời tức khắc chạy về tin cho anh em mình cả; tha mồi thời khó nhọc chia với nhau, ăn mồi thời ngon ngọt chung với nhau, không bao giờ được mồi mà ăn riêng cả; lại có khi tránh mưa trốn gió, dắt đoàn kéo lũ đi chung, con nhỏ, con lớn, đoàn trước, đoàn sau, dắt nhau đi không khác gì một đội quân lính; chẳng may giữa đường có con nào bị tử thương thời chúng kiến xúm nhau cõng nó về hang, không bao giờ bỏ bạn chết mà đi cả! Thế mới biết thương nòi giống, dầu loài vật cũng có tấm lòng thành, chung một máu mủ thời họa phúc chia nhau, nghĩa đồng tO17; đồng sinh vẫn trước sau một mực.
      Vật còn như thế, người có lẽ thua nó hay saỏ Quái ngán thay! Lạ lùng thay! Đến người nưóc ta thời khác hẵn! Tục ngữ có câu rằng: "Gà một chuồng bôi mặt đá nhau!" lại có câu: "Kẻ chết đã xanh, người nhăn nanh mà cười!" lại có câu: "Đi ra tưỡng bắt trâu cò, trâu cò không bắt, bắt bò, bò ôi!", mấy câu thí dụ đó, ngẫm nghĩ cho kỹ thiệt là về nết xấu của người nước ta quá đúng rồi đó.
      Ôi! Các anh chị em! Máu in nhau giọt đỏ, da in nhau sắc vàng, đầu in nhau tóc đen, mắt in nhau tròng mắt, giống
      Tiên Rồng, nòi Hồng Lạc trãi qua mấy nghìn năm mới có bây giờ con một họ, cháu một giòng, nếu cứ như lẽ thường chắc máu ai thấm thịt nấy, đánh đá thời đau đến lòng gạch, chết thỏ thời sa nước mắt hồ; vẫn đạo trời có thế mới đương nhiên, mà tính người cũng có thế mới chính đáng. Cớ sao mấy mươi năm gần đây tình hình ở xã hội, cách hành động các anh chị em ta, thương nhau, bênh nhau, chẳng bao lăm người, mà ghét nhau, hại nhau thời không xiết kê?? Rước voi dầy mồ ông vải, cõng rắn về cắn gà nhà, việc đó thiệt bất nhân vô đạo đã quá chừng, mà người mình trở lại nhận làm khôn làm khéo!
      Xin ai thử nghĩ, mồ ông vải trúc, mà voi có ơn gì đến mình không? Một mai gió mây biến hóa, dâu bể đổi dời, voi đã tan xương, rắn cũng đứt nọc, các ngài lúc bấy giờ đêm khuya mò bụng hỏi bóng thăm hình, mồ tan hoang vì aỉ Gà nhao nhác vì aỉ Mình còn mặt mũi nào thấy ông bà ở dưới đất, trông cô bác ở trên đờỉ Đau đớn thay! Tội tình thay! Cái chút bệnh không biết thương nòi giống đó, hú ba hồn chín vía các ngài, nên thang thuốc cho mau mới phải! Bây giờ tôi xin làm ơn cho các ngài vị thuốc này: "Giống thân ái" đó, vào trong lòng ngườị Người v ` có hột giống ấy mới khai nên hoa, mới kết nên quả, mà nòi giống người mới sinh trưỡng vô cùng. Nếu lòng người mà không có hạt giống ấy thời gọi rằng "Lòng chết" .
      Ông Lão Tử có câu: "Ai mạc đại ư tâm tử", nghĩa là người ta lòng chết không gì đau đớn hơn; nếu thiệt lòng người thời bao giờ chết đặng! Lòng mà đến chết, vì không hột "giống thân ái" mà thôị
      Đức Gia Tổ có câu: "Ái nhân như kỹ", nghĩa là thương yêu người như thương yêu mình. Đức Phật Tổ có câu: "Nhất thiết từ bi", nghĩa là không kể người không kể ta, nhứt nhứt luật thương yêu cả.
      Đạo Nho cũng có hai chử "Khiêm ái". Nhà triết học Tây cũng chủ trương hai chử "Bác ái". Xem chừng như những đạo lý các thánh hiền nói đó, thời hể chung một loài người dầu ai cũng nên thân ái, huống gì chung một nòi giống nữa ru! Nòi giống ta, ta thương yêu lấy nhau; có cơm ta no chung, có áo ta ấm chung, có nhà cửa ta ở chung, gặp việc vui ta vui chung, vì hột giống thân ái đó càng ngày càng nẩy nở, hoa tự do nhân đó mà muôn tía ngàn hồng, Nam reo Bắc thổị Việc đồng tâm của 25 triệu nòi giống ta chắc cũng do ta rày mai mà trông được hẳn! Vậy nên ở trong bài thuốc tự lập lại còn có một vị như sau này: giống "thân ái". Hằng hà sa số hột, hột nào càng chắc càng hay!
15. Chương sau hết Bài tóm cách làm vic
        Các chứng bịnh đã chữa lành rồi bây giờ mới tính cách làm việc.
      Thứ nhất là phải có chủ nghĩa, thứ nhì là phải có chương trình, thứ ba là phải có kế hoạch. Có đủ ba điều đó thời việc mới có thể làm nên.
      Bây giờ xin giãi thích điều thứ nhất:
      Hể phàm làm một việc, tất trước phải có chủ nghĩạ Chủ nghĩa có tốt có xấu, có phải có chẳng, Khi ta bắt đầu sắp sửa làm việc thời ta phải hết sức kén chọn
      Thấy chủ nghĩa gì đã tốt lại phải, thời ta phải giử chặc chủ nghĩa ấy mà làm; ví như bắn bia phải nhìn các trung tâm bia cho chắc chắn; ví như vượt bể tất phải dòm xét cái mũi châm phương hướng cho kỹ càng. Trung tâm bia đó đã nhìn được chắc chắn bắn mới không sai, châm phương hướng đó xét được rành thời thuyền đi mới không lỗị Người làm việc mà có chủ nghĩa, đó là vào trường bắn mà xem thấu bia, vặn máy thuyền mà định chắc hướng, Vậy nên người làm việc, trước hết phải kén chọn chủ nghĩa cho vững vàng. Bây giờ lại giãi thích điều thứ nhì: Khi sắp sửa làm việc thời kén chọn chủ nghĩa vẫn cần lắm; nếu đã có chủ nghĩa mà khi bắt tay vào làm mà không có chương trình, thời như người đánh cờ mà không tính suốt cả bàn, vội vàng lụp chụp, thấy nước thời đi, nước sau đem lại nước trước, nước trước đem lại nước sau, thời bàn cờ đó tất nhiên phải thuạ Vì vậy, làm một việc gì, tất phải định một cái chương trình cho việc ấỵ Ví như muốn đi một lối đường từ Huế ra Hà Nội, tất phải tính toan từ khi bước chân ra đi, cho đến khi tới Hà Nội, tiền đi xe lửa tốn hết bao nhiêu, tiền đi ô tô hết bao nhiêu, tiền đi xe tay và tổn phí ở trên xe hết bao nhiêu, lại phải nghĩ trước cả mọi điều, như giấy thông hành, giấy căn cước, đồ hành trang, người đày tớ, với giữa đường phải xuống ga nào; đến nơi thời trú những nhà nào; vả lại, khi giữa đường hoặc khi đến nơi, có điều gì trở ngại hay không, thời phải tính làm cách gì cho trơn chảỵ Lại như tiền tổn phí, tất phải phòng dự, chớ "đo bò làm chuồng", lỡ khi thiếu thời dang dở; việc phòng bị tất phải sắp đặt sẵn sàng, chớ "bắc nước đòi gà"; sợ khi gấp thời không xong.
      Người trỏ lối đưa đường phải lựa cho thập phần chắc chắn, chớ có rước thầy mù coi đất mà đến khi lỡ làng. Tính toán các điều ấy đủ rồi thời ta định sẵn một cái chương trình, việc gì trước ta làm trước, việc gì sau ta làm sau, việc gì lành ta theo, việc dữ thời ta tránh. Chương trình chắc chắn, noi đó mà đi, có sợ gì đi không tới nơi đâủ Bây giờ lại giãi thích về điều ba: Hể phàm một chủ nghĩa vẫn chính đáng, chương trình vẫn tinh tường, còn một điều đáng lo là còn sợ kế hoạch không được hoàn thiện, vậy nên cần có kế hoa.ch. Ông Khổng tử có câu rằng:
      "Hiếu mưu nhi thành", nghĩa là làm việc phải có tìm mưu mẹo, mà mưu mẹo phải tìm cho đến chốn đến nơị Sách Binh thư có câu: "Đa toán thắng, thiểu toán bất thắng", nghĩa là tính toán được nhiều nước thời ăn hơn, tính toán được ít nước thời phải thuạ Ví như hai người vật nhau một người sức mạnh mà không có mẹo, một người sức yếu mà có nhiều mẹo, thời người sức yếu chắc ăn hơn. Cái mẹo đó, tức là kế hoạch; mà trong khi tính toán kế hoạch, thời phải đủ ba điều: một là cân nhắc về phần trí khôn; hai là cân nhắc về phần lực lượng; ba là cân nhắc về phần thời thế. Lựa trong ba điều đó, mà tính toan bày đặt cho đủ cả mọi đường, như làm một bài tính, không bỏ sót một con số nàọ Đó là kế hoa.ch. Việc thiên hạ đầu nhỏ đầu to, nhưng mỗi một việc tất phải có một kế hoạch; nếu kế hoạch được tinh tường chu đáo, thời có việc gì là chẳng nên? Nói tóm lại, làm việc phải có chủ nghĩa, mà mình đối với chủ nghĩa tất phải hết sức trung thành, thà là vì chủ nghĩa mà giết mình, chẳng nên vì mình mà giết chủ nghĩa. Như ông Tôn Văn trót một đời người hết sức trung thành với "Tam Dân chủ nghĩa", thật là gương cho ta đó. Còn ngoài ra như chương trình tất phải châm chước cho kỹ càng, tổ chức cho hoàn thiện, mà lại phải có kế hoạch cho kỹ càng thời chương trình mới thực hành được; nếu có chủ nghĩa mà không có chương trình, thời chủ nghĩa không bao giờ thực hiện; nếu có chưong trình mà không kế hoạch thời chương trình không bao giờ thành công. Vậy nên ở trong cách làm việc phải cần có cả ba điều đó.
      Lại còn có một lẽ người ta cần phải biết, biết không thấu thời làm không xong. Ông Tôn Văn có câu nói rằng "Tri nan hành dị", nghĩa là biết được rành thời khó; đã biết rồi mà làm thời dễ. Nếu anh em làm việc cần phải biết cho rành. Lại còn một tệ bệnh, người ta càng nên biết lắm.
      Thí dụ: Muốn lấy trộm một nhà ông giàu thời làm thế nàỏ những khi bình thường phải giả ngẫn giả ngơ, giả khờ giả dại, chớ cho ông nhà giàu đó biêt mình là kẻ trộm bợm. Vậy sau khi thực hành mới dễ được thành công. Ông Lão Tử có câu nói rằng: "Đại trí nhược ngu", Nghĩa là những người khôn rất to thời phải làm như hình người ngụ Lại có câu rằng: "Đại xảo nhược chuyết", nghĩa là những người khéo rất to, thời phải làm như hình người vu.ng. Vậy nên những người muốn làm việc, trước phải bồi dưỡng hai cái tinh thần:
      1 Tinh thần nín nhịn;
      2 Tinh thần tránh tiếng.
      Hay nín nhịn thời chớ có giận vặt với hung hăng những thói vũ phu; hay tránh tiếng thời chớ có bán tiếng mua danh, để cho những người tầm thường không kể mình là giỏi mới là haỵ
      Sách Binh Thư có câu rằng: "Tịnh như xử nử, động như thoát thố". Câu trên nghĩa là: Khi ta hãy còn lặng lẽ, thời êm đềm kín đáo như chị con gái chưa lấy chồng ở trong một chốn buồng sâu, vẫn mình là rất muốn lấy chồng, mà không để cho ai biết". Câu nói đó là bày vẻ cách kế hoạch cho người ta làm việc. Câu nói dưới nghĩa là: "Khi ta hành động tất phải nhìn theo thời thế mà theo cho gấp, như con thỏ ở trong lồng mà được xổ ra, thời bổng chốc mà chạy rất mau, dầu ai lanh đến mấy cũng không có thể bắt được nó". Câu nói đó là bày vẻ cho cách người ta hành động. Cách làm việc nếu được như hai câu nói đó thời việc gì cũng thành công; nếu không được như hai câu nói đó, thời việc gì cũng thất bại.
      Tuy nhiên, lại có một lẽ: Hể phàm tính việc thời tất muốn thành công, mà đã có gan làm việc thời lại phảI không sợ thất bại; bởi vì, hể làm việc tất phải trải qua một lối thất bại mới đến thành công.
      Sách Tây có câu: "Thất bại là mẹ đẻ ra thành công". Tục ngữ ta có câu rằng: "Đứt tay mới hay thuốc", Vây nên những việc thất bại, chính là trường học thiên nhiên mà dạy bảo cho mình đến thành công. Người ta chỉ sợ mình không có gan làm việc, còn thất bại thời không nên sợ gì; càng thất bại càng làm, càng làm càng sinh ra khôn khéo; trải qua một phen thất bại thời thêm ra được một mối thành công. Vậy mới biết: Thất bại là mẹ đẻ ra thành công, có thế thật!

    

No comments: