Friday, November 4, 2016

TRẦN DẦN =LUÂN HOÁN =TRẦN HOÀI THƯ= TRUYỆN SƠN TRUNG

THƠ TRẦN DẦN

Nhà thơ Trần Dần

Ông mới xuất hiện là một nhà thơ thì cuộc chiến tranh Việt Pháp bùng nổ. Trở về Nam Ðịnh ông tham gia kháng chiến và đảm nhận công tác tuyên truyền. Sau khi Nam Ðịnh thất thủ, ông xung phong gia nhập bộ đội và được cử lên mặt trận Sơn La. ở đây, ông phụ trách điều khiển đoàn văn công, được các văn nghệ sĩ trong Trung đoàn rất quý mến và được kết nạp làm đảng viên. Nhưng là một văn nghệ sĩ, ông không chịu nổi sự chèn ép của các cán bộ chính trị cấp Trung đoàn, nên đến năm 1951, ông xin về Trung Ương. nhận công tác viết báo cho cục Quân Huấn . Trong thời kỳ này, ngoài việc viết báo, ông con phụ trách giảng về văn nghệ nhân dân và chính sách lãnh đạo văn nghệ của Ðảng đối với văn nghệ sĩ trong những lớp đào tạo cán bộ văn công. Bị phê bình là giảng sai đường lối của Ðảng, ông tức mình xin đi công tác tiền tuyến và được cử lên mặt trận Ðiện Biên Phủ. Xúc cảm trước sự tấn công ào ạt của quân đội kháng chiến vào thành lũy của Pháp, nhất là trước cái chết thê thảm của Tô Ngọc Vân, bạn đồng hành của ông. Trần Dần sáng tác cuốn Người Người Lớp Lớp. Nhờ cuốn sách này ông được Ðảng yêu chuộng trở lại và năm 1954 được cử đi Trung quốc để viết bản dẫn giải bằng tiếng Việt cho cuốn phim "Chiến thắng Ðiện Biên Phủ" là cuốn phim Việt Minh đóng lại trận Ðiện Biên Phủ do cán bộ Trung cộng sang quay và mang sang Tàu thu thanh .
Nhân chuyến du hành này, Trần Dần được tiếp xúc với nền văn hóa của Trung Cộng. Ông lấy làm thất vọng nên khi trở về, ông nói nhỏ với bạn bè : "Chớ nên theo đường lối văn nghệ của Trung Quốc".
Cùng đi với ông sang Trung quốc có một cán bộ chính trị phụ trách về đường lối giải thích , nhưng tên cán bộ này mặc dầu dốt đặc về văn chương nhưng cũng cứ nhất định dùng quyền lực chính trị của mình để sửa chữa từng câu, từng chữ của Trần Dần, mà có khi ngang nhiên đọc lời giải thích của mình cho Trần Dần viết. Ông lấy làm bất mãn, nên khi về đến Việt Nam, ông cùng một số văn nghệ sĩ đảng viên khác như Tử Phác, Hoàng Cầm, Hoàng Tích Linh và Ðỗ Nhuận, cùng trong cảnh ngộ, viết kiến nghị lên cấp trên yêu cầu hạn chế sự can thiệp của cán bộ chính trị vào lãnh vực văn nghệ .
Kiến nghị còn đang được cứu xét thì xẩy ra một việc quan trọng hơn. Ðó là việc Trần Dần tự tiện lấy vợ, bất chấp sự cấm đoán của Ðảng. Theo một đạo luật bất thành văn mà Ðảng đã đặt ra, các đảng viên cấp xã phải báo cáo cho cấp trên biết trước mỗi khi dự định lấy vợ, lấy chồng ; các đảng viên huyện (trường hợp của Trần Dần) phải xin phép Ðảng mới được cưới xin hoặc yêu đương, còn về phần các đảng viên cấp tỉnh trở lên thì việc dựng vợ gả chồng là đo Ðảng quyết định .
Trần Dần tuy là đảng viên ,nhưng vẫn giũ tính chất văn nghệ sĩ, không chịu nổi luyến ái quan Mác Xít. Hồi ở chiến khu bao nhiêu lần Ðảng "xây dựng" cho ông với các nữ đồng chí , ông dều không chịu và khi hòa bình trở lại, ông tình cờ gặp và mê ngay một thiếu nữ tiểu tư sản ở phố Sinh Từ, sống bơ vơ một mình, vì bố mẹ họ hàng di cư vào Nam không kịp mang theo .
Trần Dần xin phép Ðảng để cưới người yêu, nhưng Ðảng nhất định không cho vì một lý do căn bản : người con gái đó theo đạo Thiên Chúa. Tuy vậy, Ðảng không nêu lên lý do tôn giáo để từ chối mà chỉ giải thích rằng người con gái đó sống về tiền thuê nhà mà bố mẹ để lại nên thuộc vào thành phần bóc lột, và một đảng viên không thể lấy vợ giai cấp "địch".
Trần Dần không chịu cắt đứt tình yêu nên khuyên ý trung nhân mang nhà cửa bố mẹ để lại giao cho ủy ban quản trị tài sản của những người vắng mặt trông coi và thu hoa lợi; hai người đều cam chịu sống trong cơ cực để yêu thương nhau. Ðảng bèn rẽ duyên bằng cách điều động Trần Dần lên Việt Bắc công tác, nhưng Trần Dần lấy cớ ốm đau xin về Hà Nội nghỉ dài hạn và tự ý xin ra khỏi Ðảng, ngang nhiên đến phố Sinh Từ sống với tình nhân không cần cưới xin. Ðảng toan trừng trị, nhưng ngặt vì lúc đó đang có phong trào di cư, nên không dám khủng bố bất cứ ai sợ làm náo động nhân tâm khiến cuộc di cư bành trướng thêm. Ðảng bèn nuốt giận làm lành, chỉ gây dư luận là Trần Dần đã sa đọa, rơi vào hố tư sản phản động .
Nhưng sau khi đóng cửa Hải Phòng, Trần Dần lại làm một việc táo bạo thứ hai là phê binØh đả kích cuốn "Thơ Việt Bắc" của Tố Hữu, một thi sĩ giữ chức trung ương ủy viên, phụ trách lãnh đạo văn nghệ. Tố Hữu liền ra lệnh bắt cóc Trần Dần mang nhốt trên một nhà giam ở Việt Bắc. Vợ Trần Dần lại sống bơ vơ giữa Hà Nội một lần nữa, hỏi thăm chồng ở đâu, không ai biết, vẫn thất nghiệp, lại thêm bụng mang dạ chửa. Bạn bè của Trần Dần phải chung tiền giúp đỡ và thay phiên đến thăm hỏi nâng đỡ tinh thần .
Tin Trần Dần bị bắt mang đi biệt tích lan ra khắp Hà Nội và gây dư luận sôi nổi trong giới trí thức kháng chiến. Ðể dẹp yên dư luận, Ðảng bèn sửa sai bằng cách đưa Trần Dần về mạn xuôi, bắt đi theo chiến dịch Cải Cách Ruộng Ðất. Ðảng cũng gọi vợ Trần Dần đến cho công việc may vá cho Mậu Dịch .
Không được bao lâu, xẩy ra vụ Krushchev hạ bệ Stalin. Nhóm văn nghệ sĩ kháng chiến nổi lên đấu tranh chống Ðảng bằng cách xuất bản tập Giai Phẩm 1956 (sau này gọi là Giai phẩm mùa Xuân). Lúc này Trần Dần không có mặt ở Hà Nội, nhưng Hoàng Cầm là bạn thân, biết Trần Dần hồi 1954 có viết bài "Nhất định thắng" có giá trị , nên đến nhà bảo vợ Trần Dần đưa bản thảo và mang in trong tập Giai Phẩm .
Tờ tạp chí vừa in xong thì bị tịch thu ngaỵ Ðảng ngờ rằng Trần Dần đã bị nằm tù mà còn dám viết bài chống Ðảng nên gọi Trần Dần về, mang ra đấu giữa một cuộc hội nghị của đông đủ các văn nghệ sĩ, quy Trần Dần vào tội phản động, lấy cớ là trong các bài thơ ông có dùng chữ "Người" viết hoa nên gán cho ông có ý đả kích cụ Hồ và ra lệnh tống giam vào nhà pha Hỏa-lò ở Hà Nội. Trần Dần uất ức quá dùng lưỡi dao cạo cứa cổ, nhưng không chết, sau này vẫn mang cái sẹo ở cổ .
Năm tháng sau, Việt cộng tuân theo chỉ thị của Ðệ Tam Quôc' Tế phát động phong trào sửa sai . Giới trí thức được dịp phát động phong trào đấu tranh chống Ðảng. Họ xuất bản tờ Giai Phẩm muà Thu và tờ Nhân Văn, lên tiếng phản đối vụ tịch thu tờ báo Giai Phẩm Mùa Xuân và việc khủng bố Trần Dần .
Cụ Phan Khôi có nêu hai vấn đề này trong bài "Phê bình lãnh đạo Văn Nghệ" đăng trong Giai Phẩm mùa Thu và Hoàng Cầm viết một bài nhan đề "Con Người Trần Dần" đăng trong tờ Nhân Văn số đầu. Bị công kích không có thế đỡ, Ðảng bèn thả Trần Dần về và phục hồi danh dự bằng cách ra lệnh cho Hội Văn Nghệ viết bản tự kiểm thảo đăng trên các báo. Nhóm Giai Phẩm bèn tái bản tờ Giai Phẩm mùa Xuân trong đó có bài thơ "Nhất Ðịnh Thắng" của Trần Dần .
Nhưng sau khi Nga Sô đàn áp cuộc khởi nghĩa Budapest thì Việt cộng cũng đóng cửa tờ Nhân Văn và Giai Phẩm. Một lần nữa, Trần Dần lại bị quy là phản động và bị "treo giò" không được viết văn. Nhưng đến tháng cuối năm 1957, nhân báo Văn trở lại chống Ðảng, Trần Dần gửi đăng một bài thơ nhan đề là "Hãy Ði Mãi" nói lên ý chí cương quyết đấu tranh đòi tự do đến cùng .
Về thơ, ông còn sáng tác những bài :
"Nói thật" trong đó ông lý luận rằng chỉ vì cán bộ hèn nhát không dám nói thật với Ðảng nên mới xảy ra vụ "sai lầm" trong cải cách ruộng đất.
"Nhân Văn làm lớn con người" trong đó ông đề cao nhân văn .
"Một bài thơ chưa có đề" trong đó ông ám chỉ Tố Hữu là nhà thơ "ti tỉ đờn bầu"
Về truyện, ông viết :
"Chú bé làm văn" để chỉ trích nền giáo dục Cộng sản chuyên môn tập cho trẻ em nói dối từ thuở bé để sau này nói dối thuê cho Ðảng .
"Mâu thuẫn với cả nước" tả một nhạc sĩ bất tài (ám chỉ Lương Ngọc Trác) dùng thế lực Ðảng, quy cho một nhạc sĩ có tài hơn mình vào tội "mâu thuẫn với cả nước".
"Lão Rồng" tả một nông dân hiền lành bị bọn "lý trưởng mới" chà đạp .
Nhưng đặc biệt hơn cả là truyện Anh Cò Lắm, tả sự khổ cực của nông dân trong cải cách ruộng đất. Trong đó có đoạn như sau:
"Tôi đi thẳng vào nhà Cò Lắm. Vắng cả, nhà chả có ai, nhưng có tiếng trẻ khóc. Ba gian nhà nhỏ vẫn một cái giường, một cái chõng, có thêm một lá cờ đỏ rắt mái nhà rủ trước mặt bức ảnh Hồ chủ tịch. Một đứa bé con độ lên hai bò giữa nhà, giời rét mà độc một manh áo nâu, còn cởi chuồng, chân tay lắm mụn, bôi phẩm xanh lè cả ngườị Thấy tôi nó càng khóc, giơ tay quẹt má. Tôi nhìn: Tay nó có cái gì vàng vàng ? à ra cứt, nó ỉa một đống còn kia, cổ chân nó lại buộc một cái dây bằng vải khá dài, một đầu dây buộc vào cột nhà, chắc hẳn mẹ nó buộc nó vào dây cho nó chơi một mình ."
Trừ có hai bài thơ Nhất Ðịnh Thắng và Hãy Ði Mãi ông ký tên thật, còn tất cả những bài khác đều ký bằng bí danh, sau này bị tra khảo trong tù ông mới nhận là chính ông viết .
Sau đây chúng tôi chỉ trích hai bài: Nhất Ðịnh Thắng và Hãy Ði Mãi vừa điển hình cho lối thơ của ông, vừa nói lên tâm sự của thế hệ mới ở Bắc Việt:
Bài thơ này đã gây nên cuộc đấu tố tác giả, khiến tác giả phải cứa cổ tự tử.
Vì vậy nên tuy dài, chúng tôi cũng đăng trọn bài . Ðại ý của tác giả là nêu sự đói rét của đất Bắc và nỗi u buồn trong lòng người phương Bắc hiện nay.
 
NHẤT ÐỊNH THẮNG Tôi ở phố Sinh Từ : Hai người Một gian nhà chật. Rất yêu nhau sao cuộc sống không vui ? Tổ quốc hôm nay tuy gọi sống hòa bình Nhưng mới chỉ là năm thứ nhất Chúng ta còn muôn việc rối tinh ... Chúng ta Ngày làm việc, đêm thì lo đẫy giấc Vợ con đau thì rối ruột thuốc men Khi mảng vui --- khi chợt nhớ -- chợt quên Trăm cái bận hàng ngày nhay nhắt Chúng ta vẫn làm ăn chiu chắt . Ta biết đâu bên Mỹ Miếc tít mù Chúng còn đương bày kế hại đời ta ? Tôi đi giữa trời mưa đất Bắc Ðất hôm nay tầm tã mưa phùn Bỗng nhói ngang lưng , máu rỏ xuống bùn Lưng tôi có tên nào chém trộm ? A ! Cái lưỡi dao cùn ! Không đứt được --- mà đau ! Chúng định chém tôi làm hai mảnh Ôi cả nước ! Nếu mà lưng tôi lạnh Hãy nhìn xem : có phải vết dao ? Không đứt được mà đau ! Lưng Tổ quốc hôm nay rớm máu Tôi đã sống rã rời cân não Quãng thời gian nhung nhức chuyện đi Nam Những con mưa rơi mãi tối xầm Họ lếch thếch ôm nhau đi từng mảng Tôi đã trở nên người ôm giận Tôi đem thân làm ụ cản đường đi . - Dừng lại ! - Ði đâu ? - Làm gì ? Họ kêu những thiếu tiền thiếu gạo Thiếu Cha, thiếu Chúa , thiếu vân vân Có cả anh Nam chị Nữ kêu buồn - ở đây - Khát gió thèm mây ... - Ô hay ! Trời của chúng ta gặp ngày mây rủ Nhưng trời ta sao bỏ nó mà đi ? Sau đám mây kia là cả miền Nam Sao nỡ tưởng là non bồng củ a Mỹ ! Tôi muốn khóc giữ từng em bé Bỏ tôi ư ? -- từng vạt áo -- Gót chân Tôi muốn kêu lên -- những tiếng cọc cằn ... - Không ! Hãy ở lại ! Mảnh đất ta hôm nay dù tối Cũng còn hơn .... non bồng Mỹ triệu lần ... Mảnh đất dễ mà quên ? Hỡi bạn đi Nam Thiếu gì ư ? Sao chẳng nói thực thà ? Chỉ là : - thiếu quả tim , bộ óc ! Những lời nói sắp thành nói cục Nhưng bỗng dưng tôi chỉ khóc mà thôi Tôi nức nở giữa trời mưa bão . Họ vẫn ra đi . - Nhưng sao bước rã rời ? Sao họ khóc ? Họ có gì thất vọng ? Ðất níu chân đi . gió cản áo bay về Xa đất Bắc tưởng như rời cõi sống . Tưởng như đây là phút cuối cùng Răng rối lại : - mỗi lùm cây - hốc đá - Mỗi căn vườn -- gốc vả -- cây sung Không nói được chỉ còn nức nở Trắng con người nhìn lại đất trời Nhìn cơn nắng lụi, nhìn hạt mưa sa Nhìn con đuờng cũ, nhìn ngôi sao mờ Ôi đất ấy -- quên làm sao được ? Quên sao nơi ấm lạnh ngọt bùi Hôm nay đây mưa gió dập vùi - Mưa đổ mãi lên người xa đất Bắc ... Ai dẫn họ đi ? -- Ai ? Dẫn đi đâu ? -- mà họ khóc mãi thôi ! Trời vẫn quật muôn vàn tảng gió Bắc Nam ơi, đứt ruột chia đôi Tôi cúi xuống-- quỳ xin mưa bão Chớ đổ thêm lên đầu họ - khổ nhiều rồi ! Họ

VÕ PHIẾN * VƯƠN RA NGOÀI CUỘC SỐNG

  Võ Phiến - 

Vươn Ra Ngoài Cuộc Sống


Võ Phiến - tvvn.org


Sự thất vọng bắt đầu sau chuyến đi thăm mặt trăng về. Người về chỉ mang theo mớ đá: tuyệt không có dấu sinh vật nào. Từ ấy, những thám hiểm khác không khá hơn. Nơi bấy lâu chúng ta vẫn đặt nhiều mơ tưởng là Hoả tinh: Hoả tinh rốt cuộc cũng làm cụt hứng giới “tìm bạn bốn phương”.

Cuối thiên niên kỷ thứ hai dấy lên một nghĩ ngợi: Phải chăng chúng ta là sinh vật duy nhất trong vũ trụ vô cùng? Cô đơn đến thế thật là cô đơn. Hãi hùng quá.

Con người khiêm tốn, xưa nay vẫn dành cho mình một vị trí thấp. Bên trên, bao nhiêu hạng tôn quí: ông Trời, bà Ðất, tiên, thánh, thần, ma vương, thượng đế v.v…; xưa nay nó vẫn quen thờ phụng, lạy lục, lạy từ cục đá lạy đi. Bỗng nhiên không còn gì còn ai để lạy nữa, con người hoảng hốt, hoang mang.

*

Trước, con người không thực sự nghĩ tới việc mình có thể rời khỏi quả đất. Nó yên phận ở một nơi này, và yên trí là đó đây cũng có những giống sinh vật như mình. Ai có cõi sống nấy. Như thế, nó an tâm.

Năm 1969 - mới cách đây hơn ba chục năm - lần đầu tiên nó đặt chân lên một thiên thể ngoài quả đất. Thấy mặt trăng trống trơn. Từ ấy nó tìm kiếm lung tung. Ðem máy móc tiến gần, rình rập Hoả tinh: thấy khô ráo, lạnh ngắt. Lại tiến lên Mộc tinh rình xem cái vệ tinh Europa chạy quanh: cũng không mảy may dấu hiệu sinh sống nào. Chỉ trong khoảng năm năm cuối thế kỷ vừa qua, ít nhất đã có 22 thiên thể bị dò xét. Sự hối hả thấy rõ, còn gì nữa.

Cái tìm kiếm lục soát càng ngày càng ráo riết, mà mức kỳ vọng mỗi lúc mỗi thấp. Thuở xưa, người ta mơ tưởng sẽ gặp trên thượng giới những sinh vật giống như mình: cũng những cô gái xinh đẹp với đầy đủ xiêm y, biết ca xướng đàn địch, cũng những cụ già tóc râu khả kính, thích chơi cờ thích ngâm thơ v.v… Về sau, con người địa cầu không còn đòi ai kia phải giống hệt mình. Chỉ mong đây đó may ra có những giống loài dù khác lạ dù dị hợm, nhưng vẫn có trí thông minh vẫn tài giỏi, đây đó may ra có thể khám phá ra những nền văn minh bất ngờ, xuất sắc, rải rác trong vũ trụ. Người vũ trụ, riết rồi hình ảnh ấy thật mơ hồ: nó nhỏ bằng nắm tay chăng? lớn bằng toà nhà chăng? nó di chuyển bằng cách trườn mình oằn oèo trên đất chăng? bằng cách vỗ cánh trên không trung chăng? nó có được một vài cái tai để nghe, dăm con mắt để trông chăng? v.v…

Mãi không thấy gì, hết mong “người”, chỉ ao ước bắt gặp đôi giống bạn hữu có liên hệ xa xôi: bất cứ loài sinh vật nào cũng quí, thậm chí, một manh nha thảo mộc nào cũng được.

Vẫn chưa thấy.

Về một phương diện, hoàn cảnh con người địa cầu thật là tệ hại. Tệ hại hơn bao giờ cả, kể từ thuở “khai thiên lập địa”. Chưa bao giờ nó bơ vơ đến thế. Mặc dù nó là… chúa tể. (Thì khắp nơi tuyệt nhiên không có sinh vật nào khác, nó phải là chúa tể chứ còn gì nữa?) Một đấng chúa tể không biết từ đâu đến, để để làm gì, rồi đi về đâu! Tức thị là một chúa tể ngẩn ngơ.

*

Cái sống, cả vũ trụ không có, ta có: thích ghê. Chỉ mình ta có: quí ghê. Giữa hai bên - sống và chết - chỉ có cái sống là đáng suy nghĩ. Còn cái chết, đáng gì mà xem là vấn đề triết lý căn bản (như có kẻ từng bảo). Chết là định luật chung: trăng sao ngời ngời đều chết, thiên địa bát ngát toàn chất liệu chết cả, cho đến mọi sinh vật cũng chỉ sống có hạn kỳ rồi cùng chết ráo trọi. Chết là tất nhiên, sống không tất nhiên. Sống là biệt lệ bất thường, tối bất thường. Thế mà lúc này ta lại đang sống. Chao ôi!

Cái chết không tự ý thức về nó; cái sống ý thức được về cái sống. Trong thế giới chết, mọi hiện tượng xảy ra, tự xảy ra, ngẫu nhiên. Trong thế giới các sinh vật, mỗi động tác mỗi biến cố diễn ra là có chủ định chủ ý. Big bang tha hồ hùng vĩ, nhưng nó xảy ra không tự biết. Một trận đá lông nheo vụng trộm giữa cặp sinh vật hai chân cao chừng thước rưỡi, hoạt động ấy diễn ra âm thầm mà rạo rực. Diễn ra sau bao nhiêu mơ tưởng, ngần ngại, đắn đo, xếp đặt, bố trí v.v… Ơ kìa! Ý thức, cái gì kỳ vậy? Từ đâu, tại sao nảy sinh xuất hiện ra cái món lạ ấy, quí hoá ấy?

Cái sống, tưởng chừng nó tự đánh giá tầm quan trọng lớn lao của mình. Phút lâm chung là đau đớn cùng cực. Ðau đớn đâu phải vì là bắt đầu cái chết? mà là vì chấm dứt sự sống. Hư vô vẫn chết tự bao giờ, và còn chết mãi mãi. Cái chết không đầu không cuối. Vật chết, không vật chết nào có sự cố gắng duy trì cái chết. Cái chết không thiết tự duy trì, không thiết phát triển. Nhưng muôn vật đã sống đều cố duy trì cái sống. Sinh vật đều có bản năng sinh tồn. Từ vật vô cùng nhỏ đến vật vô cùng lớn đều ráo riết cạnh tranh, phát triển, giành nhau, giết nhau để bành trướng, lớn thêm, cao thêm, sinh sôi nẩy nở thêm v.v…

Muôn loài có sống là bám lấy cái sống. Không một bộ phận nào trên cơ thể sinh vật mà không có vai trò cần thiết cho sự sống, không có hoạt động nào của sinh vật được phát khởi ngoài lợi ích cho sự sống. Ăn, uống, thở ra hít vào, ngủ nghê, âm dương thèm muốn nhau, gần gũi nhau, chiếc lá vươn ra ánh sáng, cái rễ chúi xuống đất đen…., thảy đều vì cái sống. Muôn loài đã sống đều bám hết mình vào sự sống. Bám hết cả mình mẩy, và cả tâm trí (nếu có) vào cuộc sống.

Muôn loài sinh vật đều thế, duy có loài người không thế. Loài người như thể không thuộc hẳn vào muôn loài: chúa tể không thuộc muôn loài. Chúa tể thuộc loài muôn-lẻ-một.

Muôn loài ăn uống để sống, loài muôn-lẻ-một còn hì hục làm ra rượu, để uống thêm. Rượu, uống vào đã rõ không cốt để sống. Cũng như thuốc lá với á phiện, hít vào không cốt để sống. Vậy mà loài người khắp nơi đều hâm mộ.

Con người còn làm bao nhiêu cái kỳ quặc, vô bổ, vô cớ khác nữa.

Ðánh cờ, đá bóng, thả diều, thổi kèn, làm thơ…. cũng đều không nhằm củng cố, vun bồi, phát huy cái sống. Ðều là những hoạt động “chơi”, không phải hoạt động hữu ích. Hoạt động linh tinh ấy không phải là hoạt động hoạ hoằn: nó nhiều lắm. Nhiều một cách khiêu khích. Con người càng văn minh càng lắm sáng kiến kỳ quặc, và càng đưa những hoạt động ấy lên địa vị cao, địa vị tiêu biểu của mức độ văn minh. Giọt nước mắt cô Kiều khóc cho số phận Ðạm Tiên, La Joconde với nụ cười không đâu, hạt lệ rơi lặng lẽ vì một khúc nhạc tình phụ mà ngẫu nhiên tai bắt được trong đêm khuya, niềm khoái thích về một câu pha trò thông minh, những tra vấn khúc mắc mà đau đớn, những ám ảnh suy tưởng miệt mài, vật vã, đời này sang đời khác về ý nghĩa của cuộc sống… Những cái đó đánh dấu từng trình độ văn minh mà không đóng góp vào sự duy trì cuộc sinh tồn.

Các nghệ sĩ và trí thức sẽ phản đối: Vẽ nụ cười cũng là phát huy sự sống (tinh thần), sao không? Thổi điệu sáo buồn cũng có thể như thế. Ðã đành là vậy. Nhưng ở đây, khi nói về vấn đề sống chúng ta chỉ giới hạn vào cái nghĩa hạn hẹp, thích hợp với cái sống của cả muôn loài: cầm thú, cỏ cây. Tức sự sống còn của thể xác vật lý mà thôi.

Nhìn chung, cứ như thể muôn loài đều hết mình vào cái sống, còn con người – loài muôn-lẻ-một – thì muốn vươn cả ra ngoài sự sống.

Trong số những thứ hoạt động “vươn ra” ấy, nên kể một thứ đặc biệt: là tự tử. Trương Quỳnh Như tự treo cổ trong ngày cưới, đó chắc chắn không phải là một phát biểu[1] để vun bồi cái sống. Nếu là phát biểu, chẳng qua cô ta vùng vằng ngúng nguẩy phát biểu về một nồng độ yêu đương thôi. Hoạt động ấy là một can thiệp táo tợn của con người vào định luật thiên nhiên. Là quá xá.

Lại kể thêm một hoạt động “vươn ra” thật ồ ạt. Là giết nhau. Loài người giết nhau liên miên không ngừng. Lịch sử loài người là lịch sử chiến tranh. Gì còn chừa bỏ được; giết đồng loại không chừa được, không bỏ được. Có khi không cần một khung cảnh chiến trường, người ta có thể xây lò lên đốt luôn sáu triệu dân Do Thái chẳng hạn.

Muôn loài khác, có khi con này cắn con kia, bầy này đánh nhau với bầy nọ, đàn này cắn nhau với đàn khác, nhưng không dữ dằn, qui mô bằng loài muôn-lẻ-một. Thú vật quá bận vì cái ăn, không thể lao vào những cuộc chiến đấu qui mô với đồng loại. Trong muôn loài thú, được tạo hoá trang bị cho nanh vuốt dữ nhất là những loài ăn thịt. Nhưng con thú ăn thịt, hễ cứ sau mấy giờ đồng hồ, tiêu hoá ngót bụng thịt là phải vội vàng đi tìm ngay con mồi khác để săn để giết; nếu không, chính nó kiệt sức bỏ mạng cấp kỳ. Con người trồng trọt được, có vựa có kho để tích trữ thực phẩm, không bị cái đói đuổi theo sát sạt, nên có thì giờ tổ chức những cuộc giết nhau dài ngày.

Ðánh nhau riết, loài người trau dồi kỹ thuật và trang cụ chiến tranh đến chỗ tuyệt vời. Ðã lâu, loài người có thừa phương tiện khí giới để giết trọn loài người, giết đi giết lại nhiều lần.

- Giết làm chi vậy?

- Tất nhiên không phải vì sự sinh tồn của nhân loại. Có thể cũng không vì lợi ích thiết thực của một bên nào.

- Vậy giết nhau làm chi?

- Vì một thứ gì đó, vượt ra ngoài cái cần thiết cho sự sinh tồn.

- Một thứ gì?

- Thí dụ một quan niệm, một chủ thuyết, một tín ngưỡng…

- Trời đất!

- Là những thứ không thể khoan nhượng.

- Trời đất!

- Muôn loài sinh vật giành nhau miếng ăn, giành nhau khu vực săn mồi, là những thứ liên quan trực tiếp đến sự sống còn. Tranh giành như thế có thể tương nhượng thoả hiệp để cứu lấy mạng sống. Phía yếu xin nhường vài miếng mồi. Chưa được? Thêm một miếng nữa nhé. Vẫn chưa? Thế thì nửa miếng nữa vậy, được chứ gì? Tranh giành rừng núi, để nới rộng khu vực săn mồi? Thì bên yếu có thể thuận cắt đất mảnh này, mảnh nữa, nhượng bộ lần lần. Miếng ăn bớt được, đất đai bớt được; chứ quan niệm, chủ nghĩa, tín ngưỡng thì cắt giảm từng miếng để mặc cả thế nào được? Kẹt cứng thôi. Giết nhau vì cạnh tranh sinh tồn còn có cách giải quyết; giết nhau bên ngoài chuyện sinh tồn thì vô phương can thiệp.

*

Muôn loài răm rắp theo định luật tạo hoá. Luôn luôn bám dính vào sự sống, để rồi cuối cùng lăn ra chết cả. Loài muôn-lẻ-một thì trong khi chờ chết lại lắm trò linh tinh. Chút cá tính của nó gây nhiều rắc rối, mệnh số của nó đầy bất trắc.

Trong nghìn năm tới đây, nó thêm khả năng, thử xem còn linh tinh tới đâu.


Tháng 4.2000


[1]Xem “Cái chết như một phát biểu” của cùng tác giả.

SƠN TRUNG *SAU CƠN BÃO LỤT


SAU CƠN BÃO LỤT
            Lúc bấy giờ thế giới lâm cảnh đại chiến, toàn cầu chia làm ba phe: phe xanh, phe đỏ và phe vàng. Phe xanh và phe đỏ kết hợp cùng nhau đánh phe vàng nên phe vàng đại bại. Nước ta chia hai phe, một bên theo phe đỏ, một bên theo phe xanh. Anh em Lưu Cáo là một trong những anh hùng của thời này đã theo phe đỏ. Lưu Cáo là người tinh thông thập bát ban võ nghệ, mà trí tuệ cũng hơn người. Ông tuyên bố thực hiện đường lối vương đạo, lấy nhân nghĩa làm đầu và thực thi công bằng xã hội. Ông cho ông là người kết hợp lý thuyết với thực hành, đưa triết lý từ trên trời xuống cõi nhân thế, còn Phật, Lão, Khổng Mạnh chỉ là lý thuyết suông, không đem lại cơm no áo ấm một cách thực tế cho dân nghèo. Ông ra lệnh triệt hạ chùa chiền, đình miếu, bắt các sư sãi phải nhập ngũ tòng chinh vì theo ông tôn giáo là thuốc phiện. Ông  quan niệm rằng lao động là vinh quang, những ai không lao động tức là  ăn hại xã hội, hoặc bóc lột nhân dân phải bị tiêu trừ. Vì vậy ông ra lệnh quân lính tịch thu gia sản các nhà giàu. Ai  tỏ ý kháng cự hay than van là ông cho binh sĩ toàn quyền giết sạch hoặc bỏ tù họ. Ông nhận định chỉ có công nhân và nông dân là đich thực tầng lớp lãnh đạo vì họ là thành phần lao động sản xuất, còn bọn khoa bảng thì không có giá trị bằng cục phân. Vì vậy, ông ra lệnh giết, bỏ tù hoặc thải hồi các vị tú tài, cử nhân và tiến sĩ. Một số cử nhân, tú tài vì sự sống, đã khai mình là công nhân, nông dân để được kết nạp vào hàng ngũ  tân chính.  Hạng thương nhân cũng bị gán tội là thành phần bóc lột, là gian thương, là kẻ thù của dân lao động. Ông hứa hẹn sẽ cho mỗi dân nghèo có một mẫu ruộng, mội cái nhà và một mảnh vườn trồng rau, cây ăn trái và trồng hoa bốn mùa.
            Lưu Cáo vừa dùng lý luận, vừa hứa hẹn, vừa khủng bố cho nên dân chúng đa số đi theo ông. Quân lính càng ngày càng đông, lại được Mẫu quốc Đỏ ủng hộ nhiệt tình nên phe xanh thua trận, ông đem binh tiến về kinh đô rồi xưng hoàng đế, lập chế độ “quân chủ chuyên chế nhân dân”.
           
Sau khi Lưu Cáo lên ngôi hoàng đế,  mưa gió tầm tã, bão tố triền miên gây ra những cơn lụt khủng khiếp tại miền Bắc. Làm vua được vài năm, Lưu Cáo bệnh chết vì không con nên em là Lưu Hồ lên ngôi. Khi Lưu Hồ lên ngôi lại một trận lụt khác nổi lên, mà nặng nhất là ba tỉnh Sơn Hưng Tuyên. Trước tình cảnh khốn khổ của dân chúng, đức vua  triệu tập  một cuộc họp khẩn cấp trong đó có  tổng đốc Sơn Hưng Tuyên tham dự. Quan  thượng thư bộ Lễ đề nghị kêu gọi quốc tế viện trợ và đồng bào trong và ngoài nước góp tiền bạc, áo quần và lương thực về cứu trợ nạn nhân bão lụt. Quan thượng thư bộ Binh tâu xin bắt hết những ai có thể chống chế độ và có thể gây nổi loạn trong nước. Quan thượng thư bộ Hình xin ra  pháp lệnh việc cứu trợ là độc quyền của triều đình, tư nhân không được tham gia, ai tự tiện đem gạo vải trực tiếp cho nạn nhân thì sẽ bị trị tội. Tiền bạc, áo quần , thuốc men của tư nhân và quốc tế phải gừi về triều đình để triều đình định đoạt.  Vua chỉ thị quan tổng đốc Sơn Hưng Tuyên  chấp hành các nghị quyết của  hội nghị triều đình.
Khi trở về nhiệm sở, tổng đốc Sơn Hưng Tuyên triệu tập cuộc họp khẩn cấp. Ông thông báo các nghị quyết mới nhất của triều đình về việc cứu trợ, và yêu cầu các quan dưới quyền đóng góp ý kiến. Quan  đầu tỉnh Sơn Tây trình bày:
-Bẩm quan lớn,  Sơn Hưng Tuyên có mười phủ, thực tế chỉ có sáu phủ là gặp thiên tai. Vậy ta chỉ tập trung  nỗ lực cứu trợ sáu phủ. Còn bốn phủ kia phải cứu giúp tiền bạc, thuốc men, thóc gạo và y phục.
Quan đầu tỉnh Hưng Hóa phát biểu ý kiến:
-Thưa ngài tổng đốc, bỉ chức có ý kiến là chúng ta cho lính thu mua thóc gạo các nhà giàu để bán rẻ cho dân đói.
Quan án sát Tuyên Quang nói:
Để tránh việc một gia đình nhận gạo nhiều lần, và tránh việc chen lấn mất trật tự, chúng ta nên thiết lập danh sách các gia đình và các nhân khẩu  bị thiên tai. Gia đình nhiều người thì phát nhiều, ít người thì phát ít.
Ngay sau buổi họp, quan tổng đốc ra lệnh hai  mươi huyện thuộc bốn phủ không bị thiên tai phải đóng góp để giúp đỡ nạn nhân thiên tai  theo tinh thần “lá lành đùm lá rách “. Những quan viên và lại viên  trong ba tỉnh Sơn Hưng Tuyên phải góp một phần tư số lương bổng. Quan tổng đốc ra chỉ tiêu cho mỗi huyện phải thu mua 20 tấn thóc, nhà nào không bán thóc thì sẽ bị bắt giam hoặc bị phạt vạ. Quan huyện Lập Thạch (Sơn Tây) đặt câu hỏi:
-Bẩm quan lớn, nếu thu mua thóc gạo của dân chúng, thì mỗi cân trả bao nhiêu và lấy tiền ở đâu mà trả?
Quan tổng đốc nổi giận, chỉ mặt quan huyện Lập Thạch mà mắng:
-Ông làm quan bao lâu mà lại đặt câu hỏi ngu xuẩn như thế?
Quan huyện Lập Thạch liền bị lôi xuống nhà giam. Nghe đâu ông bị giam vài năm vì tội bất tuân thượng lệnh, có tư tưởng chống đối triều đình, và không hoàn thành nhiệm vụ cấp trên giao phó. Sau vài năm ngồi trong nhà lao, ông chắc hiểu rõ bí quyết làm quan. Nhưng khi ông hiểu rõ thuật này thì đã trễ vì  triều đình đã thải hồi ông về quê cày ruộng.
Công việc thu mua kéo dài đến  vụ mùa sau, còn việc phát chẩn thì thực hiện gấp rút. Sau khi chờ đợi ba tháng lập sổ hộ khẩu, quan tổng đốc ra lệnh mở kho phát chẩn. Mỗi hộ được khoảng hai, ba cân gạo. Một số tiền bạc, hàng hóa gửi về triều đình thì bỏ vào kho lương thực nhà nước, còn tiền bạc thì chuyển vào ngân hàng hoàng gia. Kết thúc vụ thiên tai, quan thượng thư bộ Tài chánh báo cáo mật với đức vua là thâu được hai mươi ngàn lượng vàng. Đức vua vui cười mà bảo rằng:
-Các khanh làm việc rất tốt. Chúng ta sản xuất mười năm cũng không thắng lợi bằng một cơn bão lụt mất mùa. Cầu cho năm nào nước ta cũng bị hạn hán và bão lụt!
           
            Công cuộc phát chẩn chưa kết thúc, sứ giả triều đình đã đến hối thúc quan tổng đốc báo cáo tình hình về triều đình, nhất là tình hình tài chánh thu được bao nhiêu, và phát ra bao nhiêu.  Quan tổng đốc vội sai ban tài chánh đúc kết việc xuất nhập. Sau mấy ngày tính toán, viên thư lại già trình quan tổng đốc là thu được tám ngàn lượng vàng do  quốc tế viện trợ và hải ngoại gửi về cho thừa tuyên Sơn Hưng Tuyên. Còn việc cắt lương viên chức và thu mua lúa dân cũng được ba ngàn lượng trong vòng ba tháng. Tất cả đã gửi vào ngân hàng  Vạn Lợi rất bảo đảm. Quan tổng đốc tính sẽ giữ lại năm ngàn lượng cho mình, còn sáu ngàn lượng sẽ dâng lên cho đức vua. Quan nghĩ rằng với món lễ vật này sẽ lảm cho hoàng thượng vui lòng, và ông sẽ được thăng quan tiến chức, và gia đình ông sẽ được hạnh phúc. Ông lên tiếng bảo viên lại già làm sớ tâu vua  thành quả việc cứu trợ và hứa hẹn sẽ dâng vua sáu ngàn lượng vàng. Viên lại già tuân lời, và hôm sau quan tổng đốc đã ký tên vào tấu chương và cho người gửi đi.  Ông đã phục vụ hai triều vua, đã theo tiên hoàng chinh chiến khắp nơi, tay ông đã giết hàng ngàn mạng người  kể cả binh lính và dân chúng nên ông mới được hoàng thượng tín nhiệm cất nhắc từ tri huyện lên tuần phủ rồi tổng đốc Sơn Hưng Tuyên, mặc dầu ông là một võ tướng, không biết chữ nhất là một. Ông đã xây dựng cho tương lai ông và gia đình ông. Ông chợt nghĩ đến thằng con ông. Mấy hôm nay nó đi đâu mất biệt. Cũng như ông lúc nhỏ, con ông không thích học, chỉ thích chơi bời. Nó học rất dốt nhưng ông đã vận động cho nó vào Quốc Tử Giám. Dẫu sao, nó cũng mang danh là giám sinh cũng đủ xênh xang với người đời.
            Buổi trưa, dùng cơm xong, quan tổng đốc định nghỉ trưa một giấc như thường lệ. Vừa định lui gót vào hậu đường thì viên lại già phụ trách Tài vụ đã chạy đến cấp báo:
- Bẩm quan lớn, vàng bạc hết sạch rồi!
- Sao? Ngươi nói sao?
- Bẩm quan lớn, hôm qua ai đó  đã rút hai mươi ngàn lượng vàng. Trưa nay ngân hàng Vạn Lợi đã cho người báo tin  này, và  đổ trường   Đại Thắng đã đến nhận hai mươi ngàn lượng vàng tại ngân hàng. Bẩm quan lớn, Tiền cứu trợ mất hết rồi, làm sao trả lời với triều đình?
Quan lớn nổi trận lôi đình, sai bọn tuần bộ đi điều tra. Họ đi một buổi, trở về trình quan tổng đốc là suốt tháng vừa qua, đại công tử đã thua hai chục ngàn lượng vàng, đã ký giấy nợ, và giao nạp sổ ngân hàng của ngài cho đổ trường. Đỗ trường bèn giao giấy nợ cho ngân hàng Vạn Lợi, và ngân hàng này đã lấy số vàng của quan lớn mà xiết nợ công tử.
            Nghe tin dữ, quan tổng đốc xây xẩm mặt mày. Ngân hàng Vạn Lợi và đổ trường Đại Thắng đều là cơ sở kinh tài của  Mẫu Quốc. Mắc nợ  của họ thì chỉ có chết, không thể dùng tình cảm hay pháp luật nói chuyện với họ.  Nếu là  ngân hàng và công ty Việt Nam, ngài có thể dùng quyền uy mà từ chối hoặc bỏ tủ họ về tội sái luật, hoặc dùng tình cảm mà khất nợ. Nhưng đây là ngân hàng và công ty của Mẫu quốc. Họ có luật của họ. Cha mắc nợ thì họ bắt con trả. Con mắc nợ thì họ buộc cha phải đền. Đó là pháp luật, là phong tục  Mẫu quốc.  Khi ký  giấy vay nợ , các nạn nhân phải cam kết công nhận điều kiện này. Chính hoàng đế khi  khởi binh cũng đã vay nợ ngân hàng Vạn Lợi để mua lương thực và vũ khí, và họ ngon ngọt bảo là họ viện trợ  vì tình anh em quốc tế, “ núi liền núi, sông liền sông”. Nợ cha đẻ nợ con, cứ chồng chất lên cao, vua phải dâng một phần đất nước cho họ. Sau khi lên ngôi, Lưu Minh cũng đã phải ký bán đất cho mẫu quốc. Tể tướng đầu tiên, tể tướng thứ hai, thứ ba cũng ký tên bán nước. Nay con ông lại  vay nợ Mẫu Quốc, làm sao ông trả vàng cho triều đình? Nếu thủ phạm cướp tài sản của ông là người ngoài, ông có thể kiện để bỏ tù nó nhưng thủ phạm lại là con ông! Dù bỏ tù nó, số vàng của ông cũng đã bị ngân hàng mẫu quốc xiết nợ, không thể đòi lại. Số vàng ông thu được của tứ phương là tài sản của triều đình, ông không thể nuốt trọn, mà phải dâng nạp. Ông không thể giấu diếm vì bên cạnh ông, có nhiều tai mắt của triều đình. Mất tiền của triều đình thì phải bị ngồi tù hoặc bị chém đầu. Đằng nào ông và con ông cũng bị tội, không phương cứu vãn.  Ông không biết làm sao giải quyết vấn đề!
            Thấyquan tổng đốc buồn rầu, một viên Đô lại già xin vào hiến kế. Y nói:
-Bẩm quan lớn, xin quan lớn giao toàn qưyền cho con, con sẽ giải quyết mọi vấn đề cho ngài.
Quan lớn được lời như cởi tấm lòng, bèn chấp thuận đề nghị của viên lại già. Vài tháng sau, khắp nơi người ta thấy cáo thị của công ty Hoàn Mỹ tuyển chọn nhân viên. Lúc này, khắp nơi bão lụt, đói kém, lại  nữa từ khi anh em họ Lưu cai trị, đời sống nhân dân ngày càng xuống thấp. Nay được thông báo tuyển lựa nhân viên thì nam nữ, trẻ gìà ai cũng phấn khởi.Mỗi người trúng tuyển phải nộp mười lạng vàng cho công ty. Sau mấy tháng thì dịch vụ đưa nam nữ ra lao động nước ngoài được thực hiện. Tiếp theo là chương trình giới thiệu hôn nhân ngoại quốc. Cuộc làm ăn thành tựu vì người các nước đến Việt Nam chọn lựa người đẹp để đem về nước họ. Song song với các dịch vụ trên, còn có việc quan tổng đốc chiếm đất đai của nhân dân đem bán cho ngoại quốc. Viên Đô lại già lại hiến kế bắt các nhà buôn bán trong tỉnh nộp thêm thuế 5% , và các tiệm rượu, tiệm ăn phải bán bánh kẹo, đậu phụng cho khách, dù khách không ăn cũng phải tính tiền, tất cả đều bỏ vào quỷ “ xóa đói giảm nghèo”. Viên đô lại cũng vạch kế họach phá rừng, lấp sông để lấy ruộng đất bán cho ngoại bang.  Chỉ trong mấy tháng mà quan tổng đốc đã thâu mấy vạn lượng vàng. Quan bèn trích ra một số tặng các kẻ thân tín và một số dâng hoàng thượng. Ông được vua ban cho danh hiệu “ nhà tỷ phú nhân dân”, là “ nhà kin h doanh tài giỏi nhất quốc gia” được ghi tên vào quyển “ Guinness quốc gia và thế giới” . Vài tháng sau, quan tổng đốc được thăng Lại bộ thượng thư, rồi làm tể tướng.  Từ đây, ông sống trong giàu sang và quang vinh nhất nước. Kể từ khai quốc đến nay, nước ta chưa có ai giàu lớn và giàu mau như thế. Đó là một niềm tự hào của tổ quốc và nhân dân ta, nhất là niềm tự hào của triều đình ta đã tiến nhanh tiến mạnh vượt qua tư bản và quân chủ! Vì vậy, khắp nước, phong trào buôn dân, bán nước trở thành mạnh mẽ trong triều đình và các địa phương. Người ta tranh nhau làm giàu bất kể thủ đoạn.
            Về công tử con quan tổng đốc sau khi thân phụ cậu lên làm tể tướng thì càng ngày cậu càng thêm thanh thế. Công cuộc kinh doanh của cậu và gia đình cậu từ địa bàn Sơn Hưng Tuyên mở rộng qua toàn quốc và toàn cầu. Bọn thanh niên con các quan trong triều ngày càng bâu xung quanh cậu đông đảo. Cậu say mê cở bạc mà cũng say mê ca vũ nhạc. Cậu say mê cô đào Nguyệt Minh, một hoa khôi tại trà lầu Bồng Đảo, mà cậu con trai con cựu thừa tướng cũng yêu Nguyệt Minh. Vì tranh gái đẹp, hai bên đi đến ấu đả nhiều lần. Một hôm con trai tân thừa tướng đến trà lầu thì gặp lúc con trai cựu thừa tướng đang ôm ấp Nguyệt Minh. Cậu tức giận xông vào đấm đá cặp ”gian phu gian phụ” . Con trai cựu thừa tướng một mặt tức giận về cha cậu bị thất sủng, công việc kinh doanh bị tân thừa tướng lấn át, còn người yêu của cậu cũng bị thằng nhãi chiếm đoạt, y tức giận rút súng bắn con trai tân thừa tướng ba phát vào đầu, hai phát vào tim. Khi đưa cậu vào y viện thì cậu đã trút hơi thở cuối cùng!

BÙI BẢO TRÚC * THÁI TÚ HẠP

BÙI BẢO TRÚC
ĐỌC THƠ THÁI HẠP
“MIỀN YÊU DẤU” mà Thái Hạp nói tới trong tập thơ của ông là Đông Phương, là “bầu trời lấp lánh xanh ngắt những nhớ thương”, những “dấu tích trầm mặc”,“lá trúc đôi bờ Hương Giang”,“cõi khuya nghe rụng tiếng đàn Nam Ai”, “hàng cau lưu luyến nồng vôi cưới”, “vàng lụa nắng trên tà áo”,“đường ngôi rẽ đôi miền phù vân”, “lời xanh biếc ngọc vô thường”,“đào hoa hương tích mây hoang vắng chiều...”.Những hình ảnh như thế được tìm thấy rải rác ở khắp 65 bài thơ của tập “Miền Yêu Dấu Phương Đông”, tập thơ thứ hai của Thái Hạp, sau tập “Chim Quyên Lạc Ngàn”.
Những bài thơ trong tập thơ mới nhất cho thấy Thái Hạp đã đưa được vào các sáng tác của ông những hình ảnh và không khí mới, cái không khí của mùi trầm hương, của hoa huệ, hoa lan thơm ngát những trang kinh, cái không khí siêu thoát của Thiền, của Phật Giáo cho dù đó là lúc ông nói về cảnh rừng bên ngoài một trại tù:
...em còn hái nắng trong vườn trúc
nghe đời như một thoáng hư không
Hay một đoạn khác về chuyến đi rời Ban Mê Thuột với những từ ngữ vừa nặng âm hưởng cao nguyên, lại vừa phù du, lãng đãng:
cái buôn cái bản về đâu
cái đau để lại cái sầu mang theo...
Thái Hạp thường viết về những nơi chốn, những con đường không có lối về, những chuyến đi không bao giờ thực hiện được, đó là Đông Phương, miền yêu dấu tội nghiệp:
trên nhánh sông xưa gầy guộc
trăng soi bóng mình quạnh quẽ tuổi thơ
hoa lá sớm mai gọi mặt trời thức dậy
quê hương trở về cháy rực cõi hư vô...
nếu một mai trí tưởng về có thật
bằng cá ngược giòng khe suối cũ yêu thương
tâm có động mười phương thao thức
cõi bình minh rạng rỡ hồn phương đông...
Đông Phương miền yêu dấu tội nghiệp của Thái Hạp là đống xương trắng của những người bạn tù ở Kỳ Sơn, Tiên Phước, là chiếc nón thơ ngây ở Điện Bàn, là nỗi nhớ thương “ngàn dặm không phai, nơi yêu dấu mẹ bào thai tình người”. Hãy nghe Thái Hạp nhớ Huế bằng lục bát:
...Huế bây giờ, Huế còn thơ
em như lá trúc đôi bờ Hương Giang
Nội Thành chim bỏ đồi trăng
cõi khuya nghe rụng tiếng đàn Nam Ai
Nỗi nhớ thương người ta đọc được ở những tác giả khác có thể được bày tỏ bằng cường độ của ngôn ngữ xử dụng. Ở Thái Hạp, ông dùng nhịp ngũ ngôn buồn bã để nói về nỗi nhớ nhung đó:
sáng mở ra hoàn vũ
hoa trúc đào đong đưa
tâm thoáng về đất cũ
rừng lá động chim khua
vườn xưa còn nguyệt hạ
giữ thơm tình cổ thư
mưa đời phai ý đá
còn chi nữa chân như
em về qua thị xã
trúc đào lẳng lơ bay
hoa sầu chia mấy ngã
trong hồn em thơ ngây
chùa quê gầy bóng mẹ
hoàng hôn ngắm trúc đào
máu về đâu trăm cõi
tim mẹ một niềm đau
kinh lặng vừng trăng khuyết
chiều tịch mặc đâu đây
phương nào thương cố quận
cho ta về am mây
đời giạt trôi viễn xứ
núi sông khói vô thường
bụi hoen giòng mật ngữ
chiều hoang vỡ tà dương
trăm năm chừng ghé lại
cõi tạm đầy thương đau
căn nhà xưa quạnh quẽ
trong mắt sầu thiên thu
hiên trăng ngàn dặm hỏi
vườn cũ nở bông trang
trong nhau còn hơi thở
trái tim người phương đông
tâm động trúc đào bay
gió đùa ngàn mây trắng
em qua vườn có hay
tình ta rơi giọt nắng
Thái Hạp viết rất nhiều thơ năm chữ. Thơ năm chữ của ông có một không khí buồn bã, lãng đãng, trôi nổi, bềnh bồng tưởng như thoát hẳn khỏi cái thế giới vật chất của những công án Thiền:
không có gì ngọn đỉnh
mây biền biện bay qua
cỏ ngàn năm vách đá
gió hững hờ chia xa
không có gì ngọn đỉnh
hoa lá thiên thu nhòa
càn khôn như giọt nước
chảy hoài trong tâm ta...
Phương Đông vẫn như một vầng trăng khi ngẩng đầu nhìn lên là cố hương lại trở về, dắt díu theo những giấc mơ lại về quê hương cũ. Hãy nghe lục bát Thái Hạp:
thềm hoa xưa chợt nhớ về
bóng chim quan ải sầu tê tái lòng
nhớ em mùa động thu phong
đào hoa hương tích mây hoang vắng chiều
ta về khua ngõ thiên thu
tìm trong huyền sử lệ từ bi xanh
trăng khuya nằm ngủ lều tranh...
Trong tập “Miền Yêu Dấu Phương Đông”, nỗi nhớ về một mối tình, những bài thơ nói về nỗi nhớ đó là những bài hay nhất trong tập. Tình yêu mà ông viết cũng siêu thoát như mùi trầm hương ẩn giữa những trang Hoa Nghiêm:
mắt xưa trăng đẫm non ngàn
lời xanh biếc ngọc vô thường yêu em
lá theo tiếp lục đường chim
hồn mai phục giữa Hoa Nghiêm lặng tờ
Hay trong một lục bát khác:
tình xưa về ngự cõi riêng
đường ngôi em rẽ hai miền phù vân
còn bao nhiêu sóng trong lòng
đổ ra mấy nhánh trăng vàng biển khơi
có không trên ngọn cát bồi
sớm hôm rồi chợt qua đồi cỏ lau
lá xanh biếc núi ngàn sau
cụm hoa còn ngẩn ngơ sầu chia xa
em về hoang tịch đời ta
dấu hương khói muộn nhạt nhòa chân mây
Thái Hạp gọi những bài thơ trong cuốn “Miền Yêu Dấu Phương Đông”“những ngọn nến mùa đông đốt lên để tìm chút nắng ấm của buổi sáng mặt trời rực rỡ thơm ngát trong vườn cây” như ông đã viết trong bài tựa. Những ngọn nến của tháng giêng trong khu vườn của trí tưởng, của “mùa tịnh an” đâm những chồi non có lời chim đậu trên môi:
cơn sốt tình mùa đông rụng vỡ
lá lên xanh như ngọc ở đầu non
trong vườn em tháng giêng vừa nẩy lộc
con chim nào vừa hót dễ thương
sầu đã chia xa như con sóng
mùa tịnh an đã nhuốm lửa đêm qua
sáng thức dậy mở hồn trinh thơm ngát
vài cánh hoa lấp lánh hiên nhà
em hãy rót cho ta đôi mắt biếc
lời chim ngoan về đậu trên môi
mùa thanh xuân ngọt ngào cây trái mật
em cho ta hạnh phúc tinh khôi
ta ở đây tâm như giòng sông cũ
khói trầm quen hơi thở quê hương...
Miền Yêu Dấu Phương Đông với ngôn ngữ ân cần của lục bát và cảm động của bảy chữ là một tập thơ đáng yêu như phương đông yêu dấu của ông.

No comments: