Saturday, November 5, 2016

NGUYỄN THIÊN THỤ * NHÂN LOẠI VÀ PHẬT GIÁO

Phật tich Borobodur, Indonesia 


NHÂN LOẠI VÀ PHẬT GIÁO
NGUYỄN THIÊN THỤ


I. NHÂN LOẠI

Con người thường thắc mắc "Ai sinh ra ta, ra loài người?" Ta từ đâu đến và sau này sẽ đi về đâu". Đấy là những câu hỏi mang tính siêu hình. Còn các sử gia và khoa học gia đặt câu hỏi theo một chiều hướng khác: " Con người từ đâu sinh ra" ," Con người tiến hóa ra sao qua những chặng lịch sử".
Từ trước, nhiều sử gia và nhà khảo cổ đã nghiên cứu về lịch sử nhân loại. Chúng ta có thể phân chia những học giả này thành hai nhóm. Nhóm thứ nhất là các học giả đã hiện diện từ trước, ta gọi là nhóm Ánh Sáng Cổ, chủ trương rằng văn hóa thế giới từ châu Phi truyền sang châu Âu, rồi từ phương bắc đi xuống phương nam.Người ta cho rằng Trung Đông, Ấn Độ, Trung Quốc là những trung tâm văn hóa sớm nhất nhân loại. Nhóm này gồm các sử gia và nhà khảo cổ Georges Coedès, Grahame Clark, Madeleine Colani. Còn nhóm thứ hai mới xuất hiện, ta gọi là nhóm Ánh Sáng Mới, gồm có Wilhelm Solheim II, Carl Sauer, Chester Gorman, Stephen Oppenheimer, Bình Nguyên Lộc… chủ trương rằng vùng Nam Đảo là trung tâm văn hóa nhân loại từ thời tiền sử mà Việt nam và Nam đảo vốn cùng chung một nguồn gốc.

Nhà khảo cổ học danh tiếng người Mỹ, Wilhelm G. Solheim II, đã có ý kiến mới mẽ, trái ngược với quan niệm cũ . Trong quyển sách nhan đề Eden in the East - The Drowned Continent of Southeast Asia. [575 trang,  do Orion Publishing xuất bản 1998 và   1999 ,  Lê Sĩ Giảng, Hoàng Thị Hà dịch từ nguyên tác tiếng Anh: Eden In The East, Nhà xuất bản Lao Động và Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây ấn hành, Hà Nội, 1/2005 ] - đưa ra nhiều bằng chứng để đi đến kết luận rằng Đông Nam Á chứ không phải Trung Quốc hay Ấn Độ) có thể là nơi đã đặt một số nền tảng đầu tiên cho văn minh của nhân loại, rằng Đông Nam Á là nơi phát triển nền nông nghiệp sớm nhất, và có thể là quê hương của kỹ nghệ kim loại đầu tiên trên thế giới. Những kỹ thuật này đã được truyền đi khắp thế giới qua làn sóng di cư vĩ đại xuất phát từ ĐôngNam Á.Theo Oppenheimer, những di dân này có thể là những hạt giống cho những nền văn minh lớn khác mà sau này được phát triển ở Ấn Độ, Lưỡng Hà, Ai Cập và Địa Trung Hải.


Trong tác phẩm trên, Stephen Oppenheimer đã dùng khảo cổ, ngôn ngữ, di truyền học và thần thoại để chứng minh rằng Đông Nam Á là chốn Địa Đàng của thời tiền sử. Khởi đầu, ông chỉ trích các nhà khảo cổ trước đây quan niệm sai lầm rằng Ấn Độ, Trung Quốc truyền bá văn minh cho vùng Đông Nam Á (ĐĐ, 1) Ông cũng chỉ trich những cuộc khảo cứu cho rằng văn hóa truyền từ Tây sang Đông, và ông cho đó là một điều ngạo mạn (ĐĐ, 4).

Wilhelm Solheim II cũng đồng quan điểm với Stephen Oppenheimer phê phán đường lối sai lầm của các nhà khảo cổ trước đó đã tìm nguồn gốc văn minh thế giới tại Cận Đông, Ấn Độ và Trung Hoa mà chẳng để ý đến khu vực Đông Nam Á là nơi có nhiều bằng chứng xác thực.

Ông bác bỏ luận thuyết cũ, nêu lên vài bằng chứng cụ thể:

-Điều hiển nhiên là người ta tìm thấy các chứng tích tại những nơi mà ngành khảo cổ đào xới trong vùng Đông Bắc và Tây Bắc Thái Lan, với những chứng minh hỗ trợ từ các cuộc đào xới ở Đài Loan, Nam và Bắc Việt Nam, các miền khác của Thái Lan, Malaixia, Philippin, và ở cả Bắc Úc Châu nữa.Các vật dụng đã tìm được và ước định tuổi bằng cacbon 14 là những di tích văn hóa của dân tộc mà tổ tiên họ đã biết phương pháp trồng cây, chế tạo đồ đá mài và đồ gốm sớm hơn các dân tộc Cận Đông, Ấn Độ và Trung Hoa tới cả hằng mấy ngàn năm.

- Năm 1952, ông Carl Sauer, một nhà địa chất học Mỹ, đi thêm một bước xa hơn nữa. Ông nêu giả thuyết là khoa trồng cây trên thế giới đã bắt nguồn trước tiên trong vùng Đông Nam Á. Ông cho rằng khoa trồng cây do một sắc dân mang lại đây trước thời kỳ Đông Sơn rất lâu, họ được biết tới dưới danh hiệu một nền văn hóa thô sơ gọi là văn hóa Hòa Bình.


-Năm 1963, ông cùng phái đoàn hỗn hợp của bộ Mỹ nghệ Thái Lan và trường Đại học Hawaii để tìm kiếm cổ vật ở miền Bắc Thái Lan, kết quả cho thấy:


Trong một chỗ đất chỉ rộng chừng 2,5cm2, có một mảnh đồ gốm có in vết vỏ của một hạt lúa, có niên đại muộn nhất là 3.500 năm trước công nguyên. Như vậy có nghĩa là trước cả ngàn năm so với những hạt lúa tìm thấy ở Ấn Độ và Trung Hoa cũng được xác định bằng phương pháp cacbon (mà trước đây, dựa vào đó các nhà khảo cổ đã cho rằng con người tại đây biết trồng lúa nước trước tiên).

Stephen Oppenheimer viết rằng Đông Nam Á là cái nôi của văn hóa loài người, đã làm nảy nở những nền văn hoá vĩ đại không chỉ ở Viễn Đông mà còn ở Trung và Cận Đông hơn 7000 năm về trước, đồng thời mang đến cho lục địa Á-Âu một thư viện đầy ắp những câu chuyện huyền thoại dân gian (ĐĐ, xiii).


Theo Stephen Oppenheimer, trước đây Đông Nam là một lục địa lớn vươn ra đại dương giống hình một cái lưới chụp vươn ra theo cánh tay chài của người ngư phủ, cả khu vực, bao gồm cả các quần đảo, tạo ra một thềm lục địa - thường gọi là thềm lục địa Sunda - có kích thước gần bằng kích thước của lục địa châu Phi. Dù phần lớn diện tích nay đã thành biển cả, nhưng khu vực này vẫn là nơi quy tụ của một lượng dân số đông đáng kinh ngạc. Xét về mặt chính trị và địa lý, có hai phần cơ bản: lục địa và hải đảo (xem Biểu đồ 10). Phần lục địa có hai bán đảo: tên gọi là Sundaland trải dài từ sông Dương Tử cho đến vịnh Thái Lan, biển Java, và một phần đất của Ấn Độ ngày nay và đến gần châu Úc. Sau khi kỷ Băng hà chấm dứt khoảng 10.000 năm về trước, Đông Nam Á bị nạn hồng thủy, làm cho vùng này biến thành ba vùng khác nhau:
-Vùng thấp hóa thành đáy biển
-Vùng cao thành các đảo Indonesia, Philippines...
-Vùng lục địa còn lại gồm Việt Nam, Cambodia, Lào, Thái lan, Myanmar (Miến Điện) (ĐĐ,1)


Tại sao Stephen Oppenheimer bác bỏ thuyết cho văn minh Trung Hoa, Ấn độ truyền vào Đông nam Á? Ông trả lời:

Một vài phát hiện khảo cổ gần đây đã đánh tan mối nghi ngờ về một quan điểm từng được chấp nhận rộng rãi là khu vực này ban đầu chịu ảnh hưởng từ văn minh Ấn Độ và Trung Hoa. Hệ thống nông nghiệp ở Indonesia có niên đại còn lâu đời hơn nhiều so với cái nôi truyền thống ở Cựu Thế Giới thời kỳ đồ đá mới thuộc Trung Cận Đông. Bằng chứng về việc trồng cây khoai sọ và khoai lang được tìm thấy ở Indonesia có niên đại khoảng giữa 10.000 và 15.000 năm trước Công nguyên. Thêm nữa, nền văn minh lúa nước có thể đã ra đời vào khoảng thiên niên kỷ thứ sáu hoặc thứ bảy trước Công nguyên, sớm hơn nhiều so với thời điểm người Trung Hoa phát minh ra nó (ĐĐ,5)


Cũng ở đoạn này, ông cho rằng di chỉ đồ đồng ở Bian Chang ở Thái Lan và Phùng Nguyên ở Việt Nam có sớm hơn Trung Quốc (ĐĐ,5). Ông bác bỏ lập luận cho rằng văn minh Ấn Độ truyền sang Đông Nam Á:


Một vài nơi ở Đông Nam Á đã làm chủ được những kỹ năng tương tự như các kỹ năng được sử dụng trong các nền văn minh cùng thời như Lưỡng Hà, Ai Cập và Thung lũng sông Ân, nếu không muốn nói là sớm hơn. Nếu nói rằng cư dân Đông Nam Á học những kỹ thuật đó từ người Ân Độ thì ai là người đã dạy họ kỹ thuật trồng trọt và luyện kim hàng ngàn năm trước? Và họ đã làm gì trong thời gian giữa hai thời kỳ đó?(ĐĐ.5).

Stephen Oppenheimer cho biết thành tựu khoa học, kỹ thuật của dân Đông Nam Á di cư đến các nơi:
Những dự đoán này xuất phát từ bảng niên đại mới về cuộc Cách mạng Đồ đá mới ở lục địa Âu Á. Các nước ở vành đai Thái Bình Dương dường như đã bắt đầu cuộc cách mạng của họ trước phương Tây một thời gian dài nhưng sau đó buộc phải dừng lại. Cách đây khoảng 12.500 năm, không lâu sau trận đại hồng thủy thứ nhất, nghề gốm ra đời ở phía nam Nhật Bản. Khoảng 1.500 năm sau, có bằng chứng cho thấy các bình gốm đã được làm tại Trung Quốc và Đông Dương. Những điều này cho thấy nghề làm gốm ở khu vực này đã có trước khu vực Lưỡng Hà, Ấn Độ hay Địa Trung Hải khoảng 2.500 đến 3.500 năm. Các dụng cụ đá dùng để nghiền hạt ngũ cốc xuất hiện ở đảo Solomon ở nam Thái Bình Dương khoảng 26.000 năm trước đây trong khi nó chỉ mới xuất hiện ở Thượng Ai Cập và Nubia cách đây 14.000 năm và ở Palestine cách đây 12.000 năm (ĐĐ, 19 ).


Về điều này, ông nói thêm:

Tuy nhiên, như sẽ mô tả trong chương 2và 4, vừa có một bằng chứng mới gây xôn xao tại hang Sakai ở miền nam Thái Lan cho thấy rằng nghề trồng lúa đã ra đời ở Đông Dương trước khi xảy ra cơn đại hồng thủy cuối cùng, và kỹ thuật này có thể đã được chuyển về phía tây sang Ấn Độ (ĐĐ, 20).
Qua những điểm trên, và thêm những bằng chứng về ngôn ngữ, di truyền, Stephen Oppenheimer đã cho chúng ta đã thấy rõ Đông Nam Á xưa là một lục địa có nền văn minh sớm nhất và rực rỡ nhất thế giới vào thời tiền sử. Trong quyển Địa Đàng ở Phương Đông, Stephen Oppenheimer đã nhấn mạnh: Đông Nam Á, TrungTâm Thế Giới Thời Tiền Sử (ĐĐ. 119)

II. VIỆT NAM

Như trên đã trình bày, Việt Nam, hay Đông Dương là một phần của vùng Đông Nam Á hay lục địa Sunda thời tiền sử. Việt Nam chính là Địa Đàng ngày xưa và nay là Thiên đường đã mất. Như trên đã nói lục địa Đông Nam Á thời tiền sử bao gồm Việt Nam, và sau khi lục địa này bị ba cơn hồng thủy mà chìm xuống đại dương, một số dân Nam đảo di cư đến các nơi, họ mang văn hóa miền Nam lên miền Bắc và sang châu Âu. Stephen Oppenheimer viết về cuộc di cư vĩ đại của người Sunda chạy thoát quê hương đã chìm xuống biển cả:
Họ đi thuyền đến những vùng đất mới có địa hình duyên hải cao hơn so với mặt biển và ít rừng rậm hơn. Họ chính là những nhà thám hiểm đầu tiên ở
Thái Bình Dương. Giải pháp đi thuyền ra biển dường như đã được nhiều cư dân hải đảo ở Inđônêxia lựa chọn. Ngày nay, họ vẫn xây nhà theo hình dạng trông giống như những chiếc thuyền; họ nói rằng tổ tiên của họ đã bị lũ cuốn ra khỏi vùng dất quê hương và phải đi ra biển. Trong số đó, có những người không có tìm được chỗ đứng tại các đảo còn lại ở Đông Nam Á và phải phát tán ra khắp bốn hướng của la bàn (ĐĐ,110).
Một số dân này đổ bộ Việt Nam tức là người Chăm. Stephen Oppenheimer viết:" Tiếng Chàm gần với ngôn ngữ Malai và được xem là những bằng chứng rõ ràng duy nhấtvề sự di cư của người Nam Đảo từ Đôngnam Á hải đảo đến lục địa Châu Á (ĐĐ, 90).


Ông cũng cho rằng nền văn hóa Sa Huỳnh là nền văn hóa vào đồ đồng và đồ sắt, đồng thời với văn hóa Đông Sơn, nhưng độc lập với văn hóa Đông Sơn, Trung Quốc và Ấn Độ . Và người Chàm đã đến Việt Nam thuộc thiên niên kỷ thứ hai trước công nguyên (ĐĐ, 90).


Wilhelm Solheim II đã nói ở đoạn đầu bài"New light on the forgotten past", trước 1950, ít có những cuộc tìm tòi về Đông Nam Á. Công cuộc khảo cứu về Việt Nam khởi đầu từ 1920 trở đi, bà Madeleine Colani, một nhà thực vật học, cổ sinh vật học và khảo cổ học người Pháp, đã nêu ý kiến là có một nền "văn hóa Hòa Bình". Những ý kiến của bà đều căn cứ vào các cuộc đào xới ở một vài hang đá và Người ta đã tìm ra những nền văn hóa cổ tại Việt Nam nhưng quan trọng nhất là các nền văn hóa Hoà Bình, Đông Sơn và Phùng Nguyên.
Như W. G. Solheim các nơi trú ẩn bằng đá khác ở miền Bắc Việt Nam, trong đó khu vực đào xới đầu tiên đã được tìm thấy ở tỉnh Hòa Bình. Khởi thủy, nhóm từ ngữ này được dùng để nói đến nền văn hóa đá cuội được ghè đẽo trên khắp chu vi hòn cuội để tạo ra những dụng cụ từ thời đá cũ đến thời đá mới, cách ngày nay 15.000 năm, kéo dài đến 2.000 năm trước Công Nguyên. Trên vùng đất xen núi đá vôi, thuộc phía Tây châu thổ ba con sông lớn thuộc Bắc Bộ Việt Nam, và với không gian rộng lớn, tiêu biểu cho cả vùng Đông Nam Á và Nam Trung Quốc. 

Các di vật chính của thời kỳ Văn hóa Hòa Bình chính (niên đại sớm 12.000 năm cách ngày nay) tại tỉnh Hòa Bình và các tỉnh từ Quảng Bình đến Thái Nguyên là các dụng cụ bằng đá cuội ghè đẽo một mặt, hoặc chỉ phần lưỡi; các mảnh gốm không có hình thù do kỹ thuật nung chưa đạt nhiệt độ cao, đây là di tích đồ gốm xưa nhất của cư dân Văn hóa Hòa Bình cho đến nay đã tìm thấy; các dụng cụ đào bới có cán tra, các vòng trang sức bằng vỏ ốc. Thời kỳ này các nhà khảo cổ học cũng đã tìm thấy di cốt người ở vài địa điểm. Di chỉ muộn của Văn hóa Hòa Bình được tìm thấy ở Bắc Sơn (niên đại sớm 5.000 TCN, thuộc Lạng Sơn. Các dụng cụ bằng đá ở đây đã có một trình độ chế tác cao hơn nhiều, lưỡi đá đã được mài sắc, khảo cổ học gọi là "rìu Bắc Sơn". 

Đồ gốm đã có tiến bộ, kỹ thuật được làm thủ công, cư dân ở đây nặn các dải đất dài, rồi cuộn tròn từ đáy lên miệng và miết kín khe hở, nung gốm bằng chất củi đốt xung quanh. Đồ trang sức bằng đất nung có dùi lỗ và xâu thành chuỗi. Lúc đầu danh từ " văn hóa Hòa Bình" là nói đến di chỉ Hòa Bình ở tỉnh Hòa Bình Bắc Việt, sau mở rộng ra nền văn hóa có khoảng không gian là miền Bắc Việt Nam, sau không gian lẫn thời gian trên được nới rộng dần. T. M. Matthews có lẽ là người đầu tiên đã đem "Văn hóa Hòa Bình" vượt khỏi lãnh thổ Việt Nam đến các vùng Đông Nam Á, và rồi người ta nói đến Văn hóa Hòa Bình ở Miến Điện, Campuchia, Lào, Malaysia, Sumatra, Thái Lan, Ấn Độ, Tứ Xuyên... Nhưng có lẽ không ai mở rộng ảnh hưởng của Văn hóa Hòa Bình bằng Gs. W. G. Solheim II. Về không gian, ông đã đưa Văn hóa Hòa Bình, phía Đông Bắc đến Philippines, Nhật Bản, phía Tây đến Thái Lan, phía Nam đến tận Úc và phía Bắc bao trùm cả hai nền văn hóa cổ của Trung Hoa là Văn hóa Ngưỡng Thiều (仰韶, Yangshao) và Văn hóa Long Sơn (龙山, Longshan) (Wikipedia).



Như vậy, từ ngữ "văn hóa Hòa Bình" có hai nghĩa. Một là di chỉ Hòa Bình ở tỉnh Hòa Bình Việt Nam. Nghĩa thứ hai là nói chung các nơi khác ngoài Việt Nam có cùng tính chất với văn hóa Hòa Bình. Điều này cho biết nền văn hóa Hoà Bình là một nền văn hóa lớn, bao trùm cả Đông Nam Á, có trước văn hóa Ấn Độ và Trung Quốc.
W. G. Solheim II đã nói đến văn hóa Thái Lan, Miến Điện cũng thuộc văn hóa Hòa Bình. Văn hóa Hòa Bình là cái gốc của văn hóa Đông Nam Á:
Như vậy ta có thể coi những khám phá ở Hang Thần ít nhất cũng phù hợp với thuyết của Carl Sauer và nhiều đoàn thám hiểm khác đang đi đến nhận định rằng có một nền văn hóa Hòa Bình khá phức tạp đã được phổ biến tương đối sâu rộng. Ông Aung Thaw, giám đốc sở Khảo cổ học Mianma, năm 1969 đã đào được một số dụng cụ rất đáng chú ý về văn hóa Hòa Bình trong những hang Padh Lin ở Đông Mianma. Ngoài nhiều vật dụng, còn tìm thấy cả những hình vẽ trên vách hang. Như vậy, đây là khu vực ở phía cực Tây của nền văn hóa Hòa Bình đã được tìm thấy.

Stephen Oppenheimer cho rằng ngay dưới lớp địa tầng đồ đá mới là nền văn hóa Hoà Bình điển hình có trước thời kỳ Đồ đá mới và trước cơn đại hồng thủy cho thấy có sự cư trú của con người mang tính liên tục...Những địa điểm này bao gồm động Linh hồn nổi tiếng gần biên giới Miến Điện haynhững khu định cư ven biển trong Vịnh Băng Cốccho đến Việt Nam. Tất cả đều có niênđại vào thiên niên kỷ thứ 5 trước CN và cho thấy có sự kế thừatừ nền văn hoá Hoà Bìnhtrước đó. Các khu vực tại Việt Nam cho thấy đã xuất hiện nghề gốm vớinhững vết dâythừng và những hoa văn khác chạmnhững chiếc rìu đá mài sắc có từ trung kỳ Đồ đá mớiở Hồng Kông. Như tôi đã đề cập, ở khu vựcSakai tại Thái Lan người ta phát hiện nhữngđồtạo tác tương tự có cùng niên đại và có cả lúa. Điều đó trái với quan điểm cho rằng ngườiTrung Quốc tìm ra lúa đầu tiên.

Kết luận này còn hợp lôgíc nhất về khía cạnh sinh học. Như PeterBellwood đã chỉ ra,xét về mặt khí hậu, quê hươngcủa nghề trồng lúa là vùng Đông Dương nhiệt đới kéo dài xuống biên giới với Malaixia, Miến Điện, Băng la đét và vùng bờ biểnphía nam. Phần lớn sông Dương Tử và sông Hoàng Hà - hai vùng trung tâm phát triển Đồ đá mới của Trung Quốc - đều nằm ngoài những khu vực này (ĐĐ.69-70).
Ở đoạn trên,Wilhelm Solheim II cho biết năm 1963, ông đã tìm thấy tại Bắc Thái lan có một mảnh đồ gốm có in vết vỏ của một hạt lúa, có niên đại muộn nhất là 3.500 năm trước công nguyên. Như vậy có nghĩa là trước cả ngàn năm so với những hạt lúa tìm thấy ở Ấn Độ và Trung Hoa cũng được xác định bằng phương pháp cacbon.
Cũng với phương pháp ước lượng thời gian bằng cacbon đối với các cục than tìm thấy ở đó, chúng tôi được biết thêm là các rìu đồng, được đúc trong các khuôn kép bằng đá, đã được chế tạo ít nhất là khoảng 2.300 năm trước công nguyên, có thể là trước cả năm 3.000 trước công nguyên nữa. Như vậy là sớm hơn bất cứ một đồ đồng đầu tiên nào đã đúc tại Ấn Độ cả 500 năm và nó cũng còn lâu đời hơn cả những khu vực Cận Đông mà trước đây người ta đã tưởng là nơi xuất phát cách chế tạo đồ đồng đầu tiên.
Chester Gorman, một sinh viên hầm mỏ ở trường Đại học Hawaii, là người đã xác định vị trí của Non Nok Tha nhờ tìm thấy những mảnh gốm bị xói mòn trong gò đất. Năm 1965, anh trở lại Thái Lan để tìm tài liệu cho luận án tiến sĩ của mình . Ở xa phía Bắc Thái Lan gần biên giới Miama, anh đã tìm thấy Hang Thần và những gì đang ra công tìm kiếm. Khi đào nền hang, Gorman tìm thấy những mảnh cây đã hóa than, cùng hai hạt có thể là đậu, một hạt đậu tròn, một hạt dẻ, một hạt tiêu sọ, nhiều mảnh bí và dưa leo, cùng với nhiều đồ dùng bằng đá rất đặt biệt của vùng Hòa Bình.
Qua vài điều trên, các nhà khảo cổ đã cho ta biết nghề đúc đồng và trồng lúa đã có hàng thiên niên kỷ trước công nguyên, trước các nền văn hóa Cận Đông, Ấn Độ và Trung Quốc. 

Trong bài nghiên cứu trên, Wilhelm Solheim II đã đưa ra 5 nhận định về văn hóa Hòa Bình:
1. Tôi đồng ý với Sauer rằng sắc dân Hòa Bình ở miền nào đó trong vùng Đông Nam Á là giống người biết trồng cây trước hết trên thế giới. Tôi cũng không ngạc nhiên nếu thời kỳ đó bắt đầu khoảng 15.000 năm trước công nguyên.
2. Tôi cho rằng những đồ dùng bằng đá đẽo có cạnh sắc tìm thấy ở Bắc Úc Châu và được ước định bằng cacbon 14 là xuất hiện vào khoảng 20.000 năm trước công nguyên đều thuộc nguồn gốc Hòa Bình.
3. Trong khi người ta được biết hiện nay đồ gốm cổ xưa nhất tìm được ở Nhật có niên đại khoảng 10.000 năm trước công nguyên, tôi tin rằng khi xác định được tuổi của loại đồ gốm có in hoa văn dây thừng thì ta sẽ phải nhận rằng đồ gốm đó chính là do sắc dân Hòa Bình chế tạo rất lâu trước khoảng 10.000 năm trước công nguyên.
4. Theo truyền thống, người ta cho rằng trong thời kỳ tiền sử, kỹ thuật miền Đông Nam Á là kết quả của những làn sóng di dân từ phương Bắc mang tới. Riêng tôi cho rằng văn hóa nguyên thủy thời đồ đá mới Ngưỡng Thiều (Yangshao) ở Trung Hoa mà người ta biết đến chính là kết quả của một nền văn hóa tiền Hòa Bình đã di chuyển từ miền Bắc Đông Nam Á lên phía Bắc vào khoảng 6 hay 7.000 năm trước công nguyên.
5. Tôi cho rằng văn hóa mà sau này được gọi là văn hóa Long Sơn (Lungshan) vẫn thường được coi là phát triển từ Ngưỡng Thiều (Yangshao) ở Bắc Trung Hoa rồi lan ra miền Đông và Đông Nam, thì trái lại thực ra đã khai sinh ở Nam Trung Hoa và di chuyển lên phía Bắc. Cả hai nền văn hóa này đều bắt nguồn từ gốc văn hóa Hòa Bình.

Stephen Oppenheimer cả quyết rằng Việt Nam trồng lúa sớm nhất, trước cả Trung Quốc, Ấn Độ:

Dấu hiệu sớm nhất về cây lúa ở Trung Hoa là trên thượng lưu sông Dương Tử tại vùng Pengtoushan vào khoảng năm 6500- 5800 trước CN nhưng người ta vẫn chưa rõ là liệu 5800 các giống cây là xuất phát từ cây dại hay cây đã thuần dưỡng. Charles Higham đã từng nói: “việc xác định quá trình chuyển tiếp sang trồng lúa là vấn đề trungtâm của thời tiền sử ở Đông Nam Á”. Mà cho đến nay, nó vẫn là một vấn đề rất mơ hồ. Tại mộtvài địa điểm thuộc thời kỳ Đồ đá mới ởĐông Dương, chủ yếu là những nơi nói tiếng AustroAsiatic, người ta đã tìm thấy những đồ tạo tác chứngminh rằng nghềtrồnglúa và nông nghiệp có từ rất sớm ở khu vực này, ví dụ như những chiếc cuốc và dao làmbằng đá phiến có cạnh sắc để cắt lúa. Stephen Oppenheimer cả quyết rằng Việt Nam trồng lúa sớm nhất, trước cả Trung Quốc, Ấn Độ:

Dấu hiệu sớm nhất về cây lúa ở Trung Hoa là trên thượng lưu sông Dương Tử tại vùng Pengtoushan vào khoảng năm 6500- 5800 trước CN nhưng người ta vẫn chưa rõ là liệu 5800 các giống cây là xuất phát từ cây dại hay cây đã thuần dưỡng. Charles Higham đã từng nói: “việc xác định quá trình chuyển tiếp sang trồng lúa là vấn đề trungtâm của thời tiền sử ở Đông Nam Á”. Mà cho đến nay, nó vẫn là
một vấn đề rất mơ hồ. Tại mộtvài địa điểm thuộc thời kỳ Đồ đá mới ởĐông Dương, chủ yếu là những nơi nói tiếng AustroAsiatic, người ta đã tìm thấy những đồ tạo tác chứngminh rằng nghềtrồnglúa và nông nghiệp có từ rất sớm ở khu vực này, ví dụ như những chiếc cuốc và dao làmbằng đá phiến có cạnh sắc để cắt lúa.


Tuy nhiên, người ta vẫn chưa phát hiện được câylúa thực sự hay những cây trồng có thể nhận biếtđược trên khu vực này mãi cho đến gầnđây. Nhữngđịa điểm này bao gồm Động Linh hồn nổi tiếng gầnbiên giới Miến Điện haynhững khu định cư ven biển trong Vịnh Băng Cốc cho đến Việt Nam. Tấtcả đềucó niênđại vào thiên niên kỷ thứ 5 trước CN và chothấy có sự kế thừa từ nền văn hoá Hoà Bình trước đó. Các khu vực tại Việt Nam cho thấy đã xuất hiện nghềgốm với những vết dây
thừngvà những hoa văn khác chạm,những chiếc rìu đá mài sắc có từ trung kỳ Đồđá mới ở Hồng Kông. Như tôi đã đề cập, ở khu vựcSakai tại Thái Lan người ta phát hiện nhữngđồ tạotác tương tự có cùng niên đại và có cả lúa. Điều đómâu thuẫn với quan điểm cho rằng người Trung Quốctìm ra lúa đầu tiên. 

Kết luận này còn hợp lôgíc nhất về khía cạnh sinh học. Như Peter Bellwood đã chỉ ra, xét về mặt khí hậu, quê hương của nghề trồng lúa là vùng Đông Dương nhiệt đới kéo dài xuống biên giới với Malaixia, Miến Điện, Băng la đét và vùng bờ biển phía nam. Phần lớn sông Dương Tử và sông Hoàng hà hai vùng trung tâm phát triển Đồ đá mới của Trung Quốc - đều nằm ngoài những khu vực này. Và như tôi sẽ trìnhbày ở phần dưới, quan điểm cho rằng Đông Nam Á là nguồn gốc của nghề trồnglúacó thể có những hệ luỵ sâu rộng đến sự lan rộngcủa nghề này sang phía Tây đến Ấn Độ (ĐĐ,69-70).


Bên cạnh nền văn hóa Hòa Bình, Việt Nam còn có nền văn hóa Đông Sơn. Đông Sơn là một làng tại tỉnh Thanh Hóa. Năm 1924, một người câu cá tên Nguyễn Văn Lắm đã ngẫu nhiên tìm được một số đồ đồng ở làng Đông Sơn, thành phố Thanh Hóa, ven sông Mã. Tiếp đó là những cuộc khai quật của một viên thuế quan Pháp yêu khảo cổ tên là L. Paijot, người đầu tiên khai quật thấy các hiện vật thuộc một nền văn hóa lớn mà 10 năm sau đó, năm 1934, đã được định danh là Văn hóa Đông Sơn. Wikipedia cho rằng nền văn hóa Đông Sơn có từ 1000 BC cho đến 1BC, và trống đồng được sản xuất khoảng 600 năm trước CN, cho đến thế kỷ III sau CN.
Cũng như văn hóa Hòa Bình, từ ngữ văn hóa Đông Sơn cũng được áp dụng cho các tỉnh trong nước và ngoại quốc. Văn hóa Đông Sơn là một nền văn hóa cổ từng tồn tại ở một số tỉnh miền bắc Việt Nam và bắc trung bộ Việt Nam (Phú Thọ, Yên Bái, Hòa Bình, Hà Nội, Ninh Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh mà trung tâm là khu vực Đền Hùng, và ba con sông lớn và chính của đồng bằng Bắc Bộ (sông Hồng, sông Mã và sông Lam) vào thời kỳ đồ đồng và thời kỳ đồ sắt sớm. Nhiều dấu tích đặc trưng cho văn hóa Đông Sơn cũng được tìm thấy ở một số vùng lân cận Việt Nam như ở Vân Nam, Quảng Tây, Hải Nam của Trung Quốc, ở Lào hay ở Thái lan...Nền Văn hóa Đông Sơn là sự phát triển liên tục và kế thừa từ các thời kỳ tiền Đông Sơn là Văn hóa Phùng Nguyên đến Văn hóa Đồng Đậu và Văn hóa Gò Mun (Wikipedia).
Dù ở đâu, nền văn hóa Đông Sơn vẫn có nguồn gốc Thanh Hóa, Việt Nam. Stephen Oppenheimer nhận định:
Mãi đến gần đây, nền văn hoá Đông Sơn thời đại đồ đồng và tổ tiên của họ ở Việt Nam trong thiên niên kỷ thứ nhất trớc Công nguyên hầu như vẫn là nền văn minh phức hợp duy nhất được xem là văn hoá bản địa trong khu vực (ĐĐ,4)
Wilhelm Solheim II đã chú trọng đến văn hóa Đông Sơn. Trong bài A Brief History of the Dongson Concept , ông cho rằng trong nền văn hóa Đông sơn, trung tâm là trống đồng. Trống đồng Đông Sơn được ông Pajot khám phá năm 1924, V. Goloubew báo cáo năm 1929.


Khởi đầu không ai biết xuất xứ. Năm 1902, một quyển sách của Franz Heger cho biết loại trống đồng này đến từ Đông nam Á.Nhiều học giả đã nghiên cứu trống đồng Đông Sơn như Goloubew (1929:11,1932:139; Karlgren 1942:2-5;van Heekeren 1958:92-93) . Trống đồng được Heger xếp vào loại I (Heger Type1) là loại sớm nhất trong bốn hạng.Người ta đã tìm thấy trống đồng tại Nam Trung Quốc, Thailan , Lào , Tây Malaysia , và Indonesia ...nhưng theo tài liệu Kempers năm 1988 thì trống đồng tập trung lớn nhất tại Bắc Việt Nam .Sau khi đã phân tích các bài biên khảo, đi đến kết luận giống như Stephen Oppenheimer rằng cuộc khai quật ở Non NokTha đông bắc Thái Lan và Việt Nam đã cho bằng chứng rõ rệt là người Việt nam là tổ tiên của văn hóa Đông Sơn, và nền văn hóa Đông Sơn đã có kỹ nghệ đúc đồng, làm đồ gốm và kỹ thuật trồng lúa sớm nhất nhân loại, nghĩa là vào thiên niên kỷ thứ tư hay thứ năm trước công nguyên (30 ) 

Stephen Oppenheimer còn nói rằng Việt Nam cũng là quốc gia có di tích đô thị sớm nhất Đông Nam Á. Những gì còn lại của di tích thành Cổ Loa trong nội địa miền Bắc đất nước có niên đại từ hơn 300 năm trước Công nguyên (ĐĐ, 2).
Các tài liệu Trung Quốc cũng công nhận một nền văn minh Việt Nam rất rực rỡ. Nhà bác học Lê Quý Đông đã đọc nhiều sách Trung Quốc và cho biết người Trung Quốc xưa rất thán phục khoa học, kỹ thuật Việt Nam. Lê Quý Đôn kể rất nhiều về việc này trong tác phẩm Vân Đài Loại Ngữ 2 quyển , Lê Quý Đôn, Vân Đài Loại Ngữ I, Tạ Quang Phat dịch, Phủ QVK, Saigon 1972, 224.
Ở đây, chúng tôi chú trọng hai vấn đề là lúa và trống đồng.

1. LÚA.

Nước ta là một nước có nền nông nghiệp phát triển vì ta có kỹ thuật cao và ruộng đất phì nhiêu. Từ xưa, dân Xích Quỷ đã có chính sách ruộng đất phân minh. Có lẽ chính sách ruộng đất đã gắn bó với tổ chức hành chánh trong nuớc. Giao Châu ký hayViệt Chí, hay NamViệt Chí của Tăng Cổn - người thay Cao Biền- chép năm 877 có đoạn: “Đất Giao Chỉ xưa rất phì nhiêu, xưa có quân trưởng là Lạc Hùng vương, kẻ giúp việc gọi là Hùng hầu, ruộng gọi là Hùng điền, dân khai khẩn lấy lúa ăn gọi là Hùng dân”.[1]
Các sử gia Trung Quốc và Việt Nam đã nhận định về các ưu điểm của nền canh nông Việt- nam.
(1). Việt Nam có nhiều kiểu canh tác, tùy theo ruộng đất.
-Những dân ở miền núi vì đất khô cằn, vì núi rừng rậm rạp cho nên họ đốt rừng làm rẫy. Truyện Họ Hồng Bàng trong Lĩnh Nam Chích Quái có nói dân ta thuở hồng hoang “cấy bằng dao, trồng bằng lửa” là thế.
-Nhưng ruộng đất nước Văn Lang phần nhiều tốt, nuớc dâng cao, dân ta đã biết trồng lúa nước, có lẽ giống cách trồng lúa nổi ở miền sông Cửu Long ngày nay. Bùi thị Quảng Châu ký chép:”'Giao Chỉ có ruộng Lạc điền, theo nước triều lên xuống, những người dân cấy ruộng ấy gọi là người Lạc, quan tướng văn là Lạc hầu, quan tướng võ là Lạc tướng, ấn đồng giải xanh như các quan lệnh trưởng ngày nay”[2]
An Nam chí nguyên của Cao Hùng Trưng chép. "Giao Chỉ khi chưa đặt làm quận huyện, bấy giờcó ruộng Lạc, theo nước triều lên xuống mà làm ruộng [3].Sách Giao Châu Ngoại Vực ký cũng có ý kiến tương tự: “Hồi xưa chưa có quận huyện thì lạc điền tùy theo thủy triều lên xuống mà cày cấy”[4].
-Dân ta thuở ấy biết đắp đê ngăn sông chống lụt. Đê Hồng Hà đã có rất lâu. Đào Duy Anh cho biết sách Quận Quốc Chí chép:”Quận Giao Chỉ ở phía tây bắc huyện Long Biên có đê giữ nước sông”. Đào Duy Anh cũng ghi rằng đời Đường (867-875), Cao Biền đắp đê quanh thành Đại La dài 2125 trượng để ngăn nước sông' [5]
(2). Ruộng tốt, dân tích cực canh tác:
Dân ta trồng mỗi năm hai vụ lúa là lúa mùa và lúa chiêm[6]. Sách Phiên Ngung Tạp Ký番隅雜記 của Trịnh Hùng鄭熊đời Đường chép rằng Giao Chỉ đất màu mỡ[7]. Sách Quảng Đông Tân Ngữ 廣東新語chép rằng ven biển ruộng cát sinh phù sa, đất màu mỡ. Ở nước ta mối lợi bãi cát cũng khá lắm, vùng Sơn Tây, Thanh Hóa đất phù sa ở sông nổi lên trồng lúa, trồng dâu, trồng mía đều đắc lợi[8]. Lê Quý Đôn cũng nói đến đất đai nước ta màu mỡ hàng ngàn dặm, ruộng bằng muôn khoảnh, một năm hai mùa, có đất trồng lúa chiêm, lại là nơi các nước đến buôn bán[9].


(3).Năng suât lúa rất cao.


Sách Cổ Kim Chú古今註 viết:”Năm Diên Quang thứ hai(123), đời Hán An Đế, ở quận Cửu Chân, lúa tốt quá, 150 gốc lúa đuợc 768 bông[10].
Vì nước ta lúa gạo ê hề cho nên người Trung Quốc bắt ta sưu thuế nặng nề, cốt vơ vét đem về Trung quốc. Ta có thể nói riêng thóc Giao Chỉ bằng thóc Quảng Đông, Quảng Tây và Vân Nam cộng lại. Khuất Đại Quân đời Minh trong Quảng Đông Tân Ngữ chép:”' Đât Giao Chỉ có 17 quận, 49 châu, 157 huyện. Mỗi năm nộp thóc cho quan Tư Nông hơn một ngàn ba trăm sáu mươi vạn (13.600.000) hộc. Tính ra tất cả thuế các châu Mân, Quảng, Điền, Kiềm thì cũng không bằng”[11].
Việc thu thuế này cũng cho thấy quan lại Trung Quốc bóc lột dân Việt Nam thái thậm. Lê Quý Đôn viết:” Than ôi, dưới thời nhà Hán, nhà Đường, người Tàu sang làm quan ở đất này được mấy người là quan lại thanh liêm. Chính trị hà khắc còn dữ hơn cọp. Thuế má tàn bạo còn độc hơn rắn dữ, thì dân làm sao kham nổi[12]. Nhâm Diên một quan thái thú Giao Chỉ ở thế kỷ thứ nhất đã thú nhận sự bóc lột dã man của Trung Quốc khiến cho dân Việt Nam ta thán vô cùng:”'Ruộng giống lúa trắng, tháng năm cấy, tháng mười gặt, lúa đỏ tháng chạp cấy, tháng tư gặt. Bởi thế, người ta thường bảo rằng' Nước thâu thuế ruộng hai mùa, làng công tơ tằm tám lứa. Đất hẹp dân đông, có sản xuất lúa mà không có lúa mạch “[13].
(4).Nước ta có nhiều giống thóc.
Sách BảnThảo 本草 nói Việt Nam có hai loại thóc, Lê Quý Đôn kể ra khoảng 50 loại lúa ở Việt Nam, nhất là vùng Sơn Nam, Nghệ An, Cao Bằng, Thái Nguyên. sách Quảng Chí 廣志 của nhà Đường kể ra 9 loại thóc ở Việt Nam. Sách Quảng ĐôngTân Ngữ 廣東新語 kê khai 10 loại[14].


(5).Trung Quốc thiếu thóc, phải nhập thóc ViệtNam.


Trung Quốc thiếu gạo nên vua ĐườngTuyên Tông 真宗 (998-1022) đã gửi sứ giả sang Chiêm Thành mua 30,000 đấu thóc. Đời Tống cũng sai sứ sang Chiêm Thành mua lúa gạo. Sách Bản Thảo本草 gọi loại lúa này là tiên lạp 秈粒[15]. Sách Bản Thảo 本草 cũng nói Việt Nam và Chiêm Thành gần nhau nên cả hai nước đều có giống lúa này. Lúa này gieo trồng tháng chạp và gặt vào mùa hè, và gọi là lúa chiêm[16].Quảng Đông, Quảng Tây đất rộng nhưng xấu, dân hai tỉnh này không trồng lúa, chỉ thích buôn bán và trồng đay, thuốc lá, cây cỏ, cho nên mỗi năm phải mua lúa gạo Việt nam [17]. Thời nhà Hán, dân hai quận Nam Hải (Quảng Đông ), Quế Lâm (Quảng Tây ) đều đến nước ta làm phu khuân vác, chuyên chở thóc thuế[18].


(6).Nước ta trồng lúa đã lâu đời.


Nước ta trồng lúa rất sớm. Giao Châu Ký交州記 của Tăng Cổn 曾袞viết năm 877 nói rằng Giao Chỉ làm ruộng từ đời HùngVương: “Sa”[19]. Sách Giao ChâuNgoại Vực Ký của Trung Quốc còn đi xa hơn nữa, nói rằng khi còn bán khai, chưa lập quốc độ, dân ta đã biết trồng lúa:” Hồi xưa, chưa có quận huyện thì Lạc điền tùy theo thủy triều mà cày cấy”[20].
Sách Thiên Trung 天中記 theo Thủy Kinh Chú 水經注 chép rằng nước Việt Nam biết trồng lúa 600 năm trước đời Hán[21].
Nhiều sách như Thiên Trung Ký, Thuỷ Kinh Chú và một số sử gia Trung Quốc, Việt Nam đều sai lầm khi viết Nhâm Diên dạy dân ta cày bừa[22]. Nhâm Diên sống đời Hán Vũ Đế (6BC- 57) đầu thế kỷ thứ nhất, còn dân ta biết trồng lúa theo sách Trung quốc là trước đời Hùng Vương, trước đời Hán 600 năm. Và theo Wilhelm G. Solheim II, nước ta có nền nông nghiệp sóm nhất thế giới, vào khoảng 15 ngàn năm trước tây lịch. Stephen Oppenheimer cũng cho rằng người dân của nền văn minh Hòa Bình biết kỹ thuật canh tác 10 ngàn năm , còn Trung quốc trồng lúa khoảng 5 ngàn năm đến 6.500 năm[23]
Năm 184 BC, Lã hậu呂后 (241BC – 180 BC) cấm Việt Nam mua sắt, đồng và súc vật giống cái[24]. Và năm 111BC, khi Lộ Bác Đức đánh chiếm Nam Việt, các quan phải dâng 300 trâu bò và 1,000 vò rượu cùng nạp sổ sách xin đầu hàng[25].
Lê Quý Đôn cũng cho biết Thái Nguyên, Thanh Hóa, Nghệ An nước ta sản xuất vàng bạc, đồng sắt, và các nước lân cận như Bồn Man, Lão Qua, Cao Miên thường mang trâu bò đến bán cho ta[26].
Sự kiện này cho biết nước ta có nhiều trâu bò cày bừa, có nhiều kim loại nhưng vẫn nhập cảng trâu bò, kim loại để tăng sức kéo và “tư liệu sản xuất” trong nông nghiệp. Do đất tốt, kỹ thuật canh tác cao, nước ta sản xuất nhiều gạo. Việc Cao hậu cấm xuất cảng trâu bò và kim thiết điền khí xảy vào năm mậu ngọ (183 tr.TL) tức gần 200 năm trước khi Nhâm Diên sang cai trị Giao Chỉ, điều này cho thấy những lời ca tụng Trung Quốc, đề cao Nhâm Diên là sai lầm.


5. ÂM VANG TRỐNG ĐỒNG


Về công nghệ và mỹ thuật, dân ta rất thiện nghệ trong việc đúc đồng , Giao Châu Ký củaTăng Cổn chép: Người Việt đúc đồng làm thuyền. Khi nước thủy triều xuống thì trông thấy[27]. Sách Bác Vật Chí nói:”Giống sơn man ở Giao châu, Quảng châu gọi là Lý Tử, cung của họ dài hơn một thước, đúc đồng làm mũi tên, đầu tên bôi thuốc độc, tên trúng vào người nào người ấy tất chết. Ngày nay sơn man vẫn dùng cung ấy, hổ báo cũng sợ trốn”[28].
Đỉnh cao của việc đúc đồng là việc đúc trống đồng và chạm trổ tinh vi. Những chi tiết do sử Trung Quốc đưa ra là phù hợp với học giả Solheim II, trống đồng sản xuất tại Việt nam có trước tây lịch vài thiên niên kỷ[29].
Người Trung Quốc cho rằng trống đồng do họ chế tạo nhưng Hậu Hán Thư lại nói rằng trống đồng là do Mã Viện đi đánh người Lạc Việt ở Giao Chỉ mang về. (Wikipedia).Trong thơ văn, từ điệu đời Đường, có vài bài nhắc đến trống đồng. Trước tiên là bài Tống khách nam quy hữu hoài của Hứa Hồn 許渾 (khoảng 844):

送客南歸有懷(許渾 唐詩)

 綠水暖青蘋,湘潭萬里春。
 瓦尊迎海客,銅鼓賽江神。
 避雨松楓岸,看雲楊柳津。
 長安一杯酒,座上有歸人。


Tống khách nam quy hữu hoài
Lục thủy noãn thanh tần
Tương đàm vạn lý xuân
Ngõa tôn nghinh hải khách
Đồng cổ trại giang thần
Tỵ vũ tùng phong ngạn
Khán vân dương liễu tân
Trường An nhất bôi tửu
Toạ thượng hữu quy nhân.
(Hứa Hồn)

Tiễn khách về Nam

Nước biếc ấm lau xanh

Hồ Tương ngàn dặm sắc xuân thanh.
Đón khách chén rượu sành
Trống đồng tế thần sông
Tùng liễu trên bờ xanh
Trường An nâng chén rưọu
Tiễn người về quê xưa.
Tiếp theo là bài Bồ tát Man của Tôn Quang Hiến 孙光宪(901-968)
菩薩蠻 (孙光宪)
木棉花映丛祠小,越禽声里春光晓。铜鼓与蛮歌,南人祈赛多。

Bồ Tát Man
Mộc miên hoa ánh tùng từ tiểu
Việt cầm thanh lý xuân quang hiểu
Đồng cổ dữ Man ca
Nam nhân kỳ trại đa
(Tôn Quang Hiển)
Bồ Tát của người Man

Dưới hoa gạo, chùa Phật rạng rỡ
Tiếng chim Việt trong ánh xuân quang.
Tiếng trống đồng hòa tiếng Man nữ,
Người phương Nam lễ bái rộn ràng.
Sau đây là một đoạn trong Độc thần từ của Ôn Đình Quân溫廷筠 (812-870)

瀆神詞 (溫廷筠)
銅鼓賽神來,
滿庭幡蓋徘徊。
水村江浦過風雷,
楚山如畫煙開。
溫廷筠
Độc thần từ
Đồng cổ trại thần lai
Mãn đình phan cái bồi hồi
Thuỷ thôn giang phố quá phong lôi
Sở sơn như họa yên khai.
(Ôn Đình Quân)
Bài từ Thần sông
Đánh trống đồng cúng thần
Cờ lọng cắm đầy sân.
Trên sông giông và gió.
Núi Sở mây khói vần.

Và đây là thơ Đỗ Mục 杜牧 (803-853?), một đoạn trong bài Hoài Chung Lăng cựu du

滕阁中春绮席开,柘枝蛮鼓殷晴雷。
垂楼万幕青云合,破浪千帆阵马来。
(怀钟陵旧游)(杜牧 唐诗)
Đằng các trung xuân ỷ tịch khai,
Thác chi man cổ ẩn tình lôi.
Thùy lâu vạn mạc thanh vân hợp,
Phá lãng thiên phàm trận mã lai.
(Hoài Chung Lăng cựu du -Đỗ Mục)
Mùa xuân, trải chiếu giữa gác Đằng
Trống đồng hòa với tiếng sấm vang.
Lầu cao màn trướng mây xanh tụ
Sóng dậy, buồm nhô ngựa vạn hàng.
(Nhớ Chung lăng xưa qua chơi )

Trần Vũ 陈羽( khoảng 806) một thi sĩ đời Đường, có bài thơ Thành hạ văn di ca như sau:
《城下闻夷歌》 - 陈羽
犍为城下{牛羊}牱路,空冢滩西贾客舟。
此夜可怜江上月,夷歌铜鼓不胜愁。
Thành hạ văn Di ca
Kiền Vy thành hạ ca tang lộ,
Không trủng nan tây phúc khách châu
Thử dạ khả liên giang thượng nguyệt
Di ca đồng cổ bất thăng sầu!

Dưới thành nghe bọn Man Di ca
Dưới thành lối nhỏ trâu dê đi
Đồi cao chẳng tiện ghé tàu bè.
Tiếng trống đồng, tiếng ca lũ mọi,
Trên sông trăng sáng dạ sầu bi,


Chung Lăng: thuộc tỉnh Giang Tây, thành phố Nam Xương, ở nam Trung Quốc, gần Quảng Đông. Kiền Vy thuộc tỉnh Tứ Xuyên cùng Hồ Bắc, Hồ Nam gần Quảng tây, thuộc phía nam Trung Quốc. Sở 楚, khoảng 1030 TCN-223 TCN và 209 TCN-202 TCN), còn được gọi là Kinh (荆) và sau đó là Kinh Sở (荆楚), là một vương quốc chư hầu thời Xuân Thu (722-481 TCN) và Chiến Quốc (481-221 TCN) ở nơi hiện nay là phía nam Trung Quốc. Với sức mạnh của mình, Sở đã tiêu diệt 45 chư hầu lớn nhỏ và ở thời hùng mạnh nhất, Sở chiếm nhiều vùng đất rộng lớn, gồm toàn bộ các tỉnh Hồ Nam, Hồ Bắc, và một phần của các tỉnh thành Trùng Khánh, Hà Nam, Thượng Hải, Giang Tô, Quý Châu, An Huy, Chiết Giang ngày nay. Nước Sở thời đó ở gần Quảng Đông, Quảng Đông cho nên nhiều người cho rẳng nước Sở là của Việt Nam.
Qua mấy bài thơ và từ khúc trên, ta thấy các tác giả chú trọng đến miền nam Trung quốc là nơi gồm dân Bách Việt, trong đó có giống Lạc Việt tức Việt Nam ta. Như đã nói ở trên, người Hán tộc coi khinh các dân tộc biên cương, gọi họ là Di, Địch, Nhung, Man. Man đây là nói dân Bách Việt, trong đó có dân Việt Nam. Tần Thủy hoàng xâm chiếm các nước miền nam Trung Quốc trong đó có Việt Nam. Thời Hán, Đường, Tống dân Bách Việt chưa bị đồng hóa cho nên vẫn giữ bản sắc dân tộc trong sinh hoạt tín ngưỡng và đời sống hàng ngày. Họ đánh trống đồng và ca hát. Không những họ giữ bản sắc nam phương Bách Việt mà còn truyền bá sang Hán tộc cho nên tận Trường An mà cũng có tiếng trống đồng và điệu ca Man nữ!
Các học giả Trung quốc rán gân cổ cãi rằng trống đồng là của họ nhưng các nhà khảo cổ quốc tế đã xác nhận trống đồng có nguồn gốc tại Việt Nam, hằng thiên niên kỷ trưóc CN, và mặc dù các nơi cũng có trống đồng nhưng Việt Nam vẫn là nơi có có trống đồng nhiều nhất.
Tại Trường an thời Hứa Hồn tức thời nhà Đường (thế kỷ IX) có tiếng trống đồng, vì thời Hán (thế kỷ I CN), Mã Viện đã sang Giao Chỉ mang về. Sau đó các cuộc mua bán, chiếm đoạt, hoặc làn sóng di cư đã đưa văn hóa miền nam lên miền bắc. Lại nữa, qua các bài thơ trên, với giọng điệu khinh bỉ, các thi nhân Trung Quốc dè bỉu xem trống đồng luôn đi với Man nữ và Di dân, Nam nhân tức là bọn mọi rợ phương Nam, nghĩa là trống đồng cũng như các tục lệ cúng tế thần linh, cúng Phật, ca hát là của dân Bách Việt, trong đó có Việt Nam chứ không phải dân Hán cao quý.
Tiếng trống đồng Việt Nam đã làm cho quân Nguyên hoảng sợ. Sau ba lần đại bại, Trần Phu (陳孚) sứ thần nhà Nguyên sang Viêt Nam khi trở về có bài thơ Cảm sự như sau:


交州使還感事 (陳孚)
少年偶此請長纓,命落南州一羽輕。
萬里上林無雁到,三更函谷有雞鳴。
金戈影裏丹心苦,銅鼓聲中白髮生。
已幸歸來身健在,夢回猶覺瘴魂驚。

Giao Châu sứ hoàn cảm sự
Thiếu niên ngẫu thử thỉnh trường anh,
Mệnh lạc Nam Châu nhất vũ khinh.
Vạn lý Thượng Lâm vô nhạn đáo,
Tam canh Hàm Cốc hữu kê minh.
Kim qua ảnh lý đan tâm khổ,
Đồng cổ thanh trung bạch phát sinh.
Dĩ hạnh quy lai thân kiện tại,
Mộng hồi do giác chướng hồn kinh.

Đi sứ Giao Châu về cảm tác
Tuổi trẻ quan cao, địa vị sang,
Nam chinh sinh tử đã không màng.
Thượng Lâm muôn dặm cá nhàn vắng,
Hàm Cốc ba canh gà chó ran.
Xót dạ bởi nhìn kiếm thép sáng,
Bạc đầu vì sợ trống đồng vang.
Phúc nhà thân trở về nguyên vẹn,
Trong mộng đêm về vẫn hoảng kinh.



Nói tóm lại, thời thượng cổ, dân ta đã có một nền nông nghiệp vững vàng, và có nghề đúc đồng, làm trống đồng rất xuất sắc. Qua vài điều trên, các nhà khảo cổ đã cho ta biết nghề đúc đồng và trồng lúa đã có hàng thiên niên kỷ trước công nguyên, trước các nền văn hóa Cận Đông, Ấn Độ và Trung Quốc. Dân ta yêu nước, có tinh thần bất khuất, đã bao lần đánh đuổi ngoại xâm, giành độc lập tự do, tạo nên một cuộc sống an vui hạnh phúc.


III. PHẬT GIÁO

Indonesia trước đây gọi là Nam Dương là một quốc gia nằm giữa Đông Nam Á và Châu Đại Dương. Indonesia gồm 13.487 hòn đảo và với dân số khoảng 237 triệu người, đứng thứ tư thế giới về dân số. Đất nước này được mệnh danh là "Xứ sở vạn đảo". Indonesia là quốc gia có số dân theo Hồi giáo đông nhất thế giới.

Phật giáo ở Indonesia trải bao thăng trầm cùng quốc gia dân tộc hàng nghìn năm lịch sử tồn tại và phát triển, với một phạm vi đáng kể của các Thánh tích Phật giáo có niên đại từ xa xưa tại quốc gia này.  Phật giáo được công nhận là một trong năm tôn giáo chính thức ở Indonesia, hòa mình cùng Hồi giáo, Thiên Chúa giáo (và Tin Lành giáo), Ấn Độ giáo và Nho giáo.

Theo cuộc điều tra dân số thực hiện vào năm 1990, đại đa số dân Indonesia theo Hồi giáo (chiếm khoảng 87%). Khoảng 1,8 triệu (ít hơn 1% dân số) theo đạo Phật. Thống kê dân số Indonesia theo các tôn giáo khác nhau như sau:
Hồi giáo: 87%
Thiên Chúa giáo: 10%
Ấn giáo: 2%
Phật giáo: 1%

Khởi nguyên Phật giáo lan tỏa từ miền Bắc Ấn Độ đến châu Á, Srivijaya còn là một trung tâm Phật

giáo quan trọng của thế giới. Srivijaya là một liên minh kiểu Mandala gồm nhiều nhà nước cổ từng tồn tại ở miền Đông Sumatra, bán đảo Malay và một phần đảo Borneo và Java, hình thành từ thế kỷ 7 hoặc thế kỷ 8 và kết thúc vào khoảng cuối thế kỷ 13.

Phật giáo là tôn giáo cổ nhất thứ hai tại Indonesia, sau Ấn giáo. Trước khi hai tôn giáo này được truyền vào Indonesia, người ta tin rằng thiên nhiên có một sức mạnh phi thường. Người dân thờ cây và đá như những vật thiêng do tin rằng đây là nơi mà những đấng quyền năng trú ngụ.

Ấn giáo được truyền vào Indonesia vào khoảng thế kỷ thứ hai. Phật giáo Indonesia có mối tương quan chặt chẽ với lịch sử Ấn Độ giáo, như một số đế quốc chịu ảnh hưởng nền văn hóa Ấn Độ, đã được thành lập cùng một khoảng thời gian. Sự xuất hiện của Phật giáo trên quần đảo Indonesia thông qua các hoạt động giao thương hàng hải giữa Indonesia và Ấn Độ.

Sự thịnh vượng của liên minh này nằm ở lợi thế của nó về mặt thương mại trên biển, đóng vai trò là trung chuyển trong buôn bán giữa Ấn Độ và thế giới Ả Rập với Trung Quốc.

Các địa chỉ khảo cổ Phật giáo lâu đời nhất ở Indonesia là các Bảo tháp Batujaya kiến trúc tinh xảo ở Karawang, Tây Java. Các Thánh tích Phật giáo Batujaya cổ xưa nhất có nguồn gốc được ước tính từ thế kỷ thứ 2 sau công nguyên. Sau đó, các địa chỉ khảo cổ Phật giáo đã được tìm thấy ở Jambi, Palembang, tỉnh Sumatra, Riau, và Trung Đông Java. Quần đảo Indonessia đã chứng kiến những biến cố thăng trầm của các đế quốc hùng mạnh như các triều đại Phật giáo Sailendra, các đế quốc Mataram và Srivijaya.

Trong khoảng 2012-2014, một vài du khách đã thăm Indonesia và đến Bali để thăm Phật tích dưới đáy biển Indonesia. Nơi đây có hàng trăm tượng Phật rất đẹp. Có nhiều điều bí ẩn về sự kiện này:



Vậy, ngôi đền thờ Phật chìm dưới đáy biển này là di tích của thời kỳ nào? Kỳ thực vẫn chưa tìm được đáp án chính xác cho câu hỏi này. Nhưng nếu căn cứ vào hình dạng kiến trúc và kiểu dáng của nó thì khả năng lớn là nó có cùng niên đại với đền thờ Borobudur tức là vào thế kỷ 7-8 sau công nguyên. Bởi vì vào thời kỳ Phật giáo phát triển hưng thịnh ở quốc gia Srivijaya (thế kỷ 7-8) này, việc kiến tạo đền bằng đá đã trở thành một trào lưu mạnh mẽ ở nơi đây và Borobudur là một ví dụ. 



Theo thông tin hiện có, di tích đền thờ Phật này nằm ở vùng biển cách không xa so với Borobudur. Indonesia nằm ở khu vực núi lửa hoạt động mạnh từ xưa đến nay, những vụ núi lửa lớn nhỏ hoạt động đã khiến nơi đây xảy ra nhiều tai nạn thiên nhiên, cũng làm thay đổi vỏ trái đất. Đền chùa được kiến tạo bằng đá mặc dù dễ bảo tồn, nhưng muốn ngăn cản sự ảnh hưởng  của sự vận động của vỏ trái đất thì cũng không phải việc dễ dàng. Vì vậy, trong lịch sử  Borobudur đã từng bị chôn vùi bởi núi lửa và di tích đền thờ Phật đang chìm dưới đáy biển này có thể cũng đã gặp phải cảnh ngộ này. Còn có một số đền thờ Phật có kiến trúc tương tự đã vì sự biến đổi tự nhiên mà bị thay đổi hình dạng và vị trí địa lý.
Vậy những bức tượng bí ẩn này đã tọa lạc dưới đáy biển được bao lâu? Vẫn chưa có câu trả lời chính xác về điều này nhưng căn cứ theo hình dáng, phong cách kiến trúc của những bức tượng thì nhiều khả năng nó không cách niên đại của ngôi đền Borobudur bao lâu, tức là khoảng thế kỷ 7, 8 sau Công nguyên.
Điều này không khó để suy đoán khi tại quốc gia Srivijaya, nơi mà Phật giáo từng phát triển rất hưng thịnh thì việc xây dựng các ngôi đền đá đã trở thành trào lưu.
Theo phỏng đoán, ngôi đền bí ẩn dưới đáy biển từng nằm ở một vị trí không xa đền Borobudur. Indonesia nổi tiếng là quốc gia nằm trong khu vực có núi lửa hoạt động mạnh từ trước tới nay. Những ngọn núi lửa lớn nhỏ khác nhau từng khiến Indonesia hứng chịu nhiều trận thảm họa, làm thay đổi lớp vỏ Trái Đất.
Những công trình kiến trúc bằng đá tuy rất dễ để bảo tồn nhưng để chống lại ảnh hưởng của sự vận động vỏ Trái Đất thì lại không phải chuyện đơn giản. Vì vậy, Borobudur cũng đã từng bị chôn vùi bởi núi lửa và ngôi đền dưới đáy biển rất có thể cũng không phải ngoại lệ./.
Theo VietnamPlus

Pho tượng Phật di tích tuyệt đẹp dưới đáy biển Indonesia
 
Tượng Phật tuyệt đẹp dưới đáy biển Indonesia


-Ai là người tìm ra những pho tượng này?

-Phải chăng đây là một khu đền đài bị sóng thần mà chìm xuống biển sâu như tình trạng Sundaland trong thời kỳ bị nạn hồng thủy, hay là do những lý do nào khác như trộm cắp, phá hoại tài sản của Borobodur?

-Tại sao không có nhà khảo cổ nào đề cập đến vấn đề này?

Nhìn qua dáng kiểu, ta thấy những tượng này giống như nghệ thuật ở Borobudur.
Borobudur thể hiện ba quan điểm về vũ trụ theo truyền thống Kim Cương thừa của Ấn Độ. Đỉnh của kiến trúc là một cái tháp, thể hiện tánh khái niệm về tính Không hay Sunnata. Hàng năm vào ngày Đại lễ Vesak (gọi là Tri Suci Waisak trong tiếng Indo) được tổ chức tại Borobudur để tưởng niệm ngày Đản sinh, Thành đạo và nhập Niết Bàn của đức Phật.
Bảo tháp cổ Mendut, tương truyền trước khi vào Borobudur, mọi người phải làm lễ tại Mendut, thanh tẩy thân tâm ở Pawon rồi mới vào ngôi Đại Già lam Phật địa Borobudur.
Ngôi Đại Già lam Phật địa Borobudur tổng cộng có 1460 tấm tranh điêu khắc và tạc nổi trên mặt đá, trình bày các cảnh tượng của Tam giới, kể lại các gương sáng của những vị Bồ tát, cuộc đời và những tiền thân của đức Phật và sau hết là các câu chuyện về Đạo Pháp mô tả trong kinh sách. Ngoài những cảnh tượng điểu khắc, còn có 1212 trang trí khác tạc trên đá. Nếu xếp các cảnh điêu khắc thành hàng thẳng sẽ có một chiều dài 5 km. Kiến trúc tổng quát của ngôi ngôi Đại Già lam Phật địa Borobudur có thể chia làm ba phần từ thấp lên cao, tượng trưng cho ba cảnh giới của Ta bà: các tầng thấp nhất là Dục giới, tiếp theo là Sắc giới và những tầng trên hết là Vô sắc giới.
Du khách thập phương hành hương chiêm bái ngôi Đại Già lam Phật địa Borobudur bắt đầu từ cổng phía Đông, đi theo chiều kim đồng hồ, mỗi tầng đều có bậc thang để trèo lên tầng cao hơn, hết tầng này đến tầng khác. Trên vách đá hiện ra các cảnh tượng điêu khắc của Dục giới, phô bày những cảnh tượng của thế giới tham dục (kamadhatu), gồm đủ loại chúng sinh như quỷ đói, súc sinh, loài người, các cảnh tượng tham lam, những xung năng thấp kém, tham dục và hận thù, tiếp theo là cảnh tượng của Sắc giới gồm những bậc thánh nhân, và sau hết là các thiên nhân thuộc Vô sắc giới.


 

























 *
 
Những tầng cao hơn hết kể lại sư tích tiền thân của đức Phật trong nhiều kiếp trước, sau đó là ngày
Đản sinh ở Ca tỳ La vệ, ngày đức Phật từ bỏ cung điện đi tìm đạo, ngày đạt được Giác ngộ ở Chính giác sơn, ngày chuyển Pháp luân lần đầu ở vườn Lộc uyển…
Bên trên năm tầng hình vuông là ba tầng hình tròn với các bảo tháp đục rỗng, trong mỗi bảo tháp là một tượng Phật trong tư thế thiền định. Tầng thứ nhất có 32 bảo tháp, tầng thứ hai có 24 và tầng thứ ba có 16 bảo tháp. Trung tâm của tầng thứ ba là một bảo tháp lớn nhất với đường kính 15m, và cũng là đỉnh cao nhất của kỳ quan Borobodur.

Bảo tháp này hoàn toàn trống không, không tượng Phật cũng không có một trang trí nào khác, sự trống không biểu trưng cho tính Không và sự Giác ngộ, vì thể phần đỉnh của công trình củng có thể xem như một sự biểu hiện của cõi Niết Bàn.
Điều đáng chú ý là trang trí của các tầng hình vuông hết sức phong phú và tinh xảo với hàng ngàn cảnh tượng tạc nổi trong đá, nhưng bỗng nhiên không còn thấy một điêu khắc nào nữa khi trèo lên các tầng hình tròn, sự đơn giản hiện ra một cách lạ lùng. Nơi đây bàng bạc sự trong sáng và tinh khiết của thể dạng “vô hình tướng”, tượng trưng cho sự tĩnh lặng của tâm thức.


Lúc hoàn thành ngôi Đại Già lam Phật địa Borobudur có 602 pho tượng Phật, nhưng một số đã bị mất cắp, ngày nay còn 504, một số bị lấy mất phần đầu. Ngoài các tượng Phật đặt ở các góc, hầu hết các tượng Phật thuộc những tầng bên dưới được đặt trong các hóc thụt sâu trong tường, nhưng trên ba tầng cuối cùng các tượng Phật được đặt bên trong các bảo tháp đục rỗng như vừa kể trên đây.
Vào thời kỳ xây dựng ngôi Đại Già lam Phật địa Borobudur, học phái Ngũ Phật thuộc Kim Cương thừa Tây Tạng phát triển rất mạnh mẽ, học phái này thờ Ngũ phương Phật là: Tỳ lô Giá na (Mahavairocana), A súc (Akyobhya), Bảo sinh (Ratnasambhava), A Di Đà (Amitabha), Bất không Thành tựu (Amoghasiddi). 

Theo như Mạn Đà la của Mật giáo thuộc Kim Cương thừa, đức Phật Tỳ lô Giá na, còn gọi là Đại nhật Như Lai Phật ngự ở trung tâm, bốn vị Phật còn lại ngự ở bốn góc. Tại ngôi Đại Già lam Phật địa Borobudur, người ta thấy đức Phật A Di Đà được đặt vào hướng Tây, phía Đông là Phật A súc, phía Nam là Phật Bảo sinh, phía Bắc là Phật Bất không Thành tựu. Trên tầng cao nhất của ngôi Đại Già lam Phật địa Borobudur là đức Phật Tỳ lô Giá na.

Trong thời kỳ cai trị của vương quốc Majapahit từ thế kỷ thứ 13 đến thế kỷ 15, Phật giáo và Ấn giáo cùng tồn tại một cách hòa bình với nhau. Sau khi triều đại Majapahit sụp đổ, Hồi giáo được những thương nhân từ Gujarat, Ấn Độ đưa vào Indonesia và ảnh hưởng của Phật giáo bắt đầu suy giảm mạnh kể từ đó và chỉ còn tồn tại giới hạn trong các khu vực phía đông Java và Bali. 
Đến cuối thế kỷ 16, Hồi giáo có cơ hội để thay thế vị trí của hai tôn giáo Ấn Độ giáo, và Phật giáo (tôn giáo chiếm ưu thế tại Java và Sumatra). Sau 450 năm, Phật giáo phai mờ dần theo năm tháng tại Indonessia. Nhiều địa chỉ cơ sở Tự viện Phật giáo bị lãng quên, khi những khu vực này trở thành nơi cư trú của tín đồ Hồi giáo.


Trong thời Phật giáo suy yếu tột độ, với thiểu số thực hành theo giáo lý Phật đà, hầu hết trong số họ là những người nhập cư từ Trung Quốc, định cư tại Indonesia với làn sóng di cư ồ ạt từ thế kỷ 17. Nhiều Phật giáo đồ các Tự viện Phật giáo Trung Quốc ở Indonesia đã dung hợp tam giáo đồng nguyên (Phật, Nho, Lão).

Có thể nơi đây là một đền Phật giáo thì thuyết của Stephen Oppenheimer được củng cố.Trước
Stephen Oppenheimer đã có nhiều khám phá ở biển Đông Nam Á.

Stephen Oppenheimer đã dùng giả thuyết của Hancock để chứng minh rằng trước thời Băng giá, Đông nam Á là một lục địa lớn hơn châu Phi, bao gồm Đông Dương,, Malaysia và Indonesia. Sau thời Băng giá, sóng thần nổi lên nhận chìm lục địa này.. Ông cho rằng đó cũng là trường hợp vùng đất Bắc Mỹ và Á Châu xưa là một khối nay tách làm hai (17). Đó cũng là trường hợp MU ở Atlantic, một lục địa cho là đã biến mất do giả thuyết của nhà văn và nhà du lịch Augustus Le Plongeon vào thế kỷ XIX cho rằng đó là nguồn gốc của các nền văn minh đã bị mất tích như nền văn minh EgyptMesoamerica. về sau giả thuyết MU trở thành phổ biến và James Churchward còn cho rằng MU cũng ở Thái Bình dương (Wikipedia) .

Và đó cũng là trường hợp của Hổ tỉnh trầm thành (虎井沈城- (虎井澄淵) là một cái thành chìm dưới biển tại Bành Hồ, Đài Loan. Cái thành chìm này có thuyết cho là cái thành chìm xuống biển, có thuyết cho là nham thạch tạo thành (Wikipedia). Nhưng giả thuyết của Stephen Oppenheimer nay trở thành chứng cớ hiển nhiên vì công cuộc khám phá của Masaaki Kimura (木村政昭, November 6, 1940, Yokohama - giáo sư đại học Ryukyus, Okinawa, Japan) trong thập niên 90 đã tìm thấy một kiến trúc đưới biển Nhật bản có dạng Kim Tự Tháp (Wikipedia)

Tuy nhiên, như đã nói ở trên, những tượng Phật ở Bali (Indonesia) có nhiều nghi vấn:
(1).Lúc hoàn thành ngôi Đại Già lam Phật địa Borobudur có 602 pho tượng Phật, nhưng một số đã bị mất cắp, ngày nay còn 504, một số bị lấy mất phần đầu. [ GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM- http://m.phatgiao.org.vn/quoc-te/201606/doi-net-ve-Phat-giao-indonesia-22744/]
Đây là tai họa chung cho Phật giáo thường bị kẻ gian trộm các tượng Phật và thánh tích.
(2). Theo Nila Tanzil, ngưòi đã lặn xuống nơi đây thấy có nhiều tượng Phật và  tượng Ấn giáo 
( https://www.nilatanzil.com/visiting-an-underwater-temple/) và tác giả cho rằng đó là hành động phi pháp của bọn cướp biển Carribean.
(3). Một du khách đã lặn xuống nơi đây năm 2014 viết rằng Chúng tôi không biết chắc những ngôi tượng này đã ở đây được bao lâu, nhưng nhìn vào lượng hải sinh tăng trưởng xung quanh tượng thì có lẽ ít hơn một năm. rong rêu bám quanh các tượng chỉ khoảng một năm. (ĐỀN THỜ PHẬT TUYỆT ĐẸP DƯỚI ĐÁY BIỂN INDONESIA. http://thuvienhoasen.org/a23965/den-tho-phat-tuyet-dep-duoi-day-bien-indonesia

Tôn giáo là con đường đưa đến hòa bình nhưng cũng là con đường đưa đến chiến tranh. Phật giáo là một tôn giáo bị nhiều phe xem là kẻ thù như trong cuộc chiến tranh tôn giáo thời Trung Cổ, mà ngày nay, Hồi giáo vẫn tìm cách phá hoại Phật giáo như họ đã phá tượng Phật ở Afganistan. Phật giáo không đông, thế yếu, nhưng tư tưởng Phật giáo thâm thúy,  kiến trúc Phật giáo rất vĩ đại và đặc sắc gây cảm hứng và ngưỡng mộ sâu xa cho các tín đồ. Và những kiến trúc vĩ đại của Phật giáo như ở Borobodur, Ấn Độ, Thái Lan, Miến Điện.. và cái tâm của người chủ trương và ra sức xây dựng thật là vô biên vô lượng!
ĐỀ TÀI LIÊN HỆ:
NGUYỄN VĂN TUẤN, Australia. ĐỊA ĐÀNG Ở PHƯƠNG ĐÔNG
- NGUYỄN THIÊN THỤ * ĐỊA ĐÀNG TẠI VIỆT NAM


_____

CHÚ THÍCH
[1].Nguyễn Văn Siêu, Phương Đinh Dư Địa Chí,55
[2].Nguyễn Văn Siêu, Phương Đinh Dư Địa Chí,109.
[3] Cương Mục, 3.
[4] Lê Tắc, 39.
[5] Đào Duy Anh,VNVHSL, Quan Hải tùng Thư, Huế,1936. 46.
[6] Chuxue ji 初學記 and Yiwu zhi異物志,Lê Quý Đôn, Vân Đài Loại Ngữ III, 233,241;- Lê Tăc, 242.
[7] Lê Quý Đôn, Vân Đài Loại Ngữ I, 214.
[8] Lê Quý Đôn, Vân Đài Loại Ngữ I, 213.
[9] Lê Quý Đôn, Vân Đài Loại Ngữ I, 222.
[10] Lê Quý Đôn, Vân Đài Loại Ngữ III, 233.
[11] Lê Quý Đôn, Vân Đài Loại Ngữ I, 219.
[12] Lê Quý Đôn, Vân Đài Loại Ngữ I, 223.
[`13] Lê Tăc, 242.
[14] Lê Quý Đôn, Vân Đài Loại Ngữ III, 241,243.
[15] Lê Quý Đôn, Vân Đài Loại Ngữ III, 243-244
[16] Lê Quý Đôn, Vân Đài Loại Ngữ III,243-244
[17] Lê Quý Đôn, Vân Đài Loại Ngữ I, 275.
[18] Lê Quý Đôn, Vân Đài Loại Ngữ I, 194.
[19] Nguyễn Văn Siêu, 55
[20] Lê Tắc, 39.
[21] Lê Quý Đôn, Vân Đài Loại Ngữ I, 286.
[22]Đào Duy Anh, tr.41.
[23] Stephen Oppenheimer. Eden In The East.Phoenix, Great Britain, 1999, tr. 69.
[24] Ngô Sĩ Liên I, 73, 78.
[25] Ngô Sĩ Liên, I, 87.
[26 Lê Quý Đôn, Vân Đài Loại Ngữ I, 222,223.
[27] Ngô Sĩ Liên I, tr.87.
[28] Lê Quý Đôn, Vân Đài Loại Ngữ III, 159.
[29] Stephen Oppenheimer, 4, 5, 69.

No comments: