Tuesday, November 8, 2016

PHẠM TÍN AN NINH * NGUYỄN CAO HÁCH * HỒ DZẾNH *

THƠ *NGÔ MINH HẰNG

kẻ dại khờ
Ngô Minh Hằng

   

    Nào ai hiểu được lòng ta,
Mà ta trải rộng lòng ra với người!
  Tóc xanh nửa mái bạc rồi,
Sao còn ngờ nghệch như thời hoa niên?
  Ta đi giữa những lụy phiền,
Chán chường giữa những đảo đien thói  đời.
 Mệt nhoài với những trò chơi,
Những canh bạc lận, những lời dối gian.
Những cơn gìông bão phũ phàng,
Những ngày nắng hạn võ vàng niềm mơ.
  Những đau thương rất tình cờ,
Những tan nát dạ, những ngơ ngẩn lòng.
 Nào đời đã đủ long đong,
Có không hạnh phúc,có không tình người
 Hay đời là bể khổ thôi?
 Cho ta chìm đắm một đời bơ vơ?
  Ôi ta một kẻ dại khờ,
 Vẫn hy vọng một bến bờ bình yên!
  ( Trích DƯ ÂM )  


*
 CHUNG MỘT LỜI NGUYỀNNgô Minh Hằng

Hỡi ơi, cưa? Ải Nam Quan
Những dòng quốc sử còn loang máu hồng
Tiễn Cha, nước mắt từng dòng
Cha nhìn con cũng cảm lòng phân ly
Dạy rằng: Con hãy về đi
Lau dòng nước mắt nữ nhi thường tình!
Hãy đem chữ Hiếu làm Kinh
Thù nhà, nợ nước phân minh báo đền
Ích chi mà khóc, mà phiền
Lệ kia có rửa hận riêng được nào !
Nghe lời Cha dạy thấp cao
Ải Nam Quan đứng nghẹn ngào nhìn theo!
Tiếng Cha hoà tiếng thác reo
Bóng cha cùng với bóng chiều mờ tan!
Lau khô huyết lệ đôi hàng
Tay nâng kiếm báu, lòng mang lời thề
Mười năm dưới bóng trăng khuya
Bình Ngô mở nẻo đường về Đông Quan
Xưa, dòng sử Việt vẻ vang
Nay dòng sử Việt sao mang hận sầu ?
Ải Nam Quan hỡi, còn đâu !
Kìa ai cắt đất dâng Tàu? Quyền chi ???
Chính quyền phục vụ dân thì
Yêu dân, làm việc chỉ vì dân thôi
Chứ đâu cắt đất dâng người
Để toàn dân phải thiệt thòi, đớn đau ?!
Trưng Vương, Nguyễn Trãi nay đâu ?
Thù nhà, nợ nước xin mau báo đền!
Tuốt gươm, chung một lời nguyền
Buôn dân, bán nước, bạo quyền, đập tan!!!
Ngô Minh Hằng 


KHI NƯỚC MẮT ĐÃ
KHÔNG TRÒN Ý NGHĨA

(Xin thân ái gởi đến Đồng Bào quốc nội và quốc ngoại với tất cả niềm đau và hy vọng)
Ôi, nước mắt đã không tròn ý nghĩa
Đồng bào ơi, ta nhất loạt vùng lên!
Giang sơn này do xương máu tổ tiên
Đã bồi đắp cho xanh từng tấc đất
Bởi quê hương là tình yêu lớn nhất
Là gia tài, là máu thịt, là nôi
Chốn chôn nhau, cắt rốn tự bao đời
Là chiếc tổ, tình thương, là tất cả !!!
Nhưng hôm nay, than ôi, đau đớn qúa
Ai? Nam Quan, bạo chúa cắt dâng người !
Hỡi Nam Quan! kìa quốc sử còn tươi
Từng giọt lệ của anh hùng Nguyễn Trãi !

Máu lại chảy, Trời ơi, vùng quan ải
Núi sông ta thêm nữa, lưỡi dao hờn
Dưới bạo quyền, dân, nước cứ từng cơn
Đau như xé những cơ tim, mạch máu !
Đâu bất khuất, đâu chí hùng nung nấu ?
Đâu tự hào, danh dự ? Hỡi thanh niên !!!
Có thể nào ta cúi mặt lặng yên
Trước nỗi nhục mà lòng không phẫn uất ???
Có thể nào ta cúi đầu chấp nhận
Mà lương tâm không hổ thẹn, đau buồn ?
Có bao giờ ta thấy tội to hơn
Trước lịch sử vì thờ ơ trách nhiệm ?
Hỡi những anh hùng dưới trăng mài kiếm
Hỡi những lòng tha thiết với tình quê
Xin tuốt gươm thiêng, chung một lời thề:
Phải trị tội phường buôn dân, bán nước
Phải nối chí hào hùng muôn thuở trước
Đòi Nam Quan, ải cũ, trả về ta!
Đứng lên nào, chính nghĩa phải thăng hoa
Vì Tổ Quốc, vì tương lai nòi giống !
Không thể nữa, ngồi nhìn và than khóc
Hãy đứng lên hành động, hỡi muôn người !!!
Đến nước này ta phải thế mà thôi
Khi nước mắt đã không tròn ý nghĩa!
Hỡi Quốc Toản, hỡi Trưng Vương, Nguyễn Huệ
Hỡi toàn dân, cứu quốc, đứng lên nào !
Đất nước này phải hết bóng cờ sao
Thì đất nước mới thanh bình hạnh phúc!
Còn cờ đỏ là dân còn hoả ngục!
Ngô Minh Hằng


KHI TỔ QUỐC ĐÃ VANG LỜI
HIỆU TRIỆU
(Thân mến gởi Đồng Bào mọi giới, mọi lứa tuổi, quốc nội và quốc ngoại)
Không thể được. Không điếu văn, vĩnh biệt !
Ai? thiêng kia, đất cũ phải về ta
Núi sông này là xương máu Ông Cha
Thì con cháu sao buông lời vĩnh biệt ???
Mau, xin gióng những hồi chuông khẩn thiết
Để muôn người, bao thế hệ vùng lên
Giang sơn ta, niềm kiêu hãnh Rồng Tiên
Không cho phép bạo quyền chia cắt thế
Nào, ta hãy lấy khăn lau mắt lệ
Như ngày xưa Nguyễn Trãi một lần lau
Để dựng cho đời cơ nghiệp nghìn sau
Như Nguyễn Huệ, Trưng Vương, như Ngũ Lão
Chỉ sông biếc mà thề lời Hưng Đạo
Gọi trăng vàng mài kiếm báu Đặng Dung
Việt Nam ơi, đâu hiển hách anh hùng ?
Xin hãy đáp tiếng hờn sông núi gọi !
Nhục bán nước đã sóng gầm bão nổi
Trong chí hùng, máu thắm, trái tim son
Đừng ngôì yên, vuốt mặt, nuốt căm hờn
Hỡi toàn quốc, đã đến giờ hành động !!!
Dừng thụ động, đợi chờ và than khóc
Sử Lạc Hồng cần lắm những Kinh Kha
Sát vai nhau mà giữ nước non nhà
Như một thuở những Vua Hùng dựng nước!
Ta đoàn kết là ta làm phải được
Nếu chưa xong, con cháu tiếp theo đời
Hỡi Nam Quan, máu thịt của ta ơi !
Ta không thể nhìn bạo quyền bán nước !
Đừng vì bởi an thân mà khiếp nhược
Còn bạo quyền, tổ quốc mãi còn đau
Ta phải làm gì cho những đời sau
Cho ta nữa ? để giống nòi rạng rỡ ?
Đã khóc tiếng đầu đời là đã nợ
Nợ non sông, tổ quốc, nợ gia đình
Ta phải làm gì cho đươc chết vinh
Hơn sống nhục, sống một đời hèn yếu !
Khi tổ quốc đã vang lời hiệu triệu
Khi hồn thiêng sông núi đã cần ta
Đứng lên nào. Vì nước, hãy xông pha
Dẫu lấy máu rửa hờn cho nhục nước !
Ngô Minh Hằng


XIN HÃY DỰ PHẦN

(Kính gởi toàn dân Việt Nam, các giới, trong và ngoài nước)

Sử vàng còn đó một Huyền Trân

Ô, Rí, hai châu, gái ho. Trần
Dâng hiến ý đời cho nghĩa cả
Cho nhà cho nước, chẳng cho thân
Và gương liệt nữ đất Mê Linh
Trước nỗi chung, riêng , trước bất bình
Tuốt kiếm, má hồng xây nghiệp đế
Quân Tàu khiếp sợ phải lui binh
Đọc trang sử cũ bốn ngàn năm
Dâu biển dù cho mấy cát lầm
Nhưng nhục tủi nào hơn nỗi nhục
Dâng người xương máu của Cha, Ông ?
Dâng người tài sản của dân ta
Mảnh đất quê hương: của mọi nhà !
Ai tước quyền dân rồi phản bội ?
Buôn dân bán nước lẽ nào tha ?
Trước hờn quốc nhục chớ ngồi yên
Yêu nước, ai người? Haỹ đứng lên!
Đây, lúc đem lòng ra cứu nước
Để cùng đòi lại núi sông thiêng !
Để mà góp sức cứu non sông
Cứu chính đời ta, cứu giống giòng
Tổ quốc đủ rồi cơn nhật thực
Dân lành thừa qúa kiếp long đong !
Bốn ngàn xưa đó giống nòi ta
Nhi nữ mài gươm rửa hận nhà
Chẳng lẽ văn minh nay bốn cõi
Anh hùng vắng vẻ bóng Kinh Kha !?
Việt Nam, mọi giới, hỡi TOÀN DÂN!
Hỡi những LƯƠNG TÂM. Hãy dự phần!
Hận nước đã cao bằng núi Thái
Lẽ nào cúi mặt để an thân ???
Ngô Minh Hằng

 

TS MAI THANH TRUYẾT * YẾU TỐ THỜI CƠ

YẾU TỐ THỜI CƠ
& Cuộc Vượt Thoát của Việt Nam Hiện Tại

TS MAI THANH TRUYẾT
Từ năm 1986 trở đi Việt Nam đang mở cửa trực tiếp tiếp xúc với thế giới bên ngoài. Và chỉ trong một thời gian ngắn xã hội Việt Nam đã có nhiều biến chuyển đáng ghi nhận như có một nguồn sinh khí mới thổi vào xã hội và người dân Việt. Tuy nhiên với những hạn chế do nhu cầu sinh tử là sự bảo đảm an toàn quyền lực của chế độ, Việt Nam trong thế mở vẫn còn tạo ra nhiều trăn trở và khó khăn cho xã hội. Việt Nam vẫn còn dò dẫm trong tư thế của một xã hội nông nghiệp, phát triển từ từ lên xã hội công nghiệp, để rồi đang phải chịu hụt hẩng trước thế toàn cầu hóa. Thật khó thực hiện được một xã hội hài hòa bao gồm các xu hướng phát triển không đồng nhất thậm chí mâu thuẩn lẫn nhau. Một lần nữa, làm sao tránh khỏi tụt hậu trước tiến trình toàn cầu hóa trong lúc lãnh đạo Việt Nam vẫn còn giữ thái độ thù nghịch, nghi kỵ với hầu hết các quốc gia trên thế giới? Làm sao phát triển thành một xã hội công nghiệp hóa lấy căn bản nông nghiệp làm tiêu chuẩn như trường hợp Việt Nam hiện tại? Mở nhưng vẫn đóng. Đóng trong định kiến. Đóng trong lo sợ bị đào thải. Càng đóng lại càng có nguy cơ bị đào thải sớm hơn.
Hiện nay, người ta có cảm tưởng như những yếu tố sau đây là chính yếu trong sắc thái dân tộc của Việt Nam là:
1- Tài nguyên thiên nhiên phong phú và chưa được khai thác đúng mức;
2- Tiềm năng nhân lực dồi dào;
3- Nước nghèo, nhân công rẽ và thừa thải, thông minh và dễ huấn luyện tay nghề;
4- Có bàn tay sắt của nhà cầm quyền giữ gìn trật tự và sự ổn định;
5- Thiếu luật lệ rõ ràng và tham nhũng dễ cho các phiêu lưu mậu dịch, chỉ cần liên hệ với một số người có chức vị và có quyền lực trong đảng;
6- Đa số dân chúng sống về nghề nông với một nền công nghiệp còn thô sơ....
Từ những sắc thái đặc thù đó, người Việt Nam sống về huyền thoại nhiều hơn thực tiển và huyền thoại gần đây nhất là Việt Nam lại mộât lần nữa “cường điệu” trong dự kiến phóng vệ tinh nhân tạo vào năm 2005 trong khi việc sản xuất một chiếc xe đạp cho người dân vẫn chưa hòan chỉnh!!!
Do đó, nếu muốn đuổi kịp cộng đồng các quốc gia trên thế giới Việt Nam cần:
· Mở cửa để học hỏi, lựa chọn, đón nhận cái mới. Cái mới, cái chưa biết nào cũng có những hiểm nguy của nó. Sự tính toán dò dẫm là cần thiết, nhưng quá tính toán có khi tính già hóa non, vì để mất thời cơ.
· Không nên tạo thêm huyền thoại. Tập cho người dân thực tiển hơn.
· Không ngừng phát triển sắc thái dân tộc, cái sức mạnh bên trong tức la ønội lực của quốc gia, để tự tạo cho mình một thế mạnh trong sự bang giao với cộng đồng các quốc gia trên thế giới.
Muốn được như vậy, Việt Nam cần tạo điều kiện cho mọi người dân, mọi dân tộc trong cộng đồng quốc gia tham gia vào cuộc sống chung, để mọi cá nhân, mọi đoàn thể đều có thể tự lập, tự sinh sống, không ỷ lại vào sự sáng suốt hay sức mạnh của một đảng, một nhà nước hay của một cấp lãnh đạo nào. Cần làm cho mỗi người Việt Nam tự thấy mình thực sự còn có nội lực để đóng góp tích cực và toàn diện trong mạch sống quốc gia.
Kêu gọi tận dụng nội lực trong nước để phát triển quốc gia mà không cho phép hay hạn chế người dân phát huy nội lực cho từng cá nhân thì làm sao tránh khỏi cảnh tụt hậu cho đất nước được ?
Xưa vua thay Trời trị nước, tất cả điều là của vua, ngay cả sinh mạng của người dân. Minh quân hay hôn quân vô đạo là sự may nhờ rũi chịu của người dân, người dân không có tiếng nói. Một thứ nô lệ sẵn sàng chết vì ông chủ, gọi như thế là trung.
Nay, thì nhân danh nhân dân mà dân không có quyền tư hữu sản xuất. Tương tự như xưa, triều đình suy nghĩ và dạy dân những gì triều đình cho là tốt nhất, thì bây giờ Đảng suy nghĩ và thông tri cho dân những gì cấp lãnh đạo nghĩ là tốt nhất. Đã đến lúc “chủ nghĩa nhân danh” phải cáo chung, để mỗi người dân, và theo đó mỗi dân tộc tập tành nghĩ suy và hành động theo những hiểu biết và cảm xúc của mình. Phải trả lại cho dân, cho những dân tộc cái quyền sống của họ. Không một ai sống thay cho bất cứ ai được. Phải sống thật mới lớn mạnh được. Sống nhờ, sống gữi, sống mà trí tuệ và tâm linh gữi cho nhà vua hay cấp lãnh đạo, sống mà trách nhiệm giữa vời, chờ đợi ơn mưa móc ở một minh quân, hay phép lạ của một huyền thoại trí tuệ tập thể, sống mà lúc nào cũng phải chạy theo cái ăn cái mặc, ngày ngày đói no không chừng, đau ốm không thuốc men,... Sống như vậy là sống còi cọc, què quặt, bịnh hoạn và khuyết tật.
Khi người dân được trọn vẹn với cuộc sống của mình. Khi đói dám nói rằng mình đói, khi thất học dám nhận mình thất học. Khi không còn sợ hãi nói cái mình thật sự cảm nghĩ như thâu hiểu được tính vô úy trong Phật giáo, nói chung khi mà kinh nghiệm được rằng mình có những quyền hạn bất khả xâm, được luật pháp và cơ quan thẩm quyền bảo vệ. Khi ấy, có nhiều khả năng con người dấn thân trọn vẹn với cộng đồng của mình, làm hết sức mình cho chính mình và cho cộng đồng.. Chừng ấy, đương nhiên dân giàu và theo đó nước mạnh. Người đại diện cho quốc gia, cho dân tộc nhờ vậy mà có cái thế mạnh của mình trong bang giao quốc tế.
Đưa nửa triệu người làm mồi cho biển cả, giam một triệu người vào các trại cải tạo, để một triệu người tăng cường nhân lực cho các nước giàu có, (hầu hết nhân lực trên đều trong tuổi lao động, sản xuất tốt nhất, hiệu quả nhất) là một biện pháp tốt để đổi lấy một sự yên ổn chính trị, nhưng là một biện pháp đã làm thui chột hay què quặt quốc gia.
Tương tự, thắng trận ghi công là một điều thường tình, nhưng kỳ thị người tại chổ, áp dụng chính sách “tru di tam tộc” (đời cha, đời con, và đời cháu không được học quá tiểu học) của thời quân chủ chuyên chế, là đặt phân nửa đất nước ra khỏi sự tham gia đóng góp việc chung.
Có một đảng mạnh, có kỹ luật, có những cán bộ tiên phong, có một quá trình thử thách nhiều thập niên, có trên 2.479.717 (thống kê Đại hội Đảng kỳ IX) đảng viên là một điều tốt. Nhưng biến đảng ấy thành một số quan lại của một triều đình vua và chúa, đứng ngoài luật pháp, tham ô và lạm quyền, nhất nhất một chiều, là thui chột ý chí va ølòng phấn đấu vươn lên của mọi tầng lớp dân chúng. Cả nước chỉ có hai triệu rưởi người có quyền dám nghĩ, nhưng chỉ một thiểu số trên đây có quyền dám nói; và trong hai triệu rưởi người nầy, đa số vì miếng đỉnh chung, vì sự tiến thân và an ninh của mình và gia đình đã trở thành a dua, nương thời, nương lúc, nên cũng không dám nghĩ, không cần nghĩ và nói xuôi chiều cho khỏe thân. Chỉ còn lại một thiểu số ít oi, 1170 đại biểu, 150 ủy viên trung ương đảng và 15 ủy viên bộ chính trị, dầu có thông minh tuyệt đỉnh, dầu có trí tuệ tuyệt vời, thì đương nhiên quốc gia phải èo ọt.
Nhìn vào các dân tộc khác trên thế giới, chúng ta không thể tìm ra một quốc gia nào có nền văn hóa hàm chứa những giá trị hoàn toàn khác biệt. Vì lý do đó, những giá trị về nhân quyền và các quyền tự do căn bản của con người trên toàn cầu đều phải được tôn trọng triệt để. Và dĩ nhiên sẽ không có trường hợp ngoại lệ cho Việt Nam. Thật khó biện minh trước thế giới khi Việt Nam công bố :”Việt nam có những giá trị và bảo vệ nhân quyền đặc thù theo cung cách Việt Nam. Việc áp đặt quyền làm người theo tiêu chuẩn Liên Hiệp Quốc là xâm phạm vào chủ quyền Việt Nam.” Với cách nhìn như trên, chính sách mở của Việt Nam hiện tại vẫn còn dựa theo định hướng xã hội chủ nghĩa cho nên lãnh đạo Việt Nam vẫn còn cổ súy chủ nghĩa dân tộc cực đoan để duy trì quyền lực và không dám mở thực sự vì sợ sẽ bị phô bày cho thế giới rõ những sự lạc hậu và lầm lạc của họ trong việc phát triển quốc gia. Từ đây, với mặc cảm tự ty đối với thế giới bên ngoài, dân tộc Việt Nam vốn dĩ đã bị dồn ép từ lâu, sẽ vùng dậy và lần lần rập khuôn theo “ngoại bang” khi được hé mở từ từ . Từ đó tiến trình chủ nghĩa dân tộc “cách ly” trước đây đã biến thành chủ nghĩa “chạy theo ngoại bang” mà chính quyền hiện tại khó kiểm soát nổi.
Tóm lại, từ ngày xưa, chủ nghĩa dân tộc đã một thời thúc đẩy sự phát triển quốc gia. Nhưng ngày nay, cung cách suy nghĩ mới của phát triển đã vượt qua rào cản của ranh giới quốc gia và ngôn ngữ của các dân tộc trên thế giới. Bây giờ và tương lai cần phải có một sự phát triển hài hòa chung cho cả nhân loại. Tiến trình toàn cầu hóa là một tiến trình tự nhiên và là kết quả có được qua suốt chiều dài của lịch sử phát triển trong tranh chấp của các quốc gia trên thế giới. Toàn cầu hóa không phải là từ bỏ bản sắc dân tộc của từng quốc gia mà là điểm hội tụ của tất cả mọi văn hóa dân tộc để đạt đến một sự phát triển toàn diện cho nhân loại.
Và Việt Nam cần phải có một tầm nhìn thoáng hơn để giải toả những “nút chận” do chính mình tạo ra.
MTT (West Covina 6/2005)

GS.TẠ VĂN TÀI *" KHI ĐỒNG MINH THÁO CHẠY CỦA G.S. NGUYỄN TIẾN HƯNG

GIỚI THIỆU TÁC PHẨM " KHI ĐỒNG MINH THÁO CHẠY" CỦA G.S. NGUYỄN TIẾN HƯNG VÀ BÀN THÊM VỀ CUỘC CHIẾN TRANH VN

TẠ VĂN TÀI Harward Law School



II . Bàn thêm về chiến tranh Việt Nam.
Ôn lại những biến cố nói đến trong cuốn sách KĐMTC và cả cuốn HSMDĐL của Giáo sư Hưng, chúng ta rút được các nhận định sau về những năm sau cùng của cuộc Chiến Tranh Việt Nam và hậu quả của nó . Nếu độc gỉa cho rằng rút bài học sau khi việc sảy ra rồi (hindsights) thì "dễ qúa mà", thì chúng tôi cũng đồng ý trong sự khiêm tốn của một người nghiên cứu. Nhưng điều chúng tôi muốn nói là, nếu những nhà làm chinh sách, ngay trong khi biến cố đang sảy ra, chịu khó tham khảo những học gỉa hay cố vấn đã dâỳ công nghiên cứu bài học tiền nhân để lại trong chiều dài của lịch sử, thì cũng có thể thấy ngay những điều nên làm, vào lúc đang phải gỉai quyết vấn đề, và bớt được nhiều sai lầm. Chẳng khác gì các vị anh quân ngày xưa nghe theo những lời bàn của các vị thâm nho hay các quan ngự sử, chiếu các nguyên tắc trị nước khôn ngoan truyền lại từ các tiền nhân (Khổng Tử, Tôn Tử, Aristotle v.v.) hay từ các triều đại cực thịnh hay cực rối ren tại Á Châu (chẳng hạn các thế liên minh thay đổi của thời Đông Chu Liệt Quốc). Cũng chẳng khác gì các chính phủ Âu Mỹ trong thời hiện đại dùng đến các kinh nghiệm và ký ức lịch sử chứa trong các định chế (institutional memory) như các đại học hay các cơ quan tư duy cố vấn (think tank). Ông N.V. Thiệu là một quân nhân làm chính trị, nhưng chưa đủ tầm vóc một statesman (chính khách), vì tính đa nghi , hẹp hòi, sợ ngừơi dưới quyền vượt mình và có thể hại mình (như trong cách xử tệ với Phụ Tá Nguyễn Văn Ngân, người đã có công xây dựng Đảng Dân Chủ và tổ chức bầu cử Tổng Thống "chắc ăn" năm 1971 cho ông ,không cho Ông Nguyễn Cao Kỳ ra chia phiếu của ông khi đối đầu với Đại tướng Dương Văn Minh) (Gíao sư Nguyễn Ngọc Huy riễu cợt với tôi khi tả tính đa nghi của Ông Thiệu: "Ông ấy bắt tay người ta rồi về nhà ngó bàn tay mình xem còn đủ năm ngón không") . Ông Thiệu theo lối phân công từng mảng việc cho từng người , không cho người này biết việc của người kia, theo lối "phân gian", nghĩ rằng như vậy dễ kiềm chế từng người, do đó không tụ hội trong một hội đồng tham mưu gồm nhiều bộ óc cố vấn giỏi cùng bàn chung việc nước (brain trust), và không đi dến viễn kiến xa rộng và khôn ngoan được. Việc hòa đàm Paris, mà các vấn đề ngọai giao, quân sự, kinh tế, tình hình chinh trị ở Mỹ, tình hình và chính sách Đảng Cộâng Sản ở Miền Bắc, liên hệ chằng chịt và ảnh hưởng đến diễn tiến thương nghị và nội dung hòa đàm, thì ông Thiệu giao cho nhữõng ngươì sau đây, mỗi người một mẩu vấn đề: Gíao sư N.T.Hưng, Đại sứ Phạm Đăng Lâm, các ông Nguyễn Xuân Phong, Nguyễn Phú Đức, Nguyễn Ngọc Huy, Nguyễn Cao Kỳ. Gíáo sư Hưng nói trong sách là ông chỉ được giao việc về chuyện liên lạc với Mỹ, còn ông không được cho biết về tình hình quân sự cho dến phút chót và ngay cả gần 30 mật thư của hai Tổng Thống Hoa Kỳ mà cuối cùng Ông Thiệu giao cho Gíáo sư Hưng đi cầu viện thì cũng đưa cho xem vài lá thư vào lúc bắt đầu nguy kịch mà thôi.
Khi bàn trên đây về cá tính của ông Thiệu và sau đây về Chiến Tranh Việt Nam, chúng tôi đều có tài liệu và nhân chứng còn sống và có thể cung cấp chi tiết và điện thoại cho độc gỉa nào muốn phối kiểm lại . Nhưng chúng tôi không ghi ra trong bài tham luận này để đỡ làm mệt độc giả .
1. Như một chính khách Anh đã nói về chính trị, "không có bạn trừơng cửu, mà chỉ có quyền lợi trừơng cửu thôi" (no permanent friends, only permanent interests). Trong cuộc nội chiến Quốc Cộng tương tàn giữa hai Miền Nam Bắc Việt Nam, cũng là chiến tranh quốc tế do hai khối cường quốc uỷ nhiệm ,trong đó cả hai Miền của tiểu quốc Việt Nam được phong là tiền đồn của Xã Hội Chủ Nghĩa và của Thế Giới Tự Do, cả hai Miền đều lệ thuộc hoàn toàn vào cường quốc bảo trợ, cho nên một khi mà cường quốc Mỹ đã bắt tay được với cừơng quốc đối phương là Trung Quốc sau khi Kissinger và Nixon đi Tàu, và không còn quyền lợi là phải lo ngăn chặn bành trướng của khối Cộng Sản xuống Đông Nam Á bằng cách yểm trợ Nam Việt Nam nữa, thì Mỹ bỏ rơi Miền Nam, nhượng bộ tối đa trong Hiệp Định Đình Chiến, đồng y' cho Bắc Việt để lại quân đội tại Miền Nam, chỉ cốt đem được tù binh Mỹ về,không còn yểm trợ võ khí theo nguyên tắc "mất một thì đổi một" đã cam kết, bác cả việc Miền Nam dùng Quỹ Đối Gía (Viện trợ) để trả lương quân đội và cảnh sát, dù đóan trứơc là Miền Nam chỉ sống sót được chừng một năm rưỡi sau Hiệp Định Paris tháng 1/1973 (lời Kissinger) . Đến khi tình hình tại Nam Việt Nam suy sụp trước sự tiến công của quân đội Miền Bắc vào năm 1975, thì Ngoại trưởng Kissinger cố y' dấu Quốc Hội Mỹ lời cam kết của Tổng Thống Nixon yểm trợ bằng không lực và giúp võ khí, và cả Quốc Hội lẫn Hành Pháp Mỹ chỉ bàn chuyện di tản khỏi Việt Nam.
Đáng lẽ ra, các ngừơi lãnh đạo Miền Nam Việt Nam phải nhận ra khuynh hướng giải kết của Mỹ từ lâu rồi chứ! Khi thấy dân chúng Mỹ bắt đầu mệt mỏi vì chiến tranh và phong trào phản chiến ngày càng mạnh từ năm 1968, và ngay chính Tổng Thống Johnson cũng nản chí không ra tranh cử năm 1968 mà dành tòan thời gian vào việc giải quyết chiến tranh Việt Nam, thì phải tiên liệu là Mỹ sẽ tìm cách tháo gỡ. Dù không hề làm việc gì trong chính quyền Miền Nam Việt Nam và chỉ đóng vai giáo sư/nghiên cứu gia, chúng tôi đã viết, vào năm 1970,bài"Tiền Mỹ, Máu Việt" trong Tập San Quốc Phòng của Trường Cao Đẳng Quốc Phòng, Saigon, về chương trình Việt Nam hóa chiến tranh của Tổng Thống Nixon và trong khi thuyết trình tại Trường, có tiên liệu là khi người Mỹ không còn con cái của họ thương vong ở Việt Nam, họ sẽ kém rộng lượng về viện trợ. Và nếu không có "xương sống" Mỹ, thì tổ chức chống cộng Liên Phòng Đông Nam Á (Southeast Asia Treaty Organization) cũng chỉ là "con hổ giấy", và máu Việt có đổ ra thì chưa chắc tiền Mỹ sẽ có để có đủ quân trang quân dụng. Có lẽ các vị tướng tá trong Trường, là nhũng quân nhân cao cấp nhiều hiểu biết, cũng đồng ý với chúng tôi như vậy, mặc dù họ và chúng tôi đã có dịp đi thăm hàng không mẫu hạm trong lực lượng hùng hậu của Hạm Đội 7 của Mỹ và nghe Trung Tướng Ngô Quang Trưởng thuyết trình về vị thế Quân Đòan I chặn ngang đường tiến quân có thể có của quân đội Miền Bắc.
Việc thay đổi các thế liên minh tại các quốc gia Âu Mỹ trong hai thế kỷ vừa qua cũng cho thấy chẳng có gì trường tồn, hay chắc chắn trong bang giao quốc . Quyền lợi của mỗi quốc gia, ngay cả cường quốc, thay đổi theo mỗi giai đọan.
Về vấn đề cuộc chiến Việt Nam là nội chiến hay chiến tranh do các phe quốc tế ủy nhiệm, thì có thể nói lúc Pháp trở lại Việt Nam, và Hồ Chí Minh ôm lấy cụ Nguyễn Hải Thần yêu cầu các đảng quốc gia cùng gánh vác trách nhiệm chung và sau đó lập Chính phủ Liên Hiệp với các đại diện các đảng quốc gia như Vũ Hồng Khanh (Việt Nam Quốc Dân Đảng, VNQĐĐ), Nguyễn Tường Tam (Đại Việt, ĐV), Nguyễn Hải Thần (Việt nam Cách Mạng Đồng Minh Hội, VNCMĐMH), thì lẽ ra đã không có cuc nội chiến. Sở dĩ có thể tin như vậy là vì Nguyễn Hải Thần và Vũ Hồng Khanh đã có công cứu mạng Hồ Chí Minh ở bên Liễu Châu, Trung Quốc . Theo lời Ông Vũ Hồng Khanh kể lại trong trại học tập sau 1975 cho người cùng phòng giam trong trại học tập là Đại Tá Buì Thế Dung (hiện ở Massachusetts), thứ trrưởng quốc phòng trong chính phủ Dương Văn Minh, mà Ông Khanh đối xử như hàng con cháu, thì ông Khanh cho biết rằng vào đầu thập kỷ 1940, Hồ Chí Minh, lúc đó lấy tên là Lý Thụy, gỉa đò như một cụ gìa mù, đi với hai người trẻ tuổi từ Pac Pó qua Liễu Châu, thì bị quân đội Quốc Dân Đảng Tàu bắt, hai người trẻ tuổi chạy mau nên thóat (ông Khanh sau này đóan đó là Phạm Văn Đồng và Võ Nguyên Giáp). Có người Việt Nam tên là Lý Sanh đến nhờ hai Ông Vũ Hồng Khanh và Nguyễn Hải Thần trong Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội (VNCMĐMH) can thiệp với tỉnh trưởng Tàu là tướng Trương Phát Khuê. Tuy tướng Khuê nói : "Anh này là Cộng Sản, sẽ chặt làm đôi.", nhưng rồi cũng thả Lý Thụy ra và cho về ở với các ông Khanh, Hải Thần và Lý Sanh. Ông Khanh cho biết ông Hải Thần mê ông cụ gìa Việt nam họat bát đó và ông cụ này cũng được Tướng Khuê tin, giao công việc này nọ . Năm 1943, trong buổi họp VNCMĐMH đưa vấn đề cử người về nước đặt cơ sở cho Cách Mạng thì ông Lý Thụy xung phong. Sau này, khi Việt Minh cướp chính quyền vào năm 1945 và Chủ Tịch Hồ Chí Minh mời ông Vũ Hồng Khanh và Nguyễn Hải thần vô Chính phủ Liên Hiệp, ngồi ăn cơm với nhau trên chiếu trong Phủ Chủ Tịch ở Hà Nội, thì các ông mới nhìn ra Hồ Chí Minh chính là ông gìa Lý Thuỵ và ông Hoàng Văn Hoan chính là Lý Sanh vào năm 1943. Sau 1975 , khi ông Vũ Hồng Khanh bị bắt và đưa ra ở trong trại học tập ở Miền Bắc, thì Bộ Trưởng Công An Trần Quốc Hoàn vào thăm và cho ra trại sớm vào năm 1977, để về ở với người con gái lớn 53 tuổi ở lại Miền Bắc sau 1954, tại quê cũ ở Vĩnh Phúc Yên. Nếu Đảng Cộng Sản , vào thời điểm 1945-46, tiếp tục đối xử tương kính đối với các lãnh tụ phe quốc gia như tả trên, mà không ám sát hàng lọat những người quốc gia như nói sau đây, thì chưa chắc đã có cuộc nội chiến.
Và lẽ ra không có cuộc nội chiến và Chính Phủ Liên Hiệp mà Hồ Chí Minh lập ngày 2/3/1946 đã có thể tiếp tục với sự chia xẻ quyền lực quốc-cộng , nếu cường quốc Hoa Kỳ đã không bỏ mặc Viêt Nam cho Pháp và đã can thiệp sớm hơn và can thiệp đúng hơn theo chính sách của Tổng Thống Roosevelt là không cho thực dân Pháp trở lại Việt Nam. Sau khi Roosevelt qua đời, và Truman lên thay, Mỹ đã lờ đi không trả lời tám bức thư Hồ Chí Minh liên tiếp gủi cho Tổng Thống và Bộ Trưởng Ngọai Giao Mỹ để xin ủng hộ nền độc lập Việt nam trước việc Pháp đem quân trở lại Việt nam, vì cho rằng Mỹ cần Pháp như đồng minh trong cuộc Chiến Tranh Lạnh với Liên Sô đã bắt đầu. Pháp đã được quân đội Anh ở trong Nam (tước khí giới quân đội Nhật đầu hàng) cho đổ bộ tái chiếm thuộc điạ. Theo Thỏa Ước Trùng Khánh Pháp ký ngày 28/2/1946 với Trung Hoa Dân Quốc (mà quân đội do Lư Hán và Tiêu Văn chỉ huy, sang Miền Bắc Việt nam tước khí giới quân đội Nhật đầu hàng) , Pháp đem quân trở lại Miền Bắc. Tại cả hai miền Bắc và Nam Việt Nam, tàu chiến Mỹ chở quân đội Pháp vào Sàigon và Hải Phòng.
Và Pháp đã tiếp tay cho Việt Minh trong việc tiêu diệt các thành phần quốc gia (nói sau đây) vì cho là họ có lâp trường cực đoan, phản đối kịch liệt Hiệp Định Sơ Bộ ký ngày 6/3/1946 (Bộ Trưởng Ngọai Giao Nguyễn tường Tam không tham dự), và chỉ trích Hồ Chí Minh rất nặng là "bán nước cho Pháp” . (Sainteny và Leon Pignon gặp Nguyễn Tường Tam và Nguyễn Hải Thần, nhưng không đạt được thỏa hiệp). Hiệp Định Sơ Bộ này nhìn nhận Việt nam là một nước "tự do" trong Liên Hiệp Pháp và chỉ có một phần quyền cai trị. Hồ Chí Minh phải gỉai thích tại Nhà Hát Lớn Hà Nội và thề : "Tôi thà chết chứ không bao giờ bán nước".
Ngay từ tháng 9/1945, đã có sự nghi kỵ, kèn cựa giữa các đảng quốc gia và Việt Minh: quốc gia tố cáo Việt Minh là cộng sản; Việt Minh tố cáo Việt Cách (VNCMĐMH) và Việt Quốc (VNQĐD) là phản động. Sau khi Việt Minh cướp chính quyền, các đảng quốc gia dự tính dựa vào sự ủng hộ vẫn có của Quốc Dân Đảng Trung Hoa từ khi họ lưu vong ở bên Tàu (sau biến cố Khởi nghĩa Yen Bái của Nguyễn Thái Học 1930), đểû lật đổ chính phủ lâm thời đầu tiên do Hồ Chí Minh lập, tuy đã có vài đại diện của họ. Nhưng các đảng quốc gia không đoàn kết, thiếu cơ sở quần chúng trong nước vì lưu vong lâu, tính dựa vào mấy tướng Tàu tham nhũng, cho nên khi họ tổ chức biểu tình, và chỉ trích Việt Minh, họ thua Việt Minh đã tổ chức quần chúng trong nước từ khi Tướng Tàu Trương Phát Khuê cho Hồ Chí Minh về nước năm 1941 trong tư cách VNCMĐMH mà Việt Minh là một thành viên, mà lại có sự ủng hộ của Đệ Tam Quốc Tế, Quốc Dân Đảng Trung Hoa (sau khi Việt Minh đút lót cho Lư Hán vă Tiêu Văn vàng--do tuần lễ vàng quyên trong đồng bào-- và thuốc phiện, Trung Hoa bắt các đảng quốc gia theo giải pháp liên hiệp, dù miễn cưỡng ) và của Cơ Quan Tình Báo Office of Strategic Services OSS cuả Mỹ. Việt Minh cũng tổ chức biểu tình, và trưng hình cán bộ bị phe quốc gia giết.
Khi một đảng viên cộng sản hỏi Hồ Chí Minh : "Thưa Bác, tại sao phải để cho bọn phản quốc giết người ấy sống làm gì ? Chỉ cần Bác ra lệnh là tuị cháu sẽ tiêu diệt hết chúng nó nội trong một đêm", thì Hồ Chí Minh mỉm cười: " Có con chuột chạy vào phòng này thì chú lấy đá ném nó hay tìm cách bắt nó ? Ném đá thì vỡ đồ quý trong phòng. Muốn làm chuyện lớn thì phải biết tiên liệu ."
Nhưng khi Hồ Chí Minh đi dự Hội Nghị Fontaineblau tại Pháp, và cố gắng thuyết phục các trí thức quốc gia ở Pháp về nước cộng tác thì ở trong nứơc, các người lãnh đạo Đảng Cộng Sản có mặt trong nước đã ra lệnh các trưởng ban ám sát triệt hạ trụ sở, chiến khu và giết hại các đảng viên các đảng quốc gia nội trong vòng vài tháng, lúc đó không còn được các tướng Tàu ủng hộ nữa: ở ngoài Bắc , bị giết hay mất tich là các nhà ái quốc Trương Tử Anh (một lãnh tụ nêu gương sống đạm bạc, nằm ngủ trên chiếc giường vốn là một tấm cửa sổ, theo lời Gíáo Sư Bùi Tường Huân) , Lý Đông A, Khái Hưng, còn Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Tường Tam và Vũ Hồng Khanh phải trốn sang Tàu; ở trong Nam, ngoài các lãnh tụ Đệ Tứ Quốc Tế bị giết hay mất tích như Phan Văn Hùm, Tạ Thu Thâu, Lương Đức Thiệp, Phan Văn Chánh, Trần Văn Thạch, thì các lãnh tụ không cộng sản cũng bị thủ tiêu, như Hồ Văn Ngà, Huỳnh Văn Phương, Dương Văn Giáo, Hồ Vĩnh Ký, Bùi Quang Chiêu, Huỳnh Phú Sổ và các chức sắc Cao Đài và Hòa Hảo. Quốc Hội Lập Hiến họp ngày 28/10/1946 thì chỉ có 291 người có mặt trong số 444 đại biểu ; 70 ghế đại biểu dành cho VNQĐD và VNCMĐMH thì chỉ có 37 người có mặt, còn những người kia bị bắt trước rồi, rồi sau đó 34 người còn lại cũng biến mất. .Do đó các đảng quốc gia phải theo con đường chống cộng ; một số theo con đường "chùm chăn", tức lủi tránh không hoạt động nưã; và sau này, họ theo gỉai pháp Bảo Đại .
Khía cạnh nội chiến, người Việt giết hại người Việt, cũng rõ rệt trong cuộc cải cách ruộng đất tàn ác 1953-54 ở Miền Bắc, khiến một triệu đồng bào Việt Nam bỏ chạy Miền Bắc di cư vô Miền Nam, và cũng rõ sau này trong việc sát hại oan uổng những người dân ở Huế trong Tết Mậu Thân 1968 (xin xem cuốn " Giải Khăn Sô cho Huế" của Nhã Ca).
Hồi đầu cuộc chiến tranh Việt Pháp không phải là cuộc chiến tranh ủy nbiệm, vì khi Việt Minh chống cự lại Pháp tái chiếm đất nước, để gìanh độc lập, thì đó là một cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc mà tất cả những người Việt Nam yêu nước đều ủng hộ, không có Liên Sô hay Trung Cộng ủy nhiệm người Việt đánh Ph'ap vào lúc đầu (Stalin còn xử tệ với Hồ Chi Minh--như Kruschev viết hồi ký sau này cho biết--và Mao Trạch Đông còn đang chiến đấu với Quốc Dân Đảng Trung Hoa, chưa đi tới biên giới Việt Nam) . Tổng Thống Mitterand sau này sang thăm Việt Nam thống nhất , đứng trước Điện Biên Phủ, cũng tỏ ý hối tiếc là Pháp đãlầm lẫn trở lại định tái chiếm thuộc địaViệt Nam trong cuộc chiến cho độc lâp của người Việt . Bên phe quốc gia trong Giải Pháp Bảo Đại cũng chỉ được uỷ nhiệm một phần nhỏ, và chỉ ở giai đọan sau của cuộc chiến, khi Tướng De Lattre thấy rằng 280,000 quân đi viễn chinh Pháp đánh nhau lấy không xong, phải uỷ nhiệm một phần nhỏ cho người Việt Nam với 70,000 quân đôi người Việt do Pháp lập ra với chế độ đông viên. Còn trước đó, thực dân Pháp muốn đánh lấy một mình; năm 1946 đưa Vua Duy Tân đang đi đầy về Paris nhưng nửa đường đến Algeria thì máy bay trục trặc rớt, rất đáng ngờ vực, sau đó Pháp bàn là không nên dùng Bảo Đại mà đưa Nam Phương Hoàng Hậu làm phụ chính (Regent), cuối cùng mới đi đến chỗ dùng Bảo Đạị.
Sau naỳ khi Mỹ thay thế Pháp ở Miền Nam Việt Nam để yểm trợ cho Ngô Đình Diệm, thì cuộc chiến tranh Việt Nam mang nhiều tính chất nội chiến hơn, vì mỗi miền đã có phần lãnh thổ và chính phủ riêng biệt. Nhưng tính chất uỷ nhiệm quốc tế cũng rõ hơn. Miền Bắc lãnh nhiệm vụ quốc tế bành trướng chủ nghĩa cộng sản với sự trợ giúp mạnh mẽ của Liên Sô và Trung Quốc trong việc đồng thời đấu tranh thống nhất đất nước cho dân tộc. Miền Nam được Mỹ mênh danh là tiền đồn của Thế Giới Tự Do, được Mỹ uỷ nhiệm một phần thứ yếu trong cuộc chiến trong giai đọan sôi nổi nhất, người Việt chỉ phòng vệ diện địa. Còn phiá Mỹ thì leo thang tham chiến ngày càng nhiều: chính phủ Mỹ lúc đầu được báo chí và công luận ủng hộ mạnh việc tham chiến , người Mỹ khởi sự với vai trò cố vấn, rồi đem vào lực lượng đặc biệt , sau cùng đem đại quân tác chiến (combat troops) để thi hành phương pháp hành quân "tìm diệt địch" (search and destroy); ở thời cao điểm, Mỹ tung nửa triệu quân vào chiến trường (nếu kể số binh sĩ Mỹ luân lưu tham gia chiến trường Việt Nam, thì số người Mỹ tham chiến ở Việt Nam là 3 triệu người), chưa kể không quân , hải quân yểm trợ từ Hạm Đội 7 và từ Thái Lan.. Ông Bùi Diễm, cựu Đại Sứ Miền Nam Việt Nam tại Mỹ, đã tả trong hồi ký của ông cách thức người Mỹ tự mời họ tham chiến với đại quân vào năm 1965 : Sau khi Bộ Trưởng Quốc Phòng McNamara và Chủ tịch Uỷ Ban Tham Mưu Liên Quân thám sát chiến trường, họ yêu cầu ông Bùi Diễm sọan văn bản "mời" Mỹ đem đại quân qua Việt Nam (tức là Mỹ hóa --Americanization--chiến tranh), mà không có sự thảo luận trong quốc hội và nhân dân Mỹ. Mỹ tự mời Mỹ qua, nhưng để cho ông Buì Diễm, lúc đó là Bộ Trưởng Phủ Thủ Tướng Việt Nam Cộng Hoà, sọan thảo thông cáo chung để cứu thể diện Nam Việt Nam. Chính Đại sứ Mỹ ở Việt Nam là Tướng Taylor cũng ngạc nhiên . Hầu như tất cả các lãnh đạo dân, quân sự Miền Nam Việt nam hồi đó đều chống dối việc Mỹ hóa chiến tranh (Xin ghi là ông Ngô Đình Diệm cũng dã chống việc đem quân tác chiến Mỹ qua Việt Nam).
Sau khi số thương vong Mỹ lên cao, cảnh chết chóc đẫm máu trên màn truyền hình màu ở Mỹ đem chiến tranh đến tận từng nhà người Mỹ mỗi bữa cơm chiều, và phong trào phản chiến bắt đầu trong giới trẻ rồi lan sang các giới quần chúng khác, đưa ra ý muốn rút khỏi chiến tranh Việt Nam và tìm cách đem tù binh Mỹ về, thì T.T. Nixon Việt nam hóa chiến tranh. Vai trò quân đội người Việt ở Miền Nam lúc đó mới tăng cường nhiệm vụ chiến đấu nhiều hơn. Nhưng rồi sau đó, vì phong trào phản chiến đã xẹp xuống do việc bỏ chế độ động viên và việc thanh niên Mỹ không sợ chết tại Việt nam nưã, thì vấn đề Nam Việt Nam sống còn hay không, không còn là mối lo cho của Mỹ nữa, và ngay cả việc uỷ nhiệm cho Miền Nam Việt Nam dùng khí giới Mỹ giữ "tiền đồn thế giới tự do" cũng bị Mỹ từ bỏ luôn sau khi ký Hiệp Định Paris và rút đuợc tù binh và quân đội Mỹ về nước, và đã giao hảo tốt đẹp được với đại cường Trung Quốc và giảm căng thẳng với địch thủ chính là Liên Sô . Ngược lại, lãnh đạo Miền Bắc Việt Nam vẫn tự cho là tiền đồn của cuộc cách mạng cộng sản ở Đông Nam Á, và có ý định không những thống nhất Việt Nam mà còn giúp các đảng cộng sản Cam Bốt, Lào, Thái Lan và các nơi khác nữa (theo taì liệu văn khố Sô Viết, giải mật sau khi Liên Sô sụp đổ).
Xét theo quan diểm quyền lợi của Mỹ, thì việc Mỹ đã mắc lỗi lầm chiến lược là tự đem đại quân tác chiến vào Việt Nam rồi sau đó lại bất trung, bỏ cuộc tại Việt Nam nhữõng năm sau cùng cuả cuộc chiến , dẫn đến sự sụp đổ của Miền Nam Việt Nam, cũng có hại cho chính nứơc Mỹ. Tuy sau các nước Đông Dương, không có nước khác tại Đông Nam Á rơi vào khối Cộng sản, theo ly' thuyết domino (tức là không có geographical domino,giây chuyền điạ dư) nhưng đã có các cuộc tấn công có vẻ coi thường nước Mỹ tại Angola và Iran chẳng hạn (psychological domino, giây chuyền tâm ly'). Nghe nói sinh viên Iran bắt nhân viên Tòa Đại sứ Mỹ làm con tin là bắt chước chiến thuật bám sát địch cuả Cộng sản Việt Nam.
Nhưng là cường quốc, cho nên Mỹ vẫn vững trên trường quốc tế, lại có thể " ăn miếng trả miếng", cô lập hóa Việt Nam với chính sách cấm vận hai chục năm trời, làm điêu đứng Việt Nam và khi hai nước tái lập bang giao, Việt Nam lại là nứơc muốn và cần giao hảo tốt đẹp với Mỹ hơn là ngược lại.
Cái thế thù thành bạn dã rõ trong lời tuyên bố trong bài thuyết trình đầu năm 2005 của Đại sứ Mỹ ở Việt Nam là Marine. Theo ông, mặc dầu liên hệ hai nước trong quá khứ không vui vẻ gì, "rõ ràng là bây giờ Việt Nam và Hoa Kỳ không có bất đồng về chiến lược (no strategic differences)" và " Hoa Kỳ tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam và dứt khóat chống mọi âm mưu phân ly hay các đe dọa khác tại biên giới Việt Nam. Chúng tôi có nhiều lãnh vực chung quyền lợi về an ninh vùng và an ninh thế giới . Sự hợp tác về quốc phòng hiện nay là bước đầu để cùng đương đầu với các thử thách về an ninh trong thế kỷ 21."

2. Với thân phận tiểu quốc, có một cường quốc bảo trợ là MỹÏ nay đã thành "con hổ giấy" vì không muốÙn hy sinh thêm xÜương máu và tài nguyên tại Á Châu, mà Nam Việt Nam lại có một Tổng Thống thiếu thực tế,cứ nóí khẩu hiệu "Bốn Không" (không chung sống với cộng sản v.v..) mãi, không nhớ là có chánh nghĩa như Đức Giáo Hoàng mà thiếu lực lượng quân sự cũng bị Stalin hỏi "Giáo Hoàng có mấy sư đoàn?", không thấy là mọi cuộc chiến phải kết thúc bằng giải pháp chính trị,vì chiến lược chính trị mới là giải pháp toàn bộ mà bộ máy quân sự là phương tiện (war is politics by other means).
Nếu Ông Ngô Đình Diệm đồng y' với Miền Bắc tổ chức tổng tuyển cử vào năm 1956 theo Hiệp Định Geneva, thì có thể có một quốc hội toàn quốc, trong đó Miền Nam Việt Nam ít ra cũng có gần nửa số đại biểu và chưa chắc đã có nội chiến trong một nước Việt Nam thống nhứt. Đầu năm 1975, Trưỏng Phái Đòan Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam tại Paris là Ông Nguyễn Văn Hiếu nhờ tướng Trần Văn Đôn nói giùm vơí ông Thiệu và thúc ông Thiệu đưa Mặt Trận vào chính phủ Saigon như một thành phần chính phủ liên hiệp để chống lại sự thống trị của Hà Nội. Ông Thiệu bảo hỏi Mỹ, và Ông Đôn cho biết người Mỹ nói không thích theo đuổi đề nghị của MTGPMN. Như vậy là ông Thiệu không giám tiến hành sáng kiến giải pháp chính trị. Trước đó, năm 1971,theo lời khuyên của Thứ trưởng Quốc Phòng Mỹ Nutter, là giáo sư cũ của Giáo sư Hưng, là Miền Nam nên có sáng kiến độc lập, thì Giáo sư Hưng đã đề nghị ông Thiệu đưa ra đề nghị taí lập giao thương giữa hai Miền Nam và Bắc Việt Nam, tuy là hai nước nhưng cùng chung một thị trường, và tái lập đường hỏa xa Nam Bắc và phát triển Sông Cửu Long. Ông Thiệu có nói đến mấy điểm đó trong bài diễn văn tranh cử của ông ngày 1/10/1971. Nhưng Ông Thiệu vẫn lo ngại và yêu cầu "thăm dò Mỹ". Bộ Ngoại Giao Mỹ trả lời là đã quá muộn và Kissinger điện cho Đại Sứ Martin nói rằng điều đình nào cũng phải là giữa Mỹ và Bắc Việt và tiến hành tại Paris.
Không thoát ra khỏi đương lối cứng rắn "Bốn Không" để đi tìm giải pháp hòa bình thương nghị, chỉ chọn giải pháp quân sự là nhờ Mỹ yểm trợ di bom B52 nếu bị tấÕn công, rồi khi yêu cầu yễm trợ Mỹ không tới mà còn bị Mỹ áp lực từ chức, Ông Thiệu lên đài truyền hình ngày 21/4/1975 để từ chức, đồng thời chưỉ Mỹ là đã không thắng nổi Bắc Việt, tìm đường tháo lui mà lại vô nhân đạo,không trợ giúp cho quân đội Miền Nam. Quân đội Miền Nam lại càng mất tinh thần hơn. Trong tháng 4/1975 này, vì lo là"dân" du học ở Mỹ về, tôi chắc sẽ gặp khó khăn trong chế độ mới và có lẽ "tẩu vi thượng sách", cho nên ngày nào tôi cũng điện thoại cho Đai Tá Nguyễn Mộng Hùng, Trưởng Phòng 5, Hành Quân, Bộ Tổng Tham Mưu Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa, để hỏi tin tức xác thực (mà tôi nghĩ ông sẽ nói thực với tôi, vì tôi là ngừơi bà con) , và ông ấy nói và ông ấy nói giọng mệt mỏi, yếu ớt , đầy vẻ nản chí: " Tài ơi !Lính nó không đánh nưã !": (mặc dầu trước đó, Quân Đội Miền nam đã can đảm chiến đấu, đẩy lui nhiễu cuộc tấn công của quân đội Miền Bắc, thí dụ trong Tết Mậu Thân hay trong Trận Quảng Trị) . Hỏi người quen trong Tòa Đại Sứ Mỹ, họ nói quân xa và chiến xa của Quân đội Bắc Việt ở bên kia vĩ tuyến, theo không ảnh, chạy nối đuôi nhau (bumper-to-bumper) công khai. Chắc hẳn họ biết là Mỹ đã bỏ cuộc, sẽ không trả đũa, ném bom.
Lẽ ra, Ông Thiệu phải có lề lối độc lập hơn với Mỹ và, chiếu chủ quyền quốc gia và quyền lợi dân tộc mà sáng kiến mạnh bạo hơn, đặt Mỹ trước sự đã rồi về việc điều đình trực tiếp giữa Miền Nam và Miền Bắc Việt Nam, qua trung gian của Pháp chẳng hạn. Tâm ly' sợ Mỹ như quan thày không có lợi cho dân tộc. Thiết nghĩ, nếu đặt Mỹ trước sự đã rồi về phương cách điều đình, có thể rồi Mỹ cũng phải theo. Vì cứ so sánh với trường hợp Iraq hiện nay, năm 2005: Mỹ có quân đội hiện đại ở lỳ lại, ngòai ra có Tổng Thống Bush cương quyết hơn , mà Mỹ cũng nhấn mạnh đến giải pháp chính trị là bầu cử để giải kết, và hơn nữa bầu cử để có một chế độ liên hiệp giữa các phe Kurd, Sunni và Shiite thì mới hy vọng có hoà bình, và nếu phe Sunni không tham gia, cũng phải làm tới và hứa cho phe Sunni một số ghế trong chính phủ tương lai.
Ông Thiệu lo ngại sẽ bị đảo chính và gặp nạn như Ông Ngô Đình Diệm khi Mỹ ám chỉ nếu không chịu nghe theo quan điểm Mỹ thì "có thể có biến cố như 1963". Nhưng thiết tưởng nếu ông Thiệu không giữ khư khư lấy mấy mật thư của Tổng Thống Mỹ như bùa hộ mệnh (mà bùa đó cũng chẳng ích gì vì Tổng Thống Nixon, người đua ra lời hứa, đang bị khủng hoảng rồi từ chức trong vụ Watergate), mà đem công khai hóa việc Mỹ làm áp lực về những nhượng b ộ thiếu công bình và an ninh cho Miền Nam Việt Nam, và đồng thời đưa ra công khai cho dư luận dân chúng Mỹ và dư luận quốc tế (qua báo chi, truyền thông) biết về cái lập trường thương nghị hoà bình trực tiếp với Miền Bắc, thì chắc Mỹ cũng không dám mưu hại ông, và Quốc Hội Mỹ sau này cũng không thể nói là Miền Nam có hoà bình rồi mà cứ bàn về chiến tranh và xin quân viện.
Cứ cố trung thành với, hay e sợ, hay nghe theo cường quốc thì cũng không bảo đảm gì được tình bạn lâu dài hay không có lợi cho tiểu quốc. Điều này cũng đúng với chế độ ở Miền Bắc Việt Nam khi xưa, đã nghe theo lời cố vấn của cán bộ Trung Quốc thực hiện cuộc cải các điền địa tàn ác, bất công cho nhiều nông dân vô tội, đến nỗi sau này phải sửa sai và công nhận là sai lầm . Và cũng đúng với chế độ hiện nay của nước Việt Nam thống nhất. Một hai người lãnh đạo cấp cao ở Việt Nam đã nghe theo Trung Quốc bảo chờ Trung Quốc ký Hiệp Định Thương Mại Trung Quốc-Mỹ trước, cho nên đã yêu cầu để chậm hơn 1 năm trời việc ky' Hiệp Định Thương Mại Việt-Mỹ, làm thiệt cho Việt Nam là đã bị Trung Quốc đi trước vô thị trường vô biên của Mỹ để cạnh tranh bán cùng một lọại sản phẩm. Và đã ngả theo áp lực của Trung Quốc mà ký Hiệp Định Vịnh Bắc Bộ (nghe nói, không biết tin này có đúng hay không, trong chuyến du hành sang Tàu,một lãnh đạo cao cấp của Đảng muốn dựa Tàu dể củng cố quyền lực cá nhân trong Đảng Viêt Nam, nên đãõ ký Hiệp Định ấy), khiến ngư dân Việt Nam bị Trung Quốc bắn chết, vu cáo cho là cướp biển, ngay trong vùng hải phận Việt Nam mà xưa nay dân chài Việt Nam đã quen thuộc là của Việt Nam. Trong khi đó thì các nhà ngọai giao Việt Nam ở cấp dưới, sáng suốt vì đã diều nghiên kỹ , rất ghét và đa nghi mỗi khi thương lượng với đại diện Trung Quốc về chi tiết các vấn đề, mà họ tả là Trung QuốÙc hay có thói bắt nạt của cường quốc bá quyền. Có lẽ họ và nhân dân Việt Nam chỉ còn cách là yêu cầu Quốc Hội Viêt Nam, nhân danh dân tộc, chiếu diều 84 đọan 13 của Hiến Pháp Việt Nam và quyền lợi tối cao của dân tộc, nhất là của những người dân chài cùng khổ, mà huỷ bỏ Hiệp Định Vịnh Bắc Bộ, theo nguyên tắc luật quốc tế rebus sic stantibus (nguyên trạng không còn thì hủy bỏ).
3. Chiến tranh trong thời hiện đại là chiến tranh toàn diện, lôi kéo toàn dân, và làm nguy hiểm đến toàn dân. Nhứt là trong một nước dân chủ có chế độ động viên như Mỹ hồi Chiến tranh Việt Nam, mỗi gia đình đều có thể có chồng,con sắp sửa bị động viên (chứ không phải chỉ có quân đội nhà nghề, nhưÜ hiŒện nay) và vào mỗi bưã cơm chiều trong gia đình đều chứng kiến cảnh chết chóc trên truyền hình , thì cuộc chiến phải được quảng đại quần chúng và đại diện của họ tại quốc hội ủng hộ (chứ không còn chuyện "giãi thây trăm họ nêu công một người" mà không ai phản đối được). Hiến Pháp Mỹ đã đặt nguyên tắc là Quốc hội giữ quyền tuyên chiến và trong chính sách ngọai giao, Thượng Viện có vai trò cố vấn và phê chuẩn (advise and consent). Vào thời kỳ đầu trong Chiến tranh Việt Nam, Tổng Thống Johnson đã xin Quốc Hội thông qua Nghị Quyết Vịnh Bắc Việt (Tonkin Gulf Resolution) cho trả đũa về quân sự ở Việt Nam khi có tin tàu Mỹ bị tàu Bắc Việt tấn công (sau này mới biết là phóng đại),và do đó, việc tăng quân số Mỹ và tăng quân viện dễ dàng. Đến thời gian sau cùng của cuộc chiến, khi việc ủng hộ Chiến Tranh Việt Nam giảm sút, Quốc Hội Mỹ lại thông qua luật về quyền chiến tranh (War Power ) để hạn chế quyền Tổng Thống.
Tổng Thống Thiệu đã quên cái quy luật "Y' dân là ý trời" trong việc điều hành chiến tranh ở một nước dân chủ như Mỹ, cho nên cứ giữ khư khư các mật thư cam kết yểm trợ của Tổng Thống Nixon, đến những ngày cuối cùng mới đưa các thư ấy cho Giáo sư Hưng đi cầu viện ở Mỹ. Trước đó, các người lãnh đạo khác như Chủ tịch Thượng Viện Trần Văn Lắm, Chủ tịch Hạ Viện Nguyễn Bá Cẩn và Ngọai trưởng Vương Văn Bắc đã khuyên là không nên la lối om xòm vội, sợ là Mỹ họ nói là can thiệp vào nội bộ Mỹ. Họ đã không hiểu hệ thống chính trị Mỹ, và không thấy là các văn thư mật cam kết của Tổng Thống Mỹ--đại diện nước Mỹ trong chính sách ngọai giao--là những văn thư có gía trị, cần phải công bố cho Quốc Hội,để có sự phê chuẩn và ủng hộ của đại diện nhân dân,theo diễn trình hiến định (constitutional process) đã ghi trong Hiến Pháp Mỹ.
Để có thế nhân dân tại Việt Nam, lẽ ra Ông Thiệu cũng đã nên đưa các thư mật cho Quốc Hội Việt Nam từ lâu, để đại diện nhân dân Việt Nam vận động với Quốc Hội Mỹ, theo lối giao hảo giữa hai dân tộc (people-to-people diplomacy).
Không làm những việc trên kịp thời, Miền Nam Việt Nam trở thành nạn nhân của hành vi làm ngọai giao theo lối 'anh hùng cá nhân' của Kissinger, là ngươì thán phục và làm việc theo lối các nhà ngoại giao đầu thế kỷ 19: Metternich và Talleyrand, những ngọai trưởng nhiều quyền đã chuyên độc sắp xếp lại bàn cờ bang giao giữa các quốc gia Âu châu sau khi Napoleon thất trận năm 1815, mà chẳng hỏi y' kiến nhân dân hay đại diện nhân dân các nứơc liên hệ.
Ngay chế độ Cộng Sản trong đó Đảng quyết định chiến tranh hay hòa bình, có vài người khôn ngoan cũng thấy nên hỏi ý dân về vấn đề đó. Ông Nguyễn Cơ Thạch, ngoại trưởng Việt Nam, có nói là sau cuộc phiêu lưu sang Kampuchea (nó kéo theo hậu quả là Trung Quốc đánh sang Việt Nam để "dạy cho Việt Nam một bài học" --Lời Đặng Tiểu Bình, và do đó gây ra thương vong nhiều) thì từ nay, Việt nam sẽ không bao giờ gửi thanh niên ra ngọai quốc nữa.
(Còn tiếp)

TRẦN HỒNG ChÂU * CHIÊM BAO

 Tranh Hồ Anh
Chiêm Bao
Trần Hồng Châu

  Tranh Hồ Anh

    Đêm đêm mộng mị hên xui,
 Bỗng dưng thức dậy bùi ngùi làm sao!
 Đời người một giấc chiêm bao,
  Rượu ngon đã sẵn xin vào cuộc chơi!
Giờ đây nghiêng ngửa đất trời,
Lại thua cháy tùi may hời câu thơ!
Cố nhân thồi đã hững hờ,
 Nào đâu sự ngghiệp mà chờ mai sau.
Cố nhân trời đổ mưa mau,
  Cung đàn lênh loảng ngồi sầu thế gian.
 Nghiệp văn gạn lọc phân vân
  Có, không hai chữ cõi trần tiêu hao.
 Ngoài hiên vàng rụng trăng sao,
Tiếng đêm hòa nhịp đi vào hồn ai.
 Ý thơ sao cứ u hoài,
 Trắng tinh giấy trắng vẫn hoài trắng  tinh.
 Người sao chẳng bóng chẳng hình,
Người đi đi mãi lạnh lùng chăn đơn.
  Nửa đem về sáng giận hờn,
 Ngón tay ai khéo tiềng đờn bi thương.
 Chiêm bao phảng phất còn hương,
Vẫn như gửi lại đoạn trường nhớ ai!
(nửa khuya giấy trắng)      
       

ĐỖ THÁI NHIÊN * SỬA ĐỔI HIẾN PHÁP

SỬA ĐỔI HIẾN PHÁP
ĐỖ THÁI NHIÊN



Ngày 10 tháng 7 năm 2001, từ Việt Nam báo Kinh Tế Saigon đã cho biết :
trong một cuộc thảo luận về sửa đổi hiến pháp với Ủy ban Thường vụ Quốc
hội Cộng sản, Nguyễn Đình Lộc, bộ trưởng tư pháp của Cộng sản nhận định
rằng : Quốc Hội Cộng sản Việt Nam cần xem xét lại cả năm (05) chương đầu
của Hiến pháp 1992. Lý do : năm chương này xài toàn thuật ngữ thời "bao cấp".
Nguyên văn lời phát biểu của bộ trưởng tư pháp CSVN như sau : "Trong suốt
năm chương đầu, chúng ta thấy một loạt thuật ngữ : nhà nước xây dựng ; nhà
nước thực hiện ; nhà nước phát triển ; nhà nước thống nhất quản lý ; nhà
nước tạo điều kiện ; nhà nước chăm lo ... Phải chăng đó cũng là tàn dư của
chế độ quan liêu bao cấp".
Vẫn theo Nguyễn Đình Lộc : "Hiến pháp 1992 cho thấy "Nhà nước tự nhận
lấy nhiệm vụ xây dựng xã hội rất nhiều". Điều này chưa thể hiện được tư
tưởng của đảng Cộng sản Việt Nam sau này. Tư tưởng đó là : "xã hội hóa và
phát huy nội lực".
Ngay sau phần phát biểu của Nguyễn đình Lộc, ông Nguyễn văn Yểu - phó
chủ tịch Quốc hội CSVN - đã ngỏ ý than phiền : "Nếu ý kiến của Nguyễn
Đình Lộc được chấp nhận thì chỉ còn chương quốc kỳ và quốc ca là không
xem xét nữa mà thôi".
Đọc xong bản tin "sửa đổi hiến pháp" như vừa kể, người Việt Nam, đứng trên
lập trường dân tộc, có hai nhận định sau đây :
- Nhận định một :
Công lý trên lịch sử thế giới đã khẳng định : chính DÂN Ý và chỉ có DÂN Ý
mà thôi mới đích thực là CHA ĐẺ của TÍNH CHÍNH THỐNG dành cho guồng
máy quyền lực của một quốc gia. Trong thực tiễn chính trị, DÂN Ý được thể
hiện cụ thể bằng những cuộc bầu cử quốc hội tuyệt đối tự do và ngay thẳng.
Không có sự chối cãi rằng quốc hội của Cộng sản Việt Nam là loại quốc hội
được ra đời từ những cuộc bầu cử gian dối theo kiểu : đảng chọn, công an
kềm kẹp, dân bầu. Nói cách khác, quốc hội CSVN là quốc hội giả tạo. Hiến
pháp 1992 của CSVN là sản phẩm của một quốc hội giả. Vì vậy hiến pháp
1992 hiển nhiên vô giá trị về mặt pháp lý : Quốc hội giả sửa đổi Hiến pháp
giả, Cộng sản Việt Nam sẽ sản sinh thêm một quái tượng pháp lý vào năm
2001.
- Nhận định hai :
Chế độ độc tài các loại, đặc biệt là chế độ độc tài Cộng sản Việt Nam tồn tại
nhờ khả năng bịp bợm tinh vi. Bịp bợm trong vô số hành động tham ô nhũng
lạm. Bịp bợm bằng cách tạo hy vọng cho người dân về một tương lai hạnh
phúc và thịnh vượng. Hy vọng kia ru ngủ người dân nhằm giúp Cộng sản Việt
Nam có cơ hội kéo dài bất tận cuộc thống trị tàn ác và hiểm độc của họ. Sửa
đổi hiến pháp là một trường hợp bịp bợm mới.
Thực vậy, bộ trưởng tư pháp của Cộng sản VN than phiền rằng Hiến pháp
1992 đã đặt lên vai nhà nước quá nhiều "nhiệm vụ xây dựng xã hội". Do đó
Nguyễn Đình Lộc kêu gọi sửa đổi hiến pháp với chủ đích "xã hội hóa và phát
huy nội lực".
Xã hội hóa là toàn dân phải nhận thêm nhiệm vụ xây dựng đất nước. Nói
cách khác toàn dân phải hợp tác với Cộng sản Việt Nam để phát triển xã hội,
từ đó Cộng sản Việt Nam sẽ có thêm sức mạnh. Sự việc này, Cộng sản Việt
Nam gọi là "phát huy nội lực". Hoạt động chính trị bao giờ cũng gồm hai vế :
quyền hành và nhiệm vụ. Tại sao Cộng sản Việt Nam chỉ lớn tiếng kêu gọi xã
hội hóa nhiệm vụ nhưng không hề ngỏ ý xã hội hóa quyền hành ? Đây là
điểm bịp bợm then chốt của Cộng sản Việt Nam trong âm mưu sửa đổi Hiến
pháp 1992.
Mặt khác, bịp bợm còn có nghĩa là "nói một đường, làm một nẻo". Điều 70
chương V của Hiến pháp 1992 xác quyết mạnh mẽ rằng Cộng sản Việt Nam
tôn trọng tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo, rằng Cộng sản Việt Nam nghiêm
chỉnh bảo vệ nơi thờ tự và các cơ sở tôn giáo. Trong thực tế qua nhiều thập
niên, nhất là những năm gần đây, Cộng sản Việt Nam đã liên tục đánh phá
đàn áp mọi tôn giáo tại Việt Nam một cách tàn ác và trắng trợn. Vì vậy dưới
chế độ Cộng sản Việt Nam, hiến pháp chỉ là chiếc bánh vẽ không hơn không
kém.
Nói tóm lại, hiến pháp Cộng sản Việt Nam không có tính chính thống, nó là
hiến pháp giả mạo. Hiến pháp Cộng sản Việt Nam chỉ là một chiếc bánh vẽ,
nó chỉ là chiêu bài chứ không là công cụ pháp lý. Đó là hai lý do căn bản
khiến người Việt Nam không chấp nhận các loại hiến pháp của Cộng sản
Việt Nam : Hiến pháp 1992 cũng như Hiến pháp 1992 sau sửa đổi. Thế nhưng,
đồng bào Việt Nam cùng khổ còn đó, bạo quyền Cộng sản Việt Nam còn đó,
chúng ta không thể mãi mãi quay lưng lại trước tất cả hoạt động của Cộng sản
Việt Nam. Chúng ta cần có những suy nghĩ và những hành động cụ thể và tích
cực hơn. Muốn vậy, chúng ta hãy cùng nhau thảo luận về sinh mệnh chính trị
của Cộng sản Việt Nam trong tình hình mới. Tình hình kia bao gồm hai địa bàn
kinh tế và chính trị.
1. Địa bàn kinh tế :
Cuối thập niên 1980, hệ thống Cộng Sản Thế Giới vỡ vụn. Kinh tế xã hội
chủ nghĩa tại Việt Nam hoàn toàn gục chết. Cộng sản Việt Nam bị bắt buộc
tiến vào kinh tế thị trường với khẩu hiệu "chữa thẹn" : "Kinh tế thị trường
theo định hướng xã hội chủ nghĩa". Tuy nhiên, khẩu hiệu rỗng tuếch không
có khả năng chi phối vận hành của guồng máy kinh tế. Guồng máy này
chuyển động theo một mệnh lệnh rất cụ thể. Mệnh lệnh đó là : "Kẻ nào nắm
hầu bao, kẻ đó nắm quyền". Kẻ nắm hầu bao kia là Ngân Hàng Thế Giới, là
Hoa Kỳ, là các Quốc Gia Cấp Viện, là Cộng Đồng Quốc Tế Tự Do Dân Chủ.
Dưới áp lực nặng nề của "những kẻ nắm hầu bao", kinh tế thị trường của
Cộng sản Việt Nam đang dần dần đi vào khuôn phép. Địa bàn sau cùng để
Cộng sản Việt Nam nghiêm chỉnh tuân thủ luật tắc của kinh tế thị trường
chính là Hiệp ước Thương mãi Việt Mỹ đang chờ Quốc hội đôi bên phê
chuẩn. Khó khăn lớn lao nhất của Cộng sản Việt Nam ngày nay là làm thế nào
thỏa mãn cùng một lúc hai đòi hỏi bức thiết : một là chạy theo trào lưu kinh
tế thị trường của thế giới, hai là cương quyết bảo vệ vị trí lãnh đạo tuyệt đối
độc quyền của Cộng sản Việt Nam. Hai đòi hỏi vừa nêu hoàn toàn mâu thuẫn
lẫn nhau, nhưng lại quấn quyện vào nhau để tạo thành một vòng thòng lọng
ôm lấy yết hầu của Cộng sản Việt Nam. Muốn hiểu rõ tính chất cô nghiệt của
vòng thòng lọng này, chúng ta hãy khảo sát tương lai chính trị của Cộng sản
Việt Nam trên địa bàn chính trị.
2. Địa bàn chính trị :
Nội dung cốt lỏi của kinh tế thị trường, đặc biệt là của Hiệp ước Thương mãi
Việt Mỹ là sự đòi hỏi dứt khoát về quyền bình đẳng tuyệt đối giữa Tư doanh
và Quốc doanh. Sự đòi hỏi đó dẫn đến hệ quả rằng : do mất vị trí độc quyền
kinh doanh, và nhất là do bất lực và tham ô, công ty Quốc doanh sẽ tàn tạ
nhanh chóng. Vì vậy năng lực tài chánh của Cộng sản Việt Nam bị thu hẹp
trầm trọng. Và cũng vì vậy guồng máy công an trị của Cộng sản Việt Nam mất
dần tính hữu hiệu. Trong khi đó, nhờ được "cởi trói" trên hoạt động kinh tế,
nhờ ý chí kinh doanh để phát triển chứ không lợi dụng kinh doanh để tham ô
theo kiểu cán bộ của công ty Quốc doanh, giới Tư doanh sẽ nhanh chóng đè
bẹp Quốc doanh, nhanh chóng giàu mạnh. Chiếu theo ngạn ngữ "kẻ nào nắm
hầu bao, kẻ đó nắm quyền", chẳng bao lâu nữa giới Tư doanh, hay nói rõ hơn
xã hội dân sự tại Việt Nam sẽ vươn mình đứng dậy, tự do dân chủ sẽ đến với
Việt Nam.
Cuối thế kỷ 18 và đầu thế kỷ 20, cuộc cách mạng kỹ nghệ đã mang lại thế
lực tài chánh cho người dân, giúp người dân tiến hành những cuộc cách mạng
lật đổ các chế độ quân chủ chuyên chế, Cách mạng 1789 ở Pháp là một thí dụ
điển hình. Ngày nay tại Việt Nam, kinh tế thị trường mặc nhiên trở thành một
cuộc cách mạng không tuyên ngôn, không tuyên cáo, nhưng vô cùng gay gắt.
Cách mạng kỹ nghệ hạ bệ chế độ quân chủ. Cách mạng kinh tế thị trường
chắc chắn sẽ giải thoát quần chúng Việt Nam khỏi ách độc tài, ngu dốt và
tham ô của chế độ Cộng sản Việt Nam. Đó là thực chất cuộc tấn công của
kinh tế nhằm vào chính trị.
Nhìn chung lại, do sự khống chế của tình hình kinh tế thế giới, nhất là do áp
lực của giới tài chính quốc tế, Cộng sản Việt Nam không thể chống lại diễn
trình hoàn chỉnh sinh hoạt kinh tế thị trường tại Việt Nam. Mặt khác, kinh tế
thị trường càng hoàn chỉnh, guồng máy quyền lực của Cộng sản Việt Nam
càng bị đe dọa bởi định tắc "kẻ nào nắm hầu bao, kẻ đó nắm quyền". Nói rõ
hơn, kinh tế thị trường là công cụ thúc ép quyền lực của Cộng sản Việt Nam
phải bị giải trừ.
Nhằm tìm đường thoát hiểm trước đe dọa vừa kể, Cộng sản Việt Nam dàn
dựng kịch bản "Sửa đổi năm chương đầu của Hiến pháp 1992". Đây là các
chương nói về guồng máy quyền lực kinh tế và chính trị của Cộng sản Việt
Nam. Như vậy, hành động sửa đổi hiến pháp hiện nay của Cộng sản Việt Nam
là chỉ dấu rõ ràng nhất về sự thể rằng: đổi mới kinh tế nhưng không đổi mới
chính trị là điều tuyệt đối không thể thực hiện được. Tuy nhiên :
- Đổi mới chính trị không có nghĩa là nhân danh một quốc hội bầu cử gian lận
để làm ra hoặc để sửa đổi hiến pháp.
- Đổi mới chính trị không có nghĩa là thay đổi tổng bí thư và/hoặc thay đổi
hiến pháp, nhưng thực chất độc tài tham ô vẫn nguyên vẹn.
- Đổi mới chính trị chỉ có nghĩa là nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam bị lật đổ
hoặc tự ý rút lui. Thay vào đó là một cuộc bầu cử Quốc Hội Lập Hiến hoàn
toàn Tự Do và Dân Chủ.
Con đường tiến tới Quốc Hội Lập Hiến là con đường nào ? Để có được một
hình ảnh cụ thể về con đường này, chúng ta hãy hình dung ba sự việc :
- Thứ nhất : Cộng sản Việt Nam là một con cá đồng.
- Thứ hai : Những xung khắc gay gắt giữa tham vọng độc tài tham ô của Cộng
sản Việt Nam, và đòi hỏi của Quốc gia và Quốc tế về một nền kinh tế thị
trường chân chính là dòng nước lũ.
- Thứ ba : Kinh tế thị trường hoạt động đồng điệu với guồng máy chính trị tự
do dân chủ là đại dương mênh mông.
Thực tế tại Việt Nam đã cho chúng ta thấy : con cá đồng đang bị dòng nước lũ
đẩy ra biển. Đây là một con cá cực kỳ độc ác và quỉ quyệt. Khi ra gần tới cửa
biển, con cá đồng đề kháng với dòng nước lũ bằng những mưu chước thô
thiển : suy tôn tổng bí thư họ Nông, thay đổi hiến pháp. Chúng ta thừa biết
không sớm thì muộn con cá đồng sẽ bị chôn vùi trong biển nước mặn. Nhiệm
vụ của người Việt Nam đối với lịch sử Việt là tạo mọi điều kiện để nước lũ
trở nên mãnh liệt hơn, con cá đồng từ trần giữa biển khơi nhanh chóng hơn.
Đó là quan điểm nghiêm chỉnh nhất, thích nghi nhất đối với vở tuồng sửa đổi
hiến pháp do Cộng sản Việt Nam tự ý đề xướng vào đầu tháng 7 năm 2001.

SƠN TRUNG * TUYÊN NGÔN CỘNG SẢN

Đọc lại
‘Tuyên ngôn của đảng Cộng sản’
( COMMUNIST MANIFESTO )
Sơn Trung


Trước 1975, tôi không phải là đảng viên để đuợc ban phát tài liệu và học tập về Tuyên Ngôn của Đảng. Tôi là một người di cư cho nên đã hiểu thấu cộng sản, chẳng cần phải thắc mắc mấy cái của nợ đó. Dù tôi muốn cũng chẳng thể đọc vì quốc gia cấm tàng trữ các tài liệu này. Sau 1975, tôi mệt mỏi vì suốt mấy tháng phải nghe những tên cán ngố nói dài, nói dai, nói dỡm. Một buổi đi phố thấy có tài liệu này bèn mua về liếc mắt sơ qua rồi bỏ xó. Nay qua đây, những lúc rảnh rang dò tìm trên Internet, thấy có Tuyên Ngôn của Đảng Cộng sản bằng Anh Ngữ, bèn đọc lại. Tôi xin trình bày cảm nghĩ của tôi với các bạn đọc.
Bản tuyên ngôn này là công trình của Karl Marx và F. Engels soạn thảo năm 1848. Tuyên ngôn có 4 phần:
- Tư bản và vô sản
- Vô sản và đảng cộng sản
- Văn học cộng sản
- Cộng sản và các đảng phái đối lập.
I. Tư bản và vô sản.
Để xúi vô sản đánh tư bản, người nghèo đánh người giàu, và khuyến khích dân chúng nổi loạn, Marx nói rằng lịch sử nhân loại là lịch sử đãu tranh giai cấp mà hai giai cấp mâu thuẫn nhau là giai cấp thống trị và giai cấp bị trị (The history of all hitherto existing society is the history of class struggles ) . Marx đơn giản quá đáng cho nên quá sơ sài và thiếu sót. Lịch sử nhân loại rất đa dạng. Nó là lịch sử của sự tiến hóa của con người. Lịch sử trong đa số trường hợp là lịch sử đãu tranh giữa các dân tộc, giữa các thế lực, giữa các vua chúa và tướng lãnh. Nó không đơn thuần là lịch sử đãu tranh giai cấp như Marx nghĩ. Và trong xã hôi, có đãu tranh thì cũng có hòa hợp, chứ không phải là chỉ có đãu tranh. Cũng như trái đất có sáng, có tối, Marx chỉ nói rằng địa cầu một màu đen, hoàn toàn tối tăm, là một nhận định vô càng sai lầm và thiếu sót.
Ông nói rằng tư bản đã làm nên cuộc cách mạng kỹ nghệ(The bourgeoisie, historically, has played a most revolutionary part). Tư bản đã xây dựng khoa học kỹ thuật, lập nên kỹ nghệ, hãng xưởng,sản xuất hàng hóa, tư bản đã mở rộng thị trường khắp thế giới. Tư bản đã trở thành đế quốc xâm lược Mỹ châu và châu Phi, châu Á. Marx nói đúng, dẫu sao, tư bản đã đem lại phồn vinh cho thế giới, tạo nên khoa học, kỹ thuật tiến bộ, đem lại tiện lợi cho loài người. Marx rất đúng khi viết giai cấp tư sản trong quá trình thống trị chưa đầy trăm năm đã tạo ra những lực lượng sản xuấtnhiều hơn và đồ sộ hơn lực lượng sản xuất của tất cả thế hệ trước gộp lại(The bourgeoisie, during its rule of scarce one hundred years, has created more massive and more colossal productive forces than have all preceding generations together). Còn non trăm năm thống trị, cộng sản thì chỉ gây chiến tranh, đem lại nghèo đói. Nơi nào theo cộng sản lâu năm thì kinh tế càng lụn bại, thiếu hàng tiêu dùng khiến cho dân chúng phải buôn bán chợ đen, xếp hàng cả ngày để mua, gạo thịt, nuớc mắm. Như vậy là tư bản hơn cộng sản. Nếu tư bản sinh ra thực dân, đế quốc thì cộng sản cũng thế thôi. Nga Xô chiếm Đông Âu, chiếm đất Trung quốc, Trung quốc chiếm Tây Tạng, Việt nam chiếm Miên Lào. Tất cả chỉ là một tuồng thực dân xâm lược.
Thiết nghĩ nay tư bản đã thay đổi nhiều. Chính quyền tư bản ở thế kỷ XX đã tiến tới việc đặt ra mức lương tối thiểu, luật lao động, quỹ an sinh xã hội, bảo đảm quyền lợi cho dân lao động, trong khi tại các nuớc cộng sản, người dân lao động bị bóc lột nặng nề hơn, họ phải làm việc quần quật suốt ngày, suốt tháng với đồng lương chết đói, mỗi tháng trung bình 20 hay 30 đô la, chỉ đủ sống trong một tuần hay mười ngày. Marx tố cáo tư bản bóc lột nhân công, thì công nhân trong các nước cộng sản lại càng bị bóc lột hơn. Đồng ý với Marx rằng người thợ trong chế độ tư bản bị bóc lột nhưng còn đuợc trả tiền như Marx nói, dù là trả tiền ngay một cách lạnh lùng(naked self-interest, than callous "cash payment’), còn cộng sản thì coi như bóc lột, coi như không trả tiền vì chúng trả lương quá ít, lại bắt làm thêm (Làm ngày không đủ, tranh thủ làm đêm, làm thêm ngày nghỉ) để kỷ niệm sinh nhật bác, để chào mừng chiến thắng Điện Biên, chiến thắng Ấp Bắc! Nói tóm lại, tư bản và cộng sản đều bất nhân, nhưng một bên còn cho thợ ăn no để làm việc cho nó, còn một nên bóc lột đến chết, bắt nhịn đói, nhịn khát mà còn đánh đập, hành hạ. Lẽ dĩ nhiên, tư bản khá hơn cộng sản!
Marx sai lầm khi so sánh quân chủ, tư bản và cộng sản. Tư bản thay thế phong kiến và đạt được nhiều thành công về khoa học, kỹ thuật, kinh tế, giao thông.. . nhưng không thể vì thế mà nói rằng cộng sản thay tư bản và cũng thành công như thế. Đó chỉ là những giấc mơ ban ngày, những điều võ đoán, một lối tuyên truyền huyênh hoang, khoác lác mà nay thực tế đã chứng minh rằng cộng sản là xấu xa, tồi tệ, chỉ đem nhân lọai trở về thời đại đồ đá, với những người thú dã man, tàn bạo!
Marx lý luận rằng tư bản thắng phong kiến, cho nên cộng sản cũng sẽ thắng tư bản vì xã hội và vũ trụ bao giờ cũng đi theo đường thẳng, cái mới phủ định cái cũ, cái mới nhất định thắng cái cũ. Ông nói giai cấp tư bản sinh ra giai cấp vô sản là kẻ đào mồ chôn mình, và phe vô sản sẽ thành công còn phe tư bản sẽ thất bại là điều không tránh được(What the bourgeoisie, therefore, produces, above all, is its own grave-diggers. Its fall and the victory of the proletariat are equally inevitable).
Trong thực tế, khí hậu có lúc tăng lúc giảm, xuân đi thu lại, kinh tế có lúc suy lúc thịnh, đời người có lúc vinh lúc nhục, nho gia gọi là thịnh suy bĩ thái, làm sao mà đi lên mãi hỡi ông Marx? Giả như ông nói là đúng, theo duy vật sử quan, mọi sự biến chuyển, phong kiến suy tàn thì tư bản lên, tư bản suy tàn thì cộng sản lên, vậy cộng sản suy tàn thì chế độ nào thay thế? Ông bảo tư bản dẫy chết nhưng nay nó lại bành trướng qua Nga, qua Trung quốc, trong khi Liên Xô và Đông Âu tan tành và cộng sản các nước Trung quốc, Việt Nam, Bắc Hàn ve vản giao thương với Mỹ! Ôi hạ tầng xây bằng dô la và kinhtế tư bản thì thượng tầng kiến trúc có còn là cộng sản nữa không khi Marx đã nói hạ tầng cơ sở( kinh tế ) quyết định thượng tầng kiến trúc?
II. Vô sản và đảng cộng sản
Marx cho rằng giai cấp vô sản phải do đảng cộng sản lãnh đạo toàn bộ. Đảng cộng sản đặt ra đuờng lối rất là khắt khe, nghiêm ngặt, cương quyết tiêu diệt giai câp tư bản.
Điểm quan trọng nhất hủy bỏ tư hữu ( the theory of the Communists may he summed up in the single sentence: Abolition of private property). Hai chữ cộng sản đã nói rõ chủ trương của họ. Cộng sản là tước bỏ tư hữu, không có của riêng, mà chỉ có của chung. Những người nghèo chạy theo cộng sản là bị lừa bằng chữ nghĩa. Họ tưởng chạy theo cộng sản là đuợc chia của theo hình thức của Lương Sơn bạc, lấy của người giàu chia cho người nghèo! Nếu chia của tức là đã theo chủ trương hữu sản rồi! Trong chế độ cộng sản, người nghèo trước sau vẫn nghèo, vẫn không có tư hữu. Tài sản trong nước vào tay một số người. Hồ Chí Minh không phải nói đùa khi ông thí dụ về dân chủ tập trung. Dân chủ tập trung là dân chúng góp tiền lại (tập trung) và đưa cho ông Hồ bỏ túi!
Khi nắm chính quyền,việc đầu tiên là cộng sản hủy bỏ quyền tư hữu về tư liệu sản xuất của tư sản( cướp hãng xưởng, máy móc, vật dụng). Nhưng thực tế, đánh tư sản nhưng tài sản tư bản lại vào tay đảng viên gộc, càng chủ trương chống tư hữu, óc tư hữu càng bành trướng, khiến cho tệ nạn ăn cắp và tham nhũng lộng hành. Thời Marx, các nhà tư tưởng đã phê bình viêc hủy bỏ tư hữu sẽ làm cho nẩy sinh biếng nhác. Dân chúng Viêt Nam đã có tục ngữ:
- Cha chung không ai khóc.
- Lắm sãi không ai đóng cửa chùa.
- Xã hội chủ nghĩa, mười người khiêng một cọng rơm!
Điểm thứ hai là hủy bỏ gia đình. Cộng sản cho rằng gia đình cũng như vốn liếng của cải đều phải hủy bỏ vì gia đình, vợ con cũng là một hình thức tư hữu . Do đó, hôn nhân là không cần thiết. Cộng sản chủ trương vô gia đình, cộng sản kết tội tư bản coi vợ như một công cụ sản xuất (the bourgeois sees in his wife a mere instrument of production), và cho rằng tư bản chủ trương’ cộng thê’, và chủ trương cộng thê đưa đến nạn mãi dâm bành trướng. Marx nói hơi quá. Nạn mãi dâm đã có từ lâu chớ đâu phải do tư bản ! Các ông cộng sản trong đó có Tố Hữu đã lên tiếng kết tội tư bản về tội mãi dâm. Họ mơ ước chủ nghĩa cộng sản cơm no, áo ấm, không còn bóc lột, không còn mãi dâm:
( Trời ơi biết đến khi mô?
Thân em hết nhục dày vò năm canh?
Tình ơi gian dối là tình,
Thuyền em rách nát còn lành được không ?
-Răng không , cô gái bên sông,
Ngày mai cô sẽ từ trong tới ngoài.
Thơm như hương nhụy hoa nhài,
Sạch như nước suối ban mai giữa rừng.
Ngày mai gió tới ngàn phương,
Tôi đưa cô tới một vườn đầy xuân.
Ngày mai trong giá trắng ngần,
Cô thôi kếp sống dày thân giang hồ.
Ngày mai bao lớp đời dơ,
Sẽ tan nhu đám mây mờ đêm nay. . .
(Tiếng hát sông Hương )
Nhưng thực tế cho thấy dưới chế độ cộng sản nạn mãi dâm càng bành trướng! Nói thì dễ, phê bình đả kích thì dễ, còn làm thì khó đấy ! Cộng sản đả phá chế độ gia đình, vậy thì Marx chủ trương thay thế bằng một chế độ gia đình như thế nào hay là bỏ luôn gia dình? Trong văn bản, Marx không nói rõ. Nhưng qua bản Tuyên ngôn này, chúng ta biết các nhà tư tưởng đương thời đã chỉ trích cộng sản hủy bỏ gia đình (Abolition of the family! Even the most radical flare up at this infamous proposal of the Communists ) , và chỉ trích cộng sản chủ trương ‘cộng thê.( But you Communists would introduce community of women, screams the whole bourgeoisie in chorus)’. Cộng sản (chung của cải) rồi tất phải cộng thê ( chung vợ) ! Nghe nói bên Trung quốc, hồi đầu Mao trả lương mọi người giống nhau, ai chết nhà nước chôn nhưng sau thay đổi, ai chết thì đảng bỏ mặc, gia đình phải theo lối xưa, đứng ra chôn cất. Và buổi đầu, nam nữ sống mỗi trại riêng biệt, cuối tuần, nam công nhân nào công tác tốt thì được lĩnh phiếu sang trại nữ du hí. Tổ chức này giống như trại gái của quân đội Pháp! Không biết việc này đi đến đâu. Nhưng Lê Nin, Staline, Mao Trạch Đông, Đặng Tiểu Bình, Chu Ân Lai , Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp vẫn có vợ con riêng. Lê Duẫn, Võ Văn Kiệt, Lê Đức Thọ là những chúa dê... không biết về mặt này, họ theo cộng sản hay tư hữu? Riêng ông Hồ là theo đúng ‘ cộng sản nguyên thủy’, tức là theo đúng thời đầu tiên của loài người, ăn chung ở chạ thành đàn, nam nữ bạ đâu vui đó, đẻ con không biết bố là ai!
Điều thứ ba là huỷ bỏ biên giới các quốc gia. Sau khi xóa bỏ gia đình và hôn nhân, cộng sản sẽ xóa bỏ biên giới quốc gia( The working men have no country). Đây là một điều không tưởng. Ngay thuở đầu tiên, Trung hoa đã bất mãn Liên Xô vì Liên Xô không chịu trả lại đất Trung quốc mà Nga đã chiếm thời bát quốc liên quân . Hơn nữa, Trung quốc thù ghét Nga vì cố vấn Nga hách dịch hơn là cố vấn Mỹ! Chiến tranh Nga Hoa đã xảy ra là vì đó. Sau này Liên Xô chiếm Đông Âu, Trung quốc chiếm Tây Tạng, và Việt Nam chiếm Miên Lào. Như vậy, làm sao mà nói xóa bỏ biên cương? Làm sao mà đề cao tình yêu quốc tế vô sản, làm sao xây dựng thế giới đại đồng?
Cuối cùng, Marx đưa ra những điểm chính yếu cho đường lối cộng sản quốc tế mà mỗi quốc gia phải theo đó mà thi hành:
- Huỷ bỏ tư hữu ruộng đất.
- Đánh thuế lũy tiến thật nặng.
- Hủy bỏ mọi quyền thừa kế.
- Tịch thu tài sản bọn di dân và bọn phản loạn.
- Sung công tài sản trong ngân hàng.
- Tập trung các phương tiện giao thông và vận tải trong tay nhà nước.
- Đối xử công bằng với tất cả lao động. Thiết lập kỹ nghệ quân đội, đặc biệt chú trọng về nông nghiệp.
- Kết hợp nông nghiệp với kỹ nghệ, dần dần tiến tới việc hủy bỏ sự phân biệt quê và tỉnh.
- Giáo dục tự do cho các trẻ trong trường công.
Tất cả những biện pháp ghê rợn này những ai sau 1975 đã sống tại Việt nam đều trải qua kinh nghiệp này.Về giáo dục, nay thì người ta làm trái lời Marx hết rồi! Ban đầu đảng giành độc quyền giáo dục, nay vẫn độc quyền giáo dục nhưng lại chia ra công, tư và bán công.Và nay trường công cũng đóng học phí, học sinh phải đóng tiền xây trường, tiền xây lớp, cha mẹ học sinh phải ký sổ vàng, học sinh phải tặng quà thầy giáo , cô giáo trong ngày Hiến chương nhà giáo 20-11 hàng năm.
Về kinh tế, nay cộng sản đã hữu sản hóa cán bộ, đã tôn trọng tư hữu tuy rằng ruộng đất vẫn nằm trong tay đảng, đảng có quyền chiếm đất làm nhà, bán đất cho ngoại quốc mà lấy tiền bỏ túi trong khi dân chúng không có đất làm nhà, không có đất canh tác! Và nay các cơ sở quốc doanh đã vào tay các đảng viên bự, vào tay các tư bản đỏ. Ông Marx có biết không? Ngay nay họ vẫn treo búa liềm nhưng thực tế họ đã đem tuyên ngôn của ông bỏ thùng rác rồi !
III. Văn học cộng sản
Marx nói đến nhiều loại chủ nghĩa xã hội: chủ nghĩa xã hội phong kiến, chủ nghĩa xã hội tư sản , chủ nghĩa xã hội Đức. Marx chỉ trích các chủ nghĩa xã hội không thuộc cộng sản là phản động mà khen chủ nghĩa xã hội Đức. Quan trọng nhất là ông đã chỉ trích chủ nghĩa xã hội không tưởng phê phán và chủ nghĩa cộng sản không tưởng phê phán. Ông chê họ là không tham gia hoạt động chính trị, nhất là tham gia cách mạng, họ muốn tranh đãu bằng con đường hòa bình. Ông chê họ không tưởng nhưng thực tế họ cũng như ông là viễn vông, không tưởng. Tuy nhiên ông đã khen họ là biết tranh đãu cho vô sản, đả kích mọi trật tự , khuôn mẫu cũ đang tồn tại, ca tụng giai cấp vô sản, ca tụng việc bãi bỏ sự phân biệt thôn quê, thành thị, ủng hộ việc hủy bỏ gia đình, chống đối việc duy trì làm ăn cá thể và tư nhân. ( They attack every principle of exisflng society. Hence they are full of the most valuable materials for the enlightenment of the working class. The practical measures proposed in them - such as the abolition of the distinction between town and country, of the family, of the carrying on of industries for the account of private, individuals).
Về mục này, Marx nói rất mơ hồ, không đưa ra một phương châm , đường hướng nào cả, mà chỉ là những lời chỉ trích vu vơ. Sau này, đám đệ tử của ông đặt ra đuờng lối hiện thực xã hội chủ nghĩa. Họ bắt mọi nhà văn, nhà thơ phải ca tụng chế độ, ca tụng giai cấp vô sản và ca tụng đảng Cộng Sản, họ đã coi văn học nghệ thuật như là vũ khí của đảng, là tay sai của chính trị. Từ Liên Xô, Trung quốc cho đến Việt Nam, giới văn nghệ luôn bị kìm kẹp, khủng bố.
IV. Cộng sản và các đảng phái đối lập
Marx cho biết đảng cộng sản cộng tác với các đảng của nhân dân lao động, như là nhóm Hiến chương ở Anh quốc và nhóm Cải cách ruộng đất ở Bắc Mỹ .Và đảng cộng sản tranh đãu cho quyền lợi giai cấp vô sản nên đã hợp tác với các đảng phái khác như ở Pháp Cộng đảng đã hợp tác với đảng Xã Hội Dân chủ để chống tư bản và Cấp Tiến. Ở Thụy Sĩ, đảng cộng sản ủng hộ đảng Cấp Tiến.
Đấy là lời ba hoa của Marx. Thực tế cho thấy đảng cộng sản muốn nắm độc quyền cho nên đã phá hoại các đảng phái khác trong khi họ còn hoạt động bí mật, hoặc khi còn yếu thế. Nhất là khi đã nắm chính quyền , cộng sản không bao giờ chia chác cho đảng khác, trái lại ra sức tận diệt các lực lượng chính trị, tôn giáo khác. Tại Việt nam, Hồ chí Minh đã bắt tay với thực dân Pháp để rảnh tay tiêu diệt Quốc dân đảng và Đại Việt. Họ không có tinh thần hòa hợp, đòan kết dân tộc bởi và từ căn bản họ là độc tài.
*
Có hai điểm quan trọng nhất trong Tuyên ngôn này, đó là vấn đề triệt để hủy bỏ tư hũu và triệt để chống lại các tư tưởng cổ truyền.( The Communist revolution is the most radical rupture with traditional property relations; no wonder that its development involves the most radical rupture with traditional ideas). Hạng bình dân có thể bị lừa đảo vì không biết gì về Marx, họ chạy theo cộng sản vì nghĩ mình là dân nghèo, được cộng sản đem lại nhiều quyền lợi. Nhưng những bậc trí thức như luật gia Nguyễn Mạnh Tường, triết gia Trần Đức Thảo lại không đọc Marx, Engels sao? Chắc họ đọc Marx và Engels nên mới mê mà theo cộng sản cho tàn một đời xuân. Họ đã nghe ít nhiều về việc tàn sát Thanh Nghệ Tĩnh 1931. Họ đã đọc Tuyên Ngôn của đảng cộng sản, họ nghĩ gì về việc cộng sản triệt để hủy bỏ tư hữu, và hủy bỏ mọi tư tưởng cổ truyền?
Con người bị hủy bỏ tư hữu thì làm sao mà sống? Họ có nghĩ học vấn của họ cũng là một thứ tư hữu mà cộng sản ghét bỏ hay không ? Triết gia và luật gia phải suy nghĩ về việc này. Một người lượm được trái táo, trái ổi, cất lại để chiều ăn. Họ có phạm tội tư hữu không, và có đáng bị tội không? Một người làm việc siêng năng, tạo ra của cải, không trộm cắp, giết người đoạt của, tại sao họ bị tước đoạt tài sản, bị tù, và bị giết ? Người ta giết người, bắt bớ đồng loạt, không phân biệt ai có tội hay không có tội chính là do quan điểm của Marx, một kẻ sát nhân ghê tởm, mà sau này Trường Chinh cũng chủ trương giết lầm hơn bỏ sót, và Pol Pot giết hàng triệu người cũng do Tuyên Ngôn này, chủ trương đãu tranh quyết liệt với kẻ thù!
Vô lý nhất, điên cuồng nhất khi Marx chủ trương triệt để thủ tiêu mọi tư tưỏng cổ
truyền. Cộng sản giống như Tây Độc Âu Dương Phong mông chỗng lên trời, đầu đi xuống đất, và coi đó là cách mạng! Khoa học thuần túy và khoa học xã hội đều là kho tàng của nhân loại, được truyền lại từ lâu đời. Trong đó có những cái còn giá trị, và những cái lỗi thời. Chúng ta phải kế thừa và phát huy cái tốt. Chiếc xe ô tô ngày nay là kết quả của cái xe thời Chiến quốc, Xuân Thu. Y khoa ngày nay khác xa y học cổ truyền nhưng phần lớn kiến thức là do thừa kế và phát huy y học cổ truyền. Marx là một trí thức sao laị quá khích và nông nổi như vậy? Nếu cộng sản chủ trương coi mọi giá trị tư tưởng đều vô giá trị thì kiến thức của các ông trí thức theo cộng có đuợc cộng sản tôn trọng không, và các ông chạy theo cộng sản để làm gì? Rất tiếc cho Trần Đức Thảo, Nguyễn Mạnh Tường đã theo cộng sản, đã không dùng kiến thức mình mà áp dụng trong cuộc đời. Lẽ nào hai ông không đọc tuyên ngôn này? Nếu đọc mà hai ông không thấy rùng rợn sao? Dẫu sao, hai ông còn có chút khí tiết, còn hơn Tôn Thất Tùng , Nguyễn Khắc Viện và đám sĩ phu ‘ gà phải cáo’!

Marx có ảnh hưởng rất lớn ở thế giới này. Đa số dân lao động và trí thức tin Marx. Nhưng sau một thời gian, người ta đã thấy rõ bộ mặt thật của cộng sản cho nên nỗi thất vọng càng lớn lao. Ngưòi ta lầm vì Marx đã tô vẽ một thiên đường hạ giới quá hay. Nào là tự do, bình đảng, xã hội không giai cấp, không có vua quan, không ai cai trị ai( hủy bỏ nhà nước), dân muốn làm gì thì làm, muốn hưởng gì thỉ hưỏng, cộng sản giàu mạnh gấp năm gấp mười tư bản, tư bản sẽ chết, vô sản đại thắng, nước Đức là nước cộng sản đầu tiên của nhân loại! Như tại Việt nam, cuộc nổi dậy của Xô Việt Nghệ Tĩnh năm 1931 đã gây ra bao máu xương tang tóc nhưng cũng để lại những huyền thoại về một thiên đường Liên Xô hạnh phúc, trong đó công nhân là chủ nhân ông của đất nuớc:
Có đâu như ở bên Nga,
Ngày làm, ngày nghỉ đều là có lương.
(Văn học Xô VIết Nghệ Tĩnh)
Nay thì mọi người đã thấy thiên đường cộng sản tại Liên Xô, Trung quốc và Việt Nam. Đó là một kinh nghiệm hãi hùng của thế kỷ XX. Tuyên ngôn của Marx là những tiếng cười man rợ của người mộng du hòa với tiếng tru ghê rợn của loài sói trong đêm khuya.
Sơn Trung

TRẦN BÌNH NAM * NGƯỜI CHI DÂU

 TRẦN BÌNH NAM 
 NGƯỜI CHI DÂU


Lần này về quê ở lâu, ý muốn nhìn lại ngôi nhà cũ nơi đó bà Linh đã sống với Bình và đã đau khổ buồn giận bố mẹ chồng bỏ đi trở lại thôi thúc bà mãnh liệt. Nhưng bà còn do dự. Bà tự hỏi: "thăm gì và còn gì để thăm?" Bà sợ khơi lại đống tro tàn dî vãng.

Nhưng bây giộ bà đã quyết. Chiều hôm qua ra vườn chơi với Thúy đang chăm mấy luống rau, vừa lúc mẳt trời đang xuống, bặu trời sáng rực, nắng vàng chiếu vắt lên qua một đám mây trắng lớn làm nổi bật giữa bầu trời một đàn chim đang đập cánh lơ lửng bay về hướng chân trời. Bức tranh gợi lại hình ảnh bà thường thấykhi cùng sống với Bình. Mỗi chiều, cơm nước xong, bà và Bình thường mang ghế ra trước sân nhà nhìn mắt trời lặn và nhìn những đàn chim lạc lỏng bay vội về tổ. Mùa thu, Bình thích vừa nhìn chim bay vừa hátđủ cho bà Linh nghe: "Đến nay thu tàn, phương xa kìa chiếc én bay về ...Khuất trong mây ngàn, riêng ta nhìn đâu thấy bóng quê ..." Tiếng hát của Bình như còn văng vãng đâu đây. Linh bỗng thấy nhớ Bình tha thiết, nhớ nơi bà đã hưởng mộng đẹp thuở ban đầu của người con gái.


Tắm xong, bà Linh chọn một chiếc áo mầu hoa cà là mầu Bình thích nhất,trang điểm vội vàng rổi ra đi. Băng qua mấy con đường làng quen thuộc dẫn về phía bờ sông Hương bà thấy khung cảnh lạ dần, cây cối không còn um tùm như trước, nhường chỗ cho nhiều nhà mới mọc chen chúc nhau, mái tranh xen lẫn mái ngói. Đến một cánh đồng nhỏ trồng lúa, bà Linh thấy con đường tỉnh lộ chạy sát bờ sông. Một kiệt nhỏ rẽ từ tỉnh lộ là đường dẫn đến nhà Bình. Bà Linh không chắc mình vào đúng lối nếu đầu kiệt nhỏ không có cái miếu thành hoàng nay đã bỏ hoang. Thời gian ngắn ngủi ở với Bình mỗi lần về nhà thăm mẹ trở lại bà Linh đã lấy miếu thành hoàng này làm chuẩn để nhận ra đường. Bà bồn chồn. Gần năm mươi năm bà mới trở lại con đường nhỏ này. Cũng gần 50 năm bà không giữ quan hệ nào với gia đình Bình. Bố mẹ Bình chắc không còn, nhưng còn mấy em của Bình? Hai người em, một trai một gái xê xích tuổi với bà, và một chú em út tên là Vạn hồi đó đã 12 tuổichưa biết gì và là người độc nhất trong gia đình có cảm tình với bà. Nhiều khi thấy bà khóc một mình, chú bé Vạn đến bên cạnh ngây thơ hỏi: "sao chị khóc?" rổi hôn lên má chị trước khi bẽn lẽn chạy đi.

Kiệt nhỏ đầy con nít, chỗ này mấy đứa đánh bi cãi nhau chí chóe, chỗ kia mấy đứa tụ lại bên cạnh một quán nhỏ mua bánh kẹo. Mấy đứa lớn ngẫng nhìn bà Linh như nhận ra người khách lạ. Bà nghe chúng thì thào: "Việt kiều tụi bây ơi!" Bà mĩm cười. Danh hiệu Việt kiều từng mang đến cho bà vui cũng như buồn. Vui khi được cưng chiều vì Việt kiều có nghĩa có khả năng tiêu rộng rãi, buồn khi bị đối đãi như một người khách lạ trên chính quê hương mình. Bà Linh cảm thấy lạc lỏng.


Mẳt trời lên đã khá cao. Ẩm độ làm khí trời thêm nóng bức. Làn gió nhờ thổitừ sông Hương im lìm không làm cho bà Linh cảm thấy mát. Bà bước vội để xua đuổi mấy ý nghĩ bực mình. Bà đã nhận ra ngôi nhà ngày xưa,hiện rõ dưới ánh nắng. Bà Linh lấy chiếc nón đang đội xuống cầm tay để quan sát ngôi nhà cho rõ hơn. Ngôi nhà mái ngói trông khô khan, quét vôi trắng, nằm gọn giữa chiếc vườn rộng không còn nhiều cây ăn trái như xưa, mấy luống khoai mì lá vàng thân thể khẳng khiu như thiếu nước.
Trong nhà văng vẳng tiếng một phụ nữ đang mắng con. Nghe giọng bà biết ngôi nhà đã đổi chủ. Lòng bà bỗng dưng tê lạnh. Quá khứ chôn chặt 50 năm muốn khơi lại một lần, một chút, cũng không còn . Tẵt cả đã trở thành dî vãng, ngay cả con đường này, ngôi nhà đó, nơi bà đã sung sướng sống với Bình. Tất cả đều xa lạ. Thời gian đã chết. Bà Linh thấy chơi vơi.
Dấu vội mấy giọt nước mắt dưới chiếc nón lá, bà Linh bước nhanh, rẽ vào lối khác trở về.

* * *
Ngổi trên máy bay trở về Thụy Sî, bà Linh thấy trong lòng bớt nặng nề. Lời chỉ dẫn an toàn của các nữ chiêu đãi viên, âm thanh của hoạt động máy bay khi
cất cánh không làm cho bà thấy lo lo như những chuyến bay trước. Bà tìm thấy sự bình an của tâm hồn sau giây phút xúc động mãnh liệt khi tìm về kỷ niệm xưa. Bà tìm cách lấp một khoảng trống để chỉ thấy một khoảng trống khác, nhưng ít nhẵt bà đã trở về thăm nơi đó.
Chiếc máy bay Jumbo 747 hạ thấp cao độ, bà Linh thấy cảnh vật quen thuộc bên dưới hiện dần ra. Bà thoải mái xem lại dây lưng an toàn, sửa thẳng lại lưng ghế, sung sướng sắp được gặp Hùng và các con.
Phi trường Geneve nhiều hành khách ngoại giao chỉ thua Nữu uớc, rộn rịp như thường lệ. Nhân viên quan thuế và di trú làm việc nhanh chóng và lễ độ.
Bà Linh theo đoàn hành khách thông qua thủ tục quan thuế và nhập cảnh xong, vội vàng bước ra ngoài. Nhận ra nét mặt rạng rỡ của mẹ, cô gái út vừa đỡ hành lý cho mẹ vừa ríu rít:
"Mẹ! Mẹ vỡ quê ngoại chuyến này lâu vui lắm hả mẹ?"
Hùng hôn nhẹ lên má vợ phụ họa:
" Con nói đúng, anh thấy em gầy di chút ít nhưng khuôn mặt thật bình an như người vừa đắc đạo. Mấy lần trước mỗi lần thăm nhà trở về anh thấy em buồn nhớ luyến tiếc một cái gì muốn mang theo chẳng đuợc. Em nghiên cứu giáo lý nhà Phật và tập thiền định đã có kết quả."
Bà Linh mĩm cười sung sướng.

* * *
Một buổi sáng đi chợ về, bà Linh thấy một phong thơ đóng dấu bưu điện Việt Nam gửi đi từ Đà Lạt. Linh tính báo cho bà một cái gì lại đến xáo trộn đời bà?
Vừa bóc thư bà vừa soát duyệt trí nhớ xem còn bạn bè nào ở Đà Lạt. Bà không còn ai thân thích ở Đà Lạt.
Bà Linh nín thở đọc lá thư, sắc mặt biến từ ngạc nhiên đến xúc động. Đọc xong, không kềm chế nổi bà đặt lá thư xuống bàn ôm mẳt khóc nức nở. Vừa lúc đó Hùng đi chơi quần vợt về. Thấy vợ khóc, phong thư còn mằm bên cạnh, Hùng thoạt nghî chắc có chuyện chẳng lành trong gia đình vợ ở Việt Nam. Nhưng Hùng không tin. Hùng biết vợ là người giỏi chịu đựng và quen kềm
Hùng thoạt nghî chắc có chuyện chậng lành trong gia đình vợ ở Việt Nam.


Nhưng Hùng không tin. Hùng biết vẼ là người giỏi chịu đựng và quen kềm chế cảm xúc. Xưa nay buồn khổ gì bà chĩ để thoáng lên nét mặt, chưa bao giờ khóc, ngay cả lặn đứa con trai thứ nhì năm đó mới 8 tuổi đị học về bị xe cán phải nằm phòng hổi sinh mấy ngày mới biết thoát chết bà cũng cắn răng chịu đựng không khóc. Hùng yên lẳng đến ngổi cạnh bà Linh, âu yếm đặt nhẹ bàn tay lên vai vợ, đôi mắt hỏi han nhìn bà không nói, sẵn sàng chia sự thống khổ với bà.
Bà Linh ngừng khóc, cặm lá thư đưa cho Hùng nhẹ nhàng bảo: "Anh đọc đi."
Hổi hộp Hùng mở bức thư:
"Đà Lạt ngày 4 tháng 6 năm 1994
Chị Linh,
Tôi xin giới thiệu để chị khỏi ngỡ ngàng. Tôi là Nguyễn Vạn Giang, em ông Nguyễn Văn Bình ở Kim Long. Chắc chị còn nhớ người chồng bất hạnh chĩ được hạnh phúc sống bên chị một năm rổi tức tưởi qua đời trong chiến tranh.
Bốn mưoi tám nạm nay, từ hổi anh tôi bị lính Pháp bắn chết rồi xô xác xuống sông như lội chị thuật lời, ba má tôi vì quá đau khổ đã không biết phải đối xừ với chĨ như thế nào cho phải. Thế rổi chị trở về với hai bác.

Một phần vì chiến tranh, một phần chúng tôi còn nhö không ai nghî đên việc tìm xác anh tôi xem đã trôi dạt phương nào, hơn nữa chỉ có chị là người duy nhẵt biết những chi tiết cuối cùng trước khi anh tôi qua đời, thì từ đó đến nay gặn 50 năm chúng tôi không hề biết tin tức của chị. Do hoàn cảnh thực tế của một đất nước bị chiến tranh và tâm lý, chúng ta hoàn toàn cắt đứt quan hệ với nhau.
Cách đây mấy năm ở Việt Nam có phong trào truy tặm thân nhân thẵt lạc trong chiến tranh, tôi về Huế hỏi thăm tin chị như bước khởi đầu truy tìm xác cüa anh tôi. Hơn nữa, chị còn nhớ chú Vạn hồi đó 12 tuổi thương chị nhất nhà, thĩnh thoảng chú Vạn hỏi tôi biêt tin tức chị ở đâu không.
Ở Huế tôi được biết chị vừa về thăm quê ở gặn 6 tháng và mới trở về Thụy Sî. Cô An bên chị cho tôi địa chỉ cüa chị.


Vậy xin chị, vì tình cũ nghîa xưa với người chổng đã khuẵt cho tôi biết thật đầy đủ chi tiết những gì chị còn nhớ vào nhăng ngày kinh hoàng nạm 1946 đó, may ra được người ta gói ghém chôn cẵt tại một nghîa trang từ sî nào đó.Hiên nay tỉnh nào cũng có nghiã trang liệt sî dành cho những người đã bỏ mình trong cuộc kháng chiến chống Pháp giành độc lập. Tại nghîa trang liệt sî Bến Cát có một ngôi mộ vô chủ đề tên Nguyễn Văn Bạc. Tôi sẽ xin khai quật để xác minh xem có phải đó là mộ phần của anh tôi không sau khi có thêm chi tiết nơi chị đã kiểm chứng. Anh tôi có một chiếc răng cời. Năm về Huế cưới chị, tôi nghe anh tôi định sẽ nhổ đi, nhưng tôi không biết đã nhổ chưa trước khi anh tôi lâm nạn.
Nạm 1946 chị trở lại Huở sau khi anh tôi qua đời, nhớ lại tôi rẵt tiếc ba má tôi và chúng tôi đã đối đãi thiếu thông cảm với chị. Mới rồi tôi đã lên Bến Cát, lên cầu Bến Củi, nhìn con sông Bến Lức khá rộng chảy dưới cặu, vào làng Hòa

định, nghe các cụ già kể lại chuyện Tây khủng bố trắng dân làng khi tái chiếm, bắn hằng loạt người đôi khi có cả phụ nữ, chúng tôi biết chị không có cách gì khác hơn là chạy lấy thân để về cho ba má tôi biết sự tình. Lúc này có cơ hội hiểu nỗi khổ tâm của chị thì ba má tôi đều đã qua đời.
Tôi rẵt mong thư chị hổi âm để chuẩn bị đi Bến Cát một lần nữa."


Đọc xong thư Hùng thấy đau nhói. Buổn và giận làm Hùng choáng váng.Nhưng Hùng kịp trấn tĩnh. Hùng hiểu nếu Linh không thổ lộ được sự thặm kín cüa cuộc đời nàng với Hùng trước khi cưới nhau thì nàng sẽ không đủ can đảm tỏ bày khi đứa con đặu lòng ra đời và hạnh phúc gia đình dồn dập tới.
Hùng nhớ thời gian thân mật với Linh trước khi cưới, hơn một lần khi đang vui bỗng nhiên Linh trở nên trang nghiêm nói: "Anh Hùng, có chuyện quan trọng này Linh phải nói với anh." thì lặn nào Hùng cũng sợ mất giây phút thặn tiên quí báu trước vẻ đẹp lộng lẫy của Linh gạt phắt: "Không có gì quan trọng hơn giây phút anh và em ở bên nhau." Bây giộ Hùng thẵm thía nỗi đau
của vợ, một mình chôn chặt sặu muộn trong lòng suốt nừa thở kỷ qua, và bỗng thấy thương vợ vô cùng.
Thấy Linh im lặng chờ đợi, Hùng âu yếm:
"Anh biết anh đã không cho em cơ hội nói chuyện này với anh từ những ngày chưa cưới nhau. Lỗi tại anh. Vấn đề bây giờ là chúng ta có nên cho các con biết không?"
Linh dứt khoát: "Không, không anh. Chúng ta không có quyền đó."

* * *

Ba hôm sau, Linh viết cho Giang.
"Chú Giang,
Thú thật với chú, chị đã ngạc nhiên và ngỡ ngàng lúc nhận được thư từ thành phố Đà Lạt gửi đến, ở đó chị không còn ai quen, lục trong ký ức cũng không nhớ ai là Nguyễn Văn Giang. Chị vội vàng đọc thư, đến hàng thứ nhì thấy chữ
Nguyễn Vạn Bình lòng chị quá xúc động. Một dî vãng rùng rợn thoáng hiện lại trong trí óc chị, vui buổn đau khổ trên 48 nạm trội xuyên qua các biến chuyển cüa đất nước mà chĨ đã chôn vùi tận đáy lòng chĩ một mình biết một mìnhmình hay.


Chị đã đọc đi đọc lại thư chú. Trước hết chị cảm tạ chú và chú Vạn đã nghî đên việc tìm kiếm hài cốt người anh quá cố, cũng là người chổng đầu cỦa chị, để mang về quê quán cho được gần mộ phần cha mẹ.
Chị cũng tự thấy lòng mình được bình thản hơn, nhất là sau khi đọc đoạn thư chú cho biết các cô các chú sau khi nghe chú tường thuật chuyến đi Bến Cát,đến cầu Bến Củi, xuống tận xã Hòa Định hỏi han các cụ già còn sống sót đã chứng kiến cảnh người Pháp khủng bố dân làng và giết những người theo kháng chiến như thế nào, đã rõ nguyên nhân cái chết bi thảm cüa anh Bình và thông cảm tại sao chị không thể ở lại tìm cho ra xác chổng trước khi trở về.
Hồi tưởng lại năm xưa khi trình bày về cái chết của anh Bình, cha mẹ và các cô chú lớn tuổi đều không tin đó là sự thật, nghi có một bí ẩn nào bên trong,rồi tìm cách không chấp nhận chị trong gia đình không một lời an üi thương


hại tội nghiệp cho tuổi xuân xanh cüa chị sớm góa bụa. Chị đành gạt nước mắt trở về nhà bố mẹ.
Như đã thuật lại cho cha mẹ cách đây 48 năm, chĨ xin ghi lại các nét chính để chú dùng làm dữ kiên xác minh mổ mả cüa anh Bình. Chú còn nhớ anh Bình là nhân viên quản lý nhà giam Ông Yệm nơi giam giữ trẻ vị thành niên phạm tội. Khi Việt Minh cướp chính quyền năm 1945, anh Bình và một số nhân viên làm việc cho chính quyền cách mạng. Qua các hoạt động của anh Bình chị biết anh đã tham gia phong trào chống Pháp từ trước. Năm 1946 khi Pháp tái chiếm Nam bộ, anh Bình hướng dẫn một số nhân viên sở Ông Yệm, trong đó có anh giáo Trinh, tham gia các tổ du kích tiếp tục chống lại người Pháp. Anh Bình giả làm dân lành sống như các gia đình khác tại một căn nhà cạnh bìa rừng để hoạt động. Cuộc sống rẵt nguy hiểm bẵt trắc vì quân Pháp bố ráp thường xuyên. Hơn một lặn anh Bình bảo chị: "Em nên tìm cách về Sài Gòn liên lạc với bà con bên ngoại cüa anh tìm đường về Huế ở với cha mẹ một thời gian. Kháng chiến thành công anh sẽ về đón em." Thế rổi lần lữa quen với hiểm nguy chị bịn rịn không rời anh được.


Một buổi sáng trước rạng đông, một tiểu đội lính Pháp ập vào chòi lá anh chị đang ẩn náu, chîa súng nạt nộ bắt anh dong tay, lục xét muốn đánh anh Bình ngay. Thấy anh Bình nói tiếng Pháp lưu loát chúng cũng nể không hành hung
anh tại chỗ.
Khi bị dẫn đi anh mặc một sơ mi trắng đã ngả màu, bên ngoài khoác một chiếc áo len màu đỏ do chính tay chị đan, quần sọt kaki vàng, chiếc răng cời của anh như chú hỏi vẫn còn nguyên.
Hôm sau, chị bôi mặt mày giả dạng bà già đi với chị Bảy, bạn cùng xóm tìm đến đồn lính Pháp. Họ cho thăm. Anh Bình khuyên chị trốn đi, vài hôm được thả anh sẽ kiếm chị.


Chị trở về nương náu nhà anh chị giáo Trinh chờ tin anh. Bữa hôm sau, một buổi sáng chị và chị Trinh vào rừng kiếm cüi trở về, vừa trông thẵy chị, anh giáo Trinh vừa khóc vừa nói: "Chị ơi! liên lạc vừa đến báo tin anh Bình đã bị
chúng giết chết rồi. Chúng bắn anh trên cầu Bến Củi trước mắt dân chúng để thị uy, xong đá xác anh xuống sông."
Chưa nghe hết câu chị ngả lăn bất tỉnh không biết bao lâu, nhờ vợ chồng anh giáo Trinh cứu chữa mới tỉnh lại. Sau đó chị lên cơn sốt liên miên. Nằm trong chòi lá chị chờ tin liên lạc viên kiếm xác anh. Các cụ già nói xác trôi sông
nhiều lắm ba ngày sẽ nổi lên. Chờ mãi không có tin tức gì. Chị nghe nói sông Bến Lức chảy về Thủ Dầu Một rồi ra sông lớn.


Không còn hy vọng kiếm được xác anh Bình để chôn cẵt, chị cùng gia đình anh giáo Trinh tìm đuờng về Thü Dặu Một . Từ đó chị về Sài gòn, may kiếm đuợc gia đình anh Khánh, bà con xa bên ngoại của anh Bình. Chị bán mấy chiếc áo cưới, thêm chút tiền giúp đỡ của anh chị Khánh ra Vủng Tàu, đi tàu thủy ra Hải Phòng, từ đó lấy tàu điện lên Hà nội, rổi đi xe lừa về Huế. Chị không thể kể lại hết mọi gian truân của chuyến đi hai tháng đó. Nhiều lúc tưởng chừng không thể mang xác về đến quê hương. Lúc đó chị vừa 18 tuổi.
Chị hy vọng với những chi tiết trên và vong hổn linh thiêng của anh Bình sẽ giúp chú định được mộ phần của anh.
Chị cầu nguyện và chờ thư chú."

* * *

Được thư Giang thông báo, năm sau từ Los Angeles Vạn đến Geneve thăm gia đình chị Linh. Trở về Vạn viết cho anh:
"Anh Giang,
Nhân có việc đi Thụy Sî em có đến thăm chị Linh và gia đình. Đã hẹn trước nên chỉ có anh chị Linh ở nhà. Chị nhìn em bỡ ngỡ không ngờ gặp lại chú bé em chồng cũ năm xưa.Chị nấu bún bò Huế đãi em, và anh Hùng tự tay mở rượu chát để mời em.
Câu chuyện trao đổi thân tình ấm áp mặc dù đối với anh Hùng em là người xa lạ, và đối với chị Linh em là hiện thân cüa một ky niệm đau buổn nhẵt của đời chị. Cả ba người đều không nhắc đến anh Bình, mẳc dù không ai quên.

Khi em đến chị Linh chào em, không ôm em vào lòng theo lối tây phương, nhưng lúc đưa em ra cửa chị ôm em vào lòng dấu vội mấy giọt nước mắt nói nhỏ: 'Chú giống anh Bình quá!' Chị không cùng với anh Hùng tiển em ra xe, chị đứng ở ngưỡng cửa nhìn theo."

* * *

Từ đó mỗi lặn đi Âu châu Vạn không đến thăm chị Linh nữa. Vào dịp Tết Vạn cũng không gửi thiệp chúc Tết chị. Vạn vẫn nhớ thương chị, nhưng chị cần được sống bình an.

LÊ VIỆT ĐIỂU * NHỮNG CHUYẾN ĐI

Có Những Chuyến Đi                                                                                                   Lê Việt Điểu
Mỗi sáng tôi lái xe qua con đường nầy, rời exit vòng quanh một ngã tư, mừng vui khi rời xa lộ và đi vào sở (Xa lộ mỗi sáng trên đường đi làm thường bận rộn vì quá nhiều xe-một vấn nạn về giao thông-nước Mỹ chưa giải quyết nổi)

Chắc tôi có duyên với phi trường (nói một cách tử vi đẩu số -theo má tôi-thì cung thân của tôi phải có Thiên Di-Thân cư thiên di) và những chuyến bay cho nên cả hai công ty tôi làm việc đều có văn phòng gần phi trường (Và tôi đi công tác thường xuyên bằng phi cơ) Văn phòng công ty thứ nhất nằm ngay cổng vào phi trường, sau khi từ giã nó để đến làm cho một công ty khác, và văn phòng của công ty thứ hai (như một định mạng khó cắt lìa) lại gần phi trường, cổng saụ Và như thế mỗi sáng tôi đều đi ngang qua phi trường. Những chuyến bay mỗi sáng sớm (thường thường) khiến lòng tôi se lại (Tôi không biết lý dọ)

Nếu mỗi sáng trên xa lộ từng đoàn xe nối đuôi đến sở làm, nơi phi trường cũng có những chiếc phi cơ nối đuôi nhau ra phi đạo và lao vào không gian. Nhũng chiếc phi cơ mang nhiều quốc tịch, nhiều màu cờ khác nhau nối đuôi rời khỏi không phận thành phố để trở về nơi nó đã đến, hoặc mang đi những khách sẽ trở về. Tôi nghĩ lan man về những chuyến đi. Có một lần đứng ở bao lơn trên tầng cao của nhà đợi, tôi nhìn thật gần những chuyến bay đến và đi.  Nhìn những chiếc phi cơ từ trên tầng mây cao chợt xuất hiện và từ từ lấy toạ độ vào phi đạo giống như những con cá khổng lồ đang lặn xuống đáy sâu bình yên, giã từ những cơn sóng xôn xao trên mặt biển. Những chiếc phi cơ nhẹ nhàng chạm bánh xuống phi đạo tạo nên những tiếng két két và một chút bụi mù. Nhìn theo những chuyến bay và chợt nhớ. Bụi tro dĩ vãng không hẹn mà sao cùng kéo về đầy ắp não bộ.

Ngày đầu tiên đến thành phố đầy nắng ấm và hoa vàng rực rỡ (từ chốn đồi cao tuyết phủ) tôi đã có cảm giác mất mát, hụt hẫng. Chiếc phi cơ chạm bánh xuống phi đạo như hất bổng tôi lên và ném vào một nơi hoang mang cùng tột, đầy xáo trộn bất an. Nhưng, chẳng bao lâu sau mọi chuyện trở lại bình thường. Cảm giác về nơi ở mới cũng như thế. Tôi làm quen nơi chốn mới lạ, tìm việc làm, mướn chỗ ở. Trong vòng 2 tháng đổi chỗ làm hai nơị Công việc văn phòng thật nhàm chán và có nhiều thời gian rảnh rổị Những người làm thương mại có lẽ sẽ kêu lên tại sao tôi có quá nhiều thời gian để suy tư vớ vẫn trong khi họ qua bận rộn với những schedule làm việc kín mít từ thứ hai cho đến thứ sáủ Trời cho.

Từ căn phòng trên tầng lầu thứ 5 nhìn vào phi trường rộng mênh mông với những hàng đèn nhấp nháy xanh đỏ, những chiếc Boeing 747 sóng soài xoải cánh bình an chờ đợi lần tung mây kế tiếp. Tôi nhìn mỗi ngày không chán mắt. Rồi tẩn mẩn nghĩ ngợi "Có thể tôi đã ngồi trong lòng nó một lần nào đó trong những chuyến ra đi của tôi". Tại sao thế nhỉ. Tại sao tôi cứ mãi ra đi không một nơi dừng chân? Không có ai kiềm giữ nổi con ngựa chứng bất kham? Hay tôi chưa có một tình yêu đủ để làm một mái ấm gia đình? Con chim Ương cần chiếc cánh kia của con Uyên đề bay về miền nắng ấm? Con Uyên ở đâu ?

Tôi chợt nhớ đến Thành-tên nghe thật hay Trần Trung Thành-Và rồi uyên uơng vẫn phải chia xạ Rời hải đảo Hạ Uy Di tôi về vùng Hy Mã Lạp Sơn Mỹ quốc. Thành phố Boulder giữ chân tôi thật lâu, và tôi đã gặp chàng. Câu chuyện như chiêm bao.

Người chủ sự phòng khám bệnh dẫn đến cho tôi một người và giới thiệu:
- Đây là anh Thành. Cô có thể làm quen và ...tùy cô.
- Chào anh Thành. Chúng ta có thể ra ngoài kia nói chuyện một chút được không?
- Dạ thưa được.
Thành nhỏ nhẹ như cô gái quê e lệ, và bở ngỡ lúng túng như hẹn hò tình nhân lần đầụ Anh đang đối diệin sự ngổ ngáo, mạnh bạo, thoải mái, cởi mở có lẽ anh chưa từng quen.
- Anh mới đến? Tôi kéo ghế ngồi.
- Dạ mới đến.
- Trước đây anh ở tiểu bang nàỏ
- Không. Tôi mới vừa đến từ Việt Nam.
- Okaỵ Tên tôi là Thi Thị Tôi đang cần một số bệnh nhân để thực tập. Tôi đang học nha khoạ Anh có bằng lòng làm bệnh nhân của tôi không?
- Tôi chẳng biết nữạ Tôi hiện chưa có bảo hiểm y tế. Tôi đang đợi chờ để xin. Hôm nay tôi đến ghi tên xin khám răng nhưng chưa có bảo hiểm đang ngồi chờ giải quyết thì có nhân viên đề nghị đến gặp cô.
- Ô, thì ra thế. Anh nên biết ở đây anh không có bảo hiểm y tế thì rất khó đi làm răng hoặc khám bịnh. Có bệnh viện miễn phí nhưng phải chờ đợi rất lâu. Còn tôi đang thực tập cho nên tôi phải đi kiếm bệnh nhân.
Thành ngập ngừng:
- Như thế thì cô giải quyết trường hợp của tôi như thế nào?
- Anh hiều lầm rồi .Tôi không phải là người có trách nhiệm giải quyềt trường hợp của anh. Tôi chỉ nhờ anh làm bệnh nhân cho tôi mà thôi. Nếu anh bằng lòng thì tôi sẽ khám răng cho anh.

Mọi chuyện sau đó ổn thỏa nhẹ nhàng, và Thành là bệnh nhân. Nếu mọi việc trôi xuôi như mưa trên trời đổ xuống thì mọi chuyện sẽ xảy ra như thế nầy: Thành và tôi sẽ yêu nhau, một câu chuyện tình rất tiểu thuyết bắt đầu bằng cô nha sĩ thực tập và Thành là bệnh nhân. Lửa gần rơm dễ bén, Thành không đến nổi xấu trai, anh có trình độ (Mặc dù hơi quê-quê của người Việt Nam mới định cư tại Mỹ) và tôi là cô gái chưa chồng. Tình yêu sẽ đến rất nhẹ nhàng có thể kết thúc một đám cưới dễ dàng. Nhưng đó chỉ là chuyện tiểu thuyết. Trên thực tế, tình yêu có xảy ra giữa hai chúng tôi, và anh là Trần Trung Thành, tên chẳng giống người-Chúng tôi đã xa nhau đoạn kết.

Mẹ tôi qua đời, và trước khi nhắm mắt, ước nguyện cuối cùng của người: "Mẹ không muốn con suốt ngày nhìn vào răng của người ta mà làm kế sinh nhaị Mẹ khiếp lắm." Tôi không biết lý do nào mẹ tôi đã mang ấn tượng không mấy đẹp về người nha sĩ. Tôi thương mẹ nên đã hứa.  Đã lỡ hứa, tôi phải thực hiện. Tôi bỏ dỡ chương trình vàchuyển ngành. Phần chàng, sau những năm đầu bở ngở, chàng trở lại trường theo đề nghị của tôi. Chàng tốt nghiệp. Lần đầu tiên sau nhiều năm quen nhau tôi đến thăm chàng tại nhà (Chàng nói: Để chuẩn bị cho một đám cười thật linh đình.)

Căn nhà mới mua còn thơm mùi sơn mới, thảm mới và sân cỏ mới trồng:
- Em vào nhà anh giới thiệu với mẹ anh.
- Okaỵ Lần đầu tiên gặp mẹ anh em hồi hộp lắm.
Nhà đông anh chị, cha Thành bỏ mình trong trại tù. Người mẹ:
- Chị quen thằng Thành nhà tôi bao lâu rồỉ Ồ mấy năm rồi cơ à.
Thế sao hôm nay mới đến. Thế chị đang làm gì ở đâủ Tôi chẳng nghe thằng Thành nói gì cả.

Nếu biết trước nó xảy ra như thế thì tôi không nên nhận lời ở lại ăn bữa cơm tối. Bữa cơm chiều hôm đó thật không thích hợp cho tôi chút nào . Người anh cả của Thành đã lập gia đình, mấy anh chị kế có người đến Mỹ trước đã mua nhà riêng (Nhà bên cạnh cùng chung hàng rào) có người còn ở Việt Nam. Các cháu của Thành đều ở chung nhà. Một nhà từ trên xuống dưới chịu sự kiểm soát của mẹ Thành không ai có một lời phàn nàn. Có thể bà lớn hơn má tôi nhiều, nhưng trông bà khoẻ mạnh hơn má tôi. Răng bà đen bóng, chân tay khoẻ mạnh, da dẻ bà hồng nhuận. Trông vào bà người ta có thể biết bà có một quá khứ vàng son nhung lụa. Có một điều không thích hợp cho tôi: Bà rất độc đóan và Thành là con út trong nhà. Chẳng những thế Thành vâng lời mẹ như một chú bé học trò.

Những lần đến chơi nhà sau đó tôi đã nghe loáng thoáng những lời bình phẩm về cách ăn mặc, đi đứng, suy nghĩ của tôị "Ái dà, chạm đến đời sống riêng tư của tôi rồi". Tôi không thể chịu được sự phục tùng quá độ trong nếp sống ở nhà Thành. Chàng nói:
- Áo mặc sao qua khỏi đầu.  Làm con gái phải biết tam tòng tứ đức.
- Ái dạ Cái gì tam tòng tứ đức đây anh. Em có nghe mẹ nói nhưng chuyện đó lâu rồi.
- Chúng ta là người Việt mà em.
Tôi cười:
- Anh cổ lổ còn hơn mấy ông cụ trong hội cao niên.
Chàng nghiêm mặt:
- Phép tắc không thể bỏ được em ạ. Người Mỹ họ tự do quá trớn em không thấy đó sao ?
- That's okaỵ Nhưng mình đâu có copy tất cả.
Thành vẫn chống chế:
- Người Việt Nam có tập quán của người Việt Nam, đâu có thể để mai một đồng hóa với xứ ngườỉ
- Ai ya! Thế nào là đồng hóa anh nói em nghe coỉ
- Nhưng em ăn mặc thế kia trông hấp dẫn thật...như mẹ anh bảo lố lăng.
Tôi hết chịu nổi và bật cười lớn:
- Mùa hè ông tướng à. Một năm chỉ có mỗi vài tháng hè ấm áp, anh nhìn ra ngoài kia coi.  Cả thành phố người ta tươi mát như thế. Có đâu như các chị của anh...trùm kín không khác gì mấy người Ai Cập, Ba Tu .

Thành im lặng. Các buổi đi chơi ngày càng khó chịu hơn, gò bó hơn và tôi quyết định ra đi khỏi chốn nàỵ Miền Tây Hoa Kỳ nắng ấm, có sóng biển, có vị mặn của biển trong không khí. Tôi đã ra đi.

Hôm nay trời bắt đầu rắt giọt nắng đầu tiên xuống thành phố sau mấy tuần vào Xuân không có nắng. Không khí còn hơi ẩm, các thảm hoa dọc theo các xa lộ đã khoe màụ Và tôi chuẩn bị cho một mùa hè-Mùa Hè đầu tiên trên bãi biển, tôi nghĩ đến Santa Cruz. Chiều thứ Sáu nôn nao, ngoài khung cửa kiếng, những chiếc phi cơ vẫn lên xuống đều đều. Tôi không muốn có những chuyến đi ngoài dự định.
                                                                                        Lê Việt Điểu

No comments: