Monday, November 7, 2016

TRÀ * CHIÊM THÀNH *

NGUYỄN DUY CHÍNH * TRÀ TÀU

Trà Tàu Và Ấm Nghi Hưng
LỜI MỞ ĐẦU
Uống trà tàu vốn dĩ phổ thông thời trước, đến nay đã trở thành hiếm hoi trong xã hội Việt Nam. Thanh niên ngày nay chỉ mường tượng được cái hình ảnh đó qua những truyện ngắn của Nguyễn Tuân trong Vang bóng một thời (Những chiếc ấm đất, Chén trà trong sương sớm). Sách vở viết về trà lại càng ít ỏi. Tại Việt Nam ngày trước, ngoài cuốn Vang Bóng một thời chỉ lác đác vài ba cuốn khác. Trà đạo kiểu Nhật thì có bản dịch cuốn Trà Thư (The Book of Tea) của Okakura Kakuzo của Bảo Sơn.
Một tiểu thuyết cũng viết nhiều về thú uống trà là cuốn Trà Thất của Minh Đức Hoài Trinh.
Ở hải ngoại, cuốn Trà Kinh của Vũ Thế Ngọc là một biên khảo tương đối công phu. Ngoài ra, thỉnh thoảng có một đoản thiên nghiên cứu về trà Tầu hay ấm trà đăng rải rác trong tạp chí. Mới đây tôi được đọc một bài của Phan Quốc Sơn về ấm Nghi Hưng rất thú vị.
Trong tác phẩm Sống Đẹp Lâm Ngữ Đường cho rằng uống trà là một trong những phát minh quan trọng nhất của đời sống. Trà là một phần và cũng là một biểu tượng của sự nhàn nhã. Ông để hẳn một mục để bàn về Trà và Tình Bạn.
Viết về cách uống trà, thưởng thức trà thì Tây phương có hàng trăm cuốn nhưng phần lớn viết theo cách nghiên cứu một loại thực phẩm. Người Trung Hoa cũng có nhiều sách viết về trà, nghệ thuật uống trà, còn người Nhật thì đưa hẳn lên thành một đạo sống (Trà Đạo). Riêng Việt Nam, mặc dù uống trà rất thịnh hành nhưng lại ít ai để tâm nghiên cứu. Vũ Thế Ngọc, tác giả cuốn Trà Kinh đã ngậm ngùi mà than rằng “viết về trà thì gần như chưa có ai viết” hoặc “viết vô cùng sơ lược”. Nhận xét đó có lẽ không sai. Và vì thế khi ông tự cho rằng cuốn sách ông soạn “là quyển sách đầu tiên viết về nghệ thuật uống trà bằng Việt ngữ tương đối đầy đủ hơn cả” thì cũng không ngoa.

TRÀ TẦU
Khi nói về trà tầu thường là nói đến các loại trà xanh là những loại trà người Trung Hoa xuất cảng. Nếu tính theo số người uống thì uống trà đứng đầu trong ba loại ẩm phẩm -- trà, cà phê và nước ngọt.
Các học giả Tây phương vẫn cho rằng Trung Hoa là nơi phát xuất cây trà. Thế nhưng không phải cây trà chỉ mọc hoang trong vùng nam nước Tầu mà có khắp vùng Đông Nam Á. Thành thử Việt Nam ta cũng là quê hương của cây trà, và cũng có những cây trà cổ thụ. Vũ Thế Ngọc đã viết về cách uống trà kiểu Việt Nam như chè tươi, chè nụ, chè khô ... và cho rằng chúng ta đã biết uống trà từ lâu đời nhưng vẫn giữ nguyên hình thái mộc mạc chứ không cầu kỳ như người Tàu. Tục uống trà tươi, trà nụ ngày nay vẫn còn phổ biến, kể cả một loại cây tương tự là cây vối cũng rất thông dụng tại miền quê nước ta.
Trong khi trà tầu -- cùng với kiểu cách của người Tầu -- chỉ hiện hữu trong một tầng lớp thượng lưu ở xã hội, phương pháp uống trà tươi, trà vối lại ở khắp mọi nơi. Nó đã trở thành đề tài cho văn học và nghệ thuật (Cái ấm đất của Khái Hưng hay bản nhạc Cô Hàng Nước) và là một món giải khát không thể thiếu của người nhà nông.
Trên mặt kinh tế, rất có thể sự vươn lên của Trung Hoa trong thế kỷ 21 này sẽ có một phần đóng góp không nhỏ của trà -- một loại nông phẩm độc đáo -- và ấm tầu -- một dụng cụ và cũng là một loại nghệ phẩm đặc biệt. Cho nên, khi nhìn vào phương thức chiếm lĩnh thị trường, sau thời kỳ sản xuất những món hàng thông dụng rẻ mạt, tiếp đến phải là giai đoạn của những sản phẩm đặc thù -- có một không hai, không có sản phẩm tương tự để thay thế, hoặc không thay thế nổi. Trà tầu và ấm tầu có thể ở trong thành phần đó. Độc đáo nhưng thông dụng, thượng vàng hạ cám, từ loại đắt hiếm tới loại rẻ mạt, có khả năng sản xuất qui mô và thu hút một lượng nhân công đông đảo là những yếu tố rất đáng kể trên mặt ngoại thương.

LỊCH SỬ
Theo truyền thuyết, trong một lần tuần thú phương Nam, vua Thần Nông vô tình uống một nồi nước đun sôi có lá cây trà rơi vào. Ông uống rồi khen là trà “làm cho cơ thể phấn chấn, tinh thần thoải mái, sáng suốt”.
Một câu chuyện khác thì lại viết rằng Đạt Ma tổ sư vì ngủ quên trong một buổi tọa thiền nên bực tức cắt mí mắt vứt đi. Chỗ ông vứt mí mắt mọc lên cây trà, và trở thành một thức uống thông dụng cho những nhà sư để tỉnh táo khi tu tập. Từ chùa chiền, món uống này truyền ra dân gian.
Người Nhật thì kể là về đời Chiến Quốc (300-221BC), có một danh y tinh thông 84,000 cây thuốc. Ông dạy cho con được 62,000 cây thì chết. Những tưởng rằng kiến thức về 22,000 cây kia sẽ không còn tìm đâu ra. Nào ngờ trên mộ ông mọc lên một cái cây, chứa đủ tinh hoa của 22,000 cây còn lại. Đó là cây trà.
Lẽ dĩ nhiên, những câu chuyện này chỉ là huyền thoại. Người Trung Hoa cái gì không rõ nguyên do thường bịa ra một dật sự từ thời cổ sử gán cho Thần Nông, Hoàng Đế ... cũng như người Việt bắt đầu một thần tích bằng “ngày xưa, đời vua Hùng Vương thứ ...” để câu chuyện thêm li kỳ, vừa khiến cho những chứng cớ đưa ra có chỗ dựa.
Chính thức theo lịch sử thì trà chỉ mới được đề cập đến từ thời Tam Quốc, và đến tận đời Đường, người Tàu vẫn chỉ dùng các loại trà mọc hoang chứ chưa trồng và chế biến thức uống này. Trà cũng chỉ lưu hành trong giới thượng lưu miền Nam Trung Hoa chứ dân dã cũng chưa uống và tục uống trà chưa được coi như một thú thanh cao. Quả thực thời kỳ đó hai miền nam bắc Trung Hoa đời sống cách biệt như hai thế giới. Đến đời Tùy nước Tàu thống nhất thì những sinh hoạt mới lan truyền ra những vùng khác. Người Tàu pha trộn cách uống trà với sữa của người Hồ (tức các dân tộc vùng Tây Vực) là những dân tộc sống du mục. Tuy việc uống trà đã phổ thông nhưng vẫn có một số đặc điểm khác ngày nay:
Thứ nhất trà vẫn còn coi như một vị thuốc, chưa có mấy nơi coi như một thức uống.
Thứ hai trà do dân chúng vào vùng hoang sơn dã lãnh hái về chứ chưa biết trồng thành đồi, thành vườn để sản xuất một cách qui mô.
Thứ ba trà uống theo kiểu giản dị là hái lá vào đem nấu (như kiểu chè tươi của ta) chứ chưa kiểu cách như sau này.
Tới đời Đường, khi Lục Vũ viết cuốn Trà Kinh thì trà mới trở nên phổ biến. Từ đó trở đi, nơi nơi đều uống trà, trở thành một phong trào và sản xuất trà cũng thành một lãnh vực kinh tế qui mô, đem lại một ngân khoản lớn cho triều đình. Và kể từ Đường, rồi sau Tống, Nguyên, Minh, Thanh đời nào cũng coi thuế đánh vào trà là một nguồn lợi chính.
Lục Vũ, tự là Hồng Tiệm người đất Cảnh Lăng, Hồ Bắc được mệnh danh là trà tiên của Trung Hoa. Vì chán ngán thời thế, ông từ quan, định theo Thái Chúc hòa thượng ở chùa Thái Thường đi tu nhưng không được nên về ở ẩn chỉ chuyên tâm nghiên cứu về trà. Ông bỏ công đi tham khảo với những nông phu, tới tận nơi để xem xét cách chế tạo ngõ hầu có được kinh nghiệm thực tế. Thành thử những điều ông viết ra đều có giá trị.
Đời Đường, khu vực sản xuất trà bao gồm Giang Hoài, Lưỡng Chiết, Lãnh Nam, Phúc Kiến, Kinh Tương và từ đó tới nay vẫn là những địa khu chủ yếu. Theo Chu Trọng Thánh, việc phong thịnh đời Đường bao gồm ba nguyên nhân chính:
Thứ nhất, thời Đường giao thông đã phát đạt, các phương tiện chuyên chở đã cải tiến nhiều
Thứ hai, sau khi cuốn Trà Kinh của Lục Vũ viết ra, phong trào uống trà càng lên cao
Thứ ba, thời kỳ đó Phật giáo và Lão giáo hưng thịnh và việc uống trà tại các chùa chiền, miếu mạo rất phổ biến.
Chính cuốn Trà Kinh của Lục Vũ là một đóng góp lớn, vì sau khi ông viết ra cuốn này, việc uống trà đã được nâng lên hàng nghệ thuật, cầu kỳ về cả trà cụ lẫn trà thức. Tạ Triệu Triết đời Minh đã viết:
Ở trên đời có đói ăn thiếu mặc thì còn chịu nổi nhưng mà thiếu nước uống trà thì không sao chịu được.
Ngô Khoan viết bài "Ái Trà Ca" ca tụng thú uống trà chẳng khác gì thi nhân đời trước ca tụng rượu.
Sau khi Lục Vũ viết Trà Kinh, nhiều người khác cũng có những tác phẩm viết về trà tuy không nổi tiếng bằng nhưng cũng lưu truyền sử sách. Riêng đời Minh có đến 45 quyển, nay còn giữ được trên đưới 20 cuốn nhưng văn chương cũng đã bị đời sau thêm thắt nhiều. Tuy nhiều hầu hết không qua sáu mục mà Lục Vũ đã đề cập là trà, dụng cụ uống trà (khí), nước pha trà (thủy), lửa đun trà (hỏa), người pha và uống trà (nhân), thời điểm uống trà (sự).
Đời Đường có Tô Dị (?) viết Thập Lục Thang Trà, Trương Hựu Tân viết Tiễn Trà Thủy Ký. Đời Tống có Âu Dương Tu viết Đại Minh Thủy Ký, Phù Tra Sơn Thủy Ký, Sái Tương viết Trà Lục, Tống Tử An viết Đông Khê Thức Trà Lục, Triệu Nhữ Lệ viết Bắc Uyển Biệt Lục, Hùng Phiên viết Tuyên Hòa Bắc Uyển Cống Trà Lục, Tống Huy Tông viết Đại Quan Trà Luận, Hoàng Nho viết Phẩm Trà Yếu Lục.
Đời Minh có Hứa Thứ Thư viết Trà Sớ, Chu Cao Khởi viết Động Sơn Giới (?) Trà Hệ, Phùng Khả Tân viết Giới Trà Tiên, Hùng Minh Ngộ viết La Giới Trà Ký, Cố Nguyên Khánh viết Trà Phổ, Trần Kế Nho viết Trà Đổng Bổ, Trương Khiêm Đức viết Trà Kinh, Đồ Bản Tuấn viết Mính Cấp, Điền Nghệ Hoành viết Chử Tuyền Tiểu Phẩm, Từ Hiến Trung viết Thủy Phẩm Toàn Trật.
Đời Thanh có Lưu Nguyên Trường viết Trà Sử, Dư Hoài viết Trà Sử Bổ, Mạo Tương viết Giới Trà Vựng Sao, Lục Đình Xán viết Tục Trà Kinh.
Trong tất cả những tác phẩm viết sau này chỉ Tục Trà Kinh là đáng kể, có hệ thống và tài liệu dồi dào. Lục Đình Xán tự Phù Chiêu, hiệu Mạn Đình, người huyện Gia Định, đất Tô Châu, từng làm tri huyện Sùng An, Phúc Kiến thời Khang Hi là nơi có núi Vũ Di nổi tiếng trà ngon. Tục Trà Kinh phân loại và sắp đặt các loại trà một cách mạch lạc, tài liệu minh bạch, dẫn chứng đầy đủ và phẩm bình cũng rất xác đáng. Người ta đã bảo rằng nếu ví Lục Vũ như Khổng Tử trong trà gia thì Lục Đình Xán công lao phải sánh ngang Chu Hi.

DƯỢC TÍNH CỦA TRÀ
Theo thống kê, mỗi năm người Mỹ uống khoảng 2.25 tỉ gallon trà dưới mọi dạng thức -- nóng, nguội, bỏ đá, ướp hương, có đường hay không đường, thêm mật ong, sữa, kem, chanh. Mỗi lượng trà uống trung bình chứa khoảng 40 milligram caffeine (bằng nửa caffeine trong cà phê). Thế nhưng đó chỉ là con số chia đều chứ uống trà mỗi người uống một cách, đậm nhạt khác nhau. Hiện nay trên thị trường có cả loại “decaffeinated tea” và nhiều loại dược trà dùng các loại lá (lá ổi, lá hồng ...) để trị bệnh và làm tan mỡ. Những thống kê kinh tế cho thấy người Mỹ chuyển dẩn từ uống nước ngọt sang loại diet softdrink, sang nước lạnh (nước suối, nước cất ...) và dần dần sang loại trà hay dược trà (herbal tea). Nếu quả như thế, hóa ra Đông phương đã đi trước Tây phương một bước xa. Ông cha ta đã uống nước lạnh và uống trà tươi hàng ngàn năm trước nhưng mãi đến bây giờ nhân loại mới công nhận một cách khoa học là trà xanh (chưa biến chế theo kiểu Nhật) và nước lã là tốt nhất cho cơ thể.
Nhiều người cho rằng uống trà có tác dụng làm giảm đau cổ họng và bớt đầy bụng. Một hóa chất trong trà là chất polyphenols có thể làm giảm nguy cơ một số chứng bệnh kể cả bệnh cứng mạch máu (atherosclerosis) và một số bệnh ung thư. Có người còn cho là uống trà sẽ gia tăng tuổi thọ.

CÁC LOẠI TRÀ
Trà được chia ra làm ba loại chính là trà đen (tức hồng trà), trà xanh (lục trà) và trà Ô long. Cả ba loại đều cùng từ một loại cây, tức cây trà mà tên khoa học của nó là Camelia sinensis, thuộc họ Theacae, một loại cây xanh lá quanh năm có hoa màu trắng. Nhiều người còn kể thêm hai loại trà khác là trà ướp (hương) và trà bánh.
Cây trà phải trồng khoảng năm năm mới bắt đầu hái là được và thu hoạch trong khoảng 25 năm. Nếu để nguyên, cây trà có thể cao hàng chục thước nhưng để tiện việc thu hoạch, người ta hãm chỉ để cho cây cao chừng một thước, thước rưỡi là cùng. Khi cây già, người ta cắt ngang thân để cho mầm non nảy ra cho mùa năm sau. Cứ như thế, cây có thể sống tới 100 năm. Trà thường được bón bằng bã đậu nành và các loại phân hữu cơ chứ ít khi dùng phân hóa học. Người ta cũng tránh không dùng thuốc trừ sâu bọ và cây nào bị bệnh thường bị nhổ đi.
Trong quyển All the tea in China, tác giả có kê khai vài chục loại ngôn ngữ Đông Tây đều có âm na ná như trà hoặc chèø. Chỉ vì cách sao tẩm, ủ trà khác nhau mà chia ra làm ba loại nêu trên. Sau đây là một số yếu tố dùng để qui định phẩm chất và giá cả trà:
1.Chủng loại cây trà
2. Địa phương trồng
3. Cao độ của vùng đất trồng
4. Điều kiện thời tiết trong mùa trà và khi hái trà
5. Thời kỳ hái trong năm
6. Giờ hái trà trong ngày
7. Tuổi của bụi trà
8. Cách lựa lá trên cây trà
9. Cách thức hái
10. Cách thức ủ trà
11. Dạng của lá trà (tùy theo cách cuộn lá mà trà sẽ ra hương vị khác nhau)
12. Cách sấy khô
13. Cách thẩm định và phân loại
Ngoài ra còn nhiều tiêu chuẩn khác nữa.
Người ta bảo rằng nước Tàu có đến hơn một nghìn loại trà (thực ra không phải theo nghĩa 1000 chủng loại mà có nghĩa là nhiều lắm) nhưng chỉ có một số đặc biệt được xuất cảng. Dẫu thế cũng đã có hàng trăm cái tên được mang ra ngoài, không phải là người thực sành sỏi, không ai nhớ hết được.
Trà được phân biệt do cách ủ (oxidation), lâu hay mau, mỗi cách sẽ cho hương vị, màu sắc, tính chất khác nhau. Loại ủ ngắn hạn nhất là trà xanh như trà Nhật Bản, Long Tỉnh (Lungching), Bích Loa Xuân (Pilochun). Loại ủ vừa gồm có Bạch Hào Ngân Châm, Bao Chủng (nhẹ nhất) rồi tới Đông Đính, Thiết Quan Âm, Thủy Tiên, Vũ Di, Ô Long (lục địa) (ủ trung bình), và tương đối đậm thì có Ô Long (Đài Loan). Trà ủ hoàn toàn là loại trà đen (hồng trà) người Âu Mỹ thường dùng. Mỗi loại trà lại mang theo nhiều dật sự ly kỳ. Nhiều loại có tên rất lạ ít khi nghe tới. Cuốn sách viết rất kỹ về từng loại trà danh tiếng là cuốn All the tea in China (Các loại trà Trung Quốc) do Kit Chow và Ione Kramer soạn. Sau đây là 50 loại danh chủng liệt kê trong sách:
Trân Mi:Chunmee (Chun Mei, Zhenmei)
Đại Phương:Dafeng
Đại Hồng Bào:Dahongpao
Phượng Hoàng Đơn Tùng:Fonghwang Tan-chung
Châu Trà, Bình Thủy Châu Trà:Zhucha, Pingshui(Gunpowder)
Hải Nam Hồng Trà:Hainan
Hoa Đính Vân Vu: ï Huading Yunwu
Hoàng Sơn Mao Phong:Huangshan Mao Feng
Huệ Minh:Huiming
Hương Phiến:Jasmine
Kính Đình Lục Tuyết:Jingting Luxue
Cưu Khanh:Jiukeng
Cửu Khúc Hồng Mai:Jiuqu Hongmei
Kỳ Môn hồng trà:Keemun (Qihong)
Cổ Lao:Kooloo
Lan Hương Lan:Hsiang (Lanxiang)
Lan Khê Mao Phong:Lanxi Maofeng
Chính Sơn:Zhengshan
Lệ Chi:Lichee
Lăng Vân (Bạch Mao):Lingyun (Baimao)
Lục Bảo:Liubao
Lưu Khê : Liuxi
Lục An Qua Phiến:Lu’an Guapian
Long Tỉnh:Lung Ching
Lô Sơn Vân Vụ:Lushan Yunwu
Mông Đính:Mengding
Bích Loa Xuân:Pi Lo Chun
Bao Chủng:Pouchong
Phổ Nhĩ : Pu-erh
Phổ Đà Phật Trà:Putuo Fo Cha
Tiền Cương Huy Bạch:Qiangang Huibai
Mai Khôi:Meigui (Rose)
Thủy Tiên:Shui Hsien (Shuixian)
Thái Bình Hầu Khôi:Taiping Houkui
Thiên Mục Thanh Đính:Tianmu Qingding
Thiết Quan Âm:Ti Kwan Yin (Tieguanyin)
Đồn Lục:Tunlu
Vi Sơn Mao Tiêm:Weishan Maojian
Bạch Hào Ngân Châm:Baihao Yinzhen
Vụ Nguyên Danh Mai:Wuyuan Mingmei
Tín Dương Mao Tiêm:Xinyang Maojian
Tây Sơn:Xishan
Anh Đức:Yingde
Ngân Châm, Ngân Phong:Yinzhen, Yinfeng
Dũng Khê Hỏa Thanh:Yongxi Huoqing
Vũ Hoa:Yuhua
Ngọc Lộ : Yulu
Vân Nam:Yunnan
Tử Duẫn:Zisun

SẢN XUẤT TRÀ
Tiết Thanh Minh là thời điểm đánh dấu mùa hái trà. Khi đó, mùa đông băng giá vừa qua, mùa xuân vừa tới, trà non vừa nẩy ra, thích hợp cả việc thu hoạch lẫn việc sao tẩm.
Sau khi mặt trời mọc, những giọt sương vừa khô thì từng đoàn người mang gùi trèo lên đồi trà theo khu vực đã được qui định. Trà thường được trồng trên sườn đồi theo từng bậc như bậc thang. Thợ chỉ ngắt đúng ba lá non và một búp, nếu dùng làm trà Ô Long. Trà xanh lá thường rất non, nên chỉ ngắt hai lá, Ô Long phải cần lá to hơn nên phải ngắt ba. Đếøn chiều thợ đem trà đến cân để tính tiền.
Trước hết trà được để hong ngoài trời cho héo đi. Sau đó đem vào ủ. Chuyên gia phải kiểm soát luôn luôn để cho hương vị được đúng độ. Khi đã ủ đến thì, người ta mới cho trà vào sấy. Trà được sấy nhiều lần nhưng phải đúng cách để khỏi mất phẩm chất. Sau hai ngày biến chế, trà được gọi là trà sống. Tiếp theo là sàng sảy, rây, nhặt cọng và phân loại thành từng bậc khác nhau. Cũng nên thêm một điểm là dù mua trà đắt giá đến mấy, thường dân chúng ta chỉ có thể thưởng thức những loại trà kỹ nghệ. Hiện nay bên Tàu vẫn còn những vườn trà đặc biệt thuộc loại cấm kỵ, canh gác ngày đêm không cho ai bén mảng tới. Tại đây có một bộ phận chuyên môn hái và sản xuất những loại trà siêu phẩm, ngày xưa giành tiến vào cung, nay để riêng cho Trung Ương Đảng và các loại cán bộ cao cấp. Tục truyền rằng trà này không được chạm vào da thịt người nên những thợ hái phải luôn luôn đeo bao tay dài bằng lụa. Trà chỉ đụng vào cơ thể con người một lần duy nhất là khi đã pha xong, đụng vào môi bậc quân vương trước khi uống vào ruột.
Mùa hái trà tùy theo từng loại và tùy theo khí hậu. Ở ven Tây Hồ, Hàng Châu, nơi sản xuất trà Long Tỉnh, người ta bắt đầu từ tháng ba kéo dài đến tháng 10, tổng cộng 20-30 lần, mỗi lần cách nhau một tuần hay 10 ngày. Thành thử, uống trà Long Tỉnh ta sẽ thấy lá trà toàn là búp non.
Một phụ nữ hái trà chuyên môn một ngày hái được khoảng 600 gram. Cứ bốn trà sống thì được một trà chín nghĩa là một người một ngày chỉ hái được khoảng 150 gram trà khô. Một ki lô trà Long Tỉnh cần khoảng 60,000 búp trà. Nước Tàu được chia thành bốn vùng mà người ta đặt tên là Giang Nam, Giang Bắc, Tây Nam và Lĩnh Nam. Giang Nam, Giang Bắc nổi tiếng về các loại trà xanh, Lĩnh Nam có trà Ô Long, còn Tây Nam trồng nhiều trà đen, trà bánh.

ẤM NGHI HƯNG
Nghi Hưng là tên một huyện gần Thượng Hải, thuộc tỉnh Giang Tô. Ở đây đặc biệt có một thứ đất sét rất mịn, có chứa thạch anh, mica và nhất là chất sắt. Đất sét đó dùng làm ấm trà không tráng men (unglazed), thường được gọi là ấm tử sa (purple sand). Đất tử sa không nhất thiết phải là màu tím đỏ mà có ba màu chính là màu vàng sậm (ta gọi là màu gan gà), màu đỏ sậm (ta gọi là màu da chu) và màu nâu thẫm ngả màu đen (tử sa). Tuy nhiên, trong ba loại màu đó đều có nhiều sắc độ (tùy theo lượng sắt trong đất sét nhiều hay ít), lại còn tùy theo thợ trộn các loại đất và pha chế thêm khoáng chất (nhưng tuyệt đối không dùng màu nhân tạo để nhuộm) nên các loại ấm tử sa có thể có từ màu ngà đến màu đen. Ngoài ra, Nghi Hưng cũng còn có loại đất sét màu trắng và màu xanh lục. Đất màu xanh là loại quí nhất, đã được Lục Vũ ca tụng trong bộ Trà Kinh.
Ấm tử sa không phải chỉ là một trà cụ mà còn là một tác phẩm nghệ thuật. Ấm nặn to nhỏ tùy theo dùng cho một (độc ẩm), hai (song ẩm) hay nhiều người (quần ẩm). Ấm quần ẩm có thể dùng cho ba, bốn hay nhiều người nên có cái chỉ bằng nắm tay nhưng cũng có cái to bằng cái ấm trà thường.
Về hình dáng, ấm tử sa chia làm ba loại:
Ấm theo hình kỷ hà cân đối, nghĩa là tròn trĩnh, vuông vức, lục giác, bát giác hay nhiều múi. Đó là những ấm có thể dùng khuôn làm chuẩn, chỉ điểm xuyết bằng tay. Ấm có thể hình trái đào, trái thị, trái hồng hay hoa sen, hoa thủy tiên nhưng chủ yếu là cân đối. Người thợ có thể thêm thắt nặn vung ấm, vòi ấm hay quai ấm khác đi và có thể trang trí trên thân ấm những hoa quả, con thằn lằn, con chuột ... hoặc đề chữ, đề thơ để tăng giá trị.
Ấm theo hình tự nhiên, nghĩa là do sáng kiến của người nặn mô phỏng một vật thường thấy. Hình dáng có thể là cái thùng gạo, cái bị, cây thông, quả vải, búp hoa hồng, bó trúc .. Đây là những nghệ phẩm cao chứng tỏ óc thẩm mỹ và tài khéo léo của người nghệ sĩ. Thường là hình ảnh có mang một ý nghĩa tốt đẹp nào đó. Con chuột tượng trưng cho sự trù phú, lấy ý là con chuột kêu chít chít đồng âm với chữ túc là đầy đủ, bông sen tượng trưng cho sự thanh cao, gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn. Một cái ấm cổ có hình một con ngựa, một bên có con khỉ đứng nhìn một tổ ong. Người Tàu gọi là mã thượng phong hầu (con ngựa ở trên con ong và con khỉ) nhưng đọc lên hai chữ phong hầu đồng âm với được phong tước hầu. Thành thử cái ấm mang một lời chúc thăng quan tiến chức. Lối biểu tượng đó rất thịnh hành ở Trung Quốc.
Ấm tổng hợp cả hai đặc tính trên, vừa cân đối, vừa nghệ thuật chẳng hạn như một quả bí ngô (pumpkin), có những dây cuốn thành vòi, thành quai hay một cái ấm nặn hình một bầy cá, có cái nắp là một lá sen trên là một con nhái nhỏ.

ĐẶC ĐIỂM CỦA ẤM NGHI HƯNG
Đất sét Nghi Hưng nung lên rất rắn chắc bền bỉ, không bị nứt dù thay đổi nhiệt độ bất thường khi đổ nước sôi vào. Đất còn có những khí khổng rất nhỏ (pores) phải soi kính hiển vi điện tử mới thấy được. Những khí khổng vi ti đó có tác dụng cách nhiệt, vừa bảo tồn hương vị, vừa không làm cho bên ngoài quá nóng. Một đặc tính khác là khi được nung, ấm không bị co lại hay biến dạng nên nghệ nhân dễ dàng làm nắp ấm được vừa vặn, khít khao.
Khi trong dạng thiên nhiên, đất sét Nghi Hưng mềm, có màu vàng, nâu đen hay xanh nhạt. Sau khi nung, đất màu vàng đổi sang màu da chu, màu đen thành màu tử sa, còn màu xanh lại biến thành màu gan gà. Màu sắc khác nhau tùy theo lượng hoá chất trong đất, nhất là chất sắt.
Đất sét được đào lên từ lòng đất sâu, phơi khô thành từng tảng. Những tảng đất đó được tán thành bột rồi được rây bằng những rây tre để lọc đi tất cả sỏi đá và các chất khác lẫn trong đất sét. Bột đất sét sau đó được đổ vào những bể nước hình chữ nhật cao khoảng thước rưỡi rồi tháo nước trong vào. Ba ngày sau, dung dịch đất và nước đó lại được gạn qua một bể khác và để nước bốc hơi đi cho keo lại. Đất sét được cắt ra thành từng bánh bán cho thợ làm đồ gốm.
Hiện nay, khi du khách đến thăm Đinh Thục Trấn (Dingshuzhen), một thành phố nhỏ trong huyện Nghi Hưng đều thấy toàn là xưởng làm đồ gốm. Họ sản xuất đủ loại, từ bồn, chậu đến ngói xanh. Thế nhưng chỉ có đồ tử sa là quí hơn cả.
Người thợ làm đồ gốm mua đất về dùng chày giã ra, vừa giã vừa cho thêm nước đến bao giờ cảm thấy đủ mềm để nặn thì thôi. Từ lúc giã đến lúc nhồi đất xong phải mất trọn hai ngày. Khi dùng dao cắt thấy đất mịn nhẵn không còn dấu vết bong bóng hơi thì mới dùng được.
Ngưòi thợ lúc đó mới đem chia tảng đất thành từng nắm cân lượng kỹ càng. Mỗi nắm đất được cán thành từng miếng phẳng. Đáy ấm, thành ấm, nắp ấm đều cắt từ miếng đất này, có khi bằng tay, có khi dùng khuôn. Sau đó, người thợ dùng máy quay bằng tay hay đạp bằng chân để ráp và gắn những miếng đất đã nặn sẵn dính với nhau và được miết cho láng bằng dụng cụ bằng gỗ hay sừng. Khi hình dáng tổng quát đã hoàn thành, đợi ráo nước người ta mới trang trí, thêm thắt những hoa văn hay viết chữ. Người thợ khéo thường hay viết tên hiệu, có khi ngày tháng chế tạo, niên đại hoặc đóng dấu vào đáy ấm khi tác phẩm hoàn tất. Triện thường hình vuông, hình tròn hay bầu dục khắc nổi. Những chiếc ấm đắt tiền có khi có thêm một cái triện nhỏ bên trong nắp ấm, hoặc một con dấu khác dưới tay cầm. Trước đây, ấm thường đóng dấu tên hãng sản xuất rõ là một món hàng sản xuất theo số lượng nhiều nhưng sau này đa số ấm đóng dấu tên người, chứng tỏ nay họ coi là một tác phẩm và nghệ nhân tự hào nên để tên mình. Dĩ nhiên cái gì cũng có hai mặt, và có xấu đẹp. Ngay cả những loại hàng bán vài đồng cũng có con dấu nguệch ngoạc. Thế nhưng đó cũng là một hiện tượng cần ghi nhận là nền công nghiệp đang chuyển hướng, mang nhiều màu sắc nghệ thuật hơn.
Ngoài con dấu có khi còn có vài chữ Hán. Chữ đề thường là chữ đá thảo do một người giỏi thư pháp (phép viết chữ) đề bằng bút tre nhọn, khắc hẳn vào thân ấm. Có thể chỉ là vài chữ chúc tụng nhưng có khi là hẳn một bài thơ, một đôi câu đối. Một cái ấm đẹp đến đâu mà chữ viết non tay thì cũng giảm hẳn giá trị.
Những loại ấm sản xuất theo kiểu công nghệ thì chữ viết hay hoa văn được in bằng một loại mực không phai. Sau đó ấm được chuyển sang cho thợ cho vào lò nung. Ấm đất thường nung trong khoảng từ 1100o đến 1200oF, tuy không nóng bằng đồ sứ nhưng ở nhiệt độ đó, ấm vẫn giữ được tính thấm nước.
Nghề nặn ấm cho đến nay vẫn đòi hỏi một thời gian học nghề lâu theo kiểu sư phụ đệ tử chân truyền. Phải mất nhiều năm mới học được hết bí quyết. Tuy nhiều khi người ta nhái lại những kiểu ấm danh tiếng cũ, nhưng cũng có nghệ nhân mới sáng tạo nhiều kiểu mới. Những người sành sỏi cho rằng với phương pháp tân kỳ, trình độ cao đẳng, nhiều ấm thời mới có nét độc đáo không kém gì những chiếc ấm do các danh sư xưa nặn ra, nếu không nói rằng trội hơn nữa. Chính quyền Trung Cộng cũng thành lập nhiều cơ quan, nghiên cứu, áp dụng khoa học để tái tạo những chiếc ấm cũ không sai một mảy. Tuy là đồ giả nhưng giá đắt không khác gì đồ cổ để bán cho những nhà sưu tầm. Ngoài giá trị lịch sử, những tác phẩm đó còn là một niềm tự hào về nghệ thuật của họ.
Trong những năm qua, tại Bắc Mỹ này đã nhiều lần triển lãm ấm Nghi Hưng. Bộ sưu tập của Tiến Sĩ La Quế Tường (K.S. Lo) được trưng bày trong khoảng 1990-92 tại Phoenix Art Museum, Trung Tâm Văn Hóa Hoa Kiều San Francisco, Indianapolis Art Museum, và Ontario Museum.
Ấm Nghi Hưng cũng đã được huy chương vàng trong các kỳ chợ phiên quốc tế chẳng hạn như tại Philadelphia năm 1926 và ở Leipzig và Liege trong thập niên 1930.

ẤM NGHI HƯNG THEO THỜI GIAN
Theo truyền tụng, Phạm Lãi là người đầu tiên tìm ra chất đất sét vùng Thái Hồ. Sau khi phá xong quân Ngô, ông về ẩn cư nơi đây, lấy việc nặn đồ gốm làm trò tiêu khiển. Thế nhưng thời đó chưa làm ấm trà.
Cứ theo những di chỉ khai quật được thì ngay từ đời Tống (920-1279) người ta đã làm ấm trà ở đất Nghi Hưng. Thế nhưng phải đến thế kỷ thứ 16, đời Minh thì những kiểu ấm nhỏ mới ra đời. Một điều lạ là không phải người Tàu nghĩ ra kiểu ấm chén mà chính là họ du nhập từ Âu Châu. Ngày xưa họ chỉ uống trà bột, quấy trong nước.
Theo sách Dương Tiện Mính Hồ Lục (Sách về các ấm trà vùng Dương Tiện) của Chu Cao Khởi thì đời Chính Đức, Gia Tĩnh nhà Minh có Cung Xuân tài nghệ tuyệt vời, là người nổi danh đầu tiên về làm ấm tử sa. Cung Xuân vốn là gia đồng của Ngô Sĩ đất Nghi Hưng thường theo hầu Ngô Sĩ đến học tại chùa Kim Sa. Trong chùa có một vị hòa thượng có tài làm đồ sứ nên Cung Xuân theo nhà sư học nghề nặn ra những tác phẩm trông chẳng khác gì đồ kim loại xưa. Khi Cung Xuân nổi danh, ông thường cùng Bộc Trọng Khiêm (đất Gia Định) khắc trúc, Lục Tử Đồng (đất Tô Châu) chạm ngọc, và Khương Thiên Lý khảm xà cừ. Tất cả đều là những người nổi tiếng đời Minh. Cung Xuân nặn ấm không lâu -- truyện kể rằng ông bị quan sở tại vì yêu chuộng tài nghệ ông nên bức bách khiến ông phải bỏ xứ mà đi -- nên tác phẩm của ông hiện nay lưu truyền rất ít. Sách vở chỉ còn ghi một chiếc ấm của ông hình 6 múi hiện tàng trữ tại Viện Trà Cụ Hongkong nặn năm Chính Đức thứ 8 (1513). Thế nhưng còn một cái ấm khác cũng của Cung Xuân để tại Singapore thì ít thấy sách vở nào đề cập. Theo bài “Nghi Hưng và Nghiên Mực” (Yi Hsing and Inkstones) trong tạp chí Arts of Asia, số July/August 1971 thì ông C.M. Wong, Bí Thư của Phòng Thương Mại Singapore và là Chủ Tịch Hiệp Hội Hoa Nhân tại đây có trong bộ sưu tập của ông một ấm Cung Xuân hình vỏ cây. Ấm này đề năm 1506, có triện của người nghệ sư. Phần dưới quai cầm lại còn một vết dấu tay điểm vào mà người ta bảo rằng đó là vết ngón tay thứ sáu của Cung Xuân (bàn tay phải của ông có sáu ngón).


Sau thời Cung Xuân, nghệ thuật làm ấm đất nung vùng Nghi Hưng thịnh đạt, đến đời Vạn Lịch càng có nhiều danh thủ. Lý Ngư viết là: “Trà không gì bằng dùng ấm bằng tử sa, mà vùng Dương Tiện là hạng nhất”. Từ đời Minh trở đi, việc dùng ấm tử sa để uống trà trở nên thông dụng. Người ta để ý đến phẩm chất trà đã đành mà còn kén chọn cả cách pha trà, nước nào pha trà ngon, uống lúc nào mới hợp.
Trước kia, ấm trà bằng sứ là quí nhất nhưng khi ấm tử sa ra đời thì không mấy ai còn chuộng ấm sứ nữa. Cổ nhân tổng kết ấm tử sa có bảy ưu điểm:
Chế nước sôi vào không làm trà mất hương vị, sắc hương còn nguyên
Bình trà dùng lâu, chế nước không cũng ra mùi trà
Trà vị không bị biến chất
Chịu nóng cao, mùa đông tháng giá đổ nước sôi vào không bị nứt
Ít truyền nhiệt, cầm vào không phỏng tay
Dùng càng lâu càng lên nước, bóng lộn
Có nhiều màu khác nhau, dễ lựa chọn
Vì ấm tử sa là một tác phẩm nghệ thuật nên trông ấm người ta có thể đánh giá được người nặn vào bậc nào. Thành ra, trong những nghệ nhân nghề sành sứ, thì ngành làm ấm để tên lại nhiều nhất. Sau đời Cung Xuân người ta thấy có Thời Bằng, Đổng Hàn, Triệu Lương, Nguyên Sướng và Lý Mậu Lâm là những thợ nổi danh.
Đời Vạn Lịch, Thời Đại Bân, con của Thời Bằng là người nổi tiếng hơn cả. Văn Chấn Hanh viết trong “Trường Vật Chí” là “ấm trà tử sa là loại tốt nhất, nắp vừa vặn không làm mất hương, lại không bốc hơi. Ấm do Cung Xuân chế tạo quí nhất, đều nhỏ nhắn, hình dáng lạ lùng. Thời Đại Bân chế thì có cái to, cái nhỏ ...”. Cùng nổi danh với Đại Bân có Lý (Đại) Trọng Phương, Từ (Đại) Hữu Tuyền, người ta gọi là Tam Đại.


Từ Hữu Tuyền tự Sĩ Hoành, là học trò của Thời Đại Bân, có tài bắt chước các loại đồng khí xưa làm ấm hình tàu lá chuối, đài sen, củ ấu, quả trứng ...
Nổi tiếng thời Vạn Lịch còn có Âu Chính Xuân, Thiệu Văn Kim, Thiệu Văn Ngân, Tưởng Bá Cung, Trần Dụng Khanh, Trần Tín Khanh, Mân Lỗ Sinh, Trần Quang Phủ, Thiệu Cái, Thiệu Nhị Tôn, Chu Hậu Khê ...
Thời Vạn Lịch, ngoài việc nặn ấm, các nghệ nhân còn dùng đất tử sa điêu khắc và các chế tạo vật phẩm khác, rất thịnh hành. Người nổi tiếng nhất là Trần Trọng Mỹ ở Vụ Nguyên, An H

DƯ THỊ DIỄM BUỒN * NHỚ VỀ QUÊ NGOAI

NHỚ VỀ QUÊ NGOAIDư Thị Diểm BuồnNhờ về Ngoại, nhịp cầu tre lắt lẻo
Hàng me keo, cây trứng cá bên đường
Trải lòng con vũng bóng mát yêu thương
Từ tắm bé được nuông chiều chăm chút

Nhớ bà Ngoại nồi canh chua ra nhút
Cá trê vàng kho tộ rắc tiêu cay
Tép ruộng, tôm đìa xào với măng tây
Cơm gạo mới thơm lừng, nghi nghút khói

Nhớ nhà Ngoại, rêu phủ xanh mái ngói
Dừa Tam Quan dưới bến lộng gió chiều
Tiếng tù và rúc lạnh, nắng đìu hiu
Đò đưa rước khách chợ xa chuyến cuối

Nhớ vườn Ngoại xạc xào tàu lá chuối
Tháng chạp về, vú ữa chín vàng cây
Lá trầu canh mơn mởn, quả cau dầy
Đầu tháng sáu, hườm hườm chùm xoài cát

Nhớ quê Ngoại, cơn mưa đêm rào rạc
Sáng dậy ra, bông mậm nở trắng vườn
Nước trong veo lấp loáng ngập bờ mương
Hương cây cò, theo gió đùa man mác

Nhớ về Ngoại ruộng vườn xanh bát ngát
Tiếng mục đồng ví thá đuổi bầy trâu
Bờ mẫu xa râm mát bóng trâm bầu
Cá ăn móng trong ao đìa tróc tróc

Nhớ quê Ngoại vòm trời trong như lọc
Đám m non, hây hẩy ngọn dió đồng
Hoa bưởi thơm, rạng rỡ sáng hừng đông
Hoa khế tím, trái mồng tơi cũng tím

Nhớ ông Ngoại tuổi thơ tròn kỷ niệm
Bắt dế cơm, nhổ nấm, hái nhãn lồng
Lảy lá mai cho Tết trổ vàng bông
Tay cắp rỗ, theo ông đi bẻ quít

Tình quê Ngoại ngọt ngào như muối mít
Vườn ruộng ơi, ân nghĩa nặng vai quần
Tuổi thần tiên lộng lẫy tợ vầng trăng
Thương Ngoại lắm, nhớ hoài về quê Ngoại

Dư Thị Diểm Buồn

BS. HỒ VĂN CHÂM * ĐẢNG & NHÀ NƯỚC


Hiểu Thế Nào Là
Tách Đảng Ra Khỏi Nhà Nước
          
            Tác giả đã nhiều lần đề cập đến vấn đề ‘Muốn có Dân Chủ ở Việt Nam phải tách Đảng ra khỏi Nhà Nước’. Đảng đây là Đảng Cộng Sản Việt Nam. Nhà Nước đây là Nhà Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Đó là hai hệ thống quyền lực song hành đang thống trị nhân dân Việt Nam.
Sự trình bày của tác giả liên quan đến vấn đề này thường không đi vào chi tiết như là một kế hoạch hay một chương trình hành động giai đoạn, mà chủ yếu là để đưa ra một đòi hỏi tiên quyết làm tiền đề cho đề cương dân chủ hóa chế độ chính trị hiện thời tại Việt Nam. Trong vòng dăm bảy tháng tới đây, Đảng Cộng Sản Việt Nam sẽ lại họp Đại Hội. Mọi người đang theo dõi hành trạng những người lãnh đạo cộng sản để đo lường mức độ biểu hiện ý muốn cải tiến chế độ chính trị hiện hành. Mặt khác, trong mấy tháng gần đây đã xẩy ra nhiều sự kiện liên quan đến vấn đề Dân Chủ cho Việt Nam, nào là sự hiện diện của một số nhân vật “đối lập” tại buổi tiếp tân mừng Độc Lập của Lãnh sự quán Mỹ ở Sài Gòn, nào là cuộc Họp Mặt Dân Chủ 2005 của các nhà ‘đấu tranh dân chủ’ ở khắp nơi tụ về Nam Cali, nào là lời đề nghị họp bàn tròn ‘Tiểu Diên Hồng’ 3 bên của Hoàng Minh Chính. Những sự kiện này đã làm xôn xao dư luận, gây nên nhiều tranh cãi, nhưng gần như tuyệt đối không có tiếng nói nào nêu lên cốt lõi của vấn đề là hiện thời mọi rối rắm đều phát sinh từ sự kiện Đảng Cộng Sản phủ lấp Nhà Nước. Vì vậy, bài này xoáy trọng tâm vào việc trình bày cho bạn đọc hiểu rõ ý của tác giả khi nêu lên vấn đề cốt lõi đó: muốn có Dân Chủ phải tách Đảng ra khỏi Nhà Nước. Nói khác đi, mời bạn đọc hiểu thế nào là tách Đảng ra khỏi Nhà Nước để có Dân Chủ tại Việt Nam.
            Trước hết, việc đòi hỏi tách Đảng Cộng Sản ra khỏi Nhà Nước không nhất thiết đồng nghĩa với việc đòi hỏi giải thể Đảng Cộng Sản. Trong tình huống Việt Nam hiện nay, không thể có chuyện tự tay những người lãnh đạo cộng sản giải thể Đảng Cộng Sản. Cũng chưa thể có khả năng xẩy ra một cuộc can thiệp vũ trang của nước ngoài xâm lược và chiếm đóng Việt Nam để giải thể Đảng Cộng Sản. Càng chưa thể có đột biến phát sinh một cuộc cách mạng bằng bạo lực của quần chúng quốc nội lật đổ chính quyền và giải thể Đảng Cộng Sản. Lại càng chưa thấy bóng dáng những nhân vật có tư thế và bản lãnh của Nguyễn Kim, Trịnh Kiểm, để lãnh đạo đồng hương hải ngoại trở về giải thể Đảng Cộng Sản, làm cái công việc tương tự như những người đời trước đã từ Trấn Ninh trở về lật đổ nhà Mạc, trung hưng nhà Lê.
            Thứ đến, đòi hỏi tách Đảng ra khỏi Nhà Nước không có nghĩa là phủ nhận sự kiện Đảng lãnh đạo Nhà Nước. Thật vậy, công việc của một chính đảng cầm quyền là gì nếu không phải là chỉ đạo các cơ quan Nhà Nước thi hành, trong khuôn khổ hiến pháp và luật lệ quốc gia, các chính cương chính sách do Đảng vạch ra. Không cần phải có một chế độ độc đảng, chuyên chính, toàn trị mới có vấn đề Đảng lãnh đạo Nhà Nước. Trong một định chế dân chủ pháp trị, đa nguyên đa đảng, Đảng nào được dân chúng ủng hộ mà chiếm được đa số phiếu bầu, thì đảng ấy trở thành Đảng cầm quyền. Đảng ấy sẽ lãnh đạo Nhà Nước. Đương nhiên là sự lãnh đạo ấy được tiến hành theo những phương thức khác biệt với lề lối và tố chức hiện hành của Đảng Cộng Sản Việt Nam
            Như vậy, đòi hỏi tách Đảng ra khỏi Nhà Nước là đòi hỏi Đảng Cộng Sản trả lại Nhà Nước cho người Dân. Nhà Nước phải là của Dân, do Dân, và vì Dân. Nhà Nước hiện tại không phải của Dân làm chủ, không phải do Dân bầu ra, nên không phải vì Dân mà hoạt động. Nhà Nước hiện tại là của riêng Đảng Cộng Sản, do Đảng Cộng Sản sắp xếp tổ chức và lãnh đạo điều hành, nên không phục vụ quyền lợi của người Dân mà chỉ là công cụ khống chế người Dân để bảo vệ quyền lợi của thiểu số cầm quyền là các đảng viên Đảng Cộng Sản. Trả lại Nhà Nước cho người Dân có nghĩa là Đảng Cộng Sản Việt Nam từ bỏ vị thế độc tôn, chấm dứt hành động độc đoán, không ngăn cản người Dân tham gia các sinh hoạt chính trị, không loại bỏ người Dân ra khỏi các cơ cấu công quyền bằng các phương thức hạn chế quyền bầu cử và triệt tiêu quyền ứng cử. Trả lại Nhà Nước cho người Dân là để cho người Dân tự do tuyển chọn đại biểu soạn thảo Hiến Pháp để thiết lập một Nhà Nước dân chủ pháp trị, để người Dân được thực sự làm chủ bản thân và xã hội, tuyển chọn chính quyền và kiểm soát chính quyền.
            Tách Đảng ra khỏi Nhà Nước là dẹp bỏ hệ thống Đảng song hành với hệ thống Nhà Nước ở tất cả mọi cấp chính quyền, từ trung ương đến địa phương, trong các ngành hành pháp cũng như lập pháp và tư pháp. Hiện tại ở đâu cũng có Đảng. Cấp ủy Đảng chỉ huy và kiểm soát cấp Nhà Nước tương ứng. Thủ trưởng cơ quan phải là Bí thư Đảng ủy, Đảng đoàn, hoặc là đảng viên cấp nhỏ hơn, chịu sự lãnh đạo của Bí thư Đảng ủy, Đảng đoàn. Hệ thống Đảng song hành với hệ thống Nhà Nước vừa vô ích cho công vụ, vừa tốn kém cho ngân sách. Không có ai phủ nhận vai trò Đảng lãnh đạo Nhà Nước, nhưng Đảng lãnh đạo có nghĩa là Đảng hoạch định chính cương chính sách, chứ không phải Đảng chỉ đạo và giám sát cơ cấu Nhà Nước các cấp các ngành làm công việc thừa hành. Đảng chỉ cần lãnh đạo ở cấp trung ương, trong lãnh vực chính trị, chứ không phải đâu đâu cũng chen chân vào. Đặc biệt là trong các lãnh vực chuyên nghiệp, Đảng chỉ cần nắm vững chính sách chứ không dẫm chân vào việc thi hành chính sách, can thiệp thô bạo vào các công tác chuyên môn đến độ các công tác này đôi khi trở thành phản khoa học, phi nhân bản, hay vi hiến vi luật.
            Ở Việt Nam ngày nay, Đảng là tối thượng. Đảng đứng trên tất cả mọi thứ. Đảng phủ lấp Quốc gia, Đảng phủ lấp Dân tộc. Đảng độc quyền chỉ đạo và giám sát Nhà Nước, Đảng độc đoán cai trị và kềm kẹp Nhân Dân. Không có cơ chế công quyền nào câu thúc Đảng. Không có tổ chức quần chúng nào kiểm soát Đảng. Đảng hoạt động bằng tiền của ngân sách nhưng không đóng góp một chút gì cho ngân sách. Tách Đảng ra khỏi Nhà Nước là dân chủ hóa định chế chính trị, sửa đổi chế độ chuyên chính toàn trị hiện hành, để Đảng từ bỏ vai trò độc quyền lãnh đạo Nhà Nước, lui về cương vị một đảng chính trị hoạt động trong khuôn khổ một định chế dân chủ pháp trị đa nguyên mà mọi người dân không phân biệt nam nữ, mỗi người một lá phiếu, tự do tuyển chọn người đại diện cho mình thành lập chính quyền và kiểm soát chính quyền. Đảng lúc đó sẽ là Đảng do Dân mà ra, vì Dân mà làm việc. Đảng hoạt động bằng tiền của quần chúng ủng hộ đóng góp. Đảng có cầm quyền hay đứng ngoài chính quyền, Đảng giữ nguyên hình trạng hay phải biến thể, Đảng còn tồn tại hay bị đào thải tiêu vong, tất cả là do sự phán xét mang tính cách trọng tài của đại khối nhân dân, là do tương quan lực lượng của các chính đảng cạnh tranh, là do quần chúng ủng hộ đông đảo hay rời rạc, là do đường lối hành động và thiện chí phục vụ của Đảng có đáp ứng các điều kiện phát triển đất nước, có thoả mãn kỳ vọng mưu cầu phúc lợi của đại đa số cộng đồng dân tộc hay không.
            Tách Đảng ra khỏi Nhà Nước là phục hồi tinh thần thượng tôn pháp luật và xây dựng một hệ thống pháp luật thỏa đáng. Tinh thần thượng tôn pháp luật cần được tôn trọng từ phía những người cầm quyền lẫn từ phía những người thuộc thành phần bị trị. Xây dựng hệ thống pháp luật thỏa đáng là phát triển một hệ thống luật lệ vô tư, công bằng, trong sạch, và hữu hiệu, về cả hai lãnh vực lập pháp và lập quy, trong khuôn khổ hiến định. Tại Việt Nam ngày nay, Đảng Cộng Sản khống chế Nhà Nước, pháp luật do Đảng vo tròn bóp méo tùy ý, nên pháp luật hiện hành là “luật rừng”. Không còn ai biết đến tinh thần thượng tôn pháp luật. Do đó mà dân quyền và nhân quyền bị chà đạp. Cũng do đó mà nạn cửa quyền và tệ tham nhũng phát sinh. Cần tách Đảng Cộng Sản ra khỏi Nhà Nước để người Dân có thể dự phần vào việc qui định pháp luật, xuyên qua các đại biểu do họ tuyển chọn. Một khi pháp luật không còn là sản phẩm của thiểu số cầm quyền cưỡng bức mọi người phải tuân hành, mà là do chính người Dân đã dự phần vào việc qui định pháp luật thì đương nhiên người Dân sẽ chấp nhận thi hành, tôn trọng và tuân thủ pháp luật. Lúc đó, pháp luật một phần do Dân mà ra nên sẽ vì Dân mà phát huy tác dụng. Pháp luật sẽ là công cụ của Nhà Nước dùng để mang lại ổn định và trật tự cho xã hội, chứ không còn là công cụ của Nhà Nước dùng để bảo vệ Đảng Cộng Sản và bao che các đảng viên.
            Tách Đảng ra khỏi Nhà Nước là chấm dứt tình trạng giành giật đặc quyền đặc lợi kinh tế cho giai cấp có chức có quyền xuyên qua các công ty công quản và các xí nghiệp quốc doanh. Trước xu thế tiến hóa của nhân loại, kinh tế xã hội chủ nghĩa phải lùi bước, nhường chổ cho kinh tế thị trường, nhưng nhà cầm quyền Việt Nam còn cố bám víu lấy cụm từ “theo định hướng xã hội chủ nghĩa”, nghĩa là nền kinh tế hiện tại tuy chấp nhận có năm thành phần nhưng chủ yếu vẫn là kinh tế quốc doanh. Kinh tế quốc doanh là gánh nặng cho ngân sách. Vốn liếng do ngân sách đài thọ, lời lãi thì công ty, xí nghiệp chia nhau hưởng, mà thua lỗ thì ngân sách phải trầm bù. Rút cục, sự phân hóa xã hội mỗi ngày một thêm sâu sắc, đảng viên có chức có quyền và giới phe phẩy theo đóm ăn tàn mỗi ngày một giàu có, còn đại khối quần chúng mỗi ngày một thêm lầm than cơ cực. Tách Đảng ra khỏi Nhà Nước là giải tư tất cả các công ty công quản và các xí nghiệp quốc doanh, xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường tư bản tư doanh mà vai trò của Nhà Nước là dần dà từ bỏ chức năng quản lý để chỉ giữ vai trò điều hợp. Nhà Nước chỉ còn quản lý những lãnh vực hoạt động nào mà tư nhân không đủ khả năng và phương tiện đảm trách, nhưng cũng không giữ độc quyền.
            Tách Đảng ra khỏi Nhà Nước là thể hiện cụ thể sự tôn trọng các quyền căn bản của người Dân và của con Người. Thể hiện cụ thể sự tôn trọng các quyền căn bản này có nghĩa là không chỉ thừa nhận suông trên giấy tờ mà phải thực hiện trong cuộc sống thực tế. Nhà Nước cần dẹp bỏ những hình thức hạn chế, uốn nắn, kìm hảm, lũng đoạn, ngăn cản, cấm đoán các tổ chức và các hoạt động của quần chúng trong các lãnh vực ngôn luận, hội họp, cư trú, đi lại, giáo dục, tín ngưỡng, hành đạo, hành nghề. Hiến pháp thừa nhận mọi thứ tự do liên hệ đến dân quyền và nhân quyền, nhưng các văn kiện lập quy bao giờ cũng trói buộc hoạt động của các cá nhân hay đoàn thể thực hiện các thứ tự do đó bằng điều kiện phải tiến hành trong khuôn khổ các quy định của Đảng Cộng Sản. Tách Đảng ra khỏi Nhà Nước là cởi bỏ các ràng buộc, tháo gỡ các vướng mắc hiện nay đang kìm hãm các hoạt động của các cá nhân và đoàn thể để tất cả được tự do thực hiện các quyền căn bản của người Dân và của con Người. Được vậy thì các mâu thuẫn giữa quần chúng Nhân Dân và Nhà Nước sẽ được giải hóa, thảm họa nội chiến có thể tránh khỏi, và triển vọng Đại Đoàn Kết Dân Tộc mới có cơ may thực hiện.
            Tóm lại, tách Đảng Cộng Sản ra khỏi Nhà Nước là tiến hành công việc dân chủ hóa chế độ chuyên chính toàn trị hiện hành về tất cả các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội. Từ khi con người bước ra khỏi tình trạng ăn lông ở lổ, các tổ chức nhân quần đã tiến hóa từ thị tộc, bộ lạc, thành quốc gia, liên bang, hợp quốc, liên quốc. Con người ngày hôm nay đang bước vào xu thế sinh hoạt toàn cầu, và đã bắt đầu phác họa các viễn kiến giao tiếp liên hành tinh. Việt Nam không thể đóng cửa để cứ ù lì kéo dài cuộc sống lây lất bên lề thế giới loài người. Việt Nam không thể không hòa nhập với xu thế thời đại, tham gia thị trường mậu dịch tự do, tiến hành dân chủ hóa chế độ. Đi ngược trào lưu tiến hóa của nhân loại, quốc gia Việt Nam mỗi ngày sẽ mỗi lạc hậu, đất nước Việt Nam mỗi ngày sẽ mỗi kiệt quệ, dân tộc Việt Nam mỗi ngày sẽ mỗi hèn yếu. Đó là con đường dẫn đến diệt vong.
            Tách Đảng Cộng Sản ra khỏi Nhà Nước là để cho Tổ Quốc Việt Nam sống còn.
                                                12 tháng 10 năm 2005
                                             Minh Vũ Hồ Văn Châm

TẠ TỴ * NGUYỄN BÍNH

Nguyễn Bính

hinh5.jpg

Ta đi nhưng biết về đâu chứ

Đã dấy phong yên lộng bốn trời

Thà cứ ở đây ngồi giữa chợ

Uống say mà gọi thế nhân ơi

Thế nhân mắt trắng như ngân nhũ

Ta với nhà ngươi cả tiếng cười

Ngươi ơi! Hề! Ngươi ơi

Ngươi sang bên ấy sao mà lạnh

Nhịp trúc ta về lạnh mấy mươi…”

(Trích “Hành phương Nam”)

Nguyễn Bính: Làm thơ, viết văn. Sinh năm 1919 tại làng Thiên Vinh, huyện Vụ Bản, Nam Định. Mất ngày: 20.1.1966 tại Hà Nội.

Tác phẩm: Lỡ bước sang ngang, thơ (Lê Cường xuất bản, 1940), Tâm hồn tôi, thơ (Lê Cường xuất bản, 1940), Hương cố nhân (Á Châu xuất bản, 1941),Bóng giai nhân (Kịch thơ), Mây Tần, thơ (Á Châu xuất bản, 1942), Đêm sao sáng, thơ (Văn học Hà Nội, 1963), Một ngàn cửa sổ (thơ), Tập thơ yêu nước, Sóng biển cỏ (thơ)

Nguyễn Bính

Một thiên tài lỡ dở

Thú thật, trong những năm tháng dài của Hà Nội ngày xưa, trong dòng sông hạn hẹp của văn nghệ tiền chiến, anh em dễ quen, dễ gặp vì chẳng có bao người, thế mà riêng tôi, đối với Nguyễn Bính gần như vẫn còn xa lạ.

Tôi chỉ gặp Bính có hai lần. Lần đầu trên chuyến xe điện từ Hà Đông ra Hà Nội. Một người bạn cùng đi đã chỉ cho tôi chàng thanh niên có nước da ngăm ngăm, có mái tóc rậm bù, mặc bộ quần áo dạ cũ màu xanh sẫm, đang ngồi rúm ró ở cuối ghế: Nguyễn Bính đó. Hồi ấy, tôi đã đọc thơ văn của Bính đăng trong Hà Nội báo với thiên hồi ký than khóc tình yêu có 4 câu thơ được coi như lời dẫn trước cho câu chuyện chứa đựng nỗi ai oán và bi thảm đã vò xé nội tâm Bính:



“Tâm hồn tôi là bình rượu nhỏ

Rót lần lần rót mãi xuống nàng Oanh

Không xua tay, nhưng nàng vẫn vô tình

Hắt ly rượu hồn tôi qua cửa sổ.”


Nàng Oanh, nàng Oanh là một nữ sinh mà Bính say mê đến nỗi đêm đêm dù trời đã trọng đông với mưa phùn gió bấc, với giá lạnh cắt buốt thịt da, Bính vẫn kiên nhẫn đứng bên lề đường, dưới gốc cây hay dưới mái hiên nào đó nhìn lên căn gác đóng kín, chỉ còn những tia đèn mong manh lọt qua khe cửa, để vọng tưởng người yêu. Tôi nhìn Bính như nhìn một tượng hình đau khổ với câu chuyện tình lởn vởn trong trí não. Hồi đó, tôi còn là một thanh niên được gia đình chở che và đùm bọc, tuy làm văn nghệ nhưng có lẽ nhờ cái nghề hội hoạ mà trời thương hay ghét cũng chẳng biết, rất ít người vướng mắc vào hệ luỵ ma tuý, hay bắt gặp những oan trái do tình yêu gửi tặng. Bữa đó, Bính đeo kính đen tuy trời bên ngoài đã cuối thu không có nắng, màu mây quánh đặc sắc bùn. Lần gặp thứ nhất này làm tôi thất vọng, vì lẽ rất dễ hiểu là Bính không giống như người mà tôi đã tưởng tượng: mái tóc bồng bềnh như Xuân Diệu, vóc dáng phong nhã như Hoàng Cầm hay có vẻ đãng tử như Đinh Hùng. Nguyễn Bính đang hiện diện trước mắt tôi kia chỉ là một chàng trai tầm thường, trông lại quê quê không có biểu tượng nào để tôi nhận ra sự phong phú đầy chất lãng mạn trong văn thơ. Rồi hình ảnh đó phai dần. Tôi và Bính vẫn chưa biết nhau tuy bạn của Bính một phần là bạn của tôi.

Cho đến một buổi, tôi nhớ rõ buổi trưa, Quỳnh Dao rủ tôi đi thăm Nguyễn Bính để nói chuyện cho biết. (Quỳnh Dao, thi sĩ miền Trung, có thi phẩm Tơ trăng xuất bản thời tiền chiến, đã bị thủ tiêu vào dịp Cách mạng 45 vì bị nghi là gián điệp cho Nhật. Nhân dịp này với tư cách là người bạn thân của Quỳnh Dao, tôi xác nhận Quỳnh Dao không hề làm chính trị hay có thái độ chính trị, sở sĩ anh phải hợp tác với cơ quan quân sự Nhật là vì miếng cơm manh áo, vì trách nhiệm làm chồng làm cha và để có tiền vui chơi với anh em, thế thôi! Quỳnh Dao biết tiếng Nhật và Anh, đánh máy rất mau, chữ viết rất đẹp.) Chúng tôi từ phố Huế đạp xe điện lên Quan Thánh, rồi đi bộ hết đường Cổ Ngư lên đầu Ô Yên Phụ, trời Hà Nội bữa đó cao và trong. Chúng tôi đi dưới rặng phượng vĩ với tàn lá xanh um trải rộng làm rợp mặt đường. Nước hồ Tây bàng bạc lô xô mấy chiếc thúng câu bập bềnh trong không gian im vắng. Một bên, hồ Trúc Bạch, màu nước ngăn ngắt với lớp váng rêu úa vàng dạt vào thành xi-măng xây quanh mép hồ. Quỳnh Dao bỗng khoát tay chỉ về phía xóm lá, bên kia hồ Trúc Bạch – Bính ở trong xóm ấy, nhưng vào đó không chắc gì gặp, nó thường ở nhà M… trên đê. Nghe Dao nói, tôi chợt nhớ đến mấy câu thơ của Bính gửi chị Trúc:



“Nhà em ở cuối kinh thành

Giữa hồ Trúc Bạch nước xanh màu chàm

Dịp nào chị có qua thăm

Cho em lần nữa chiếc khăn lụa hồng

Cầm cho hai tháng là cùng

Khóc như em, mấy khăn hồng chẳng phai!"


Tâm sự của Bính là tâm sự đầy nước mắt, do đó, lời và hơi thơ của Bính làm người đọc dễ cảm, dễ thuộc.

Tôi đã gặp Bính ở nhà M… thật. Đây là lần thứ hai và cũng là lần chót. Tới nay Bính đã đi sâu vào lòng đất, gia tài để lại cho cuộc đời tuy không vĩ đại nhưng cũng đủ chứng minh giá trị của một thi nhân trong lịch sử Văn học Nghệ thuật Việt Nam. Vì là buổi gặp mặt lần đầu, hơn nữa, trong căn phòng chật chội còn có nhiều người khác nên tôi và Bính chỉ trao đổi vài câu xã giao thông thường. Cuộc “diện kiến” này chẳng mang lại cho tôi một thích thú gì cả.

Với tôi, Bính vẫn chỉ được coi như biết mà chưa quen. Sau đó ít lâu tôi nghe tin Bính đã bỏ quê hương vào Nam tôi mới hối tại sao không cố gặp nhau để trở nên thân như các bạn khác dù cho sự tìm kiếm góp bạn lúc ấy không phải điều khó.

Ngày đó, tôi đương theo học mỹ thuật, chỉ yêu văn học mà chưa làm văn học. Sự giao du của tôi với anh em làm văn học lúc ấy cũng chỉ do chút cảm tình văn nghệ mà thôi. Nhưng chẳng phải vì không thân mà tôi không thích đọc Bính. Tôi vẫn đọc và nghe rất nhiều chuyện về Bính, từ thuốc phiện, rượu, đến nỗi đau tình ái, do anh em nói lại.

Hôm nay viết về Nguyễn Bính, là viết về một nhà thơ đã vĩnh viễn vắng mặt, một nhà thơ (theo ý riêng tôi) đã gặp nhiều hệ luỵ nhất, đã mang tâm sự bị thương đi lang thang suốt một cuộc đời đầy sóng gió do tình ái và tiền tài gieo hoạ.

Bính làm thơ vì Định Mệnh phán quyết. Thơ Bính đẹp như dòng suối và bi thương như bệnh hoạn. Cá tính trong thơ Bính rất tự nhiên, mộc mạc không gò bó, kiểu cách như các thi nhân cùng thời. Thơ Bính đi gần với ca dao, rất gần với đại đa số quần chúng. Các cô gái đọc rất khẽ trong phòng the để tiếc nuối thương vay một thân phận hay giận hờn vì người Bính khóc trong thơ sao lại không phải mình. Các bà mẹ ru con bằng thơ Bính. Thơ của Bính được phổ biến thật sâu rộng, nó gắn liền với cuộc sống nội tâm ở mỗi con người đa đoan tâm sự. Bài “Lỡ bước sang ngang” vào đời đã đưa Bính lên cao giữa vòm trời thi ca đầy tinh tú sáng chói với Xuân Diệu, Huy Cận, Vũ Hoàng Chương, Trần Huyền Trân, Thâm Tâm, Hoàng Cầm, Tế Hanh, Lưu Trọng Lư, Hàn Mạc Tử, Chế Lan Viên v.v… Nhưng chính thực, bài thơ này không phải là bài thơ hay của Bính. Nó nổi tiếng chỉ vì nội dung bi đát nói lên thân phận người con gái “lỡ bước” rồi “sang ngang” để rồi lại “lỡ bước”. Cái tâm sự ấy, cái cảnh huống ấy nó giản dị quá, nó đi gần với cuộc đời có mặt trong thời gian ấy:



“Chị từ lỡ bước sang ngang

Trời giông bão giữa tràng giang lật thuyền

Xuôi dòng nước chảy liên miên

Đưa thân thể chị tới miền đau thương

Mười năm gối hận bên giường

Mười năm nước mắt bữa thường thay canh

Mười năm đưa đón một mình

Đào sâu chôn chặt mối tình đầu tiên

Mười năm lòng lạnh như tiền

Tim đi hết máu, cái duyên không về!...

...................................

Tuổi son má đỏ môi hồng

Bước chân về đến nhà chồng là thôi

Đêm qua mưa gió đầy trời

Trong hồn chị có một người đi qua…"

("Lỡ bước sang ngang")


Chất thơ của Bính nó hiện diện như thế cách đây 30 năm, khoảng thời gian không xa xôi gì, mà sao nó làm cho người đọc hôm nay cảm thấy đằng đẵng xa vút mù khơi.

Bính là con người làm văn nghệ duy nhất ở thời đó không chịu ảnh hưởng của nền văn hóa Tây phương cũng như Đông phương. Bính làm thơ một mình và thừa hưởng cái kho tàng văn hóa Dân tộc qua các vần ca dao, qua nếp sống mộc mạc quê mùa. Do đó, thơ Bính mang tính chất hồn nhiên, với một sắc thái cực kỳ lãng mạn trong lãnh vực tình yêu.

Bính sinh ra trong một hoàn cảnh khốn khó, trong một xã hội phân hóa bởi giai cấp thống trị với những ước lệ quá ư bất công. Từng ấy dữ kiện đã bắt buộc Bính phải tự tìm cho mình lối thoát. Bính đi vào tình yêu với mộng ước đắm đuối vô vàn để được trả bằng thất vọng. Nàng Oanh nhắc đến ở đoạn trên chưa chắc đã phải là mối tình đầu của Bính, nhưng ở đây, nàng biết Bính yêu mình và mình không yêu Bính nhưng nàng cứ lạnh lùng theo ngày tháng, chẳng chấp nhận và ác nhất, chẳng khước từ. Nàng vẫn đúng giờ mở hé cửa, thò một bàn tay nõn nà cho thi nhân nhìn lên với mơ ước bàng hoàng, đắm đuối:



“Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông

Một người chín nhớ mười mong một người

Gió mưa là bệnh của Trời

Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng…

...................................

Tương tư thức mấy đêm rồi

Biết cho ai biết, ai người biết cho

Bao giờ bến mới gặp đò?

Hoa khuê các bướm giang hồ gặp nhau?”

(“Tương tư”)


Cái vòng tình ái lẩn quẩn mở rồi đóng, đóng rồi mở làm cho Bính bàng hoàng như tỉnh, như mơ. Vốn là nòi tình nên thi nhân đắm mê vào hệ luỵ như con thiêu thân lao mình vào ánh đèn tìm cái chết trong lửa đỏ. Ngọn lửa do tình yêu thắp sáng trên vóc dáng nàng Oanh đã làm cho Bính điên cuồng. Bính rên xiết, ngất ngư đòi được thiêu huỷ đời mình trong đó. Nhưng nàng Oanh không cho Bính đến gần, nàng chỉ cho Bính thấy có ánh sáng mà không mở lối cho Bính tìm về ánh sáng. Có thể nói, nỗi đau tuổi trẻ này Bính mang xuống tuyền đài chưa chắc đã tan. Niềm thương hận đó, Bính đã trải rộng trên những vần thơ và huỷ hoại tuổi trẻ trong các nguồn đam mê hằng ngày, hằng đêm.

Nhưng cứ sau mỗi đam mê, hình ảnh kia vẫn bám riết và đeo đuổi như đeo đuổi một duyên số:



“Nhà ấy hình như có mặt trời

Có rừng, có suối, có hoa tươi

Bao nhiêu chim lạ, bao nhiêu bướm?

- Không có gì đâu! Có một người.

Chân bước khoan khoan, lòng hỏi lòng

- Có nên qua đấy nữa hay không?

Không nên qua đấy, nên qua đấy?

Không, nhớ làm sao? Qua, mất công.

Chàng đau đớn lắm, môi cắn môi

Răng cắn vào răng, lời nghẹn lời

- Hờ hững làm sao, mê mẩn quá

Trời ơi! Cứu vớt lấy hồn tôi…”

(“Hà Nội ba mươi sáu phố phường”)


Bính đau quá, giận quá, nhớ thương quá, si mê quá. Tấm lưới tình yêu cứ xiết dần thân phận Bính với nhức mỏi rã rời, Bính kêu la giẫy giụa:



“Đã quyết không… không được một ngày

Rồi yêu, yêu cả buổi chiều nay

Chiều nay bướm trắng ra nhiều quá

Không biết là mưa hay nắng đây

.................................

Oán đã bao la, hận đã nhiều

Cớ sao tôi vẫn chẳng thôi yêu

Tôi đi mãi mãi con đường ấy

Qua lại hôm nay, sáng lại chiều.”

(“Vẩn vơ”)


Cứ như thế, cứ quẩn quanh với thương nhớ, cứ bịn rịn vì mái tóc, làn môi mà Bính buông trôi ngày tháng.

Nhưng thơ Bính không phải chỉ cò nàng Oanh với “Oán đã bao la, hận đã nhiều”, mà nguồn cảm hứng đó còn toả rộng ở các khía cạnh đặc thù của cuộc sống. Thơ Bính buồn, thật buồn. Mỗi lời như một dòng lệ, ngay cả khi Bính không nói về mình:



“Những cuộc chia lìa khởi tự đây

Cây đàn sum họp đứt từng dây

Những lời bèo bọt thân đơn chiếc

Lần lượt theo nhau suốt tháng ngày

.............................

Những chiếc khăn màu thổn thức bay

Những bàn tay vẫy những bàn tay

Những đôi mắt ướt nhìn đôi mắt

Buồn ở đâu hơn ở chốn này?

Tôi đã từng chờ những chuyến xe

Đã từng đưa đón kẻ đi về

Sao nhà ga ấy, sân ga ấy

Chỉ để cho lòng dấu biệt ly?”

(“Những bóng người trên sân ga”)


Nỗi buồn rất nỗi buồn, chia ly rồi chia ly đều bắt nguồn ở sân ga bé nhỏ. Từ hai cô gái nhỏ áp má vào nhau sùi sụt đến người yêu tiễn người yêu ở một sân ga vắng trong chiều tắt nắng. Có những chàng trai tiễn đưa nhau dùng dằng “ba bốn bận” đến nỗi bóng họ nhòe theo bóng tối. Có người vợ mở khăn trầu tiễn chồng đi biên ải. Có người mẹ già lưng còng đổ bóng tiễn con đi, và có người làm cuộc du hành cô độc để “một mình làm cả cuộc phân ly”. Tất cả những chất liệu đó đã làm Bính rúng động và đâu đây tiếng còi tàu thét vang trong trí não thi nhân để trút xuống mặt giấy từng nỗi nghẹn ngào nhân thế.

Biệt ly, biệt ly nào mà chả làm lòng người se lại. Buổi tiễn đưa giữa hai kẻ sống tuy buồn nhưng còn ít bi đát hơn cảnh người sống tiễn đưa kẻ chết, nhất là kẻ chết lại là người trinh nữ. Cái chết của nàng làm cho Bính tưởng tượng cả “châu thành Hà Nội chít khăn sô” và như có ai mời thi nhân “uống chén biệt ly”:



“Sáng nay vô số lá vàng rơi

Người gái trinh kia đã chết rồi

Có một chiếc xe màu trắng đục

Hai con ngựa trắng bước hàng đôi

Đêm đi một chiếc quan tài trắng

Và những bông hoa trắng lạnh người

Theo bước, những người khăn áo trắng

Khóc hồn trinh trắng mãi không thôi…”

(“Lòng người trinh nữ”)


Người trinh nữ ấy bỏ cuộc đời, bỏ cả chiếc áo màu xanh nàng vừa may vào mùa thu, nhưng nàng đi chẳng phải vì có chiếc áo “đi” theo mà còn để lại tiếc thương trong lòng em thơ, mẹ già và mối tình của chàng trai gửi tặng.

Tình cảm của Bính thật chan chứa. Nó khởi hành từ đam mê của mình, thuộc-riêng-mình rồi nó tự vượt thoát để bấu víu vào cả những thứ không-thuộc-về-mình và coi đó như có thực. Huyền thoại T.T.Kh. với 4 bài thơ nổi tiếng trên thi đàn Việt Nam từ lâu, không ai có quyền phá vỡ. Người duy nhất có thể làm được công việc trên là thi sĩ Thâm Tâm, nhưng Thâm Tâm đã đi vào đất lạnh từ lâu. Bởi vậy, bây giờ và mãi mãi nó vẫn là một nghi hoặc, là dấu hỏi, dấu than, nó vẫn còn nguyên là huyền thoại theo đúng nghĩa chữ.

Câu chuyện tình đẹp do Thanh Châu sáng tác với tựa đề “Hoa Ti-gôn” đăng trong báo Tiểu thuyết thứ bảy đã làm xúc động người đọc và sau đó ít lâu T.T.Kh. ra đời. Thâm Tâm có làm 2 bài gửi T.T.Kh. và Nguyễn Bính cũng làm bài “Dòng dư lệ” tặng T.T.Kh. với những vần thơ đắm đuối:



“Dừng chân trước cửa nhà nàng

Thấy hoa vàng với bướm vàng hôn nhau

Tìm nàng chẳng thấy nàng đâu

Lá rơi lả tả bên lầu như mưa…”


Tìm nàng để làm gì? Để nghe người lão bộc kể lại một thiên tình hận, để bâng khuâng coi đó như chuyện của mình:



“Bao nhiêu oan khổ vì tình

Cớ sao giống hệt chuyện mình ngày xưa?”


Nguyễn Bính sáng tác rất nhiều, mỗi bài thơ như một khúc bi ca, như nỗi đau đứt ruột vì khung trời tình ái mà Thượng Đế dành riêng cho Nguyễn Bính luôn luôn bị che phủ mây mù:



“Lạ quá làm sao tôi cứ buồn

Làm sao tôi cứ khổ luôn luôn

Làm sao tôi cứ tương tư mãi

Người đã cùng tôi nhạt ước nguyền…”

(“Vâng”)


Và,



“Tôi rót hồn tôi xuống mắt nàng

Hồn tôi là cả một lời van

Tôi van nàng đấy, van nàng đấy

Ai có yêu đương chả vội vàng”

(“Người con gái ở lầu hoa”)


Có lẽ chịu không nổi hình phạt của cuộc sống ở cả hai phía, tình yêu và hoàn cảnh, nên Bính dứt áo ra đi về phương Nam có nắng vàng chói lói, có cuộc sống cởi mở, để mong tìm cho mình sự giải thoát nào đó bằng cảm xúc mới, bằng tri giác mới. Hà Nội với đắng cay còn đó, Hà Đông với khuôn mặt nàng Oanh kiêu bạc hờ hững, với kỷ niệm tháng năm buồn đứt ruột, với dăm bảy đứa bạn bè ngơ ngác nhìn nhau nhàm chán. Hà Nội đối với Bính như “một nhỡ nhàng” nên biết quyết dứt tình.

Ở trong Nam, Bính cũng trôi nổi bềnh bồng như cánh bèo đưa đẩy. Nay đây mai đó, Bính từ Sài-gòn xuôi Hậu Giang và gót giang hồ đã dừng lại ít lâu tại cuối trời nước Việt, đó là Hà Tiên quê hương của thi sĩ Đông Hồ và Mộng Tuyết. Trong thời gian lưu trú tại miền Nam, Bính đã sáng tác nhiều với tứ thơ mới pha thêm nỗi đắng cay, tủi hận do cuộc sống thờ ơ và miếng cơm manh áo, mỗi ngày làm cho thi nhân căm phẫn:



“Trọc phú ti toe bàn thế sự

Đĩ già tấp tểnh nói văn chương

Đã coi đồng bạc to hơn núi

Còn học đòi theo thói Mạnh Thường…”


Bính sống giữa thế kỷ XX, thế kỷ của phát minh cơ khí đang muốn đẩy lui những giá trị tinh thần vào bóng tối dĩ vãng, như Bính đâu cần biết, Bính vẫn muốn dùng cái sĩ khí, tiết tháo của nhân vật Đông Chu làm biểu tượng cho mình:



“Rẫy ruồng châu ngọc thù son phấn

Mắt đỏ lên rồi cứ chết ngay

Hỡi ơi! Nhiếp Chính mà băm một

Giữa chợ ai người khóc nhận thây

Kinh Kha giữa chợ sầu nghiêng chén

Ai kẻ dâng vàng, kẻ biếu tay

Mơ gì Ấp Tiết thiếu văn tự

Giày cỏ gươm cùn ta đi đây…”


Nhưng ta đi, ta đi đâu? Bính giận dỗi với cuộc đời vì đi khắp thiên hạ mà chưa tìm thấy tri kỷ, có chăng chỉ là mình với bóng.



"Ta đi nhưng biết về đâu nhỉ

Đã dấy phong yên lộng bốn trời

Thà cứ ở đây ngồi giữa chợ

Uống say mà gọi thế nhân ơi

Thế nhân mắt trắng như ngân nhũ

Ta với nhà ngươi cả tiếng cười

Ngươi ơi! Hề, ngươi ơi

Ngươi sang bên ấy sao mà lạnh

Nhịp trúc ta về lạnh mấy mươi…”

(“Hành phương Nam”)


Như thế đó, tiếng thơ Nguyễn Bính dù ở cảnh huống nào vẫn đầy rẫy bi thương, uất nghẹn. Sau từng năm tháng dài ở miền Nam, mỗi độ xuân về, Bính lại tiếc thương mùa Xuân đất Bắc với hoa đào, gió lạnh, với đất trời đượm ngát hương xuân. Sau bao nhiêu lần hẹn mà Bính không về sao về nổi đất cũ, Bính thét lên trong bài thơ gửi chị – “Tết này lại nữa, Tết tha hương” rồi Bính kể cho chị Trúc nghe mùa Xuân miền Nam với:



“Dưa hấu chất cao hơn nóc chợ

Và hoa sen nở đẹp huy hoàng”


Cả hai thứ đó đều có vào mùa Hạ ở ngoài Bắc chứ không ở mùa Xuân…



*

Rồi thời gian qua đi với tuổi đời niên thiếu, tưởng rằng không còn cơ hội nào dành cho Bính một niềm hy vọng.

Đột nhiên cả dân tộc chuyển mình đi vào Cách mạng 1945. Mấy tháng sau, miền Nam anh dũng đã biến thành tiền tuyến trong cuộc chiến đấu chống quân Pháp xâm lăng lần thứ hai. Bính có mặt trong tuyến đầu khói lửa. Rồi ngày 19-12-1946, toàn quốc kháng chiến. Sắt máu đã đẩy lui mọi người ra khỏi từng thành phố. Những năm đầu kháng chiến tôi có nghe tin Bính nhưng chẳng bao giờ có cơ hội vượt Trường Sơn để gặp mặt anh em. Trong thời gian này Bính cũng như mọi người làm văn nghệ khác, đều phục vụ kháng chiến bằng khả năng chuyên biệt. Cuộc sống máu lửa kéo dài cho tới ngày ký Hiệp định Genève chia đôi Nam, Bắc. Bính tập kết ra Hà Nội rồi mất tại đó năm 1966.

Bính là một thiên tài, nhưng là một thiên tài lỡ dở, vì tổng kết từ cuộc sống bản thân tới nghệ thuật, ở bên trong mỗi dữ kiện người ta cảm thấy như Định Mệnh đã an bài cho Bính sự trừng phạt hơn ân thưởng. Sinh ra trong một hoàn cảnh khốn khó không đủ phương tiện ăn học, lớn lên Tình Yêu làm thui chột ước mơ, ở lãnh vực Thi Ca Bính cũng không làm sao thoát ra khỏi khuôn thước tầm thường của nhân thế. Nhưng đó không phải là cái dở mà chính là sự may mắn cuối cùng mà Thượng Đế dành cho Bính, tuy rằng sự may mắn đó Bính phải trả bằng nước mắt với muôn vạn nhục nhằn. Sự lỡ dở do Tình Yêu, do cuộc đời, do bạn hữu, do bản thân tạo nên, tất cả như a vào nhau để làm cho tiếng thơ buồn của Bính vút lên rồi toả ra những làn ánh sáng kỳ diệu giữa trời thơ nước Việt hôm qua, hôm nay và mãi mãi.

Bính đã đi rồi. Tác phẩm Thi Ca của Bính còn lại. Chúng ta hãy cầu nguyện cho Bính với hình ảnh con chim Đường Nga (Le Pélican) của thi sĩ Alfred de Musset (1810-1857) đã moi ruột gan cho lũ con ăn tiệc, để rồi chết lặng lẽ bên mỏm đá vô tình.

Trích thơ Nguyễn Bính

Hành phương Nam

Đôi ta lưu lạc phương nào

Trải mấy mùa qua én, nhạn bay

Xuân đến khắp trời hoa rượu nở

Mà ta với người buồn vậy thay

Lòng đắng xá gì muôn hớp rượu

Mà không uống cạn mà không say

Lời thề buổi ấy cầu Tư Mã

Mà áo khinh cừu không ai may

Ngươi giam chí lớn vòng cơm áo

Ta trói thân vào nợ nước mây

Ai biết thương nhau từ buổi trước

Bây giờ gặp nhau trong phút giây

Nợ tình chưa trả tròn một món

Sòng đời thua đến trắng hai tay

Quê nhà xa lắc xa lơ đó

Ngoảnh lại tha hồ mây trắng bay

Tâm giao mấy kẻ thì phương Bắc

Ly tán vì cơn gió bụi này

Người đi buồn lắm mà không khóc

Mà vẫn cười qua chén rượu đầy

Vẫn dám tiêu hoang cho đến hết

Ngày mai ra sao rồi hãy hay

Ngày mai xán lạn màu non nước

Cốt nhất làm sao tự buổi nay

Rẫy ruồng châu ngọc thù son phấn

Mắt đỏ lên rồi cứ chết ngay

Hỡi ơi Nhiếp Chính mà băm mặt

Giữa chợ ai mà khóc nhận thây

Kinh Kha giữa chợ sầu nghiêng chén

Ai kẻ dâng vàng kẻ biếu tay

Mơ gì Ấp Tiết thiêu văn tự

Giầy cỏ gươm cùn ta đi đây

Ta đi nhưng biết về đâu chứ

Đã dấy phong yên lặng bốn trời

Thà cứ ở đây ngồi giữa chợ

Uống say mà gọi thế nhân ơi

Thế nhân mắt trắng như ngân nhũ

Ta với nhà ngươi cả tiếng cười

Ngươi ơi! Hề ngươi ơi

Ngươi sang bên ấy sao mà lạnh

Nhịp trúc ta về lạnh mấy mươi…

Lỡ bước sang ngang

Em ơi, em ở lại nhà

Vườn dâu em hái, mẹ già em thương.

Mẹ già một nắng hai sương,

Chị đi một bước trăm đường xót xa.

Cậy em, em ở lại nhà

Vườn dâu em đốn, mẹ già em thương.

Hôm nay xác pháo đầy đường

Ngày mai khói pháo còn vương khắp làng.

Chuyến này chị bước sang ngang,

Là tan vỡ giấc mộng vàng từ đây…

I.

Rượu hồng em uống cho say,

Vui cùng chị một vài giây cuối cùng.

Rồi đây sóng gió ngang sông,

Đầy thuyền hận chị lo không tới bờ.

Miếu thiêng vụng kén người thờ,

Nhà hương khói lạnh chị nhờ cậy em.

Đêm qua là trắng ba đêm,

Chị thương chị kiếp con chim lìa đàn.

Một vai gánh vác giang san,

Một vai nữa gánh muôn vàn nhớ thương.

Mắt quầng, tóc rối tơ vương,

Em còn cho chị lược gương làm gì! …

Một lần sẩy bước ra đi,

Là không hẹn lại ngày về nữa đâu.

Cách mấy mươi con sông sâu,

Và trăm ngàn vạn nhịp cầu chênh vênh.

Cũng là thôi, cũng là đành!

Sang ngang lỡ bước riêng mình chị sao?

Tuổi son nhạt thắm, phai đào,

Đầy thuyền hận có biết bao nhiêu người?

Em đừng khóc nữa, em ơi!

Dẫu sao thì sự đã rồi nghe em!

Một đi bảy nổi ba chìm,

Trăm cay nghìn đắng con tim héo dần.

Dẫu em thương chị mười phần

Cũng không ngăn nổi một lần chị đi.

Chị tôi nước mắt đầm đìa,

Chào hai họ để đi về nhà ai.

Mẹ trông theo, mẹ thở dài,

Dây pháo đỏ bỗng vang trời nổ ran,

Tôi ra đứng ở đầu làng,

Ngùi trông theo chị khuất ngàn dâu thưa.

II.

Trời mưa ướt áo làm gì?

Năm mười bảy tuổi, chị đi lấy chồng.

Người ta pháo đỏ rượu hồng,

Mà trong lòng chị một vòng hoa tang.

Lần đầu chị bước sang ngang,

Tuổi son sông nước đò giang chưa từng.

Ở nhà mẹ nhớ em thương,

Ba gian nhà trống mảnh vườn xác xơ.

Mẹ ngồi bên cửa se tơ,

Thời thường nhắc: “Chị mày giờ ra sao?”

Chị bây giờ… nói thế nào…?

Bướm tiên khi đã lạc vào vườn hoang.

Chị từ lỡ bước sang ngang,

Trời giông bão, giữa tràng giang lật thuyền.

Xuôi dòng nước chảy liên miên

Đưa thân thể chị tới miền đau thương.

Mười năm gối hận bên giường,

Mười năm nước mắt bữa thường thay canh.

Mười năm đưa đón một mình,

Đào sâu chôn chặt mối tình đầu tiên.

Mười năm lòng lạnh như tiên,

Tim đi hết máu! cái duyên không về!

Nhưng em ơi! một đêm hè,

Hoa xoan nở, xác con ve hoàn hồn.

Dừng chân trên bến sông buồn,

Nhà nghệ sĩ tưởng đò còn chuyến sang.

Đoái thương thân chị lỡ làng,

Đoái thương duyên chị dở dang tháng ngày.

Rồi… rồi… chị nói sao đây?

Em ơi, nói nhỏ câu này với em:

Thế rồi máu chảy về tim,

Duyên làm lành chị, duyên tìm về môi.

Chị nay lòng lại ấm ròi,

Mối tình chết đã có người hồi sinh.

Chị từ dan díu với tình

Đời tươi như buổi bình minh nạm vàng.

Tim ai khắc một chữ “nàng”?

Mà tim chị một chữ “chàng” khắc theo.

Nhưng yêu chỉ để mà yêu,

Chị còn dám ước một điều gì hơn.

Một lầm hai lỡ keo sơn,

Mong gì gắn lại phím đờn ngang cung.

Rồi đêm kia, lệ ròng ròng,

Tiễn đưa người ấy sang sông chị về.

Tháng ngày qua cửa buồng thế,

Chị ngồi nhặt cánh hoa lê cuối mùa.

III.

Úp mặt vào hai bàn tay,

Chị tôi khóc suốt một ngày một đêm!

Đã đành máu chảy về tim,

Nhưng không ngăn nổi cánh chim giang hồ.

Người đi xây dựng cơ đồ

Chị về trồng cỏ nấm mồ thanh xuân.

Người đi khoác áo phong trần,

Chị về đan áo liệm dần nhớ thương.

Hồn trinh ôm chặt chân giường,

Đã cùng chị khóc đoạn trường thơ ngây.

Năm xưa, đêm ấy, giường này

Nghiến răng… nhắm mắt… cau mày… cực chưa?

Thế là tàn một giấc mơ,

Thế là cả một bài thơ não nùng!

Tuổi son má đỏ, môi hồng,

Bước chân về đến nhà chồng là thôi.

Đêm qua mưa gió đầy trời,

Trong hồn chị có một người đi qua.

Em về thương lấy mẹ già,

Đừng trông ngóng chị nữa mà uổng công.

Chị giờ sống cũng bằng không,

Coi như chị đã sang sông đắm đò.

Những bóng người trên sân ga

Những cuộc chia lìa khởi tự đây,

Cây đàn sum họp đứt từng dây.

Những lời bèo bọt thân đơn chiếc,

Lần lượt theo nhau suốt tháng ngày.

Có lần tôi thấy hai cô bé,

Sát má vào nhau khóc sụt sùi.

Hai bóng chung lưng thành một bóng,

Đường về nhà chị chắc xa xôi.

Có lần tôi thấy một người yêu,

Tiễn một người yêu một buổi chiều,

Ở một ga nào xa vắng lắm,

Họ cầm tay họ, bóng xiêu xiêu.

Hai chàng tôi thấy tiễn đưa nhau,

Kẻ ở sân ga, kẻ cuối tàu.

Họ giục nhau về ba bốn bận,

Bóng nhoà trong bóng tối từ lâu.

Có lần tôi thấy vợ chồng ai,

Thèn thẹn đưa tay bóng chạy dài.

Chị mở khăn trầu, anh thắt lại,

Mình về nuôi lấy mẹ, mình ơi.

Có lần tôi thấy một bà già,

Đưa tiễn con đi tận chốn xa,

Tàu chạy lâu rồi, bà vẫn đứng,

Lưng còng đổ bóng xuống sân ga.

Có lần tôi thấy một người đi,

Chẳng biết về đâu nghĩ ngợi gì.

Chân bước hững hờ theo bóng lẻ,

Một mình làm cả cuộc phân ly,.

Những chiếc khăn màu thổn thức bay,

Những bàn tay vẫy những bàn tay.

Những đôi mắt ướt nhìn đôi mắt,

Buồn ở đâu hơn ở chốn này?

Tôi đã đứng chờ những chuyến xe,

Đã từng đưa đón kẻ đi về,

Sao nhà ga ấy, sân ga ấy,

Chỉ để cho lòng dấu biệt ly.

Lòng người trinh nữ

Chiều về chầm chậm trong hiu quạnh,

Tơ liễu theo nhau chảy xuống hồ,

Tôi thấy quanh tôi và tất cả,

Châu thành Hà Nội chít khăn sô.

Nước mắt chảy quanh, tình thắt lại,

Giờ đây, tôi khóc một người về.

Giờ đây, tôi thấy lòng cay đắng,

Như có ai mời chén biệt ly.

Sáng nay vô số lá vàng rơi,

Người gái trinh kia đã chết rồi.

Có một chiếc xe màu trắng đục,

Hai con ngựa trắng bước hàng đôi.

Đem đi một chiếc quan tài trắng

Và những bông hoa trắng lạnh người.

Theo bước, những người khăn áo trắng,

Khóc hồn trinh trắng mãi không thôi.

Để đưa nàng đến nghĩa trang này,

Nàng đến đây rồi, ở lại đây.

Ờ nhỉ! Hôm nay là mấy nhỉ?

Suốt đời tôi nhớ mãi đêm nay.

Sáng nay sau một cơn mưa lớn,

Hà Nội bừng lên những nắng vàng.

Có những cô nàng trinh trắng lắm,

Buồn rầu theo vết bánh xe tang.

Từ nay xa cách mãi mà thôi,

Tìm thấy làm sao được bóng người.

Vừa mới hôm nào còn thẹn thẹn,

Tay cầm sáp đỏ bỏ lên môi.

Chiếc áo màu xanh tựa nước hồ,

Nàng vừa may áo với mùa thu.

Gió thu còn lại bao nhiêu gió?

Chiếc áo giờ đây ở dưới mồ.

Chắc hẳn những đêm như đêm qua,

Nàng còn say mộng ở chăn hoa,

Chăn hoa ướp một trời xuân sắc,

Đến tận tàn cạnh rộn tiếng gà.

Chắc hẳn những đêm như đêm kia,

Nửa đêm lành lạnh gió thu về,

Nàng còn thao thức ôm cho chặt…

Chiếc gối nhung mềm giữa giấc mê.

Nhưng sáng hôm nay nàng lặng im,

Máu đào ngưng chảy ở nơi tim.

Mẹ già xé vội khăn tang trắng,

Quấn vội lên đầu mấy đứa em.

Người mẹ già kia tuổi đã nhiều,

Đã từng đau khổ biết bao nhiêu.

Mà nay lại khóc thêm lần nữa,

Nước mắt còn đâu buổi xế chiều.

Những đứa em kia chưa khóc ai,

Mà nay đã khóc một người rồi,

Mà nay trên những môi son ấy,

Chẳng được bao giờ gọi: chị ơi!

Nàng đã qua đời để tối nay,

Có chàng đi hứng gió heo may

Bên hồ để mặc mưa rơi ướt,

Đếm mãi bâng quơ những gót giày.

Người ấy hình như có biết nàng,

Có lần toan tính chuyện sanng ngang.

Nhưng hồn nàng tựa con thuyền bé,

Đã đắm ngàn thu ở suối vàng.

Có gì vừa mất ở đâu đây?

Lòng thấy mềm như rượu quá say.

Hốt hoảng chàng tìm trong bóng tối,

Bàn tay lại nắm phải bàn tay.

Chỉ một vài hôm nữa, thế rồi,

(Người ta thương nhớ có ngần thôi!)

Người ta nhắc đến tên nàng để

Kể chuyện nàng như kể chuyện vui.

Tôi với nàng tuy không biết nhau,

Mà tôi thương tiếc bởi vì đâu?

Mỹ nhân tự cổ như danh tướng,

Bất hứa nhân gian kiến bạch đầu”.

Hôn nhau lần cuối

Cầm tay, anh khẽ nói:

Khóc lóc mà làm chi?

Hôn nhau một lần cuối,

Em về đi, anh đi.

Rồi một, hai, ba năm,

Danh thành anh trở lại.

Với em, anh chăn tằm,

Với em, anh dệt vải.

Ta sẽ là vợ chồng,

Sẽ yêu nhau mãi mãi.

Sẽ se sợi chỉ hồng,

Sẽ hát ca ân ái.

Anh và em sẽ sống

Trong một mái nhà tranh

Lấy trúc thưa làm cổng

Lấy tơ liễu làm mành.

Nghe lời anh, em hỡi!

Khóc lóc mà làm chi?

Hôn nhau một lần cuối,

Em về đi, anh đi…

Vâng

Lạ quá! Lao tôi cứ buồn?

Làm sao tôi cứ khổ luôn luôn?

Làm sao tôi cứ tương tư mãi

Người đã cùng tôi phụ rất tròn?

Thì ra chỉ có thế mà thôi!

Yêu đấy, không yêu đấy, để rồi

Mắc hẳn đường tơ sang cửi khác,

Dệt từng tấm mộng để dâng ai.

Khuyên mãi sơn cho chữ “Ái tình”!

Mộng lòng trang điểm mãi cho xinh.

Có người, đêm ấy, khoe chồng mới:

“Em chửa yêu ai, mới có mình”.

Có người trong gió rét mùa đông,

Chăm chỉ đan cho trọn áo chồng.

Còn bảo: “Đường lên đan vụng quá!

Lần đầu đan áo kiểu đàn ông”.

Vâng, chính là cô chửa yêu ai,

Lần đầu đan áo kiểu con trai.

Tôi về thu cả ba đông lại,

Đốt hết cho cô khỏi thẹn lời!

Một nghìn cửa sổ

Một nghìn cái cửa sổ

Đều khép vào đêm qua,

Một nghìn bàn tay ngà

Đã thò ra cửa sổ.

Một nghìn cái cửa sổ

Đều khép vào đêm nay.

Lại nghìn cái bàn tay

Ấy thò ra cửa sổ.

Hỡi nghìn cái cửa sổ

Rồi khép vào bên trong

Có thấu tình ta không?

Có thấu tình ta khổ.

Đêm qua và đêm nay,

Và nghìn đêm về trước,

Ta đi trên phố này,

Ta đi trên phố khác.

Để mơ những bàn tay

Của những nàng gái đẹp,

Để muốn rằng đêm nay,

Cửa ai buồn chẳng khép.

Chẳng ai buồn, chẳng khép

Cho lòng ta đêm nay

Để lòng ta đêm nay

Mất một người gái đẹp.

Cửa hàng nghìn khép lại

Tất cả một đêm nay

Có lòng ta rồ dại

Mở ra muôn ngàn ngày.

Tỉnh giấc chiêm bao

Chín năm đốt đuốc soi rừng

Về đây ánh điện ngập ngừng bước chân

Cửa xưa mành trúc còn ngăn

Góc tường vẫn đọng trăng xuân thuở nào

Làng xa bản nhỏ đèo cao

Gió bay tà áo chiêm bao nửa chừng

Anh về luyến núi, thương rừng

Nhớ em đêm sáng một vùng thủ đô.

Bồi hồi chuyện cũ năm xưa

Gặp nhau lần cuối… trang thư lệ nhoà

Thư rằng: thôi nhé đôi ta

“Tính sao không phụ mà ra phụ tình

Duyên nhau đã dựng Trường đình

Mẹ em đã xé tan tành gối thêu…”

Trăng khuya sáng núi gương đèo

Anh đi, thư vẫn nằm đeo bên mình

Lửa sàn nét chữ chênh chênh

Nếp thư đến rách chưa lành vết thương

Đằm đằm hoa sữa lên hương

Chân anh đương bước giữa đường cái đây

Nẻo hồ, song cửa, lá bay

Sáng trưng bóng dáng bao ngày yêu xưa

Trăm năm đã lỡ hẹn hò

Cây đa bến cũ con đò còn không?

Tình cờ gặp giữa phố đông

Em đi ríu rít tay chồng tay con

Nét cười âu yếm môi son

Áo bay nhắc buổi trăng tròn sánh vai…

Chín năm bão tối mưa ngày

Nước non để có hôm nay sáng trời

Em đi hạnh phúc hồng tươi

Anh nhìn tận mắt cuộc đời đẹp sao?

Sắc hương muôn nẻo tuôn trào

Tiếc mà chi giấc chiêm bao một mình

Anh về viết lại thơ anh

Để cho bến mát cây xanh đôi bờ

Cho sông cho nước tự giờ

Chẳng còn lỡ chuyện con đò sang ngang

Lứa đôi những bức thư vàng

Chẳng còn chữ chữ hàng hàng lệ rơi

Chim hồng chim nhạn, Em ôi

Trên nền gối cưới đời đời yêu nhau.

8-1956

No comments: