Saturday, November 26, 2016

SƠN TRUNG * CÁC HẠNG TRIẾT LÝ




CÁC HẠNG TRIẾT LÝ
SƠN TRUNG



Người Việt Nam tổng quát hóa sự vật cho rằng các sự vật và con người ta không ai giống nhau, trong trăm ngàn sự việc và hàng triệu người it nhất ta cũng thể phân loại vào ba hạng như câu tục ngữ :" của ba loài, người ba đứng". Thật vậy, tiến sĩ có ba bảy loại, không phải có danh tiến sĩ là ai cũng giống nhau. Có tiến sĩ thật, tiến sĩ ma, tiến sĩ mua, có tiến sĩ lạy...Nhà nho cũng vậy. Không phải ai đến của thánh là có đạo hạnh, có nho quân tử, nho tiểu nhân.Người ta cho rằng văn chương thì đẹp còn triết lý thì cao thâm.


Wikipedia định nghĩa Triết học là bộ môn nghiên cứu về những vấn đề chung và cơ bản của con người, thế giới quan và vị trí của con người trong thế giới quan, những vấn đề có kết nối với chân lý, sự tồn tại, kiến thức, giá trị, quy luật, ý thức, và ngôn ngữ. Triết học được phân biệt với những môn khoa học khác bằng cách thức mà nó giải quyết những vấn đề trên, đó là ở tính phê phán, phương pháp tiếp cận có hệ thống chung nhất và sự phụ thuộc của nó vào tính duy lý trong việc lập luận.
Trong tiếng Anh, từ "philosophy" (triết học) xuất phát từ tiếng Hy Lạp cổ đại φιλοσοφία (philosophia), có nghĩa là "tình yêu đối với sự thông thái.

Giáo sư Lê Tôn Nghiêm định nghĩa triết lý như sau:

Những cố gắng định nghĩa triết lý,nhưng không một định nghĩa nào thành công.
Ngoài những điều trên còn cần tới những phương thức khác để diễn tả ý nghĩa của triết lý. Nhưng không một phương thức nào diễn tả nỗi ý nghĩa ấy và cũng không có một phương thức nào trôi vượt cả. Ngày xưa, theo đối tượng, thì người ta định nghĩa triết lý là biết được những vấn đề về thần minh và nhân loại, hay biết được sự hữu theo tính cách là sự hữu.
Theo mục đích, thì triết lý được coi là học để biết chết hay triết lý là biết dùng tư tưởng để tìm hạnh phúc hoặc để thành thần.
Sau cùng theo nội dung, người ta định nghĩa triết lý là lối biết vượt trên mọi lối biết, là nghệ thuật vượt trên mọi nghệ thuật, hay đúng hơn, là môn học không bị hạn hẹp vào một địa hạt riêng biệt nào cả.
Ngày nay, muốn trình bày ý nghĩa triết lý, người ta có thể dùng những phương thức sau đây:
Triết lý muốn nhìn thấy Sự Hữu nguyên thủy, là muốn lý hội được Sự Hữu ấy nhờ sự tự phản tỉnh của tôi với tôi mỗi khi tôi suy tư bằng phản tỉnh.
Hay triết lý là mở đường cho mỗi cá nhân tiến sâu vào Bao dung thể[7], hay triết lý là dám đối thoại với người khác bằng một tình chiến đấu huynh đệ[8] về bất cứ một vấn đề gì.
Hay triết lý là phải có tinh thần minh mẫn không biết mệt mỏi hay chán nản, cả những khi phải chạm trán với những con người vô cùng xa lạ chỉ muốn khép kín, chỉ muốn từ khước.
Tóm lại triết lý là đường dẫn con người về trọng tâm, nơi đây họ mới nhận thức được chính họ trong khi dấn thân vào cuộc đời.
(Karl Jaspers. "Triết lý là gì?", trong Triết học nhập môn. Lê Tôn Nghiêm dịch. Bộ Giáo dục và Thanh niên - Trung tâm học liệu xuất bản, 1969, tr. 30-36.) 
Wikipedia phân loại ra nhiều loại triết lýnhư sau:
2.1 Chủ nghĩa duy vật2.1.1 Triết học Marx-Lenin
2.2 Chủ nghĩa duy tâm
2.3 Chủ nghĩa hiện thực
2.4 Chủ nghĩa duy danh
2.5 Chủ nghĩa duy lý
2.6 Chủ nghĩa kinh nghiệm
2.7 Chủ nghĩa hoài nghi
2.8 Chủ nghĩa lý tưởng
2.9 Chủ nghĩa thực dụng
2.10 Hiện tượng học và thuyên thích học 
2.11 Chủ nghĩa hiện sinh
2.12 Triết học phân tích
3 Triết học phương Tây
3.1 Triết học Hy Lạp - La Mã
3.2 Triết học thời Trung cổ
3.3 Triết học phương Tây hiện đại

Chỉ riêng về chủ nghĩa xã hội, Marx đã chia ra nhiều hạng rất xấu, chỉ có triết lý Marx là tốt đẹp nhất. Trong Tuyên Ngôn Cộng sản, Marx chỉ trích:
-Chủ nghĩa xã hội phản động
-Chủ nghĩa xã hội bảo thủ hay chủ nghĩa xã hội tư sản
-Chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản không tưởng - phê phán .


Đây xin nói về các hạng triết lý không phải theo trường phái hay ngành nghề mà chỉ xét về lợi hại, tốt xấu cho con người.
Ta có thể tạm chia ra bốn hạng:
-Triết lý giản dị, dễ thực hành trong đời sống
-Triết lý có vẻ lý tưởng nhưng không phù hợp trong đời sống
-Triết lý thấp kém, lạc hậu
-Triết lý độc hại

I. TRIẾT LÝ GIẢN DỊ, DỄ THỰC HÀNH TRONG ĐỜI SỐNG

Trời đất sinh ra âm dương do đó màcó ngày, có đêm, có mưa, có nắng, có nam, có nữ.Từ đó mà có yêu đương, thành vợ, thành chồng, tạo dựng mái ấm gia đình. Gia đình là nền tảng của xã hội. Thời De Gaulle mới lên cầm quyền, nhà nước Pháp đã đề cao ba chữ "Cần Lao- Gia Đình và Tổ quốc". NguyễnĐình Chiểu khuyên các thế hệ sau:" Trai thì trung hiếu làm đầu". Người ta cho rằng loài vật sống thành bầy tức là theo chủ nghĩa cộng sản, nhưng sống đàn bầy không có nghĩa là theo chủ nghĩa cộng sản là vì chúng cũng có vợ chồng hang ổ, tổ ấm riêng chứ không như Marx nghĩ! Khi đã có vợ chồng, con cái, tất nhiên có yêu thương. Đến kỳ sinh nở, hai vợ chồng tha rác làm tổ, đào hang lập mái ấm gia đình, rồi thay nhau ấp, bảo vệ con và tha mồi về cho con ăn. Tình yêu bao giờ cũng là con đường hai chiều :" phụ từ, tử hiếu". Loài vật cũng có lòng nhân từ và hiếu thảo. Vậy trung hiếu là nhiệm vụ thiêng liêng của con người. Việt Nam có nhiều câu ca dao nói về tình cha mẹ và con cái:"

Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa Mẹ như nước trong nguồn chảy ra.
Một lòng thờ mẹ kính cha,
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con".

Ca dao có câu:
Nuôi con chẳng quản chi thân.
Bên ướt mẹ nằm, bên ráo con lăn.
Biết lấy chi đền nghĩa khó khăn.
Lên non xắn đá xây lăng phụng thờ....

Tản Đà trong Lên Tám đã nói lên tình mẹ thương con, hy sinh cho con:

Thân con mẹ lo cho
Thân mẹ, mẹ không lo
Mẹ rét con thường ấm
Mẹ đói con thường no.
Khổng giáo nêu lên đạo tam tòng.


Đề cập sớm nhất về tam tòng có thể là sách "Lễ ký". Trong thiên "Giao đặc sinh" có chép: "Phụ nữ là phải theo người, lúc nhỏ theo cha anh, lấy chồng thì theo chồng, chồng chết thì theo con" (婦人,從人者也;幼從父兄,嫁從夫,夫死從子)

Từ khi Pháp sang, lớp tân học mai mỉa. Nhưng thử nghĩ mà coi. Con còn nhỏ không theo cha mẹ thì theo ai. Đi lấy chồng không theo chồng thì theo ai? Lẽ tất nhiên trong xứ đa phu hay mẫu hệ, người con trai phải tòng thê! Chồng chết thì ở với con, nếu tái giá thì phải theo chồng.Đó là thuận tự nhiên. Xứ Âu Mỹ tự do nhưng con cái phải vâng lời cha mẹ, cha mẹ chịu trách nhiệm nuôi nấng và giáo dục. Đến 18 tuổi, đưá trẻ có thể tự lập. Trước đây kinh tế phồn thịnh, sinh viên có thể đi làm ngoài giờ, tiền bạc rủng rỉnh, có thể ra ngoài thuê nhà riêng ở với bạn gái.

Nhưng từ khi kinh tế toàn cầu khủng hoảng, tốt nghiệp đại học cũng đành thất nghiệp, tất phải nương nhờ gia đình. Con không tòng phụ mẫu thì tòng ai? Đừng tưởng học sinh Âu Mỹ tự do muốn làm gì thì làm. Không phải vậy.Học sinh học kém hoặc làm sai điều gì thì nhà trường gọi cha mẹ lên để tường trình sự việc. Gia đình và nhà trường kết hợp nhau để dạy trẻ nên người.
 Nói chung, trung hiếu và nhân nghĩa, bác ái là mục tiêu giáo dục trong nhà trường quân chủ và tư bản. Những điều đó là thuận tự nhiên giúp con người phát triển.

Trung Cộng đã có mô hình cộng sản vô gia đình để phá vỡ truyền thống. Nam nữ ở riêng cuối tháng ai lao động tốt thì được đến trại nữ vui chơi. Con đẻ ra nhà nuớc nuôi hay lấy thai nhi làm thuốc đại bổ cho lãnh tụ, hay bắt buộc nạo thai. Việc nạo thai cai đẻ rất quan trọng cho nên Đại Tướng Võ Nguyên Giáp tài kiêm văn võ, được tấn phong làm chủ tịch viện khoa học chuyên việc giữ chân đàn bà! Nhưng rồi cái mô hình cộng sản trong Công xã nhân dân tốn kém quá nên Mao bỏ! Hỡi ai muốn nuôi con hay giao con cho cộng đảng nuôi để chúng thành gian phi đạo tặc?

II. TRIẾT LÝCÓ VẺ LÝ TƯỞNG NHƯNG KHÔNG THICH HỢP TRONG ĐỜI SỐNG

1.Cung Vương nước Sở đi săn, giữa đường đánh mất cung. Các quan theo hầu cố xin tìm cho được. Cung Vương nói: Thôi tìm làm gì nữa! Người nước Sở đánh mất cung, lại người nước Sở bắt được cung, đi đâu mà thiệt (Cổ Học Tinh Hoa).

Như thường tình, khi vua bị mất một món đồ, thì vua giận dữ, quát thét quan quân đi tìm kiếm, và trừng trị những kẻ có trách nhiệm giữ gìn đồ đạc của vua. Thường thường con người mất đi một sợi lông cũng làm ra to chuyện, nhất là khi họ có chút quyền lực trong tay.Thế mà vua Sở không giận dữ, lại có thái độ ôn hòa, bình tĩnh.

Con người như vậy rất hiếm có ở trong cõi đời này.Khi nghe truyện trên, chúng ta quả thật kinh phục tấm lòng bác ái của vua nước Sở.

Sách Cổ Học Tinh Hoa có ghi lời bàn như sau:Vua đánh mất cung, không nghe lời các quan bắt tìm cung, thế là có lòng thương dân, không muốn làm phiền đến dân. Vua lại nói một người nước Sở mất cung chịu thiệt, thì có một người nước Sở được cung có lợi, thế là đã có lòng muốn lợi cho dân cả một nước.Tuy nhiên, đức Khổng Tử thì lại có ý chê bai. Khi nghe chuyện trên, Ngài bảo: Đáng tiếc cho cái chí vua nước Sở không làm to hơn được nữa! Hà tất phải nói : “ Người nước Sở? ”
Giá nói: “ người đánh mất cung, lại người nhặt được cung thì chẳng hơn ư?” (Thuyết Uyển).

Khổng Tử chê là hẹp, là vì vua Sở chỉ biết có người nước Sở lấy bờ cõi nước Sở mà làm giới hạn cho cái lòng nhân ái của mình. Cứ như ngài nói, mời thực rõ cái nghĩa bác ái, tức là cái lòng rộng yêu hết cả nhân loại, không phân di chủng hay ngoại quốc gì nữa. Cùng một ý với câu thầy Hạ Tử nhắc lời ngài mà đáp Tư Mã Ngưu rằng: “Người bốn bể đều là anh em cả”. Nói rộng ra: chỉ có lý vô phân biệt, trí vô phân biệt, vật ngã nhất thể thì mới hết sạch chướng ngại mà hoan hỉ vô cùng!

Theo thiển kiến, lời phê bình của đức Khổng là hơi quá đáng. Mỗi người trong đời đều có một vị trí, một vai trò, một địa vị. Cung vương là vua nước Sở cho nên Ngài quan tâm đến nước Sở, và đề cập đến nước Sở là đúng vai, trò, vị trí và giới hạn của Ngài. Còn Khổng tử là ông thầy của thiên hạ, lo việc thiên hạ ( tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ) cho nên Ngài có thể nói đến thiên hạ mà không bị ai chê cười là vu khoát. Trái lại, nếu chúng ta chỉ là thường dân, chỉ là cha của mấy đứa trẻ thì chỉ nên lo chuyện gia đình, đừng đại ngôn, mặc dầu ta có quyền tự do ngôn luận bàn chuyện năm châu bốn bể!

Con người ở đời dù là thường dân hay vua chúa đa số tham lam, muốn tăng gia tài sản, muốn chiếm đoạt của cải của người khác. Tuy nhiên, bảo vệ tài sản của mình là một quyền lợi chính đáng. Luật pháp của nhà nước công minh là phải bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân trong nước.Tư tưởng của vua Sở là mang tính chất triết lý công bằng bác ái của Nho gia , Lão gia và Phật gia.Phật giáo đề cập đến vô phân biệt tâm. Ta nên có cái tâm rộng rãi, yêu hết chúng sinh, không phân biệt ta với người. Ông vua nước Sở phát biểu như vậy là ông không phân biệt vua và dân, coi mọi người trong nước Sở là bình đẳng, không có vua tôi, không có kẻ mất người được. Và chinh ông là bậc thánh , đã nhập Khổng Phật Lão vì ông được không vui, mất không buồn, luôn luôn an nhiên tự tại.

Tuy nhiên, thực tế không phải như vậy. Ta cày cấy suốt năm, ta dệt vải suốt mùa, khi thâu hoạch, ta mang ra chợ bán nhưng bị mất tiền , có thể ta vô ý làm rơi hay bị quân gian móc túi, ta không thể thản nhiên mà bảo: "Người Sở mất tiền, người nước Sở được tiền, không đi đâu mà thiệt!"Làm sao ta có thể an tâm khi ta không còn tiền bạc để trả tiền nhà, tiền điện nước và lo lương thực, quần áo cho vợ con ta ?Khi quốc gia ta rơi vào tay bọn gian tham, tàn ác, chúng bán đất đai tổ tiên cho ngoại bang, cướp đoạt tài sản của nhân dân, ta lẽ nào ung dung mà bảo:" Người nước Việt mất đất thì cũng có người Việt thêm vàng bạc, không đi đâu mà thiệt!"
Lại nữa, khi nước ta bị ngoại bang xâm lược, lẽ nào ta cười mà bảo" Người Việt mất đất thì người nước khác được đất, cũng là người với nhau, có sao đâu!"Nếu lý luận như vậy là ta đã đi theo bọn bán nước hại dân!Người yêu nước, thương dân phải biết tranh đấu cho tổ quốc và nhân dân, không thể để cho nhân dân bị mất tự do dân chủ và bị tước đoạt đời sống.Tuy nhiên, trường hợp kể trên là phạm vi nhỏ, là trường hợp đặc biệt. Cây cung chỉ là vật tầm thường cho nên vua Sở có thể bình tâm mà nói như thế. Nếu như nhà vua mất cây Thái A kiếm, hay viên ngọc bich Biện Hòa, hay vợ con bị người khác chiếm đoạt, giang san của Ngài bị người nước Sở chiếm mất và bản thân ngài phải lưu vong hay bi giam cầm, chắc ngài đã không bình thản mà nói về lẽ được mất như vậy!

2. Kinh Thánh có dạy:Các con có nghe nói, ‘Mắt đền mắt, răng đền răng.’ Nhưng ta bảo các con: Đừng chống trả kẻ ác. Nếu ai tát má bên mặt, đưa luôn má bên trái cho họ. Nếu ai kiện các con ở tòa để lấy áo trong, hãy cho họ lấy luôn áo ngoài. Nếu ai ép các con đi một dặm với họ, đi luôn hai dặm. Ai xin gì thì hãy cho họ. Ai muốn mượn gì thì đừng từ chối.(Ma-thi-ơ 5)
Việc này khó thực hiện vì chúng ta có tham, sân si, và cũng vì danh dự, vì nhiệm vụ bảo vệ lẽ phải không thể cúi đầu trước kẻ ác.

Như người Hồi giáo cực đoan thời trung cổ đem binh lực giết Phật giáo và Thiên chúa , mà nay lại ôm bom tự sát, khủng bố ở nhiều nơi, nhất là tại Pháp. Vây ta cứ để cho họ tàn sát nhân dân vô tội và tiêu diệt Thiên Chúa giáo ư? Ngày nay, Hồi giáo cực đoan đã phá tượng Phật ở Afganistan, và gây chiến với Phật tử ở Miến Điện, ta để mặc họ tàn ác như thế ư?
Ông Ngô Đình Diệm trước khi chết đã dặn : "Hãy trả thù cho tôi", và một số Cần Lao nay chạy sang Mỹ rồi mà vẫn cứ nuôi lòng căm hận Mỹ, Dương Văn Minh và Hòa thượng Trí Quang đó sao! Con người tầm thường có quyền thù hận nhưng yêu ghét phải cho đúng.

4. Trong Kinh Pháp Cú, Ðức Phật có dạy:
Lấy oán báo oán, oán nghiệp chập chùng.
Lấy ơn báo oán, oán nghiệp tiêu tan.
Lão Tử dạy "Lấy Đức Báo Oán" [Đạo Đức Kinh, ch 63]Học trò của Khổng Tử hỏi Ngài:
- Lấy Đức báo oán thì sao ạ?
Khổng Tử đáp:
- Thế thì lấy gì để báo đức? Phải lấy công bằng mà báo oán, lấy đức mà báo đức.
(Hoặc viết: Dĩ đức báo oán, hà như? Tử viết: Hà dĩ báo đức? Dĩ trực báo oán, dĩ đức báo đức) [Luận Ngữ, Hiến Vấn]

Quan niệm của Khổng tử gần với người hơn là Lão và Phật.


III. TRIẾT LÝ THẤP KÉM ,LẠC HẬU

Ở trên đã nói hiếu và trung là hai nhiệm vụ của người con đối với cha mẹ và người dân đối với nước. Hồ Chí Minh bảo dân chỉ trung hiếu với bè lũ cộng sản tham tàn. Đó là tư tưởng và đạo đức của một tên đa dâm , hãm hiếp gái tơ, giết vợ, và giết dân gây ra suy đồi xã hội. Trước đây một số Nho học cực đoan nói rằng quyền của vua và cha là tối thượng:"

Quân sử thần tử thần bất tử bất trung. Phụ sử tử vong, tử bất vong bất hiếu.
Câu này không do Khổng Tử hay bách gia chư tử nói ra, mà do Thái tử Phù Tô nói khi nhận lệnh vua cha là Tần Thủy Hoàng bắt phải chết do Lý Tư ngụy tạo di chiếu. Tướng Mông Điềm đề nghị đem quân về kinh đô xem có thực là di chiếu của Tần Thủy Hoàng nhưng Thái tử Phù Tô cản lại bằng câu nói: “Quân sử thần tử ,thần bất tử bất trung; Phụ sử tử vong,tử bất vong bất hiếu”


Nho gia dạy con phải hiếu, phải vâng lời cha mẹ. Lấy LỄ mà thờ cha mẹ không phải cha mẹ làm điều gì trái đạo cũng theo. Khổng tử nói: “ Sự phụ mẫu cơ gián,kiến chí bất tòng, hựu kính bất vi, lao nhi bất oán” ( làm con thờ cha mẹ, như thấy cha mẹ lầm lỗi thì nên can gián một cách dịu ngọt. Như thấy í tứ cha mẹ chẳng thuận theo lời khuyên của mình, thì mình vẫn một lòng cung kính và chẳng trái nghịch. Như cha mẹ giận mà khiến mình làm công việc cực khổ, chớ có đem dạ oán hờn – Luận ngữ: Lí nhân IV, 18)
Khổng tử khuyên người ta thờ cha mẹ một cách sáng suốt. Không phải bất kỳ điều gì cha mẹ sai khiến đều vâng theo, gọi là có hiếu. Người có hiếu nên biết phân biệt những điều lành của cha mẹ mà tuân theo, những điều dữ của cha mẹ mà can gián. 

Vua Ai công nước Lỗ hỏi Khổng tử rằng: “ Con theo mệnh cha có phải là hiếu không? Tôi theo mệnh vua có phải là trung không?”. Hỏi ba lần mà Khổng tử không trả lời. Lúc Khổng tử ra ngoài, Khổng tử đem chuyện ấy nói với Tử Cống và hỏi í Tử Cống thế nào. Tử Cống thưa: “ Con theo mệnh cha là hiếu, tôi theo mệnh vua là trung, còn ngờ gì nữa?” – Khổng tử nói: “Ngươi không biết gì. Đời xưa đấng minh quân làm vua nước vạn thặng có tránh thần bảy người thì vua không làm điều lỗi; làm vua nước thiên thặng có tránh thần năm người, thì xã tắc không nguy; làm chủ một nhà, có tránh thần ba người thì lộc vị không suy. Cha có tránh tử, thì không hãm vào điều vô lễ; kẻ sĩ có tránh hữu, thì không làm điều bất nghĩa. Cho nên con theo mệnh cha há đã là hiếu, tôi theo mệnh vua há đã là trung. Chỉ có biết xét cái đáng theo mà theo, mới gọi là hiếu, là trung vậy” (Khổng tử gia ngữ: Tam thứ, IX).
Xem thế làm điều hiếu, không phải cha làm thế nào cũng phải theo. Có khi cha làm điều gì trái lẽ, thì phải hết sức can ngăn, để cho cha khỏi bị những điều lầm lỗi. Nhưng chỉ cốt phải theo lễ mà can ngăn. Hiếu có hợp lễ mới thật là hiếu.( xem Trần Trọng Kim, Nho giáo ,quyển thượng – in lần thứ tư, Nxb Tân Việt- Sài Gòn, trang 142-143). Bởi thế Mạnh tử bảo Tề Tuyên vương rằng: “Quân chi thị thần như thủ túc, tắc thần thi quân như phúc tâm. Quân chi thị thần như khuyển mã, tắc thần thị quân như quốc nhân. Quân chi thần thị như thổ giới, tắc thần thị quân như khấu thù”(Vua xem bề tôi như tay chân, thì bề tôi xem vua như bụng như lòng. Vua xem bề tôi như chó ngựa, thì bề tôi xem vua như người lạ trong nước. Vua xem bề tôi như đất như cỏ thì bề tôi xem vua như giặc như thù- Mạnh tử: Ly lâu ,Chương cú hạ,3).

Ngày nay các nuớc có luật lệ phân minh không có vụ thanh toán bí mật như cộng sản. Theo pháp luật văn minh, chồng không được đánh vợ, cha không được đối xử con cái cái một cách tàn bạo. Câu "Thương cho roi cho vọt" không còn giá trị. Cha mẹ , thầy cô đả thương trẻ sẽ bị pháp luật trừng trị!

6. Truyện cổ Ấn Độ Trong kinh Hiền Ngu, có kể chuyện tiền thân của Phật là thái tử Ma Ha Tát Đỏa đi vào rừng thấy một con hổ mẹ và hai hổ con đang chết đói, thái tử động lòng thương nên hy sinh thân mạng, tự lấy cây nhọn đâm vào cổ họng cho máu phọt ra để mấy mẹ con hổ liếm và sau đó ăn thịt ngài.

Một truyện khác là truyện Phật Bố Thí Thân Cho Cọp Đói
Khi Phật nói Kinh Kim Quang Minh, bỗng nhiên có tháp báu từ đất vọt lên. Thấy thế, ngài A Nan bạch Phật, “Do duyên cớ gì mà tháp báu từ đất vọt lên?”
Phật dạy: Vào thuở quá khứ xa xưa, có nhà vua cai trị một vương quốc rộng lớn, đất đai phì nhiêu, dân chúng đông đúc. Nhà vua hiền từ đức hạnh, thương dân như con ruột. Hoàng hậu cũng là người xinh đẹp và thuần lương. Hoàng hậu sanh cho nhà vua được ba hoàng tử, người nào cũng tuấn tú khôi ngô, văn võ song toàn. 

Một hôm, vào mùa xuân trăm hoa nở rộ, chim hót líu lo. Bướm ong bay lượn để lấy mật hoa, trông rất xinh đẹp. Thấy thời tiết quá đẹp nên ba hoàng tử xin vua cha và mẫu hậu vào rừng thưởng ngoạn. Vua cha và mẫu hậu thương con nên cho đi. Nhưng dặn sớm hãy trở về, để cha mẹ khỏi trông đợi.
Ba hoàng tử vào rừng, thấy ba mẹ con cọp bị đói đã lâu ngày, nên thân thể ốm gầy và hình như cọp mẹ muốn ăn cọp con. Ba hoàng tử thấy rất thương xót nhưng không có gì cho ăn. Hoàng tử thứ ba, Tát Đỏa, hỏi hai anh, “Con cọp ăn những gì?”
Hai hoàng tử anh đáp, “Cọp chỉ ăn máu nóng thịt tươi.” 

Đi một đoạn, hoàng tử thứ ba xin vào rừng để đi cầu. Hai người anh chời đợi lâu mà không thấy em trở về lại. Hai anh sanh tâm nghi rồi đi trở lại tìm kiếm em thì, hỡi ôi, em mình đã đem thân bố thí cho ba mẹ con cọp đói.
Cọn đã ăn hết chỉ còn bộ xương dính máu và cái đầu. Ba mẹ con cọp dẫn nhau vào rừng. Hai người anh quá đau xót thương em nên ôm đầu em khóc thảm thiết. 

Mẫu hậu ở nhà ngủ trưa, nằm mộng thấy chim ó bắt chim bồ câu. Thức giấc, bà hãi hùng, đến tâu vua điềm chiêm bao. Vua cùng hoàng hậu, binh lính, tức tốc đi vào rừng tìm ba hoàng tử.
Khi đến nơi, thấy hai hoàng tử anh ôm đầu em khóc nức nở. Vua và hoàng hậu cũng không cầm được nước mắt. Mọi người đều khóc thảm thương tiếc, quyến luyến không chịu về. 

Hoàng tử Tát Đỏa nhờ phước đức bố thí thân cho cọp đói nên được sanh lên cõi trời Đao Lợi. Liền trở xuống nhân gian. Thấy phụ hoàng mẫu hẫu và hai anh đang khóc lóc thảm thương, hoàng tử cùng với chư thiên đứng trên mây khuyên, “Phụ vương, mẫu hậu và hai hoàng huynh chớ quá đau buồn. Con nhờ bố thí cho cọp đói mà được sanh lên thiên cung hưởng phước. Phụ vương, mẫu hậu và hai hoàng huynh chớ đau buồn, hãy bảo trọng, giữ gìn sức khỏe thì con mới an lòng.

Câu chuyện này là chuyện trên trời, không thể đem truyện huyền bí áp dụng vào đời. Hơn nữa, Phật dạy ta tâm bình đẳng, không phân biệt. Nhà chùa bố thí thì không nên phân biệt người đẹp người xấu, người sơ thế là tâm bình đẳng . Pháp luật phải xử công bằng chứ không vì quan điểm giai cấp mà tha bổng đảng viên phạm tội mà giết hại hay bỏ tù nhân dân. Còn trong đời ta phải phân biệt kẻ xấu, người tốt. Ta phải bênh vực kẻ yếu chống lũ tham tàn. Tại sao lại đem thân hiến cho cọp dữ để chúng hại dân lành? Khổng Tử dạy lòng nhân nhưng Khổng Tử nói điều đó không có nghĩa là ông chủ trương yêu tha nhân cách “mù quáng”.

 Đối với ông, việc yêu người còn phải có sự phân biệt thị phi, thiện ác. Không thể đem tiền bạc cho kẻ cờ bạc, nghiện ngập, nên đem tiền đó giúp người hiền mà lâm nạn. Ngoài ra hành thiện cũng phải tùy khả năng. Ta không biết bơi mà nhảy xuống cứu người là thiếu trí khôn, là hy sinh vô ich. Tại sao không kiếm cháo, sữa hay nước suối mà cứu mà phải tự cứa cổ mình? Như thế là từ bi, là hữu dũng ư? Lý luận đó không thích hợp trong đời sống bình thường của đại chúng.
 Chúng ta sinh ra ở đời có nhiều nhiệm vụ. Bửu Sơn Kỳ Hương đã nhấn mạnh tứ ân phải đền đáp:
-Ơn cha mẹ
-Ơn thầy bạn
-Ơn quốc gia
-Ơn tam bảo
Ta có một tấm thân phải biết tôn trọng, sao phải hy sinh một cách vô nghĩa như vậy? Không phải cứ nhắm mắt liều mạng là thiện là nhân, mặc dầu có nhiều trường hợp ta phải quên mình. Tại sao phải vì con cọp đói mà liều thân? Trong rừng thiếu gì nai, cừu đói? Và trong xã hội, cha mẹ, anh em ta khốn khổ , và quốc gia ta, dân tộc ta đang nguy vong?
Tể Ngã hỏi đức Khổng : "Có người đến báo cho bậc nhân đức rằng có kẻ té xuống giếng, bậc nhân đức có nhảy xuống cứu không?"Khỗng Tử đáp: "Người nhân đức phải làm gì? Người quân tử nên đến đó tìm cách cứu chứ chẳng nên nhảy xuống mà hại thân mình.(Luận Ngữ. , Ch.IV. Lý nhân)

Rồi có kẻ tuyên giảng đạo đạo hiếu một cách thô lậu như con cởi áo cho muỗi cắn để cho chúng khòi cắn cha mẹ.Nếu chúng cắn cả mọi người thì sao? Sao không che màn cho cha mẹ?Nếu nghèo thì đốt lửa xông khỏi thì muỗi cũng bỏ đi sao mà khờ dại như vậy?Ngày nay, có thứ nhang trừ muỗi hay thuốc xịt muỗi hữu dụng chứ không phải dụng tâm khốn khổ với trình độ của thời ăn lông ở lỗ. Lại việc giữ mộ báo hiếu, từ quan để thủ tang chẳng ich lợi gì.Làm quan cũng là một nghề để sinh sống nhất là đối với những nho sĩ nghèo. Nhiều người từ quan về hộ tang cho theo đúng luật nhưng rồi phải đi dạy trẻ để kiếm cơm! Cái hiếu đó chỉ là hình thức, không ich gì cho gia đình và xã hội.Pháp sang Việt Nam đã bỏ tục từ quan thủ tang  báo hiếu.


IV. TRIẾT LÝ ĐỘC HẠI 
 Trong các loại triết học, triết lý Marx được yêu chuộng một thời.Triết lý Marx đã gây chiến tranh khắp nơi, giết gần hai trăm triệu dân và làm cho dân chúng đói khổ, mất tự do. Chủ nghĩa Marx là gây chém giết, tù đày và chiến tranh (đấu tranh giai cấp, vô sản chuyên chính , nghĩa vụ quốc tế, xuất cảng cách mạng...) . Lenin cũng nói rằng chủ nghĩa xã hội phải diệt hết sự bóc lột ở các nước .
Lenin không cần che đậy không cần văn hoa, ông nói huỵch tẹc đường lối cộng sản bất nhân của ông. Ông tuyên bố đảng Bolshevik của ông dùng bọn lưu manh chém giết trộm cướp để thi hành các vụ bắn giết phe đối lập, chuyên chính vô sản không bị pháp luật hạn chế , giết không nương tay những ai không theo cộng sản .

Chủ nghĩa Marx là thảm họa của nhân loại. Tổng thống Mỹ Ronald Reagan nói:" “The Soviet Union is an Evil Empire, and Soviet communism is the focus of evil in the modern world.”
Liên Bang Sô Viết là một đế quốc ma quỷ, và Cộng sản Liên Xô chỉ chú trong điều ác trong thời đại mới.

Phó Tổng thống Adlai E. Stevenson ( 1835–1914) viết:"Communism is the death of the soul. It is the organization of total conformity - in short, of tyranny - and it is committed to making tyranny universal.
Cộng sản là cái chết của tâm hồn Đó là một tổ chức bắt buộc mọi người phải tuyệt đối tuân lệnh- tóm lại là một tổ chức bạo tàn, nó phạm tội làm cho toàn cầu hóa bạo tàn.
Triết lý Marx ngày nay đã bị nhân dân Nga và Đông Âu từ bỏ. Nó chỉ còn hình thức độc tài ở Trung Quốc, Việt Nam và Bắc Hàn nhưng một ngày sắp tới chúng cũng bị tiêu diệt


No comments: