Tuesday, November 8, 2016

NGUYỄN ANG CA * NGUYỄN VĂN PHÚ * BÙI GIÁNG * PHỤ NỮ TÂN VĂN

NGUYỄN ANG CA * LÀNG BÁO SAIGON

Kể chuyện làng báo Sài gòn 35 năm về trước
Nguyễn Ang Ca
Cố văn sĩ Bình Nguyên Lộc có nói: «Trong làng báo có ba cây viết vừa nhà báo, vừa nhà binh cùng mang tật nói lắp. Đó là Nguyễn Bính Thinh, Nguyễn Đạt Thịnh và Nguyễn Ang Ca, cả ba đều cà lăm khi gặp phải chuyện xúc động hoặc trước... phụ nữ đẹp »
Hình: Nguyễn Ang Ca [1989]

Quả thật An Khê và tôi có lắm sự trùng hợp  ngẫu nhiên. Cùng họ Nguyễn và bút hiệu bắt đầu bằng chữ An, tuy chữ Ang của tôi có G, nhưng phần lớn khi biên thư, các bạn hay gọi tôi là An Ca. Anh An Khê và tôi cùng giống nhau giấy căn cước: sanh tại làng Tân Hưng, tỉnh Sa Đéc. Khi chánh thức lãnh lương nhà báo, mang danh xưng ký giả chuyên nghiệp trùng một năm:1950. Tôi và anh An Khê có một người anh chung trong nghề nghiệp, một «nghĩa huynh» mà chúng tôi kính yêu như cùng chung huyết thống: anh Bình Nguyên Lộc. Chưa hết, anh An Khê và tôi cưới vợ một lượt năm 1950.
Anh An Khê tên thật là Nguyễn Bính Thinh, con trai của cố bác sĩ Nguyễn Bính (không phải là nhà thơ Nguyễn Bính), gốc người Trà Vinh. Bác sĩ Nguyễn Bính là vị y sĩ Đông Dương xuất thân khóa đầu tiên ở trường Thuốc Hà Nội. Khi còn đi học, bác sĩ Nguyễn Bính làm thơ Đường và viết sách lấy biệt hiệu là Biến Ngũ Nhy.
Ông bà bác sĩ Nguyễn Bính (bà vốn là cô đỡ ở nhà thương Phủ Doãn, Hà nội) có tất cả 11 người con (4 trai, 7 gái). Trong số anh trai của An Khê có người anh thứ tư là dược sĩ kiêm tiến sĩ khoa học, ông Nguyễn Bính Tiên, từng có nhà thuốc tên Pharmacie Tiên ở đường Bonard (sau nầy là Lê Lợi) ngang bịnh viện Saigon. Xuất thân từ báo Đọc ThấyĐời Mới của cụ Trần Văn Ân, viết hai loại truyện dã sử (ký tên Cửu Lang) và tình cảm (ký Vân Nga). Có một thời, độc giả rất say mê theo dõi loạt truyện dã sử của Cửu Lang như Xương máu Phiên Ngung, Người anh hùng mặt sắt (Mai thúc Loan), Đoàn quân ma (Trần Quốc Toản), Ngai vàng sụp đổ. Còn loại truyện tình cảm của Vân Nga như: Ánh sáng đô thành, Cây kiếng vàng…rất được nữ độc giả hoan nghinh.
Khi giã từ anh Huỳnh Hoài Lạc (gốc người Long Xuyên), chủ nhiệm báo Thời Cuộc (thay cố chủ nhiệm Đinh Xuân Tiếu bị ám sát chết một lượt với ký giả Nam Quốc Cang), tôi sang đầu quân cho nhựt báo Tiếng Chuông của ông Đinh Văn Khai, cũng gốc  người Long Xuyên.
Còn anh An Khê thì chia tay với cụ Trần Văn Ân (gốc người Thốt Nốt, Long Xuyên) sang giúp cho báo Dân Đen của ký giả Nguyễn Duy Hinh. Thời kỳ 1950-60, ký giả Nguyễn Duy Hinh có biệt tài viết phóng sự điều tra, rất sôi nổi, anh Hinh lại có tài «quậy», tạo nên nhiều tin giựt gân, hấp dẫn độc giả.
Ngoài ra, anh An Khê còn lãnh viết feuilleton cho báo Buổi Sáng của Tam Mộc Mai Lan Quế và báo Công Nhân của ký giả Trần Tấn Quốc (chủ tịch Tổng Liên Đoàn Lao Công Trần Quốc Bửu cho mượn manchette). Vào thời nầy, anh chị Đinh Văn Khai rất phiền Nguyễn duy Hinh vì đang cộng tác và được ưu đãi ở nhựt báo Tiếng Chuông, anh Hinh tách ra lập báo Dân Đen và đăng một loạt bài công kích anh Đinh Văn Khai một cách kịch liệt.
Anh chị chủ nhiệm báo Tiếng Chuông cũng rất buồn anh Tam Mộc, bởi anh chủ nhiệm báo Buổi Sáng, ở phụ tranh hài hước, với bút hiệu Tám Móc hay phụ họa theo anh Nguyễn Duy Hinh để soi mói đời tư của anh chị Đinh Văn Khai. Lúc đó, người em thúc bá với Tam Mộc là tướng Mai Hữu Xuân có nhiều quyền uy, nên tuy tức tối, anh chi Khai chẳng dám có phản ứng gì!
Trong lúc An Khê có đất dụng võ ở ba tờ báo lớn, anh suýt chút nữa lại làm bể nồi cơm của một phóng viên. Số là ngoài bút hiệu Vân Nga, tên con gái đầu lòng, truyện tình cảm của An Khê viết cho Buổi Sáng, anh còn ký tên vợ là Trương Thanh Vân.
Ở tòa soạn báo Tiếng Chuông có phóng viên kiêm nhiếp ảnh viên Quốc Phượng (có khuôn mặt và nụ cười rất giống với  tôi, nên tại tòa soạn báo Tiếng Chuông thường xảy ra lắm chuyện nực cười khi nữ độc giả đi tìm tên thiệt của Trương Thanh Vân). Thường chủ báo buộc cộng tác viên không được viết cho báo khác (ngoại trừ tiểu thuyết gia viết feuilleton và thông tín viên ăn tiền từng bản tin), huống chi báo Tiếng Chuông đang căng thẳng với báo Buổi Sáng, nên anh chị Đinh Văn Khai cằn nhằn Quốc Phượng» ăn cây nào sao không rào cây đó» lại nỡ  «ăn cơm tôi mà lại tiếp tay kẻ khác để hại tôi».
Quốc Phượng thề bán mạng là tên Trương Thanh Vân trên báo Buổi Sáng không phải của anh, nhưng chủ nhiệm báo Tiếng Chuông nhứt định không tin, cho người móc nối với thợ sắp chữ Buổi Sáng đem bản thảo của Trương Thanh Vân về coi, nhưng vì bản thảo đánh máy nên oan tình của Quốc Phượng vẫn không giải tỏa, có miệng mà chẳng thể kêu oan, mà có kêu nào ai tin!
Một hôm Quốc Phượng nhờ An Khê chở đi sân Cộng Hòa xem đá banh, vì chiếc xe Lambretta của Quốc Phượng bị hỏng máy. Nhìn cái plaque ở xe mô tô của An Khê có mang tên chủ xe là Trương Thanh Vân, hỏi rõ, Quốc Phượng la lên :
- Trời ơi, ông báo hại tôi bị nghi oan, suýt bể nồi cơm đây, ông nội ơi!
Rồi thay vì nhờ An Khê đưa vào sân Cộng Hòa, Quốc Phượng kêu An Khê chở về đường Gia Long, đến tòa soạn Tiếng Chuông để làm sáng tỏ nỗi oan…Thị Kính.
Sau nầy, khi có dịp tâm sự với tôi, Quốc Phượng kể lúc ông bà Đinh Văn Khai giận, nếu không có sự can thiệp của họa sĩ Phạm Thăng và ký giả Phong Đạm (cũng như các anh Huyền Vũ, Lê Tân, Phong Đạm người gốc Phan Thiết, chuyên phụ trách trang trong. Nhỏ con mà kết duyên một lượt với hai chị em, sản xuất trên chục con…) thì QP đã bị tống ra khỏi báo Tiếng Chuông rồi !
Chỉ trong khoảng thời gian từ 1958-1972, An Khê đã viết trên 200 loạt truyện đủ cỡ, đủ loại, và có lúc, anh dám lãnh viết feuilleton một ngày cho…13 tờ báo. Nhiều anh em trong làng thấy mỗi ngày, anh và con gái anh thay nhau chạy giao bài cho các báo, có lúc phải đưa thẳng bản thảo cho nhà in, vì ấn công đang ngóng cổ đợi bài, anh em đã gọi đùa An Khê là phụng hoàng Lê Thành Các, cua rơ đại tài của làng xe đạp đã tạo nhiều kỷ lục phi thường trên lộ trình có nhiều đèo cao dốc cả!
Mà quả thật, trong làng văn làng báo từ xưa đến lúc đó, chưa ai viết nhanh, viết khỏe như An Khê, và trong cuộc đời sở trường viết feuilleton của An Khê, có lắm giai đoạn thật ly kỳ đặc biệt mà anh em chúng tôi còn nhớ kỹ.
Hại anh Trần Tấn Quốc gần nổi khùng
Viết truyện trinh thám, gián điệp, sau Phú Đức Nguyễn Đức Nhuận (Châu về hiệp phố), Viên Hoành, Nam Đình…nhưng trước Phi Long (Bàn tay máu), Bùi Anh Tuấn (Z28) rất lâu; anh An Khê dành bút hiệu Nguyễn Bính Long (tên một người anh đã qua đời) viết một loạt truyện điệp báo, mật vụ, phản gián (X30 trong lưới nhện)
Sau 1975, Cộng Sản có cho phát hành một cuốn truyện trinh thám và chúng đã mượn tên X30 của Nguyễn Bính Long. Đó là quyển X30 phá lưới có nhắc lại thời kỳ ông Thiệu  khi còn là trung úy, tùng sự ở Huế. Quyển truyện nầy nghe đâu do nhà văn Nguyễn Minh Lang ở Hà Nội viết, nhưng về sau lại có hai người khác giành quyền tác giả với Nguyễn Minh Lang.
Sau đây tôi nhắc lại chuyện anh An Khê đáp lời mời của ký giả Trần Tấn Quốc viết truyện Rừng Sát hấp hối cho báo Công Nhân. Lúc đó là trào chánh phủ Ngô Đình Diệm, cụ Ngô mới dẹp xong Bình Xuyên, đang xúc tiến tổ chức quốc hội lần 2. An Khê về Rạch Giá ứng cử dân biểu, nhưng bị ăn gian nên lọt sổ. Vì kẹt ở Phú Quốc nên phải viết bài gởi về qua « Air VN » cho nhà báo. Thay vì đề Trần Tấn Quốc, chủ nhiệm nhật báo Công Nhân, 216 Gia Long Saigon, An Khê lại viết chình ình ngoài phong bì: Rừng Sát hấp hối, rồi địa chỉ nhà báo. Có lẽ An Khê nghĩ rằng đề phong bì như vậy, anh chủ nhiệm khi được thơ khỏi phải mở ra coi mà đưa thẳng cho ấn công để tranh thủ thời gian không bị trể bài.
Bấy giờ Bộ Thông Tin uy quyền rất rộng lớn, chế độ kiểm duyệt báo chí khắt khe, ngoài giám đốc báo chí trực thuộc Bộ Thông Tin, anh em làng báo còn bị đè nặng do áp lực của cơ quan Mật vụ.  Cơ quan nầy cũng có văn phòng đặc trách báo chí mà các ông chủ báo rất ngán hai ông Thái Đen, Thái Trắng còn hơn thợ săn đêm ngán gặp cọp.
Tại Tổng Nha Bưu Điện, nhân viên soạn thơ, kiểm duyệt thơ thấy có một phong bì dầy cộm có đề chữ Rừng Sát hấp hối, sợ hỏa tam tinh nên báo cáo lên trưởng phòng. Ông nầy ớn da gà không dám mở ra xem mới trình lên chánh sự vụ, ông nầy cũng phát hoảng hớt ha hớt hải đi trình ông phó giám đốc. Ông Phó đưa phong bì cho ông giám đốc xem.
Trong lúc đó, ở tòa soạn, anh Trần Tấn Quốc ngóng đợi bài của anh An Khê, vì anh em ấn công thúc hối, đang sốt ruột cả mấy bữa thì được thư mời khẩn lên gặp Giám đốc Bưu Điện Saigon. Đến chừng anh Quốc gặp ông giám đốc Nhà Dây Thép, thư được mở ra, mới biết đó là truyện dài của An Khê. Lòng vòng cả tuần lễ và dĩ nhiên anh chủ nhiệm báo Công Nhân phải thay chuyện Rừng Sát hấp hối bằng một chuyện khác.
Trong làng báo lúc bấy giờ, anh Trần Tấn Quốc nổi tiếng có tay nghề cứng, lại vô cùng tôn trọng độc giả mà phải để bài đăng dang dở, lại thêm phải mất công mặc đồ lớn đi gặp chánh quyền khi đang bù đầu «mise » tờ báo, khiến anh Quốc gần phát khùng, nổi sùng An Khê luôn!
Thoạt đầu, Nguyễn Bính Thinh rất bất mãn anh Bình Nguyên Lộc
Phi Vân nghỉ Tiếng Chuông đi làm cho báo Dân Chúng, Nguyễn Kiên Giang được ông bà Đinh Văn Khai mời về làm Tổng thơ ký. Kiên Giang liền mời An Khê về thay Phi Long (tức Ngọc Sơn) để viết truyện gián điệp. Nhưng chủ nhiệm báo Tiếng Chuông lại muốn An Khê viết chuyện dã sử ký là Cửu Lang vì bút hiệu nầy được nhiều độc giả các báo quen biết.
An Khê đánh máy 25 trang bài tóm lược câu chuyện đưa cho tòa soạn Tiếng Chuông. Y ngày hẹn, An Khê đến tòa báo, hỏi điều kiện thì chủ nhiệm và chủ bút Tiếng Chuông đưa An Khê đi gặp nhà văn Bình Nguyên Lộc. Khi đó, Bình Nguyên Lộc vừa về xem trang trong cho Tiếng Chuông, sắp xếp lại bài vở, phụ trang. Gặp An Khê, anh Lộc nói :
- Tôi có đọc các truyện của anh, từ gián điệp đến dã sử. Theo tôi, anh viết truyện tình cảm ướt át lâm ly và hấp dẫn lắm. Anh lại có «fond» hơn bà Tùng Long nhiều, anh yên chí và tự tin đi. Tuần sau, anh đem bài truyện tâm tình đến tôi.
Khi đó, An Khê trong bụng oán trách anh Bình Nguyên Lộc vì từ chủ nhiệm đến chủ bút đều OK cốt chuyện, tại sao anh Lộc lại còn làm khó dễ? Anh Bình Nguyên Lộc còn góp ý :
- Bút hiệu Vân Nga, Trương Thanh Vân đã cũ, Nhuyễn Bính Long thì có vẻ đấm đá quá! Anh nên lấy một bút hiệu mới, không ai biết…là ai mới được! Mình phải tạo cho độc giả yếu tố bất ngờ, tò mò, tìm hiểu...
Rồi chính anh Bình Nguyên Lộc đề nghị :
- Anh là một sĩ quan từng chết hụt trên đoạn đường Qui Nhơn-Pleiku cùng với tướng Nguyễn Khánh. Theo tôi, anh nên chọn bút  hiệu An Khê để kỷ niệm cuộc vào sanh ra tử trong cuộc đời binh nghiệp.
Sau nầy, tại tòa soạn báo Tiếng Chuông, có lần anh An Khê nói cho tôi biết :
- Anh Bình Nguyên Lộc đã chơi đòn tâm lý, nói tôi không lẽ lại chẳng thể viết bằng Ngọc Linh, Sĩ trung, Thanh Thủy, Dương Hà, Trọng Nguyên hay sao? Và khi tiểu thuyết Người vợ hai lần cưới được đăng ở báo Tiếng Chuông dưới bút hiệu An Khê, báo Tiếng Chuông tăng số bán ở đô thành lên cả ngàn số. Anh Đinh Văn Khai tươi rói nét mặt, cả anh Bình Nguyên Lộc và tôi cũng không ngờ kết quả khả quan ngoài sức tưởng tượng.
Ba mươi năm trước, tôi còn là một ký giả trẻ trung, nhanh nhẹn hay chọc đùa anh em ở tòa soạn. Mỗi lần thấy anh An Khê cỡi mô tô lại tòa báo giao bài, tôi gọi Việt Quang, Trường Sơn, Phong Đạm, Phạm Thăng  rồi nói: 
- Ê, người vợ chưa từng tắm lại kìa !!
Về sau, soạn giả Thái Thụy Phong điều đình với An Khê để lấy cốt chuyện Người vợ hai lần cưới dựng thành vỡ tuồng Hai chuyến xe hoa cho Thanh Minh, Thanh Nga. Tại rạp Hưng Đạo, dù trời mưa, đoàn TMTN đã diễn vỡ tuồng nầy trọn 19 đêm, đợt sau ba tuần lễ mà vẫn đông khách nhờ tiểu thuyết đã đăng báo Tiếng Chuông và tài diễn xuất của nữ nghệ sĩ Thanh Nga.
Bạn Hoàng Anh Tuấn nhanh tay lấy cốt chuyện quay phim và nhà xuất bản Sống Mới cũng hốt bạc bộn bàng khi xuất bản quyển Người vợ hai lần cưới.
Một tiểu thuyết thứ hai của An Khê cũng được đưa lên sân khấu Thanh Minh, đó là truyện Bơ vơ, do Nhị Kiều dựng, mà tôi thường gọi đùa là Bỏ vợ. Một đêm nọ, khi gặp tôi trong hậu trường Thanh Minh Thanh Nga, An Khê khều tôi bảo nhỏ :
- Nè, từng mê «kỳ nữ» Kim Cương, đừng có làng chàng đến «tài nữ» Thanh Nga nghe, tía nó !
Tôi phá lại An Khê :
- Còn anh? Coi bộ anh cũng mê mệt bà Bầu Thơ lắm đó nhe. Và anh nên nhớ là tôi lớn hơn Thanh Nga nhiều.
An Khê lắc đầu:
- Mà anh lại nhỏ tuổi và bảnh tẽn hơn…Đổng Lân ! Anh có đọc truyện nầy không ? «Xin đừng gọi anh bằng… chú»!
Không chịu thua, tôi hù An Khê :
- Anh mà chạy theo Bà Bầu, coi chừng tướng Lam Sơn. Ỏng dữ lắm, hay bắn bậy lắm đấy!
Vợ tôi đứng bên cạnh nghe nói, cằn nhằn:
- Anh An Khê thật thà lắm, đừng phá ảnh.
An Khê phát cà lăm:
- Nè, bồ gi..ỡn điệu đó, bà xã tôi nghe được bã  đô.. ốt xe mô..m.tô của t.. ôi đó !
Những cuộc «đảo chánh» trong làng báo
Ngoài đời, có những cuộc đảo chánh, binh biến để giành quyền lực, còn trong làng báo cũng có những cuộc đảo chánh nữa sao?
Từ thập niên 1960-1970, trong làng báo miền Nam có xảy ra hai cuộc đảo chánh làm chấn động dư luận.
Cuộc đảo chánh thứ nhứt do anh Nguyễn Kiên Giang chủ động. Từ vai tuồng Tổng thơ ký tòa báo Tiếng Chuông, « anh Hai » chiêu dụ Trường Sơn và mấy cây viết chủ lực về giúp anh Dương Chí Sanh làm một tờ báo mới (dường như tờ Saigon Thời Báo?). Nghĩ rằng không phải ký giả chuyên nghiệp như các anh Nam Đình, Trần Tấn Quốc, Phạm Việt Tuyền, Vũ Ngọc Các, Tam Mộc, Hồ Anh, Hà Thành Thọ…, nên nếu tòa soạn mất thành phần chủ lực, anh Đinh Văn Khai sẽ phải sập tiệm tức khắc. Anh Nguyễn Kiên Giang còn điều đình các cây bút chuyên viết feuilleton cúp ngang xương truyện đang viết cho Tiếng Chuông để sang viết cho tờ báo mới ra lò.
Nhưng anh Giang quên rằng trong làng báo, có nhiều người tuy không phải là thợ viết, nhưng lại có lắm sáng kiến, có tài tổ chức, biết cách điều hành tờ báo. Trong số nầy có bạn Trương Hồng Sơn (tổ chức biên tập cho báo Tin sáng) và anh Đinh Văn Khai.
Có gần gũi anh Đinh Văn Khai mới biết được biệt tài của anh. Biết khai thác các tin «local», theo dõi từng feuilleton từ báo nhà đến báo người để xem bộ truyện nào ăn khách, và các bài xã luận đều do ý anh đề ra. Anh cũng đích thân xem «bản vỗ cuối cùng»  trước khi đem trình bộ Thông tin kiểm duyệt, duyệt xét lại cái «tít» bài, để khỏi sơ suất có thể bị đóng cửa (vì ấn công, đa số còn trẻ, hay trửng giỡn như trường hợp một tờ báo kia có cái tít : «Cuộc kinh lý của Tổng Thống Ngô Đình… Chậu», báo hại tờ báo suýt bị sạt nghiệp)
Để phá anh Đinh Văn Khai, vợ chồng Nguyễn Kiên Giang  đến nhà An Khê bảo đem tiểu thuyết «Người yêu không thể cưới» đang đăng dở dang ở Tiếng Chuông sang Thời Báo. Biết An Khê là người tình cảm, rất yêu quý bạn bè,  Nguyễn Kiên Giang cầm tay bị thương của anh và nói :
- Tụi mình là bạn nối khố, không bao giờ bỏ nhau!
An Khê đang lưỡng lự chưa dứt khoát thái độ thì anh chị Đinh Văn Khai đi đòn tâm lý cao đến năn nỉ bác sĩ Nguyễn Bính, thân phụ của An Khê, nhờ can thiệp vì nếu Người yêu không thể cưới bỏ ngang Tiếng Chuông mà sang cưới nhau ở Thời Báo thì Tiếng Chuông chắc chết.
Cha mẹ An Khê từ lâu là độc giả Tiếng Chuông khuyên anh ăn ở sao cho phải đạo.
Tình cờ gặp tôi, An Khê hỏi :
- Ca ơi, mỏa phải làm sao? Anh chị Khai rất điệu với mỏa, còn Nguyễn Kiên Giang là bạn cũ, cùng dân Rạch Giá, cùng lận đận từ thời Đọc Thấy của anh hai Ân.
Tôi đáp :
- Anh và tôi là hai thằng…duy tâm. Chủ trương của anh em mình giống như đại ca Bình Nguyên Lộc, thà người phụ mình chớ mình đừng phụ người.
Anh Bình Nguyên Lộc cũng lên tiếng :
- Có một giải pháp tốt, không ai phiền hà anh hết. Cứ để nguyên Người yêu không thể cưới cho Tiếng Chuông, anh viết một truyện khác cho Nguyễn Kiên Giang.
Thế là An Khê viết một tiểu thuyết mới tựa là « Người đàn bà hai tim » cho Thời Báo.
Ngày nào báo ra, hai bà Dương Chí Sanh, Nguyễn Kiên Giang đều đọc trước phê bình :
- Tiểu thuyết mới cũng hay mà sao không mùi mẫn hấp dẫn như Người yêu không thể cưới.
Còn cuộc đảo chánh thứ hai xảy ra ở báo Dân Ta của anh Nguyễn Vỹ.
Người chỉ huy cuộc đảo chánh là Nguyễn Thế Trung, cựu phát hành viên và quản lý báo Lẽ Sống. Anh Trung không phải là ký giả, nhưng có tài phát hành báo, giao dịch mật thiết với các nhà phát hành như Nam Cường, Đồng Nai, Thống Nhứt và cặp rằng phân phối báo.
Là quản lý của Dân Ta, thấy tờ báo đang bán mạnh, Nguyễn Thế Trung điều đình với Nguyễn Minh Châu (anh Châu đã có giấy phép xuất bản Dân Tiến mà chưa có phương tiện ra báo nên nhường quyền khai thác cho Nguyễn Thế Trung) để ra báo Dân Tiến và kéo cả ban biên tập Dân Ta về Dân Tiến.
Buổi sáng, Nguyễn Vỹ ôm cartable đến tòa báo làm việc, chưng hửng khi thấy tòa soạn vắng tanh, trước sự việc như vậy chỉ còn biết kêu trời. Báo Dân Ta phải tự đình bản cả tuần, nhưng khi tái bản bị mất trớn, mất độc giả, lỗ lả nặng nề.


LÊ DINH * 50 NĂM ÂM NHẠC

NT 142 - tháng 01 - 2006

LÊ DINH

50 NĂM ÂM NHẠC



Nhạc phẩm đầu tay của tôi, do nhà Xuất bản Tinh Hoa Miền Nam ấn hành, ra đời ngày 18 tháng 7 năm 1956, năm tôi 22 tuổi: đó là bài Làng Anh Làng Em. Thấm thoát đã đúng 50 năm tôi cầm bút và cầm đàn. Có nhiều bạn đọc, sau khi xem Thúy Nga Paris By Night số 70, thắc mắc về số tuổi của tôi, cắc cớ hỏi tôi vậy chớ anh (tức là tôi) có khai thêm tuổi không? Xin trả lời, tôi sinh năm Giáp Tuất và năm nay là năm Bính Tuất, 6 lần 12 con Giáp đã đi qua với tuổi của tôi rồi. Nếu nói về năm Dương lịch thì tôi sinh năm 1934, và bước qua 2006, tới ngày 8 tháng 9 này là đã 72 lần mùa Xuân qua đời tôi. Và tiện đây, nhân ngày tư ngày Tết, tôi cũng có vài điều muốn nói với quý thân hữu và những người đã mến mộ nhạc Lê Dinh từ nửa thế kỷ nay, và cũng để giải đáp thắc mắc của một số độc giả muốn tìm hiểu đôi điều bốn chuyện về chúng tôi, những chuyện từ trước đến nay chưa có ai nói tới.

Trước nhất là về cái tên. Cách nay 7 năm, nhân dịp tham dự một buổi họp mặt do một nhà thơ thân hữu ở Montréal tổ chức đón tiếp thi sĩ Hà Huyền Chi từ Lacey (WA) qua thăm bạn bè ở Montréal, có một ông khách hỏi sao tôi lấy tên Lê Dinh? Tôi trả lời rằng tên trong khai sinh của tôi làø Lê văn Dinh, chữ Lê Dinh lấy từ đó ra, chỉ bỏ bớt chữ "văn" cho đỡ luộm thuộm mà thôi. Ông bạn này mỉm cười khó hiểu và thú thật cho đến bây giờ tôi cũng chưa hiểu ý nghĩa cái mỉm cười của ông khách lạ này. Có lẽ theo ông, tên tôi không lấy gì làm văn hoa cho lắm, không biết có phải vậy không? Nói về cái tên trong giới nhạc sĩ, phần đông lấy tên thật của mình làm tên riêng, có khi giữ nguyên, có khi bỏ bớt chữ giữa, có khi bỏ bớt chữ đầu hoặc chữ cuối. Cũng có những nhạc sĩ lấy những tên lạ hoắc, không ăn nhập gì tới cái tên trong khai sinh, nhưng có một ý nghĩa riêng tư nào đó, rất quýù đối với họ. Tôi cũng thường hay nói với bạn bè trong giới sáng tác rằng tôi sinh ra ở làng Vĩnh Hựu của tỉnh Gò Công năm xưa (Bây giờ Gò Công không còn là tỉnh nữa) cho nên dù có muốn - cũng như nhiều nghệ sĩ khác, lấy tên nơi chôn nhau cắt rún của mình - tôi cũng không thể lấy được biệt danh Lê Vĩnh Hựu, vừa khó đọc, vừa khó nhớ. Những làng kế cận làng Vĩnh Hựu của tôi cũng đều bắt đầu bằng chữ Vĩnh, như Vĩnh Trị, Vĩnh Viễn, Vĩnh Lợi, Vĩnh Thạnh... nếu tôi sinh ra ở Vĩnh Trị, tôi có thể lấy tên Lê Vĩnh Trị chẳng hạn, để ghi nhớ quê hương của mình như các nhà văn Hà Kỳ Lam, Trà Lũ... ghép hay lấy tên nơi sinh trưởng để làm biệt danh của mình, vì dù sao Lê Vĩnh Trị còn nghe được hơn là Lê Vĩnh Hựu (người bình dân miền Nam sẽ đọc là Lê Dĩnh Hụ). Người bạn lâu năm của chúng tôi là nhạc sĩ Minh Kỳ, tên thật là Vĩnh Mỹ, người hoàng phái, đã qua đời từ 31 năm nay, cho nên tôi rất lấy làm tiếc vì cho đến bây giờ tôi cũng chưa hiểu do đâu anh lấy tên Minh Kỳ để rồi không bao giờ còn hỏi được nữa. Còn nhạc sĩ Anh Bằng, tên thật là Trần An Bường, rồi sửa "trại" ra là "Anh Bằng", nghe đâu anh cũng lấy tên từ một con sông hay một cái làng nào ở miền Bắc, nơi sinh trưởng của anh. Ngày xưa, tôi và Minh Kỳ thường hay nói giỡn chơi với Anh Bằng rằng không ai khôn bằng anh, lấy biệt danh Anh Bằng thì già trẻ bé lớn gì cũng phải gọi anh bằng "anh" hết. Nhất là phái nữ, khi nói chuyện với Anh Bằng thì thế nào cũng bắt đầu bằng tiếng "anh" ngọt xớt: Anh Bằng ơi... Nhạc sĩ sáng tác có tên bắt đầu bằng "Anh" khá nhiều như Anh Việt, Anh Thy, Anh Huy, Anh Hoa, Anh Sơn, Anh Việt Thu, Anh Việt Thanh v.v... nhưng chưa thấy nhạc sĩ nào cả gan lấy tên bắt đầu bằng chữ "Ông" cả.

Nhắc đến Minh Kỳ, trước khi thành lập nhóm Lê Minh Bằng, Minh Kỳ và tôi thường hay sáng tác chung. Anh có biệt tài viết nhạc rất nhanh, nhưng nhanh mà hay chứ không phải nhanh mà dở. Chẳng hạn như trường hợp bài "Cánh thiệp đầu Xuân". Một buổi trưa vào khoảng tháng 11 năm 1964 (Giáp Thìn), gần đến Tết Ất Tỵ, anh đến nhà tôi ở cư xá Chu Mạnh Trinh (Phú Nhuận) bằng chiếc Lambretta trắng của anh. Nghe tiếng Lambretta quen thuộc từ xa là tôi biết anh Minh Kỳ đến. Đưa cho tôi bản nháp một bài nhạc chưa có tên, anh bảo tôi xem lại và viết lời gấp để kịp cho trình bày trong dịp Xuân, ngày mai phải có tựa bài và lời ca cho anh. Biết tính ý nóng nảy và gấp rút của anh, tôi nhận bản thảo anh đưa và báo hại đêm đó, tôi phải thức đến quá nửa khuya mới hoàn tất bài "Cánh thiệp đầu Xuân" mà sau này và cho mãi đến bây giờ, mỗi dịp Xuân về, quý độc giả thường nghe nhiều ca sĩ trình bày qua làn sóng phát thanh cũng như ở những buổi nhạc hội mừng Xuân:
Hoa lá nở thắm đẹp làn môi hồng
Xuân đến rồi đây nào ai biết không
Mang những hoài mong đi vào ngày tháng
Bao nhiêu mơ ước đến khi mùa Xuân sang...

Hôm sau, Minh Kỳ đến xem bản nhạc đã hoàn tất và chúng tôi ngồi lại hát thử, anh bảo rằng chắc chắn bài này sẽ "ăn". Chữ "ăn" đây là ăn khách, có nghĩa là sẽ được nhiều người ưa thích và như vậy sẽ tái bản nhanh. Mà quả thật vậy, khi bài hát này được trình bày vài lần trên đài phát thanh, anh Lê Mộng Bảo, giám đốc nhà xuất bản Tinh Hoa Miền Nam liền tìm chúng tôi để hỏi mua bản quyền xuất bản vĩnh viễn và liên tiếp rất nhiều năm sau nữa, bản nhạc này được tái bản nhiều lần.

Nhưng chưa hết, sau khi lấy bài nhạc "Cánh thiệp đầu Xuân" và trước khi ra về, Minh Kỳ còn trao cho tôi một bài khác, cũng nhạc không thôi, chưa có lời, chưa có tựa và nhịp điệu rộn rã, có vẻ Xuân, bảo tôi làm tiếp lời thêm một bài nữa cũng về... Xuân. Cầm bản nháp trong tay, sau khi Minh Kỳ ra về rồi, tôi mới nghĩ thật khó mà viết lời cho hai bản nhạc cùng đề tài Xuân mà không giống nhau. Cũng lại phải nửa đêm thức trắng để tìm cách viết lời ca sao cho khác đi, và vài ngày sau, một bài về Xuân thứù hai ra đời, có cái tựa "Hạnh phúc đầu Xuân" như sau:
Thắm thoát là đây, một mùa Xuân mới với ngàn cánh mai vàng
Nụ cười trên môi, trên làn má ai đón Xuân tươi vừa sang
Biết chúc chi đây, khi làn gió Xuân về, giấy trắng ghi lại đôi giòng nhạc tâm tư, làm thơ trao duyên, gửi người đôi câu chúc nhau "hạnh phúc đầu Xuân".
Xuân nay tôi chúc, người miền biên cương...

Nhạc phẩm này sau đó cũng do nhà Xuất bản Tinh Hoa Miền Nam mua đứt bản quyền xuất bản.

Về nguồn gốc của ca khúc "Thương đời hoa", tôi viết năm 1959, khi biết tin qua báo chí, một nữ sinh Gia Long tên Lan (?) bị bà vợ của người yêu đánh ghen và tạt nước cường toan vào mặt, hủy hoại nét mỹ miều trên gương mặt của một cô nữ sinh xinh đẹp. Tin này gây xúc động cho mọi người, không những chỉ nam giới mà cho cả nữ giới. Nếu tôi là đàn bà, khi nổi máu Hoạn Thư, tôi tạt "acide" vào mặt ông chồng tôi, chứ không nở phá hủy một nụ hoa hàm tiếu như thế. Với tâm hồn đa cảm của một nhạc sĩ ở lứa tuổi 25, tôi không thể không cảm xúc được cho nên viết đôi dòng nhạc thương cảm để tặng người con gái xấu số chưa hề quen biết này:
Buồn viết nên bài ca
Vì nhớ thương đời hoa
Mặn mà thay lúc đầu, dịu dàng khoe sắc màu, nhìn dòng đời vui biết bao.
Ngày ấy nay còn đâu
Vì xác hoa tàn mau
Ngại ngùng hoa biếng cười, vì đời hoa úa rồi mà thời gian lạnh lùng trôi...

Có nhiều độc giả cũng như thân hữu hỏi tôi tại sao tôi viết bài "Nếu mai này" (1972) nghe thảm thiết quá vậy, nhất là khi nghe Thế Sơn trình bày trong chương trình Thúy Nga Paris By Night 70, với phần hòa âm rất đặc sắc của Tùng Châu, nhắm mắt lại, chúng ta tưởng tượng như một đoàn người mặc đồ đen, âm thầm, lặng lẽ bước sau chiếc xe tang, đưa người bạc phước về nơi chín suối. Thú thật, tôi viết bài này khi tôi nhìn thấy sự giả dối trong trường hợp của riêng tôi, mà có lẽ cũng là của không ít bạn bè quen biết, qua những mối tình thề non hẹn biển nhưng chỉ là những lời đầu môi chót lưỡi. Còn sống bên nhau mà đã phản bội nhau rồi thì khi một người về chốn âm cảnh, kẻ còn lại dương thế, đừng che mắt thế gian bằng cách ôm hoa đi viếng mộ, đốt vài cây nhang, lấy mù soa chậm nước mắt, khiến linh hồn người chết không thanh thản về miền miên viễn được:
Nếu mai anh chết, xin em đừng tìm vào nghĩa trang nghe
Xin em đừng vờ thương người cũ, đặt vòng hoa tưởng nhớ
Nếu mai anh chết, đừng quấn khăn tang, để lãng quên duyên ban đầu và hồn anh được nghĩ yên một giấc thiên thu.

Nhưng cũng không nên quơ đũa cả nắm những người tình một thuở đó, cũng có người rất chân thành như một người đã cho tôi lời nói chân thành đáng yêu trong giai đoạn đời son trẻ, bay bướm của tôi mà tôi nhớ lại và lấy làm lời kết thúc bài "Biển Dâu", đó là 7 chữ "Tôi yêâu người còn hơn yêu tôi":
Em về ôm phận thương đau
Tình vui được buổi ban đầu
Tình buồn không biết bao lâu
Lệ nhạt nhòa qua những đêm thâu
Cho dù dâu biển chia phôi
Chiều nao nhìn áng mây trôi
Người ơi còn nhớ nhung lời:
"Tôi yêu người còn hơn yêu tôi"
Cũng trong chiều hướng tốt đẹp này, tôi được biết có một trường hợp thật đáng đề cao tấm lòng chung thủy của người con gái. Đó là chuyện một người bạn nhạc sĩ nổi tiếng, rất thân với tôi, vào tháng tư năm1975, anh đã ra đi bất cập không một lời từ giã người yêu, một nữ ca sĩ, đã từ bao năm gắn bó. Nàng vẫn chờ, một năm, hai năm rồi ba năm, người ra đi vẫn biệt tâm, không có tin tức gì gửi về nhà, cô này vẫn đợi... Thỉnh thoảng cô ta gặp tôi, với nét mặt buồn hiu, hỏi thăm tin tức về người yêu, nhưng tôi cũng như cô thôi, đâu có nhận được thư từ gì của ông bạn. Nhưng có lẽ vì sự thúc bách của gia đình nên cô phải lấy chồng. Đám cưới của cô, tôi có tham dự. Nhưng tôi biết chắn chắn rằng cuộc hôn nhân tạm bợ này không kéo dài được và quả nhiên, không lâu sau đó họ ly dị và cho đến ngày tôi vượt biên, hơn 3 năm sau, lòng cô vẫn còn vương hình bóng của người yêu cũ và cô vẫn đợi chờ.

Trong một bữa tiệc cưới, tôi ngồi gần một người khách không quen. Qua câu chuyện, ông khách này biết tôi là tác giả bài "Chữ Tình", ông hỏi tôi làm thế nào mà tôi viết được một bài nhạc nói đúng tâm trạng của những người đang yêu quá vậy? (Có lẽ ông cũng đang ở trong tâm trạng này chăng?). Tôi nói thì thời thanh xuân, cũng ba chìm bảy nổi, chết đuối trồi lên hụt xuống bao nhiêu bận rồi mới lấy đó làm kinh nghiệm để viết chứ. Thử hỏi có kẻ nào đang yêu mà được yên ổn sống phẳng lặng trong hạnh phúc không? Người ta bảo "Yêu nhau lắm cắn nhau đau", mà thật vậy, yêu nhiều thì ghen nhiều. Ghen thật cũng có mà ghen vu vơ cũng có. Ghen thật rồi buồn dằn vặt thì không nói làm gì. Nhưng ghen vu vơ rồi sợ sệt, sợ người yêu ngoạïi tình rồi nay hờn mai giận, tối ngày sống trong khắc khoải lo âu thì mới đáng nói. Thấy người yêu thân mật với một kẻ khác - không phải là mình - thì mặt mày ủ rũ, buồn ơi là buồn. Vắng mặt người yêu đôi ba ngày thì thấy dài như đôi ba tháng, vắng mặt đôi ba tháng thì thấy dài như đôi ba năm. Tình yêu là liều thuốc bổ, đem lại cho con người sự hăng say làm việc nhưng tình yêu cũng là liều thuốc độc giết dần giết mòn kẻ bị người yêu cho mọc sừng:
Chữ tình, thuốc đắng đã trao nhau
Uống vào, chuốc lấy lắm thương đau,
U sầu và héo hắt, lo âu đêm ngày
Chữ tình là sông dài bóng mát
Chữ tình là đêm dài thức trắng,
Chữ tình một khi uống vào đầy mặn, ngọt, chua, cay.

Về sự hợp tác làm ăn, người ta kỵ nhất con số 3, cũng như khi có 3 người cùng chung với nhau mở một công ty hay hùn hạp làm ăn chuyện gì. Trong quân đội, "tam tam chế" thì được, nhưng trong công việc làm ăn, rất kỵ khi có 3 người kết hợp. Trường hợp của chúng tôi, 3 người: Lê Dinh, Minh Kỳ và Anh Bằng, lấy tên chung là Lê Minh Bằng, hợp tác với nhau từ năm 1966 để mở lớp nhạc Lê Minh Bằng ở đường Hai Bà Trưng, thành lập ban Sóng Mới trên Đài Phát Thanh Saigon, phụ trách tổ chức Tuyển lựa ca sĩ ở rạp Quốc Thanh, và làm cố vấn cho hãng dĩa cùng nhà xuất bản Sóng Nhạc của Ông Nguyễn Tất Oanh ở đường Phạm Ngũ Lão. Thoạt tiên, ông Nguyễn Tất Oanh (đã qua đời) bảo rằng không được vì là 3 người, xui lắm. Chúng tôi không tin, cho đó là dị đoan, hơn nữa chúng tôi 3 người, một Nam, một Trung, một Bắc, có lẽ đó là ngoại lệ, sự xui xẻo không áp dụng cho trường hợp của chúng tôi. Ông chủ nhà in Tương Lai trong Chợ Lớn, nơi chúng tôi in nhạc lúc mới bắt đầu hợp tác, là một người Tàu, cũng nói: "À cái lày không được đâu nị, chếch à". Nhưng chúng tôi cũng không tin. Nhưng rồi 9 năm sau CS vào, Minh Kỳ, người luôn luôn bảo rằng khi Việt cộng tới thì anh phải chạy tị nạn ngay, đem theo một đứa con trai lớn để nối giòng, nhưng rồi anh ở lại để chỉ 5 tháng sau, anh chết một cách oan uổng và phi lý ở trại giam. Và Anh Bằng với tôi, hai người còn lại cũng phải ở hai nơi xa xôi, cách nhau hơn 4,000 dặm, có gặp nhau cũng 5, 3 năm mới gặp nhau một lần. Người ta bảo "Có thờ, có thiêng, có kiêng, có lành", ở trường hợp của chúng tôi, biết vậy nhưng không làm sao được. Ba anh em chúng tôi - tam ngu thành hiền - trong vấn đề làm việc cũng như trong vấn đề tình cảm, tính tình, đều bổ túc cho nhau, thiếu một trong ba người là không thể nào thành công được.

Thoáng một chốc, đã 30 năm, hết nửa đời người. Ngày đặt chân lên vùng đất lạ, sức khỏe còn sung mãn, mái tóc còn đen mun, thế mà giờ đây, qua sinh hoạt hàng ngày, tôi thấy tôi "bóng dâu đã xế ngang đầu", càng ngày càng gần với đất hơn. Rồi đi về đâu? Người ta bảo đó là "chín suối mười suối", hay "cửu tuyền thập tuyền", "thiên đàng địa ngục" gì đó, đố ai biết được? Nhưng có lẽ mình sẽ gặp lại những người đã đi trước và về nơi đó trước mình, trước nhất là ông bà cha mẹ, thân nhân, rồi sau đó là bạn bè thân thích. Có điều chắc chắn là nơi đó không có hận thù mà chỉ có yêu thương, nơi đó chỉ có yên vui, không có buồn phiền, không có phản trắc. Rồi Minh Kỳ cũng làm nhạc đưa Lê Dinh viết lời cho thật gấp. Rồi tôi cũng sẽ thức trắng đêm để viết bài, không phải "Hạnh phúc đầu Xuân" mà bài "Hạnh phúc vĩnh cửu" và cùng Minh Kỳ đèo nhau trên chiếc xe Lambretta màu trắng của anh, rong chơi khắp chốn trong cõi yên bình miên viễn.



THƯ CỦA GS. NGUYỄN VĂN PHÚ

THƯ GỬI CON CHÁU

Thưa lão hữu,
Trong những dịp chuyện trò với nhau ở trụ sở trong khi chờ đợi các con đến đón, chúng
ta đã đồng ý với nhau về một số vấn đề và lão hữu bảo tôi nên viết các điều ấy ra để
cho con cháu đọc, vì lão hữu tay run quá, muốn viết cũng không được. Đặc biệt là năm
nay là tròn 30 năm tỵ nạn, cho nên cần làm sáng tỏ một số việc cho các con, nhất là
các cháu, hiểu. Mấy tháng vừa rồi, tôi đã gắng tuân theo lời của lão hữu; nay coi như
việc đã tạm xong. Để dễ trình bày ý kiến, tôi viết dưới dạng một bức thư của bố mẹ gửi
cho các con. Kính mời lão hữu nhàn lãm, rồi sửa đổi và bổ túc cho, đa tạ.


Các con thân yêu,
Nay, bố mẹ tuổi đã 80, thế cũng là khá thọ so với các thế hệ trước bố mẹ. Bố mẹ đã
nhiều lần nói chuyện với các con về một số vấn đề, nhưng không phải lúc nào cũng có
đủ các con cùng nghe. Hơn nữa, không chắc các con đã nhớ hết những lời nói của bố
mẹ. Vì thế mới có lá thư này để tóm tắt những ý kiến chính mà bố mẹ muốn gửi đến
các con. Còn các cháu thì chỉ nói mà ít đọc được tiếng Việt, nên các con hãy liệu cách
truyền đạt lại ý của bố mẹ và giảng giải cho các cháu biết, chẳng những biết mà phải
hiểu kỹ những điều bố mẹ viết ra đây ngày hôm nay.
Biết Ơn. Các con ạ, trên đường tỵ nạn cộng sản, tìm tự do, chúng ta đã bỏ lại tất cả,
tài sản, bàn thờ và mồ mả tổ tiên. Khi đến định cư nơi quê hương thứ hai này, chúng ta
đã được chính quyền và dân chúng đón tiếp và giúp đỡ. Hiện nay, đời sống của chúng
ta đã ổn định. Chúng ta phải biết ơn đất nước này và hãy tìm cách góp phần làm cho
đất nước này tươi đẹp hơn, giàu mạnh hơn để đền đáp phần nào cái ơn đó.
Lý Do Tỵ Nạn. Các con cần giảng rõ cho các cháu biết lý do nào đã khiến cho gia
đình chúng ta tới đây cùng với hàng vạn gia đình khác, đó là: chúng ta tỵ nạn cộng
sản, đi tìm tự do. Các cháu được sống trong một xã hội dân chủ, tự do từ lúc mới sinh
ra nên không thể tưởng tượng nổi tính dối trá và các thủ đoạn nham hiểm của cộng
sản. Các cháu khó có thể tin được tại sao con người đối với nhau mà lại tàn ác như
vậy. (Có thể cho các cháu coi phim Journey from the Fall – Vượt Sóng, do Trần Hàm
đạo diễn, khởi chiếu 30-4-2005). Cộng sản hành động rất ác nhưng nói rất khéo và che
đậy rất giỏi! Vì thế phải giải thích cho các cháu hiểu, không phải để hận thù mà là để
biết sự thật. Có một câu mà nhiều người hay nhắc: “Đừng nghe những gì cộng sản nói,
mà hãy nhìn những gì cộng sản làm.”

Quê Cha Đất Tổ. Dù công việc bận rộn đến mấy, các con hãy dành thì giờ nghiền
ngẫm những trang lịch sử và địa lý Việt Nam, để biết nguồn gốc dân tộc, sự hình thành
đất nước, những bước thăng trầm, những nỗi vinh nhục, những khôn ngoan và lầm lỗi
của ông cha ta. Và từ đó chúng ta rút ra những bài học. Có những trang sử oai hùng,
mà cũng có những trang sử đẫm nước mắt. Có khi nước ta bị đô hộ khổ nhục cả ngàn
năm, mà cũng nhiều khi dân ta anh dũng vùng lên phá xiềng xích, giành tự chủ. Lại
cũng có khi người mình đi xâm chiếm tàn phá nhiều nước khác, thí dụ gần đây nhất là
mười năm tàn phá Cao Mên, gây nên căm hờn của nước láng giềng và để lại cái
nghiệp nặng mà các thế hệ sau sẽ còn phải gánh chịu!
Lịch Sử Gần Đây. Nước ta bị Pháp đô hộ từ cuối thế kỷ 19. Khoảng 1940, đại chiến
thế giới bùng nổ. Ở nước ta, Nhật đảo chánh Pháp ngày 9-3-45. Vua Bảo Đại tuyên bố
hủy bỏ hiệp ước bảo hộ ký với Pháp, rồi giao cho ông Trần Trọng Kim thành lập chính
phủ đầu tiên của nước Việt Nam độc lập. Phe Trục gồm Đức, Ý, Nhật thua Đồng minh
gồm Anh, Pháp, Mỹ, Liên Xô, Trung Hoa. Ngày 19-8-45, Việt Minh cướp chính quyền
của chính phủ Trần Trọng Kim, tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa.
Nhưng không được bao lâu, Pháp tìm cách quay lại. Cuộc toàn quốc kháng chiến chống
Pháp bắt đầu ngày 19 tháng 12, 1946. Khi phe Việt Minh lộ rõ bản chất cộng sản, các
đảng phái quốc gia trước nguy cơ bị họ tiêu diệt dần, đã trở về vùng quốc gia là nơi đã
thiết lập một chính quyền khác với chính quyền vùng kháng chiến mà thực chất là
cộng sản. Sau trận Điện Biên Phủ, Hiệp định Genève 1954 chia đôi đất nước: miền
Bắc là Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, miền Nam là Việt Nam Cộng Hòa. Miền Bắc
công khai theo khối cộng sản, tiến hành xâm lăng miền Nam bằng võ lực và che mắt
thế giới bằng con bài Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Miền Nam được Hoa Kỳ và
đồng minh của khối tự do ủng hộ để ngăn sự bành trướng của cộng sản. Khi quân xâm
lăng mạnh lên thì Hoa Kỳ đổ quân vào miền Nam, bắt đầu vào 1960, và chiến tranh
trở nên khốc liệt.
Năm 1972, sau khi Liên Xô và Trung Quốc trở thành đối nghịch thì tổng thống Nixon
đến Trung Quốc ký Thỏa hiệp Thượng Hải. Hoa Kỳ không cần đến “tiền đồn chống
cộng” nữa nên bỏ rơi Việt Nam Cộng Hòa! (Soạn phẩm Khi đồng minh tháo chạy của
tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng cho biết những sự thật phũ phàng về sự bội ước và tháo
chạy của Mỹ.) Theo Hiệp định Paris 1973: Hoa Kỳ rút quân khỏi miền nam Việt Nam,
chỉ để lại một số cố vấn mà thôi, còn quân Bắc Việt vẫn ở lại! Cộng sản Bắc Việt tiếp
tục xâm lăng miền Nam với nhiều viện trợ của cộng sản quốc tế. Việt Nam Cộng Hòa
dù tự vệ can trường đến mấy, mà không đủ vũ khí, xăng dầu… thì chắc chắn là kém
thế. Ngày 30 tháng Tư 1975, thủ đô Sài Gòn thất thủ. Cuộc di cư tỵ nạn cộng sản, tìm
tự do bắt đầu. Từ đây trở đi, chính các con biết khá nhiều chi tiết.
Suy Xét Thông Tin và Sử Liệu. Thời buổi này, thông tin rất nhiều, quá nhiều. Người
ta viết về Việt Nam, về chiến tranh Việt Nam nhiều lắm, có cả phim ảnh nữa, nhưng
trung thực thì chẳng được bao nhiêu. Có người viết trung thực nhưng chỉ nhìn được một
khía cạnh của vấn đề, hệt như “những anh mù sờ voi”. Có người cố ý bẻ cong sự thật,
nhằm đạt mục đích riêng của mình. Có người – kể cả nhà tu – còn bịa đặt thêm chuyện
để vu khống người khác! Tệ nhất là khi kẻ cầm quyền hay tay sai của họ viết sử. Nhà
văn Alex Haley đã viết ở dòng cuối tác phẩm Roots (Nguồn cội): “Rốt cuộc, chính kẻ
chiến thắng là kẻ viết sử.” Cho nên, bố mẹ ân cần dặn các con và nhất là các cháu
rằng khi đọc tài liệu, sách vở và coi phim về Việt Nam thế kỷ 20, đầu thế kỷ 21, dù là
của tác giả nào, kể cả Âu-Mỹ, cũng phải hết sức thận trọng và suy xét thông minh.
Theo bố mẹ thì cuộc chiến 1954–1975 ở nước ta là chiến tranh Nam Bắc, là nội chiến,
là chiến tranh ủy nhiệm, là đối đầu giữa hai khối cộng sản và tự do; khí giới nước
ngoài, máu dân Việt mình. Đối với người miền Nam, đó là chiến tranh tự vệ. Còn cộng
sản Bắc Việt thì tuyên truyền và giáo dục quần chúng rằng đó là chiến tranh chống
Mỹ-Ngụy và thống nhất đất nước. Kẻ thắng kiêu ngạo và tàn ác, người thua uất hận
trong tủi nhục. Mấu chốt của sự chia rẽ trầm trọng trong dân tộc ta nằm ở điểm ấy (kể
ra thì dân tộc ta còn nhiều sự chia rẽ khác nữa). Chưa thay đổi được hai cách nghĩ đó
thì chưa nói tới hòa hợp dân tộc được! Hàng triệu người đã chết, tuy đất nước được
thống nhất mà lòng người đến nay vẫn còn chia rẽ.
Về Thăm Việt Nam. Có vài vị hỏi bố mẹ đã về thăm Việt Nam chưa. Câu trả lời là
chưa; vì lý do sức khỏe. Đã có rất nhiều người về Việt Nam, mỗi người một lý do, mỗi
người một mục đích, mỗi người một cách nhìn! Về để chăm sóc cha già mẹ yếu, thăm
nuôi người thân, về để sửa sang phần mộ tổ tiên, về để giảng dạy cho sinh viên, để
nhìn lại quê hương, những điều ấy là chính đáng. Về để cứu trợ nạn nhân của các
thiên tai hay giúp đỡ đồng bào nghèo túng mà không vì danh vì lợi, cũng là việc tốt.
Về để ăn chơi, để du lịch rẻ tiền, để cầu danh lợi, để xin vài tấm bằng khen, thì không
nên.
Sau này, khi trong nước thay đổi thật sự, các con có thể đưa các cháu về thăm quê
hương. Bố mẹ biết trước rằng các cháu sẽ không xúc động lắm đâu vì con người ta
phải có kỷ niệm, phải có gắn bó thì mới xúc động được. Các con hãy cố hướng dẫn cho
các cháu yêu đất nước, dân tộc và đồng bào Việt Nam, đừng để cho các cháu chỉ là
những khách du lịch bình thường. Còn việc các con hay các cháu sẽ về làm ăn sinh
sống tại Việt Nam thì bố mẹ nghĩ rằng điều đó rất khó xẩy ra.
Hiện Tình Đất Nước. Nếu có ai nói rằng Việt Nam nay đã tiến bộ (đa số người dân
nay đã được ăn cơm thay vì cơm trộn bo bo, có nhiều xe gắn máy và xe hơi thay cho
xe đạp... ; chẳng lẽ sau 30 năm im tiếng súng mà không có tiến bộ!) thì đó là một vài
tiến bộ so với chính Việt Nam chứ nếu đem so sánh Việt Nam với các nước láng giềng
thì đáng xấu hổ về nhiều mặt (như Cao Mên mà cũng còn có đảng đối lập). Muốn biết
những sự thật ở Việt Nam đằng sau những “bin đinh” cao ngất, những “ô tô con” bóng
loáng, những khách sạn năm sao, những sân “gôn” tân kỳ, thì phải theo rõi tin tức trong
nước để thấy sự băng hoại trầm trọng về nhiều phương diện (nhất là về giáo dục), sự
hiện diện của tư bản đỏ, của quốc nạn tham nhũng, sự phung phí tài nguyên quốc gia,
và phải đích thân đến thăm đồng bào nơi các vùng xa xôi nghèo khó. Chúng ta cần
biết sự thật, không tô hồng mà cũng chẳng bôi đen!

Để tạm hiểu hiện trạng nước ta, các con tìm đọc bài nói của tiến sĩ Lê Đăng Doanh,
nguyên viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý Trung ương Hà Nội. Ông ta thuyết trình
các sự thật cho các cán bộ cao cấp nhất của cộng sản Việt Nam nghe. Bài nói này gần
đây mới được tiết lộ ra ngoài. Bài giới thiệu viết: “Mọi người phải chú ý tới những con
số cho thấy sự thật phũ phàng về nền kinh tế Việt Nam. Ông Doanh cho thấy cả tình
trạng yếu kém của nền kinh tế lẫn tính chất phi dân chủ của chế độ cộng sản ở Việt
Nam. Từ đó ông dám nói thẳng cả cơ cấu chính trị cũng hỏng, phải thay đổi” (Ngô
Nhân Dụng, nhật báo Người Việt, ngày 30-3-2005).
Ông Doanh kể lại rằng một chuyên viên tài chánh quốc tế đã đặt câu hỏi với ông như
sau: “Chúng mày giỏi thế mà chúng mày nghèo lâu đến thế, là thế nào? Trí tuệ như thế
này, truyền thống như thế này, sao mày ăn xin hoài thế? Chúng mày cứ đề ra cái mục
tiêu là đến bao giờ chúng mày đừng đi ăn xin nữa, có được không?” Thật là một mối
nhục chung cho cả nước! Nước ta đâu có hèn kém, dân ta đâu có lười biếng. Do đâu
mà khổ nhục đến thế? Do độc tài đảng trị!
Thái Độ Chính Trị. Không những đồng bào hải ngoại đòi bãi bỏ độc đảng, thiết lập
đa nguyên đa đảng, mà ngay cả những đảng viên cộng sản cùng các phần tử tiến bộ ở
trong nước cũng đòi như vậy. Cần hiểu rằng: chống độc tài, độc đảng, chống tham
nhũng, chống đường lối sai lầm của cộng sản, không phải là chống nước Việt Nam mà
là mong cho nước Việt Nam khá hơn, tiến hơn.
Nếu có ai nghĩ rằng cộng sản Việt Nam ngày nay đã “đổi mới” một chút thì nên biết
rằng do sự sụp đổ của cộng sản Đông Âu, do sự đấu tranh ở trong và ngoài nước, do áp
lực quốc tế và do nguy cơ tan rã của đảng nên cộng sản Việt Nam bắt buộc phải đổi
mới về kinh tế (mà không chịu đổi mới về chính trị)! Tuy mình không làm chính trị
nhưng mình phải có thái độ chính trị, mình phải tiếp tục ủng hộ các cuộc đấu tranh sao
cho đất nước có dân chủ tự do thật sự.
Tổng bí thư của cộng sản Việt Nam đã nhận rằng cộng sản Việt Nam có “phạm nhiều
sai lầm”. Chúng ta hỏi: sai lầm sao không sửa, sao không công khai xin lỗi quốc dân,
sao không trả lại ruộng đất nhà cửa cho các tư nhân và các giáo hội, sao không bồi
thường cho các nạn nhân của vụ cải cách ruộng đất, của vụ Nhân Văn Giai Phẩm, của
các đợt cải tạo công thương nghiệp, sao không bồi thường và xin lỗi những người bị bắt
đi tù “học tập cải tạo”? Sự thực thì ai ai cũng muốn xóa bỏ hận thù, nhưng cộng sản
Việt Nam cần phải hành động cụ thể cho nhân dân trông thấy. Nói “xóa bỏ hận thù,
khép lại quá khứ, nhìn về tương lai” xuông thôi thì ích gì? Nói “đại đoàn kết” mà lại
do đảng lãnh đạo (điều 4 hiến pháp cộng sản) thì ai mà tin được!
Chuyện Trong Gia Đình. Bây giờ, nói chuyện trong nhà. Bố mẹ thuộc thế hệ trước,
nuôi nấng các con theo quan niệm thời bố mẹ, cũng như ông bà nuôi nấng bố mẹ thời
ông bà. Một vài lúc nào đó, có thể các con nghĩ rằng bố mẹ đã quá khắt khe với các
con. Thời buổi ấy là như vậy. Mong các con quên đi những gì mà bố mẹ đã vô tình làm
các con buồn lòng. Hãy nhớ rằng bố mẹ không đua đòi ăn chơi, không chi tiêu hoang
phí, lúc nào cũng giữ một đời sống mực thước, và bố mẹ đã cố gắng làm việc và dành
dụm để các con được sống đầy đủ, được học hành cẩn thận, dưới mái ấm của gia đình.
Vì tài sản của bố mẹ đã bị cs cướp hết rồi nên khi sang tới đất mới này, đời sống của
chúng ta khá khó khăn. Bố mẹ đã nhận làm những công việc thật mệt nhọc. Các con
đã chịu khó đi làm vất vả trong các dịp hè, và đã cố gắng học hành chăm chỉ, đến nay
thì “đâu vào đấy”cả. Các con không bao giờ được tự mãn, nghĩ rằng mình tài, mình
giỏi. Cái tài, cái giỏi nếu có thì chỉ là một phần thôi, còn các phần khác là nhờ các
thuận duyên, nhờ âm đức của tổ tiên và của chính mình, từ các kiếp trước và kiếp này.
Các con phải luôn luôn sống đạo đức để bồi đắp cho cái nghiệp lành của mình, hệt như
người dùng xe hơi phải lo “xạc điện” cho cái bình ắc-quy vậy. Gieo nhân lành thì sẽ
hái quả lành. Luật nhân quả là một luật của trời đất, không sai được!.
Trong gia đình riêng của các con, bố mẹ khuyên: vợ chồng phải cư xử với nhau trong
sự tương kính, phải nhường nhịn lẫn nhau. Không thể tránh được vài đụng chạm đâu,
hãy khéo léo và bình tĩnh mà giải quyết mọi việc. Nóng giận là hỏng.
Còn đối với con cái, hãy thương yêu nhưng không được nuông chiều. Cần phải kiểm
soát bạn bè của các cháu và phải liên lạc với cha mẹ của bạn bè các cháu để tìm hiểu
cho chắc chắn; hư hỏng vì bè bạn trong xã hội này là một sự kiện rất phổ biến! Tivi,
“ghêm”, “chat” .. , phải hạn chế, còn thể dục thể thao thì nên khuyến khích. Bản thân
các con phải lo xếp thì giờ tập thể dục, sống một cuộc sống thăng bằng. Hãy rút kinh
nghiệm của bố: lúc trẻ, bố miệt mài làm việc nhiều quá cho nên nay về già, bị cơ thể
“hỏi tội”, đau lên đau xuống hoài!
Trong đời sống hàng ngày, phải luôn luôn tiết kiệm và bảo vệ môi trường sinh hoạt vì
tài nguyên thế giới chỉ có hạn, chúng ta cần nghĩ đến các thế hệ mai sau. Dùng thứ gì
cũng không được phí phạn, kể từ tờ giấy lau tay! Thỉnh thoảng, hãy cho các cháu coi
hình chụp hay phim ảnh những trẻ em đói rét và cho các cháu biết rằng trên trái đất
này còn rất nhiều người khổ cực.
Khi anh chị em cư xử với nhau, phải nhớ kỹ mấy câu “anh em như thể tay chân”, “chị
ngã em nâng”, “một giọt máu đào hơn ao nước lã”, “một con ngựa đau, cả tàu không
ăn cỏ”. Bí quyết là áp dụng chữ xả. Hãy bỏ qua hết mọi khuyết điểm của anh chị em
mình. Các con mà chia rẽ thì bố mẹ sẽ đau khổ vô cùng.
Trong xã hội này, vì bận rộn quá, người ta chỉ đủ thì giờ lo cho gia đình riêng nên có
khi lơ là với đại gia đình, dù thâm tâm không muốn như vậy. Các con hãy đề cao tình
đoàn kết trong đại gia đình. Với các con gái và con dâu, bố mẹ nhắc: các con hãy giúp
chồng giữ liên lạc tốt đẹp với anh chị em và họ hàng nội ngoại.
Tiếng Việt Tại Nước Ngoài. Có vài điều đáng bàn. Các cháu là công dân nước này,
với mọi bổn phận và quyền lợi của một công dân. Cuộc sống thực tế trong trường học
cũng như ngoài xã hội bắt buộc các cháu phải nói Anh hay Pháp ngữ, và phải nói và
viết thật giỏi, nếu không thì sẽ khó hòa đồng, bị lạc lõng và bị thua kém! Đi học, các
cháu nói tiếng Anh hay tiếng Pháp (hoặc cả hai). Về nhà, các cháu thường nói với
nhau bằng hai thứ tiếng ấy. Tuy các con thường bắt các cháu nói tiếng Việt trong gia
đình, bố mẹ vẫn cảm thấy tiếng Việt của các cháu hãy còn kém. Nói tiếng Việt đã
yếu, viết câu tiếng Việt còn tệ hơn, vì các cháu có tập đọc và viết chữ Việt thường
xuyên đâu! Một vài giờ tiếng Việt vào cuối tuần ở trung tâm Việt ngữ với các cô giáo
rất tận tâm cũng chưa đủ làm cho các cháu khá lên. Chỉ riêng việc học cách xưng hô
theo tiếng Việt đã là khó nhất thế giới rồi!
Đồng bào ta ở hải ngoại luôn luôn nhắc đến việc bảo tồn tiếng Việt. Bố mẹ cũng nghĩ
như vậy. Nhưng xét cho cùng, một đứa trẻ không thể kể là hai đứa trẻ (Việt & Canada
hay Việt & Mỹ) nhập làm một được! Nếu ép quá thì sức của chúng chịu không nổi.
Còn thể thao, còn âm nhạc nữa chứ. Vậy ta phải khéo chọn đúng liều lượng, đừng biến
đứa trẻ thành “cái máy học”! Các cháu sẽ phải vươn lên ở đất nước này. Các con cần
chuẩn bị sao cho chúng sống thích hợp với môi trường và sống thoải mái tại đây.
Xã Hội Âu-Mỹ. Xã hội này là một xã hội tiêu thụ quá mức. Các con không nên để
mình bị lôi cuốn dễ dàng vào các trò tiếp thị khéo léo nhằm xúi giục chúng ta mua
hàng thả dàn. Chúng ta dễ bị ảnh hưởng của quảng cáo, ngay cả trong khi chúng ta
đang bị các nhà băng và các hãng bảo hiểm bao vây, chi phối. Các con cần “thiểu dục,
tri túc” tức là “ít ham, biết đủ”, chỉ mua thứ cần thiết, không có không được mà thôi!
Nhà, xe cũng vậy; an toàn và đủ dùng cho sinh hoạt hàng ngày là được rồi. Tránh nợ
nhiều. Thảnh thơi thì hơn! Bố mẹ không nói lý thuyết xuông đâu, xã hội bây giờ xuống
dốc về đạo đức, về tâm linh, chỉ vì hướng ngoại nhiều quá, lo về vật chất nhiều quá,
ích kỷ quá, chẳng tìm thấy hạnh phúc ở đâu cả! Bớt ích kỷ, hãy nghĩ đến đồng loại,
phải biết chia sẻ với đồng loại.
Riêng Phần Bố Mẹ. Già thì sẽ bệnh, bệnh rồi sẽ ... ra đi! Quy luật tự nhiên là vậy.
Đến ngày ấy, các con hãy lo thu xếp tổ chức tang lễ cho bố mẹ được trang nghiêm
nhưng đơn giản. Nếu chôn cất bố mẹ ở một nghĩa trang thì, sau này, khi phải đi làm ăn
nơi khác, các con sẽ thắc mắc vì ở xa không trông nom được phần mộ! Bố mẹ chọn
cách hỏa táng, thuận tiện hơn; mà khỏi phải chiếm đất, vì đất rất cần thiết cho các thế
hệ sau. Có thể đem trải tro của bố mẹ lên núi hay xuống sông, xuống biển. Cát bụi trở
về cát bụi, có gì đâu! Thay vì đãi đằng ăn uống, các con nên dành tiền bạc góp vào
các việc có ích lợi chung. Đừng e thiên hạ chê cười, mọi người sẽ hiểu và sẽ tán thành.
Có một chi tiết như thế này: nếu chẳng may, bố hay mẹ ngã bệnh mà phải chịu một
“đời sống thực vật”, các con hãy can đảm chọn giải pháp rút các ống trợ sinh; kéo dài
làm chi, chỉ gây khổ cho mọi người!
Bàn Thờ Gia Đình. Trong hoàn cảnh ngày nay, khó lập bàn thờ ngay trong nhà. Nhớ
đến tổ tiên, ông bà nội ngoại, cha mẹ, các con có thể bày ảnh nơi trang trọng nhất ở
trong nhà để tỏ lòng tôn kính và để tự hứa không bao giờ làm tổn hại gia phong. Đến
ngày giỗ, xếp một bàn nhỏ, bày một chén nước trong, vài bông hoa thơm, mấy trái cây
tươi và một nén nhang (nhang điện cũng được) là đủ, vì lòng thành của các con và các
cháu mới là quý. Bố mẹ nói “các cháu” là có ý nhắc các con cần cho các cháu biết ý
nghĩa ngày giỗ của dân tộc Việt Nam. Vào những ngày giỗ, các con hãy nghĩ thiện,
làm lành nhiều hơn các ngày khác, hãy chia sẻ chút đỉnh cho người nghèo, hãy gom
quần áo dư để dành cho các hội từ thiện. Nếu anh chị em nhân ngày giỗ mà về họp
mặt ở một nơi thì thật là tốt vì tình thân gia đình sẽ nhờ đó mà tăng lên.
Mong các con đọc kỹ thư này, suy nghĩ đến nơi và cố gắng thực hành những lời dặn
Hôn các của bố mẹ.
Bố mẹ cám ơn tất cả các con đã luôn luôn tận tâm săn sóc bố mẹ từ bao nhiêu năm
nay và đã lo toan đầy đủ để cho bố mẹ được thoải mái, vui hưởng tuổi già.
Hôn các con thật lâu!
Hôn các cháu thật lâu!
Bố Me ï?

!  
8

NGUYỄN THIÊN THỤ * HIẾU ĐỆ

 
 Hiếu Đệ (1932- 2009)


Ông tên thật là Nguyễn Tánh Đệ, sinh năm 1932, tại Phan Thiết. Từ 15 tuổi ông sống ở Sài Gòn, học trường Huỳnh Khương Ninh, Lasan Tabert và Cao Đẳng Mỹ Thuật Gia Định. Khi còn là sinh viên, ông cộng tác với tờ Đời Mới của Trần Văn Ân, và Tiếng Chuông của Đinh Văn Khai. Tốt nghiệp Mỹ Thuật năm 1957, giáo sư hội họa các trường Phan Thanh Giản (Cần Thơ), Đồng Khánh (Huế). Năm 1968, nhập ngũ khóa 14 Thủ Đức. Sau 1975, bị tù năm năm. Từ 1990 định cư tại Michigan, Hoa Kỳ. Ông tiếp tục cộng tác với nhiều báo chí hải ngoại.
TÁC PHẨM. Các tập truyện:
-Bên Đục Bên Trong, Hương Cau, Paris, 2004
-Niềm Đau Bạc Tóc. Hương Cau, Paris, 2004
-Nước Mắt Tình Yêu. Hương Cau, Paris, 2006
-Lưu Xứ U Minh, Hương Cau, Paris, 2006
(Ba tập truyện đầu viết chung với Võ Phước Hiếu ).
Truyện của họa sĩ Hiếu Đệ là truyện về những sĩ quan Cộng Hòa, đặc biệt là các họa sĩ trong trại tù Cộng sản, như Văn Đen, Nguyễn Thanh Thu, Nguyễn Vạn Lộc. Thế giới của Hiếu Đệ là các họa sĩ, và chủ đề của ông là cảnh tù đày trong nhà tù cộng sản.
>1. Bên Đục Bên Trong.
Tập truyện này gồm 8 truyện ngắn, Hiếu Đệ viết bốn truyện :
- Họa sĩ Trần Quang Hiếu
- Hai mối tình của người tù biệt giam.
- Món quà tết cho thủ trưởng mang về Bắc.
- Pho tượng thương tiếc.
Trong tập truyện này, Hiếu Đệ viết về tình đồng đội, và chí khí bất khuất của người chiến sĩ cộng hòa. Một tù nhân hái chuối rừng về ăn, bị công an đánh đập tàn nhẫn. Nạn nhân biện hộ rằng mình vô tội, mình chỉ hái cây rừng, không ăn cắp của trại. Chúng vừa hành hạ, vừa nói:
Chuối rừng cũng là của trại, của nhà nước, của nhân dân. Ăn cắp của nhà nước, của nhân mà bảo là không có tội à? (39).
Thu Dù đứng lên quát mắng bọn công an, kêu chúng ngừng tay nên anh bị chúng xúm lại đánh đòn hội chợ, và kết tội anh chống đối chúng, bắt biệt giam trong ‘’conex’’, là loại thùng sắt lớn của Mỹ, vuông vắn, dài khoảng hai mét, dùng đựng quân cụ.
Thu Dù vẫn cao đầu, thẳng lưng, mắt trừng trừng nhìn chúng, không hề sợ hãi (39).
Người tù, đặc biệt là tù biệt giam, ngoài ý chí phải có các yếu tố khác phù trợ để tồn tại. Thu Dù đã dùng phương pháp tập thiền để quên đau đớn.
Những đau đớn về thể xác như dần dần bớt đi. . .Lòng anh yên tĩnh, không bồn chồn lo lắng, không bận bịu nội tâm. Khắc phục được ngoại cảnh, tâm hồn anh an nhiên tự tại, thơ thới hơn bao giờ (41)
Ngoài ra, anh còn gặp một cơ duyên. Trong các truyện tù, có những tù nhân làm bạn với chuột, còn đây, Thu Dù làm bạn với một cọng rau lang từ ngoài bò vào conex:
Đấy quả là một cọng rau lang, không biết gốc nó từ đâu mà bò vào lỗ hổng dưới gầm connex. Anh mừng vô cùng. Anh vừa có một sinh vật đến làm bạn (42).
Trong tù, trong conex, Thu Dù có một thế giới riêng, là thế giới của tâm thức, không gian của tình yêu, và vũ trụ thiền:
Trong conex, ngọn rau lang kia cũng là mặt trời, cũng là trăng sao của anh. Nó đem không gian bên ngoài vào lòng cô đơn của anh bên trong (43).
Đoạn viết về cọng rau lang rất hay, mang ý vị thiền, nhưng đoạn sau viết về mối tình thầm lặng giữa Thu Dù và cô Xuân thì kém hơn. Trong trại tù, dù là ban đêm, cũng có những cặp mắt quan sát, lẽ nào tù nhân và ‘’chị nuôi’’lại nói chuyện cà kê, trong buổi sáng, không phải giờ phát cơm, đối thoại dài khoảng mười trang giấy (48-59) , nào là ‘’nhân chi sơ, tính bản thiện’’, ‘’tình thương ‘’, ‘’hận thù’’.
Hiếu Đệ cho ta biết sinh hoạt các họa sĩ và tình cảnh của họ bị đày ải sau ngày 30-4-75. Trong khi nhậu, Nghiêu Đề kể chuyện Gia Long phục quốc, các họa sĩ Bắc Kỳ bảo anh phản động (31), họa sĩ Tú Duyên trước 1975 vẽ tranh Kiều, trong đó có hình Tử Hải chết đứng, một người mua tranh và mang đi ngoại quốc, bị chận lại. Đã thế, bọn công an bắt ông về tội ông trù ẻo đảng chết tươi như Từ Hải. Tú Duyên thanh minh rằng ông vẽ tranh Kiều hơn ba bốn chục năm trước nên mới được thả ( Họa sĩ Trần Quang Hiếu , 32). Qua chuyện này, chúng ta biết cái bệnh chụp mũ, cái bệnh vu khống và phóng đại đã ăn sâu trong tâm khảm người cộng sản, cho dù họ là văn nghệ sĩ. Ta còn thấy bọn công an rât thông minh, biết tranh quý muốn chiếm đoạt nên bày chuyện để khủng bố và cướp tài sản người ta!
Đi tù về, Hiếu Đệ phải đạp xích lô kiếm sống. Ông cho ta thấy một màn bi hài kịch của một mảnh đời của ông sau 1975:
Tôi đạp chiếc xich lô cũ rích leo dốc Càu Bông hết muốn nổi.giữa lúc cơn mưa lớn. . . Khách xuống xe, tôi quay lại đạp hối hả vì mưa mỗi lúc một lớn và sấm sét ào ào.. . Tôi nép vào mái hiên một căn nhà nhỏ. . Nghe tiếng sột soạt bên ngoài, một chàng trai bước ra trước hiên nhìn tôi rồi nói:
-Này ông xích lô ơi! Có đụt mưa thì cứ vô trong này. Ngoài đó lạnh lắm, không khéo đứng lâu bị cảm bây giờ. Ông này ốm yếu như vầy mà còn đạp xích lô kiếm ăn. . . Thật cơ khổ quá!
Nghe tiếng nói xem thiệt lòng, tôi bước vô thềm nhà. Bỗng trong bàn rượu có đứa nhìn tôi chằm chặp rồi la lên:
-TrờI ơi! Thầy HIếu Đệ nè tụi bây ơi. Này tụi bây không nhìn ra ông thầy sao?
Cả đám vụt đứng lên lôi tôi đến bàn nhậu:
- Ngồi xuống đây, ông thầy! Thầy đi học tập cải tạo về hồi nào vậy? Sao tụi em không hay? Sao thầy phải đạp xe xe như vầy? (Chiếc xích lô của thầy, 118-119).
Bức tranh thật cảm động. Thanh niên miền Nam còn mang nặng tình xưa nghĩa cũ, còn nhiều nhân tính, không đến nỗi tàn ác như một số thanh niên ngoài Bắc, như người học trò đã giết Lan Khai!
2. Niềm Đau Bạc Tóc:
Tập truyện này có 7 truyện, Hiếu Đệ viết 5 truyện.
Trong các truyện, Sau đêm văn nghệ , là có ý nghĩa nhất. Cộng sản bắt tù nhân phải làm văn nghệ. Ở đây tác giả muốn nhấn mạnh thái độ của một số cộng sản trong văn nghệ, và hành xử độc đoán, tàn bạo của cộng sản trong nhà tù nhỏ, một hình thái thu gọn của nhà tù lớn là đất nước Việt Nam.
Cũng như ngoài đời, các tác phẩm văn nghệ đã được trình duyệt trước khi tập và diễn. Tất cả được ban quản đốc nhà tù chấp nhận. Ấy thế mà đêm đó, bọn quản đốc trại giam tập trung anh em tù nhân lại, lên mặt chê bai, bắt khoan, bắt nhặt, tỏ ra chúng thông minh, sáng suốt. Chúng ăn nói hàm hồ theo lối ‘’lý luận của kẻ mạnh’’ ( La raison du plus fort). Trong một vở kịch, bối cảnh là một bàn thờ có ảnh người mẹ, chúng bảo là ảnh của Nguyễn Văn Thiệu:
Sao lại vẽ mặt thằng Thiệu? Đã đi học tập cải tạo mà chưa bỏ lòng tôn thờ thằng Thiệu? (31)
Buồn cười nhất là nhạc đệm là bản ‘Giải phóng Miền Nam’ . Trong màn kịch có đoạn lính Mỹ đi càn, trong xóm có tiếng chó sủa. Chúng bảo:
Sao lại để chó sủa quân đoàn anh dũng của ta? Sao cho chó sủa bài hát chiến thắng của ta? (32)
Kịch có nhiều đoạn làm khán giả cười dù không phải là hài kịch.
Trong màn kịch, có đoạn lính Mỹ đánh ông già, cô dâu đang bế con, lính Mỹ hất cô ngã lăn, đứa trẻ văng ra thành một đống giẻ rách. Khán giả cười vang.
Lẽ ra bữa ấy, tất cả khán giả phải đứng dậy (như thời cải cách ruộng đất ngoài Bắc) , giơ nắm tay lên cao, đồng hô: -Đả đảo! Đả đảo Mỹ thực dân! Đả đảo Mỹ xâm lăng. . . chứ sao lại cười? Cười là phản động! Là phản cách mạng (33) .
Về màn kịch khác, mẹ tù nhân đi thăm con. Mẹ khuyên con, con khuyên mẹ nên học tập tốt, lao động tốt. Các tù nhân bị kết tội:
Về hoạt cảnh thì tồi tệ vô cùng. Lúc mẹ già đi thăm con, hai mẹ con từ giã nhau và hát bài học tập tốt, lao động tốt. . . Đoạn ấy không nghiêm trang. Mẹ nhắn nhủ con rất phải cách. Thế sao cả khán giả lại ôm bụng cười lăn ra. Té ra đãy là hài kịch ư? B an văn nghệ không đủ trình độ xây dựng. Cả khán giả trại viên cũng chưa có trình độ xem kịch (33).
Qua truyện này cũng như một số truyện khác của Hiếu Đệ, và báo chí cộng sản
( như vụ đánh Nhân Văn Giai Phẩm), chúng ta thấy cái lý luận Mác-xít Lenin- nít, cái cơ sở ‘biện chứng pháp’ của người cộng sản từ bọn trung ương cho đến văn nghệ sĩ và bọn công an, toàn là lối nói hồ đồ, vô căn cứ, nhằm vu khống và buộc tội cho người.
Cộng sản chú trọng tuyên truyền, nhất là mặt văn nghệ. Dân Nam ra Bắc tập kết bị bạc đãi đúng như Xuân Vũ đã trình bày, Tám Sạc Ne là người Nam ra Bắc tập kết, hiểu lòng dạ bọn Bắc Kỳ, bất mãn với bọn Bắc Kỳ, và có chút cảm tình với dân miền Nam. Ông còn là người từng trải xã hội chủ nghĩa về chính trị cũng như văn hóa, nghệ thuật. Trước đêm văn nghệ, Tám Sac Ne đã nói:
Tao thấy tụi bây hồ hởi lắm về đêm văn nghệ đó hả? Khó lắm đo nghen! Chuyện văn nghệ không phải chuyện giỡn đâu. Sớn sác rồi bị nhốt connex cả đám cho coi. Tao nói trước cho biết. Tụi bây có nghe chuyện Trăm hoa đua nở, nhà nhà lên tiếng ở ngoài Bắc hồi 1957 rồi chứ? Liệu hồn đó nghen!( 27)
Trong ngày tập văn nghệ, bọn tù nhân xin Tám Sạc Ne cho ý kiến., ông nói:
-Tao không có ý kiến gì hết.. . Bày chi cái chuyện văn nghệ văn gừng toi mạng có bữa đó nghen. Tao nói thật đó.
- Nhưng kịch bản chúng tôi ca ngợi cách mạng mà cũng không được sao?
Tám Sạt Ne cười ruồi: Tụi bây giỏi cứ ca ngợi tụi nó đi rồi sẽ biết hì hì. . . (29).
Sau đêm văn nghệ, Tám Sạc Ne lại đến. Như một triết gia, ông phân tích cho bọn tù nghe:
Vì các anh không biết vị trí của mình. Làm việc gì cũng phải nhớ vị trí các anh đứng chỗ nào cái đã. Ví như anh Hiếu Đệ vẽ hình giỏi mà anh vẽ hình bác Hồ có đẹp cách mấy thì anh vẫn có tội. Ý gì mà anh học viên học tập cải tạo lại đi ca tụng lãnh tụ của tụi tui là người cách mạng chiến thắng? Anh đâu phải là đảng viên cũng như anh đâu phải là thứ con ruột mà ca ngợi bố tui. Anh chỉ cốt làm cho tôi nghi ngờ anh (34).
Tám Sạc Ne đã nói đúng tâm lý cộng sản, tâm lý của một số ông hương, lý, quê mùa, vô học nhưng vô cùng tự cao, tự đại và cùng hung cực ác. Cộng sản bao giờ cũng chủ trọng cái ‘‘ngã’’ của họ. Họ không có công bằng, tự do, dân chủ, dân tộc và nhân loại. Khi yếu, họ có thể cộng tác, nhưng khi nắm quyền, họ trừ khử mọi đối thủ kể cả đàn em của họ. Trong từ điển cộng sản, không có chia chác, hòa hợp. Marx chú trọng về vô sản, không bao giờ để các giai cấp khác sống. Stalin không tha thứ cho Trotsky và đệ tứ quốc tế. Mao thẳng tay khử Lưu Thiếu Kỳ, Lâm Bưu. Hồ Chí Minh quyết sát hại Quốc Dân Đảng, Đại Việt Đảng. Ông không để Phan Bội Châu sống mà cũng không nương tay với các đồng chí ông, nhất là những kẻ có thể tranh quyền ông như Hồ Tùng Mậu, Nguyễn Sơn, Hải Triều, Trần Văn Giàu, Trường Chinh và Võ Nguyên Giáp. Những người này trước sau sẽ bị đích thân ông hạ thủ, hay ra lệnh cho đàn em giết, hoặc nhờ tay Pháp tiêu diệt. Nhẹ lắm là đám này sẽ bị ô nhục, lột chức, bị đẩy dần dần ra khỏi bộ máy đảng. Họ giữ độc quyền chống Pháp và độc quyền cai trị nước. Họ cho họ là giỏi nhất, vì họ là cộng sản chính thống, từng lao động, từng chiến đấu và chiến thắng. Họ coi họ giữ độc quyền về Marx, những trí thức ở Pháp hay Liên Xô về như Trần Đức Thảo, Trần Văn Giàu chỉ là cục phân, lý thuyết suông, chỉ riêng ông Hồ là xứng đáng làm lãnh tụ cộng sản, và giảng dạy về Marx. Ngay trong đảng, đám miền Trung làm chủ, đám miền Nam tập kết bị coi như một thứ ghẻ lở. Không có anh em, đồng chí, không có đại đồng thế giới mà là tinh thần cục bộ, tinh thần địa phương. Cho nên khi Trường Chinh làm Tổng bí thư, miền Bắc ăn mừng lớn vì từ Lê Lợi cho đến Nguyễn Ánh, hơn mấy thế kỷ, đây là lần đầu tiên dân Bắc lên làm ‘’vua’’! Trong đảng, vai vế, mâm cỗ đã xếp sẵn. Bọn nô lệ tránh xa, đừng đứng ngoài nhìn vào. Như thế là vô lễ! Ngày xưa, vua chúa còn trọng đãi hiền sĩ nghèo nàn, tư bản còn coi trọng công nhân, và trí thức, trong thế giới cộng sản chỉ có cộng sản mới có quyền lợi và địa vị. Ngoài ra, anh phải biết anh thuộc phe nào, mạnh hay yếu, và anh có dù che hay không. Anh không phải là cộng sản, đừng viết về Marx và Lenin dù anh là tiến sĩ triết học. Dù anh là cộng sản, anh cũng phải được cấp trên phép mới được vinh hạnh này. Cũng vậy, dù anh là họa sĩ, nếu không có lệnh, anh đừng vẽ ông Hồ hay cờ búa liềm. Anh là đảng viên, được lệnh trên ra cũng chết, huống hồ anh là ngụy quân, ngụy quyền! Không dễ đâu. Nếu anh vẽ màu đậm hơn hay nhạt hơn, thân ông già mập hơn hay ốm hơn, râu dài hơn hay ngắn hơn, anh đều bị đưa ra phê bình và kết tội là phản động. Trong một đại hội đảng cộng sản Việt Nam, một anh họa sĩ cộng sản đã khốn đốn về tội vẽ búa liềm ‘’sai quy cách’’ chỉ vì anh muốn khác đời hoặc anh theo phái lập thể của Picasso, hoặc phái ấn tượng!

Truyện của Hiếu Đệ rất sâu sắc. Ông là một triết gia. Khổng tử đưa ra thuyết chính danh : ‘’quân quân, thần thần, phụ phụ, tử tử’, nghĩa là vua phải xứng đáng danh hiệu vua, tôi phải xứng với danh hiệu tôi; cha phải làm đúng danh xưng cha, con phải xứng đáng bổn phận con. Khổng tử gọi Kiệt, Trụ là giặc, không gọi là vua. Hiếu Đệ đưa ra thuyết vị trí. Trong cuộc sống, mỗi người phải biết rõ vị trí mình và vị trí người khác trong mỗi hoàn cảnh. Chúng ta là chủ hay khách, ta ngồi ghế chủ tọa hay kẻ đứng hầu, ta là con đẻ hay con nuôi, hay mang thân phận nô lệ. Nếu biết vị trí mình, thì ta sẽ có tư tưởng đúng và hành động đúng.

Truyện của Hiếu Đệ phản chiếu lịch sử Việt Nam thời trước và sau 1975. Trong truyện Con hổ đình Xóm Củi, ông trình bày một sự thực phũ phàng, và cũng là một chân lý. Ông Thanh Thu nổi tiếng về pho tượng Tiếc thương, thế mà khi ông đắp hình ông hổ đình xóm Củi thì bị dân chúng chê. Như vậy, nghệ thuật cũng như chân lý chỉ là tương đối, đúng và đẹp nơi này nhưng sai và xấu ở nơi khác. Cũng trong truyện này, Hiếu Đệ cho biết lịch sử các bức tượng đặt tại Sài Gòn sau khi Ngô Đình Diệm bị giết. Ông cho rằng Vũ Văn Mảu và Dương Văn Minh lừa thầy, phản bạn (13). Vấn này đã gây tranh cãi trong nhân dân ta. Nhiều người tôn sùng Ngô Đình Diệm, đâm ra oán hận Mỹ và Phật giáo. Không phải Mỹ, không phải Phật giáo, không phải Dương Văn Minh. Chính là tâm tham , tâm phản phúc của anh em ông, gia đình ông và tập đoàn ông làm hại anh em ông ( đã trình bày ở tập I, Bối cảnh lịch sử ). Tại sao Hiếu Đệ không trách ông Diệm phản bội Bảo Đại, phản bội Thiên chúa giáo, phản bội dân tộc Việt Nam, và nước Mỹ, người bạn, người thầy của ông đã nuôi dưỡng ông và đưa ông về làm tổng thống? Một tổng thống mà như thế thì sao người ta chẳng bỏ mình mà lui binh!


3. LƯU XỨ U MINH.
Ngoài bìa đề là ký sự, tức là truyện thực, tả cuộc sống thực tại đây. Sau khi đi tù về, ông bị đày xuống U Minh lao động khổ sai trong nông trường cộng sản .Tại đây, ông và các tù nhân sĩ quan khác, cũng như một số nhà tư aản sau khi bị cướp tài sản, bị giam, rồi bị đày làm nông nô tại vùng U Minh.. Ông cho biết vài nét về U Minh thời chống Pháp, và sinh hoạt tại đây sau 1975. Truyện của ông cũng mang tính cách tố cộng, nói về tội ác của cộng sản từ 1945 cho đến nay tại U Minh đối với nhân dân Việt Nam. Ông cũng nói đến việc người Hoa thân Trung cộng bị giết sạch, và người Hoa giàu có bị đày xuống U Minh sau 1975:
Họ kêu khổ liền miệng, kể lể những đoạn trường trầm luân từ sau 1975, nhà mất, người chết, của cải tan tành, lang thang đói rách, qua nhiều vùng kinh tế mới, rồi cuối cùng lại bị xuống đến U Minh và có lẽ là đoạn đường chót của sự chịu đựng của họ .
Họ chán nản bảo: Đàn ông trong xóm, kể cả trẻ con phải làm quần quật ngoài đồng. Lãy sức người để thay thế sức trâu bò. . . Rồi đây ỡ U Minh, đàn ông biến thành trâu bò, còn đàn bà thành khỉ Cà Mâu hết (119).
Truyện này cho ta biết sinh hoạt và phong tục tại U Minh. Hơn nữa, tiểu thuyết của ông đã nói đến các phụ nữ miền Nam trong thời Cộng sản chiếm miền Nam. Có những người vợ chạy theo quyền lực và tiền bạc như cô An, vợ của Nguyễn Ga Hào ( 151-155). Tuy nhiên có những nguời vợ chung thủy, khôn ngoan biết tìm cách cứu thoát chồng như vợ của Hiếu Đệ (257), đã tìm cách xin cho ông về vùng kinh tế mới Bà Bèo gần Mỹ Tho, rồi tìm cách xin đi theo chương trình HO. Mặt khác, cũng như Lê Xuyên, Hiếu Đệ viết về truyện nam nữ xứ U Minh rất đặc sắc, thành thử truyện của ông cũng có chất tươi mát, không khô khan. Hiếu Đệ có tinh thần triết lý. Chỗ nào liên hệ đến tâm lý, hoặc triết lý, ông đều viết xuất sắc.
  

TS. THÁI VĂN KIỂM * NGUYỄN ANG CA

Hoài niệm ký giả Nguyễn Ang Ca


Thái Văn Kiểm
Tôi đã gặp Nguyễn Ang-Ca từ năm 1951, tính ra vừa đúng 40 năm, lúc tôi vào Sài-Gòn, để chuẩn bị cùng đi Âu-Châu với Luật-Sư Trần Văn Tuyên, cựu Tổng Trưởng Thông tin của Chính Phủ Quốc-Gia đầu tiên do Tướng Nguyễn Văn Xuân điều khiển. Chính là Thủ-Tướng Trần Văn Hữu đã ký Nghị định, hồi tháng 6 năm 1951, cử chúng tôi đi sang Paris tham dư. Lễ Kỷ-niệm 2.000 năm Thành Phố Ba-Lê (Bi-Millénaire de Paris) đã được thành lập từ năm 51 trước Tây Lịch / rồi sau đó cùng đi Londres để tham dư. Đại-Hội Luân-Đôn (Great Festival of London), cứ 100 năm cử hành một lần, với sự hướng dẫn rất chu đáo của ông Svvan, Lãnh Sự Anh-Quốc tại Sài-Gòn.


Trong cuộc gặp gỡ tại nhà ông Đinh Văn Khai - sáng lập nhật báo Tiếng Chuông -, ký-gia? Ang-Ca đã tỏ ra rất bạt thiệp và gây được nhiều cảm tình với tôi là người được Chánh Quyền trao trọng trách Thông Tin, Báo-Chí và Phát-Thanh tại miền Trung. Qua những buổi mạn đàm, chúng tôi đã kết thân trong tình huynh-đệ và cũng từ đó Ang-Ca gọi tôi là Anh Hai.
Hiền đê. Ang Ca sinh ngày 10 tháng 10 năm 1927 tại Bạc Liêu, Nam Việt. Tên thật là Kim Cang. Ang-Ca tâm sự với tôi rằng Thân-sinh rất mộ đạo Phật, nên mới đặt cho tên Kim Cang, cũng gọi là Kim Cương, chữ phạn (sanscrit) là Vajra, chữ Pháp dịch là Diamant, Foudre. Trong Nam gọi là Hột Xoàng. Chủ ý của Thân sinh là để con mình ghi nhớ trong tâm khảm Bộ Kinh 'Kim-Cang Bát-Nhã Ba-La-Mật-Đa Kinh' (Vajra Prajna Paramita Sutra), gọi tắt là Kim Cang Kinh. Đã gọi là Kim Cang thì không dao búa nào đập bể được cả. Với ý niệm đó, Kim Cang có bốn tính chất đặc-biệt mà không có một chất nào khác bì kịp:
1 - kiên cố, không bị/hủy hoại, không sức nào phá được,
2 - quí báu, khó kiếm,
3 - có công dụng tiện lợi vì thâu nhỏ tối đa, có sực tự tại và giá trị tinh-túy (valeur intrinsèque), đồng thời có sức công phá khi cần,
4 - có hình chất trong sạch nhất và ánh triệt (lumineux)
Còn lại chữ Prajna (Bát Nhã) có nghĩa là Trí huệ (Intelligence, Faculté de perception) và chữ Paramita (Ba-La Mật-Đa) là Đại hạnh (Vertu cardinale) khả dĩ đưa Người ta từ bến Mê qua tới bờ Giác.
Ang-Ca cũng cho tôi biết: vì hoàn cảnh sớm mồ côi cha mà bao nhiêu việc trong gia đình đã do từ mẫu đảm đang, nuôi dưỡng, hướng dẫn trên đường đời đầy chông gai và cạm bẫy, với sự giúp đỡ của thân bằng quyến thuộc. Và cũng do hoàn cảnh đặc biệt đó mà Ang-Ca đã sớm hun đúc tinh thần tự-túc, tự-lập, tự-do. Lại cũng nhờ bẩm sinh 'tiên thiên hữu dứ, với thân thể tráng kiện và tinh thần sáng suốt, và nhất là nhờ thấm nhuần đạo lý do song thân truyền lại, mà Ang-Ca đã tiến thân và thành công tốt đẹp trên đường nghề-nghiệp.
Trên đường sự nghiệp, Ang-Ca đã ký với nhiều bút hiệu: Nhu Thắng Cang, Ngọc Kỳ Lân, Ngọc Huyền Lan, v.v. kể từ khi bước vào Làng báo từ năm 1949. Ang-Ca đã cộng tác với nhiều tờ báo ấn hành tại Sài-Gòn, như: Tiếng Chuông, Tiếng Dội, Sài-Gòn Mới của Bà Bút Trà, Lẽ Sống, Dân Quyền của Trần Tấn Quốc, Dân Ta của Nguyễn Vỹ, v.v.
Ang-Ca đã nổi danh qua những phóng sự thể thao, kịch trường, màn ảnh. Ngoài ra, kể từ năm 1957, Ang-Ca đã chủ trương 2 tuần báo Duy Tân, Tầm Nguyên. Và cứ mỗi năm, Ang-Ca xuất bản 1 số báo Xuân lấy tên 'Xuân Dân Tộc Hòa Bình'. Đầu năm 1964, Ang-Ca đứng ra làm Chủ nhiệm, kiêm Chủ bút báo Tin Sớm cho đến năm 1972 thì tự động đóng cửa để phản đối Luật Báo Chí 007, kiềm hảm công luận và tự do báo chí.
Ang-Ca là một ký giả xuất sắc với những phóng sự hấp dẫn, linh động được theo dõi nhiều nhất trong nước và hải ngoại trong Cộng Đồng Việt Kiều. Ang-Ca là ký gia? Việt Nam xuất ngoại nhiều nhất. Tôi còn nhớ, trong thời kỳ làm việc tại Bộ Ngoại Giao, đã ký chiếu-khán xuất-ngoại công-vụ cho các anh Đinh Văn Ngọc, Võ Văn Ứng và Nguyễn Ang Ca, đi tham dự các Thế-Vận-Hội và tranh giải Á-Châu Túc Cầu và Bóng Bàn.
Riêng ký gia? Nguyễn Ang-Ca đã tham dự bốn lần Thế-Vận-Hội (Jeux Olympiques) và năm 1968 đã đoạt huy chương vàng Thế-Vận-Hội về Báo Chí Bình-Luận. Đến năm 1969, ký gia? Ang Ca lại đoạt thêm huy chương vàng về giải phóng sư. Thể Thao, cũng tại Mexico, đem lại danh dự lớn cho quốc gia và giới báo chí Việt-Nam. Cùng năm này, Ang-Ca được bầu Phó Chủ Tịch Ủy-Ban Ký-Giả Thể-Thao Quốc-Tế (Vice-Président du Comité International des Grands Reporters Sportifs). Chính trong thời kỳ này, ký gia? Nguyễn Ang Ca đã có nhiều cơ hội kết-giao thân hữu với rất nhiều ký giả và nhân-sĩ ngoại quốc.
Ký-gia? Nguyễn Ang Ca còn kiêm thêm nghề soạn giả kịch tuồng (auteur dramatique) với bút hiệu Ngọc Huyền Lan. Cùng với soạn gia? Viễn Châu hợp soạn nhiều vở tuồng cho sân khấu miền Nam như: Yêu Nữ Thần, Người Yêu của Hoàng Thượng, Thiên Thần Trên Thiết Mã, Gió Cuốn Cành Hoa, Từ Sân Khấu đến Cuộc Đời, Viên Ngọc Trắng Thần, Con Gái Hoa Mộc Lan và nổi bật nhất là vở tuồng Hoa Mộc Lan, đã từng được diễn và thâu hút nhiều khán giả nhất trên sân khấu Thanh-Minh Thanh-Nga.
Chính ký gia? Ang-Ca đã cùng với ký giả lão thành Trần Tấn Quốc thành lập Giải Thanh Tâm. Rồi cũng hai bạn tri âm đó đã có sáng kiến thành lập Hội Bảo Trợ Học Sinh Nghèo, do Bà Vũ Bá Hùng làm Chủ Tịch và ký gia? Ang-Ca làm Phó Chủ Tịch. Trong mấy năm trời, Hội này đã hoạt động tích cực giúp đỡ những học sinh nghèo khó, mà có chí hiếu học, với những học bổng và phương tiện nâng đở cho tới khi tốt nghiệp và thành tài. Công tác tốt đẹp này đã bị chấm dứt bởi Cộng sản xâm chiếm miền Nam, hồi tháng tư đen năm 1975.
Trong mọi hoạt động và công tác tốt đẹp kể trên, ký gia? Ang-Ca đã được sự hổ trợ của bà vợ hiền lành và đảm đang là nữ ký-giả kiêm thi-sĩ Huyền Nhi, luôn luôn đem lại cho chồng những ý kiến xây dựng và một tình thương đằm thắm.
Trong thời kỳ cộng sản chiếm đóng miền Nam, ký gia? Nguyễn Ang-Ca và gia đình đã phải trãi qua những năm tháng cực nhọc và buồn thảm với vận nước điêu tàn, bất hạnh. Rốt cuộc, chịu không nổi, cả gia đình phải vượt biển vào cuối năm 1978. Nổi trôi bình bồng trên sóng đại dương mấy ngày đêm sóng gió hải hùng, tưởng chừng như sắp kết liễu cuộc đời với kình ngư cá mập, thì may thay! nhờ gió thuận mà cập được
bến Hòn Rắn (Poulo Bi-Dong) của Mã Lai, cho tới tháng hai 1979 mới định cư tại Belgique nhờ có con trai du học bảo lãnh. Nơi xứ lạ quê người, gia đình Ang-Ca bắt đầu 'trở lại hồn' rồi ổn định trong tình thế mới. Ang Ca và Huyền Nhi lần lần bắt liên lạc với các thân hữu và tổ chức quốc gia ở hải ngoại. Rồi anh đi làm cho Hồng Thập Tự và các Tổ chức Cứu Trợ Tị Nạn Đông Nam Á, lãnh đồng lương khiêm tốn, nhằm bảo đảm đời sống thanh đạm cho gia đình. Đồng thời, Ang Ca viết báo trở lại, cũng hăng say như thuở nào, vì trót 'đã mang cái nghiệp vào thân, thì đừng trách lẫn trời gần trời xa! như lời khuyên của thi-bá Nguyễn Du mấy trăm năm về trước.
Từ đó, ký gia? Ang-Ca cộng tác với rất nhiều báo chí Việt trên khắp thế giới, để bày tỏ quan điểm và lập trường quốc-gia chống cộng của mình. Thỉnh thoảng có đăng những hồi-ký thời quốc nội, rất hấp dẫn và thành thật, và đó cũng là đức tính của người quá cố thân thương. Lúc nào thiếu tài liệu, hoặc thắc mắc về điểm nào thì Ang-Ca biên thơ, hoặc điện thoại cho tôi. Chúng tôi cho nhau tin tức thường xuyên. Hồi
này, chúng ta thấy nhan nhản trên báo chí hải ngoại những bút hiệu rất mới là: Việt Hưng Quốc, Quách Tô Vương, Quách Tư Sinh và Hoàng Bích Vân. Việc Ang-Ca dùng nhiều bút hiệu khác nhau là một dấu hiệu khiêm tốn, thêm vào tánh tình hòa nhã, khiến cho sự giao tiếp trở nên bình dị và khả ái.
Trong lãnh vực nhân đạo và xã hội, ký gia? Ang-Ca, từ khi thoát ra hải ngoại, không ngớt tranh đấu cho người tị nạn, cho gia đình những ký-giả, những nhà thể thao, còn kẹt lại Việt-Nam. Được bầu làm Phó Chủ Tịch Văn-Bút Việt-Nam Hải-Ngoại tại Paris và tại Bruxelles, ký-giả Ang-Ca là một trong những sáng lập viên Chùa Linh Sơn ở Bruxelles, đồng thời là Tổng Thư Ký Hội Cao Trung Niên tại thủ đô nước Bỉ.
Tôi còn nhớ năm 1977, tôi sang Canada tham dư. Đại-Hội Văn-Học Pháp-ngữ của Đại-Học-Đường Sherbrooke. Lúc trở về ghé lại Montreal để thuyết trình đề tài 'Đàn Chim Việt' ở Đại-Học Kỷ-Thuật tỉnh Quebec, thì tình cờ gặp lại chủ-nhiệm Đinh Văn Khai và Ông Nguyễn Thành Lễ. Cả hai ông bạn đều nhắc đến ký gia? Nguyễn Ang Ca, tỏ tình thương nhớ và sự lo lắng cho số phận hiền-đê. Ang-Ca và Huyền-Nhi còn đang kẹt lại Sài-Gòn, không rõ sinh sống ra sao?
Ngày 23-4-1988, lần đầu tiên Ang-Ca viết thơ báo tin bị 'crise cardiaqué: 'từ ba năm nay em bị bịnh tim, nên BS cấm đánh máy và viết nhiều, nhưng anh chị nghĩ: kiếp tằm chỉ có chết mới hết nhã tơ! Thơ anh chị làm em cảm động vô cùng. Trong nghề nghiệp, em kính yêu nhất là anh Bình Nguyên Lộc, Nguyễn Vỹ và ... Anh. Được tin Bà Năm Sađec mới qua đời ở Sài-Gòn. Bà Năm là vợ anh Vương Hồng Sển. Anh có biết nhiều về mối tình của Anh V H Sển với người nữ nghệ sĩ tiền phong này không?
'Bà Lý Công Trinh với chúng em là chổ thân tình. Lời đề tựa của Anhđã giúp phần nào quyển 'Le Mirage de la Paix' được giải thưởng cao quí, làm hãnh diện Cộng Đồng Người Việt Tự Do.'
Cũng trong bức thơ này, nơi đoạn cuối, Ang Ca đã giới thiệu nữ-sĩ Huỳnh Dung ở Genève (Kershatz), để nhờ tôi đề tựa bản dịch Pháp-ngữ quyển truyện 'Thiên Đàn của Thý (Le Paradis de Thy) do Bác-sĩ Trần Quang Đệ đảm trách, một bản dịch trung-thành, văn hoa và lưu loát. Và tôi đã tìm được giáo-sư Bernard Le Calloch, Cố Vấn Văn-Hóa và Pháp-Luật cho Thượng-Nghị-Sĩ André Le Jarrot, để viết đề tựa cho quyển sách của nữ-sĩ Huỳnh Dung.
Ngày 20 tháng 1 năm 1989, Ang-Ca viết cho chúng tôi một lá thơ thương khóc nữ-sĩ Lý Thu Hồ, tác giả quyển 'Le Mirage de la Paix' (Ảo ảnh Hòa Bình), đã đoạt giải Nhất Văn Chương về Á-Đông 1987 của Hội Nhà Văn Pháp-Ngữ (Association des Ecrivains de Langue Francaise, ADELF). Lời trong thơ như sau:
'Thưa Anh Chị: Em rất xúc động khi hay tin Bà Lý Thu Hồ đã qui tiên. Bà bị bịnh gì? Đau lâu mau rồi? ông Lý Công Trinh, chồng của Bà, còn ở ngôi nhà cũ không?' 'Em định sẽ khóc nhớ Bà bằng một bài thương tiếc. Xin anh cho em chi tiết, những gì mà anh biết về Bà, tiểu sử, sự nghiệp. Cơ duyên nào mà Anh quen Bà và dịp nào Anh đã viết Tựa cho quyển 'Le Mirage de la Paix'? Anh cho em xin photocopies các thơ khen ngợi Bà của Thủ Tướng kiêm Đô trưởng Paris là ông Jacques chirac, của Quận Vương Đan-Mạch ở Copehhague (Henrik De Montpezat), của Hoàng-Hậu Fabiola của Vương-Quốc Bỉ, v.v.
Liền sau đó, tôi đã cung cấp đầy đủ tài liệu cho nghĩa-đê. Nguyễn Ang Ca, để viết về nữ-sĩ Lý Thu Hồ, qui tiên ngày 8 tháng Janvier 1989, hưởng thọ 73 tuổi. Sinh tiền Bà là người rất mến phục ký gia? Nguyễn Ang Ca. Nay cả hai người đều về bên kia thế giới, thoát xa trần tục, để lại người thương luống ngậm ngùi!!
Ngày 12 tháng 5, 1989, Ang-Ca viết thơ giới thiệu ông bạn Võ Phước Lộc, thi-sĩ Việt và Pháp, nguyên Chủ nhiệm nhà Xuất bản Lữa Thiêng ở Sài-Gòn, trước 1975. Đồng thời Ang-Ca cho biết mới về Rennes thăm Anh Cả Trần Văn Ân, bút hiệu Văn Lang, đã được Anh Cả truyền dạy thuyết vô cầu để tạo cho mình một nếp sống an vui với tình thương và đạo lý. Hồi đó Anh Cả đã 88 tuổi, năm nay đúng 90, mà vẫn còn minh mẫn, mặc dầu sức khỏe có phần suy giảm. Ang-Ca cũng cho biết ký giả lão thành Nguyễn Hưũ Lượng mới mất ở Sài-Gòn, cũng như Đại Tướng Nguyễn Văn Xuân, cựu Thủ Tướng Việt-Nam, đã qua đời ở Nice, hưởng thọ 97 tuổi, cùng mất một lượt với nữ-sĩ Lý Thu Hồ.
Trong thơ trả lời (1/6/89), tôi có cho Ang-Ca biết: Anh Cả Văn Lang cũng thường hay thơ từ qua lại với chúng tôi, kể từ khi ông ta còn làm Chủ nhiệm tập san Đời Mới ở Sài-Gòn, mà tôi cũng có cộng tác. Thuyết vô cầu của Văn Lang Tiên sinh rút từ cả hai đạo Lão và Phật, đã được Nguyễn Bỉnh Khiêm thu gọn trong hai câu:
Lòng vô sự như trăng in nước,
Của thảng lai như gió thổi hoa!
Vào cuối năm ấy, trời Tây đang chuyển từ Thu sang Đông, lá vàng rơi rụng khắp đường phố Ba-Lê thì vừa nhận được lá thơ viết ngày 12/10/89 của Ang-Ca cho biết:
'Vợ chồng em vừa đi Marseille, đáp lời mời của anh chi. An Khê, để viếng Foire Internationale de Marseille. Qua Pháp hay tin anh Nguyễn Kiêng Giang qua đời, chúng em có vào Chùa Khánh Anh cầu siêu cho ảnh. Anh Võ Phước Lộc-tức Võ Đức Trung - có gởi cho em xem bức thơ của Anh, khích lệ ảnh. Đối với một người có tâm hồn và lý tưởng như Anh Lộc, bức thơ của anh quả là một món quà tinh thần... Theo em nghĩ, Anh Chị đã có một đứa em Văn Nghệ xứng đáng rồi vậy.'
Thế rồi, năm hết Tết tới, tuyết phủ đầy đồng, Ang-Ca lại viết thơ ngày 12/1/90, để báo tin người bạn quí Nguyễn Long, tư. Thanh Nam, mới qua đời bên Hoa Kỳ. Anh Nguyễn Long là chủ nhiệm 'Đuốc Từ Bí, cũng là lãnh tu. Phật Giáo Hòa Hảo, Đãng Dân Xã, có nhiều uy tín. Ang Ca viết: 'mỗi lần nghe hung tín, chứng bịnh đau tim của em lại hành hạ, dù cố nén không cho xúc động mạnh. Chẳng hay Anh Chị sức khoẻ tốt? Em lại vừa hay tin chi. Nguyễn Xuân Nhẫn từ trần. Anh chị có quen biết anh chi. Nhẫn hay không? Anh này cũng mê nghề viết, thích thơ văn lắm. ''Ảnh từng đoạt giải truyện ngắn ở báo Tiếng Chuông. Ở Anh Quốc, nữ nghệ sĩ Thanh Tùng, cô đào đẹp nhất của sân khấu Cải Lương 2 thập niên 1935-1955, không bệnh mà chết (bể ống tim). Anh có sáng tác bài nào dịp Xuân này, hay viết về Văn Hóa, thì gởi cho em xem với.'
Thơ của Ang-Ca khiến tôi nhớ lại thời kỳ, đáp lời mời của Chủ nhiệm Đinh Văn Khai, tôi đã tham dự nhiều lần Ban Chấm Thi Truyện Ngắn Tiếng Chuông, cùng với các nhà văn Thuần Phong Ngô Văn Phát, luật-sư Nguyễn Văn Lộc (sau này làm Thủ Tướng), thẩm phán kiêm văn-sĩ Tuần-Lý Huỳnh Khắc Dụng, v.v. Tôi còn nhớ hồi đó, không nhớ năm nào, nhà văn-thơ Hàm-Thạch Nguyễn Xuân Nhẫn (hiện ở Paris) đã đoạt Giải Truyện Ngắn Tiếng Chuông với một bài nói về Thân phận một Vú già, bị phú gia bọc lột!
Tôi cũng cho Ang Ca biết là chúng tôi quen thân cả hai ông bà Nguyễn Xuân Nhẫn và riêng tôi có viết thơ phê bình và khen ngợi Tập thơ 'Mặt Nước Hồ Xuân' của nữ sĩ Thanh Liên, người bạn đời của thi-sĩ Hàm Thạch.
Đầu tháng 2, ngày 5, 1990, Ang Ca lại viết thơ hỏi địa chỉ của ca-sĩ Họa Mi, mới ra đi tìm Tự Do nơi đất Pháp. Thấm thoát thoi đưa đã đến tháng 10, tôi lại nhận được thơ của Ang Ca, báo tin vui, 'đã bán được quyển sách cho Đại Nam bên Hoa Kỳ, tên ách là Giá Tự Do hay là Lệ Tràn Biển Đông, có được đủ số tiền mua 2 vé phi cơ khứ hồi, để đi Mỹ thăm bạn bè. Vì em bị đau tim, vợ em sợ em bị chết thình lình, nên có cơ hội, là đi thăm ... cứ nhận ngay.' 'Khi sách in xong, xin gởi đến Anh chị ngay. Nếu được Anh nhận dịch ra Pháp ngữ thì hân hạnh cho em vô cùng.'
'Nếu có thể, Anh cho em đôi hàng viết về 'con người của ký-gia? Nguyễn Ang Cá, để em được in ở bìa sau quyển sách, cùng với lão huynh Trần Văn Ân, cố văn-sĩ Bình Nguyên Lộc, anh Vũ Ký... 'Em lại mới được tin ông Lý Công Trinh đã qua đời. Buồn quá anh chị ơi!' Rất tiếc kỳ rồi, Anh sang Liège dư. Đại-Hội Thi-Ca Quốc-Tế mà tụi em không mời được Anh về nhà để hàn huyên, tâm sự...'
Giữa tháng 11, 1990, chúng tôi có sang nước Bỉ thăm vợ chồng Ang-Ca và Huyền Nhi, ở nhà số 32 Antoine Labarre, Bruxelles 1050, cùng với một số nhân sĩ từ Hoa Kỳ và Pháp sang họp Hội-Thảo Việt-Nam tại Đại-Học-Đường Tự-Do Bruxelles. Nhìn thấy Ang Ca vẫn tráng kiện và vui vẻ, chúng tôi an tâm, nhưng vẫn cầu nguyện thầm Trời Phật phò hộ cho Ang Ca tai qua nạn khỏi.
Về Paris ít lâu sau, thì tôi nhận được thơ viết ngày 11/1/91, Ang-Ca xin tài liệu về đảo Phú Quốc và cuộc vượt biển ngày xưa của Chúa Nguyễn Ánh. Tôi liền sưu tập khá nhiều tài liệu gởi sang Bỉ cho Ang-Ca tham khảo mà viết bài. Tôi không ro? Ang Ca đã viết chưa, và nếu đã viết thì đăng báo nào?
Đầu tháng 2, tôi nhận được lá thơ viết ngày 4/2/91, báo tin như sau: 'Kính Anh Chị Hai - Em bị crise tim, vào bệnh viện từ 24/1/91. Sau khi làm examen đủ thứ, có cả soi indoscopie, thọc tuyau vào ngực để thăm dò và làm échographie. Nhưng chưa biết sẽ bị opération hay không?
'Anh Hai có bài, tài liệu gì về Vua Quang Trung Nguyễn Huệ, xin gởi cho em xem, để em có tài liệu, thuyết trình sau khi mạnh. ....... Sau 8 giờ tối, nếu anh Hai có rảnh, phone vào viện cho em, số 764.0628. Nếu như em bị đổi phòng, anh hỏi Standard, Nguyễn Kim Cang nằm lit 628-B, đổi về phòng nào, lit số mấy?
'..... Xin anh Hai cho em hay tin sốt dẻo với nhe. Kính thăm Anh Chị Hai và quí quyến luôn an lành. Thân quý: Nguyễn Ang Ca, 4/2/1991'
Nhận được thơ này, tôi không ngờ là thơ cuối cùng, thơ vĩnh biệt của nghĩa đê. Nguyễn Ang Ca! Chiều theo ý muốn, tôi đã sắp xếp các tài liệu để gởi sang và tôi cũng đã điện đàm nhiều lần. Lần chót, trong đêm 25/3, tôi nghe tiếng nói Ang-Ca hơi yếu, thoi thóp như con chim bị đạn của Thầy Tăng Tử. Rồi Ang-Ca bảo tôi đọc lại hai câu thơ của Ôn Đình Quân mà sinh tiền Ang-Ca rất ưa thích:
Tam xuân nguyệt chiếu thiên sơn lộ,
Thập nhật khai hoa nhất dạ phong!
mà Vũ Tùng Chi đã khéo dịch:
Một đêm gió lộng hoa tơi tả,
Ba tiết trăng soi núi chập chùng!
Phải chăng đây là một cái điềm báo trước Ang-Ca sẽ ra đi vĩnh viễn?
Quả thế, trong đêm sau thì điện thoại nhà tôi reo. Tôi lấy máy nghe thì, than ôi! ông bạn Đỗ Việt báo tin không lành: Ký-gia? Nguyễn Ang Ca đã qua đời, lúc 3 giờ chiều ngày 26 tháng 3 năm 1991, nhằm ngày 11 tháng 2 âm lịch, Tân Mùi, tại Bruxelles, hưởng thọ 65 tuổi.
Thế là một người tài hoa của nước Việt, một hiền hữu trong Làng Văn, Làng Báo và Kịch Trường, một nghĩa đệ trong Gia-đình, đã vĩnh viễn ra đi nơi xứ lạ quê người, đem theo niềm thương tiếc vô biên của biết bao thân bằng quyến thuộc, của đồng bào mọi giới từ Hải Ngoại về tới Quê Hương.
Và cũng từ đây, hai chữ KIM CANG sáng chói, sẽ được ghi vào tâm khảm của Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia:
Xác tục ngàn măm lưu Hải Ngoại,
Hồn thiêng vạn dặm gởi Quê Hương!
Paris (Chiêu Anh Các), 2 Mai 1991 Hương Giang Thái Văn Kiểm.

No comments: