Tuesday, November 8, 2016

DUY THANH * THÁI TUẤN * VƯƠNG ĐỨC LỆ * TRẦN VĂN TUYÊN

DU TỬ LÊ * DUY THANH

Duy Thanh, người họa sĩ cuối đời chỉ 
…nguệch ngoạc!
                                Du Tử Lê

 
Ảnh: Duy Thanh trên đường phố San Francisco 1-2011 

Bị thôi thúc bởi ngọn lửa bập-bùng-náo- nức của T., cuối cùng, tôi cũng đã thực hiện được chuyến viếng thăm người họa sĩ nổi tiếng một thời của văn học, nghệ thuật miền nam Việt Nam, 20 năm. Duy Thanh.

Tôi nói “cuối cùng” vì, sinh thời, nhà văn Mai Thảo nhiều lần rủ tôi:
 “Hôm nào mình kéo nhau đi thăm thằng Duy Thanh đi. Nó ở gần đây lắm. San Francisco ấy mà…”
Tôi nhớ, luôn luôn sau câu nói nghiêm chỉnh pha chút bùi ngùi nhớ bạn, ông lại bôi xóa ngay giây phút… (yếu đuối?) bất thường của mình, bằng một lượng thuốc bồi khác:
“ Nhưng nếu gặp nó mà nó bắt chúng ta đi bộ suốt ngày theo nó thì chắc…chết!”




Tranh Duy Thanh

Chừng sợ tôi hiểu khác, ông pha loãng hay làm “chệch hướng” màn khói khét do thuốc nổ tạo ra, bằng cái nheo mắt giễu cợt (rất Mai Thảo) và, nụ cười móm-mén-hóm-hỉnh:
“Thằng đó được lắm.”
Tuy nhiên, cách gì thì, tác giả “Đêm giã từ Hà Nội” cũng rất chính xác khi nói “…gần đây lắm.”
Khoảng cách từ phi trường John Wayne tới San Francisco, dù đi hãng máy bay nào cũng chỉ mất hơn một tiếng.

 Ý niệm “gần đây lắm” của ông, càng chính xác hơn, khi rất thường, chúng tôi có những chuyến bay đi San Jose - - Với nhiều lý do khác nhau. Mà, đôi khi…chẳng có lý do gì, ngoài “sự cố”:

“Tôi buồn quá…Bỏ đây vài ngày đi Lê…”
Bằng xe hơi, đoạn đường từ San Jose đi San Francisco chỉ mất từ bốn tới năm mươi phút. Nhưng những ngày ở San Jose, nắng ráo; những ngày San Jose, mưa dầm; những ngày San Jose, mùa đông, cuối năm lướt thướt, rét, chưa lần nào Mai Thảo nhắc nhở tôi đi thăm người bạn ông hằng muốn gặp!  


Tôi không biết, có phải ông chỉ nghĩ tới chuyện gặp bạn, khi chung quanh ông không có ai? Hay đó là những đêm một mình? Chong đèn. Uống rượu. Lẩn trốn bóng mình bằng cách ngước nhìn bức tranh trên tường, của Duy Thanh. Bức tranh nhỏ, chứa những bệt mầu đỏ bầm. Tươi. Nẫu. Nối kết rồi đứt lìa. Như những mảnh đời chộn rộn, nổi trôi trong giới hạn nghiệt ngã trên nền đen đất / trời vô tận. Bức tranh Duy-Thanh-không-ngày- tháng. Không chữ ký.




Duy Thanh

Tôi cũng không biết, có phải đó là lúc ông cho rằng, “Thôi, để cho nó yên…” như thói quen thoái thác của ông, ở vài trường hợp khác.

 Trong khi tôi từng có với ông chí ít hai lần thăm Ngọc Dũng ở Virginia. Nơi chúng tôi phải trả giá bốn lần bay dài lâu hơn San Francisco.

 Bị thôi thúc bởi ngọn lửa bập-bùng-náo-nức của T., cuối cùng, tôi cũng đã thực hiện được chuyến viếng thăm người họa sĩ nổi tiếng một thời của văn học, nghệ thuật miền nam Việt Nam, 20 năm…”

 Tôi nói, “cuối cùng” vì lần chót, khoảng hai năm trước khi từ trần, (1) một buổi sáng, rất sớm, tác giả “Ta thấy hình ta những miếu đền” gọi tôi ra nhà hàng Viễn Đông.

“Có thằng Duy Thanh và cả thằng Thái Tuấn nữa. Bên Tây mới qua. Ra ngay nhé.”
 Rồi không hiểu vì lẽ gì, ông hỏi:
“Nhớ Thái Tuấn không?”

Tôi nhớ chứ. Nhớ cuối năm 1973, Tân Định mưa tầm tã, vì đã hẹn trước, tôi lặn lội tìm căn nhà trong hẻm của họa sĩ Thái Tuấn. Hỏi xin ông một bức tranh, làm bìa cho cuốn “Đời mãi ở phương đông.” Kỷ niệm đáng kể đầu tiên tôi có với ông. Đồng thời, nó lại là cuốn sách cuối cùng của tôi được in tại quê nhà.

Tôi nhớ, khi chúng tôi ra tới, “ba ông thần,” (cách nói của T.) đã ngồi sẵn.
 
Lần đầu tiên T. gặp hai họa sĩ mà tên tuổi họ gắn liền với tạp chí Sáng Tạo. Nhưng Mai Thảo không giới thiệu. Ông mặc nhiên coi như T. đã biết. Ông chỉ giới thiệu với họ, T. là ai.

 Với nụ cười móm-mém-hóm-hỉnh, suốt buổi ăn sáng, tác giả “Căn nhà vùng nước mặn” thỉnh thoảng lại đùa nghịch, liệt kê “thành tích” hai bạn mình. Ông chỉ Duy Thanh, húi cua, vạm vỡ, bảo T.:

“Cô phải nhớ thằng này là…vô địch đi bộ ở San Francisco đấy. Nó leo đồi, xuống dốc cả trăm bận mỗi ngày…Mỹ già, Mỹ trẻ gì cũng đều ngán nó hết…”

Dù đã quen với cách nói “thậm xưng” của Mai Thảo, mỗi khi ông cao hứng, bày tỏ lòng yêu bạn, nhưng chẳng vì thế mà chúng tôi có thể nín cười. Ngay Thái Tuấn, bản chất vốn khoan thai, từ tốn, cũng không khỏi bật cười thành tiếng.

 Trong khi chúng tôi cười ngặt nghẽo thì, Duy Thanh vẫn “trụ” vững. Như một pho tượng. Một khối đá. Ông có cười. Nhưng đó là nụ cười lơ mơ (nhiều phần lơ ngơ!) Như dợn sóng lăn tăn của một mặt nước gió dùa.

 Cũng khởi tự lòng yêu bạn, khi quay sang Thái Tuấn lòng khòng, giấy mỏng, Mai Thảo dặn dò chúng tôi, có nói chuyện với “ông Tây” này, thì phải nhớ nói cho lớn:

“Nó điếc lặc, điếc lè. Nhưng nói nhiều lắm đấy!”
Vẫn nụ cười lơ mơ (nhiều phần lơ ngơ,) Duy Thanh nhìn bạn. Thân ái. Im lặng.
Ra khỏi cuộc gặp gỡ, T. bảo tôi, T. có cảm tưởng:
“Anh Duy Thanh không vẽ bằng cọ mà, bằng một thanh củi tạ hoặc một cái…xẻng!” 




Tranh Duy Thanh

Ba ngày sau, gặp lại nhau nơi căn phòng trong khu nhà dành cho người già, phía trong nhà hàng Song Long, đường Bolsa, T. rụt rè hỏi xin tác giả “Bản chúc thư trên đỉnh ngọn trời” bức tranh Duy Thanh, trên tường. Bức tranh nhỏ, chứa những bệt mầu đỏ bầm. Tươi. Nẫu. Nối kết rồi đứt lìa. Như những mảnh đời trộn rộn, nổi trôi trong giới hạn nghiệt ngã trên nền đen đất / trời vô tận. Bức tranh Duy-Thanh-không-ngày- tháng. Không chữ ký.

Mai Thảo bảo:
“Lấy đi!”
Rồi buồn bã tiếp:
“Chúng nó đi rồi!”
Một ngày khác, gặp lại tôi, bất ngờ, ông nhắc:
“Hôm nào mình đi thăm Duy Thanh đi! Thằng đó được lắm…!”

 Lần ấy, hẹn hò về chuyến đi tới một nơi “gần đây lắm” của ông, cũng không thành.
 
Tôi không biết có phải vì những đêm thức trắng, tác giả “Ngọn hải đăng mù” không còn bức tranh gồm những bệt mầu đỏ bầm. Tươi. Nẫu…của bạn, để ngước nhìn? Hay ông đã có cho mình một ngước nhìn khác. Thí dụ: Hư vô, để lẩn trốn?

Tôi e, có thể đó là thời gian ông tự thổi tắt ngọn nến hẹn hò với một nơi “gần đây lắm!” Khi bản thân, cay đắng nhận ra, ông đã phải thuận cho T. dìu ông vào quán. Xốc nách ông đứng lên đôi lần, khi thình lình, ông té bổ chửng trên bậc thềm gần cửa phòng, những buổi tối chúng tôi đưa ông trở về nhập nhoạng giữa mê / tỉnh.

Đó cũng là lúc những nụ cười móm-mén-hóm-hỉnh về “thằng đó được lắm!” của ông biến mất lúc nào, không ai biết!

Tôi muốn nói, đấy là những chỉ dấu cho thấy tác giả “Chuyến tầu trên sông Hồng” quy thuận lẽ vô thường! Trước khi “chuyến tầu” bị coi là ngạo mạn, trôi lần vào những vùi dập thác, ghềnh bệnh hoạn, qua những đợt vào / ra bệnh viện. Chóng mặt. 

Trí nhớ bén, sắc của ông về bằng hữu, thi ca, thời gian, nơi chốn…cũng âm thầm chia tay ông. Không ít những người từng có thời gian dài gần cận với ông trong những năm, tháng quê người, tìm thăm ông; khi được hỏi có nhận ra ai? Ông im lặng. Nhìn trân trối, trước khi lắc đầu. Quay mặt chỗ khác.

 Nhưng với những tình thân hữu cơ, đặc biệt, ông không chỉ nhận ra. Nhớ tên. Mà, còn biết nhờ cô cháu gái gọi điện thoại cho mấy người đó, vào những giờ cuối cùng đời ông.

 Tôi tin trong số những hình ảnh, tên tuổi, kỷ niệm mà, ngọn lửa hư vô không thể thiêu sạch trong hồn, phách tác giả “Tháng giêng cỏ non” có Duy Thanh.

Có “Thằng đó được lắm.”

“Thằng đó,” người họa sĩ duy nhất (trong số ba họa sĩ gắn bó với tạp chí Sáng Tạo) khiến ông từng viết xuống: Duy Thanh, “Những ngón tay bắt được của trời.”
 
Bị thôi thúc bởi ngọn lửa bập-bùng-náo- nức của T., cuối cùng, tôi cũng đã thực hiện được chuyến viếng thăm người họa sĩ có “những ngón tay bắt được của trời.” Người họa sĩ đã lâu, thôi vẽ! Ông chỉ còn nguệch ngoạc./.

Chú thích:
(1): Nhà văn Mai Thảo mất ngày 10 tháng 1 năm 1998, tại Orange County, California.

Du Tử Lê
Ngày đăng: 23.01.2011
[ Trở lại ] [ Tiếp ]

In tác phẩm Góp ý Gửi cho bạn
Cùng thể loại
Bạn Xa Xứ - Nguyễn Thị Hậu
Mẹ ngồi vá áo thềm xưa - Huỳnh Thúy Kiều
Ghi Chép Buổi Sáng - Hamvas Béla
Hớt tóc ngày tất niên - Huỳnh Như Phương
Những ngày ở Vĩnh Điện - Trần Trung Đạo
Nắng vàng trong rừng khô - Trương Vũ
Trên Mạng Người Ta Có Cô Đơn…? - Nguyễn Thị Hậu
Nụ Tháng Chạp - Trần Quang Phong
Thư từ Miền Nam, - Đặng Kim Côn
Một Thời Chưa Xa - Nguyễn Thị Hậu

VĂN QUANG * TƯỞNG NIÊM THÁI TUẤN

                                                     


Tang lễ cố hoạ sĩ Thái Tuấn chắc chắn sẽ có rất nhiều “anh em cũ” đến tiễn đưa “lão làng” về nơi an nghỉ cuối cùng. Nguyễn Nghiệp Nhượng nói với tôi như thế trước khi tôi từ Lộc Ninh về Sài Gòn .Tôi hiểu “anh em cũ” có nghĩa là những anh em hoạt động trong lãnh vực văn học nghệ thuật trước năm 1975 ở miền Nam, chứ chẳng riêng gì ở Sài Gòn. Hoạ sĩ Thái Tuấn đã trở thành một trong số vài nghệ sĩ nhiều tuổi nhất còn sống ở thành phố này. Ông trở thành “cây đại thụ”, cũng như những hàng cây cổ thụ mà từ khi những người Bắc di cư vào Nam năm1954, đã nhìn thấy trên những con đường đẹp nhất “đô thành” thời bấy giờ.
Vào những ngày cuối năm, có hai tin vui về hội hoạ.  Một ông ở bên Tây về Việt Nam triển lãm. Còn một ông ở Việt Nam lại đi Mỹ triển lãm. 
Ông thứ nhất chính là lão hoạ sĩ  Thái Tuấn, năm nay 88 tuổi rồi, ông đã di chuyển sang Paris từ sau năm 1975. Giữa năm nay, ông lừng lững trở về Việt Nam, và như tôi đã có dịp tường trình với bạn đọc trong một số trước, ông “quyết tâm” sáng tác để có thể ra mắt những tác phẩm mới nhất vào dịp cuối năm này. Ông đã đạt được ước mong đó. Triển lãm Thái Tuấn được mang tên “Về Nguồn”, từ ngày 9 đến 21 tháng 12 -2006, tại Phòng tranh Tự Do đường Hồ Tùng Mậu Sài Gòn.
Xin đọc tiếp bài của Nhà Văn Văn Quang: Triển Lãm Tranh Thái Tuấn

Thái Tuấn tên thật là Nguyễn Xuân Công, sinh ngày 11-9-1918 tại phố Hàng Bông Thợ Nhuộm, Hà Nội – trong một gia đình công chức khá giả – đồng tuế và đồng môn với họa sĩ Nguyễn Tư Nghiêm. Anh có vào học trường Mỹ Nghệ Gia Định, và theo lớp dự bị tại trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Hà Nội, cùng khóa với Phan Tại, Đặng thế Phong, khoảng 1938-1940, rồi bỏ dở.
Thời chiến tranh chống Pháp, Thái Tuấn về sống ở quê ngoại Thanh Hóa, vẽ tranh cổ động, quảng cáo và quan hệ với nhiều nhà văn kháng chiến như Thanh Châu, Quang Dũng, Hồ Dzếnh, Nguyễn Tuân. Sau hiệp định Genève 1954, anh di cư thẳng từ Thanh Hóa vào Sài Gòn, sống vào nghề vẽ quảng cáo và trang trí. Mãi đến khoảng 1956-1957 anh mới thật sự vẽ tranh sơn dầu nghệ thuật và dùng bút danh Thái Tuấn. Cùng với các họa sĩ di cư khác : Ngọc Dũng, Duy Thanh, Tạ Tỵ, Thái Tuấn đã góp phần xây dựng nền hội họa hiện đại tại Sài Gòn, được xem như có tham vọng làm thủ đô một nền văn hóa mới. Bốn họa sĩ nói trên đều là nhà văn, nhà thơ ; riêng Thái Tuấn thường viết lý luận về hội họa và mỹ thuật trên các báo Sáng Tạo, Bách Khoa, và Văn, thịnh hành lúc đó ; bài viết của anh ít tính cách kỹ thuật và chuyên môn, nên nhẹ nhàng, cởi mở và phổ quát, giúp nhiều độc giả làm quen với hội họa, là một ngành nghệ thuật mới đối với đại chúng. Những bài viết kết hợp với tác phẩm hội họa đẹp và dễ hiểu, tạo cho Thái Tuấn một uy tín : anh tham gia hội đồng giám khảo ở nhiều giải thưởng và phòng tranh. Những cuộc triển lãm cá nhân 1958, 1970, 1973 được dư luận đánh giá cao – về nghệ thuật và thương mãi.

Thái Tuấn đến với sơn dầu ở tuổi bốn mươi, nên tranh anh ít sắc cạnh, khai phá, mà giàu chất hoài niệm và tính văn học, tạo không gian thoáng rộng, u hoài, thi vị. Đề tài, ưu tiên là phụ nữ trong nhan sắc, dáng dấp, cử chỉ, y phục thuần túy Việt Nam trên nền màu sắc dịu nhẹ, dung dị mà tế nhị.
Nhan sắc ở đây chủ yếu không phải chỉ là nữ sắc mà là một thoáng đẹp giữa trần gian. Thái Tuấn vẽ nét đẹp của phụ nữ hơn là phụ nữ đẹp, người đàn bà hóa thân làm vẻ đẹp trong tranh, diễm ảo mà hư ảo, một thoáng hồng nhan, như một lời thơ. Họa sĩ Đinh Cường, tâm giao và thâm giao với anh từ non nửa thế kỷ, đã có lần nhận xét Thái Tuấn biến bức tranh thành một cấu trúc tiềm ẩn (1). Anh chỉ vẽ tiếng hát chứ không vẽ người mẫu, mà vẫn nhìn ra (ca sĩ) ; anh thường tâm sự : vẽ người mà không vẽ người. Vẽ như không vẽ mới đã...  
Vẽ phụ nữ, Thái Tuấn quan tâm đến mái tóc, đôi khi mái tóc vận hành cấu trúc bức tranh, như bức Cội Nguồn, 1970 ; nhưng mái tóc trong tranh còn là một trời thu tạnh mơ say hương nồng. Anh có bức chân dung thiếu nữ, 1964, đặt tên bằng tiếng Pháp « Tes Yeux » (Mắt Em) , nhắc câu thơ mắt em là một dòng sông ; 1974 bức Bông Hồng Bạch, là hồn của bông hường trong hơi phiêu bạt, như một lẵng hoa vắng cả bông hoa / un bouquet absent de fleurs, theo một ý của Mallarmé.
Đến với hội họa ở tuổi bốn mươi, trải qua nhiều kinh nghiệm văn chương, Thái Tuấn để lại nhiều họa phẩm phảng phất chất văn học – có khi là một bài hát, như Dư Âm, hay Dòng sông cũ (vẫn xuôi niềm thương… ) 
Tiếng Pháp gọi họa sĩ làartiste-peintre ; ở Thái Tuấn, chất artiste nhiều hơn chất peintre, anh là nghệ sĩ hơn là họa nhân, anh là thi sĩ vẽ tranh, gọi anh là họa sĩ - thi nhân, như một Vương Duy thời Đường, có lẽ đúng. Trong mỗi họa sĩ, có một nghệ sĩ và một nghệ nhân : nghệ nhân lấy bức tranh làm đối tượng, nghệ sĩ lấy Cái Đẹp làm cứu cánh. Mà chữ Đẹp viết hoa là cõi Vô Cùng. Từ đó mỗi bức tranh Thái Tuấn dù đã hoàn tất và toàn bích, vẫn còn, vẫn là nỗi chờ mong – thiếu vắng. Đó là cách đọc những khoảng mông mênh trong tranh Thái Tuấn, những trời thu xanh ngắt, quạnh vắng chiều sông, nắng chia nửa bãi, để mộng tàn lây, nhớ nhà châm điếu thuốc… một không gian tư lự, u hoài và mơ ước trong mùa xuân chưa đi, mùa thu chưa đến. Đời Thái Tuấn là một bức tranh duy nhất và dở dang. Vẽ hoài mãi vẫn chưa xong một vạt trăng tơ, một tà nắng lụa. 
Giới phê bình thường nhận xét : tranh hiện đại, tây phương của Thái Tuấn vẫn giàu chất Á Đông và dân tộc. Thật ra anh không mấy chủ tâm vào truyền thống, trường phái hay dân tộc tính, thậm chí trong thời kỳ sáng tác dồi dào nhất, những năm 1960-1970, anh còn hờ hững với dân tộc, định hình trong biên giới và lịch sử. Sau này, 1984, ra nước ngoài, ở tuổi xế chiều, anh mới hoài vọng về cảnh nông thôn và nông dân Bắc Bộ hồi đầu thế kỷ trước. Và đề tài quê hương mới rõ nét như một ám ảnh.
Ngày nay nhiều người đòi hỏi bản sắc dân tộc trong nghệ thuật, với những luận điệu có khi thô sơ. Để lý luận được khách quan, ta thử đối chiếu với một đề tài tương tợ : nghệ thuật và tôn giáo. Nhà văn công giáo thuần thành Jacques Maritain trong sách Nghệ Thuật và Kinh Viện đã nhắc nhở các nghệ sĩ, đại khái : nếu anh dùng nghệ thuật để phụng vụ đức tin, hay dùng tín ngưỡng để phục vụ nghệ thuật, thì hoặc là anh làm hỏng tranh, hoặc là anh làm rối đạo. Chuyển lý luận ấy sang chuyện dân tộc, cũng vậy thôi. Maritain càng nói rõ : trên lý thuyết nghệ thuật là siêu thời gian và siêu không gian, supra tempus, supra locum.(2) Nhưng trong thực tế, nghệ thuật do đề tài và cội rễ, thuộc một thời đại và một xứ sở. Những tác phẩm toàn cầu nhất, nhân đạo nhất đều mang rõ rệt dấu ấn của tổ quốc.

Về Thái Tuấn, Đinh Cường còn lưu ý: anh là người ngoan đạo nhưng không thấy anh đi nhà thờ. Màu sắc dân tộc e cũng cùng một cội nguồn, là những tình cảm đã nhập vào anh, ẩn sâu trong tiềm thức. Khi vẽ tự động ra.

Do đó mà Thái Tuấn vẽ cái gì rồi nó cũng ra dân tộc; vì suốt đời anh chỉ vẽ thuần một giấc mơ. Con người làm chủ, kiểm soát, điều khiển được tư tưởng, thậm chí tình cảm, nhưng không ai làm chủ được giấc mơ. Giấc mơ là cái gì không thể chia chác, và cũng không thể tái lập. Nhưng dường như các nghệ sĩ có khả năng sống lại, và làm sống lại trong một bức tranh.
Nếu ai cho tôi một từ, chỉ một từ thôi trong tiếng Việt để mô tả tranh Thái Tuấn, tôi sẽ xin chữ « thơ mộng », thơ của tuổi thơ và mộng làm bươm bướm. Nếu là tiếng hán việt, tôi sẽ dùng chữ « hoài vọng » ; hoài những bến xuân xưa và vọng về Miền Đẹp bồng đảo xa khơi.

Tranh Thái Tuấn là miền, là niềm an tịnh vô biên. Mỗi bức tranh Thái Tuấn là một tâm cảnh dạt dào tâm cảm, một thời khắc im lặng dặt dìu âm hưởng.


Nhưng hôm nay, chiều nay, giờ này , niềm lặng im bổng òa vỡ thành tiếng khóc
Đặng Tiến


Orléans, 20/10/2005, viết lại 26-9-2007
Ghi chú:


(1) Đinh Cường, Thái Tuấn Cội Nguồn, báo Ngày Nay (Mỹ) số 354, ngày 01/11/1996.


(2)Jacques Maritain, Art et Scholastique, báo Les Lettres, tháng 9-10, 1919, in lại 1935, trang 115 va 130, nxb Louis Rougart, Paris
Thư tịch:
Thái Tuấn, Câu Chuyện Hội Họa, nxb Cảo Thơm, 1967, Sài Gòn.


Thái Tuấn, Tuyển Tập Tranh và tiểu luận, nxb Vaala, 1996, California. (Có phụ lục phần phê bình, giới thiệu của nhiều tác giả khác).


Thái Tuấn, Nguồn Mỹ Cảm, tạp chí Văn, số 93, 1967, Sài Gòn.


Thái Tuấn, trả lời phỏng vấn Huỳnh Hữu Ủy, tạp chí Văn, số 199, 1972, Sài Gòn.


Huỳnh Hữu Ủy, Bóng dáng Thái Tuấn giữa nền nghệ thuật hiện đại, tạp chí Thế Kỷ 21, số Xuân Bính Tý, 1996, California.


Phan thị Đỗ Quyên : Xem tuyển tập tranh và tiểu luận Thái Tuấn, tạp chí Thế Kỷ 21, số 91, tháng 11/1996, California.

                
 
  
  
  
                          
     
                Thiếu Nữ 1993                                                                       Thiếu Nữ 1995
               
                                                                      Orleans 1996
                 
               
                                                               Tự Họa 1994

THƠ TÔ THÙY YÊN

Thơ Tô Thùy Yên

Tô Thùy Yên tên thật là Đinh Thành Tiên, sinh năm 1938 tại Gò Vấp, Gia Định, học qua Petrus Ký và Đại học Văn Khoa Sài Gòn, cấp bậc Thiếu Tá trong quân đội Miền Nam trước 1975. Sau 1975 ông đã bị giam giữ cải tạo hơn mười năm. Hiện ông sống tại Houston (Mỹ).

Tô Thùy Yên, Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, cùng với các họa sĩ Duy Thanh, Ngọc Dũng, là những người nòng cốt của nhóm Sáng tạo, một nhóm sáng tác đã từng được biết đến với phong trào khai sinh “Thơ Tự Do” trên văn đàn Miền Nam vào thập niên 1960. Cả hai tập thơ Tuyển tập thơ Thùy Yên (1995) và Thắp Tạ (2004) đều được xuất bản ở Mỹ sau khi ông đến định cư ở quốc gia này vào năm 1993.


TRƯỜNG SA HÀNH

Bài thơ Trường Sa hành Tô Thùy Yên viết tháng 3/1974, chắc là sau một chuyến hành quân công vụ của ông ra vùng đảo này. Xin nhớ là, hai tháng trước thời điểm bài thơ ra đời, Trung Quốc đã cho quân đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa (19/1/1974). Chính quyền Việt Nam Cộng hòa khi đó đã điều quân đội ra đánh trả. Máu binh lính Việt Nam đã đổ xuống trên vùng biển vùng đảo của Tổ quốc để quyết giữ trọn vẹn giang sơn bờ cõi Việt Nam.
Toujours il y eut cette clameur
toujours il y eut cette fureur…
Saint John Perse (Exil)
*************************************************

Trường Sa! Trường Sa! Đảo chếnh choáng!
Thăm thẳm sầu vây trắng bốn bề.
Lính thú mươi người lạ sóng nước,
Đêm nằm còn tưởng đảo trôi đi.
Mùa đông bắc, gió miên man thổi
Khiến cả lòng ta cũng rách tưa
Ta hỏi han, hề, Hiu Quạnh Lớn
Mà Hiu Quạnh Lớn vẫn làm ngơ.
Đảo hoang, vắng cả hồn ma quỷ,
Thảo mộc thời nguyên thủy lạ tên
Mỗi ngày mỗi đắp xanh rờn lạnh
Lên xác thân người mãi đứng yên.
Bốn trăm hải lý nhớ không tới
Ta khóc cười như tự bạo hành
Dập giận, vác khòm lưng nhẫn nhục,
Đường thân thế lỡ, cố đi nhanh.
Sóng thiên cổ khóc, biển tang chế.
Hữu hạn nào không tủi nhỏ nhoi?
Tiếc ta chẳng được bao nhiêu lệ
Nên tưởng trùng dương khóc trắng trời.
Mùa gió xoay chiều, gió khốc liệt,
Bãi Đông lở mất, bãi Tây bồi.
Đám cây bật gốc chờ tan xác
Có hối ra đời chẳng chọn nơi?
Trong làn nước vịnh xanh lơ mộng
Những cụm rong óng ả bập bềnh
Như những tầng buồn lay động mãi
Dưới hồn ta tịch mịch long lanh.
Mặt trời chiều rã rưng rưng biển
Vầng khói chim đen thảng thốt quần,
Kinh động đất trời như cháy đảo…
Ta nghe chừng phỏng khắp châu thân.
Ta ngồi bên đống lửa man rợ,
Hong tóc râu, chờ chín miếng mồi,
Nghe cây dừa ngất gió trùng điệp
Suốt kiếp đau dài nỗi tả tơi.
Chú em hãy hát, hát thật lớn
Những điệu vui, bất kể điệu nào
Cho ấm bữa cơm chiều viễn xứ
Cho mái đầu ta chớ cúi sâu.
Ai hét trong lòng ta mỗi lúc
Như người bị bức tử canh khuya
Xé toang từng mảng đời tê điếng
Mà gửi cùng mây, đỏ thảm thê.
Ta nói với từng tinh tú một
Hằng đêm tất cả chuyện trong lòng
Bãi lân tinh thức, âm u sáng
Ta thấy đầu ta cũng sáng trưng.
Đất liền, ta gọi, nghe ta không?
Đập hoảng Vô Biên, tín hiệu trùng.
Mở, mở giùm ta khoảng cách đặc.
Con chim động giấc gào cô đơn.
Ngày. Ngày trắng chói chang như giũa.
Ánh sáng vang lừng điệu múa điên.
Mái tóc sầu nung từng sợi đỏ
Kêu giòn như tiếng nứt hoa niên.
Ôi! Lũ cây gầy ven bãi sụp,
Rễ bung còn gượng cuộc tồn sinh,
Gắng tươi cho đến ngày trôi ngã
Hay đến ngày bờ tái tạo xanh.
San hô mọc tủa thêm cành nhánh
Những nỗi niềm kia cũng mãn khai
Thời gian kết đá mốc u tịch
Ta lấy làm bia tưởng niệm Người.

3. 1974

ANH HÙNG TẬN

Dựng súng truờng, cởi nón sắt
Đơn vị dừng quân trọn buổi chiều
Trọn buổi chiều, ta nhậu nhẹt
Mồi chẳng bao nhiêu, ruợu rất nhiều
Đây ngã ba sông, làng sát nuớc
Xuồng ba lá đậu kế chân bàn
Trời mới tạnh mưa còn thấp uớt
Lục bình, mây mỏi chuyến lang thang
Mấy kẻ gặp nhau nào có hẹn
Nên gặp nhau không giấu nỗi mừng
Ta gạn dăm ba lời tặng bạn
Dẫu từ lâu bỏ việc văn chuơng
Thiệt tình tên bạn ta không nhớ
Nhưng mà trông mặt thấy quen quen
Hề chi, ta uống cho say đã
Nào có ra gì một cái tên...
Tới đây toàn những tay hào sĩ
Sống chết không làm thắt ruột gan
Cũng không ai nhắc gì thân thế
Có vợ con mà như độc thân
Bạn hỏi thăm ta cho có lệ
Cuộc đời binh nghiệp. Ta cuời bung:
Còn muơi tháng nữa lên trung úy
Có thể ngày mai chửa biết chừng...
Mặt bạn, mặt ta còn trắng cả
Như mặt trời chiều mới tạnh mưa
Tiếng hò mời dzô, dzô tở mở
Mũi thủy triều chừng cũng giạt ra
Phía phía rừng tràm xanh mịt mịt
Sông không bờ, trời cũng không chân
Người thuở truớc tìm vàng khẩn đất
Tiêu xác thân, để lại oan hồn
Ngày nay, ta bạn đến đây nữa
Đất thì không khẩn, vàng không tìm...
Bạn nhủ ta: đừng hỏi khó
Uống mất ngon vì chuyện lọan tâm
Ta chắt cho nhau giọt rượu sót
Tưởng đời sót chút thiếu niên đây
Giờ cất quân, đưa tay bắt
Ước cõi âm còn gặp để say.

 Thi sĩ
1.

Cuộc đời như thế đấy.

Vẫn cặp mắt phô trần,
Không mang kính xậm.

Vẫn thứ mực thông dụng,
Không phải cường toan.

Tôi giựt giành đổ máu với tôi
Từng chữ một.

Những tên cai ngục
Ngôn ngữ bất đồng.

Với thứ linh hồn quốc cấm,
Tôi tù tội chung thân

Giữa bốn tường không khí.

2.

Như trong đêm thâu, tiếng bẻ đốt tay,
Tiếng côn trùng bằng phẳng,
Tôi gầy yên lặng với âm thanh.

Bài thơ lọt vào người như kẻ trộm,
Âm thầm
Vơ vét sạch vô tư.

Bằng mỗi lời độc nhất,
Tôi kề tai tiết lộ với từng người
Những điều không lặp lại

Bài thơ như lá sâm.

3.

Người ta lánh mặt tôi,
Một thằng lươn lẹo.

Bài thơ bỗng mất nửa linh hồn,
Ngù ngờ ngôn ngữ ngổn ngang.

Những hòn đá vụn,
Dãy núi cực hình phải đập tan hoang.

Tôi mộng du trên trái đất mòn
Nơi tôi vắng mặt.

Để làm gì ý thức?
Tôi nài van tôi hãy xót thương tôi.

4.

Tôi chạy cắm đầu trên sợi kinh hoàng
Giăng qua đôi bờ vực lạnh hư vô.

7-1960


Cánh đồng con ngựa chuyến tầu

Trên cánh đồng hoang thuần một màu,
Trên cánh đồng hoang dài đến đỗi
Tàu chạy mau mà qua rất lâu.
Tàu chạy mau, tàu chạy rất mau.
Ngựa rượt tàu, rượt tàu, rượt tàu.
Cỏ cây, cỏ cây lùi chóng mặt.
Gò nổng cao rồi thung lũng sâu.
Ngựa thở hào hển, thở hào hển.
Tàu chạy mau, vẫn mau, vẫn mau.
Mặt trời mọc xong, mặt trời lặn.
Ngựa gục đầu, gục đầu, gục đầu.
Cánh đồng, a! cánh đồng sắp hết.
Tàu chạy mau, càng mau, càng mau.
Ngựa ngã lăn mình mướt như cỏ,
Chấm giữa nền nhung một vết nâu.

4-1956


Đêm qua bắc Vàm Cống
Đêm qua bắc Vàm Cống,
Mối sầu như nước sông,
Chảy hoài mà chẳng cạn,
Cuốn phăng kiếp bềnh bồng.

Tôi đi xuống Lục Tỉnh
Để rắc bỏ ven đường
Tài, tâm hồn, kỷ niệm…
Giữ làm gì đau thương.

Đã đôi lần nhầm lẫn,
Còn gõ cửa ái tình,
Van nài chút lưu luyến.
Của không về người xin.

Tôi châm điếu thuốc nữa,
Đốt tàn thêm tháng năm.
Chiếc bắc xa dần bến.
Đời xa dần tuổi xanh.

Nước tách nguồn về biển.
Sầu lại chảy về hồn.
Khi tôi vuốt lấy mặt,
Nghe bàn tay trống trơn.


VŨ KHẮC KHOAN

Vũ Khắc Khoan, con ngưòi và tác phẩm

 Thụy Khuê
Bài đăng ngày 09/08/2008 Cập nhật lần cuối ngày 09/08/2008 10:08 TU

Vũ Khắc Khoan là ngòi bút đặc biệt giao hòa triết lý Đông Tây, cổ điển và hiện đại trong tác phẩm văn học một cách tài tình. Sáng tác ít, nhưng mỗi tác phẩm đều đạt tới mức cổ điển. Cổ điển trong cái nghĩa đẹp nhất: không theo thời thượng mà tìm đến những giá trị phi thời gian. Có thể nói ông là trường hợp "văn dĩ tải đạo" độc đáo nhất trong văn học Việt Nam. Cái đạo ở đây là tư tưởng, là những vấn đề đặt ra cho người trí thức tiểu tư sản ở thời kỳ chia đôi đất nước, nói riêng, và con người của mọi thời, nói chung, trực diện với nghệ thuật và cuộc sống
Độc giả trong nước ngày nay có lẽ không mấy người biết Vũ Khắc Khoan là ai. Mặc nhiên ông là một trong những tác giả lớn của văn học Việt Nam thế kỷ XX. Vì vậy, vấn đề chung của giới nghiên cứu văn học hiện nay, là không thể chỉ đóng khung trong một số tác gia quen thuộc, được nhà nước chính thức công nhận nữa, mà phải mở cửa rộng hơn, ra ngoài vòng chính thống, để đưa người đọc vào toàn cõi văn học Việt Nam thế kỷ XX. Đó là điều kiện sinh tồn, và là lý do hiện hữu của công việc nghiên cứu phê bình.
Trong chiều hướng ấy, chúng tôi giới thiệu cùng quý vị, những tác phẩm chính của nhà văn Vũ Khắc Khoan, một tên tuổi có lẽ không nổi tiếng như Mai Thảo, Võ Phiến, hay Thanh Tâm Tuyền, nhưng tác phẩm của ông đánh dấu những biến chuyển lớn về bút pháp và tư tưởng trong nửa sau thế kỷ XX của văn học Việt.
 * * *  
Vũ Khắc Khoan sinh ngày 27/02/1917 tại Hà-nội, là học trò trường Bưởi. Lên đại học, theo ngành y khoa hai năm, trước khi vào trường Cao đẳng Canh nông. Sau khi tốt nghiệp, làm kỹ sư canh nông được một năm rồi chuyển hẳn sang nghề dạy học, dạy lịch sử tại hai trường Nguyễn Trãi và Chu Văn An, Hà-nội, và hoạt động kịch nghệ, viết văn, thành lập nhóm Quan Điểm với Nghiêm Xuân Hồng. Từ 1948 Vũ Khắc Khoan bắt đầu in bài trên báo Phổ Thông, hai vở kịch Thằng Cuội ngồi gốc cây đa (1948) và Giao thừa (1949) và bài tùy bút Mơ Hương Cảng (1953). Giao thừa có thể coi là vở kịch phy lý đầu tiên của Việt Nam.
Ngay từ thời còn là sinh viên y khoa, Vũ Khắc Khoan đã đạo diễn những vở Thế Chiến quốc Nửa đêm truyền hịch của Trần Tử Anh, trình diễn tại Nhà Hát Lớn Hà Nội; ông viết và dựng kịch bản đầu tay Trường ca Mông Cổ, tác phẩm làm nền cho vở Thành Cát Tư Hãn sau này. Năm 1952, vừa dựng, vừa diễn vở Thằng Cuội ngồi gốc cây đa tại Nhà Hát Lớn. 1954 di cư vào Nam, Vũ Khắc Khoan cộng tác với Nhật báo Tự Do, dựng lại nhóm Quan Điểm (với Nghiêm Xuân Hồng và Mặc Đỗ), dạy sử, văn chương và văn học sử tại các trường Nguyễn Trãi, Chu Văn An ở Sài-gòn. Từ 1962 lên dạy đại học. Chủ trương nguyệt san Vấn Đề cùng với Mai Thảo, dạy và làm giám đốc Kịch nghệ tại trường Quốc Gia Âm Nhạc ở Sài-gòn.
Di tản sang Hoa Kỳ năm 1975, ông dạy Pháp văn tại đại học Minnesota trong hai năm, cộng tác với tờ Đất Mới (của Thanh Nam) và tờ Văn của Mai Thảo. Cuối đời ông sáng tác hai bài thơ văn xuôi: Berceuse en pluie mineure (Ru em theo gam mưa thứ) và Le petit oiseau, la petite branche et le printemps (Con chim nhỏ, cành cây nhỏ và mùa xuân) và viết một số tác phẩm chưa hoàn tất: truyện dài Bướm đêm và kịch Ngọa triều. Vũ Khắc Khoan mất tại Minnesota ngày 12/9/1986 vì bệnh ung thư.
Trái ngược với những tác gia như Bình Nguyên Lộc, Mai Thảo, Võ Phiến, Vũ Khắc Khoan là người viết ít, viết kỹ, ông không phải là tác giả bình dân. Tác phẩm để lại không nhiều : Về kịch có Giao thừa, Hậu trường, Thằng Cuội ngồi gốc cây đa (in năm 1949), Thành Cát Tư Hãn (1961), Những người không chịu chết (An Tiêm) và Ngộ nhận (Quan Điểm, 1969). Về truyện, có Thần Tháp Rùa (Nguyễn Đình Vượng, 1957). Về biên khảo có Tìm hiểu sân khấu chèo, Vở chèo Quan Âm Thị Kính (Lửa Thiêng, 1974). Và tùy bút có Mơ Hương Cảng (Kẻ Sĩ, 1971), Đọc kinh (An Tiêm, Paris, 1990) và Đoản văn xa nước (An Tiêm, 1995).
* * *
Vũ Khắc Khoan là ngòi bút đặc biệt giao hòa triết lý Đông Tây, cổ điển và hiện đại trong tác phẩm văn học một cách tài tình. Sáng tác ít, nhưng mỗi tác phẩm đều đạt tới mức cổ điển. Cổ điển trong cái nghĩa đẹp nhất: không theo thời thượng mà tìm đến những giá trị phi thời gian. Có thể nói ông là một trường hợp "văn dĩ tải đạo" độc đáo trong văn học Việt Nam. Cái đạo ở đây là tư tưởng, là những vấn đề đặt ra cho người trí thức tiểu tư sản ở thời kỳ chia đôi đất nước nói riêng, và con người của mọi thời, nói chung, trực diện với nghệ thuật và cuộc sống. Đối với Vũ Khắc Khoan, Thành Cát Tư Hãn chỉ là một cái cớ, một prétexe. Tình yêu cũng chỉ là một cái cớ, một prétexe, để viết... Tất nhiên phải hiểu thêm là nhân vật, đề tài ... cũng chỉ là cái cớ để tác giả biểu lộ tư tưởng và nghệ thuật của mình.
Biểu lộ như thế nào? Vũ Khắc Khoan có những cách thể hiện tác phẩm khác người. Ví dụ ông tạo ra một thể văn gọi là lộng ngôn, giao lưu giữa kịch và tùy bút, để nói lên tính ngoa ngoắt của lời nói, ngoa ngoắt của "văn chương". Trong Thần Tháp Rùa, ông lồng hệ thống tư tưởng của mình trong bốn truyện thần kỳ: Thần Tháp Rùa, Trương Chi, Nhập Thiên Thai (Lưu Nguyễn) và Người đẹp trong tranh (truyện Tú Uyên) để tạo ra một lối viết mới mà trước ông, chưa thấy ai thử nghiệm (Cao Huy Khanh đặt gọi là huyền truyện), và sau ông, không ai tiếp nối được.
* * *
1954, trước bối cảnh chia đôi đất nước, thành phần "trí thức tiểu tư sản" của Vũ Khắc Khoan ở trong cái thế như thế nào? Thế ấy, Vũ Khắc Khoan gọi là "trên đe dưới búa", "tư bản đè xuống, vô sản vùng lên": người trí thức tiểu tư sản "Khoan tôi" ở trong thế kẹt: Họ thuộc giai tầng lưng chừng, không giầu mà chẳng nghèo, không theo hai cực mà bị chúng ép lại. Truyện Thần Tháp Rùa viết về cái thế kẹt ấy của người trí thức tiểu tư sản ở thời điểm sắp chia đôi đất nước: chọn con đường nào cũng khó. Tác giả lồng thời sự trong không khí cổ kính của Thăng Long tự nghìn năm trước: Thư sinh họ Đỗ lên Kẻ chợ trọ học và dạy học, đứng trước những đảo điên của thời cuộc, chàng giữ thái độ lừng khừng khiến có người hỏi: "Hiện nay thiên hạ chia đôi, không trắng thời đen, mà nghe ông nói thì thật không biết là đen hay trắng." Đỗ trả lời: "Tại sao lại cứ bắt buộc phải là đen hay trắng?"
Phong cách nghệ thuật của Vũ Khắc Khoan là đem việc hôm nay lồng vào bối cảnh hôm qua, đem những chuyện thời sự như việc viên thị trưởng Thẩm Hoàng Tín ra lệnh bắt Rùa để triển lãm, việc cầu Thê Húc gẫy đôi... làm "điềm" báo hiệu sự chia đôi đất nước. Những yếu tố thực đó, được thể hiện trong văn qua những hình ảnh hư ảo tuyệt vời của thời cổ tích, ông viết: "Dưới ánh trăng nguyên tiêu, Đỗ đứng lặng nhìn Rùa. Đỗ chợt thấy mắt rùa như mờ lệ. Đỗ hỏi: Cũng biết thùy lệ ư?"
Dùng thể văn biền ngẫu, hàm súc, trau chuốt, chữ đắt giá, tạo vẻ đẹp cổ kính của một thời lồng trong nhiều thời. Đem những băn khoăn của hôm nay lồng trong không khí cổ điển của hôm qua. Qua bốn đoản văn Thần Tháp Rùa, Trương Chi, Thiên Thai Người đẹp trong tranh, Vũ Khắc Khoan đã "dùng" nghệ thuật để nói lên tư tưởng của mình về cuộc hiện sinh phi lý, về ảo tưởng thiên thai không bao giờ có thật, về cái thế sâu xé của người nghệ sĩ giữa hai thế lực: trưởng giả và thuyền chài (tư bản-vô sản), về sự lựa chọn khó khăn của người nghệ sĩ giữa tác phẩm để đời và lạc thú trước mắt trong cuộc sống sinh thực và phồn thực. Thần Tháp Rùa chao đảo giữa thực tế chính trị lịch sử của Việt Nam thời năm tư và của Việt Nam hôm nay, hơn ba mươi năm sau ngày thống nhất đất nước. Tác phẩm bắc cầu giữa huyền thoại và đời sống, giữa xưa và nay, để đưa ra thực tế của văn bản nghệ thuật.
* * *
Thành Cát Tư Hãn là tác phẩm chủ yếu của Vũ Khắc Khoan, phản ảnh sâu sắc địa bàn tư tưởng và tầm vóc của tác giả. Thành Cát Tư Hãn chỉ là một cái cớ để Vũ Khắc Khoan đề cập đến hai vấn đề cơ bản: Thuyết định mệnh Thuyết đợi chờ. Bối cảnh vở kịch diễn ra trong những ngày cuối đời của Thành Cát Tư Hãn, ở mặt trận Tây Hạ. Kịch bản được dàn dựng theo truyền thống bi tráng kịch cổ điển Hy Lạp của Eschyle, Sophocle: Cái chết là tất yếu. Thành Cát Tư Hãn, vị đại hãn Mông Cổ, "sừng sững, lầm lì, khốc liệt và hầu như vô giác" tự xác định mình là Trời, là Thượng Đế, quyết san bằng Đất liền, tiêu diệt tất cả những sinh mạng cản trở bước tiến của quân Mông Cổ. Thành Cát Tư Hãn đã thành công trong sự tàn sát, đã giết hết nhân sinh, nhưng không giết được Thần chết, kẻ thù vô hình của mình. Không thắng được định mệnh. Thành Cát Tư Hãn, vị đại hãn khốc liệt, uổng công tìm thuốc trường sinh, uổng công "dọc ngang chém giết, để rồi ... để rồi một ngày kia cũng mục nát như cây cỏ."
Định mệnh của Thành Cát Tư Hãn cũng là Thần chết, được khắc tạc dưới những nét của Cổ Giã Trường, anh hùng Tây Hạ, kẻ vô hình chỉ có thanh kiếm của hắn là hiện hữu. Trong suốt vở kịch, Thành Cát Tư Hãn chờ đợi Cổ Giã Trường, nhưng hắn không đến, hắn chưa đến. Mỗi lần có tin Cổ Giã Trường sẽ đến, là lại một cái chết của người thân đại hãn được xướng lên như để thắt chặt vòng vây quanh sự sống còn của "Mệnh Trời". Bi kịch của Hãn là bi kịch của nhân sinh: Con người khốc liệt và kiêu hùng nhất là Thành Cát Tư Hãn cũng chỉ đợi chờ cái chết. Sống để chờ chết và không ai biết trước diện mạo định mệnh của mình, là những chủ đề chính trong tác phẩm. Thuyết định mệnh và thuyết đợi chờ giao thoa với nỗi cô đơn tuyệt đối của vị đại hãn trong sa mạc thần quyền, tạo nên hình tượng bi đát nhất của con người trong tác phẩm Thành Cát Tư Hãn.
Vũ Khắc Khoan hòa trộn hai lối nghệ thuật kịch trường mà ông rất thích: "lắm lời nhất" như Shakespeare và "ít lời nhất" như Samuel Beckett. Có người cho rằng sự đợi chờ trong kịch của Vũ là do ảnh hưởng kịch En attendant Godot (Đợi Godot) của Samuel Beckett. Nhưng thực ra, tư tưởng đợi chờ đã có trong Vũ Khắc Khoan từ vở Giao thừa (đợi giao thừa) viết năm 1949 (được trình diễn năm 1951 tại Nhà Hát Lớn, Hà-Nội) trong khi kịch của Samuel Beckett đến 1953 mới được trình diễn ở Paris. Do đó, sự trùng hợp tư tưởng ban đầu có lẽ chỉ là ngẫu nhiên. Sau này Vũ tìm đọc và nghiên cứu Beckett, và ông đã có những nhận định sâu sắc về Samuel Beckett, trong một bài tiểu luận (in trong tập Giấc Mơ Hương Cảng). Vì vậy chúng tôi đặt thuyết đợi chờ như một yếu tố đặc thù trong hệ thống tư tưởng của Vũ Khắc Khoan, độc lập với Beckett, đã có trong họ Vũ, từ trước khi ông tiếp xúc với tác phẩm của Samuel Beckett.
* * *
Tác phẩm Đoản văn xa nước, tập hợp những bài viết cuối cùng của nhà văn tại hải ngoại, là một tập hợp những truyện, ký, hồi ức và tùy bút. Trong đó bài tuỳ bút Đọc kinh, một bài kệ hiện đại, một tác phẩm độc đáo và là tác phẩm cuối cùng của nhà văn, cũng là một suy nghiệm triết học về sống và chết, về có và không của một đời người, bôn ba trong sinh hoạt tư tưởng và nghê thuật. Vũ Khắc Khoan là một trong những nhà văn Việt nam đã hoà đồng hai yếu tố khó nhất trong một tác phẩm văn học: triết học và văn chương, làm cho tác phẩm, tuy chở tư tưởng triết học, nhưng đọc vẫn thú vị, thanh thoát như một áng văn xuôi đầy chất thơ. Chính ở chỗ đó, mà người nghệ sĩ Vũ Khắc Khoan đã hoà đồng được thiên thai và thế tục, được thiên đàng và trần thế, điều không thể làm được trong thực tại cuộc đời, chỉ có thể hiện hữu trong tưởng tượng và nghệ thuật.
Trong những kỳ tới, chúng tôi sẽ lần lượt giới thiệu ba tác phẩm chính của Vũ Khắc Khoan: Thần Tháp Rùa, Thành Cát Tư Hãn
 http://www.rfi.fr/actuvi/articles/104/article_643.asp

 
 
Võ Phiến
Vũ Khắc Khoan


Vũ Khắc Khoan, ông có vai trò đặc biệt trong ngành kịch ở Miền Nam. Có thể nói Vũ Khắc Khoan là kịch Miền Nam (...)

Ông đóng kịch, viết kịch, dạy kịch, biên khảo về kịch (...)

Trong lịch sử nghệ thuật sân khấu ở nước ta mấy ai đóng góp nhiều hơn ông, bằng ông?

*

Con người say mê kịch và đóng góp nhiều cho kịch Việt Nam ấy là một nhân vật độc đáo. Kể ra không có một người nào có thể là đơn giản; và một tác giả, một nghệ sĩ lại càng rắc rối hơn. Tuy nhiên, ông Vũ Khắc Khoan thì ông không chỉ phức tạp thôi; ở ông có những khía cạnh mâu thuẫn nhau.

Hãy nói về cái ngoại hình trước tiên. Cao Huy Khanh mô tả: “dáng điệu luôn luôn đầy vẻ trầm tĩnh chững chạc, quá sức là nghiêm chỉnh, khi đi đầu thường cúi xuống gật gật gù gù, tay trái luôn luôn thọc vào túi quần coi đầy vẻ đăm chiêu suy tưởng rất ngoạn mục”, “khuôn mặt ông ta. Ðúng là một chân dung khắc bằng đá, những đường nhăn hằn sâu trên trán, những nét ngoằn ngoèo sắc cạnh như đục sâu vào má, những vết hằn in cứng và đậm nét như thể những vết hoa chạm trổ trên mặt, cặp mắt lồi đến độ có thể nhìn thấy những tia máu vẩn đỏ trong đó (...) đôi mắt khi nào trông cũng đỏ ngầu, dáng điệu thì sật sật sừ sừ chừng như (...) vừa mới uống rượu đế xong, đã vậy mà mái tóc muối tiêu thì lại bờm xờm chất cao cả một đống trên đầu.” “Quả thực ông ta trông giống Thành Cát Tư Hãn ghê (...) Ðúng là người nào thì nhân vật nấy, Vũ Khắc Khoan mà đóng vai Thành Cát Tư Hãn tất phải là rất tuyệt.”

Cao Huy Khanh bảo ông Vũ giống hệt Thành Cát Tư Hãn. Còn ông Vũ thì nói đi nói lại ba bốn lần trong vở kịch rằng Thành Cát Tư Hãn là con người “sừng sững, lầm lì, khốc liệt và hầu như vô giác” (...)

Cũng về ông Vũ Khắc Khoan, chính ông Vũ ấy, Ðặng Tiến đã kể lại một kỷ niệm. Bấy giờ là cuối 1965, ông Vũ rủ ông Ðặng ra Huế dự hội thảo tại viện đại học Huế. Buổi tối, trên diễn đàn một nhà hùng biện thao thao thuyết giảng: Cộng sản là một chủ thuyết, vậy muốn chống cộng, chúng ta cần phải có một chủ thuyết. “Anh Khoan rỉ tai: đi ăn phở, rồi đứng dậy, bệ vệ đi ra. Tôi đi theo.” Gần hăm lăm năm sau, vào dịp tết 1990, trên báo Thông Luận ông Ðặng (ký Tuyết Chi) nhớ người bạn vong niên quá cố, nhắc chuyện cũ, làm sống lại cái nét tinh quái bất ngờ của con người khốc liệt. Cái “rỉ tai” của ông Vũ thật lý thú, không phải người thân cận không có dịp bắt gặp.

Thân cận với ông Vũ vào những ngày cuối cùng là một người bạn vong niên khác: Nguyễn Cao Ðàm. Trong bài điếu văn đọc trước linh cữu Vũ Khắc Khoan, ông Nguyễn cho biết: “Ông là một kho tàng những câu chuyện dí dỏm (...) Ngay trên giường bệnh, những nhận xét khôi hài dí dỏm lan cả ra thầy thuốc, y tá, và bệnh nhân láng giềng. Buổi chiều chủ nhật mồng bảy tháng chín, trên tầng lầu 4 im vắng của bệnh viện Fairview, chỉ có tiếng cười không kiềm chế được phát ra từ phòng bệnh số 419 cũng vì những câu chuyện của ông, về ông.”

Vị Tư Hãn của Mông Cổ - lầm lì, khốc liệt, vô giác - tình cờ nghe được những tiếng cười ấy ắt phải sững sốt. Càng sững sốt khi biết ngày mồng 7 tháng 9 nói trên đây chỉ cách ngày ông Vũ qua đời chưa đầy một tuần lễ.

Những cái mâu thuẫn như thế về ông Vũ không phải do lỗi của kẻ ghi chép (...) Chắc chắn Cao Huy Khanh đúng mà Nguyễn Cao Ðàm cũng đúng. Nhờ thế Vũ Khắc Khoan viết được cả Thành Cát Tư Hãn cả Ngộ nhận. Corneille chỉ có bi kịch, Molière chỉ có hài kịch. Ở Vũ Khắc Khoan, có chỗ cho Thành Cát Tư Hãn ngồi lừ lừ, mà cũng có đủ chỗ cho thằng Cuội tha hồ lếu láo, đùa giễu, nghịch ngợm (...)

Vũ Khắc Khoan (...) có bài kệ Rong Chơi:

“Ta thường ở đó
Ngã ba cuộc đời
Tầm xuân xanh biếc
Mây trắng lên khơi
Ta thường đến đó
Ngã ba cuộc đời
Ðăm đăm theo hút
Chân ai chân ai
Tà huy lay lắt
Lay lắt hoa rơi
........................
Ai trụ ở đó
Ta hay là ngươi
Ai trụ ở đó
Ngã ba cuộc đời
Tầm xuân vẫn biếc
Mây vẫn rong chơi
Ta vẫn rong chơi
Ngã ba cuộc đời.” (...)

Kệ này (...) đặc sắc (...) ở lời, ở cái nhịp điệu (...) Lời ấy, điệu ấy (gợi) một phong cách rong chơi tuyệt hảo (...)

Ông Vũ (...) rong chơi nhẹ thênh. Ông chẳng thiết gì, ngoài một khoản rượu, chẳng hạn.

Vũ Khắc Khoan (...) về già, lâu lâu viết chút ít thơ. Nhớ bài Vọng Cố Nhân. Bấy giờ ông lão nằm ở Minnesota lạnh lẽo thê lương, nhớ cố nhân, cố hương, cố sự, hướng về đâu cũng ngát mùi rượu:

“Khui chai rượu nhỏ
Hồ trường biết rót phương nao?
Chợ Cũ hay là Chợ Lớn
Phố Hàng Khay hay phố Hàng Ðào?
Quán cóc mái xiêu chợ Ðũi?
Sông Hương chiều lộng gió Lào?
Thôn Vĩ hàng cau bụi trúc?
Nguyễn Tri Phương hay góc Ða Kao?
Sương khuya nhuốm bạc mái đầu
Bạn vàng kẻ trước người sau
Giới nghiêm cũng mặc hẻm nào cũng vô
Ờ lại có những chiều nổi gió
Rượu ngà ngà cổ áo nâng cao
Khói huyền dâng lên mờ sao
Ðêm Ba-tư quánh màu ma túy...” (...)

(Rong chơi) là ông Vũ, sắm nắm dấn thân (như nhân vật họ Ðỗ trong Thần tháp Rùa) cũng là ông. Cũng như lầm lì là ông, mà đùa giỡn giễu cợt cũng là ông (...)

(Lại còn) chuyện chủ thuyết hay không chủ thuyết.

Ở Huế, nghe người ta tỏ ý muốn lập thuyết chống cộng, Vũ Khắc Khoan liền kéo Ðặng Tiến bỏ phòng họp đi ăn phở, ra ngoài đường ông vừa đi vừa tiếp tục chế giễu phép chống cộng bằng chủ thuyết. Trong khi ấy Cao Huy Khanh cho rằng lập thuyết “Ðó là điều mà Vũ Khắc Khoan và các bạn đồng chí của ông đã miệt mài theo đuổi...” (...) Ông Vũ có lúc muốn hơn thua với cộng sản bằng chủ thuyết (...) Rồi cũng ông Vũ ấy lại có lúc viết toàn những lộng ngôn, lấy cái ngôn làm trọng hơn cái ý, lấy hình thức làm trọng hơn nội dung (...)

*

Cao Huy Khanh chê ông Vũ viết ít. Quả có ít thật. Trong một thời gian dài hơn, ông viết ít kịch hơn Ðoàn Phú Tứ, Vi Huyền Ðắc. Nhưng riêng chỗ đó không hẳn do ông lười. Có thể vì ông kỹ (...)

(Vũ Khắc Khoan viết kỹ, mà tìm hiểu về những chuyện liên quan đến cái viết của mình cũng không sơ sài, qua quýt chút nào.)

Lớp kịch tác gia trước ông (...) như những Vũ Ðình Long, Vi Huyền Ðắc, có ai am tường nguồn gốc kịch nghệ dân tộc bằng ông? có ai am hiểu hát chèo bằng ông? (...)

Lớp trước ông Vũ, không dễ có kịch tác gia nào biết chèo như ông; còn lớp sau ông, cũng không dễ có kịch tác gia nào biết về những quan niệm kịch Tây phương lúc bấy giờ như ông. Vị giáo sư kịch nghệ ấy không ngừng theo dõi các phong trào kịch nghệ Âu Mỹ (...)

Ông Vũ có truyện, có tùy bút, có tí thơ nữa; nhưng chủ yếu ông là kịch tác gia. Một kịch tác gia không phong phú, nhưng thành công.

(Trích bài viết về Vũ Khắc Khoan trong bộ
Văn học Miền Nam)







 

ĐẶNG PHÙNG QUÂN *TRẦN ĐỨC THẢO

ĐẶNG PHÙNG QUÂN 

 Đọc lại Trần Đức Thảo


I

Năm 1991, Trần Ðức Thảo được phép trở lại Pháp sau bốn mươi năm rời khỏi đây về nước rồi mất tại Paris năm 1993. Từ lâu ông đã trở thành một personna non grata, song đối với thế giới triết học vào thời hiện tượng luận nở rộ, tên tuổi ông được nhắc đến trong nhiều sách ở những thập niên 50, 60 trở đi. Trần Ðức Thảo được đào tạo hoàn toàn trong môi trường giáo dục thuộc địa Pháp (học lycée ở Hà Nội, rồi Louis-le-Grand và Henri-IV trước khi thi đậu vào trường Cao đẳng Sư phạm đường Ulm (ENS d'Ulm)) nên những tác phẩm chính của ông viết bằng Pháp ngữ.


Hai tác phẩm chính của Trần Ðức Thảo đánh dấu hai giai đoạn: giai đoạn 1951 trở về trước, ông thuộc khuynh hướng chủ nghĩa Mác hiện tượng luận, và giai đoạn sau, ông là một người Mácxit Lêninit. Hành trạng trí thức Khi Trần Đức Thảo theo học trường Cao Ðẳng Sư phạm vào năm 1939 thì chủ nghĩa Mác và triết học Hegel đã có những ảnh hưởng lớn tại Pháp, không như Sartre nghĩ:


"Vào năm 1925 khi tôi mới hai mươi tuổi, không có một ghế giảng dạy chủ nghĩa Mác tại Ðại học, và những sinh viên cộng sản phải rất thận trọng, không được nói đến hay ngay cả nhắc đến tên trong những kỳ thi, nếu họ nói đến chủ nghĩa Mác, họ có thể bị đánh rớt. Nỗi kinh hãi về biện chứng ghê gớm đến nỗi Hegel thật xa lạ với chúng tôi" [1]



Thật ra trong thập niên 20, những nhà xã hội như Charles Andler, Lucien Herr, Victor Basch, Edmond Vermeil đã chiếm những ghế quan trọng ở Sorbonne, cũng như ở trường Cao đẳng Sư phạm và Học viện Pháp quốc. Họ đã đem tư tưởng Hegel vào Ðại học Pháp và đặc biệt nghiên cứu mối quan hệ giữa tư tưởng Hegel và chủ nghĩa xã hội (một luận án đề xuất vào năm 1907 ở Sorbonne đã nghiên cứu ảnh hưởng của Hegel đối với Marx). Vào những năm cuối thập kỷ 20 này, những nhà triết học trẻ như G. Politizer, Paul Nizan, Henri Lefebvre, G.Friedman quy tụ thành nhóm tạp chí Philosophies. Thế hệ mới của những nhà triết học Mácxit xuất hiện những tên tuổi như Auguste Cornu, René Maublanc, Roger Garaudy và George Cogniot. Auguste Cornu đào sâu ảnh hưởng của Hegel đối với sự hình thành tư tưởng của Mác thời kỳ trẻ trong luận án đề xuất ở Sorbonne vào năm 1934.




Tập khảo luận "A la lumière du Marxisme" do Henri Wallon chủ trương đã giới thiệu một khuôn mặt Mácxit sáng giá là René Maublanc trình bày mối quan hệ giữa Hegel và Marx. Maublanc đã giảng dạy triết tại Lycée Henri IV, nơi Trần Ðức Thảo theo học trước khi được nhận vào trường Cao Ðẳng Sư phạm. Một triết gia Mácxit trẻ khác là G. Politzer trong những bài giảng ở Ðại học Công nhân (Université Ouvrière) trong những năm 1932 - 1935 đã nhận ra phép biện chứng thuần lý trong triết học Hegel. Những tác phẩm thời trẻ của Mác như Tập bản thảo kinh tế triết học và Hệ tư tưởng Ðức đã được phát hiện và dịch ra tiếng Pháp trong thời gian này. Ðồng thời tập Chủ nghĩa duy vật và Chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán và Bút ký triết học của Lenin cũng được dịch và lưu hành ở Pháp trong những năm 1928 và 1938, Chủ nghĩa Mác được tuyên truyền thông qua những phong trào công nhân, nhưng cũng xâm nhập đại học một cách rộng rãi.



Những trào lưu tư tưởng lớn có những bước thăng trầm trong lịch sử. Tư tưởng của Hegel đã xâm nhập đại học Pháp từ thế kỷ 19, cũng mang những dấu ấn khác nhau. Alexandre Kojève nhận xét: "Mọi lý giải về Hegel chỉ là một đề cương của đấu tranh và lao động". Ðiều này có thể áp dụng cho mọi giai đoạn. Nhưng chính Kojève là một người đã làm sinh động tư tưởng Hegel trong những bài giảng ở trường Cao đẳng Sư phạm vào những năm 1936 - 1939. Kojève đã gây ảnh hưởng cho hơn một thế hệ kế tục đọc Hegel, Mác và tư tưởng hiện sinh Ðức.



Cũng trong khoảng thời gian này, một giảng viên khác ở trường Cao đẳng Sư phạm là J. Hyppolite đưa ra một lý giải khác về Hegel, công phu và tỉ mỉ. Trần Ðức Thảo chắc hẳn đã được dẫn nhập vào con đường nghiên cứu Hegel và Mác qua những ảnh hưởng của Kojève, Hyppolite và Cavaillès. Nhưng một khuôn mặt lừng danh khác có ảnh hưởng sâu sắc trong sự hình thành tư tưởng của Trần Ðức Thảo là M. Merleau-Ponty. Thời gian Trần Ðức Thảo theo học trường Cao đẳng Sư phạm thì Merleau-Ponty làm trợ giáo (caiman) ở đây. Trong số những học viên xuất sắc có Vuillemin và Trần Ðức Thảo. Con đường nghiên cứu triết lý của Trần Ðức Thảo mang những chuyển biến tư tưởng như theo dấu ấn của Merleau-Ponty - từ bước đường nhập môn hiện tượng luận đến những nghiên cứu về nguồn gốc của ý thức và ngôn ngữ, sự tìm kiếm bản chất của cấu trúc ứng xử nơi con người.



Khi Sartre và Merleau-Ponty cùng một số những trí thức tả khuynh khác thành lập tạp chí Thời mới (Les Temps Modernes), với Merleau-Ponty làm giám đốc chính trị, đăng những bài viết chính trị xuất hiện dưới ngòi bút của Claude Lefort và Trần Ðức Thảo, hai môn đệ của Merleau-Ponty. Ðối với thế hệ Trần Ðức Thảo theo học trường Cao đẳng Sư Phạm, khoa Hiện tượng luận của Husserl không còn xa lạ như một thập niên trước nữa. Cũng trong thời gian này, cuộc chiến bùng nổ và Ðức quốc xã đã tràn sang chiếm đóng nước Pháp, Trần Ðức Thảo được kể là một người có công mang những bản thảo di cảo của Husserl qua lằn tuyến kiểm soát của lính Ðức về Louvain, nhờ khuôn mặt Á đông của ông.



Ðây cũng là cơ hội Trần Ðức Thảo được đọc những bản thảo chưa in của Husserl để sửa soạn cho luận án ông đang tiến hành. Hiện tượng luận và chủ nghĩa Mác Tác phẩm Phénoménologie et Matérialisme Dialectique của Trần Ðức Thảo xuất bản năm 1951 [2] là tập hợp hai phần nghiên cứu viết trong những thời điểm khác nhau: Trần Ðức Thảo xác định phần thứ nhất soạn trong khoảng 1942 đến 1950 trình bày "căn bản cốt lõi của hiện tượng luận thuần túy trên phương diện lịch sử và trong chính những viễn tượng của tư tưởng Husserl" và ngay cả phần phê phán của tác giả cũng chỉ nêu ra những mâu thuẫn nội tại ngay trong tác phẩm của Husserl. Phần thứ hai của tác phẩm hoàn tất năm 1951 hoàn toàn đặt trên bình diện của chủ nghĩa duy vật biện chứng. Trần Ðức Thảo là một trong những người tiền phong đã khai phá vấn đề quan hệ giữa hiện tượng luận và chủ nghĩa Mác. Trước Trần Ðức Thảo là Herbert Marcuse với Tham luận góp phần về một hiện tượng, luận của chủ nghĩa duy vật lịch sử [3] .

Trong tiểu luận này, Marcuse phác họa một chương trình phê phán hiện tượng luận hiện sinh và chủ nghĩa Mác: Hiện tượng đi sâu vào cấu trúc căn bản của hiện hữu con người, khai phá đặc tính nền tảng và phổ biến còn chủ nghĩa duy vật lịch sử với nhận thức bản thể về cấu trúc của đời sống, nắm vững những biến thái lịch sử cụ thể. Ý đồ của Marcuse là xây dựng một "hiện tượng luận biện chứng" nhằm phân tích những khả năng cụ thể trong giới hạn của hoàn cảnh lịch sử thực, đi tới viễn tượng một thực tiễn cách mạng nhằm biến đổi nó trong chiều hướng nhân bản. Marcuse viết:
"Ðiều này là một sự mở rộng giá trị của hiện tượng luận biện chứng... nó chỉ ra hiện hữu của con người lịch sử, cả về mặt cấu trúc cơ bản lẫn những hình thái và dạng thức cụ thể."



Lý giải chủ nghĩa Mác mở ra hai chiều hướng: những người Macxit như Lukacs, Marcuse, Habermas hay Sartre xây dựng trên sự chuyển biến của lịch sử con người, trong khi những người Mácxit - Lêninit thừa kế Engeln quan niệm vận động biện chứng trong tự nhiên và tác động vào lịch sử con người. Vào năm 1946, Trần Ðức Thảo đưa ra một tiểu luận in trong Revue Internationale nhan đề "Chủ nghĩa Mác và hiện tượng luận" khởi thảo việc nghiên cứu đối chiếu và phê phán. Ðến tác phẩm xuất bản năm 1951, minh thị rõ rệt hơn với nhan đề "Hiện tượng luận và chủ nghĩa duy vật biện chứng", Trần Ðức Thảo xác quyết: Chủ nghĩa Mác cho chúng ta giải pháp duy nhất có thể quan niệm được về những vấn đề mà chính hiện tượng luận đề ra [4] .



Chọn lựa con đường đi vào chủ nghĩa Mác không phải là một chọn lựa chính trị nhất thời, mà là một chọn lựa triết lý. Trần Ðức Thảo được huấn luyện trong trường Cao đẳng Sư Phạm, ở đó Cavaillès và Maurice de Gandillac đã đem hiện tượng luận và chủ nghĩa Mác vào giảng dạy. Một người ảnh hưởng đến Trần Ðức Thảo là Merleau-Ponty cũng đã đề cao chủ nghĩa Mác "không phải là một triết lý về lịch sử mà chính là triết học của lịch sử và phủ nhận nó chẳng khác nào đào huyệt chôn lý trí trong lịch sử" [5] Mặt khác, Trần Ðức Thảo ở vào thế hệ những môn đệ hiện tượng luận phải thông qua con đường lý luận Hegel, qua sự dẫn nhập vào tác phẩm Hiện tượng luận về tinh thần của Kojève và Hyppolite. Trần Ðức Thảo đã viết một tiểu luận nghiên cưú nội dung thực của tác phẩm Hiện tượng luận về tinh thần in trên Les Temps Modernes năm 1948 [6] .


Trần Ðức Thảo cho rằng nội dung của tư tưởng Hegel (bao gồm toàn thể lịch sử thế giới) chủ yếu bắt nguồn từ chủ nghĩa khách quan và sau cùng hàm ngụ một chủ nghĩa duy vật giấu mặt mà Hegel có thể khai triển khái niệm về chuyển biến và phương pháp biện chứng làm tiền đề cho tư tưởng Macxit. Tư tưởng cốt lõi của Hiện tượng luận về tinh thần là khái niệm Aufhebung như một quá trình vận động qua ba tác động: hủy diệt hình thái trực tiếp không thực và không phải chân lý của hiện tượng, để duy trì cái chân chính và thực nhất của nó để vươn lên hình thái trung thực nhất của hiện tượng. Trong Phénoménologie et Matérialisme Dialectique (PMD), Trần Đức Thảo đã vận dụng khái niệm cơ bản này để giải thích tại sao "những phân tích hiện tượng luận cụ thể chỉ có thể vận dụng mọi ý nghĩa và được phát triển đầy đủ trong tầm chân trời duy vật biện chứng". Không có gì mâu thuẫn trong việc quan niệm một "biện chứng hiện tượng luận" khi ông viện dẫn Husserl đã đặt trọng điểm triết lý trong hiện tượng luận sự vật (Ding):

"Sau cùng ở cơ sở của mọi thực tại khác, người ta thấy thực tại tự nhiên và cả hiện tượng luận về tự nhiên vật chất chắc chắn giữ một vị thế ưu tiên" [7]



Những công trình nghiên cứu của Husserl nhằm xây dựng "sự vật" nguyên uỷ theo Trần Đức Thảo "chỉ đem lại những kết quả quyết định trong việc giải trừ những tư kiến cổ điển, nhưng người ta hoài công tìm kiếm ở đó những minh xác về nội dung cụ thể của những trung gian hữu hiệu [8] Phải có một phương pháp khách quan, tức phép biện chứng Macxít mới xác định được quá trình khả dĩ xây dựng những ý nghĩa sinh động trên nền tảng của thực tại vật chất. Phương pháp biện chứng như Trần Đức Thảo mô tả vẫn mang dấu ấn Hegel "khởi đi từ cái khả xúc tự vượt để hủy diệt trong cái khả tri". Những vấn đề cổ điển chỉ được giải quyết toàn diện trong khuôn khổ của chủ nghĩa Mác, trong khi hiện tượng luận (Husserl) chỉ ra những khó khăn kỹ thuật mà ông không ngần ngại phê phán:
"Chủ nghĩa hiện thực trong Losgishe Untersuchungen của Husserl chỉ là một hình thái mâu thuẫn của một phân tích ý hướng không biết đến ý nghĩa thực của nó. Nó hàm ngụ yêu cầu của một sự đảo ngược biện chứng" [9]



Khởi từ một đoạn văn trong Nguồn gốc của hình học (Ursprung der Geometrie), Trần Ðức Thảo nhận định: con đường đi từ khả xúc đến khả tri chỉ có thể vạch ra một cách chính xác bằng sự phân tích những hình thái kỹ thuật và kinh tế của sự sản xuất (ra những điều kiện tồn tại của con người). Chính vì thế phương pháp hiện tượng luận vấp phải những khó khăn không thể vượt qua là sự mô tả những ý chỉ tiền trí từ (significations antéprédicatives) phải trở lại những điều kiện tồn tại của vật chất và thiết yếu định đặt chủ thể trong khuôn khổ của thực tại khách quan. Hiện tượng luận có giá trị ở chỗ mô tả được cái sinh động (le vécu) làm nền tảng cho mọi ý nghĩa chân lý, nhưng quan điểm trừu tượng của nó đã không cho phép nhìn thấy nội dung vật chất của đời sống khả xúc, do đó tất cả cơ sở của sự cấu thành thế giới (Weltkonstitution) mang tính cách thường hằng triệt để. Tóm lại, qua phê phán của Trần Đức Thảo, công trình hiện tượng luận là một vận động biện chứng có tính cách tư duy trong khi thực hành. Nó phải nhường bước cho chủ nghĩa duy vật biện chứng, coi như chân lý của chủ nghĩa duy tâm siêu nghiệm [10] .


Khi phê phán chủ nghĩa hiện sinh, trào lưu tư tưởng đang thống trị Tây Âu bấy giờ, Trần Ðức Thảo đã dùng hiện tượng luận làm trung gian để so sánh: Chủ nghĩa hiện sinh nêu ra sự khác biệt về yếu tính giữa sự tồn tại con người và thực tại tự nhiên chỉ trở lại bình diện ý thức ngây thơ; những khái niệm siêu việt, hoàn cảnh, chọn lựa, dự phóng của Heidegger được đề ra trước khi có giảm trừ hiện tượng luận, trong khi chủ nghĩa duy vật biện chứng xét những hình thái khác nhau của hữu thể trong vận động từ hình thái này qua hình thái khác. Vật chất được đặt ra trong ý thức chuyển biến (devernir-conscience), cũng như tự nhiên đặt ra trong sự chuyển biến về nhân tính, như vậy nó được xét dến sau khi có sự giảm trừ [11] .



Con đường Mácxit của Trần Đức Thảo có đáp ứng được những viễn tượng hứa hẹn như ông trình bày trong phần phê phán hiện tượng luận không? Hấp thụ nền giáo dục triết lý của trường Cao đẳng Sư phạm ở giai đoạn này, Trần Đức Thảo vẫn chưa vượt ra khỏi quỹ đạo hiện tượng luận. Mặt khác thông qua ánh sáng lý luận của biện chứng Hegel, cơ sở tư tưởng của ông vẫn xây dựng trên khái niệm vận động biện chứng Aufhebung. Trong PMD, Trần Đức Thảo không hề nhắc đến Lenin. Tuy nhiên cũng như nhiều người Mácxít Pháp khác, ông dựa vào Engeln. Cho nên ngay đề phần thứ hai, ông đã dẫn Engeln:
"Vật chất không phải là sản phẩm của tinh thần mà tinh thần là sản phẩm cao cấp của vật chất."



Ở tiết 1, ông đã bàn về một vấn đề rất cổ điển là "Ý thức và vật chất" nhằm xác định lâp trường duy vật của ông:
"Chỉ có biện chứng duy vật mới cho phép chủ thể tự thức và tự khẳng định trong thực tại hữu hiệu về hiện thể của mình, như thể trước hết nó vượt khỏi ý thức của nó, để tuần tự đặt ra với chính nó như ý nghĩa chân lý của nó" [12] .



Tuy nhiên, ảnh hưởng của Merleau-Ponty khá rõ rệt trong những vấn đề đặt ra ở PMD. Cũng bắt đầu từ hiện tượng luận như là một phương pháp, sau khi qua những chặng đường mô tả kinh nghiệm tiền trí từ, Trần Đức Thảo rút ra kết luận là tất cả công trình cấu tạo thế giới (Weltkonstitution) nghiên cứu về thế giới khả xúc mang tất cả ý nghĩa về những cấu trúc của ứng xử, đã vấp phải những khó khăn không thể vượt qua. Chỉ có phương pháp biện chứng mới đưa ra những viễn tượng khả dĩ có thể nhận thức:



"Thực tại như thể biện chứng là một vận động mà trong mọi cách thế của hữu thể, những biến chuyển của trật tự nhân qủa được xác định bởi cấu trúc riêng của từng cách thế này tất yếu do chính sự phát triển nội dung của chúng phải dẫn tới sự cấu thành một cách thể mới, hội nhập cách thể trước và nắm giữ nó như thể hủy diệt, duy trì và vượt qua." [13]



Cho nên nội hướng tính của ý thức cũng như quan hệ lý tưởng với khách thể phải đi dần tới cấu trúc của chủ thể thực sự, nghĩa là khởi từ chính thân xác như trung tâm của vận động. Như vậy không thể dùng phép "giảm trừ" trừu tượng của hiện tượng luận mà phải nhờ phép biện chứng để nắm vững thấu đáo biện chứng của ứng xử xác định hành vi của ý thức. Chương thứ I của phần thứ hai tìm hiểu biện chứng của ứng xử sinh vật như thế biến chuyển của nhận thức đích xác về cái khả xúc. Vấn đề này đã đề ra trong Hiện tượng luận về tinh thần của Hegel, tuy nhiên khi đi tìm hiểu khởi sinh của ý thức, biện chứng của khái niệm của Hegel đã thất bại so với phương pháp hiện tượng luận Husserl nắm vững sự đích xác trực tiếp của khách thể đơn giản đã được đề ra trong trực giác, chứng tỏ ưu thế của phương pháp trực giác này.



Tuy nhiên những lý giải hiện sinh của những môn đệ Husserl đã loại bỏ nội dung vật chất của kinh nghiệm khả xúc, đưa hiện tượng luận tới chủ nghĩa phản lý toàn diện [14] . Với tiêu đề "biện chứng của vận động thực", Trần Đức Thảo khởi đi từ quan điểm duy vật biện chứng theo Engels trong việc tìm hiểu biện chứng của tự nhiên: sự tiến hóa của ứng xử sinh vật từ tri giác sự vật ở loài động vật có vú, đi ngược lên tiếp thu sự vật ở loài cá, ngược lên nữa là sự di động của loài sâu, sự rời chỗ ở loài động vật nguyên sinh (như loài động vật ruột khoang - Coelentérés) tương ứng với sự phát triển cá thể của trẻ sơ sinh. Áp dụng hai khái niệm hiện tượng luận vào vận động sinh vật, Trần Đức Thảo nhận định ý hướng tính của trì động (rétention) như chuyển động dồn ép của hoạt động hút và đẩy trong quá trình hoàn tất phản xạ - những chuyển động dồn ép sống động trong một vận động lý tưởng của phóng động (protention), ở đó chủ thể có ý thức dự tưởng về tương lai nội tại qua một toàn bộ những hướng động vạch ra chân trời trường cảm xúc [15]



Trần Đức Thảo muốn chỉ ra sự sai lầm nghiêm trọng của chủ nghĩa duy vật máy móc khi quan niệm tư tưởng chỉ là một sự bài tiết của bộ óc đã ngăn chặn bộ óc cảm thụ và không biết đến cấu trúc của vận động thực:
"Khi nhận thức được cái ý nghĩa của cái sinh động, tính hướng nội của ứng xử dưới dạng những sơ đồ dồn ép cấu tạo mối quan hệ ý hướng với khách thể đã đưa sinh thể lên hàng đời sống chủ thể,và sự giải thích khoa học không phải là một sự giảm trừ trừu tượng mà là khởi sinh tạo ra vận động kỳ thành của sự chuyển biến thành ý thức của thực tại vật chất" [16]



Khởi sinh những cấu trúc của ý thức có thể bắt đầu từ việc khảo sát nguồn gốc sinh vật của con ngưòi, xây dựng trên biện chứng chung của những cấu trúc chủng loại từ loài nguyên sinh đến con người, về mặt phát sinh cá thể: sự phát triển của trẻ sơ sinh một tháng tương ứng với sự phát triển của loài sâu, năm tháng với loài cá, chín tháng với loài động vật có vú, một năm với loài khỉ, mười tám tháng với loài giả nhân cho đến năm hai tuổi phát triển đầy đủ của loài sinh vật cao cấp là con người. Quá trình nội hướng dưới dạng ứng xử phản xạ, phát triển từ cấp độ định hướng và di động được, cho đến khả năng nắm được vật bên ngòài là ý nghĩa của ngoại hướng tính. Sự thể hiện dục vọng là quá độ của tính trực tiếp của xúc động đến sự thường trực của tình cảm ở loài động vật có vú. Ở loài khỉ, tương ứng với trẻ sơ sinh một tuổi, đã có khả năng trung gian xác định thực tại của ứng xử, tuy nhiên vẫn chưa có khả năng nội hướng của ý thức.



Sự phát triển hành vi của trung gian tạo ra việc biết sử dụng phương tiện (instrument) trong đó vận động xảy ra trước bị dồn ép và sống động của một vận động có ý hướng. Ở giai đoạn kế tiếp khi con người biết sử dụng công cụ (outil) thì chức năng phương tiện không thuần túy chỉ thực hiện ở hoàn cảnh hiện tại mà có thể sản sinh, giữ gìn và duy trì; con người như vậy đã nhận thức được ý nghĩa của một phương tiện tự nó có hiệu quả. Sử dụng công cụ đánh dấu sự xuất hiện con người. Vận động của lao động khi đã là lực lượng sản xuất được phản ảnh trong những hành vi của tổ chức và dạy dỗ chứng tỏ quá trình sản xuất trở thành đối tượng của một ý chí có ý thức dưới dạng nguyên ủy của ý chí tha nhân; từ giai đoạn này sự hợp tác lao động đánh dấu dạng thức của ngôn ngữ, tuy nhiên những qui luật xác định hoạt động sản xuất trước hết cấu thành ở bên ngoài ý thức, nghĩa là xuất hiện trong thực tại của ứng xử, như một hiệu quả khách quan của những điều kiện.




Bắt chước một định thức nổi tiếng của Marx, Trần Đức Thảo viết: "Như vậy tự nguyên ủy không phải ý thức xác định ứng xử mà ứng xử sinh ra ý thức" [17] Suy tưởng về thực tiễn của con người xây dựng chân lý của hình học trong một đoạn văn ở Ursprung der Geometrie của Husserl, Trần Đức Thảo đi tới kết luận là chỉ có sự phân tích những hình thái kỹ thuật và kinh tế của sản xuất ra những điều kiện tồn tại của con người mới minh giải được đời sống khả xúc của con người: "Sử dụng công cụ biểu thị sự tồn tại của con người", cho nên trong chương II phần hai, ông đã khảo sát quá trình vận động thực của lịch sử con người theo một viễn tượng biện chứng như sau:

Ở giai đoạn tối cổ, những lực lượng sản xuất cấu thành với vận động của công cụ chưa mang hình thái của cải vật chất, mà chỉ mới ở mức độ chiếm hữu những giá trị sử dụng, tương ứng với nguồn gốc của tôn giáo nguyên thủy xây dựng trên cơ sở vận động của vật hy sinh:
"Mọi tôn giáo được xây dựng trong một vận động tượng trưng ở đó chủ thể tự hủy diệt trong sự tồn tại tự nhiên của nó để nâng lên thành ý thức về "sự tồn tại thực sự" của nó. Trước khi là một dâng hiến cho thần thánh, vật hy sinh là sự chuyển biến của chính vật linh, qua đó cái thực được siêu việt trong khi tự hủy". [18]



Sau giai đoạn kinh tế săn bắn của nhân loại, khởi đầu của sự tích lũy của cải trong sản xuất của giai đoạn kinh tế gia đình, xuất hiện những tinh thần cá thể. Trao đổi hàng hóa không còn giới hạn trong những viễn tượng chật hẹp của giá trị sử dụng nữa mà được tổ chức theo giá trị trao đổi xác định một cách khách quan hình thái của một phổ biến tính thuần lý.


Tuy nhiên nền kinh tế thương mại chỉ có lợi cho một giai tầng đặc biệt tách ra khỏi đám đông lao động để trở thành một giai cấp thống trị. Những cấu trúc thuần lý phát triển trong phương thức sản xuất mới này tha hóa trong hình thái truyền thống của bản chất thiêng liêng, tương ứng với một tôn giáo quan niệm đấng cứu thế hy sinh. Dưới hình thái chiếm hữu phát sinh những khái niệm thực tiễn mới, trong đó sự phát triển sản xuất không phù hợp với những quan hệ trao đổi và lịch sử qua những đối kháng trực tiếp này là vận động của những tranh đấu và thỏa hiệp giữa giai cấp tư sản và giai cấp quý tộc. Cũng ở trong quan điểm này, lịch sử không còn là lịch sử của những giai cấp thống trị mà là lịch sử của lao động sản xuất và những quan hệ của con người.

Trần Ðức Thảo dẫn lời Mác:
"Ở một giai đoạn nào đó của sự phát triển, những lực lượng sản xuất của xã hội mâu thuẫn với những quan hệ sản xuất hiện hữu. Từ những hình thái tiến hóa của những lực lượng sản xuất, những quan hệ này trở thành những chướng ngại của những lực lượng này, ở đó mở ra một kỷ nguyên cách mạng xã hội Và người ta không phán đoán một cá nhân trên ý tưởng tạo ra cho chính hắn, người ta cũng không phán đoán một thời đại trên ý thức tự thân của nó, mà ngược lại phải giải thích ý thức này bằng những mâu thuẫn của đời sống vật chất, bằng sự xung đột giữa những lực lượng sản xuất xã hội và những quan hệ sản xuất hiện hữu".





Giai đoạn quá độ từ nền kinh tế buôn bán sang nền kinh tế tiền tệ, tiền là vận động của những trao đổi trở thành trung gian đưa tính phổ biến của hàng hóa trở thành sự tự trị của ý thức tự thân, như thể khái niệm trong hình dung khái niệm, đấu tranh giai cấp xuất hiện dưới một bộ diện triệt để mới: giai đoạn phong kiến mở đường cho cuộc cách mạng tư sản, sự tồn tại thần thánh mang hình thái tồn tại khả tri, biểu hiện cho sự siêu việt của tư tưởng và khái niệm phổ biến của Cứu chuộc biểu hiện tính phổ biến thực sự đắc thủ trong những quan hệ của con người qua sự bành trướng của kinh tế tiền tệ. Tuy nhiên, ý nghĩa chính thống của tính phổ biến nhân loại chỉ xuất hiện dưới hình thái hủy thể, sự chối bỏ huyền nhiệm những của cải trần gian bằng biểu tượng thuần túy của đời sống hằng cữu.




Sự tiến bộ chung của những lực lượng sản xuất đã đưa giai cấp tư sản phương Tây đi chinh phục thị trường thế giới, minh thị hình thái mới của chiếm hữu tư sản, trong đó quyền năng phổ biến của tiền không chỉ mang ý nghĩa thống nhất hàng hóa mà mang khả năng phát triển thuần lý (capacité du développement rationnel), dưới danh nghĩa tư sản phối hợp những thời khoảng khác nhau của quá trình sản xuất. Trong vận động như vậy, lao động sản xuất trở thành bản chất của giá trị, cấu thành phố biến xây dựng sự thống nhất những mặt khác biệt trong biện chứng trao đổi.
Quá trình lao động này tách rời khỏi thực tại kỳ thành của nó để giản lược vào một tất yếu toán học thuần túy, tước bỏ mọi ý nghĩa nhân tính. Ở đó khoa học hiện đại về tự nhiên phát triển trong chân trời máy móc này.



Cũng như Husserl đã chỉ ra khi xét đến ý nghĩa công chính của tư tưởng khoa học, cơ sở chân lý chỉ có thể tìm thấy trong lao động xã hội của con người, cho nên vận động lý tưởng của những khái niệm trong khoa vật lý toán học chỉ là biểu hiện trừu tượng của vận động thực của công nghiệp, như thể sự hài hòa thể hiện một cách thực tiễn giữa trí năng và sự vật. Như Marx đã chỉ ra trong tập hai Tư bản, lao động này mất khả năng nhân tính trong sự chiếm hữu của tư bản và quyền năng trừu tượng che phủ biện chứng cũng như chân lý khoa học mang bộ mặt nghịch lý của một hủy thể đời sống sinh động. Ở đó giai cấp tư sản mới dùng ma thuật biến quyền năng sáng tạo của lao động con người thành một thứ hàng hóa đơn giản, như thể vật chất thuần túy, bị khai thác trong hạch toán kinh tế và khi sức lực lao động mà công nhân đem bán cho nhà tư bản, cuộc đấu tranh chống lại những quan hệ pháp định từ thống trị sang nô lệ khái quát hóa cơ cấu của hạch toán kinh tế trong quan niệm của một thế giới bị tước đoạt ý nghĩa.



Ðể nắm quyền bính chính trị, giai cấp tư sản đã đưa cơ chế tư bản vào khái niệm của khách thể như vật chất thuần túy, Kant đặt vấn đề những điều kiện khả hữu của một đối tượng như vậy, nghĩa là sự bảo đảm pháp lý của chiếm hữu tư sản. Sự khác biệt giữa biện chứng Hegel và biện chứng duy vật ở chỗ đó: biện chứng Hegel biểu trưng một thỏa hiệp phổ biến giữa những giai tầng bóc lột cũ với giai cấp tư sản, trong khi biện chứng của lịch sử thực phát hiện trong sự bành trướng của chủ nghĩa tư bản và đại công nghiệp một cấu trúc mới của hoạt động sản xuất, hàm ngụ sự hoàn tất tổ chức kinh tế thành một sự hợp nhất toàn diện.



Giai cấp vô sản chứng thực trong những điều kiện như vậy là chính chân lý của hiện hữu, mang một hình thái hoàn toàn mới, hàm ngụ sự triệt hủy thực hữu hiệu, do sự triệt hủy hình thái chiếm cứ tư hữu. Trong sự xây dựng chủ nghĩa xã hội và bước quá độ lên chủ nghĩa cộng sản, rốt cuộc hoàn thiện sự cấu kết hài hòa phổ biến, là giấc mơ của tư tưởng tư sản trong biện chứng duy tâm với những hình thái bóc lột và giai cấp vô sản đã thực hiện trong lãnh vực thực sự tổ chức lao động xã hội, ở đó mọi cấu trúc giai cấp và nguyên cớ độc quyền bị thủ tiêu.





[1]Sartre, Question de méthode (collection Idées, tr.26).[2]Editions Minh Tân, Paris 1951. [3]Marcuse, Beitrage zu einer Phanomenologie des historischen Materialismus, Philosophische Hefte, Berlin 1928 [4]sđd, tr.5 [5]Merleau-Ponty, Humanisme et Terreur (bản tiếng Anh, tr. 153) [6]La phénoménologie de l'esprit et son contenu réel, Les Temps Modernes số 3, tr. 492 - 539 [7]Husserl, Ideen I, tr.139 dẫn trong PMD tr.8[8]PMD tr. 296 - 7 [9]sđd, tr. 51[10]sđd, tr.228[11]sđd, tr.227[12]sđd, tr. 247[13]sđd, tr. 242 [14]sđd, tr. 238[15]sđd, tr. 256 và 262[16]sđd, tr. 266[17]sđd, tr. 286[18]sđd, tr. 306






II
Cấu trúc luận và chủ nghĩa Mác Quan hệ giữa ý thức và ngôn ngữ đã trở thành vấn đề cơ bản trong hành trạng tư tưởng của Trần Đức Thảo. Ngay từ PMD, khi đi giải thích sự xuất hiện của ý thức qua những giai đoạn sơ khai của con người, ông ghi nhận từ tiếng hú của loài vật qua ngôn ngữ con người đã phối hợp trên cấu trúc của lao động sản xuất. Thật sự Trần Đức Thảo vẫn chịu ảnh hưởng sâu đậm của hiện tượng luận. Sau Husserl, Merleau-Ponty đã đặt trọng tâm vào ngôn ngữ, khởi từ bài giảng "La conscience et l'acquisition du langage" năm 1949, ở đó ông chỉ ra sự khác biệt giữa truyền thống triết học Descartes và triết học hiện đại chung quanh vấn đề ý thức và ngôn ngữ: trong truyền thống Descartes không có sự gặp gỡ giữa ý thức và ngôn ngữ trên cùng một bình diện, nói khác đi triết lý coi ngôn ngữ như một sự vật ở ngoài ý thức. Merleau-Ponty đưa ra một đề cương tìm hiểu bản thể ngôn ngữ, bao gồm việc nghiên cứu sự phát triển tâm lý của trẻ con, sự đóng góp của khoa ngữ học và những kinh nghiệm văn chương.



Khi đi tra hỏi ngôn ngữ, ông đã phát hiện ra ngữ học có thể là một điển hình nguyên lý làm cơ sở cho việc phát triển một luận lý về những khoa học nhân văn, từ đó có thể thiết lập một khoa nhân loại học triết lý, phổ biến. Ðó cũng là khởi đầu cấu trúc luận và người ta đọc lại nguồn gốc ngôn ngữ của Rousseau, Herder và Saussure. Những tiểu luận mới của Trần Đức Thảo xuất hiện trên tạp chí cộng sản Pháp La Pensée vào năm 1966 sau nhiều năm im lặng đặt trọng tâm nghiên cứu về nguồn gốc của ý thức và ngôn ngữ mang chiều hướng này. Trong khoảng thời gian vắng tiếng, ông đã có cơ hội học tiếng Nga để đọc những tư liệu dân tộc học và khảo cổ học của các nhà khoa học Liên Xô. Những công trình nghiên cứu của ông được phép xuất hiện ở ngoài nuớc có thể giải thích được hai lý do: phù hợp với sự phát động cuộc chiến tâm lý tuyên truyền ra thế giới của đảng cộng sản Việt Nam và Trần Đức Thảo đã trở thành một người Mácxit-Lêninit chính thống.



Những tiểu luận này đựơc in lại trong tác phẩm "Nghiên cứu về nguồn gốc của ngôn ngữ và ý thức" xuất bản năm 1973 [1] . Trần Đức Thảo đã dẫn chứng Lenin và hoàn toàn dựa trên những lý luận kinh điển "ngôn ngữ là ý thức thực", mà "ý thức trước hết là một sản phẩm xã hội" (Mác) phát triển trong sinh hoạt và những quan hệ vật chất mà "vật chất là một thực tại khách quan ở bên ngoài ý thức của chúng ta". (Lenin) Ði tìm nguồn gốc của ý thức, trước hết ông tránh rơi vào một nghịch lý quan niệm ý thức là vật chất vì như vậy lẫn lộn giữa chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật vì người ta có thể đảo ngược lại quan niệm vật chất là ý thức.



Ý thức ở lúc khởi đầu của nhân loại có thể đánh dấu từ sự xuất hiện của công cụ đầu tiên. Hoạt động của con người chính là một hình thái sơ đẳng của ý thức. Những điều tra nhân loại học Mácxit xác định khởi đầu của ý thức phải xét từ giai đoạn trung gian trước khi con người tối cổ xuất hiện. Ðó là giai đoạn trước khi có con người, loài vượn đã vượt lên khỏi tính cảm thụ để có tập quán lao động thích nghi. Ý thức như vậy được nghiên cứu trong "thực tại trực tiếp" của nó: ngôn ngữ bao gồm ngôn ngữ diễn đạt bằng cử chỉ và ngôn ngữ diễn đạt bằng lời. Nguồn gốc ngôn ngữ được cấu thành trên sự vận động của lao động thích nghi ngay từ cấp độ vượn người. Trần Đức Thảo dẫn lời Engels: "Trước tiên là lao động rồi sau đó và đồng thời ngôn ngữ.



Ðó là hai động lực chủ yếu tác động bộ óc của loài vượn dần dà biến thành bộ óc của con người." Lịch sử đã chứng tỏ là trí khôn loài vật chưa đạt tới mức độ ý thức, vì ở loàì vật thiếu quan hệ ý thức với sự vật như ngôn ngữ có thể diễn đạt. Và dấu hiệu ngôn ngữ sơ đẳng nhất là động tác của dấu chỉ diễn đạt mọi quan hệ với sự vật bên ngoài, ở đó ý hướng tính cơ bản của ý thức là ý thức về sự vật, khác vơí cơ chế tâm linh thuần túy cảm xúc máy móc nơi loài vật. Khi mô tả những hoạt động sơ đẳng, động tác của dấu chỉ là một cách gọi lao động trên đối tượng được chỉ. Ý chí trước hết phải được cấu thành dưới một dạng khách quan trong vận động nguyên ủy của ngôn ngữ khi vận động này đột phát những quan hệ vật chất của đời sống xã hội, điều Mác gọi là ngôn ngữ của đời sống thực:

"Sản xuất những ý tưởng biểu hiện và ý thức trước hết một cách trực tiếp và riêng biệt lẫn vào các hoạt động vật chất và giao dịch vật chất của con người, nó chính là ngôn ngữ của đời sống thực. Những biểu tượng, tư tưởng, giao dịch trí thức của con người xuất hiện ở đây như" khởi sinh trực tiếp của ứng xử vật chất (direkter Ausfluss ihres materiellen Verhaltens) nơi con người" [2]



Ðến đây Trần Đức Thảo muốn chỉ ra hướng nghiên cứu qua lối đặt vấn đề khởi từ một ý nghĩa tuyệt đối tự căn cơ ở trong ngôn ngữ của đời sống có thực có trước mọi ý thức nói chung, và chỉ từ khi có chủ thể hoá mới xác định ra ý thức nguyên ủỵ. Trong mọi bước tỉ mỉ mô tả những động tác dấu chỉ của con người nguyên thủy, ý nghĩa này được giả định ở mọi giai đoạn tiếp theo như những điều kiện tiên quyết của thao tác ngôn ngữ hay tư tưởng.



Hướng nghiên cứu này hoàn toàn theo quan điểm duy vật vì ý nghĩa của dấu chỉ liên hệ một cách trực tiếp và duy nhất tới chính sự vật trong hiện hữu ngoại tại, coi như độc lập với chủ thể, hay nói một cách khác, sự vật trong hiện hữu vật chất. Chính khởi từ hình thái khách quan của dấu chỉ đã đắc thủ mới có hình thái chủ quan xác định mối quan hệ đầu tiên có ý hướng của chủ thể đối với khách thể.


Cho nên Mác xác định ý thức không có gì khác hơn cái hữu thể có ý thức (das bewusste Sein). Có thể nói, ngôn ngữ là chính ý thức trong thực tại trực tiếp của nó, thì ý thức là ngôn ngữ mà chủ thể nói với chính mình, nói chung dưới dạng "ngôn ngữ bên trong". Vận động vật chất hàm ngụ trong ý thức là chính ngôn ngữ, nói khác đi tín hiệu ngữ học là vận động vật chất của hành vi chỉ thị.


Trong Grundrisse, Mác quan niệm ngôn ngữ là hiện thể của cộng đồng, nên mối quan hệ giữa cá thể và ngôn ngữ chỉ xác định khi cá thể là một thành viên tự nhiên của cộng đồng con người. Trong phần nghiên cứu thứ hai của tác phẩm Recherches sur l'origine du langage et de la conscience (ROLC), dưới nhan đề: ngôn ngữ hỗn tạp (Le langage syncrétique), Trần Đức Thảo mở đầu từ một khái niệm của Jakobson: "Ý nghĩa của một tín hiệu là một tín hiệu khác, nhờ đó tín hiệu mới được thông diễn" và phê phán: Nếu tất cả ý nghĩa của những tín hiệu là đi từ tín hiệu này qua tín hiệu khác, chứ không bao giờ liên hệ trực tiếp với sự vật thì như vậy, một cách thực tiễn, chúng ta bị vây kín trong thế giới những tín hiệu và không thể thấy được sự vật muốn nói gì.



Ðó là một sai lầm nghiêm trọng vì ngay trên bình diện phân tích những tín hiệu, không thể chối bỏ sự hiện hữu của một tín hiệu cơ bản, mà ý nghĩa rõ ràng xác minh "một liên hệ trực tiếp giữa từ ngữ và sự vật": đó là tác động của dấu chỉ (le geste de l'indication), ở đó chúng ta chỉ ngón tay trên chính sự vật. Khi Lenin định nghĩa cảm giác là dây liên lạc trực tiếp của ý thức với ngoại giới, ông muốn chỉ ra rằng khái niệm vật chất đối với con người là vấn đề tín nhiệm vào những dấu chỉ (pokasaniiam) của những giác quan, vấn đề và những nguồn gốc của nhận thức nơi con người [3] .


Toàn bộ những nghiên cứu về nguồn gốc của ngôn ngữ và ý thức khởi đi từ vấn đề vận động của dấu chỉ. Dựa vào quan điểm duy vật, ông xác động tín hiệu của tín chỉ phát triển theo sự vật trong vận động của nó. Lý luận phản ánh bắt nguồn từ Mác, quan niệm "vận động của tư duy chỉ là phản ánh của vận động thực được vận chuyển vào trong bộ óc của con người." Khi đi tìm hình thái nguyên ủy của ý thức thông qua quá trình tiến hóa từ loài vượn lên loài người, rồi từ loài vượn người qua loài người khéo léo (homo habilis), chúng ta thấy hàm mặt đã thanh tú hơn và bộ óc tăng trưởng chứng tỏ sự phát triển đầu tiên của ngôn ngữ và ý thức. Dựa vào khả năng của giác quan, Trần Ðức Thảo nhận xét: Ý thức xuất hiện ở khởi đầu của sự phát triển nơi loài vượn bằng chủ quan hoá tín hiệu của dấu chỉ dưới dạng thái xác thực khả xúc của thực tại khách quan của sự vật được tri giác [4] .



Từ quan điểm của Engels: "Cũng như lịch sử tiến hóa của thai nhi trong bụng mẹ chỉ biểu hiện một sự lặp lại thu gọn lịch sử hàng triệu năm tiến hoá thể chất của tổ tiên động vật của chúng ta, bắt đầu từ loài loài sâu, sự tiến hoá trí khôn của trẻ con cũng là một sự lập lại thâu tập sự tiến hoá trí khôn của những tổ tiên này, ít ra là những tổ tiên gần dạng người" [5] toàn bộ đề cương nghiên cứu trong PMD tìm hiểu khởi sinh những cấu trúc của ý thức từ khảo sát nguồn gốc sinh vật của con người về mặt phát triển cá thể và chủng loại đối chiếu sự phát triển nơi trẻ sơ sinh với sự phát triển cơ xúc từ loài sâu đến loài vượn đến ROLC hướng đi vẫn không thay đổi.


Những tư liệu tâm lý học về trẻ em trong ROLC phần lớn dựa trên công trình của những nhà tâm lý học Liên Xô như Gvosdev, Konnikova và nhất là Piaget (người Thụy Sĩ, rất gần với quan điểm Mác-xít, như Goldman nhận định), còn những tư liệu nhân loại học trong ROLC dự trên những công trình của Iakimov, Spirkine, Kotchetkova nhằm mô tả vận động biện chứng của những dấu chỉ phát triển ở các loài vượn người và trẻ em, khởi thủy của ngôn ngữ và ý thức. Vận động của dấu chỉ về mặt duy vật biện chứng khởi sinh từ lao động tập thể thích nghi được phát triển từ trình độ vượn người. Quá trình tiến hóa từ vượn người lên loài người đánh dấu từ khi đứng và đi thẳng bằng hai chân, giải phóng bàn tay để có thể tập thói quen biết sử dụng phương tiện . Một sự phát triển như vậy giả định tín hiệu của dấu chỉ trong hình thái sơ đẳng nhất sử dụng phương tiện tập thể, đồng thời cũng đắc thủ được trong tổ chức thần kinh, giải phóng bộ óc qua những hoạt động cao cấp: ngôn ngữ và ý thức, vượt khỏi những hạn chế của hoàn cảnh.



Từ phương tiện tự nhiên, đến sửa soạn phương tiện như biết mài cạnh đá cuội, phát triển phương tiện (ở giai đoạn Kafouen và Olduvai), cho dến khi thực sự tạo ra công cụ là quả là một quá trình từ con người được thành hình (tác nhân sản xuất ra phương tiện) cho đến khi con người hoàn tất (tác nhân sản xuất ra công cụ). Khi đi phân tích tín hiệu của dấu chỉ phát triển, nơi loài người sơ khai sống thành đoàn nhóm săn bắt mồi, lấy hình ảnh người săn thấy con mồi ở phía xa và chỉ cho những nguời khác bằng một cử chỉ của bàn tay dang ra về phía trước, nơi trẻ sơ sinh 14 tháng biết ra tín hiệu bằng cử chỉ, Trần Ðức Thảo diễn tả ý chí của động tác dựa trên một ảnh tượng được phát biểu "cái này trong một vận động trong hình thái chỉ cách xa "bằng công thức CME, phát biểu một cách chung là "cái này trong một vận động trong hình thái" bằng công thức CMF, gọi là công thức của dấu chỉ phát triển bao gồm một số những khả năng tiến hóa để có thể hiểu tính đa nghĩa của tiếng dựa trên cử chỉ [6] , phân tích cho đến tận cùng, đó là toàn bộ vận động diễn đạt bằng cử chỉ, sơ bộ hay hoàn tất, tạo thành ý nghĩa của tiếng. Nhận thức được tín hiệu của dấu chỉ phát triển chỉ có được khi chủ thể có thể nói với chính nó : Khi tín hiệu được dội trở lại chính nó nơi trẻ con dưới hình thức chơi đùa, trên thực tế là những điều kiện nguyên thủy trong thực tiễn lao động tập thể.



Lao động vượn người đã trao đổi lẫn nhau cùng dấu chỉ phát triển về một đối tượng của hình thái CMF. Trong thí dụ nêu trên, khi những người săn trong nhóm trao đôåi dâáu chỉ này, nghĩa là trao đổii với nhau và với chính mình khi đồng nhất với tiếng gọi của người tiền phong, tín hiệu mới mang chính ảnh tượng nhờ đó những người săn gọi nhau theo bắt con mồi, vận động của một nhận biết như vậy tạo hình thái của cải sinh động đó như là hành vi mang ý nghĩa vật chất gọi là ý thức [7] .



Những phân tích cụ thể về biểu tượng cho thấy ý thức chân chính của sự vượt qua khi minh giải nội dung thực kỳ thành của nó, tức là cái nội dung xã hội, chứng tỏ sự hiện diện thực cùng khắp của lao động tập thể, sinh ra sự hiện diện cùng khắp lý tưởng của ý thức. Sự phát triển qua lao động tập thể do sự phát triển ra phương tiện tiến đến sự phát triển phân bố công tác trong khuôn khổ thông tin mở rộng là một bước tiến bộ trong cấu trúc ngôn ngữ. Mâu thuẫn khách quan giữa những quan hệ mới trong lao động tập thể do sự phát triển những lực lượng phương tiện và hình thái đắc thủ của ngôn ngữ tạo cho một cấu trúc ngữ học mới phát sinh.



Quan hệ song hành cơ bản của cử chỉ và tiếng tạo ra nhóm từ có tính chức năng là một bước tiến bộ nhất định trong sự tiến bộ của nhận thức. Nhóm từ về mặt chức năng xuất hiện vào cuối giai đoạn hai của loài vượn người đánh dấu hình thái ngữ học mới cho đoàn nhóm tương ứng với nhận thức của tập thể. Ở buổi đầu, ngôn ngữ của loài vượn người cũng như nơi trẻ sơ sinh còn là thứ ngôn ngữ hỗn tạp. Vượt qua giai đoạn ngôn ngữ hỗn tạp, vươn lên khỏi hình thái và sự khai sinh ra từ biểu tượng phân biệt của hình thái.



Từ có một vị thế nhất định, không còn là thứ tiếng hỗn tạp nữa. Do ước lệ xã hội, tương ứng với kinh nghiệm về nhiều mặt đối tượng vượt khỏi những khả năng trực tiếp của sự phát triển của hoàn cảnh hiện tại. Dấu chỉ của đối tượng ở đây tương ứng với lối gọi tên điển hình đánh dấu một bước mới nhất định trong sự tiến bộ của nhận thức. Cấu tạo điển hình này đánh dấu một bước đầu của lao động sản xuất nơi người khéo léo (Homo habilis). Sau giai đoạn ngôn ngữ hỗn tạp, nhóm từ được hình thành, có nghĩa là sự biện biệt hóa chủ từ kéo theo sự xuất hiện những câu được phát biểu đúng nghĩa với những quan hệ giữa chủ từ và động từ. Ðộng từ chỉ xuất hiện sau cùng, tiếp nối túc từ ở trẻ con đã được 23 tháng (nơi quá trình lịch sử con người sau thời đại Prehominien) [8] .



Trong Tiết III của phần hai nghiên cứu về ngôn ngữ hỗn tạp, dưới tiểu đề "tổ biện chứng nhận thức" (l'alvéole de la dialectique de la connaissance), Trần Ðức Thảo muốn chỉ ra rằng từ quá trình tìm hiểu ý nghĩa hỗn tạp của dấu chỉ đã cho thấy những mầm mống của mỗi thành tố biện chứng của nhận thức như một tái sản xuất lý tưởng cải biến chung của sự vật. Những mâu thuẫn của biến chứng sự vật ở trạng thái tiềm ẩn đã tuần tự xuất hiện trong sự phát triển của thực tiễn xã hội, tạo thành những hình thái mới của ngôn ngữ và ý thức, ở đó cấu trúc ngữ nghĩa nguyên ủy làm cho những tác động ngữ học được phong phú lên dựa trên mô hình của sinh hoạt vật chất và những tương giao vật chất giữa những người lao động, và khi diễn đạt tượng trưng bằng lời đã tạo thành một hình ảnh càng lớn và rõ hơn về ngoại giới.



Ở vào kỷ thứ ba và thứ tư, tín hiệu của dấu chỉ phát triển tương ứng với sự phát triển của lao động thích nghi đơn giản, nghĩa là biết sử dụng phương tiện tự nhiên và phương tiện được sửa soạn trở thành ứng xử bình thường nhờ ở bàn tay được giải phóng. Sự nhảy vọt từ phát triển về lượng sang phát triển về chất với sự trao đổi những thông tin trong đoàn nhóm, trong sự hợp tác lao động tập thể khi đã có dấu chỉ biểu tượng về "cái này"' vắng mặt, khi đã vượt qua được mâu thuẫn giữa đối tượng và vận động trong hình thái sơ đẳng nhất, nghĩa là khi đối tượng biến khỏi trường tri giác hiện tại. Bước tiến bộ về chất này trong sự phát triển của ngôn ngữ và ý thức lần đầu tiên đã cho phép chủ thể vượt qua một cách lý tưởng những hạn chế chật hẹp của dữ kiên hiện tại, chính là giải phóng được bộ óc.


Ở giai đoạn Kafouen (thời đầu kỷ Pleistocene thứ cấp) con người biết sửa soạn phương tiện bằng sự điều động trực tiếp chất liệu với sự phát triển lao động nhờ một phương tiện thứ hai (dùng hai hòn cuội, một là đối tượng lao động, một là phương tiện lao động). Sử dụng phương tiện phát triển làm cho đoàn nhóm phân biệt thành những đôi đắc thủ, tạo cho lao động thành hình thái lao động thích nghi phức tạp. Những mâu thuẫn mới lại xuất hiện ở trình độ hoạt động và những tương giao vật chất giữa những người lao động, được phản ánh trong ngôn ngữ bằng một loạt những ngộ nhận, như khi một tiếng được dùng để chỉ vận động của một đối tượng nhất định nơi người này đối với người nghe lại biểu tượng vận động này trên một đối tượng khác. Mâu thuẫn ấy chỉ được giải đáp trong hình thành nhóm từ có chức năng sơ đẵng.


Với một cấu trúc mới của ngôn ngữ và ý thức lao động triển khai dựa trên một ảnh tượng điển hình lý tưởng của hình thái phương tiện mang một cách thế chung cho mỗi người lao động. Tác động ngữ học mới chỉ định hình thái của hành vi lao động, mà nhận thức làm xuất hiện kỹ thuật sản xuất, ở đó sự thực hiện chính xác ảnh tượng điển hình của hình thái phương tiện được đảm bảo trong sự xác định có ý thức về những vận động của sự điều động chất liệu, như Mác nhận định:

"Con vật chỉ là một với hoạt động sống. Nó không tách rời mà chính là hoạt động sống này. Con người làm cho hoạt động sống thành đối tượng của ý chí và ý thức của con người. Con người có một hoạt động sống có ý thức. Ðó không phải là một xác định đơn giản mà con người nhập vào một cách trực tiếp. Hoạt động sống có ý thức phân biệt trực tiếp con người với hoạt động sống thú vật. Con người một cách minh thị ở đó hiện hữu như một chủng loại" [9]



Chính qua đắc thủ và nhận thức được tín hiệu dấu chỉ của hình thái vận động trên đối tượng mà hoạt động sống có ý thức là một lao động sản xuất. Khi lao động đã hoàn toàn thuộc về con người, đó là lúc loài người Homo xuất hiện. Tuy vậy sự sản xuất vào thời kỳ này vẫn còn ấu trĩ vì hạn chế trong phần hữu dụng của phương tiện. Khi con người sản xuất ra công cụ, nghĩa là chế tạo toàn bộ chất liệu theo một hình thái điển hình toàn diện, phác họa từ trong đầu một kế hoạch hoạt động, đó là lúc người lao động có thể chỉ định cho chính mình một loạt những khai triển hình thái điển hình nhất định, ngôn ngữ đã có sự phân biệt động từ. Từ sản xuất ra phương tiện ở vào lúc nhân loại ví như một thai nhi ở giai đoạn cuối hình thành, cho nên Engels gọi là con người đang hình thành (der werdende Mensch), sang đến giai đoạn sản xuất ra công cụ, hàm ngụ sự cấu thành nhóm từ trong ngôn ngữ thực hiện đồng thời với biện chứng nguyên ủy của lực lượng và quan hệ sản xuất trong sự phát triển từ con người khéo léo sang con người lao động (Homo faber), con người đã hoàn toàn là người (der fertige Mensch).



Loài người lúc đó như rời khỏi bụng mẹ thiên nhiên để bước sang một thế giới mới, thế giới văn hóa. Con người đi từ lao động nguyên thủy (Homo faber primigenius) đến con người hiện tại, có lao động trí thức (Homo faber sapiens). Từ công thức cơ bản CMF biểu hiện công thức của dấu chỉ phát triển, Trần Ðức Thảo đã chịu ảnh hưởng của cấu trúc luận không phải như một hệ thống mà như một phương pháp để nghiên cứu quá trình biến chuyển của những tín hiệu biểu tượng tới sự hình thành nhóm từ chức năng của ngôn ngữ, nhưng ông xác định là chưa bàn tới hình thành nhóm từ đúng nghĩa, kế tiếp giai đoạn ngôn ngữ hỗn tạp. Tác phẩm ROLC vẫn chỉ là một công trình khởi thảo chưa hoàn tất.



Phân tâm học và chủ nghĩa Mác Phân tâm học là một trong những nguồn tư tưởng lớn ảnh hưởng đến sinh hoạt trí thức nói chung của thế kỷ. Cùng với cấu trúc luận, phân tâm học trở lại sinh động sau biến động 68 ở châu Âu và là đối tượng phê phán của người Mácxit. Cho nên trong phần thứ ba của tập Nghiên cứu, Trần Ðức Thảo đã dành gần một trăm trang để đối chiếu "chủ nghĩa Mác và phân tâm học" với mục đích khai phá "hạt nhân hợp lý" trong những quan sát khoa học thành tựu của phân tâm học. Ông khẳng định:
"Chỉ có chủ nghĩa duy vật lịch sử khi phát triển lý luận về những hình thái lịch sử xã hội của cá thể, mới lý giải đứng đắn chất liệu phong phú của những dữ kiện khách quan mà phân tâm học tích lũy được" [10]



Khác với những người Mácxit giáo điều, Trần Ðức Thảo cũng như một số ít người Mácxit khác nhìn nhận mối quan hệ và kế thừa những thành quả khoa học của cấu trúc luận và phân tâm học. Mục tiêu nghiên cứu như đề ra trong tiểu đề là "những nguồn gốc của khủng hoảng Oedipe". Mặc cảm Oedipe như André Green đã chỉ ra là một "định tố sơ cấp" mặc dầu gắn liền với những hình thái xã hội của mọi thời đại, nhưng độc lập với tính lịch sử này. Mặc khác Oedipe như Moustafa Safouan xác định:
"Oedipe không phải là huyền thoại... mà là một cấu trúc theo đó dục vọng sắp đặt thế nào để cấu thành một hiệu quả trong quan hệ của tồn tại của con người, không phải với tính xã hội nhưng với ngôn ngữ" [11] .



Tuy không đồng quan điểm với những nhà phân tâm học coi mặc cảm Oedipe là phổ quát định vị dục vọng, nhưng Trần Ðức Thảo cũng khởi đi từ ý hướng tìm hiểu Oedipe trong vận động của ngôn ngữ. Ông cũng không phủ nhận mặc cảm Oedipe như Deleuze và Guattari [12] và nghiên cứu về khủng hoảng Oedipe đóng góp vào cuộc tranh luận diễn ra trong thời điểm cấu trúc luận này. Quan điểm của ông cũng gần với André Green khi chú trọng đến phương thức cơ bản của mặc cảm Oedipe trong mối quan hệ với người sản xuất. Trong khi phân tâm học quan niệm mặc cảm Oedipe là phổ quát. Nghĩa là con người sinh ra mang một mặc cảm huyết tộc diễn ra trong mối quan hệ tam giác xung đột (cha - mẹ - tôi), Trần Ðức Thảo nhận định cấu trúc Oedipe không phải là một dữ kiện trực tiếp mà cấu thành như hậu quả của toàn sự phát triển. Ngay chính Freud cũng nhìn nhận ở con gái, mặc cảm Oedipe chỉ là hình thái thứ yếu.



Như vậy, trước khi có mặc cảm Oedipe, phải xét đến nguồn gốc của giai đoạn tiền Oedipe, mối liên lạc xã hội đầu tiên của con người. Sự phát triển lao động theo Engels thiết yếu đã góp phần vào việc xiết chặt những dây liên lạc giữa những thành viên của xã hội, khi gia tăng những hỗ trợ lẫn nhau, hợp tác chung và khiến cho mọi thành viên ý thức được tiện lợi của sự hợp tác này. Ở khởi điểm nguồn gốc gia dình, lực lượng thống nhất và hoạt động tập thể của đoàn nhóm đã thấy khả năng tự vệ không đầy đủ của cá nhân. Thực tiễn lao động tập thể đã đưa đoàn nhóm nguyên thủy này thủ tiêu "tính cá nhân thú vật" trong tập thể thú vật này để bước sang xã hội người, cũng như trấn áp được tính ghen tuông tìm thấy nơi động vật. Theo Lenin, đây là một bước quyết định của "công xã nguyên thủy" trong quá độ từ tự nhiên lên văn hóa. Như vậy khởi sinh của khủng hoảng Oedipe bắt nguồn từ chỗ nào? Khủng hoảng này hàm ngụ hình thái đối lập của một sự xung đột dữ dội giữa những thế hệ, nghĩa là những người con bị dồn ép trong dục vọng bị cấm đoán hướng về những người mẹ và đương đầu một cách phạm tội đối với những mgười cha. Sự ghen tuông chỉ có thể xảy ra trên một cơ sở xã hội.



Tuy nhiên, trước hết phải xét đến "bi kịch của người đàn bà về mặt sinh vật" tạo ra những điều kiện của một bi kịch xã hội thực. Ðó là giai đoạn từ thời đồ đá cũ thứ cấp, khi con người đã trở nên con người lao động nguyên thủy: người đàn bà đã ở dạng đứng thẳng, chuyển động bước đi bằng hai chân đã phát triển, cấu tạo hông điều chỉnh lại khiến cho số tử vong vì tai nạn mang thai và sinh đẻ tăng lên khiến số đàn bà ít hơn đàn ông. Dựa vào tư liệu của Nemilov [13] , ở thời Mousterien, tuổi tối đa của đàn bà là 30 trong khi đàn ông sống tới 45 và đàn bà lấy chồng vào tuổi 15 đến 30. Như vậy, quan hệ hôn nhân trai gái trong thời đại này tương ứng theo biểu đồ: về phía nữ, thời con gái bắt đầu từ 0 đến 14 và thời làm mẹ từ 14 đến 30, về phía nam, thời làm con từ 15 đến 29 và làm cha từ 29 đến 45. Mối tương giao tam giác Oedipe như phân tâm học chỉ ra chỉ có ý nghĩa về mặt vận động ngôn ngữ, và cái loạn luân Oedipe về mặt thực tiễn không thể nào xảy ra vì hầu như những con trai bao giờ cũng là những đứa trẻ mồ côi mẹ trước khi đến tuổi dậy thì; nói khác đi cái quan hệ tam giác cha/mẹ/tôi không có gì chung với những quan hệ thân tộc thực, nó chỉ diễn đạt sự mâu thuẫn của những quan hệ xã hội bị chế tài bởi ngôn ngữ [14] . Sau hàng triệu năm phát triển ngôn ngữ và ý thức trong vận chuyển của lao động và những quan hệ xã hội, con người hình thành đắc thủ được những tập quán hợp nhất và đoàn kết, giải phóng lao động sản xuất khỏi quy luật động vật để tạo ra những quan hệ xã hội mới.



Cùng với sự tiến hóa tận cùng của con người Homo habilis, với bi kịch sinh đẻ, người đàn bà không còn theo đàn ông đi săn nữa mà trông nom con cái, cùng với nhóm đàn ông ở nhà để bảo vệ chống thú dữ. Thành ra lần đầu tiên có một sự phân công lao động với sự xa cách nhất thời giữa hai đoàn nhóm. Người đàn bà ở nhà làm nội trợ và những nhân tố đầu tiên của những lực lượng sản xuất công cụ đòi hỏi tiêu thủ tính cá nhân thú vật; chúng ta có thể coi toàn bộ vận động này như sự khai mào quy luật cơ bản của toàn xã hội con người: quy luật tương ứng tất yếu giữa những lực lượng sản xuất và những quan hệ sản xuất.



Con người đã biết sử dụng lửa và những dụng cụ nhỏ tạo thành công nghiệp gia đình đòi hỏi phần vụ đặc biệt của người đàn bà, không thích hợp với những phong tục phóng túng của truyền thống trong cộng đồng nguyên thủy. Do đó có một mâu thuẫn sâu sắc giữa tất yếu xã hội đình hoãn mọi quan hệ tình dục với những đàn bà lo công tác lao động nội trợ tập thể với tự do phóng túng về quan hệ tình dục. Những điều kiện sử dụng lửa nơi người thời Acheuléen chưa biết cách tạo ra lửa theo ý muốn đòi hỏi một trong những nhiệm vụ chính của đàn bà là lo canh gác lửa, tạo ra một cấm đoán tình dục, dưới hình thức cấm tuyệt đối đàn ông giao tình với đàn bà, và khi phạm lỗi có thể bị thẩy vào lửa, tạo ra nghi lễ ăn thịt người, và có thể là khởi đầu của mọi nghi lễ hy sinh của tôn giáo.



Cũng chính ở nơi người thời Acheuléen này khởi sinh ảo tưởng của người đàn bà có dương vật (giữ một vai trò đáng kể trong lý luận phân tâm học về mặc cảm Oedipe). Theo Freud, giai đoạn Oedipe nơi trẻ con tương con tương ứng với "sự cấu tạo dương vật" phát triển ở cả hai phái với sự tin tưởng tiền định là mọi người, đàn bà cũng như đàn ông đều có cơ quan sinh dục đàn ông: "Giai đoạn dương vật này đồng thời cũng là giai đoạn của mặc cảm Oedipe" [15] . Tuy nhiên, theo Trần Ðức Thảo, giai đoạn dương vật bắt đầu sớm hơn. Ông đặt bước khởi đầu ảo tưởng của đàn bà có dương vật trong sự phát triển của đứa trẻ ba tuổi tương ứng với người Acheuléen về mặt phát sinh chủng loại. Người đàn bà Acheuléen mang dương vật giả trong khi lo phụng vụ lửa tập thể với nghĩa: "Người đàn bà này, trong khi thi hành nhiệm vụ xã hội phải được kính nể như một người đàn ông" [16] nhằm ngăn cản công việc yêu đương.



Tín hiệu của người đàn bà mang dương vật có lẽ được khái quát suốt từ thời tiền và hậu Acheuléen, tăng cường sự tuân thủ cấm đoán tình dục với người nội trợ, ổn định phân công lao động giữa hai phái, khiến lực lượng lao động tiến bộ. Tuy nhiên sự phát triển sản xuất tạo ra những quan hệ mới, dẫn đến những xung đột mới. Khi sử dụng lửa đã tiến tới cá nhân hóa, công việc nội trợ tập thể trở thành nội trợ lứa đôi, như với biểu đồ hôn nhân đã đề cập nơi trên, thiết yếu dẫn tới sự cấm đoán quan hệ tình dục cho tất cả thế hệ trẻ nam, tạo cho thế hệ cha ưu thế và thế hệ con bị dồn ép:
"Trong ngôn ngữ của đời sống thực dựa trên mẫu bi kịch xã hội này, những tác động ngữ học mới đem lại cho những từ cha, mẹ, con đã hình thành trong thời kỳ trước một nội dung ngữ nghĩa mâu thuẫn" [17] .




Ở thời kỳ đồ đá cũ, quan hệ giữa người mẹ thực hay những người đàn bà đồng lứa với con trai là quan hệ dưỡng dục, còn ở thời kỳ mà tín hiệu dương vật người đàn bà mang trong công việc nội trợ nhằm tiêu diệt mọi hàm ngụ tình dục trong quan hệ. Những người thanh niên ở tuổi dậy thì đã mất những người mẹ thực, bắt buộc có quan hệ này với những người đàn bà cùng trang lứa mà y phải coi là mẹ, vì họ lấy cha và chính y sẽ lấy một trong những người con gái của họ. Cho nên nội dung ngữ nghĩa nguyên thủy của Mẹ coi như "mẹ nuôi dưỡng giúp đỡ và mang dương vật", còn mang ý nghĩa mâu thuẫn là "me, đối tượng của dục vọng", cũng như "người cha dưỡng dục" còn mang ý nghĩa mâu thuẫn là "cha, đối thủ với con trai".



Trong những cộng đồng ở thời đồ đá cũ cao cấp, nhóm người lớn tuổi mặc dù là thiểu số tạo thành một tầng lớp xã hội đặc biệt, nhờ kinh nghiệm tạo những tiến bộ kỹ thuật về công nghệ đánh dấu sự xuất hiện của con người lao động trí thức. Có thể chính tầng lớp này nắm quyền xã hội và nguồn gốc của tục cắt da qui đầu thực hiện trong những lễ nghi dẫn vào tuổi dậy thì bắt đầu từ thời kỳ này, nhằm bắt trẻ dậy thì từ bỏ dục vọng tình dục cho đến tuổi được kết hôn. Ðiều này tương ứng với những mặc cảm thiến hoạn nơi trẻ con năm tuổi. Biểu tượng thiến hoạn nhằm củng cố quyền lực của người lớn tuổi cũng thủ tiêu tín hiệu tạo ra ý nghĩa cơ bản của mặc cảm này nơi ảo tưởng của đàn bà có dương vật. Biểu tượng này thể hiện trong những nghi lễ phá trinh những cô gái, không phải chỉ chọc thủng màng trinh, còn cắt tiểu âm thần và đôi khi cắt cả mồng đóc. Vào thời đại này, tuổi thọ đã tăng và do sự bất quân bình giữa hai phái, những người đàn ông góa lớn tuổi có quyền ưu tiên cưới những cô gái đến tuổi lấy chồng. Ðó là lý do tầng lớp người già dùng sự thiến hoạn tượng trưng để củng cố quyền hạn trong hôn nhân, khiến những thiếu nữ phải lấy chồng vào tuổi lứa tuổi cha họ.



Ðiều này có thể giải thích luận điểm của Freud là: trong khi mặc cảm Oedipe nơi con trai lặn đi dưới mặc cảm thiến hoạn , lại có khả năng diễn ra do mặc cảm thiến hoạn nơi con gái. Freud coi sự khác biệt này là một hệ quả tự nhiên của sự phân biệt cơ quan sinh dục và hoàn cảnh tâm linh; Trần Đức Thảo quan niệm sự khác biệt này chủ yếu có nguồn gốc xã hội. Trong điều kiện người già thống trị, những người "cha" lợi dụng để lập chế độ đa thê, cưới những cô gái trẻ làm vợ thứ, và kết qủa là trong những gia đình đa thê, người chồng và người vợ đầu ở tuổi cha mẹ của những người vợ mới, và người này dễ dàng trở nên ghen với "mẹ" cùng chung chồng, ở vào địa vị người "cha" của mình. Trần Đức Thảo nhìn nhận mặc cảm Oedipe được cấu thành, trong những điều kiện của thời đồ đá cũ cao cấp này, mặc cảm Oedipe nơi phái nữ có thể coi như sự hình thành cuối cùng có tính cơ tâm linh phản ứng một cách tiền định trong thời tiền sử âú trĩ. Sự cắt da qui đầu là tín hiệu cấm đoán loạn luân giữa "con trai" với "mẹ" nhưng mở đường cho sự loạn luân giữa "cha" và "con gái". Sự loạn luân, nói chung chỉ bị cấm đoán khi xã hội có lệ ngoại hôn.




Ở những xã hội ngoại hôn này, cắt da qui đầu mang ý nghĩa một sự cấm đoán toàn diện về loạn luân. Ðó là thời đồ đá trung, bi kịch sinh vật nơi người đàn bà đã kết thúc, chấm dứt tiến hoá sinh vật - xã hội với thiết lập chế độ ngoại hôn như bước đầu của lịch sử xã hội. Khi cấu trúc kết hôn ngoại tộc đã hình thành cấu trúc thực sự của những quan hệ tình dục của con người thì mặc cảm thiến hoạn thì không còn tuyệt đối giữ vai trò cấu trúc hóa của những cơ quan hệ tình dục nơi con người nữa. Những hình thái tâm linh liên hệ đến mặc cảm Oedipe chỉ là những hình thái ngữ nghĩa từ nguyên ủy ở trong thời tiền sử của nhân loại do vận động vật chất của dấu chỉ bằng cử chỉ và bằng lời đựơc tạo theo khuôn khổ của biện chứng sinh vật-xã hội trong thời kỳ khởi sinh của nhân loại. Những vận động cơ bản của khởi sinh nhân loại bao gồm sự phát triển lao động, ngôn ngữ và ý thức và những quan hệ xã hội, do đó khủng hoản Oedipe trong những quan hệ hôn nhân, ngôn ngữ và ý thức chỉ là biến trạng của sự phát triển, tuyệt đối không phải là một "giai đoạn tất yếu" trong sự phát triển của loài người Homo [18] .




Trần Đức Thảo nhận định phân tâm học có tác dụng chữa bệnh vì tâm bệnh biểu hiện nơi mặc cảm Oedipe là một bệnh của ngôn ngữ, do đó có khả năng của một sự điều trị bằng chính ngôn ngữ. Tuy nhiên lý luận phân tâm học chỉ mang những khái niệm chung có tính miêu tả, gồm một số chất liệu phong phú những sự kiện cụ thể, nhưng không có khả năng lãnh hội chung trong những xác định cụ thể và chỉ có chủ nghĩa duy vật lịch sử mới có những khái niệm khoa học thiết yếu để đi sâu vào nội dung nhất định của những hiện tượng tâm linh và đem lại một lý giải rõ ràng. Từ quan điểm này, xung động Oedipe mang mâu thuẫn biện chứng được xác định qua lịch sử giữa hai quy luật: quy luật nguyên thủy của cộng đồng đàn bà bảo đảm sự thống nhất và liên đới tất yếu trong khởi đầu sản xuất ra công cũ và qui luật mới của hôn nhân lứa đôi đề ra trong sự tiến bộ của những lực lượng sản xuất, nhất là sự phát triển công nghệ gia đình ở thời Mousterien [19] .



Mâu thuẫn của hai quy luật này mang hình ảnh của một sự xung đột sâu sắc giữa các thế hệ, biểu hiện bi kịch xã hội diễn ra trong bi kịch tâm 1ý trẻ con và người bị loạn thần kinh. Sự phát triển nhân cách theo Trần Đức Thảo không thông qua mặc cảm Oedipe vì từ ba tuổi, đứa trẻ trải qua hai con đường: mối liên hệ đồng nhất không đối nghịch với cha mẹ xảy ra vào hai tuổi và dục vọng ghen tị chỉ bắt đầu vào ba tuổi, nhưng chỉ có con đường thứ nhâát mới có một tương lai thực và hoàn tất một cách hưũ hiệu chuyển biến của con người.



Con đường dục vọng chỉ là một biến thể, xác định với mặc cảm thiến hoạn, giảm trừ Oedipe vào hiện hữu ngầm của vô thức: vô thức trong nội dung Oedipe chỉ là tồn tại của một ngôn ngữ bị bóp méo ngay tự nguồn. Tóm lại, mặc cảm Oedipe ở bất cứ cấp độ nào cũng không thấy ở nguồn gốc của bản ngã trẻ con; nó đối lập ngay từ đầu với cấu trúc sâu sắc nhất của hiện hữu cá nhân, và như vậy mở đường cho bêänh loạn thần kinh phá hũy bản ngã. Nó là ngôn ngữ tha hóa, bị bủa vây trong bất lực để khuấy động triền miên trong sự bế tắc khủng hoảng của những giấc mộng và ác mộng, ám ảnh và ảo ảnh [20] . Người Mácxít Việt Nam duy nhất Qua hai tác phẩm chính PMD và ROLC của Trần Đức Thảo, lý thuyết nhất quán xuyên suốt là quy luật tác động qua lại giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất xác định sự chuyển biến của lịch sử con người. Khi đọc Husserl qua Ideen II, Trần Đức Thảo đã chú ý đến thái độ nhân chủ (l'attitude personnaliste) trong tư tưởng của Husserl xác định thế giới của tinh thần (le monde de l'esprit) được biểu trưng như một thái độ thực tiễn, trong đó cái hiện thực chỉ có ý nghĩa trong những mối liên hệ chủ thể cụ thể, trong đời sống kỳ thành [21] .



Trên con đường từ hiện tượng luận qua chủ nghĩa Mác,Trần Đức Thảo khẳng định cơ sở thực của"thế giới tinh thần" được thể hiện nơi vận động của giai cấp vô sản nhằm thủ tiêu mọi cấu trúc giai cấp, ở đó lịch sử không còn là lịch sử của những giai cấp lãnh đạo nữa, mà là lịch sử của lao động sản xuất và những quan hệ của con người [22] . Từ khái niệm ý thức là"vận động của vật chất" của Engels, ông đã lập lại quan điểm của Marx là không có ý thức tự tại, mà chỉ có ý thức dựa trên lý giải về "những mâu thuẫn của đời sống vật chất" - sự xung đột giữa những lực lượng sản xuất xã hội và những quan hệ sản xuất hiện hữu [23] .



Ở tác phẩm sau ROLC, Trần Đức Thảo lại xác định, từ sự thống nhất đẹp đẽ ở buổi đầu cộng đồng con người nguyên thủy đã tự hủy diệt để nhường chỗ cho cuộc vận động nghịch lý trường kỳ, ở đó sự phát triển của bản chất xã hội của con người xây dựng trên sự tiến bộ của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất thể hiện trong hình thái nghịch đảo của hủy thể như thể sự tha hóa của chính con người chỉ kết thúc bằng cách mạng vô sản và chuyên chính vô sản, xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản tân tiến, như hủy thể của hủy thể mới cho phép phát triển toàn diện mọi kế thừa tích cực của sự phát triển lịch sử [24] .



Trong một viễn tượng lịch sử như vậy, ông cần phải nại tới khái niệm cơ bản của triết học Hegel, mà chủ nghĩa Mác kế thừa là khái niệm về toàn thể. Cho nên trong những dòng kết thúc "Hiện tượng luận và chủ nghĩa duy vật biện chứng" Trần Đức Thảo phát biểu "chủ nghĩa Mác là vận động kỳ thành của xã hội." Không có chuyển biến tư tưởng nơi Trần Đức Thảo từ PMD qua ROLC, như những kết luận đã dẫn nói trên trong những nghiên cứu của ông. Trần Đức Thảo vẫn vận dụng khái niệm then chốt Aufhebung trong biện chứng của Hegel để giải đáp những vấn đề căn bản đặt ra trong những tác phẩm của ông. Về điểm này, ông chịu ảnh hưởng sâu sắc những bài học của Kojève từ trường Cao Ðẳng Sư Phạm. Mặt khác, một nhà tâm lý cũng dựa trên khái niệm Aufhebung để giải quyết những vấn đề trí thức là J. Piaget [25] ; điều này giải thích lý do Trần Đức Thảo rất tin cậy vào những phát hiện và tư liệu tâm lý của Piaget qua hai tác phẩm.




Trong mười mấy năm, khoảng cách nghiên cứu giữa hai cuốn sách, ông vẫn suy nghĩ về những vấn đề đặt ra trong tư tưởng Hegel, tập trung trong tác phẩm "Hiện tượng luận về tinh thần". Sự khác biệt giữa hai cuốn sách là, trong hoàn cảnh xã hội ông sống, Trần Đức Thảo phải trở thành một người Mácxít-Lêninít. Cho nên, trong ROLC ông dẫn nhiều đến Lenin như một điểm dựa về mặt quan điểm. Nhưng đọc Hegel, ông vẫn đặt trong khung cảnh trí thức, bắt nguồn từ Kojève, Hyppolite và Merleau-Ponty.



Những suy tư của ông cũng biến ứng theo những trào lưu tư tưởng thế giới từ hiện tượng luận, phân tâm học qua cấu trúc luận. Tuy không có khuynh hướng chiết trung, nhưng những vấn đề đương đầu với thực tại tư tưởng mang những sắc thái của chủ nghĩa Mác hiện tượng luận, chủ nghĩa Mác theo Hegel, chủ nghĩa Mác cấu trúc luận như những người Mácxít khác: Habermas, Enzo Paci [26] . Khi phê phán những dòng triết lý tác động sâu xa vào cuộc sống xã hội, Trần Đức Thảo cũng cực đoan như những người Lêninit dồn mọi đối thủ vào một cương tuyến của chủ nghĩa phi lý toàn diện [27] .




Phê phán những vấn đề quan điểm của Trần Đức Thảo phải đặt trong viễn tượng chung là phê phán từ căn để chủ nghĩa Mác, đó là điều tôi sẽ trình bày ở nơi khác trên một bình diện rộng lớn hơn [28] . Khi phê phán hiện tượng luận của Husserl, ông vẫn dựa vào phương pháp phân tích hiện tượng luận để đi tìm cái nguyên ủy của thực tại để chỉ ra rằng học thuyết của Husserl về sự vật thiếu hẳn sự cấu thành sự vật không thể giảm trừ vào ý tưởng hóa trong ý thức. Ði tìm đến nguồn gốc của ý thức, ông muốn dựa trên một khởi điểm duy vật là thực tại và tin tưởng vào phương pháp biện chứng, xa lạ với hiện tượng luận của Husserl, để tìm hiểu sâu xa về vận động thực. Ông đã không nhìn ra trong nỗ lực trí thức của Husserl đã muốn vượt lên trên mâu thuẫn của chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật.



Mặt khác trong tác phẩm ROLC, ông vẫn không vượt ra khỏi tầm nhìn của phương pháp hiện tượng luận trong việc sử dụng lý luận giảm trừ trong những mô tả về tác động của dấu chỉ. Ði tìm nguồn gốc của ngôn ngữ, khởi điểm cấu trúc luận đã bắt đầu sâu xa từ những người tiền khu như Herder. Trong "Luận về nguồn gốc của ngôn ngữ" [29] , Herder đã đưa ra một luận điểm cơ bản: con người là vật tạo ra của ngôn ngữ. Trần Đức Thảo đã tiếp thu những bài học của cấu trúc luận, ngay cả trên những chứng bệnh giả khoa học như xu hướng công thức hóa, định lượng hoá tìm thấy trong học thuyết của Lévi-Strauss [30] . Lấy một thí dụ trong ROLC: từ công thức CMF đã nói ở trên, mà Trần Đức Thảo gọi là công thức ngữ nghĩa, đôi khi còn gọi là cấu trúc, ông đặt thành một "tổ hợp" dưới hình thái:
MFC - CF1 M (12)
được phát biểu là: "vận động trong hình thái (F) liên hệ đến cái này - cái này trong hình thái (F1) như thể nó xuất hiện trong vận động của nó (giả định)".



Mượn từ kho tư liệu tâm lý của Gvosdev, lấy thí dụ của đứa trẻ 20 tháng đòi sữa: "ico maka" (tạm diễn tả sang tiếng của trẻ con Việt là: măm sữa). Những từ hỗn tạp này như từ ico ở đấy chỉ một sự vận động thèm muốn trong hình thái muốn thêm liên quan đến "cái này", maka chỉ thị "cái này" trong hình thức bú. Như vậy chúng ta có một ý chỉ toàn diện là: "Vận động trong hình thái thêm (A) liên hệ đến cái này - cái này trong hình thái bú (B) như thể nó xuất hiện trong trong vận động của nó (giả định)", đặt thành công thức là MAC - CBM, phù hợp với công thức (12). Người ta thấy ngay là những tác động dấu chỉ khai triển đã hàm ngụ hai từ và cho chúng ý nghĩa, nó sinh ra một liên lạc đồng nhất thời khoảng của "cái này" trên ảnh tượng có ý nghĩa đầu với cùng thời khoảng trên ảnh tượng thứ hai. Bởi vì tác động lấy trên khuôn mẫu từ hoàn cảnh thực, và thực sự chỉ cùng một "cái này". Hiển nhiên có thể đặt liên lạc thiết lập giữa hai ý chỉ, được viết thành công thức:
MAC- ( CBM )



phát biểu như sau: "Vận động trong hình thái liên hệ cái này, có nghĩa là đối tượng - sữa (CBM)". Nếu chuyển cái liên lạc ở đây trên bình diện dùng cử chỉ sang bình diện phát biểu bằng lời, chúng ta sẽ có liên lạc phát biểu đúng cú pháp là: "muốn bú sữa thêm" [31] . Trong suốt phần hai: khai sinh ra ngôn ngữ, Trần Đức Thảo đã sử dụng những tổ hợp cấu trúc khác nhau như vậy nhằm phân tích "cấu trúc khách quan" của tác động, qua những tiếng hỗn tạp cho đến khi hình thành những nhóm từ chức năng, nghĩa là những câu đúng cú pháp (như thí dụ dẫn trên). Khi dùng những "công thức" như trên, ông muốn chứng tỏ cái liên hệ giữa vận động bằng lời và vận động bằng cử chỉ, mà theo ông, toàn bộ vận động cử chỉ tạo thành cơ sở cho ngôn ngữ. Dùng những ký hiệu riêng trong mối quan hệ tác động qua lại giữa những công thức, không dựa vào luận lý hình thức hay toán học, hay vận dụng từ ngôn ngữ hình học, hoặc đại số học - công thức hóa trong lý luận của ông giống như những loại công thức hóa của nhiều nhà cấu trúc luận không có tính thuyết phục, cũng không có cơ sở để tồn tại.



Hấp thụ giáo dục truyền thống triết lý Pháp, Trần Ðức Thảo vẫn hướng về một viễn tượng đạo lý, ở PMD là "tái thiết lập nội dung công chính" những giá trị con người "trên một bình diện cao hơn của nhân loại mới". Ở ROLC là những quan hệ liên chủ thể (rapports intersubjecticfs) biểu hiện nơi khai sinh ra nhân cách con người ở buổi đầu nhân loại, "cái cử chỉ trỏ ngón tay về người đối diện", và "trở lại chính mình" là hình ảnh qua lại giữa "anh" và "tôi", chính cái ngôn ngữ đầu có tính cách riêng của con người khi phản ánh trong ngôn ngữ nội tâm của ý thức đã đưa chủ thể lên hình thái lý tưởng của hiện hữu riêng của người" [32] .



Tuy nhiên, riêng về phần đời của ông, sự xuất hiện trên diễn đàn tư tưởng Pháp cũng là một cơ hội để những bản viết của ông không phải mang số phận làm những di cảo. Nhưng do hoàn cảnh khắc nghiệt của chiến tranh, ông đã trở thành người lạc hậu trong sinh hoạt tư tưởng sau này. Khi ông mất, nhiều tác giả Pháp đã nói đến hoàn cảnh của ông, như trong quyển của F. Dosse (Paul Ricoeur, Les sens d'une vie), J.-F. Revel (Mémoires). Dầu sao, cái chết của Trần Ðức Thảo (1917 -1993) cũng là cái chết một người Mácxit duy nhất của Việt Nam.



[1]Trần Ðức Thảo, Recherches sur l'origine du language et de la conscience, Editions Sociales, 1973. [2]ROLC, tr, 35[3]Khi dẫn đoạn văn của Lênin trong "Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán", Trần Ðức Thảo nhấn mạnh ở từ "những dấu chỉ", và ghi chú bản dịch tiếng Pháp lần thứ tư của Editions Sociales đã từng dùng từ chứng cớ (témoignage) thay từ những dấu chỉ (les indications), cho nên ông đã chua thêm tiếng Nga pokasaniiam ở nguyên tác. Tuy nhiên, chúng ta cũng nên chú ý là những bản dịch chính thức của nhà xuất bản ngoại văn Liên Xô đều dùng từ chứng cớ.
Xem bản tiếng Anh: Acceptance or rejection of the concept matter is a question of the confidence man places in the evidence of this sense organs, a question of the source of our knowledge (Materialism and Empirio-criticism, tr. 114), bản tiếng Tây ban nha : El admitir o rechazar el concepto de materia es un problema de confianza del hombre en el testimonio de sus órganos de los sentidos, es la cuestión del origin de nuestro conscimiento (Obras escogidas. Tomo IV, tr 119)[4]ROLC, tr 76[5]Engels, Dialectique de la nature, Editions Sociales 1971, tr 180[6]ROLC, tr. 96 bắt nguồn từ khái niệm "xác thực khả xúc" của Hegel trong Hiện tượng luận về tinh thần, hình thái nguyên uỷ của ý thức, hay mục tiêu định hướng của "cái này".[7]X.ROLC, tr. 123.[8]X.ROLC, tr. 123[9]Marx, Manuscrits de 1884, ES tr. 63[10]ROLC, tr. 257[11]Moustafa Safouan, De la structure en psychanalyse in Qu'est ce que le strucuralisme?, Editions du Seuil 1968, tr. 241[12]Deleuze và Guattari, L'Anti-Oedipe, Editions de Minuit 1972; X. phê phán tác phẩm này trong Ðặng Phùng Quân, Triết học và văn chương, NxB Lửa Thiêng 1974 tr. 181 - 197.[13]ROLC, tr. 263 - 265[14]Sđd, tr. 268 - 269[15]Freud, La vie sexuelle, P.U.F., tr. 118 [16]ROLC, tr. 297. Trần Ðức Thảo dẫn chứng Forrer đã phát hiện trong di tích thời Acheuleen ở Burbach, những nửa mảnh răng tiền hàm loài trâu nước có hình dạng dương vật, và theo ông nếu giả thuyết của ông đúng thì những răng hình dương vật này có thể do những bà nội trợ mang vào thời kỳ này như tín hiệu của sự cấm đoán tình dục yên ổn cho họ trong công tác phục vụ cộng đồng.[17]ROLC, tr. 301[18]Sđd, tr. 331[19]Sđd, tr. 335[20]Sđd, tr. 340[21]PMD, tr. 94 - 95[22]Sđd, tr. 318[23]Sđd, tr. 319[24]ROLC, tr. 295[25]Piaget, Le structuralisme, P.U.F. 1968[26]Habermas, Zur Rekonstruktion des Historischen Materialismus, Suhrkamp Verlag 1976, Enzo Paci, Funzione delle Scienze e Significato dell'Uomo, bản dịch tiếng Anh 1972[27]Xem thêm Triết lý đã đi đến đâu của Trần Ðức Thảo; luận điểm này là thái độ chung của người cộng sản dưới thời Stalin, chẳng hạn Lukacs, Die Zerstorung der Vernunft, Gesamtausgabe Bd 9. Trong Vorwort 1967, lời mở đầu tác phẩm Geschichte und Klassenbewusstsein (1923), Lukács có thái độ cởi mở như khi ông coi giữa Heidegger và ông, vấn đề đi trước và ảnh hưởng không đáng quan tâm mà cái quan trọng là sự tha hóa của con người là vấn đề then chốt của thời đại đối với mọi nhà tư tưởng tư sản cũng như vô sản (Prioritaten, Einflusse etc. sind dabei nicht allzu interessant. Wichtig bleibt bloss, dass die Entfremdung des Menschen als ein Zentralproblem der Zeit, in der wir leben, von burgerlichen wie proletarischen, von politisch-sozial rechts oder links stehenden Denkern gleicherweise erkannt und anerkannt wurde ), Sđd. Hermann Luchterhand Verlag 1968, tr 23. [28]X. Phê phán hệ tư tưởng macxit[29]Herder, Abhandlung uber den Ursprung der Sprache (1772)[30]Lévi - Strauss, Mythologiques : Le Cru et le Cuit[31]ROLC, tr, 150 - 151. Trần Ðức Thảo chú thích ico maka sang tiếng Pháp là Enco lait và câu nói đúng cú pháp là: "encore du lait".[32]PMD, tr. 365 và ROLC, tr. 339

No comments: