Sunday, November 6, 2016

HOÀNG CẦM =PHÙNG CUNG = VÕ KỲ ĐIỀN =NGUYỄN THIÊN THỤ

HOÀNG CẦM * EM BÉ LÊN SÁU



UN PETIT ENFANT DE SIX ANS
Un petit enfant de six ans
seul, à la recherche des aliments
Car son père qui fut un tyranneau
a dù payer sa dette de sang
au tribunal du prolétariat paysan.
Quant à sa mère qui l'abandonna
À son sort d'enfant des rues,
Elle dut partir pour le Sud, son refuge.
Depuis sa naissance,
le lait le ravit, son lit, un paradis
Habits de soie brodée de fleurs,
il n'avait pas eu conscience de son bonheur.
Face à la monté des vagues,
Pense-t-on un instant au destin des lentilles et écumes ?
Dans les rapports entre humains néanmoins
sur les drames desquels on s'apitoie très souvent.
Affamé et mésirable,
Un vieillard tremblant, chercha des petits crabes,
Apercevant l'enfant chétif et malade
qui n'avait plus ses parents et pour lequel soudain
il eut de la compassion
en lui cédant un peu de son riz restant.
Maigre comme un clou,
ventre gonflée et cou rabougri,
Les yeux creusés et rougis
s'ouvrant sur la vie, ébahis :
"S'il vous plaỵt, un peu de soupe, Madame,
Un peu de riz, mon bon Maỵtre !"
Une jeune femme du cadre partisan
en campagne de propagande
jetant les yeux subitement
du côté de la porte d'entré
Entendant cet appel d'enfant égaré
qui la fit frissonner
en se rappelant l'anné de la faim passé
où étant âgé tout juste de cinq ans
elle avait dú pour subsister
lécher les feuilles de patate au marché
Se précipitant brusquement vers la porte d'entré,
Emmenant l'enfant dans la maison,
la jeune femme, dans un bel élan, avec l'enfant
partagea par moitié la ration de riz
conservé depuis hier après-midi.
Une jeune femme du prolétariat paysan,
les larmes aux yeux, détourna son visage en songeant :
" Il est fils de propriétaire terrien
mais trop jeune pour en êêtre conscient.
La fois à je lui ai apporté un potage de riz,
j'ai dú subir trois jours d'interrogatoire continu".
Reculant soudain d'un pas,
la dirigeante de cellule qui faisait la loi,
regardant bien le petit orphelin
afin de déceler quelques traces d'ennemi lointain,
ne vit cependant en lui qu'un être humain.
Après s'être bien nourri,
L'enfant se coucha par terre et dormit
La jeune femme se dit :
Plus tard, quand je serai mariée,
Que mon bébé soit rose et dodu.
Ses fonctions ayant été suspendues
pour cause de sentiment d'humanité,
La nuit venue dans sa chambre assombrie,
elle alluma sa lampe et fit son autocritique
A cause de "la langue qui, n'ayant pas d'os,
peut tourner de mille manières";
A cause de tous ces yeux minuscules
qui refusent de voir loin,
au-delà de l'horizon;
A cause de ces cerveaux inertes et paresseux,
Fer rouillé dans une idéologie dépassée
et releguée au rang des antiquités,
en sommeil sur des pages silencieuses.
A cause des hommes-robots,
Bourrés de tendons, dépourvus de coeur.
"Impliqué dans la réaction",
"Plate-forme en perdition".
De longues nuits de larmes et de tourments,
sous une lampe lueur agonisante,
Se posa et se reposa la question :
Pourquoi ai-je su aimer un enfant d'ennemi?
Ah, si je pouvais le haiïr,
Combien mon coeur serait libre et apaisé
Traduit en français par
Lêê Mộng Nguyêên - Paris


VNI
EM BÉ LÊN SÁU TUỔI
của HOÀNG CẦM

Em bé lên sáu tuổi
Lủi thủi tìm miếng ăn.
Bố: cường hào nợ máu (1)
Đã trả trước nông dân.
Mẹ bỏ con lay lắt
Đi tuột vào trong Nam.
Từ khi lọt lòng mẹ
Ăn sữa, ngủ giường êm,
Áo hoa lót áo mềm.
Nào biết mình sung sướng.
Ngọn sóng đang trào lên
Ai nghĩ thân bèo bọt;
Nhưng người với con người
Vẫn sẵn lòng thương xót.
Có cụ già đói khổ
Lập cập đi mò cua:
Bố mẹ nó không còn,
Đứa trẻ này gầy còm,
Bỗng thương tình côi cút;
Cụ nhường cho miếng cơm.
Chân tay như cái que,
Bụng phình lại ngẳng cổ,
Mắt tròn đỏ hoe hoe
Đo nhìn đời bỡ ngỡ:
"Lạy bà xin bát cháo
Cháu miếng cơm, thầy ơi!"
Có một chị cán bộ
Đang phát động thôn ngoài,
Chợt nhìn ra phía ngõ
Nghe tiếng kêu lạc loài
Chị rùng mình nhớ lại
Năm đói kém từ lâu
Chị mới năm tuổi đầu
Liếm lá khoai giữa chợ.
Chạy vùng ra phía ngõ
Dắt em bé vào nhà,
Nắm cơm dành chiều qua
Bẻ cho em một nửa.
Chị bần cố nông cốt cán (2)
Ứa nước mắt quay đi:
- "Nó là con địa chủ
Bé bỏng đã biết gì;
Hôm cho em bát cháo,
Chị ba ngày hỏi truy". (3)
Chị đội (4) bỗng lùi lại
Nhìn đứa bé mồ côi
Cố tìm vết thù địch.
Chỉ thấy một con người.
Em bé đã ăn no
Nằm lăn ra đất ngủ;
Chị nghĩ: "sau lấy chồng
Sinh con bồng bú sữa".
Chị phải đình công tác
Vì câu chuyện trên kia.
Buồng tối lạnh đêm khuya
Thắp đèn lên kiểm thảo.
Do cái lưỡi không xương
Nên nhiều đường lắt léo;
Do con mắt bé téo
Chẳng nhìn xa chân trời;
Do bộ óc chây lười
Chỉ một màu sắt rỉ,
đã lâu nằm ngủ kỹ
Trên trang sách im lìm;
Do mấy con người máy
Đầy gân, thiếu trái tim!
Nào "liên quan phản động"
"Mất cảnh giác lập trường"
Mấy đêm khóc ròng rã
Ngọn đèn soi tù mù,
Lòng vặn lòng câu hỏi
"Sao thương con kẻ thù?
Giá ghét được đứa bé
Lòng thảnh thơi bao nhiêu!"
HOÀNG CẦM
Trích "Giai Phẩm Muà Thu"
CHÚ GIẢI:
(1) Trả nợ máu: bị xử tử
(2) Cốt cán: nông dân được Đảng tín nhiệm (chưa phải là đảng viên)
(3) Hỏi truy: tra khảo.
(4) Chị đội, cán bộ phụ nữ trong đợt Cải Cách Ruộng Đất.

GS. VŨ QUỐC THÚC * BẮC KINH

GS. VŨ QUỐC THÚC

  Chúng ta có th‹ nêu th¡c m¡c : tåi sao , sau khi Çã rút quân khÕi Campuchea và b¡t ÇÀu bình thÜ©ng hóa bang giao v§i Hoa Kÿ , nhóm cÀm quyŠn ª Hà N¶i vÅn ti‰p tøc phøc tòng B¡c Kinh m¶t cách " ngoan ngõan" nhÜ ta thÃy ? M¶t sÓ viŒc xÄy ra nhân ñåi H¶i IX cûa ñäng C¶ng Sän ViŒt Nam ( tháng 4 næm 2001 ) có th‹ giúp ta trä l©i câu hÕi này .
ViŒc thÙ nhÃt là m¶t phái Çoàn hùng hÆu cûa Trung C¶ng do HÒ CÄm ñào ( nhân vÆt m§i ÇÜ®c cº làm T°ng Bí ThÜ ñäng C¶ng Sän Trung Hoa , thay th‰ Giang Tråch Dân ) Çích thân cÀm ÇÀu Çã lÜu trú ª Hà N¶i trong suÓt th©i gian ñåi H¶i Ç‹ " quan sát " : viŒc này chÙng tÕ s¿ quan tâm cûa B¡c Kinh ÇÓi v§i nh»ng s¿ thay Ç°i trong hàng ngÛ cÃp lãnh Çåo ñäng C¶ng Sän ViŒt Nam . Hô CÄm ñào Çã không thành công trong viŒc duy trì Lê Khä Phiêu - m¶t ngÜ©i mà dÜ luÆn ÇÒn là " ngÜ©i cûa Trung C¶ng " - trong chÙc vø T°ng Bí ThÜ . Lš do chính thÙc ÇÜ®c ÇÜa ra trong vø hå bŒ Lê Khä Phiêu là tác phong thi‰u Çåo ÇÙc cûa nhân vÆt này . KhÕi cÀn nói là Ç‹ làm yên lòng B¡c Kinh , cÀn phäi bÀu m¶t nhân vÆt nào ÇÜ®c HÒ CÄm ñào chÃp nhÆn . ñ‰n Çây ta thÃy m¶t viŒc thÙ hai Çã xÄy ra , có tính cách rÃt bÃt ng© : Çó là viŒc cÃp lãnh Çåo ñäng C¶ng Sän ViŒtNam quy‰t ÇÎnh bÀu Nông ñÙc Månh làm tân T°ng Bí ThÜ . Månh là ngÜ©i Tày , nghïa là thu¶c m¶t s¡c t¶c thi‹u sÓ ª miŠn B¡c ViŒt Nam giáp gi§i v§i Trung Hoa . Månh ÇÜ®c cº làm Chû TÎch QuÓc H¶i tØ sau ñåi H¶i VIII ( 1996 ) : Tuy Çó là m¶t chÙc vø cao vào hàng thÙ ba , thÙ tÜ vŠ phÜÖng diŒn ngôi thÙ trong hŒ thÓng Nhà nܧc nhÜng không có nhiŠu th¿c quyŠn , trong b¶ máy ñäng . DÜ luÆn cho r¢ng , sª dï Månh Çåt t§i ÇÎa vÎ Ãy , không phäi vì ông ta có tài næng hay thành tích xuÃt chúng mà chÌ vì ông ta là con ng†ai hôn cûa HÒ Chí Minh . Không ai ng© r¢ng Månh có th‹ ÇÜ®c bÀu làm T°ng Bí ThÜ Ç‹ cÀm ÇÀu m¶t Çäng có t§i hÖn hai triŒu Çäng viên trong Çó tuyŒt Çåi Ça sÓ là ngÜ©i Kinh . Lúc m§i nhÆm chÙc , khi bÎ phÕng vÃn vŠ liên hŒ huy‰t thÓng v§i HÒ Chí Minh , Månh Çã tránh né , không xác nhÆn mà cÛng không phû nhÆn . ´t lâu sau , có tin ÇÒn là m¶t cu¶c giäo nghiŒm khoa h†c , d¿a trên s¿ so sánh DNA , Çã ÇÜa t§i k‰t luÆn : Månh Çích th¿c có liên hŒ huy‰t thÓng v§i HÒ Chí Minh và khi nhÆn ÇÜ®c báo cáo vŠ cu¶c giäo nghiŒm này , Månh Çã khóc!
Cách Çây mÃy tháng , Månh chính thÙc sang B¡c Kinh thæm các cÃp lãnh Çåo ñäng C¶ng Sän Trung Hoa. Trong cu¶c vi‰ng thæm này hai bên Çã thÕa hiŒp nh»ng gì , chúng ta chÜa bi‰t rõ . Ta chÌ thÃy r¢ng trong m¶t cu¶c phÕng vÃn m§i Çây , dành cho m¶t kš giä Hoa Kÿ , Månh Çã công khai kh£ng ÇÎnh ông ta không phäi là con cûa HÒ Chí Minh . Chúng tôi Çi t§i k‰t luÆn : sª dï Månh không cÀn d¿a vào uy tín cûa h† HÒ n»a , có lë vì Månh tin ch¡c là ÇÜ®c B¡c Kinh bao che khi‰n không ai có th‹ hå bŒ mình n»a .
M¶t viŒc thÙ ba cho hi‹u tåi sao nhóm cÀm quyŠn ª Hà N¶i låi phøc tòng B¡c Kinh " quá mÙc " nhÜ ta Çã thÃy trong vø Lê Chí Quang : Çó là viŒc Uông Chu LÜu ÇÜ®c b° nhiŒm làm Bô Trܪng TÜ Pháp . Theo tin ÇÒn thì nhân vÆt này tØng làm tình báo cho B¡c Kinh : nhÜ vÆy , n‰u cÖ quan tÜ pháp Hà N¶i , bÃt chÃp luÆt lŒ , trØng phåt ông Lê Chí Quang vì Çã công khai Ç¥t vÃn ÇŠ cänh giác v§i Trung Hoa , thì cÛng là m¶t ÇiŠu dÍ hi‹u .
Tóm låi nhóm cÀm quyŠn ª Hà N¶i ngoan ngoãn phøc tòng B¡c Kinh , nhÜ m¶t thu¶c hå ÇÓi v§i thÜ®ng cÃp , không phäi vì lš do š thÙc hŒ mà cÛng không phäi vì lš do chi‰n lÜ®c : ch£ng qua h† chÌ muÓn bäo vŒ quyŠn l®i riêng tÜ , muÓn ti‰p tøc n¡m chính quyŠn bÃt chÃp s¿ bÃt mãn cûa nhân dân cÛng nhÜ s¿ bÃt ÇÒng š ki‰n cûa nhiŠu ÇÒng chí trong ñäng . Chính sách sai lÀm cûa h† Çang gây nên m¶t sÓ hÆu quä mà chúng tôi tin là së có tính cách quy‰t ÇÎnh ÇÓi v§i tÜÖng lai cûa ch‰ Ƕ c¶ng sän Hà N¶i .
HÆu quä thÙ nhÃt là Hà N¶i së mÃt dÀn m†i änh hܪng chính trÎ ÇÓi v§i hai láng giŠng Lào và Campuchea. ñäng C¶ng Sän ViŒt Nam Çã xây d¿ng uy th‰ trên bän Çäo ñông DÜÖng qua hai Çäng Çàn em là C¶ng Sän Lào và phe C¶ng sän Hun Sen . Trong H¶i nghÎ thÜ®ng ÇÌnh gi»a Trung C¶ng và các nܧc thu¶c HiŒp H¶i ASEAN , h†p ª Phnom Penh , hÒi tháng 11 vØa qua , ta Çã thÃy B¡c Kinh công khai " vuÓt ve " hai nܧc Lào và Campuchea , tha n® cÛ rÒi cÃp viŒn tr® m§i cho h† . Møc Çích cûa B¡c Kinh thÆt rõ ràng là muÓn cho hai nܧc này ÇØng " ôm chân " nhóm cÀm quyŠn ª Hà N¶i n»a mà liên låc tr¿c ti‰p v§i B¡c Kinh , nhÜ vÆy së l®i hÖn .
HÆu quä thÙ hai là nh»ng Çäng viên C¶ng sän ViŒt Nam trܧc kia theo Liên Xô ( sÓ này rÃt
Çông ) không th‹ không lo ngåi sau khi Uông Chu LÜu ÇÜ®c b° nhiŒm làm B¶ Trܪng TÜ
Pháp và nhÃt là sau vø án Lê Chí Quang . SÓ phÆn cûa h† rÒi Çây së ra sao ? Dù h† có " trª
c© " , tìm cách " ôm chân " các " ÇÒng chí Trung QuÓc vï Çåi " chæng n»a , tÜÖng lai chính trÎ cûa h† vÅn rÃt mù mÎt . M¶t phong trào chÓng ÇÓi Çã manh nha và Çang lan r¶ng vì theo m¶t bän tin m§i Çây cûa hãng thông tÃn Associated Press , trên mång lܧi Internet ª ViŒt Nam Çã thÃy xuÃt hiŒn nhiŠu tài liŒu chÓng ch‰ Ƕ Hà N¶i . Ai cÛng bi‰t nhóm cÀm quyŠn ª Hà N¶i ki‹m soát rÃt ch¥t chë m†i s¿ liên låc b¢ng thÜ tín ÇiŒn tº v§i ngoåi quÓc : nhÜ vÆy nh»ng tài liŒu chÓng ÇÓi , nói trong bän tin cûa A.P. , Çã xuÃt phát tØ các nguÒn ª quÓc n¶i nghïa là tØ nh»ng kÈ có vai v‰ trong hŒ thÓng chính trÎ c¶ng sän .
HÆu quä thÙ ba là chính sách phøc tòng B¡c Kinh cûa nhóm cÀm quyŠn ª Hà N¶i Çã kích thích lòng yêu nܧc và xu hܧng nghi kœ " Ba TÀu " vÅn tiŠm tàng trong tâm khäm cûa ngÜ©i
dân ViŒt . ñây là m¶t mÅu sÓ chung Çang giúp cho các tÀng l§p trÈ tu°i ViŒt Nam Häi
Ngoåi nÓi k‰t v§i tÀng l§p trÈ tu°i ª quÓc n¶i . Chính s¿ nÓi k‰t này së Çem låi giäi
Çáp cho bài toán chính trÎ ViŒt Nam. Ta có quyŠn hy v†ng r¢ng ngày Çó së không còn xa
Paris tháng 12 næm 2002
VÛ QuÓc Thúc

NGÔ MINH * PHÙNG CUNG

Phùng Cung, một đời thơ 'chữ quê' đau đớn

Khoảng năm 1986, tôi được mời đi dự trại viết văn dành cho người viết văn trẻ ở Việt Trì một tháng, xong về Hà Nội nằm ở “Chòi ngắm sóng” của Phùng Quán chơi thêm cả tuần nữa.

Nhà thơ Phùng Cung - Ảnh: N.Đ.Toán
Những ngày đó ngày nào anh Quán cũng đạp chiếc xe đạp cuốc Liên Xô cao lênh khênh, giải thưởng cuộc thi viết về Lênin, truyện ngắn “Như con cò vàng trang cổ tích”, chở tôi đi ăn các món Hà Nội và thăm các đại gia văn chương như Trần Dần, Hoàng Cầm, Lê Đạt…
Một buổi sáng, uống xong tuần trà, anh bảo : “Hôm nay mình sẽ chở Ngô Minh đến thăm một người lạ lùng, người trả giá đắt nhất cho văn chương. Một người mà chỉ một truyện ngắn đã phải đánh đổi cả một đời người, một “nhà thơ chữ quê đặc sắc”- đó là anh Phùng Cung…

Nghe đến tên Phùng Cung tôi đã nhớ ngay đến Con ngựa già Chúa Trịnh, cái truyện ngắn mà ông anh trai mê văn chương của tôi ở cái làng Thượng Luật heo hút góc biển Quảng Bình ấy dấm dúi tha về không biết từ đâu bản chép tay trong cuốn vở học trò cho tôi đọc thời còn học cấp hai trường làng.

Hồi đó tôi không hề biết truyện ấy bị cấm, nên cứ đọc vô tư. Hơn nữa tôi đọc truyện mà chưa hiểu hết ý tứ sâu xa gì, chỉ thương hoài con ngựa Kim Bồng Thiên lý mã khi đã già, vì bao nhiêu năm chỉ lo phục vụ trong phủ Chúa với hai chiếc lá đa che hai bên mắt, không xông pha nơi chiến trận.

Nên khi ra trận sống mái cuối cùng ngựa Kim Bồng “chỉ trong chớp mắt nó tụt lại. Không chịu, nó càng lồng lên. Bỗng nó thấy nhói một cái ở ngang bụng như bị một nhát gươm chém mạnh. Nó ngã vật xuống, vùi đầu trong bụi lốc của đàn ngựa bay qua…”. Tôi giục anh Quán: “Đi ngay đi anh, “Con Ngựa già Chúa Trịnh” phải không ?”…

Anh Quán đạp xe chở tôi từ trường Chu Văn An bên Hồ Tây về đến 135 phố Mai Hắc Đế thì dừng lại. Cửa đóng kín. Anh Quán dựng xe đạp rồi gõ cửa nhẹ.

Một ông già thanh mảnh, lịch lãm mặc quần ngủ màu trắng, đi guốc mộc, đôi mắt thăm thẳm, long lanh hiền dịu, đeo kính lão dày cộp, ra mở cửa. Thấy Phùng Quán, gương mặt ông đang từ ưu tư căng thẳng chuyển sang tươi cười niềm nở.

Anh Quán quay sang tôi chữ nghĩa ý tứ : “Đây là nhà văn Phùng Cung, vừa mới được về với đời từ mấy năm nay”, rồi lại quay sang giới thiệu với Phùng Cung: “Thưa anh, em đưa đứa em làm thơ ở Huế quê em đến thăm anh”.

Ông bắt tay tôi rồi giục: “Vào nhà đi, đứng ngoài này nói chuyện không tiện!”. Ông dẫn chúng tôi lên gác. Tôi quan sát thấy ở ban công nhà có cây cau cảnh đặt cạnh cái vại nước nhỏ, một cảnh thu nhỏ thường ở các làng quê Bắc Bộ.


Tôi đã từng trọ học ở Kim Động, Hưng Yên, thấy nhà nào trong xóm cũng có vại nước đặt ở đưới cây cau cao ở sân dùng để rửa chân mỗi khi đi đâu về. Còn cây cau đến mùa ra hoa thơm lừng, hoa rụng lấm tấm đầy mặt nước, thơm lâng lâng.

Sau này gia đình nhà thơ Phùng Cung đã chuyển về khu vực Bưởi. Một lần tôi cũng theo anh Phùng Quán đến thăm, cũng thấy ở sân ông trồng cây cau, phía dưới có vại nước.

Trước khi nhà thơ mất vài tháng, ông chỉ cây cau và nói với một người bạn tên là Lữ đến thăm nhà: “Anh thấy không, cây cau nhà tôi èo uột, không lớn nổi vì thiếu ánh sáng. Nhưng mỗi lần nhìn nó thì tôi nghĩ đến thân phận…, và tôi càng thấy thương người dân mình hơn. Không giận ai được, chỉ có thương thôi” (Lữ - Cây cau của Phùng Cung).

“Cây cau - vại nước” là một hình ảnh đặc trưng, ám ảnh mà mỗi khi nhắc đến Phùng Cung tôi lại nhớ, lại hình dung ra gương mặt thân thuộc của ông.

Suốt buổi sáng hôm ở phố Mai Hắc Đế ấy, Phùng Cung điềm đạm pha trà, thủng thỉnh làm từng động tác một. Hình như ông vừa pha trà vừa nghĩ tới điều gì đó lung lắm. Tôi thấy ông như một thầy giáo vừa nghiêm trang vừa từ tốn.

Sáng ấy chủ yếu hai người Phùng Cung - Phùng Quán nói chuyện với nhau, còn tôi chỉ ngồi nghe. Tôi biết anh Quán cố tình gợi chuyện để Phùng Cung kể cho tôi nghe cuộc đời ông.

Phùng Cung kể chuyện đám cưới của ông do Phan Khôi làm chủ hôn, mặc dù cơ quan không đồng ý vì gia đình bên vợ thuộc “thành phần giai cấp phong kiến bóc lột”, chuyện bí mật làm thơ trong tù…

Chốc chốc ông quay sang hỏi tôi đôi điều về Cố đô Huế, như thể hiện sự quan tâm đến “khách đường xa”. Tôi thấy thỉnh thoảng Phùng Cung đang câu chuyện sôi nổi lại liếc ra cửa với thái độ rất cảnh giác.

Qua câu chuyện tôi biết Phùng Cung mới 17 tuổi đã làm Chủ tịch liên xã Hồng Châu - Liên Châu, huyện Yên Lạc, Vĩnh Yên khi Cách mạng Tháng Tám thắng lợi.

Có lẽ ông là một cán bộ xã thuộc loại trẻ nhất thời ấy. Cái xã là do ông đặt người ta vẫn giữ đến bây giờ. Vì hồi ấy ông là người cách mạng có chữ nhất trong xã. Rồi sau đó, Pháp tái chiếm Vĩnh Yên, ông lên chiến khu Việt Bắc hoạt động văn nghệ. Rồi vào Đảng.

Ông kể ông có hoàn cảnh đau buồn trong Cải cách ruộng đất, bố ông bị quy là địa chủ cường hào, bị bắt và chết trong tù Cò Nỉ, Thái Nguyên. Ông tìm đến nhà tù để thăm bố nhưng rồi phục xuống khóc và thắp nhang lạy bố, vì bố đã thành nấm cỏ trên đồi…

Sau này đọc cuốn Cát bụi chân ai của Tô Hoài (NXB Hội Nhà văn, 1992) tôi mới biết thêm một số nét về cuộc sống của Phùng Cung ở trong tù. Tô Hoài kể rằng, Phùng Cung mới ra tù, đến thăm Tô Hoài “Dáng cù rù, mặt tái ngoét, không phải Phùng Cung mà cái bóng của Phùng Cung trên tờ giấy tẩy chỉ mờ mờ. - Còn sống về được à ? - Cũng không hiểu tại sao anh ạ”…

Tô Hoài kể, tan lớp kiểm điểm văn nghệ sĩ ở Thái Hà ít lâu, Phùng Cung bị bắt tù 12 năm không có án, trong đó biệt giam 11 năm. Đã tù biệt giam, lại bị bệnh lao, thế mà không chết, mới lạ.

Có lẽ nỗi đau đó đã lặn vào hồn, vào tim, đã rèn nên tính suy tư thế sự cuộc đời vô cùng sâu sắc trong văn chương Phùng Cung chăng?
Tôi rụt rè hỏi ông: “Em đọc Con ngựa già Chúa Trịnh thấy truyện hay thế, nhân văn thế sao lại sự tình khốn khổ thế hở anh?”. Ông chớp chớp mắt, thở dài: “Chuyện dài lắm. Nhưng thôi đừng nói chuyện này nữa, Quán nhỉ…”.

Nói rồi ông đứng lên mở ngắn kéo bàn lục tìm hồi lâu mới lấy ra một tập vở bé bằng bàn tay, bìa bọc giấy xi măng cáu bẩn, cầm đến đưa cho Phùng Quán: “Sau mười hai năm, mình về với vợ con là mừng. Nghĩ đến tù đày là sợ lắm”.

Phùng Cung trầm ngâm : “Quán ạ, mình cố quên hết văn chương. Nhưng không sao quên được. Đêm ngủ thơ nó cứ kéo về trong mộng. Thế là mình thủng thẳng ghi lại từng ngày. Như là viết nhật ký. Đây là những bài thơ nho nhỏ về chuyện quê nhà.

Nhưng bây giờ thì gay rồi. Hôm qua chú công an khu vực đến chơi nhà, bỗng dưng cười hỏi: “Chào bác Phùng Cung, nghe nói dạo này bác lại viết thơ à ?”. Chỉ câu hỏi vui thế mà làm mình nổi da gà. Sợ quá.

Tập thơ này toàn hình ảnh quê, mình viết để giải khuây, không có “chuyện gì” trong đó cả. Nhưng nếu mà họ thu mất thì tiếc lắm. Nên Quán cứ giữ hộ cho mình cho chắc".

Anh Quán nhận tập vở thơ rồi nói vui: “Anh suốt ngày xoay trần làm nghề đập đinh, rồi rán bánh giúp chị Thoa để bán kiếm tiền nuôi ba con nhỏ đi học, tưởng anh đã quên mùi bút mực rồi, hóa ra vẫn còn vương vấn”.

Phùng Quán đưa cho tôi xem tập thơ chép tay. Tập vở mỏng, giấy học trò đen hùn. Trong đó mỗi trang chép một đến hai bài thơ, bài nào cũng ngắn, có bài chỉ hai ba câu, bốn năm câu giống như thơ Haicu của Nhật Bản, nét chữ Phùng Cung viết bằng bút chì rất nắn nót, hoa tay, nhưng không ghi tên tác giả. Tôi liếc bài thơ hai câu đầu tiên tựa đề là “Bèo”, bỗng nổi da gà: Thơ ghê quá, bất ngờ quá:

Lênh đênh muôn dặm nước non
Dạt vào ao cạn vẫn còn lênh đênh
(Sau này in trong tập thơ Xem đêm, câu thứ hai được ngắt ra thành hai câu: Dạt vào ao cạn / Vẫn còn lênh đênh).

Chỉ một cánh bèo quê đơn sơ thôi mà khái quát được cả một phận người! Loại thơ kiệm chữ mà đầy ngẫm nghĩ này hiếm lắm, quý lắm. Tập thơ nhỏ hút hồn tôi.

Thế là tôi vừa tò mò lắng nghe hai ông anh nói chuyện với nhau, lại đọc ngấu nghiến hết cả tập thơ. Có thể nói lần đầu tiên tôi được tiếp xúc với một loại “thơ quê” ấn tượng như thế. Nó vừa dân gian vừa bác học, vừa tâm can vừa chữ nghĩa.

Áo cũ gối đầu / Đêm tỉnh giấc / Sao khuya dạt chân rêu / Lạnh biếc / Bầu buông chày ngọc/ Cõi Lam Kiều / Về bên góc sân con (Góc sân con); Đêm về khuya/ Trăng ngả màu hoa lý / Tiếng gọi đò căng chỉ ngang sông (Đò khuya); Quất mãi nước sôi / Trà đau nát bã / Không đổi giọng Tân Cương (Trà)…

Chao ôi là chữ! Rất nhiều, rất nhiều, toàn chữ quen mà quá lạ. Người ta nói mồ hôi da chứ ai nói mồ hôi xương? Vậy mồ hôi xương là mồ hôi gì? Có lẽ đó là những giọt mồ hôi cuối cùng của con người lao lực, bị vùi dưới đáy xã hội chẳng ai quan tâm.

Rót nước vào ấm trà là “quất nước sôi”, “quất” chứ không phải “rót”. “Quất” là “đánh”. Đánh đến mức trà mới “đau nát bã”. Nhưng kỳ diệu là “không đổi giọng Tân Cương”. Phải chăng ông đang nói về đời mình!

Lao động thơ ghê gớm lắm mới chiết ra được những chữ quê hút hồn người như thế. Có lẽ ông đã nghĩ đến những con chữ ấy bao nhiêu lần trong những năm tháng ngồi một mình nơi biệt giam. Nó giống như gỗ lũa.

Vâng, đời chữ là đời người. Chữ của Phùng Cung là chữ đẻ ra, luyện nên từ cánh đồng, bờ tre, mái rạ, hương lúa, hương cau, ánh sáng đom đóm, từ đớn đau, chiêm nghiệm một đời người trầm luân khổ ải.

Tôi cứ nghĩ, chữ ấy mới là chữ của hồn thơ Việt. Thơ là để cho người đọc xúc động, chia sẻ, thơ phải làm cho người đọc nổi da gà, ứa nước mắt, mới là thơ thật.

Thơ Phùng Cung “ý tại ngôn ngoại”, là loại thơ làm người đọc nổi da gà! Phùng Cung gọi mùa nước lụt là mùa nước mắt là rất thật đối với người nông dân đồng bằng sông Hồng, cũng như chính đời ông: Đê tiền triều gãy khúc / Đồng ngập trắng / Con lềnh đềnh cõng - vắng - bơi - suông / Thương em đứng giữa mùa nước mắt. Không phải đó là sự quan sát, ghi nhận, mà đó là tâm cảm, là chiêm nghiệm, chiêm cảm.

Trên đường về lại Hồ Tây, tôi bảo anh Quán: “Anh để em giữ tập thơ này cho. Anh giữ cùng chưa chắc an toàn”. Anh Phùng Quán đồng ý. Thế là tôi mang vào Huế.

Năm 1988, nhờ không khí đổi mới, tạp chí Sông Hương do nhà văn Tô Nhuận Vỹ làm Tổng biên tập đã đăng rất nhiều thơ, truyện ngắn, bài viết về “đổi mới văn chương”.

Tôi đã chọn hai chùm thơ Phùng Cung và đưa tập thơ viết bút chì của Phùng Cung cho nhà văn Nguyễn Khắc Phê, lúc đó là phó Tổng biên tập Sông Hương, sau này một giai đoạn là Tổng biên tập.

Tạp chí Sông Hương năm 1988 đã hai lần giới thiệu thơ Phùng Cung với những bài như Nghiêng lụy, Bèo, Người làng, Chiếc lá rụng, Cô lái đò, rút trong tập thơ chép tay ấy.

Có thể nói văn chương Phùng Cung lần đầu tiên sau 32 năm kể từ Con ngựa già Chúa Trịnh (1956) mới được xuất hiện trở lại, đã gây ấn tượng mạnh đối với độc giả Sông Hương. Chắc chắn những ngày cuối năm 1988 ấy ông vui lắm.

Gần đây tôi mới biết, khi nhà thơ Phùng Quán còn sống, một lần nữ nhà văn Hà Khánh Linh ở Huế ra, anh Phùng Quán cũng dắt đến thăm nhà thơ Phùng Cung ở Bưởi.

Buổi trưa hôm đó Phùng Cung, Phùng Quán và ông Nguyễn Hữu Đang mời cơm Hà Khánh Linh. Tại bữa cơm ấy Phùng Cung cũng đưa cho Hà Khánh Linh một tập thơ chép tay như thế, nhưng viết bằng bút mực, chứ không phải bút chì. Có lẽ để nhờ chị giữ hộ chứ không phải tặng, vì không thấy đề tặng.

Khát vọng
Ai giùm tôi thủ tục làm
vô tận
Thỏa thích trải trời xanh
cõi không cùng
Tôi khát khao huy động
Những chùm sao đẹp
Đêm về lung linh trên xóm nghèo sao
Ăn năn
Vạn thuở hồn cỏ xanh
Mặt đất thơ gắn bó
Bất hạnh nào hơn
Già rụi quê người
*
Lúc ra đi
Đãy quê thao thức gối đầu
Trót - dông dài - trăng nước
Mặt - va giông chớp
Rạc mái phong lưu
Gót nhọc
Men về thung cũ
Quỳ dưới chân quê
Trăm sự cúi đầu
Xin quê rộng lượng
Chút thổ phần bò xéo
cuối thôn !
(Rút từ tập Xem đêm - Phùng Cung)
Tập thơ gồm 106 bài chép trên giấy in rô-nê-ô màu vàng rơm, bìa tập vở học trò bọc giấy can bản vẽ cũ.

Ở trang đầu cuốn vở đề tên là Phó Châu. Có lẽ thơ ghi trong hai cuốn vở mà tôi đã đưa cho tạp chí Sông Hương và chị Hà Khánh Linh đang giữ đã được chọn vào tập Xem đêm (200 bài, NXB Văn hoá thông tin 1995).

Nhưng kẹp trong tập thơ chép tay chị Linh đang giữ còn có bài thơ mới làm ghi trên hai mặt một tờ giấy cũ là bài Chiều cun cút, nhưng không thấy trong tập “Xem đêm”: Áo song chàng / Nón lá / Phới về quê / Dệt dạt tối ngày khoai dáy / Lúc thảnh thơi / Quần vận khấu bò / Rong ruổi chốn rau dưa / Tôi gõ rỗ/ Khe khẽ ê a / Chiều cun cút / Một mình / Không lửa không đèn / Nhòm nhõm thâu đêm / Chết thèm cái bóng / Xa là trời sao / Gần là đom đóm. Mới hay, gửi cho bạn bè giữ hộ là cách “lưu trữ” thơ của Phùng Cung. Ông phải chép thành nhiều bản để đề phòng bị mất…

Tôi rất vinh hạnh được gặp Phùng Cung một số lần nữa ở nhà Phùng Quán. Ông vẫn từ tốn, đĩnh đạc, như cuộc đời chưa từng bị phong ba bão táp gì. Bao giờ cũng cười tủm tỉm với ánh mắt chứa chan đồng cảm.

Ông cùng mang họ Phùng, nhưng không có huyết thống với Phùng Quán. Phùng Cung quê ở Sơn Tây còn Phùng Quán quê ở Huế.

Trong “đám” tài tử thời ấy, cho đến khi “nằm dài dưới đáy huyệt”, hai người Phùng Cung - Phùng Quán luôn thủy chung son sắt.

Phùng Quán ngưỡng mộ Phùng Cung vì đó là một người luôn sống và viết thực lòng mình, đó là một người anh cả về tuổi tác cũng như tài năng văn chương chữ nghĩa.

Phùng Quán đã làm hết sức mình để tập thơ Xem đêm của Phùng Cung ra mắt độc giả. Còn Phùng Cung thì luôn yêu thương, tin cậy đối với Phùng Quán, coi Phùng Quán như một người em chí cốt.

Nên khi Phùng Quán mất, Phùng Cung là người được bạn bè và gia đình Phùng Quán chọn mời làm trưởng ban tang lễ. Ông đã đọc bài điếu văn “Sống là thể phách, còn là tinh anh” cực kỳ cảm động và súc tích. Bài điếu văn ấy cũng là một áng văn chương tình nghĩa và đẹp thâm hậu mà tôi đã đưa lên trang đầu trong tập sách “Nhớ Phùng Quán” (NXB Trẻ 2002).

Trong tôi, Phùng Cung luôn là một nhà thơ tầm cỡ, một nhà văn có bản lĩnh sáng tạo và nhân văn đặc sắc. Tiếc là văn chương của ông đã không được đến nhiều với độc giả.

Tôi cứ mong ước lúc nào đó xuất bản một tuyển tập văn thơ Phùng Cung chắc thú vị lắm... Nhưng đến bao giờ? Trong tập thơ Xem đêm có một bài thơ nhà thơ nhắn gửi với những người làm thơ hôm nay, đó là bài Tội nghiệp.

Để kết thúc bài viết, mời bạn đọc cùng tôi đọc lại bài thơ đó: Tội nghiệp nhà thơ / Hợm mình / Lầm lạc / Biết không biết sống / Nên không biết chết / Nửa thế kỷ / Bị lưu đày / Trong cõi tung hô… Tôi biết ông đang nói điều gì!

Huế, 3/2008

Ngô Minh

VÕ KỲ ĐIỀN * HOA ĐÀO


bao, đầu tóc mới hớt gọn ghẽ, lại đi chơi với dược sĩ Thâu, rể ông đại sứ
nổi tiếng, hổng lẽ tôi lại ở nơi thôn quê. Nói như vậy thì ai cũng có thể
nói được. Nhưng tôi cố nhớ lại coi hồi nhỏ tôi có ở nhà quê hay không,
quả là không có. Tôi được sanh ra tại đảo Phú Quốc, cái đảo nhỏ xíu như
một thôn xóm nghèo, tuy vậy nhà tôi cũng ở ngay tại chợ, thị trấn Dương
Đông. Rồi nhà được dọn vài ba lần, lần nào cũng vậy, mở cửa ra là thấy
chợ ở ngay trước mắt. Tôi kiên nhẫn chờ nghe tiếp .
-Năm ngoái ông bị đụng xe, may là không nguy hiểm tới tính mạng.
Tôi chợt nhìn xuống khuỷu tay, vết thẹo còn lộ đỏ sau một lần té xe rất
nguy hiểm từ trên dốc Lò Chén. À thì ra, ổng nhìn thấy vết trầy nầy, bận
áo tay ngắn, cái thẹo chần dần như vậy, ai mà không thấy.
-Dạ, dạ, cụ nói đúng, năm ngoài tôi bị nặng lắm, xém chút nữa là nguy rồi,
nhờ phước đức ông bà....
-Tuy nhà ông ở ngay tại chợ nhưng sau nhà lại có vườn cây.
Trời đất ! mới nhìn có tôi có chút xíu mà nói được cái vườn sau nhà, cũng
lạ. Sách tướng tôi cũng đã từng đọc qua vài cuốn, có chương nào chỉ cách
nhìn mặt mũi tay chưn mà tả được cảnh vật trước hoặc sau nhà ? Bỡi chi
tiết nầy khó thể có được. Miền Nam mình, tỉnh nào cũng vậy, đường đất
phố xá nhỏ hẹp, nhứt là phố chợ, đất dư tính từng tất, dành để buôn bán
làm ăn, chỗ nhiều đâu mà trồng cây ăn trái… Tôi thấy quả ông cụ có tài lạ,
tuy vậy chuyện cái nhà, cái vườn có gì quan trọng, nói tới nói lui làm chi ?
-Nếu ông không ở trong căn nhà như vậy, thì đã nguy hiểm tới tính mệnh.
Tôi ngồi im, chuyện nầy cũng không biết ra sao nữa, khoa địa lý dương cơ
có nhiều điều không thể nghĩ bàn. Ông cụ vẫn bình thản, không cần hỏi
tới năm tháng ngày giờ sanh, miệng vẫn nói đều đều, thong thả :
-Hiện tại ông làm nghề dạy học, dự định đổi đi nơi khác, lần đầu không
được lần sau sẽ được….
Tôi giật nẩy người, đầy mình mọc gai óc. Làm sao ông cụ biết tôi làm nghề
dạy học, chỉ bao nhiêu đó thôi quả là tay cao thủ. Tôi vừa ở quân trường ra,
sau ba tháng thụ huấn quân sự, tóc hớt ngắn, da đen thui, tay chưn còn dính
đầy nắng gió. Năm Mậu Thân cuộc chiến tàn khốc, hầu hết thanh niên cở
tôi đều vào quân đội. Nếu nhìn dáng vẻ bên ngoài mà đoán tôi là sĩ quan
thì dễ đúng hơn. Đâu có nét nào giống thầy giáo. Rồi làm sao biết được tôi
đang xin đổi nhiệm sở, hồ sơ hiện bị trở ngại. Chắc bạn mình đã nói lỡ nói
trước với ông già nầy hết trơn rồi, tôi liếc qua Thâu. Thâu tỉnh rụi, thấy
ông cụ nói không điểm nào trật, khoái chí ngồi cười cười… Rồi lại suy
nghĩ, ổng coi cho mình, tốn công tốn sức, có lấy đồng xu cắc bạc nào, nói
gạt, nói dối làm chi.
Lời nói cụ đều đều, thong thả, chuyện quá khứ, chuyện tương lai, công
danh, khoa bảng, tiền của, sự nghiệp, bạn bè, tai nạn, bịnh hoạn… sẽ như
thế nầy, thế kia, tôi vâng dạ liền miệng. Có đoạn ông cụ nói năm gần bốn
mươi tuổi tôi sẽ sống ở nước ngoài, một xứ phương Bắc rất lạnh và xài tiền
bằng Mỹ Kim, tôi đâm tức cười, không biết là ông còn thức hay đã ngủ,
nói mê….
Nhưng mấy cái chuyện xa vời đó có quan trọng gì tới tôi đâu, cái mà tôi
đang chờ để biết là chuyện gia đạo tình duyên mà, nóng ruột hết sức, tôi
rụt rè ngắt lời :
-Dạ, dạ, nhờ cụ coi dùm chuyện gia đạo vợ con ra sao, hiện tại tôi còn.. một
mình.
Ông cụ nhướng cặp mắt tí xíu lên, nói rõ ràng như thấy cô vợ tương lai của
tôi trước mặt :
-Người vợ tương lai của ông, học hành như thế nầy, gia thế, nhà cửa thế
nầy.., cùng nghề nghiệp với ông.
-Dạ thưa cụ, theo như cụ nói thì không dám đâu. Tôi ở tỉnh nhỏ, học ít, chỉ
muốn tìm người trẻ tuổi và học kém hơn một chút ..
Ông cụ không trả lời, mắt hình như nhắm lại. Tôi nhớ lại từ đầu buổi cho
tới giờ, chuyện quá khứ thì rất đúng nhưng không có gì đặc biệt, tôi ở
trong nhà nầy hay nhà kia, làm thầy giáo hay sĩ quan thì cũng vậy, còn
chuyện tương lai thì chưa biết ra sao. Duy chuyện vợ con thì hơi lạ, tôi nghĩ
là ông cụ nói trật vì hồi nào tới giờ chưa bao giờ tôi để ý tới bạn gái đồng
nghiệp. Tôi vốn rất sợ cô giáo và những người đàn bà thông minh, học
giỏi hơn mình...
-Thưa cụ, xin cụ cho biết chừng nào tôi mới cưới được vợ ?
Ông cụ không trả lời ngay câu hỏi, chợt mở mắt ra, phán cho một câu dứt
khoát, khiến tôi sửng sốt như bị tạt một gáo nước lạnh :
-Đám cưới ông hầu như không có.
Trời đất, thiệt vậy sao? Thiệt vậy sao, tôi nghe lỗ tai lùng bùng. Chuyện
cưới vợ đã trầy vi tróc vảy, rồi tại sao sẽ gặp một cô giáo nghiêm trang…
rồi lại không có đám cưới. Hàng trăm câu hỏi tại sao, tại sao trong đầu. Tôi
cảm thấy mồ hôi rịn ra đầy mặt. Sao kỳ cục vậy, căn cứ vào đâu mà cụ dám
nói như vậy. Tôi nhìn thẳng vào mặt, thấy cụ vẫn bình thản, cụ nói thiệt
tình mà đâu phải nói chơi.
Tôi hỏi tiếp, giọng hơi khó chịu ...
-Dạ thưa cụ, tại sao lại không có đám cưới, có phải tôi không đủ tiền cưới
vợ ?
-Không phải, nhà ông thiếu gì tiền.
-Vậy tại sao, nếu có đủ tiền tại sao tôi lại không làm đám cưới. Thú thật
với cụ, tôi mà thương ai, dù người đó mang bầu hay có con rồi, tôi cũng sẽ
làm đám cưới chánh thức, đàng hoàng. Tại sao tôi lại sợ dư luận mà không
làm đám cưới, lại dắt con người ta đi không….
Khi nói đến đây, tôi nhớ lại giai đoạn đó ở tỉnh nhà, bạn bè nhiều lắm, đứa
nào cưới vợ tôi đều sẵn lòng giúp đỡ. Vừa cho mượn xe, vừa làm tài xế,
vừa làm rể phụ, hổng lẽ tới đám cưới mình, không ai tham dự. Ngày cưới
tôi phải vui vẻ và đông đảo bạn bè thân tình chớ. Ông cụ chấm dứt bằng
lời nói giận dỗi:
-Cái mặt ông làm gì dám dắt ai !
Rõ ràng là ông cụ nói nhiều điều vô lý, tôi không còn kiên nhẫn ngồi
nghe tiếp nữa, đâm ra vô phép, đứng dậy và nói giọng hờn mát :
-Tôi không dám dắt ai, tôi lại có tiền, vậy hỏi cụ, tại sao lại không làm đám
cưới cho vui. Tại sao tôi không làm….
Ông cụ không trả lời, khoát tay đuổi tôi và Thâu ra cửa. Tôi cúi đầu cám ơn
từ giả cho có lệ, rồi đi thẳng, bụng không vui. Giửa trưa nắng thiệt nóng và
xe cộ ồn ào, mùi khói xăng khét lẹt, trong phút chốc những lời tiên đoán
của cụ già bay mất tiêu hết, tôi không còn muốn nhớ nữa. Trật lất rồi, nhớ
nữa làm chi. Ngồi trên xe, Thâu phân trần:
-Bạn biết không, mấy ông hồi nảy toàn là Bộ Trưởng hay Tổng Giám Đốc
gì đó. Ông cụ là thầy tướng riêng cho Tổng Thống với Thủ Tướng, nhưng
bửa nay sao ổng nói trật tới trật lui, tôi cũng thấy kỳ cục, nhiều việc không
đúng, chắc ổng bịnh hoạn hay đương lo việc gì đó, nhớ trước quên sau….
Tôi bộp chộp kết luận một câu ngon lành :
-Thâu nè, bạn tin tôi đi, không bao giờ tôi cưới cô giáo hết và sẽ làm đám
cưới thiệt lớn để rủ bạn bè nhậu một bửa cho vui. Đời người chỉ có một lần
cưới vợ, tại sao lại không làm, không lớn thì nhỏ chớ, tại sao lại im ru bà
rù… Tôi tin đời có định mạng nhưng cũng tin con người có tự do.

Và tôi có tự do thiệt tình khi làm quen với D, không bị ai ép buộc cả. Sau
ngày đám hỏi, tôi xuống Sài Gòn đến gặp ông già vợ tương lai. Ông trẻ
hơn ba tôi nhiều. Cũng vậy, vợ tôi nhỏ tuổi hơn tôi nhiều lắm. Những gì cụ
Diễn nói về nàng đều đúng, không trật một điểm nào. Cho đến bây giờ tôi
cũng không biết tại sao tôi lại liều gan kết hôn với một cô giáo, từ nào tới
giờ tôi vốn kỵ mà. Tôi có kinh nghiệm về việc nầy, mấy thằng bạn tôi có
vợ cô giáo, một thời gian sau đều trở thành học trò ngoan ngoản các cô hết
trơn. Dầu biết rất rõ nhưng giờ đây tôi cũng tình nguyện làm y như vậy.
Đúng là số mạng, chạy trời không khỏi nắng.
Hôm đó là những ngày sau Tết, nhà nàng còn chưng đầy bông hoa. Cái
bình sứ cổ đời Khang Hy thật lớn dùng cắm cành mai to bằng cổ tay cao tận
nóc nhà. Tôi nhìn sững những câu thơ ngoằn ngoèo nét thảo lòi tói và
buộc miệng - cái bình nầy quí lắm đầy rạn da qui, ba dùng như vầy rủi ro
nó bể thì sao. Ông già vợ tương lai cười, làm sao bể được con, ba chưng như
vậy cả chục năm nay rồi, có sao đâu. Mấy đứa em vợ bu quanh chờ ông anh
rể quí chở đi ăn mì. Cả nhà quây quần ấm áp, tiếng nhạc vang vang đầy
nhà. Nhà sắp có đám cưới mà, không vui sao được.
Ông già lắng nghe giọng Khánh Ly trầm ấm vang lên từ chiếc máy nhạc, tự
nhiên quay qua tôi- nè nè, con nghe nè, mấy ông văn nghệ sĩ nói chuyện,
viết lách thiệt là hay, cái gì mà… giọt nước mắt rơi thành hồ nước long
lanh... Câu nói chưa hết, D. lại xí xọn xen vô, bản nầy là Như cánh vạc bay
của Trịnh Công Sơn đó ba.
Ông vừøa cầm ly rượu sóng sánh màu hổ phách, vừa lẩm bẩm - Như cánh
vạc bay, à, à cánh vạc bay ra làm sao, tượng trưng cho cái gì, thiệt tình ba
không hiểu. Rồi khóc mà tới thành hồ nước long lanh - thì thiệt là viết
khéo hết sức, viết được tới như vậy thì trên đời hổng có mấy tay. Rồi ông
ta bàn tiếp - con nghĩ coi giọt nước mắt có chút xíu, mà làm đầy cả hồ nước
là phải khóc nhiều lắm đó nghen...
Tôi ngạc nhiên, ông là tay buôn bán già đời, suốt ngày chỉ thấy cộng trừ
nhân chia, tại sao không chịu nói chuyện tiền bạc, nhà đất, của cải, tự
nhiên hôm nay sao lại nổi hứng bàn chuyện thơ văn, nghĩ cũng lạ. Bất ngờ
ông hỏi tôi, giọng ngọt ngào :
–Nè nè, ba nghe nói con dạy văn chương. Vậy có bao giờ con viết văn hay
làm thơ gì không ?
Tôi còn đang giai đoạn ở rể, phải cố gắng lấy điểm để làm vừa lòng ông
già vợ. Câu hỏi khiến tôi giựt mình –như vậy là ông ta khen hay chê Trịnh
Công Sơn ? Câu trả lời tôi phải như thế nào cho đúng. Trời đất ơi, nhằm cái
lúc vui vẻ nầy mà vợ tôi lại cho hát cái bản nhạc mắc dịch đó làm chi. Câu
hỏi ngọt ngào như viên thuốc bọc đường có phải là viên thuốc độc ? Tôi
phải trả lời sao cho vừa ý ông đây ?
Hồi nào tới giờ quả tình là tôi không biết viết văn hay làm thơ. Nhưng nếu
cần nói láo để được vợ thì tôi cũng phải liều gan nói đại. Nhưng mà, câu
hỏi độc địa nầy hình như có liên quan tới cái ý nói láo đó. Khóc mà tới đầy
cả hồ nước thì là nói láo rõ ràng, ai ai cũng thấy. Nhưng nhạc sĩ Trịnh Công
Sơn đã viết ra như vậy và cả nước coi nhạc sĩ nầy là thiên tài, nhạc ông
vang rền ngập từ chợ đến quê, ban ngày cũng như ban đêm… Nhưng nói
láo nhận mình là văn nghệ sĩ thì khác, không giống kiểu nói láo trong thơ
văn….
Tôi còn đang ấp úng tìm câu trả lời thì may quá, bà già vợ đi đâu sợt sợt trở
về, thấy tôi bà nói một hơi không kịp thở :
-Con về trình lại với anh chị ở trển, ba má đã về Dĩ An nhờ thầy coi ngày
cưới rồi . Ông thầy nầy ngày xưa coi cho ba má đó, coi kỹ lắm, ổng tìm
được ngày tháng đại lợi, tụi con sẽ ăn đời ở kiếp với nhau, giàu sang phú
quí, tử hiếu tôn hiền….
Nói xong bà lục trong túi đưa cho tôi tờ giấy đỏ, đầy chữ viết run rẩy của
một cụ già, nghe đâu đã trên chín chục. Rõ ràng là ông thầy Dĩ An coi ngày
cưới hỏi thiệt hay, thời gian đã chứng minh được tài năng của ông. Ông bà
nhạc gia tôi sống chung nhau cho tới bây giờ, tiền bạc nhà cửa sung túc,
con cháy đầy đàn, chưa hề biết đến chuyện ly dị khổ tâm, đau đớn ra làm
sao.
Tôi cầm lấy tờ giấy coi ngày cưới, thời gian còn lâu tới bốn năm tháng
nữa, hơi bực mình nhưng nhớ lời dặn dò của ba tôi – theo tao ngày nào
cũng tốt hết, ổng bả muốn trễ sớm lúc nào cũng được, miễn mầy cưới được
vợ thì thôi, lần nầy mà mầy kiếm chuyện để cho trục trặc nữa là kể như
suốt đời không có vợ đó con. Tôi đã thấm thía chuyện hôn nhân trễ muộn
mà cũng đâu cần ba tôi dặn, năm nay tôi đã ba muơi lăm tuổi rồi, tôi đâu
còn ngu mà cà khịa, giận lẫy, kiếm chuyện kiểu con nít như hồi mười tám,
hai mươi….
D. đưa cho tôi cục kẹo, tôi ngậm vào miệng, cắn nhẹ thấy có rượu mạnh
bên trong. Cuộc đời quả cũng có ngọt ngào, tuy rượu ít nhưng cũng khiến
tôi ngây ngất. Đường Trần Hưng Đạo trước nhà, nắng sáng trong, xe chảy
thành dòng. Nhớ tới lời tiên đoán cụ Diễn ngày nào - đám cưới ông hầu
như không có ! Tôi bật cười. Cụ ơi, đám cưới tôi hã, chắc chắn sẽ rất vui,
đông đủ bạn bè, bà con thân thuộc hai bên, làm sao không có, làm sao mà
nhỏ cho được. Nội bên vợ, anh chị em D. nếu đếm sơ sơ cũng đủ một chục
đủ đầu rồi, nói chi bên gia đình tôi, nội ngoại, sui gia, dâu rể… rồi tới hàng
xóm láng giềng, toàn người thân tình ơn nghiã, đâu thể nào không mời
người ta đến chung vui.

Sau ngày 30 tháng 4, tôi len lỏi trong đám đông hỗn loạn ngơ ngác, xác xơ,
tìm đường xuống Sài Gòn, đến nhà vợ chưa cưới. Vừa gặp tôi, D. ôm chầm
lấy và mừng rỡ. Trong cơn biến động mấy ngày qua, chuyện liên lạc khó
khăn gián đoạn, nàng tưởng là tôi đã thoát ra khỏi quê hương và đành
đoạn bỏ nàng lại một mình, đi biệt tích. Tôi không biết nên cười hay nên
khóc. Tôi trình bày cho ông bà già vợ chuyện tang thương dâu bể xảy ra
trên nhà tôi, tất cả những dự định tương lai đầy màu hồng ngày nào trở
thành xám đen, tan nát hết. Ba vợ tôi an ủi :
-Con đừng bi quan quá, dù gì đất nước mình cũng không còn chiến tranh,
mọi sự rồi sẽ ổn định. Lúc đó mình buôn bán làm ăn trở lại….
Trời đất, chế độ nầy mà ổng còn hy vọng buôn bán làm ăn như xưa! Mọi
sự sẽ ổn định, đúng rồi, đống máy cày của ổng đâu còn chưng bày ra ngoài
hành lang như lúc trước, mà đem giấu tận phía sau nhà. Chị em D. ngày nào
quần là áo lụa, trang điểm kỹ lưỡng từ đầu đến chưn, nay cũng bắt chước
mặc bộ bà ba đen giống như mấy cô thôn nữ chỉ thiếu chiếc khăn rằn vắt
trên vai. Mấy đứa em trai ngồi im lìm, không còn chạy giởn la hét vang rân
như ngày trước.
-Thưa ba má, nhà cửa, công danh, sự nghiệp, tiền bạc bây giờ kể như mất
mát hết rồi, ngay cả thân mạng con cũng không còn biết ra sao. Bửa nay
con xuống thưa với ba má là chuyện hôn nhân của con và D. phải hoãn
lại… cho tới chừng nào, chừng nào… con cũng không biết nữa. Cũng có
thể là không bao giờ.
Nói tới đây tôi nghe D. khóc rấm rứt, rồi không cầm được nước mắt, tôi
cũng khóc theo. Bà già vợ tôi cũng thúc thít nhưng còn rán nói :
-Đâu được con, đám cưới tụi con không làm lớn được thì mình làm nhỏ, vợ
chồng phải có cưới hỏi đàng hoàng chớ con !
Hoàn cảnh đất nước quê hương hổn loạn, tang tóc như vậy mà làm đám
cưới, dù làm nhỏ thế nào đi nữa, dù cố gắng cho lắm cũng không thể làm
được, mà coi cũng không được. Tôi trả lời ngay :
-Thưa má, con không biết bị bắt ngày nào, bây giờ chỉ còn lo chuyện chết
sống, tù đày, sống chỉ biết được ngày nay, không biết ngày mai ra sao, còn
đầu óc đâu mà nghĩ tới chuyện gia đình riêng tư nữa.
Tôi tiếp - chế độ nầy sắt máu lắm, chuyện vui không có mà chuyện buồn
thì nhiều, con nghĩ là mọi sự bế tắc, miền Nam mình thua trận rồi. Mà quả
vậy, đầu óc tôi lúc đó đặc sệt như chì, không tìm ra giải pháp nào ổn thoả
hết. Đi không được, ở không được, sống không được mà chết cũng không
được luôn. Tôi có cảm giác thua cuộc, bất lực, thất bại, tê liệt như con kiến
bò trên bờ chảo nóng, lanh quanh bò hoài cũng không ra khỏi miệng chảo.
Ông già vợ trầm ngâm một hồi, thở ra :
-Ba hiểu rồi, thiệt là cơ khổ. Nhưng chuyện nhơn duyên là chuyện lớn đời
người, không thể vì vậy là hai con không thành chồng vợ. Con về thưa với
anh chị, ba má dưới nầy không đòi hỏi gì cả, cũng không cần có đám cưới.
Tới ngày đó, ba má nấu một mâm cơm gia đình, chỉ cần có mặt anh chị và
ba má chứng kiến cho hai con lạy bàn thờ, xin phép ông bà tổ tiên để kết
duyên thành chồng vợ là đủ.
Tôi ngắc nga, ngắc ngứ - rồi đồ cưới, khăn áo hoàng hậu, nhẫn cưới cho cô
dâu, rượu trà, xe hoa… Ông nói - con không cần đem xuống gì cả, kể như
là ba má và em con đã nhận lễ vật đầy đủ rồi, đời bây giờ nhiều chuyện
rối rắm lắm, đừng có lo nghĩ thêm chi cho mắc công….

Ngày 30-5 năm 1975 nghiã là sau ngày mất nước một tháng, tôi cưới vợ và
đám cưới hầu như không có. Bên nhà vợ tôi nấu một mâm cơm cúng tổ
tiên, ông bà, hai đứa tôi lạy bàn thờ rồi lạy tứ thân phụ mẫu, ba má tôi và
ba má D. ngồi trên bốn cái ghế đẩu nhỏ sắp hàng ngang trước bàn thờ. Chỉ
có người nhà và không có ai lạ. Vậy là xong lễ thành hôn. Trong khi hai
bên sui gia gặp nhau, cửa nhà đóng kín kỹ lưỡng, sợ công an khu vực vô
phá đám, xui xẻo, hàng xóm không ai biết bên trong chúng tôi đang làm
việc gì. Ngày hôm sau tôi về Bình Dương, lén dắt vợ đi chào và trình diện
với những thân bằng quyến thuộc. Dù hết sức đơn giản nhưng tôi cũng có
vợ đàng hoàng tử tế, đầy đủ lễ nghiã !

Khi viết những dòng chữ nầy thì ông già vợ tôi đã mất từ lâu. Nhưng tôi
vẫn nhớ rõ những lời ông nói, tình thương ông cho tôi dù bao nhiêu nước
chảy qua cầu, cuộc đời dâu biển, tôi vẫn thương ông như thương cha ruột
tôi vậy.
Cụ Diễn cũng đã mất rồi, những lời tiên đoán của cụ ngày nào vẫn còn
mãi mãi bên tai, làm sao tôi quên được. Tôi nợ cụ nhiều lắm, bây giờ làm
sao trả đây. Không phải là nợ vật chất, tiền bạc, gói trà hay chai rượu mà
tôi nợ cụ lời xin lỗi chân thành cùng lời khen ngợi tài năng cao xa của cụ.
Cái lỗi ngu si của tôi rất lớn, ngày đó tôi còn quá trẻ chưa hiểu đời là gì,
đã dám hoài nghi những điều mình chưa biết.
Toronto, ngày 30 /9/2002
Võ Kỳ Điền

VŨ THỊ DẠ THẢO *GIA TÀI CỦA MẸ

TruyŒn ng¡n VÛ ThÎ Då Thäo
Gia tài cûa mË
 
Th¢ng Cau choàng m¡t thÙc dÆy. Ánh n¡ng ban mai cûa vùng núi rØng Bän GiÓc xuyên qua kë hª gi»a nh»ng tÃm vách nhà làm b¢ng phên nÙa khi‰n nó bi‰t hôm nay mình l« thÙc dÆy quá trÍ.
Th¢ng bé tung chi‰c chæn nhà binh cÛ kÏ, thûng nhiŠu l‡, ngÒi dÆy, chui ra khÕi chi‰c mùng tä tÖi vá ch¢ng, vá Çøp Çã Ç°i sang mÀu cháo lòng. Chi‰c chõng tre dܧi sÙc n¥ng cûa th¢ng bé 15 tu°i v¥n mình kêu c†t kËt.
Th¢ng Cau xÕ chân vào Çôi dép râu, quà cûa m¶t chú công an biên phòng Çã Ç°i lÃy mÜ©i quä trÙng gà cûa nhà nó vào khoäng hai tháng trܧc. HÖi lånh tØ cái nŠn nhà b¢ng ÇÃt nŒn lÒi lõm toä lên khi‰n th¢ng bé hÖi rùng mình.
Có ti‰ng húng h¡ng ho, cùng ti‰ng rên hØ hØ cûa chÎ BÜng, mË nó, trong cái chõng tre ª góc nhà v†ng låi phû trên. Th¢ng Cau bܧc t§i bên giÜ©ng mË, vén chi‰c mùng nhà binh, cÛng vá dúm dó, tŒ håi lên thæm chØng. Nhìn gÜÖng m¥t xanh xao, vàng v†t và thân mình run cÀm cÆp trong chi‰c chæn då mÕng cûa mË, tim th¢ng Cau b‡ng nhói lên. Nó g†i khë:
- MË! MË có Ç« tí nào chÜa?
ChÎ BÜng cÓ hé Çôi m¡t mŒt mÕi, nhìn con. NgÜ©i lånh run, hai hàm ræng chÎ va vào nhau lÆp cÆp:
- MË ...vÅn còn... rét quá! Ch¡c ...h† ÇÜa thuÓc giä cho... con rÒi! Hôm nay... con cÓ lên ÇÒn công an, hÕi ...xin mÃy chú cho mË vài viên kš-ninh thÆt...nhá con!
Th¢ng Cau buÒn bã gÆt ÇÀu:
- Con hâm cháo cho mË æn nhá?
- MË... mŒt l¡m! Không... muÓn æn... gì cä.
Th¢ng Cau buông tÃm mùng xuÓng. Nó ra vách nhà, lÃy chi‰c áo kaki b¶ Ƕi móc trên cây Çinh, khoác vào ngÜ©i, rÒi mª tÃp phên cºa lách ngÜ©i Çi ra ngoài.
N¡ng mai chan hoà nÖi mänh vÜ©n rau tÜÖi tÓt bên hông nhà khi‰n th¢ng bé chói m¡t. Nó vÜÖn vai làm mÃy Ƕng tác cho máu huy‰t lÜu thông, cùng hít thª làn không khí trong lành cûa rØng núi bình minh. Có ti‰ng gió rung cây xào xåc, ti‰ng chim kêu, vÜ®n hú, cùng ti‰ng thác Ç° tØ xa v†ng låi.
Th¢ng Cau ÇÜa m¡t nhìn bao quát giang sÖn cûa hai mË con nó. M¶t gian nhà tranh, m¶t chái b‰p. M¶t gi‰ng nܧc, mt giàn mܧp sai trái, mÃy luÓng lang bò rÆp råp, m¶t vÜ©n rau xanh tÓt, vài chøc gÓc khoai mì Çang có cû, và m¶t cái chuÒng gà r¶ng Çû chÙa mÜÖi con gà mái, hai con gà trÓng và m¶t Çàn gà con ríu rít.
Mänh giang sÖn nhÕ bé, khiêm nhÜ®ng này là do công ông bà ngoåi nó, môt gia Çình trܧc ª thành phÓ Hà N¶i, thu¶c diŒn bÎ nhà nܧc b¡t Çi kinh t‰ m§i, ÇÜa lên Çây Ç‹ khai phá, t¿ l¿c cánh sinh..
BÓ nó là tài x‰ chåy xe täi ª Häi Phòng, Çã ch‰t sau m¶t trÆn Óm kÎch liŒt. MË nó Çành phäi
b‰ nó vŠ Çây tá túc v§i ông bà ngoåi nó. Sau m¶t th©i gian, ông ngoåi cûa nó qua Ç©i khi nó vØa tròn mÜ©i tu°i. Ba næm sau bà ng†ai nó cÛng nh¡m m¡t lìa trÀn. Hai mË con ti‰p tøc chæm sóc mänh vÜ©n cûa ông bà ngoåi nó Ç‹ sinh sÓng. M‡i kÿ thu hoa mÀu. Hai mË con kÈ khiêng, ngÜ©i gánh, l¶i b¶ cä bÓn cây sÓ, mang rau cÕ, khoai s¡n, cùng mÃy con gà ra khu ch® tr©i biên gi§i, h†p bên phÀn ÇÃt cûa Trung QuÓc, Ç‹ bán, cùng mua gåo, cá khô, m¡m muÓi vŠ nhà dùng, nho¥c Ç°i lÃy ba cái thuÓc cäm cúm phòng khi trái n¡ng, trª tr©i.
ChÎ BÜng Çã bÎ sÓt rét gÀn hai tuÀn lÍ nay. Trong cái vùng khÌ ho cò gáy gÀn biên gi§i Trung- ViŒt này chÌ toàn là rØng v§i núi, làm gì có nhà thÜÖng hay bŒnh xá. NÖi duy nhÃt mà th¢ng Cau có th‹ tìm ÇÜ®c vài viên thuÓc sÓt rét cho mË nó là cái ch® tr©i biên gi§i. Nghe ÇÒn là thuÓc gì cûa MÏ cÛng ÇŠu tÓt cä. -m n¥ng th‰ nào cÛng chÌ cÀn uÓng vài viên là công hiŒu liŠn. Th¢ng Cau Çã mang ba con gà mái dÀu Ç°i lÃy ba vÌ thuÓc sÓt rét cûa MÏ. ThuÓc Çã uÓng gÀn h‰t mà sao chÙng bŒnh sÓt rét cûa mË nó không thÃy thuyên giäm. NhÜ vÆy Çúng là thuÓc gÌa rÒi. Th¢ng Cau nghe lòng ngán ngÅm. ChuyŒn làm ÇÒ giä ÇÒ lÆu nhÜ máy móc nó vÅn thÜ©ng nghe nói ª ch® tr©i, nhÜng nó Çâu ng© ngay cä thuÓc men ch»a bŒnh có liên quan ljn sinh mång cûa con ngÜ©i mà cÛng làm giä nÓt thì ch£ng còn gì Çc ác, dã man hÖn. Bây gi© Th¢ng Cau chÌ còn hy v†ng ª mÃy chú công an. Nhà nܧc phát thuÓc cho các chú Ãy dùng thì ch¡c ch¡n phäi là thuÓc thÆt rÒi.
Nghï ljn Çây, th¢ng Cau thÃy lòng b§t lo l¡ng phÀn nào. Nó chåy vào b‰p, châm lºa hâm låi nÒi cháo gåo ÇÕ cho mË nó. RÒi múc mt chén, mang vào nhà, Ç‹ trên chi‰c gh‰ ÇÄu k‰ ÇÀu
giÜ©ng cûa chÎ BÜng. Xong xuôi, nó mª trån lÃy hai cû khoai lu¶c bÕ vào túi áo, và lên ÇÜ©ng. Ti‰t tr©i se se lånh. Nh»ng gi†t sÜÖng mai còn vÜÖng džng trên hoa cÕ d†c theo con ÇÜ©ng mòn, phän chi‰u ánh n¡ng ban mai, lÃp lánh nhÜ thûy tinh. ñây Çó, nh»ng bông hoa dåi phô s¡c th¡m, vÜÖn lên trong Çám lá xanh xanh cûa nh»ng lùm cây thÆt thÃp. Ti‰ng chim kêu, vÜ®n hú, cùng ti‰ng thác Ç° tØ xa tåo thành khúc nhåc vui. Th¢ng cau cÓ hoà tâm hÒn mình vào cänh ÇËp thiên nhiên Ç‹ tåm th©i quên Çi nh»ng š nghï xui xÈo vŠ bŒnh tình cûa mË nó Çã ám änh nó suÓt cä tuÀn lÍ nay. Có ngÜ©i bäo bŒnh sÓt rét làm ch‰t ngÜ©i, nhÜng mÃy chú công an quen v§i nó thì bäo là ngày xÜa h† cÛng Çi b¶ Ƕi, ª trong rØng, bÎ sÓt rét mà có sao Çâu.
TØ khi mái tranh nghèo cûa gia Çình nó chÌ có hai mË con sÓng trong tình thÜÖng yêu Çùm b†c lÅn nhau. Khu ch® tr©i biên gi§i không thi‰u gì nh»ng ngÜ©i Çàn ông Trung QuÓc d¶c thân Çang muÓn tìm v®. H† ve vãn lÃy lòng mË nó. CÛng vì thÜÖng con mà mË nó không muÓn Çi bܧc n»a. Th¢ng Cau hi‹u ÇiŠu này nên càng thÜÖng mË nó nhiŠu hÖn. ñÜ®c cái tr©i thÜÖng ban cho nó khoÈ månh, ít Çau y‰u nên nó Çã Ç« ÇÀn, xÓc vác cho mË nó nh»ng công viŒc n¥ng nh†c nhÜ cuÓc ÇÃt, Çào s¡n, múc nܧc gi‰ng, hay khiêng rau, s¡n ra ch® bán.
Quanh næm suÓt tháng ª nÖi hiu quånh này không làng xóm, không trÜ©ng h†c, th¢ng Cau chÜa bao gi© cÀm ljn cuÓn vª và cây vi‰t, nhÜng nó Çã ÇÜ®c mË nó dÆy cho tÆp džc, vi‰t
ti‰ng ViŒt và làm bÓn phép tính b¢ng cái que vë nguŒch ng†ac trên m¥t cát nÖi khoänh sân
trܧc nhà. ñã vài lÀn, th¢ng Cau ÇÜ®c mÃy chú công an chª Çi chÖi ª cái huyŒn gì Çó có làng måc trÜ©ng h†c Çông Çúc. Nó vŠ nhà, thuÆt låi chuyŒn cho mË nó nghe rÒi hÕi tåi sao nhà mình không d©i vŠ Çó ª cho vui. Nghe nó hÕi, mË nó chÌ l¡c ÇÀu rÒi buÒn bã trä l©i:
- Mình không có h¶ khÄu, ai cho phép mình vŠ ÇÃy sÓng hä con. MË cÛng muÓn con ljn trÜ©ng h†c nhÜ con nhà ngÜ©i ta, nhÜng con Öi, nh»ng hång dân nghèo kh° cùng Çinh nhÜ gia Çình mình ch£ng có gì Çáng quan tr†ng v§i nhà nܧc Ç‹ mà h† giúp cä. MË con mình Çû æn, hay ch‰t Çói, nhà nܧc cÛng ch£ng thèm quan tâm....
ChÎ BÜng nghËn ngào ngØng låi m¶t lúc, rÒi nói ti‰p v§i hai dòng lŒ ܧt:
- Dù chúng mình có vŠ ÇÜ®c thành phÓ, nhÜng mË không có Çû tiŠn Çóng h†c phí và mua sách vª cho con h†c thì con vÅn là m¶t th¢ng bé dÓt nát, mù ch» mà thôi!... Thôi thì hãy chÃp nhÆn hiŒn tåi mà mình Çang có. Ngày nào nhà nܧc còn Ç‹ cho hai mË con mình sÓng yên nÖi núi th£m, rØng hoang này thì mình ráng sÙc chæm sóc mänh vÜ©n mà ông bà ngoåi con Çã Ç‹ låi mà sÓng. Mänh ÇÃt nhÕ bé này Çã Ç° không bi‰t bao nhiêu mÒ hôi, công sÙc cûa ông bà ngoåi con. Ông bà ngoåi Çã Ç‹ låi cho mË. Nh© nó mà nhà mình có b»a æn ÇÜ®c no lòng. N‰u m¶t mai mË có n¢m xuÓng thì con hãy gi» lÃy cái gia sän nhÕ bé này mà khai khÄn thêm cho nó tÜÖi tÓt hÖn lên. Nghe nh»ng l©i thâm tình Çó, Th¢ng Cau Çã khóc. Nó chÜa Çû trí khôn Ç‹ hi‹u rõ š nghïa sâu xa cûa l©i mË nó nói Ç‹ nhÆn bi‰t ÇÜ®c r¢ng, sau này nó së là ngÜ©i nhÆn tr†ng trách chæm nom cái gia tài nghèo nàn cûa mË nó. Lúc Çó, nó chÌ quan tâm t§i m¶t ÇiŠu là tình mÅu tº, nó không muÓn cho mË nó nói ljn s¿ ch‰t chóc, chia lìa.
Mäi vØa Çi, vØa suy nghï, th¢ng Cau Çã Çi gÀn t§i khu biên gi§i. Trܧc m¥t nó bây gi© là nh»ng ru¶ng c¢n khô, ÇÃt cÀy lên sÕi Çá. ThÃp thoáng vài chi‰c xe nhà binh chª lính Trung QuÓc Çang nghiêng ngä, læn bánh trên con ÇÜ©ng ÇÃt ÇÕ gÆp gŠnh. Bøi cát bÎ gió cuÓn tung lên. Theo sau xe lính là vài chi‰c xe täi chª dân. Th¢ng Cau ÇÙng låi nhìn hoåt cänh v§i ánh m¡t bình thän. Ÿ biên gi§i, dân ViŒt Nam chåy xe qua ÇÃt Trung QuÓc, và ngÜ®c låi vÅn là chuyŒn thÜ©ng tình. Bøng Çói cÒn cào, th¢ng Cau tìm ‡t gÓc cây ngÒi nghÌ chân, rÒi móc m¶t cû khoai lu¶c trong túi ra, æn ngon lành. ñoàn xe dØng låi d†c theo nh»ng thºa ru¶ng khô c¢n. ñám dân tØ nh»ng chi‰c xe täi Ç° xuÓng v§i quang gánh, ÇÒ Çåc, tay näi, m¥t mÛi lÖ láo nhÜ Çám ngÜ©i chåy gi¥c. Toán lính Trung QuÓc cÛng xuÓng xe, hܧng dÅn Çám dân tràn qua nh»ng thºa ru¶ng khô Ç‹ Çi vào khu làng måc bên trong. Ti‰ng g†i nhau Öi §i, Òn ào, nhÓn nháo tØ xa v†ng låi tai th¢ng Cau. Cänh tÜ®ng lå lùng này khi‰n th¢ng Cau hÖi ngåc nhiên, nhÜng nó không còn bøng då nào quan tâm ljn chuyŒn gì khác hÖn là nghï t§i viŒc xin mÃy viên thuÓc sÓt rét mang vŠ cho mË nó. Th¢ng Cau låi ÇÙng lên, ti‰p tøc cu¶c hành trình. Nºa ti‰ng sau, bóng dáng vài gian nhà vách g‡ l®p tôn cûa cái ÇÒn công an ViŒt Nam hiŒn ra trܧc m¡t nó, nhÜng ô kìa, sao cái khu ch® tr©i n¢m ª biên gi§i bên phÀn ÇÃt Trung quÓc, cách xa Çây hai cây sÓ, hôm nay låi Ç° cä vŠ Çây Ç‹ tø tÆp buôn bán là th‰ nào? Th¢ng Cau räo bܧc låi gÀn ÇÒn công an. Nó vô cùng ngåc nhiên khi thÃy cái bäng ti‰ng ViŒt cûa ÇÒn Çã bÎ g« bÕ Ç‹ thay b¢ng tÃm bäng hiŒu vi‰t ch» TÀu. M¶t Çám lính Trung QuÓc, vai Çeo súng Óng, Çang læng xæng Çi låi trong ÇÒn. Ch£ng thÃy mÃy chú công an quen v§i nó Çâu cä. Th¢ng Cau ÇÙng ngÖ ngác m¶t lúc lâu, rÒi bܧc ljn m¶t cái såp bán bán ÇÒ ÇiŒn cûa m¶t ngÜ©i Çàn ông ViŒt Nam, lên ti‰ng hÕi:
- Bác Öi, mÃy chú công an cûa mình trong ÇÒn Çâu h‰t rÒi?
Gã Çàn ông bán ÇÒ ÇiŒn, nhìn th¢ng Cau tØ ÇÀu xuÓng chân, rÒi thª dài:
- Bây gi© khu này là ÇÃt cûa Trung QuÓc rÒi, công an cûa mình Çâu có quyŠn Çóng ª Çây n»a!
Th¢ng Cau nghe lòng høt hÅng, nó nuÓt nܧc b†t m¶t cách khó khæn:
- MÃy chú Ãy bây gi© d†n Çi Çâu, bác có bi‰t không?
Gã Çàn ông nhún vai, l¡c ÇÀu không trä l©i. Th¢ng Cau ngoái c°, nhìn cái ÇÒn công an m¶t lÀn cuÓi, rÒi lûi thûi bܧc Çi. Mt cäm giác mÃt mát Çè n¥ng trong tâm tÜ th¢ng bé con. Nó nghe lòng mình chìm sâu xuÓng. Th‰ là h‰t, ch£ng còn hy v†ng gì tìm ÇÜ®c thuÓc sÓt rét cho mË nó n»a rÒi. ñôi m¡t th¢ng bé rÖm r§m lŒ. Nó thÃt th‹u bܧc Çi trong khu ch® Òn ào, quen thu¶c mà hÒn nghe nhÜ hoang v¡ng, xa xôi.
Tr©i Çã ÇÙng bóng. Th¢ng Cau buÒn bã bܧc trª låi con ÇÜ©ng mòn cô quånh Ç‹ trª vŠ nhà. N‡i lo l¡ng vŠ bŒnh tình cûa mË låi trª vŠ ám änh th¢ng bé. Con ÇÜ©ng lúc Çi sao quá ng¡n mà khi vŠ thì låi dài lê thê.
Cä hai ti‰ng ÇÒng hÒ sau th¢ng Cau m§i vŠ ÇÜ®c ljn nhà. ñÄy cánh cºa li‰p bܧc vào, nó
ch®t røng r©i tay chân khi thÃy mË nó n¢m bÃt Ƕng, gøc m¥t xuÓng nŠn ÇÃt lånh. Bên cånh là tô cháo Ç° vÜÖng vãi. Th¢ng Cau hÓt hoäng, la thÃt thanh:
- MË Öi! MË làm sao th‰?
RÒi nó nhäy b° låi, v¿c mË dÆy, Ç¥t lên chõng, nhÜng thân ngÜ©i chÎ BÜng lånh giá và tim Çã ngØng ÇÆp t¿ bao gi©. Th¢ng Cau l¥ng ngÜ©i, gøc ÇÀu lên xác mË, oà khóc nÙc nª. Nܧc m¡t th¢ng bé tuôn trào, thÃm ܧt ng¿c chi‰c áo bà ba båc ph‰ch, vá vai cûa ngÜ©i Çàn bà båc mŒnh....
TÓi hôm Çó, trong mái tranh nghèo, bên ng†n Çèn dÀu låc mù m©, th¢ng Cau ngÒi bÃt Ƕng bên chi‰c chõng tre có xác ngÜ©i mË hiŠn. Tâm hÒn tan nát , nܧc m¡t nó cÙ tuôn rÖi tܪng chØng nhÜ không bao gi© cån. Gi© này, m†i ngày, khi mË nó còn khoÈ månh, hai mË con Çang ngÒi v§i nhau bên mâm cÖm Çåm båc trong bÀu không khí Ãm cúng, chan hoà tình mÅu tº. Bây gi© thì mË nó n¢m Çây, l¥ng lë, không nói, không cÜ©i. M¶t s¿ mÃt mát quá l§n lao mà tr©i Çã dành riêng cho Ç©i nó. Gió núi bên ngoài hú lên tØng chÆp nhÜ ti‰ng lòng Çau thÜÖng phÅn n¶ cûa ÇÙa con trai mÃt mË. Th¢ng Cau ôm m¥t nÃc lên. MË Öi! Con thÜÖng mË. Con ch£ng bao gi© muÓn xa mË cä, nhÜng sao mË låi n« bÕ con ra Çi quá s§m trong lúc tinh thÀn con còn cÀn hÖi Ãm cûa tình mÅu tº bao la. MË Çi rÒi, mai Çây Ç©i con còn có ai Ç‹ là nguÒn an ûi chân thành. Trong cái xã h¶i nhiÍu nhÜÖng này, con së ch£ng còn tìm Çâu ra ÇÜ®c m¶t ngÜ©i yêu thÜÖng con h‰t trái tim cho b¢ng mË cä. MË Öi, mänh ÇÃt nhà, Çã thÃm ܧt mÒ hôi cûa ông bà ngoåi, Çã h¢n in dÃu chân nÙt nÈ cûa mË, lÜu låi nh»ng v‰t cuÓc bÅm, cÀy sâu cûa Çôi bàn tay chai cÙng cûa mË. Bây gi© nó là cûa con, là nÖi yên giÃc ngàn thu cûa mË và ông bà ngoåi, con xin trân tr†ng gi» gìn nó nhÜ gia sän quš báu cûa Ç©i mình.
Gió khuya bên ngoài mái nhà tranh vÅn hú tØng hÒi, xen lÅn ti‰ng gÀm thét cûa thú d» sæn mÒi ban Çêm vang v†ng cä núi rØng. Th¢ng Cau nghe tim mình nhÜ Çang v« tan tØng mänh vøn.
Sáng s§m hôm sau, th¢ng Cau mang cuÓc, xÈng ra khu ÇÃt trÓng cách nhà vài træm thܧc, Ç‹ Çào m¶t l‡ huyŒt cho mË, k‰ bên ngôi m¶ cûa ông, bà ngoåi nó. ñang Çào nºa chØng ch®t, có bóng chi‰c xe nhà binh chåy t§i, rÒi dØng låi. Trên xe, nhäy xuÓng bÓn ngÜ©i lính Trung QuÓc v§i súng Óng læm læm trên tay. B†n chúng hÃt hàm hÕi th¢ng Cau:
- Này, nhãi con, mày Çang Çào b§i gì Çó?
Th¢ng Cau ngØng cuÓc, giÖ tay quŒt mÒ hôi trán:
- MË tôi m§i mÃt ª nhà tÓi hôm qua. Tôi Çào huyŒt Ç‹ chuÄn bÎ chôn.
M¶t tên lính xua tay:
- ñây là lãnh th° cûa Trung QuÓc. TÃt cä m†i ÇÃt Çai, vÜ©n rung quanh Çây ÇŠu thu¶c vŠ tài sän nhà nܧc Trung QuÓc. MÃy hôm n»a dân Trung QuÓc së t§i Çây khai phá, và lÆp nghiŒp. Chúng tao không cho phép mày chôn ngÜ©i ch‰t ª khu này. Nghe rõ chÜa.
Th¢ng Cau nghe røng r©i tay chân. Nó l¡p b¡p hÕi:
- VÆy thì tôi phäi chôn mË tôi ª Çâu?
Tên lính g¢n gi†ng:
- Không chôn cÃt gì cä, lÃy cûi mà ÇÓt!
H¡n ÇÜa m¡t nhìn quanh, rÒi chÌ tay vào hai ngôi m¶ phû cÕ xanh, nói l§n:
- Cä hai ngôi m¶ này cÛng së ÇÜ®c Çào lên, lÃy cÓt quæng xuÓng v¿c. DÙt khoát là không th‹ Ç‹ m¶t v‰t tích sinh sÓng nào cûa ngÜ©i ViŒt Nam còn lÜu låi ª Çây cä.
Câu nói cûa tên lính Trung QuÓc khi‰n th¢ng Cau nghe lånh ngÜ©i. Nó run gi†ng:
- Hai ngôi m¶ này là cûa ông bà ngoåi tôi Çó!
- VÆy thì mày hãy dành sÙc mà Çào chúng lên, Çem ÇÓt chung v§i xác cûa mË mày, rÒi mang tro Çi khÕi ÇÃt chúng tao. Nghe rõ chÜa th¢ng nhãi con.
Th¢ng Cau gøc ÇÀu nghËn ngào, nghe tâm tÜ tan nát. Nܧc m¡t nó trào ra. Ch£ng phäi vì nó khi‰p s® trܧc thái Ç hung hæng cûa mÃy tên lính Trung QuÓc, mà nó khóc vì n‡i nhøc nhã, Ç¡ng cay Çang dâng cao tràn ngÆp tâm hÒn minh.
Ba hôm sau th¢ng Cau lên ÇÜ©ng xuôi Nam, hܧng vŠ ÇÜ©ng ranh biên gi§i m§i cûa Trung- ViŒt, bÕ Gia tài cûa mË nó Çã bÎ ngÜ©i ta chi‰m Çoåt. Nó Çành phäi ra Çi trong nܧc m¡t, tûi h©n, bÕ låi sau lÜng bao k› niŒm dÃu yêu cûa vùng ÇÃt mË. Hành trang mà th¢ng bé mang theo vÕn vËn chÌ có cái tay näi Ç¿ng mÃy cû khoai mì lu¶c, bình nܧc lånh và ba cái keo thûy tinh, loåi Ç¿ng mÙt, trong có chÙa nh»ng n¡m tro tàn cûa ba ngÜ©i thân yêu nhÃt Ç©i nó.GÜÖng m¥t th¢ng Cau ph© phåc vì mÃy hôm vÃt vä, Çào x§i, ch¥t cành cây Ç‹ thiêu hai hài cÓt cûa ông bà ngoåi và xác thân cûa mË nó.
Th¢ng bé vÅn lÀm lÛi Çi trong nܧc m¡t lÜng tròng. ñi Çâu bây gi© Çây? Ÿ låi ÇÃt Trung QuÓc hay vŠ bên kia lãnh th° ViŒt Nam cûa nhà nܧc thì cu¶c Ç©i m¶t th¢ng bé nghèo Çói, không nhà, không thân b¢ng quy‰n thu¶c nhÜ nó cÛng chÌ là nh»ng chu‡i ngày lÀm than, khÓn kh°. Có ÇiŠu qua ViŒt Nam, dù cho nhà nܧc có nhÅn tâm làm ngÖ, và dù nó có Çi æn xin ÇÀu ÇÜ©ng, xó ch®, và thì cÛng còn nh»ng ÇÒng bào ru¶t thÎt, dù h† cÛng nghèo, nhÜng h† vÅn có chút cÖm thØa canh c¥n Ç‹ bÓ thí cho nó Ç« lòng. RÒi còn các cô các chú ViŒt kiŠu vŠ thæm quê hÜÖng mà thÌnh thoäng th¢ng Cau vÅn ÇÜ®c nhìn thÃy khi h† du ngoån, mua ÇÒ nÖi khu ch® tr©i biên gi§i n»a chÙ. NhiŠu ngÜ©i ch£ng giÀu lòng nhân Çåo là gì.
Hình änh nh»ng con ngÜ©i æn m¥c såch së, thÖm tho, trong túi c¶m lên nh»ng xÃp tiŠn Çô mà cä Ç©i mË nó cÛng chÜa ÇÜ®c cÀm ljn hiŒn nhanh trong kš Ùc khi‰n nܧc m¡t th¢ng Cau låi trào ra. Các cô, các chú Öi! VŠ thæm ViŒt Nam, Çi chÖi Trung QuÓc, dØng chân nÖi các thành phÓ l§n, nghÌ ngÖi trong nh»ng khách sån sang tr†ng có kÈ hÀu, ngÜ©i hå, æn ngon, m¥c ÇËp, có bao gi© các cô chú dành m¶t giây phút yên tïnh Ç‹ lòng mình l¡ng xuÓng mà nghï thÜÖng cho nh»ng ngÜ©i nghèo kh°, cùng Çinh, nhÜ gia Çình con, ª nh»ng nÖi Çèo heo hút gió này không? Khi vui trong ti‰ng nhåc, khi say trong men rÜ®u nÒng nàn, các cô chú có hi‹u cho r¢ng trên ÇÃt nܧc ViŒtNam này còn bi‰t bao gia Çình nghèo ª nh»ng vùng quê hÈo lánh, cÖm không Çû æn, áo không Çû m¥c, nh»ng ÇÙa trÈ con không ÇÜ®c c¡p sách ljn trÜ©ng hay không. Con bi‰t nh»ng cô chú vŠ thæm ViŒt Nam, không thi‰u gì nh»ng ngÜ©i giàu lòng nhân Çåo, nhÜng ÇÒng tiŠn tØ thiŒn cûa các cô, chú bÓ thí cho nh»ng kÈ æn mày, nghèo kh° ª quê hÜÖng chÌ có th‹ làm cho h† no lòng ÇÜ®c m¶t hai hôm, rÒi sau Çó các cô chú lên ÇÜ©ng trª vŠ ngoåi quÓc thì n‡i bÃt hånh vÅn không buông tha nh»ng kÈ khÓn cùng này, trØ khi cái nguyên nhân gây nên cänh Çói nghèo bÎ tÆn diŒt. Các cô, các chú Öi! Xin hãy nhû lòng thÜÖng ljn nh»ng ngÜ©i dân ViŒt Nam có sÓ phÀn båc bëo Çói rách không có bà con n¡m quyŠn uy hay thân nhân ª ngoåi quÓc. Xin các cô, các chú hãy làm nh»ng gì th¿c t‰ và tích c¿c hÖn n»a Ç‹ Ç©i h† thoát khÕi cänh lÀm than, cÖ c¿c. Th¢ng Cau nÃc lên. Hình änh m¶t cái ÇÒn công an Trung QuÓc vØa d¿ng ª biên gi§i m§i Çang hiŒn, lung linh trong màn nܧc m¡t cûa nó. Có ti‰ng quát tháo v†ng låi:
- Th¢ng nhãi kia! Mang cái gì Çó? ñÙng låi cho chúng tao khám xét!
Th¢ng Cau giÆt mình, gåt lŒ nhìn quanh. Có bóng hai tên lính biên phòng cûa Trung QuÓc Çang cÀm súng, læm læm Çi vŠ phía nó. Th¢ng Cau dØng chân. Hai tên lính ti‰n sát trܧc m¥t th¢ng bé. M¶t tên hÃt hàm hÕi l§n:
- ñÜa cái tay näi cho tao xem? DÃu thuÓc phiŒn bên trong có phäi không?
Th¢ng Cau ôm ch¥t chi‰c tay näi, lùi låi:
- ñây là túi Ç¿ng mÃy l† tro hài cÓt cûa ông bà ngoåi và mË tôi. Ch£ng có thuÓc phiŒn gì cä.
Hai tên lính nhào t§i. M¶t tên n¡m lÃy c° áo th¢ng Cau, gì» låi cho tên kia giÆt lÃy cái tay näi, løc soát. M¶t l† tro ÇÜ®c moi ra, mª n¡p, giÖ cao. Th¢ng Cau hét lên trong nܧc m¡t:
- Tôi låy các chú! ñØng Ç° tro cÓt cûa mË tôi!
M¥c cho th¢ng bé van xin. Tên lính thän nhiên dÓc ngÜ®c cái l†. ñám b¶t tro màu tr¡ng xám tØ trong tuôn Ç° ra ngoài, bay tän mån trong gió ÇÒi lÒng l¶ng nhÜ sÜÖng mù. Cái l† không bÎ ném månh xuÓng hòn Çá dܧi ÇÃt v« tan tành.Th¢ng Cau vÛng vÅy kÎch liŒt Ç‹ nhào t§i giÆt låi cái tay näi, nhÜng m¶t cù ÇÃm nÄy lºa cûa tên lính n¡m c° áo, giáng vào m¥t th¢ng bé khi‰n cho nó té ch°ng kŠnh trên m¥t ÇÃt. Th¢ng cau l¥ng ngÜ©i, Çi, rÒi g¡ng gÜ®ng lÒm cÒm ch°i dÆy, nhÜng Çã mu¶n. Hai cái keo thûy tinh Ç¿ng tro còn låi cûa ông bà ngoåi nó cÛng chÎu chung sÓ phÆn. Nó giÖ tay quËt dòng máu ÇÕ Çang rÌ ra bên mép, Th¢ng bé giÜÖng m¡t nhìn hai tên lính Trung quÓc Ç‹u cáng v§i ánh lºa cæm h©n.
M¶t tên lính lên Çån súng, chÌ tay, quát l§n:
- Th¢ng nhãi con! Còn nhìn cái gi n»a? Mày không cút khÕi cái mÓc cûa lãnh th° Trung QuÓc ª Ç¢ng kia, tao b¡n v« s† ngay bây gi©.
Th¢ng Cau nghe n‡i thù hÆn dâng cao trong hÒn, nó ÇÜa m¡t nhìn mÃy cû khoai mì lu¶c næm lÅn l¶n trong Çám mänh thûy tinh v« tan hoang phÖi räi rác trên m¥t ÇÃt m¶t lÀn cuÓi rÒi cúi ÇÀu, gåt lŒ, bܧc Çi mau. Trên tr©i cao, nh»ng täng mây tr¡ng nhÜ bông vÅn l»ng l© trôi thÆt bình thän. Mây bay h© h»ng,vô tình, và dºng dÜng nhÜ nh»ng con tim cûa Çám ngÜ©i n¡m quyŠn nhà nܧc, v§i cái ÇÀu không còn óc, Çang chÍm chŒ ngÒi trên ngai vàng Ç‹ cai trÎ ÇÃt nܧc ViŒt Nam.
VÛ ThÎ Då Thäo
Toronto









PHẠM HOÀI VIỆT * BAO GIỜ TA TRỞ VỀ

BAO GIỜ TA TRỞ VỀ

Nhân ngày giổ Mẹ, con nhớ Cha Mẹ nhiều.
Con xin cầu nguyện hương hồn Cha Mẹ siêu sanh Lạc Quốc.
Ta chưa mơ ước huy hoàng
Lang thang dưới ánh trăng vàng cuối năm
Nhìn trăng, trăng mãi lặng thầm
Nhìn mây, mây cứ tần ngần bay xa
Vọng quê khắc khoải tình ta
Giang san chừ đã phôi pha muôn trùng
Cỏ cây chen lá chập chùng
Trên đường phục quốc ai cùng đợi mong?
Hôm nay giỗ Mẹ lập Đông
Mà nghe con trẻ nỗi lòng buồn đau
Dây trầu ôm lấy thân cau
Quê hương thoáng hiện một mầu xanh mơ
Gởi hồn dõi mắt trông chờ
Thương dân lòng những bơ vơ nghẹn ngào
Lắng nghe quốc gọi xôn xao
Tim ta thổn thức dâng trào nhớ quê...
Bao giờ mới được trở về
Hoàn thành sứ mạng lời thề nước non ?!
Phạm Hoài Việt

TRINH QUỐC THIÊN * ẢI NAM QUAN

Ải Nam Quan là của Việt Nam từ ngàn xưa!
Trinh Quoc Thien, Esq
Kính thưa quý vị,
Bài viết này sẽ được đăng trong đặc san "Bảo Toàn Đất Tổ 2002" phát hành vào cuối tháng 12 năm 2002. Hội Nghị "Bảo Toàn Đất Tổ" diễn ra vào ngày 28-29 tháng 12 năm 2002 tại Orange Countỵ
Chứng minh lịch sử ?i Nam Quan là của Việt Nam:
Một câu hỏi lớn trong lịch sử Việt Nam đã được mọi người trong thời gian gần đây đặt ra là "?i Nam Quan có thật sự là của Việt Nam hay của Tàủ". Câu nói "nước Việt Nam ta kéo dài từ ?i Nam Quan cho đến Mũi Cà Mau" là câu nói đúng lịch sử hay là câu nói nhận vơ bậy cái ?i Quan của nước khác (Trung Hoa) rồi tự nhận xằng là của Việt Nam ta ?
Sau đây là đoạn sử quan trọng trong Việt Sử Toàn Thư (và 1 số sách khác có nói đếu đoạn này) để chứng minh ?I NAM QUAN đã từng thuộc Tổ Tiên của chúng ta. Tác giả xin trích nguyên văn:
Vào ngày 21 tháng Chạp năm Giáp Thân (1284), quân Mông Cổ huy động 50 vạn binh sĩ cùng với các danh tướng như: Tả Thừa Lý Hằng, Bình Chương A Thích, Bình Chương A Lý Hải Nha để sang xâm chiếm nước ta. Tổng chỉ huy là thái tử Thoát Hoan. Phụ tá cho Thoát Hoan là Thượng tướng Ô Mã Nhi và Toa Đô
Quân bản bộ của Thoát Hoan đến Cửa Nam Quan thì ngừng lại. Thoát Hoan phái Bá Tổng A Lý mang thư qua nói: "Bản súy chỉ nhờ đường Nam Quốc qua đánh Chiêm Thành, chứ không có bụng gì đâu mà ngại. Nên mở cửa cho bản súy đi và đến đâu chỉ nhờ giúp ít nhiều lương thảo, khi phá xong Chiêm Thành sẽ có trọng tạ. Nhược bằng kháng cự thiên binh, bản súy sẽ không dong tình, bờ cõi sẽ tan hoang, lúc đó có hối cũng đã muộn". (trích nguyên văn, Việt Sử Toàn Thư, tác giả Phạm Văn Sơn, trang 183. Có thể kiểm chứng trang 183 ở ấn bản điện tử: www.vnet.org/vanlangsj/tailieu/vstt.pdf)
Qua đoạn sử trên của bộ Việt Sử Toàn Thư chúng ta thấy rất rõ là Việt Nam tổ tiên chúng ta đã từng làm chủ ?i Nam Quan. Quân Tàu muốn qua cửa thì phải viết thư xin phép tổ tiên chúng ta để mở cửa cho đi qua. Qua đoạn sử này, tác giả thấy rõ ràng câu "nước Việt Nam ta kéo dài từ ?i Nam Quan cho đến Mũi Cà Mau" là câu nói hoàn toàn đúng đắn về mặt lịch sử. Tức là cho tới năm 1284, dân Việt Nam ta đã làm chủ ?i Nam Quan. Đến thời Lê Lợi thì tướng giữ ải Pha Lũy (chính là ?i Nam Quan) là Trần Lựu.Nếu ải không là của Việt Nam thì cần gì phải cử 1 tướng quân để giữ cái ải nàỵ
Thêm nữa, đại Văn Hào Nguyễn Du (vào ngày 06-04 Quí Dậu-tức 06-05-1813, và khi đi sứ về ngày 29-03 Giáp Tuất-tức là ngày 18-05-1814), khi đi sứ qua ?i Nam Quan đã cảm tác bài thơ Trấn Nam Quan trong Bắc Hành Tạp Lục. Bắc Hành Tạp Lục gồm 110 đề mục, và vì có nhiều đề mục thi sĩ Nguyễn Du sáng tác hai bài thơ, nên có tất cả 120 bài thơ chữ Nho, trong đó có hai bài Nguyễn Du viết về tâm sự cuả mình khi tiến qua ải Nam Quan để vào đất Trung Hoa. Đó là bài "Nam Quan đạo trung" và "TrấnNam Quan". Riêng bài "Trấn Nam Quan" nói rõ biên giới giữanước ta và Trung Hoa nằm ngay nơi mặt ảị Nguyên văn bài thơ như sau:
Trấn Nam Quan
"Lý Trần cựu sự yểu nan tầm,
Tam bách niên lai trực đáo câm (kim).
Lưỡng quốc bình phân cô luỹ diện,
Nhất quan hùng trấn vạn sơn tâm.
Điạ thiên mỗi vị truyền văn ngộ,
Thiên cận tài tri giáng trạch thâm..
Đế khuyết hồi đầu bích vân biểu,
Quân thiều nhĩ bạn hữu dư âm."
(bản dịch của Đỗ Văn Hỷ-tr.279-sách Địa Chí Lạng Sơn):
Lý-Trần việc cũ dấu phai mờ
Năm đã ba trăm kể đến giờ
Muôn núi ải quan nằm chính giữa
Một thành Hoa-Việt vạch đôi bờ
Trời đất mới biết ơn sao nặng
Đất hẹp xui nên chuyện hóa ngờ
Mây biếc quay nhìn nơi cửa khuyết
Nhạc Thiều văng vẳng tiếng xa đưa
Qua bài thơ này đã chứng tỏ Trấn Nam Quan đã thuộc nhà Lý-Trần và nó có cách đó khỏang 300 năm tức là khoảng năm 1513. Tức là Trấn Nam Quan có trước thời Gia Tĩnh Triều Minh (1522-1560). Ngoài ra nó còn cho ta biết, bức tường thành chính là biên giới phân cách Việt-Trung vào thời đó.
Cuốn Việt Sử Tân Biên của sử gia Phạm Văn Sơn, tập 2, trang 393 có in lại 1 bản đồ mệnh danh là "Đại Việt Quốc Tổng Lãm Đồ" đã có ghi rõ ràng ?i Phá Luỹ (tức ?i Nam Quan) nằm ở phiá Bắc-Đông Bắc của bản đồ (Bản đồ này là của ông Thái Văn Kiểm tặng cho sử gia Phạm Văn Sơn). Bản đồ này cũng đã được đăng lại trong bộ sách Việt Sử Khảo Luận của L/S Hoàng Cơ Thụy (Cuốn 1, trang 501-Nhà xuất bản Nam Á -Paris 2002-địa chỉ 44 Avenue D'Ivry 75013 Paris).
Lịch Sử ?i Nam Quan theo các thời kỳ:
Vào thế kỷ 19, nhà bác học Lê Quý Đôn đã viết trong Vân Đài Loại Ngữ, ở điều 81 ghi rõ:
"Phía bắc nước ta giáp với Trung Quốc có 3 cửa ải:
Mạn trên có Thủy khẩu quan thuộc tỉnh Cao Bằng
Mạn giữa có Bình nhi quan thuộc huyện Thất Khê
Mạn dưới có Trấn Nam quan (có lúc gọi là ải Pha Lũy, Trấn Nam Giao, Mục Môn Quan, ?i Nam Quan, hay Hữu Nghị Quan) thuộc tỉnh Lạng Sơn.
Ba cửa ải ấy là nơi quan hệ trọng yếu để ngăn ngừa quân địch".
?i Nam Quan là nơi đã từng diễn ra và chứng kiến nhiều
cảnh tang thương và hùng tráng trong suốt thời gian của Việt sử nghĩa là từ thời nước ta lập quốc cho tới nay.
Năm 40 Tây Lịch, Hai Bà Trưng khởi nghĩa chống lại ách đô hộ của nhà Đông Hán, Nam Quan đã là cửa ngõ xâm lược của viên tướng Mã Viện. Và năm đó, ?i Nam Quan cũng đánh dấu nhiều chiến công huy-hoàng của dân-tộc Việt bất khuất như Thái thú Tô Định bị nghĩa quân của Hai Bà Trưng đánh đuổi phải bỏ chạy về Tàu qua ngả Nam Quan.
Năm 981 vua Lê Đại Hành đã chém đầu Hầu Nhân Bảo và đánh đuổi tàn quân nhà Tống ở cửa Nam Quan.
Đời nhà Lý, năm 1060, quân xâm lược nhà Tống lại bị chận đánh ở Nam Quan và Lạng Châu tức Lạng Sơn. Bấy giờ Châu-mục Thân Thiệu Thái từng đánh sang Châu Ung bên Trung-quốc bắt sống Chỉ huy sứ Dương Bảo Tài, chưa kể sau đó là các chiến công phá Tống oanh liệt của Lý Thường Kiệt nữạ
Năm 1285, Đời nhà Trần, năm 1285 Trấn Nam Vương Thoát-Hoan phải nhục nhã chui vào ống đồng trốn chạy về Tàu qua ải Pha-Lũy tức ?i Nam Quan.
Năm 1427, Liễu Thăng bị phục binh của nghĩa quân Bình Định-Vương Lê Lợi chém chết ở Đảo Mã-Pha (Gò Té Ngựa) thuộc ải Chi-Lăng, ở về phía nam cửa Nam Quan khoảng 50 km và tàn quân Minh cũng phải theo cửa Nam Quan mà trốn chạy về nước.
Thời Lê Thánh Tông (1460 -1497), nhà vua cho tu bổ lại Đòan Thành (Lạng Sơn), xây dựng lại các ải lớn, đặt 4 trạm dịch trên đất Lạng Sơn: Pha Lũy (Phia Lũy-theo tiếng địa phương), Mai Pha, Nhân Lý, Chi Lăng. Quy định của nhà nước là: chỉ có sứ bộ mới được đi qua ải Pha Lũy (sau này là ?i Nam Quan), còn những người bị tù tội, dân buôn bán trao đổi đều đi theo đường ải Du Thôn. Trên núi Kháo Sơn cũng có hai con đường: một cho sứ bộ, và một cho dân buôn. Nhà nước cũng quy định: các tổng quản, tuyên úy trị nhậm ở phiên lộ cách kinh thành 200 dặm, phải luôn luôn đẩy mạnh việc vũ vệ. Năm 1460, nhà vua hạ lệnh: "Những người coi giữ biên giới phải giữ quan ải cẩn thận, không được thông đồng với người nước ngoài". Trong bộ luật Hồng Đức, chương "Cấm Vệ" có điều "Những người bán ruộng đất, bờ cõi cho người nước ngoài thì bị xử chém". Điều 243 nêu rõ: Các tướng sĩ phòng giữ nơi quan ải nếu không phòng bị cẩn thận, dò la không đích thực để quân giặc đến bất ngờ đánh úp thì bị xử tội lưu hay tử".
Về cửa hay ải Nam Quan, theo Phương-Đình Dư địa chí của Nguyễn Văn-Siêu [bản dịch của Ngô Mạnh Nghinh, Tự Do xuất bản, SG, 1960], đời Hậu-Lê trở về trước gọi là cửa Pha-Lũy [hay Pha-Dữ], ở về phía bắc châu Văn-Uyên , trấn Lạng Sơn. Từ châu Bằng Tường [tỉnh Quảng-Tây] bên Trung-quốc muốn vào nước An Nam phải qua cửa quan nàỵ Theo Cương-mục và Lam Sơn Thực Lục, cửa Pha Lũy chính là cửa Nam Quan ở xã Đồng Đăng thuộc huyện Văn-Uyên [xưa làVăn Châu hay Châu Văn], tỉnh Lạng-Sơn. Từ đời Lê Trung Hưng, người Tàu gọi cửa Pha Lũy là Trấn Nam Quan (Chen Nan Kuan); còn ta thì quen gọi là cửa hay ?i Nam Quan.
Theo Đại-Nam Nhất-Thống-Chí, Trấn Nam Quan thuộc nội-địa nuớc Tàu, dựng dưới đời vua Gia Tĩnh [1522-1566]
nhà Minh.
Theo tác gỉa thì dịch giả đã diễn dịch sai lầm. Thật sự thì có lẽ tác giả muốn nói là ?i Nam Quan thuộc Tàu vào thời vua Gia Tĩnh. Vì sao nó lại thuộc Tàu vào ngày lúc này?
Theo tác giả thì có lẽ Mạc Đăng Dung do quá ươn hèn nên đã bị Tàu chiếm lấy cái ?i Nam Quan này sau khi làm lễ dâng biểu mất đất đai cho nhà Minh bên Tàu. Theo đoạn sử tả lại sự nhục nhã của phái đoàn Mạc Đăng Dung (xin xem lại chương 5) thì lúc đó Tàu chưa có làm chủ ?i Nam Quan gì cả. Quan quân Tàu còn phải đóng cách ?i Nam Quan 1 khoảng ngắn gọi là Mạc Phụ
Bộ "Đại Nam Nhất Thống Chí", quyển 14, đã viết về ải Nam Quan như sau: "Cửa quan Nam Giao: Cách tỉnh thành 31 dặm về phía bắc, ở địa phận hai xã Đồng Đăng và Bảo Lâm thuộc châu Văn Uyên, phía bắc giáp địa giới châu Bằng Tường tỉnh Quảng Tây nước Thanh, tức là chỗ mà người Thanh gọi là Trần Nam Quan. Cửa này dựng từ năm Gia Tĩnh nhà Minh, đến năm Ưng Chính thứ 3 (năm 1726) nhà Thanh, án sát tỉnh Quảng Tây là Cam Nhữ Lai tu bổ lại, có tên là "Đại Nam Quan". Phía đông là một giải núi đất, phía tây là một giải núi đá, đều dựa theo chân núi xây gạch làm tường, gồm 119 trượng (gần 400 mét; 1 trượng =3.3 mét), cửa quan đặt ở quãng giữa, có biển đề ba chữ "Trấn Nam Quan", dựng từ năm Ưng Chính thứ 6 triều Thanh, có một cửa, có khóa, chỉ khi nào có công việc của sứ bộ mới mợ Bên trên cửa có trùng đài, biển đề 4 chữ "Trung ngoại nhất gia", dựng từ năm Tân Sửu, đời Càn Long nhà Thanh. Phía bắc có cửa Chiêu Đức Đài, đằng sau đài có đình Tham Đường (nhà nuôi ngựa) của nước Thanh. Phía Nam có Ngưỡng Đức Đài của nước ta, bên tả bên hữu có hai dãy hành lang, mỗi khi sứ bộ đến cửa quan thì dùng chỗ này làm nơi tạm nghỉ.
"Xét: Trấn Nam Quan không rõ bắt đầu từ triều đại nào, trong Nam sử và Bắc sử đều không có nói minh văn. (Theo tác gỉa thì ải Nam Quan có lẽ đã thuộc Tàu vào thời Mạc Đăng Dung-Sử gia nhà Mạc thì không dám nói những cái ươn hèn của chính họ. Còn, các sử gia nhà Lê thì không biết rành vì vùng này thuộc nhà Mạc đến 150 năm sau. Ngay cả đốc trấn Lạng Sơn cũng còn không rõ xuất xứ của ?i Nam Quan. Còn sử gia Tàu thì cũng chẳng nói rõ chuyện này vì chỉ là chuyện nhỏ đối với họ. Cụm chữ "thuộc nhà Minh" đã bao hàm nhiều ý nghĩa: cũng có thể chính cái ải do nhà Minh xây lên, hay là nhà Minh đi ăn cuớp cái ải đó, hay là được nhà Mạc hiến dâng ải Nam Quan. Tất cả mọi tình huống đều nằm trong cụm chữ mập mờ "thuộc Nhà Minh thời Gia Tĩnh". Ngoài ra, bọn nhà Minh bên Tàu đã vét sạch tất cả các sách sử của Việt Nam đem về Tàu khi chúng sang xâm chiếm nước ta nên sau này việc tra cứu sử liệu Việt Nam có phần khó khăn).
Khoảng đời Lê Cảnh Hưng, đốc trấn Lạng Sơn Nguyễn Trọng Đang, sửa lại Ngưỡng Đức Đài bằng gạch, lập bia ghi việc đại lược nói: "Nước Việt ta có Ngũ Lĩnh, quan ải trước ở đâu không rõ, là vì diên cách thế nào không ghi đụ Gần đây lấy địa giới châu Văn Uyên trấn Lạng Sơn làm cửa quan, cửa quan có Ngưỡng Đức Đài không rõ dựng từ năm nào, có lẽ bắt đầu từ đời Gia Tĩnh nhà Minh." Văn bia ấy nay vẫn còn.
Lại xét: niên hiệu Gia Tĩnh (1522-1566) ngang với niên hiệu Nguyên Hòa (1533-1543) nhà Lê (Trang Tông), văn bia cũng nói có lẽ thế thôị Sử chép: năm Nguyên Hòa thứ 8, Mạc Đăng Dung cùng với bầy tôi là bọn Nguyễn Như Khuê qua Trấn Nam Quan, đến Mạc phủ nhà Minh dâng biểu xin hàng." Đến đây mới thấy sử chép tên Trấn Nam Quan."
Thời nhà Minh xâm lăng đô hộ nước ta, năm 1406, ông Nguyễn Trãi theo cha là Nguyễn Phi Khanh bị bắt sang Tàu cùng cha con Hồ Quý Lỵ Tại ải Nam Quan, Nguyễn Trãi đã vâng nghe theo lời cha ghi nhớ hận mất nước và sau này phò Bình Định Vương Lê Lợi đánh đuổi được quân Minh, thu hồi lại nền tự chủ cho nước nhà.
Theo Phương Đình Dư Địa Chí, cửa Nam Quan, tùy theo từng triều đại mà còn có những tên gọi khác như Đại Nam Quan,Trấn Di Quan, cửa Nam Giaọ Năm 1541, Mạc Đăng Dung và bày tôi qua cửa Nam-Quan xin hàng nhà Minh, bấy giờ cửa ải này có tên gọi là Trấn Nam Quan.
Trấn Nam Quan (hay ải Nam Quan) thì thuộc địa giới châu
Bằng-Tường [tỉnh Quang-Tây bên Tàu], đối diện với các xã Đồng-Đăng và Bảo-Lâm thuc châu Cao-Lộc [Văn-Uyên cũ], tỉnh Lạng-Sơn của ta. Hai bên cửa ải là núi đồi núi đá khácao. Cửa ải Nam Quan luôn luôn khoá kín, chỉ mở khi có việc thông sứ chính thức giữa hai nước. Theo Bắc-Thành Dư-Địa-chí [của Lê Đại-Cương] ở về phía bên phải cửa Nam Quan có nhiều ải nhỏ như ?i Bang [ở châu Lộc-Bình], ải Tầm Bang [ở xã Tam-Lộc], ?i Kiệm [ở xã An-Khoái], ải Na Chi [ở xã Xuất-Lễ], ải Khấu-Sơn [ở xã Cần-Lua], ?i Du [hay cửa Du-Thôn ở xã Bảo-Lâm] và ở về phía bên trái cửa Nam Quan
có các ải Bố Sa, Sơn-Tử [ở xã Tiên-Hội], ải Học-Mô [ở xã Hành-Lư], ải Bản Dương, Bản Quyên [ở xã Lạc-Khư], ải Nguyên-Anh, Bình-Công [ở xã Khánh-Môn], ải Bình-Nhi [ở xã Cửu-Dương]; thuộc châu Thất-Tuyền có các ải Bắc-Bố,Khấu-Trung [ở xã Nghĩa-Điền], ải Ba Tạm, Cảm Môn [ở xã Cụ-Khánh], ải Na-Mân, Khô-Thịnh [ở xã Nghĩa Khản], ải Kiều-Lễ, Kiều-Lân [chưa rõ ở xã nào], ải Cốc Ngoạ [ở xã Bình-Lục], ?i Hoa, ?i Mộ [ở xã Nông-Đồn].
Riêng về cửa ải Du-Thôn [ở xã Bảo-Lâm, châu Văn Uyên cũ -- tỉnh Lạng-Sơn], phía bắc giáp thôn Điếu-Sách [thuộc châu Thượng-Thạch bên Trung-quốc]. Từ cửa ải Du-Thôn đến cửa Nam-Quan đi đường núi đ 2 canh rưỡị Theo Phương Dình Dư Địa Chí, phàm tống đạt công văn việc thường [không khẩn cấp], trao trả ti phạmvà khách thương [buôn-bán] đi lại giữa Ta và Tàu đều do cửa nàỵ
Năm 1789 (Mùa Xuân Năm Kỷ Dậu), vua Quang Trung cũng từng đánh cho tan tác hàng vạn quân Tàu cùng với tổng đốc Tôn Sĩ Nghị khi sang giúp vua Lê Chiêu Thống. Kết quả, Tôn Sĩ Nghị sợ mất mật, phải bỏ chạy trốn qua ?i Nam Quan.
Năm 1802, Vua Gia Long thống nhất sơn hà. Theo Đại-Nam Thực lục, sau khi thống nhất đất nước, vua Gia-Long vẫn theo lệ cũ của đời nhà Lê cho thi-hành những thủ tục điều hành công vụ ở cửa Du Thôn.
Giấy thông hành qua cửa Du Thôn phải có đóng dấu ấn Văn Uyên Châu Quảng Úy Sứ Ty Chi Ấn. Còn các giấy tờ, công-văn ở địa phương Văn Uyên giao thiệp với Trung-quốc thì dùng ấn Văn Uyên Tấn Khẩu [nghĩa là dấu của Cửa quan châu Văn-Uyên]. Vua Gia-Long cho đổi chức Quảng Úy-Sứ ra là Thủ-Hiệu và cho đúc ấn đồng, khắc chữ triện, gồm các chữ: Văn Uyên Châu Thủ Hiệu Chi Chương. Bấy giờ cửa Du-Thôn phụ-trách bởi hai viên Chánh và Phó Thủ-Hiệu và hai hiệu quân. Đồng thời, vua Gia Long cũng sai Trịnh Hoài Đức vẽ lại bản đồ thống nhất Việt Nam. Năm 1806, Trịnh Hoài Đức hoàn thành công việc và trình vua Gia Long với bản đồ Việt Nam trong đó có ải Nam Quan.
Ngày 06-05-1813 (vào ngày 06-04 Quí Dậu-khi đi về thì vào ngày 29-03 Giáp Tuất-tức là ngày 18-05-1814), đại văn hào Nguyễn Du vâng mệnh vua Gia Long đi sứ, khi đi sứ qua ?i Nam Quan đã cảm tác bài thơ Trấn Nam Quan như sau (bản dịch của Đỗ Văn Hỷ-tr.279-sách Địa Chí Lạng Sơn-1999":
Lý-Trần việc cũ dấu phai mờ
Năm đã ba trăm kể đến giờ
Muôn núi ải quan nằm chính giữa
Mt thành Hoa-Việt vạch đôi bờ
Trời đất mới biết ơn sao nặng
Đất hẹp xui nên chuyện hóa ngờ
Mây biếc quay nhìn nơi cửa khuyết
Nhạc Thiều văng vẳng tiếng xa đưa
Qua bài thơ này đã chứng tỏ Trấn Nam Quan đã có cách đó khỏang 300 năm tức là khoảng năm 1513. Tức là Trấn Nam Quan có trước thời Gia Tĩnh triều Minh (1522-1560). Ngoài ra nó còn cho ta biết, bức tường thành chính là biên giới phân cách Việt-Trung vào thời đó.
Ngoài những chi tiết liên quan đến ải Nam Quan nói trên, ông Nguyễn Văn Siêu còn viết về những vụ lộn xộn tại biên giới liên hệ đến thị trấn Đồng Đăng, nơi có ải Nam Quan, trong đó có một đoạn đáng lưu ý như sau: "Năm thứ 29 niên hiệu Hồng Võ, Thổ tri phủ Tư Minh là Hoàng Quảng Thành tâu phủ ấy từ nhà Minh đặt lộ Tư Minh, châu huyện động trại trong hạt, phía Đông đến châu Thượng Tư, phía Nam đến Đồng Trụ, quân nhà Nguyên đánh nước Giao Chỉ, cách Đồng Trụ 100 dặm, đặt trại Vĩnh Bình, để quân đóng giữ, bắt người Giao Chỉ phải cung quân lương. Người Giao Chỉ đem quân đánh phá trại Vĩnh Bình khiến nhà Nguyên rối loạn, sau đó vượt qua Đồng Trụ hơn 300 dặm, xâm chiếm nhiều đất thuộc lộ Tư Minh, như 5 huyện Khâu Ôn, Như Ngạo, KhánhViễn, Uyên Thoát. Lại Đồng Đăng thực là đất của Tư Minh, mà người Giao Chỉ nói là Đồng Trụ dựng ở nơi ấy, xin ban sắc cho An Nam phải trả lại đất cũ để bờ cõi được đúng. Vua Minh Thái Tổ sai chức Hành nhân là Trần Thành Lã Nhượng sang dụ, bàn cãi đi lại, mãi vẫn không quyết, việc [quên] dần thôị"
Tới đời nhà Thanh gần đây, trong bài Trùng tu Nam Quan Ký của Tuần phủ Lý Công Phất còn nhắc tới việc này như sau: Nam Quan trông sang Giao Chỉ thật là hiểm yếu, ở đó có cột đồng Mã Viện.
Đến ngày mồng 8 tháng giêng năm Ất Dậu (1885) thì thiếu tướng De Négrier lên đến cửa Nam Quan, truyền phá ải quan, rồi trở về Lạng Sơn (Việt Nam Sử Lược, tác giả Trần Trọng Kim, trang 225, phần "Lấy thành Lang Sơn", ấn bản điện tử tại www.vnet.org/vanlangsj/tailieu/vnsl.pdf).
Theo lời mô tả của bác sĩ Hải Quân Neis (thành viên phái đoàn phân định biên giới) trong hồi ký Phân Định Biên Giới Pháp Hoa 1885-1887 của ông (Nguyên văn tiếng Pháp và được dịch giả tiến sĩ Walter J. Tips dịch ra tiếng Anh) thì:
?i Nam Quan nằm ở dưới 1 rảnh núi hẹp, hai bên là hai đồi núi khá dựng đứng, cao chừng 50-60 m (xin xem hình vẽ ?i Nam Quan của Eug. Burand). Khi đó thì Trung Hoa đã xây sửa lại ?i này và nối liền nó với 1 bờ tường thành thấp chạy dài theo hai bên núi. Các thành viên Trung Hoa đã kịch liệt phản đối và cho rằng bờ tường thành không phải là biên giới (nên nhớ đại văn hào Nguyễn Du đã làm 1 bài thơ Trấn Nam Quan vào năm 1813, bài thơ nói rõ bờ tường này chính là biên giới phân cách hai nước-xin xem chương 13). Phía Trung Hoa yêu cầu cột biên giới phải cách xa khỏi ?i Nam Quan. Cuối cùng, phía Pháp đồng ý cột mốc biên giới (thứ 25) cách ?i Nam Quan là 100m (theo hồi ký của bác sĩ Neis thì là 150 m (nghĩa là lấy biên giới là con suối nhỏ ở phía trước ải (suối này tên là suối Phi Khanh), theo hình chụp biên bản biên giới tại Văn Khố Đông Dương-Pháp thì cho biết chính xác là 100m). Kết quả là Việt Nam mất 100m ngay trước của ?i Nam Quan. Sau khi đó, hai phái đoàn đi qua các làng kế bên để tiếp tục đóng các cột mốc biên giới khác. Sau hai ngày, thì hai phái đoàn trở lại ?i Nam Quan để làm 1 bản báo cáo chính thức về việc đóng cột mốc biên giớị Cách ?i Nam Quan 150 m là một con suối nhỏ (sau này có 1 cây cầu bắc qua gọi là cầu Nam Quan).
Theo Địa dư Các Tỉnh Bắc Kỳ của Ngô Vi Liễn (1999) thì cửa Nam Quan ở ngay biên giới Trung Quốc và Việt Nam. Kể từ Hà Nội lên đến tỉnh lỵ Lạng Sơn là 150 km; đến cây-số 152 là chợ Kỳ Lừa; đến cây số 158 là Tam Lung; đến cây số 162 là Đồng Đăng; đến cây số 167 là ?i Nam Quan đi sang Long Châu bên Tàụ Như vậy từ Đồng Đăng lên cửa Nam Quan có 4 km (xin xem hình anh lính Pháp ngồi với bản đề 4 km); từ Kỳ Lừa lên Nam Quan mất 15 km.Về phía Tây-Nam chợ Kỳ Lừa có động Tam Thanh, trước động Tam Thanh có núi Vọng Phu hay tượng nàng Tô Thị là những danh thắng của tỉnh Lạng Sơn và từ tỉnh-lỵ Lạng-Sơn lên Nam-Quan là 17 km.
Thời Pháp-thuộc, người Pháp gọi cửa Nam-Quan là Porte de Chine, nghĩa là cửa ngõ Trung-quốc. Tên này được dùng cho đến 1945. Năm 1931, Tờ báo National Geographic có chụp hình ?i Nam Quan từ bên phía phải của nó.
Sau năm 1954, Mao Trạch Đông cho đổi cách gọi Trấn Nam Quan là Mục Nam Quan (Mục: theo từ điển Hán Việt của Đào Duy Anh thì có nghĩa là hòa thuận, tin cậy, thân thiết-vì vậy tên tiếng Anh là Friendship Gatẹ Hồ Chí Minh thì cho gọi là Hữu Nghị Quan). Còn Bộ trưởng ngoại giao Trần Nghị (Chen Yi) thì cho gắn bảng là Mục Môn Quan.
Từ thời Pháp, dựa theo bức họa của Eug. Burnandvẽ năm 1887, biên giới hai nước Trung-Việt ở Nam Quan ngăn cách bởi một bức tường thành, ở giữa có cửa thông sangTrung-quốc và hai bên là hai ngọn núi khá cao (xin xem hình đính kèm). Trải qua những trận chiến Pháp-Hoa ở vùng biên-giới Lạng Sơn, bức tường thành và cửa ngăn cách biên-giới hai nước nay không còn nữạ Còn bưu-thiếp của Collection de L'Union Commerciale Indochinoise vào năm 1910 (xin xem hình) cho thấy một cửa Nam Quan sát chân núi khá cao; ngoài cửa chính có lính canh gác và còn có một cửa phụ ở bên cạnh và phía sau cửa ải có một tòa nhà lầu ở lưng chừng núị Cũng vì chiến-tranh Pháp và Việt-Minh, cửa Nam Quan này nay không còn.
Từ Đồng Đăng lên Nam Quan lác-đác có ít nhà nhỏ xây bằng gạch (xin xem ảnh tư liệu). Gần đồn lính của Pháp ở Nam Quan thì có vài hàng quán nhỏ dành cho khách đi đường, lính-tráng trong đồn hoặc một ít người tài-xế lái xe vận-tải hay những người làm nghề khuân vác lẩn quẩn ở đó chờ đêm xuống lẻn qua biên giới sang Tàu để khuân hàng lậu về nước ta để kiếm lời. Từ biên giới Nam-Quan sang Bằng-Tường cũng vậy, nhà cửa thưa-thớt chứ không có phố sá gì nhiều cả. Một đồn lính biên phòng nhỏ của Việt-Nam ở ngay sát đường biên-giới hai nước trước cửa Nam Quan (xin xem hình)
Từ Lạng Sơn đến Đồng Đăng khoảng 14 cây số và từ Đồng Đăng đến cột mốc số 0 do Pháp cắm ngày xưa để làm dấulằn ranh giới giữa hai nước và cũng là cột mốc đầu của Quốc lộ 1, phải mất 4 cây số nữa. Trước khi tới cột mốc số 0 (theo tài liệu biên bản biên giới Pháp-Thanh thì cột mốc này được đánh số 25. Vào năm 1979, cột mốc này đã bị lính Trung Quốc dùng xe ủi nát mất dấu. Sau đó, dân địa phương cho dựng lại cột mốc nhưng họ không rõ trước đó nó là số mấy nên đành để 0 (trên cột có đề chữ H. N. Quan). Vị trí cột này dễ nhận biết vì nó nằm gần ngay 1 cây đa và 1 giếng nước-còn gọi là giếng Phi Khanh) khoảng 100 thước, phải dừng xe ở trạm gác biên phòng của Việt Nam. Tại đây, mọi người phải vào Phòng Xuất Nhập Cảnh làm thủ tục kiểm dịch quốc tế, đóng thuế Hải Quan rồi mới được đi tiếp. Từ trạm gác biên phòng đi khoảng 100 thước nữa thì đến cột mốc số 0 đã nói ở trên. (Cách đường cái quan là đường xe lửa Việt Trung cách đó 50 mét. Điểm nối ray là cách ?i Nam Quan 300 mét. Bản tín hiệu xe lửa thì cách ?i Nam Quan 500 mét). Qua khỏi cột mốc biên giới khoảng 100 thước lại gặp trạm kiểm soát biên phòng của Trung Quốc rồi đến Phòng Xuất Nhập Cảnh như bên Việt Nam. Tại đây, hải quan biên phòng của Trung Quốc thâu lệ phí và thâu passport cùng giấy tờ tùy thân, rồi cấp giấy tạm nhập khẩu Trung Quốc. Có khi vui miệng, họ còn nhắc rằng phải đổi giờ 1 tiếng đồng hồ vì Trung Quốc theo giờ Bắc Kinh còn dân Việt thì theo giờ Hà nội. Ra khỏi Phòng Xuất Nhập Cảnh là thấy ngay cổng Hữu Nghị Quan (?i Nam Quan) đồ sộ hiện ra trước mắt-bên tay trái, chỉ cách phòng này khoảng 100 thước. Đi xuôi về phía Trung Quốc khoảng hơn 200 mét nữa thì có trạm xe buýt quốc tế có bảng "International Terminal" để chở khách du lịch đi đến Long Châu (xin xem các ảnh tư liệu đính kèm).
Thật đau buồn cho dân tộc Việt Nam!
Qua các cuộc thương thảo về phân định biên giới Việt-Trung, Thứ trưởng Ngoại Giao Lê Công Phụng đã phải thú nhận nhà cầm quyền VN đã nhượng 200 mét tính từ cột mốc O Km (H.N.Quan). Tính ra biên giới Việt-Trung ngày nay là chính ngay chổ nhà Xuất Nhập Cảnh Việt Nam (tức cách ?i Nam Quan-Hữu Nghị Quan khoảng 400 mét).
-------------------------
Phần trên là trích từ các chương 13&14 của sách "Những Biến Cố Mất Lãnh Thổ-Lãnh Hải của Việt Nam từ 939-2002". Sách hiện đang được bày bán tại các nhà sách báo hải ngoạị Ở xa có thể đặt mua qua tác giả tại:
Trinh Quoc Thien, Esq.
P. Box 323
Annandale, VA 22003
Giá 22USD/cuốn (bao cước phí và thuế).

No comments: