Thursday, November 3, 2016

HEMINGWAY=TRẦN ĐỘ=THƠ SƠN TRUNG=PHÙNG GIA LỘC=MAI THẢO=PHAN KHOI

HEMINGWAY* LÃO HURD VÀ BÀ HURD

LÃO HURD VÀ BÀ HURD 
 
Lão già Hurd có một khuôn mặt có vẻ không đứng đắn. Lão không có ria, cằm lão thuộc loại cằm lẹm và mắt lão đỏ ngầu, có khoan và ngấn nước, còn hai cánh mũi lúc nào cũng đỏ và sần sùi. Căn chòi của lão nằm trong một thung lũng, trên con lộ bốn mươi, bên dưới và đằng sau chỗ chúng tôi. Bạn có thể nghe lão Hurd hò hét mấy con ngựa khi lão kéo chúng đi. Lão là một lão già loắt choắt. Lão thường lên chỗ chúng tôi để lấy chỗ cám chúng tôi chừa lại về cho heo bằng một cái can lớn dùng đựng cácbuya. Khi lão tìm thấy trong cám cái gì đó mà lão nghĩ rằng những con heo không thích thì bạn có thể nghe lão lầm bầm chửi chúng tôi lẩn cám. 
Lão là một gã đàn ông đi nhà thờ cầu nguyện đều đặn. Chưa ai thấy lão cười bao giờ nhưng đôi khi chúng ta có thể nghe lào hát một bài hát như thế này:
Tôn giáo làm tôi hạnh phúc
Tôn giáo làm tôi hạnh phúc
Tôn giáo làm tôi hạnh phúc
Tôi đang đi trên con đường của tôi 
Bà Hurd là một phụ nữ to con với một khuôn mặt đầy đặn, dễ thương , giản dị. Bà trẻ hơn lão Hurd hai mươi tuổi. Bấy giờ bà khoảng bốn mươi. Khi bà lên mười tám, cha bà mất để lại cho bà cơ sở Amacker cũ kỹ. Bà cố gắng điều hành cơ sở nhưng bà không có khả năng. Bà không có đủ tiền để đến Grand - Rapids, và vào những ngày ấy không có những người chuyên đi làm việc vào mùa hè như bây giờ. Có lần bà nói với mẹ tôi:
- Lúc đó tôi cũng là một cô gái rất dễ coi. 
Hurd thường đến cơ sở Amacker cũ kỹ mỗi tối, nhưng không nói một lời nào cả, chỉ lặng lẽ nhìn cái đống bừa bộn mà bà đã xả ra khi cố điều hành nơi này. Lão chẳng ngỏ ý giúp bà chẻ củi hoặc làm bất cứ việc gì. Lão chỉ đứng nhìn bà đang bày bừa ra một cách vô vọng. Đứng đó một lát, lão nói:
- Sarah, tốt hơn là em lấy tôi đi.
Sau đó một thời gian bà lấy lão, và bà nói với mẹ tôi:
- Lúc ấy mà trông lão cũng giống như bây giờ thì thật là khủng khiếp.

TRẦN ĐỘ * MỘT CÁI NHÌN TRỞ LẠI

Sau khi viết thiên bút ký "0_Một cái nhìn trở lại 0_(1)", tôi vẫn tiếp tục suy nghĩ và thấy ra rằng còn phải nhìn lại nhiều vấn đề lắm. Trong khi thấy như vậy thì lại đọc thêm một số sách về sử và vài cuốn tiểu thuyết. Trong có một cuốn mà tôi gặp trong đó nhiều ý nghĩ, nhiều tư tưởng có thể gợi cho tôi nhiều suy nghĩ. Ðó là một bộ tiểu thuyết lịch sử tên là "#0_Sông Côn mùa lũ ", tác giả là Nguyễn Mộng Giác nói về giai doạn lịch sử nửa sau thể kỷ 18 ở miền Trung nước ta, về phong trào Tây Sơn của anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ. Tiểu thuyết dựng lại chân dung nhiều nhân vật lịch sử và cũng hư cấu chân dung một số nhân vật của thời đại đó, một cách sinh động, để làm nổi thêm các nhân vật lịch sử có thật. Qua sự việc và lời lẽ của các nhân vật, tác giả nêu lên những tư tưởng và những vấn đề của thời kỳ lịch sử đó mà cũng có nhiều ý nghĩa thời sự. Có mấy nội dung mà tôi thích thú quan tâm:
- Khi Nguyễn Huệ tham gia với Nguyễn Nhạc nổi dậy chống phá bộ máy cai trị tàn bạo và thối nát của Trương Phúc Loan đang lũng đoạn chính quyền của Chúa Nguyễn ở Ðàng Trong. Nguyễn Huệ tâm sự với bạn bè và nêu lên một vấn đề:0_° ° "Ta hiện nay nổi dậy để phá tan bộ máy cai trị này. Ta đập nó đi rồi, thì ta thay thế nó bằng cái gì? Liệu ta thay thế nó bằng một cái tốt đẹp hơn, hay ta lại xây nên chính những cái mà ta đang đập phá đây???".
Trong tiểu thuyết có nêu lên hai sự việc giống nhau và cùng nói lên một vấn đề:
- Nguyễn Nhạc khi làm lễ đăng quang lên ngôi Vua Thái Ðức ở Quy Nhơn, đã cấm giáo phường (văn công) không được diễn vở tuồng "0_Chàng Lía ". Vở tuồng này ca ngợi chàng Lía cũng là một thanh niên nông dân nổi dậy chống áp bức bóc lột.
- Sau này khi Nguyễn Huệ đăng quang lên ngôi vua ở Phú Xuân (Huế), tác giả vở tuồng vốn là bạn học với Nguyễn Huệ, lại đề nghị cho diễn vở tuồng chàng Lía để chào mừng lễ đăng quang thì Nguyễn Huệ là vua Quang Trung cũng cấm không cho diễn vở tuồng đó!
Thế là tâm trí tôi cứ xoay quanh câu chuyện đó, và cũng là xoay quanh cuộc đời tôi. Ðó là mối quan hệ giữa người nổi dậy (đập phá) với người cầm quyền cai trị, sự chuyển biến tâm lý và tư duy, ứng xử của hai con người đó, và khi hai con người đó trong cuộc đời lại là một.
(2)
Tôi không sao quên được mấy kỷ niệm nhỏ trong đời tôi.
Năm 1945, trước tháng tám, tôi hoạt động bí mật ở một vùng ngoại thành Hà Nội (huyện Ðông Anh). Tôi ở một nhà cơ sở Cách mạng. Gia đình có một bà mẹ và hai người con gái: chị lớn đã có chồng và con, chị nhỏ hơn sau này lấy một anh trong đội của tôi. Bà mẹ nuôi nấng và che chở cho tôi như một đứa con, nhiều lúc cũng âu yếm, mắng mỏ, dành cho tôi từ bát cơm nguội, bắp ngô, củ khoai. Chị lớn cũng thế, chị coi tôi là em trai, các con chị đều gọi tôi là cậu rất thân mật, tự nhiên và hay bắt rận, vò giặt quần áo cho cậu. Khi tôi vô ý ngồi trong buồng làm nổ súng, chị rất nhanh ý vào bếp, đập vỡ cái nồi rang bằng đất để có cớ nói chuyện với hàng xóm, nếu có người nghe tiếng nổ mà sang hỏi thăm. Sau đó chị mới chạy lên xem tôi, chị nghĩ rằng có thể xảy ra tại nạn: tôi bị thương hoặc chết. Thấy tôi an toàn chị cười vui nói với tôi về mẹo "đập nồi rang" của chị và chị còn cười vui hơn, bảo tôi: "0_Cậu có làm sao thì đành chờ đêm đến, đem vùi cậu ở rãnh khoai, chứ chả biết làm thế nào? "
Thế mà sau ngày 19 - 8 ít lâu, tôi đã nhận công tác ở Hà Nội, trở lại thăm bà cụ và chị, thì tôi gặp một tình huống ngỡ ngàng. Cố nhiên lúc này tôi ăn mặc sang trọng hơn và đi xe hơi. Bà cụ mắt kém, mãi mới nhận ra tôi. Bà cụ mừng rỡ, chào mời tôi: "0_Mời ông ngồi, xơi nước " và cụ rất lễ phép rót nước mời tôi. Chị lớn cũng thế, không gọi tôi là cậu nữa, mà cũng lễ phép gọi tôi là ông.
Tôi không thể tự nhiên được như xưa, không vui được và cũng không thích ứng được với danh vị "0_ông khách". Lúc ấy, tôi chỉ thấy lúng túng và tiếc nuối một tình thân mật trước đây. Tôi đã mơ hồ cảm thấy một sự rạn nứt, thấy tiếc tiếc, nhưng chưa ý thức được rõ. Mãi về sau này, khi đã ngoài 70 tuổi, tôi mới dần dần thấy rõ hơn và sẽ nói rõ thêm sau này.
(3)
Những năm 1980, lúc tôi đã hơn 60 tuổi. Tôi về thăm một cơ sở Cách mạng cũ ở Thái Nguyên. Những người thanh niên cứu quốc cùng lứa tuổi với tôi và hơn tuổi tôi đã chết nhiều. Nhưng cũng có người còn sống, có người trở thành cán bộ khá cao cấp (Phó chủ tịch Tỉnh). Tôi tìm thăm một chị. Chị này lúc ấy (1944) là một thanh niên tích cực, là một trong số đảng viên đầu tiên. Chị nhanh nhẹn hăng hái và cũng thuộc lớp nữ thanh niên xinh đẹp. Tôi mang ấn tượng về chị hồi trẻ, đến thăm chị. Chị bây giờ là một bà già nhà quê cũ kỹ và lam lũ, trong nhà chị không đến nỗi nghèo khổ. Tôi và anh đã thoát ly thành cán bộ đến thăm chị mà sao xa cách nhau xa xôi, lạnh lẽo. Trong câu chuyện tôi có chú ý một câu của chị, đại khái: "0_Giá mà tôi được thoát ly như các anh thì bây giờ cũng sướng, chả đến nỗi lúi sùi thế này ". Chị nói thế với một tâm thức: đi làm Cách mạng cũng là một con đường kiếm ăn sinh sống, và những người gặp may mắn được thoát ly thì con đường sống cao hơn, sướng hơn. Cái cảm giác rạn nứt như hồi 1945 lại chiếm tâm hồn tôi. Nhưng tôi không suy nghĩ gì hơn, mà chỉ ủy lạo chị một câu rất cổ hủ mà cũng xác đáng "0_Mỗi người một số phận, chị ạ! ".
Thế là đời tôi có mấy đoạn.
0_Ðoạn 1: là một thiếu niên học sinh rồi thanh niên, xung phong đi làm Cách mạng, đi tuyên truyền vận động quần chúng đứng lên võ trang khởi nghĩa để giành độc lập và giành chính quyền. Lúc này hết sức say sưa với những lý tưởng cao đẹp: Ðộc lập - Tự do - Hạnh phúc; giải phóng, công bằng và nhiều mơ tưởng cụ thể về đời sống tươi đẹp của toàn dân tộc, đất nước. Những mơ tưởng này rất chung mà cũng rất cụ thể: nông dân có ruộng đất, rồi có máy cày, máy gặt; công nhân làm chủ nhà máy không có thất nghiệp, đời sống no đủ; thanh niên tha hồ học hành, người ốm được chữa bệnh chu đáo. Tất cả cái gì cũng có một kết cục đẹp và đẹp nhất.
0_Ðoạn 2: là một anh bộ đội tham gia chiến đấu giành và giữ độc lập suốt 30 năm. Những mơ tưởng thời thiếu niên vẫn tiếp tục với những vẻ đẹp huy hoàng của nó, nhưng tâm trí tập trung vào yêu cầu trước mắt là thống nhất và hòa bình với những giấc mơ hòa bình và thống nhất. Sau tháng 8-1945 mới thấy cái thắng lợi cụ thể của nó. Và sau tháng 5-1975 mới thấy cái thống nhất và hòa bình thực tế nó như vậy. Nó có nhiều cái không giống và không đẹp như trong giấc mơ, nó cũng có những cái còn đẹp hơn, rực rỡ hơn, vui hơn những giác mơ. Nhưng suốt những năm công tác và chiến đấu không có thì giờ và điều kiện để suy ngẫm về cuộc đời.
0_Ðoạn 3: có khoảng 18 năm thống nhất hòa bình. Tôi làm một quan chức cao cấp của Ðảng và Nhà nước hưởng tất cả những tiêu chuẩn ưu đãi, đời sống đầy đủ và thuận lợi. Rồi bước sang Ðoạn 4 cho đến nay. Ở đoạn này có nhiều điều kiện để suy ngẫm so sánh và đối chiếu ước mơ với thực tế cuộc sống. Ta đã dùng hết chữ để nói về thắng lợi của dân tộc và đất nước, nay không có chữ nào mới được nữa. Nhưng té ra những thắng lợi nó lại thể hiện ở các số phận cụ thể. Nó thể hiện ở những cuộc sống đầy đủ giàu sang của một số người, nhưng nó cũng thể hiện ở tình trạng không thay đổi và còn có sự sa sút thêm của rất nhiều số phận con người khác.
***
Nhìn lại các quãng đời tôi đã sống rút cục lại, nổi lên một câu hỏi khái quát và tập trung là:0_° ° Tôi đã tham gia vào việc đập phá và phá tan một thứ chính quyền và cuộc sống như thế nào? Và tôi đã tham gia vào việc lập nên và củng cố một chính quyền thay thế như thế nào?
Tôi chỉ "0_tham gia " thôi, vì tôi chỉ có một vai trò hết sức khiêm tốn. Tuy nhiên vai trò đó cũng đủ cho tôi đặt câu hỏi, một câu hỏi khái quát ở tầm triết học, để mong tìm thấy thực chất chân lý của sự vật.0_° ° Tôi đã tham gia đập tan cái gì?
2_Tôi đã tham gia đập tan một nhà nước, một bộ máy cai trị của thực dân và phong kiến tay sai. Bộ máy đó có đủ các nét đặc điểm của sự tàn bạo, dã man, của sự vơ vét bóc lột và xa hoa hưởng thụ, của sự lừa bịp dối trá thủ đoạn đểu giả. Bộ máy nhà nước đó gắn chặt với một xã hội nghèo nàn, đói khổ, cực nhục, nhiều tệ nạn, nhiều sa đọa xấu xa. Những điều đó được hiện ra trong các tiểu thuyết của Nguyễn Công Hoan, Nam Cao, Ngô Tất Tố và Vũ Trọng Phụng. Tôi ở tuổi niên thiếu đã tiếp xúc và va chạm với nó ở những tên tuần phiên, lý trưởng, chánh tổng, địa chủ ở quê tôi và sau đó với những tên mật thám, những sở mật thám, những tòa án các cấp và các nhà tù từ tỉnh đến Hỏa Lò Hà Nội và nơi đi đày Sơn La. Những điều tôi biết và tôi tiếp xúc nung nấu trong tôi một lòng căm thù vừa sâu sắc vừa sôi nổi. Tôi không thể không tham gia đập phá cái thứ tàn bạo, độc ác và lừa bịp xấu xa. Trong khi tham gia việc đập phá đó tôi không thể không có những sự ước muốn, những nguyện vọng, những giấc mơ cao thượng: #2_xây dựng một xã hội và một nhà nước đầy những sự cao đẹp: mọi người đều sống đầy đủ sang trọng, mọi người đều yêu thương nhau, tôn trọng nhau, thân ái với nhau. Một nhà nước gồm những người cũng thương yêu nhân dân, tôn trọng từng người dân, giúp đỡ và tạo cho từng người dân được sống tự do, được sống hạnh phúc.
Tôi cứ nuôi những mơ tưởng đó và yên chí đinh ninh rằng đó là những lý tưởng cao đẹp và hiện thực, và những lý tưởng đó là lẽ sống của đời mình. Tôi không cần phải băn khoăn như Nguyễn Huệ và đã nhìn thấy rõ những mục tiêu và những mơ tưởng của mình. Những cái đó được hiện lên một cách cụ thể. Sau Cách mạng tháng 8 là một Nhà nước Dân chủ cộng hòa, một Chủ tịch, một Lãnh tụ siêu phàm có thể đoàn kết mọi người và thương yêu tất cả mọi người, lúc nào và ở đâu cũng lo toan cho hạnh phúc của từng con người. Cứ như thế tôi tiếp tục những mơ ước của tôi về một đất nước được thống nhất hòa bình...
Cứ mơ ước, vừa mơ ước vừa được sống những cuộc sống thực:
Sau Cách mạng tháng 8 mới biết cuộc sống thực của thắng lợi Cách mạng !
Sau 1954, mới biết cuộc sống thực của Kháng chiến thành công !
Sau 1975, đi máy bay từ Hà Nội vào Sài Gòn rồi lại đi ôtô từ Sài Gòn qua Ðà lạt, Huế ra đến Hà Nội, mới biết cuộc sống thực của Thống nhất - Hòa bình !
3_Cuộc sống thực đó vừa giống và vừa không giống những mơ ước tôi đã từng ôm ấp từ lâu. Những cái giống nhiều hơn, hay những cái không giống nhiều hơn? Tôi chưa có lúc nào điểm ra được rõ ràng. Nhưng càng ngày càng thấy, hình như cái không giống nhiều hơn. Cái không giống với mơ ước thì nhiều, nhưng những cái giống với cái gì đã được đánh đổ cũng càng ngày càng nhiều.
***
Vậy là tôi đã tham gia xây dựng, củng cố một "0_cái gì? ". "0_Cái gì " đó nó phải thay thế "0_cái gì " mà tôi đã tham gia đập phá nó từ những năm 1945???
Tôi không muốn và cũng không thể điểm lại sự diễn tiến của cuộc sống xã hội suốt 50 năm từ 1945 đến nay. Và tôi chỉ thử điểm qua một số điểm để đối chiếu từ "0_cái gì " đó trước 1945 và "0_cái gì " đó hiện nay. Tôi thường quan tâm vào mấy điểm như sau:
1/ Trước 1945, xã hội Việt Nam lúc ấy có một bộ máy cai trị. Bộ máy đó là của đế quốc phong kiến. Nó có đầy đủ các đặc điểm của nó là bóc lột, vơ vét của dân nghèo để hưởng thụ phè phỡn và xa hoa. Nó dùng đủ mọi thủ đoạn đàn áp, doạ nạt, dối trá và lừa bịp để buộc toàn thể dân chúng phải cúi đầu im lặng nghe theo và hành động mọi thứ mà giới cầm quyền mong muốn.
Ngày nay ta cũng có một bộ máy Nhà nước và đó là Nhà nước của dân, do dân và vì dân. Trong đời sống xã hội, mọi người đều thấy một số hiện tượng (chưa bàn đến bản chất của vấn đề) cần đối chiếu và suy ngẫm:
a/ Hiện tượng thứ nhất là ta có một bộ máy Nhà nước, nói đúng hơn là một bộ máy cầm quyền, bộ máy cai trị. Bộ máy này rất to lớn đồ sộ và tốn kém, to lớn hơn bộ máy ngày xưa gấp nhiều lần. Nó gồm nhiều bộ máy:
- Bộ máy dân cử là hệ thống Quốc hội và các Hội đồng nhân dân.
- Bộ máy hành chính gồm có chính phủ và các UBND tỉnh, huyện, xã.
- Bộ máy Ðảng gồm từ Trung ương đến cơ sở gồm cấp ủy và các bộ máy giúp việc.
- Bộ máy các tổ chức chính trị xã hội trực thuộc Ðảng là Công - Nông - Thanh - Phụ.
- Bộ máy Ủy Ban Mặt Trận Tổ quốc bao gồm đoàn thể các ngành, nhưng không có ảnh hưởng gì đến các đoàn thể.
- Một mạng lưới các tổ chức xã hội, có tổ chức chính trị xã hội, tổ chức nghề nghiệp xã hội, tổ chức từ thiện, tổ chức tôn giáo. Các loại tổ chức này có nhiều tổ chức đều do Ðảng và Chính quyền bảo trợ và chi phối.
Như vậy hiện tượng này là bộ máy Nhà nước thể hiện ra một hệ thống chính trị rất to lớn cồng kềnh gồm có tổ chức Ðảng là trung tâm, các tổ chức khác, kể cả Quốc hội và Chính phủ là những tổ chức ngoại vi xung quanh tổ chức Ðảng.
Hệ thống này cổng kềnh và chồng chéo. Riêng việc quản lý sự thương mại, có:
+ Bộ Thương mại
+ Cơ quan thuế vụ.
+ Cơ quan quản lý thị trường.
+ Lực lượng chống buôn lậu.
+ Cơ quan Hải quan.
Nhiều cơ quan làm một việc, nên phải luôn luôn "0_phối kết hợp ", "0_lồng ghép ".
Các lực lượng Công an lại có quy mô của một Chính phủ (nhiều lĩnh vực) nào là an ninh chính trị, công an kinh tế, an ninh văn hóa và an ninh đối ngoại...
Thế mà bất cứ việc gì cũng phải nêu lên đó là nhiệm vụ của toàn dân, mỗi người dân đều phải gánh vác hoặc tham gia. Công an có công an khu vực, công an phường, xã. Ngày xưa còn bé, ở nhà quê, tôi chỉ thấy làng xã tôi có một trương tuần và 4 anh tuần phiên. Ngày nay tôi thấy ở phường có công an phường có trụ sở, có mấy chục người và chỉ huy là một cấp tá; bây giờ mình nhiều sĩ quan thật!
Tôi thấy cái sự cồng kềnh và đông đảo quá thế không phải là một kinh nghiệm hay. Nó quá tốn kém vì nhiều cơ quan, tổ chức thì phải nhiều trụ sở, nhiều xe cộ, đồ dùng văn phòng, nhiều đại hội, hội nghị và học tập. Những chi phí về các việc đó đều lấy vào ngân sách, đều do dân phải đóng góp, mà trong khi ta lại quá thiếu thốn vốn để đầu tư phát triển kinh tế. 2_Tất cả sự to lớn, cồng kềnh của bộ máy đều xoay quanh một nhiệm vụ, một mục tiêu: giữ vững và củng cố chính quyền này, chống lại và đề phòng mọi âm mưu, mọi lực lượng có thể làm suy yếu chính quyền này. Trong khi chính quyền này là của dân, do dân và vì dân, đã có lịch sử và được tổ chức đầy đủ, đã hết sức vững vàng rồi. Ngày xưa ta chưa có chính quyền, phải đối phó với cả một bộ máy thống trị, bộ máy thống trị này nhiều lực lượng và mưu mô thủ đoạn để làm hại lực lượng Cách mạng0_. 2_Ngày nay Cách mạng đã là bộ máy thống trị, một bộ máy rộng lớn bề thế và vững chắc, tôi không hiểu tại sao lại có người sợ hãi làm như sắp bị đánh đổ đến nơi!???0_° ° b/ Hiện tượng thứ hai là bộ máy Công an to lớn
Chế độ nào cũng cần có một bộ máy và lực lượng trung thành để bảo vệ chế độ đó. Chế độ ta cần có một bộ máy và lực lượng như thế là tự nhiên.
Như trong 6 điều Bác Hồ dạy thì Bác nói "0_đối với Chính phủ phải trung thành " và Bác thường yêu cầu các lực lượng vũ trang "0_Trung với nước, hiếu với dân " nhưng Ðài phát thanh của ta ngày nay thường nhắc đi nhắc lại "0_Trung với Ðảng, hiếu với dân". Trung với Ðảng cũng có ý nghĩa, nhưng có lẽ ra là phải sau "0_Trung với nước ". Nhiều người đồng nhất Ðảng với nước, vì Ðảng là yêu nước nhất và đại diện, tiêu biểu cho nước đầy đủ nhất. Nhưng 0_d2_ù sao thì Ðảng là Ðảng và nước là nước, không thể là một, khẩu hiệu nói trên có một ngụ ý bảo vệ Ðảng rất triệt để, nhưng như thế nó lại hơi quên mất "nước".
Lực lượng Công an hiện nay thường được coi là và được trình bày như là một lực lượng bảo vệ dân, cứu giúp dân, là bạn của dân. Sự tuyên truyền cho lực lượng Công an cũng có một quy mô lớn. Riêng tôi biết, Công an có 5 tờ báo và tạp chí:
Báo Công An Nhân Dân
Báo An Ninh Thủ Ðô
Báo Công An Thành Phố Hồ Chí Minh (2 tờ: 1 báo; 1 tạp chí)
Báo An Ninh Thế Giới
Báo Văn Nghệ Công An
và các lực lượng văn nghệ khác.
Lực lượng Công an nhân dân hiện nay được giới thiệu như một lực lượng của nhân dân, trong nhân dân và vì nhân dân. Nhưng sao mà trong thực tế nó lại hay giống nhưng cái ngày xưa ở ta, và giống các nước tư bản quá. Nhiều người nhìn vào nó, thấy rõ nó tiêu biểu cho một lực lượng đàn áp và khủng bố. Dân sợ nó nhiều hơn và cho đó là một nghề "thất đức" và quả nhiên nó làm cho nhiều người sợ thật:
Nó có một lực lượng cảnh sát chiến đấu trang bị rất sắc bén và hùng hậu.
Nó được trang bị tất cả những công cụ khủng bố hiện đại và phong phú hơn cả các lực lượng bảo vệ chế độ cũ (phong kiến và thực dân) như dùi cui, súng, vòi rồng phun nước, hơi cay, khiên và côn, xe phân khối lớn, chó nghiệp vụ v.v...
Nó có một hệ thống trụ sở, đồn, nhà giam và nhà tù và đều là những chỗ đáng sợ, ít ai vui vẻ muốn tới đó.
Trình độ nghiệp vụ của nó rất cao: thẩm vấn, hỏi cung, theo dõi, điều tra, phong tỏa thư tín, nghe trộm điện thoại v.v... yêu cầu dân và tìm người đưa tin chỉ điểm. Hỏi cung thì mớm cung, gài bẫy, tạo chứng cớ, bắt nọn và hành hạ người bị hỏi cung rất kịch liệt và dài ngày.
Tất cả những điều nói trên đều là những điều mà khi ta chưa có chính quyền thì ta nguyền rủa, chống đối, khinh bỉ. Lúc đó những chữ mật thám, tay sai, chỉ điểm được nhắc đến như những gì xấu xa và lý tưởng của ta là quét sạch nó như quét sạch những rác rưởi ở chợ. Mà ngày nay ta lại sử dụng nó tích cực và ca ngợi, bênh vực nó ghê gớm. Tôi nói lên những cảm tưởng này, không phải bài bác gì các lực lượng Công an hoặc phủ nhận sự cần thiết của nó. Tôi chỉ muốn nói lên một ấn tượng khó hiểu. Những gì trước đây ta khinh bỉ, chửi rủa và chống phá thì ngày nay ta lại làm lại nguyên những cái đó, mà lại hoàn thiện, nâng cao và ngày càng nâng cao!
Khi ta nói đến những gì là dân chủ của các nước tư bản phát triển, thì ta chê nó là dân chủ tư sản, là cái gì đáng ghê tởm. Về những tổ chức và phương pháp bảo vệ chính quyền thì ta lại chăm chú bắt chước một cách rất kỹ lưỡng và còn nâng cao hơn, sáng tạo hơn. Tại sao như vậy nhỉ???
Khoảng 20.11.1998, xem thấy ở tivi một phim truyện tên là "0_Ðám cưới đêm mưa ". Trong phim, nhân vật chính là một thanh niên vì yêu một cô gái mà mẹ không bằng lòng đã bị đẩy đến chỗ giết người và ăn cắp vàng của mẹ rồi mưu trốn với người yêu. Công an tìm ra dấu vết và truy nã, khi cậu thanh niên này trốn về nhà người yêu. Công an theo sát tới, có một cán bộ Công an hiểu và biết được động cơ và ước nguyện hạnh phúc của thanh niên này nên quyết định không bắt tội phạm, mà mở đường cho tội phạm tự thú. Cán bộ công an bị nhận xét là không tròn nhiệm vụ và bị thay bởi một cán bộ Công an khác là người chủ trương phải kiên quyết bắt tội phạm và xử tội. Nhưng cuối cùng thì phim đã có kết thúc, chứng tỏ anh công an chủ trương không bắt tội phạm là đúng. Cậu thanh niên đó đã ra tự thú.
Như vậy để bảo vệ Pháp luật, để củng cố quyền lực của bộ máy cầm quyền có thể có hai cách khác nhau:
- Hoặc khoan dung, nhân ái với dân, hiểu đúng tâm tư của dân và thuyết phục dân.
- Hoặc nhất thiết phải đàn áp, khủng bố, bắt bớ làm dân sợ, dân trốn.
Chẳng lẽ chúng ta không có phương thức tổ chức và hoạt động thế nào để bộ máy, lực lượng bảo vệ của ta thật sự là của dân, do dân, vì dân. Chẳng lẽ ta không thể nào từ bỏ những gì ta chửi rủa, khinh bỉ và chống đối.
Tôi nghĩ rằng ta có thể tìm được, nếu chúng ta nghiêm túc kiểm điểm và tổng kết, và ta thu thập được đầy đủ ý kiến của các tầng lớp nhân dân. Có ý kiến cho rằng ta chỉ có hai con đường mà từ bỏ đường này thì phải đi vào đường kia. Nhưng ở đây lại diễn ra hiện tượng trùng lặp lại chính những gì ta đã từ bỏ và đánh đổ.
Thế là thế nào đây???0_° ° c/ Hiện tượng thứ ba là hệ tư tưởng thống trị và sự thống trị của hệ tư tưởng.
Mác nói tư tưởng thống trị là của giai cấp thống trị.
(5)
Thế ở ta, về lý thuyết ta bảo là "0_chính quyền của giai cấp vô sản ", giai cấp vô sản là giai cấp thống trị. Và tư tưởng của giai cấp vô sản là chủ nghĩa Mác - Lênin. Nhưng nhìn vào hiện thực của cuộc sống xã hội, tôi thấy những biểu hiện của ý thức hệ đều khác lạ và xa cách với chủ nghia Mác - Lênin.
Ví dụ: "#0_Chủ nghĩa thành phần " và "#0_Chủ nghĩa lý lịch " thì không phải từ chủ nghĩa Mác - Lênin. Trong tổ chức "#0_Chủ nghĩa cơ cấu " cũng xa lạ với chủ nghĩa Mác - Lênin.
Tôi lại thấy chủ nghĩa Mác - Lênin nhập vào ta lại nhập vào một tâm lý Nho giáo phong kiến rất nặng, tâm lý đó nặng cả trong nhân dân và trong người lãnh đạo. Hình như cái thứ "#0_Tập trung dân chủ " rất gần gũi và hòa nhập với "#0_Tam cương ngũ thường " của Nho giáo. Nếu ngày xưa, người ta gặp cái gì có lợi, may mắn hoặc là một thành công nhỏ nào, thì người ta nói và nghĩ ngay là0_ nhờ Hồng phúc của nhà Vua và của bề trên. Còn ta hiện nay thì người dân và kẻ dưới có được cái gì thì cũng nghĩ và nói ngay là "0_ơn Bác và ơn Ðảng". Bác và Ðảng ban phát mọi thứ cho mỗi người dân, từ cái chữ học, hạt muối, hạt gạo, trái cây, thuốc chữa bệnh đều được ban phát như vậy, không có cái gì do người dân lao động tự làm ra và tự nuôi sống mình!
Ngày xưa, xã hội có Quân - Sư - Phụ (Vua - Thầy - Cha) thì ngày nay có "0_cấp trên ", "0_thượng cấp ", Trung ương và cấp ủy được gọi thân tình là "0_Các anh ấy ". Cái gì cũng phải được phép, chờ ý kiến của "0_các anh ấy". Chỉ có "0_các anh ấy " là có ý nghĩa, còn người dân bình thường đều không có ý nghĩa gì.
Về lời lẽ và chữ viết thì "0_Tất cả là của dân, do dân, vì dân ", rất cao cả. Nhưng về cơ chế và lý sự thì Ðảng là của Dân, Ðảng tức là Dân, Ðảng đại diện xứng đáng nhất của Dân, vì vậy của Ðảng tức là của dân, do Ðảng tức là do dân và vì Ðảng tức là vì dân. Ðảng đồng nhất với dân, Ðảng được trừu tượng hóa thành Dân. Ðảng suy nghĩ và hành động đều nhân danh Dân. Trong khi ấy vẫn có những người dân cụ thể nghĩ khác và làm khác Ðảng. Mà làm khác Ðảng tức là chống Ðảng, chống Ðảng tức là chống dân. Thế là nhiều chỗ ví dụ như Thái Bình, dân lại phạm tội chống dân.!?
Chủ nghĩa Mác là duy vật, nhưng hệ tư tưởng cầm quyền lại thiên về duy tâm. Hệ tư tưởng này hầu như tin vào vai trò tuyệt đối của tư tưởng, tinh thần, cho đó là yếu tố quyết định của mọi công tác, mọi thành công, hầu như tin rằng các mục tiêu kinh tế đạt được là do nêu cao các khẩu hiệu tuyên truyền và sự nhắc lại nhiều lần các khẩu hiệu đó. Ví dụ cứ nói đi nói lại nhiều lần số phần trăm của tăng trưởng kinh tế thì sẽ đạt được mục tiêu, cứ lắp khẩu hiệu "#0_công nghiệp hóa, hiện đại hóa " vào mọi hoạt động như là nuôi lợn, nuôi gà, quét sạch đường, chợ... thì ta sẽ đạt được hiện đại hóa. Bệnh duy ý chí rất nặng một thời, nay vẫn còn. Duy ý chí thì cũng là duy tâm. Sự thần thánh hóa, linh thiêng hóa, tuyệt đối hóa lãnh tụ, cấp trên, các nghị quyết, các ý kiến lãnh đạo, thì cũng quá là duy tâm và ngược lại tinh thần của chủ nghĩa Mác. Ý thức hệ cầm quyền rất cần "#0_duy tâm ", thế dễ khống chế tư tưởng toàn xã hội. Thật ra lãnh tụ hay cấp trên cũng là những con người có những nhu cầu và tình cảm như mọi người. Những quyết định lãnh đạo vẫn có thể có những sơ hở, sai sót và sai lầm. Không thể chỉ có đúng đắn và sáng suốt. Phải để cho dân được bình luận!
Cách nhìn nhận sự vật của chủ nghĩa Mác là phép biện chứng, nhưng những người tư tưởng của bộ máy cầm quyền thì quá đơn giản và cứng nhắc, bảo thủ, nhìn nhận tình hình thế giới và trong nước hiện nay cũng giống như cách đây 50 năm hoặc hơn nữa. Và như thế lại tự hào là vững vàng, kiên định và trung thành. Rõ ràng là hệ tư tưởng cầm quyền hiện nay không mác-xít tí nào, dù rằng những người phụ trách tư tưởng đều tự cho mình là rất mác xít, và đàn áp mọi ý kiến khác mình.
Tôi quan sát và suy ngẫm, thấy rằng những người cầm quyền có nhu cầu phải tạo ra cho mình một ý thức hệ cầm quyền. Ý thức hệ này chỉ nhân danh và sử dụng một chủ nghĩa nào đó chứ không hoàn toàn theo chủ nghĩa đó. Ý thức hệ cầm quyền pha trộn mọi thứ chủ nghĩa, pha trộn và lợi dụng mọi tâm lý, tâm thức của cả người cầm quyền và cả nhân dân, khai thác triệt để các yếu tố có lợi cho việc giữ vững và đề cao sự cầm quyền của mình, vì vậy ngôn từ của nó bất nhất, nhiều nghịch lý, nhiều ngụy biện, nhiều sự "0_nói lấy được ", nhiều sự nói bừa bãi dối trá tinh vi và ngang ngược trắng trợn.
Tôi được nghe một lão thành thuật lại Giáo sư Phạm Thiều trước khi tự vận có trối trăn lại một câu cho đời là: "#2_những kẻ dốt hay làm dại, vì thế nên họ phải dối ". Ba "0_D" ấy đi liền với nhau: 2_Dốt - Dại - Dối. Ðó là một nhận xét đáng quan tâm. Sự lừa dối đi tới cao độ là nói bừa, nói ẩu, bất chấp đạo lý và tất yếu dẫn đến đàn áp, khủng bố bịt mồm mọi người, vu cáo xuyên tạc mọi người. Những điều xấu xa ấy ta đã từng lên án rất nghiêm trọng ở những chính quyền mà ta cần đánh đổ. Sao bây giờ nó lại xuất hiện ở chính quyền gọi là chính quyền cách mạng, chính quyền của giai cấp v.v...
(6)
Tổng Bí thư Lê Duẩn đã nhiều lần tỏ ra bất cần Mác-Lênin. Chính tai tôi nghe nhiều lần TBT Lê Duẩn nói "#3_Mác không nói làm chủ tập thể, Lênin không nói làm chủ tập thể, chỉ có ta là nói làm chủ tập thể (ta đây tức là Việt Nam và ta đây cũng là Lê Duẩn)". Thế mà bây giờ còn có nhiều người tự huyễn hoặc mình và lừa bịp mọi người rằng họ là trung thành tuyệt đối với chủ nghĩa Mác - Lênin, trong khi họ nói và làm sai hết và hầu như họ chẳng hiểu gì Mác và Lênin cả.
Có lẽ bất cứ người cầm quyền nào cũng phải có một ý thức hệ của mình. Ðó là ý thức hệ cầm quyền. Vấn đề là phải bình tĩnh và khách quan phân tích cái ý thức hệ mình đang dùng có tính chất, bản chất gì? được thế nào và không được thế nào? dân chủ bàn bạc với nhân dân ra con đường đi của đất nước, đừng nói bậy, nói bạ, khinh thường mọi người, khinh thường nhân dân.
d/ Một hiện tượng thứ tư cần phải quan tâm xem xét nữa là: hiện tượng chênh lệch giàu - nghèo, đủ - thiếu, sang trọng - bần hàn.
Khi ta nổi dậy ta lớn tiếng kêu gọi nhân dân chống bất công, xóa sạch bất công, tạo nên sự công bằng bình đẳng. Nhưng nay trong một xã hội có chính quyền cách mạng, ta vẫn thấy diễn ra hàng ngày hai cảnh trái ngược:
Một bên là các đại hội, các hội nghị, các kỷ niệm, mừng công, tiếp khách, đón tiếp cấp trên đầy trang hoàng cờ hoa lộng lẫy với các bữa tiệc sáng choang thừa mứa, các quà cáp hậu hỷ, các phòng ngủ đẹp đẽ, thơm tho, êm ái, các cuộc săn sóc sức khỏe chu đáo, đầy đủ.
Còn có một cảnh ngược lại là những căn nhà lụp xụp ở nông thôn miền núi, ổ chuột ở thành phố, các con người gầy yếu, ốm đau, rách rưới, các trẻ nhỏ gầy còm lê la, các trẻ nhỏ không đi học lang thang, bới rác kiếm ăn...
Hãy đối chiếu sự phí tổn với tất cả mọi khoản cho một cuộc sống của một Bộ trưởng hay Trung ương ủy viên, với cuộc sống của người lao động có thu nhập tối thiểu là 144.000đ thì sẽ có một sự so sánh rõ nét hơn. 3_Sự cách biệt giữa dân và dân không to lớn và gay gắt bằng sự cách biệt giữa dân và những người cầm quyền.
Tất nhiên không thể một lúc và không bao giờ xóa bỏ được hết sự khác nhau, mọi người đều có thể giàu có sang trọng. Nhưng ít nhất ta phải thấy còn cảnh khác biệt ấy mà đừng nhơn nhơn tự đắc về những thắng lợi và thành công. Phải nhìn đến nhiều cảnh còn đau khổ, còn thiếu sót, còn oan khuất, còn đày đọa để thấy được đúng thực chất của tình hình mà đối xử với cuộc đời cho hợp lẽ phải.
Ðất nước ta đã có những thắng lợi và thành công thực sự là to lớn. Ai muốn phủ nhận cũng không được. Nhưng đất nước ta cũng vẫn là một đất nước quá nghèo và lạc hậu. Ta hãy nhìn cho đúng cái thực trạng của sự nghèo khổ, lạc hậu mà tìm cách đưa đất nước thoát dần ra. Thấy mình đang nghèo để nhìn sự việc thì tâm lý và tư tưởng khác. Thấy mình thắng lợi thành công và mình đầy thành tích thì nhìn sự việc có tâm lý và tư tưởng lại khác. Tôi cứ mong rằng mọi người nhìn rõ được thực trạng nghèo khổ của đất nước, từ đó mà tích cực tìm đường thoát ra. Còn chỉ hô "0_dân giàu nước mạnh " như là nói lên một ước mơ xa vời, rồi lại mơ mộng chuyện viển vông thì có vẻ ít có lợi ích cho đất nước.
Ta vẫn còn đang phải tiếp tục chống phá các thứ bất công, bất bình đẳng. Sự xa cách giàu - nghèo, sang - khó không phải chỉ có nguyên nhân duy nhất là mặt trái của kinh tế thị trường, nó còn có nguyên nhân ở trong sự cai trị và quản lý đất nước nữa. Phải tìm và tôi tin chắc rằng ta có thể tìm ra.
****
Ðiều tôi trải nghiệm thấy rõ là:
- Những người cầm quyền hết sức cần thiết phải có một hệ ý thức cho mình.
- Hệ ý thức đó phải bảo đảm sự cầm quyền, phải ổn định sự cầm quyền, bảo vệ và củng cố sự cầm quyền, hệ ý thức ấy lên án tất cả mọi ý kiến nhận xét, phê phán và chống lại ý thức hệ cầm quyền.
- Hệ ý thức ấy bất chấp mọi chủ nghĩa, mọi học thuyết, thậm chí mọi đạo lý. Chỉ cần hệ ý thức ấy bảo đảm sự tồn tại của lực lượng cầm quyền.
- Sự tồn tại của cầm quyền là tiêu chuẩn duy nhất của hệ quy chiếu, duy nhất của mọi ý kiến, mọi nguyên lý và đạo lý.
- Vì vậy hệ ý thức cầm quyền cần có và cho phép mọi thủ đoạn dối trá, lừa bịp, đàn áp và khủng bố để đáp ứng yêu cầu tồn tại và củng cố sự cầm quyền hiện tại.
Thế là tôi đã trải qua:
#1_Những mơ xóa ác ở trên đời (lúc bắt đầu)
#1_Ta phó thân ta với đất trời (dấn thân)
#1_Ác xóa đi, thay bằng cực thiện (thắng lợi)
#1_Tháng ngày biến hóa, ác luân hồi (trở lại ác)
Có lẽ không ai muốn thế, tôi lại càng không muốn thế. Nhưng cuộc sống thực sự nó có sự vận động của riêng nó, nó lôi cuốn và quy định sự phát triển của cả người cầm quyền và người không cầm quyền.
Ta có thể cưỡng lại xu hướng vận động này không? Ta có thể có một lối ra không?
Tôi tin chắc là có!
Có thể tìm được lối ra hợp chân lý và hợp đạo lý với ba điều kiện:0_° ° Một: Không nên lệ thuộc vào bất cứ một chủ nghĩa, một học thuyết nào. Ðảng Cộng sản có quyền có học thuyết của mình, nhưng không được bắt tất cả mọi người phải theo học thuyết đó. Vì mọi người, nhất là người Việt Nam hiện nay đã đủ trình độ để nhận xét chân lý và đạo lý.
0_Hai: Phải cùng nhân dân bàn bạc và tìm tòi, không thể có bất cứ ai nghĩ thay cho nhân dân cả nước được. Phải thu thập được mọi tiếng nói trong nhân dân (nhất là của các sĩ phu gồm có trí thức và lão thành).
0_Ba: 2_Lực lượng cầm quyền phải thực sự của dân, do dân, vì dân (như Ðảng Cộng sản đã long trọng tuyên bố, nêu lên), phải coi việc phục vụ đất nước, dân tộc và nhân dân làm mục đích tối cao, là nguyên lý chỉ đạo mọi tư tưởng, hành động, mọi chính sách và luật pháp. 2_Không để tồn tại nghịch lý: lực lượng cầm quyền tự ý đồng nhất với nhân dân và biến mọi việc phục vụ nhân dân thành ra phục vụ cầm quyền. Phải có lực lượng cầm quyền, nhưng lực lượng cầm quyền phải thực sự của dân, vì dân, do dân và được nhân dân giám sát và kiểm soát, phải lấy việc đoàn kết toàn dân tộc làm tôn chỉ mục đích cao nhất của sự cầm quyền, cao hơn bất cứ vấn đề nào khác. Thực hiện đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết.
Từ cổ, kim, đông tây, lịch sử thường truyền tụng và ca ngợi các chính quyền khoan dung, nhân ái và phê phán các chính quyền chuyên chế, tàn bạo. Các mưu sĩ Trung Quốc thường khuyên các vua hiền cần nhân ái với người đã hàng phục, những người lỡ lầm, những người trái ý, những khuyên can thẳng thắn và trung thực.
Ở ta, người xưa hay nói đến "An dân". An dân là dân yên, chứ không phải chỉ an toàn cho chính quyền. Giàu mà không có yên dân thì không phải là một xã hội hay. Ở ta, có lẽ phải quan tâm đến mục tiêu an dân bên cạnh mục tiêu làm giàu.
Trần Ðộ

THƠ SƠN TRUNG

.MƯA HẢI VÂN
Gửi L.Y.



Chiều nay gió lạnh buốt không gian,
Mây xám chiều dâng đọng cuối ngàn.
Chim nhạn chiều bay về biển cả,
Ai buồn nhớ đến chuyện ly tan?


Nhìn cõi xa xăm mưa mịt mùng,
Lòng tôi thêm lạnh bởi nhớ nhung.
Đèo cao, biển rộng cách đôi ngả
Người có buồn chăng chiều lạnh lùng?


Tôi ngồi yên lặng giữa chiều nay
Để ngắm khắp trời mưa lạnh bay.
Để tưởng hình dung người xa vắng
Để lòng đắm đuối bởi mê say.


Tôi nghe tiếng gọi ở xa xôi,
Tôi thấy đôi môi đẹp của người.
Phút chốc lòng tôi ấm cúng lại
Tưởng như người đã đến bên tôi!


Bao nhiêu năm tháng lòng cô liêu,
Thương nhớ sầu dâng chiều lại chiều,
Tình vẫn âm thầm chưa thổ lộ
Sợ rằng vỡ giấc mộng thương yêu!



Bao đêm thương nhớ dạ mông lung,
Tôi ước mơ nhiều mộng trẻ trung.
Cùng lứa xuân xanh, cùng tuổi trẻ
Lẽ nào đôi đứa mộng không chung?


Giờ đây xa cách mấy trùng dương,
Tình đã xa nhau vạn dặm đường
Biết đến bao giờ cùng hội ngộ
Bao giờ chung một mộng yêu đưong?



Nơi đây gió lạnh thổi tư bề
Thương nhớ chiều nay lòng tái tê.
Tôi muốn không gian thành biển cả,
Để lòng trôi dạt bến đê mê.


Thương yêu đôi ngả giờ ly cách,
Người ở chân mây kẻ cuối trời
Chim nhạn có về bên kia núi,
Xin cho nhắn gửi một đôi lời!
1-59


===


75. XUÂN YÊU


Xuân đã về trên ngàn hoa nội cỏ,
Xuân đã về trong ánh mắt thương yêu.
Anh cứ ngồi yên lặng cả buổi chiều.
Nghe xuân đến giữa lòng chiều rạo rực.
Mây trắnmg ngừng trôi, nắng vàng thổn thức,
Hiến trái tim, dâng trọn cả niềm thương.
Trong phút giây tình đẹp lẫn sắc hương,
Cả vũ trụ say sưa giờ hội ngộ.
Anh đợi chờ em cả mùa xuân cũ
Cả nắng vàng và gió lạnh năm xưa.
Anh yêu em lòng tha thiết say mơ
Anh ước vọng một mùa xuân bất diệt
Đôi mắt em ôi rạng ngời ánh nguyệt
Và tóc em là cả một trời mây.
Và làn da em thơm ngát hương bay
Em là cả một mùa xuân bất tận.
Trọn đời anh sẽ là người hầu cận
Vì em là công chúa của mùa xuân.
Yêu say mê và không chút ngại ngần
Yêu tất cả với tình yêu trọn vẹn.
Nắm tay nhau và cùng nhau ước hẹn
Trọn đường đời ta mãi mãi yêu nhau
Yêu kiếp này và cả đến kiếp sau
Tình muôn thuở vẫn trọn lời vàng đá.
Ta cùng nhau cùng đi vào xứ lạ
Cùng say sưa trong hương vị tình yêu
Hai tâm hồn cùng đắm đuối giữa men chiều,
Cùng hòa hợp trong cung đàn ân ái.
Ta yêu nhau và không bao giờ ngần ngại.
Vì muôn hoa chỉ đẹp giữa mùa xuân
Và mỗi năm xuân chỉ đến một lần!
2-59


===

TRUYỆN NGẮN PHÙNG GIA LỘC

Cái Đêm Hôm Ấy...Đêm Gì ?


==


Cuối năm 1983, tôi được ở nhà chờ quyết định về nghỉ chế độ. Chiều Chủ Nhật, thằng Học con tôi rủ rỉ nói:
- Con bắt được bác Quang ăn bánh cuốn ở hàng anh Minh. Bác đi thồ sắn ở chợ Phúc Địa về. Bác cho mấy bó nhưng con không lấy. Bác dặn con về đừng nói với bố mẹ là đã gặp bác. Nói, hôm nào sang bác đánh chết.
- Hừ! Lại thế nữa...
Tôi buột miệng bảo với con thế, rồi thừ ra. Bạn bè anh em cùng một phòng với nhau mà đi qua không vào. Có điều gì nhỉ?
Sáng thứ Hai tôi sang cơ quan ứng mấy cân gạo và định bụng sẽ gặp, trút sấm sét lên đầu anh ấy. Nghe tôi trách, Lê Trung Quang, trưởng phòng tổ chức Ủy ban huyện Thọ Xuân, cười hà hà làm lành thật đôn hậu, dễ yêu:
- Giá có một mình thì tôi vào. Đằng này những bốn binh, khao được, anh cũng liệt. Vả lại, bốn cái xe nặng è, sợ tối.
Là trưởng phòng tổ chức ủy ban huyện, anh cũng để gia đình vợ con đói thiếu. Ra anh còn kém cỏi hơn cả tôi, một kẻ chân chim trần trụi, một tay sắp trở thành "phó thường dân". "Nhà mình cũng bí. Nộp sản đi rồi, lúa đã cạn. Khó mà ăn thấu tết được". Quang lắc đầu bảo thế.
Anh gạn tôi:
- Ông ở đây với tôi đêm nay cho vui. Tôi buồn quá.Tôi chỉ vào mấy cân gạo đã bó buộc sau xe, bảo anh Quang:
- Phải mang "hàng chiến lược" này về chứ.
Nếu nghe lời Lê Quang Trung nằm lại với anh một đêm, thì tôi đã không thể nào hình dung nổi ở Phú Yên xã tôi Cái đêm hôm ấy là đêm gì...
Có cái "các" quá giang của Lê Trung Quang cho mượn, tôi không phải mất ba đồng tiền đò. Qua sông Chu gió vù vù bên tai, tôi phải kéo vành mũ len, trùm thấp cho đỡ run. Tôi về đến nhà, trời đã sẩm tối, con mực xông ra í a í ẳng vờn chân lên hông. Vợ tôi bế thằng Văn ngủ khì trong lòng, ngồi bên bếp than vỏ cao su um khói. Bên cạnh, thằng cu Thức bốn tuổi đang liến láu. Còn Học - thằng con nhớn đang học bài ở nhà trên.
Thấy tôi về thằng Thức reo lên:
- A bố! Bố về là bố về! Có chi không bố?
- Có cái rét cóng đây này!
Tôi nói rồi dắt xe vào nhà, mở túi gạo, vác xuống bếp khoe:
- Ứng được năm cân gạo.
Bà cụ thân sinh ra tôi mệt đã lâu, thấy tôi về, cũng gượng chống gậy xuống bếp sưởi. Cụ bảo:
- Mẹ Học đi nấu cơm cho bố va ăn!
Tôi hỏi:
- Nhà ăn rồi hả mẹ?
Cái thằng Thức đến là hở miệng, cấm có giấu nó được tí gì. Nó nói:
- Chỉ nấu cơm cho bà với em thôi! Mẹ với anh Học, với con ăn cháo rau má rồi. Bữa nay mẹ luộc rõ nhiều rau cải.
Tôi thấy cay sè trong mắt.
- Thế thì nấu thêm vào. Hết thì tao đi bới đất, nhặt cỏ, van ông vái bà. Làm con người mà miếng cơm chín vào bụng vẫn không đủ thì sống thế nào?
Vợ tôi định cãi câu gì đó, nhưng lại thôi, vội trao thằng Văn cho bà rồi lại mở túi gạo đi vo. Bà cụ nói:
- Rau cải ế nhăn! Đói, chả mấy người mua. Hôm nay mẹ va không đong được gạo. May lấy được đấy, không thì mai gác con lên...
Ngoài cửa gió ào ào, tiếng chó sủa ổng oảng ở đầu ngõ. Có tiếng ai hỏi mua rau cải nhà tôi. Cô Hoa vợ chú Được. Hoa cũng người họ Phùng, gọi tôi bằng bác. Chồng cô ấy là đội trưởng đội sản xuất cũ, nay vừa được rút lên làm trưởng ban định mức, rồi phó chủ nhiệm. Cô vào bếp vừa nói, vừa run:
- Sao năm nay rét sớm thế này? Bác bán cho cháu mấy bó rau cải xào.
Vợ tôi bắc nồi cơm lên bếp, mấy bà cháu phải dồn chỗ cho hai người đàn bà tê cóng này ngồi cạnh bếp hơ tay, ngó chẳng khác những viên đạn bị nén trong cái băng lò xo tròn. Tuy gần bằng tuổi vợ tôi, nhưng là hàng cháu họ, nên Hoa vẫn bác bác, cháu cháu ngon ơ.
- Bác có ngan, gà gì để cho cháu vài cân. Giá mấy cũng được, cháu không quản.
- Còn có vài ba con, phải để hôm sau bà...
Tôi lừ mắt chặn lại câu nói hớ, khiến vợ tôi im bặt. Chả là vì mẹ đẻ ra tôi yếu lắm rồi. Cụ đã bảy mươi lăm tuổi, lại phù nề mặt mũi vàng ủng như quả thị rụng. Ai cũng bảo khó qua cái đầu mùa Đông này. Vì vậy gia đình tôi đã lo chuẩn bị ngầm, phòng sau khi cụ về cõi. Cái gì vợ tôi cũng bảo dành để hôm sau bà...thành quen miệng. Cau cũng phơi kỹ bỏ be để hôm sau, thậm chí bọt bẹt được đồng rau nào cũng dồn mua ván đóng sẵn áo quan để hôm sau... Ấy nhưng nói đến cái chết, cụ lại giận và làm nau:
Bay trông tao chết à? Tao phải sống để nhìn con cháu được đến lúc sung sướng chứ. Khổ mãi rồi.
Tôi hỏi Hoa để lấp láp câu hớ rồi cho bà cụ khỏi giận:
- Mua đồ nhậu làm gì tối thế này?
- À... mua cho mấy thằng về đội ta thu sản, khuya các hắn đớp. Đội và quản trị thuê khoán cháu nấu.
Vì có chồng ở ban quản trị, cô ấy cũng là loại biết nhiều chuyện "bí mật nội bộ". Hoa thì thò cho vợ tôi biết đêm nay là đêm "đồng khởi" thu sản, tổng vét cả xã. Họ sẽ đổi chéo, công an và dân quân đội này về đội kia, vét bằng hết. Vì đội 12 này là nặng gánh nhất, nên họ sẽ điều về đây những tay cứng cựa. Hoa khuyên:
- Bác có thiếu sản, thì liệu mà xoay đi
- Thế thì tao đét bán rau cho mi nữa.
Vợ tôi toan từ chối, nhưng Hoa nài mãi và có tôi nói vào nên chị chàng mới chịu nghe. Hoa cầm đèn ra vườn soi cho vợ tôi hái. Cô ấy cầm rau, rồi còn đi các nhà bên cạnh hỏi mua gà. Cơm cạn, tôi vần cạnh bếp. Vì không phải ghế độn khoai độn sắn gì nên chín rất mau. Thấy chỉ nấu mình cơm tôi, lòng tôi lại buồn nổi gai. Vợ tôi bế thằng út vào lót cho nó ngủ trong buồng, rồi lấy cho tôi cái bát, đôi đũa. Cuộc chào mời đùn đẩy, nhường nhịn nhau rõ bực.Tôi lùa hai bát cơm với nước dưa chua, rồi bỏ đấy. Bà cụ nài, rồi tôi dỗ thằng Thức cũng lắc đầu không dám ăn chỗ cơm còn lại. Hắn sợ mẹ. Nhà này, mẹ chúng nó có quyền uy tối thượng. Biết vậy, nhưng tôi cũng sắp trở thành kẻ sống nhờ...
Ngồi ở bếp, tôi hỏi vợ:
- Nhà mình còn thiếu của hợp tác xã bao nhiêu thóc nữa em?Cô ấy không trả lời tôi mà nói rất vô lễ:
- Có biết thế này, đái tòe tòe vào, chứ tội gì lôi về. Cha đời! Bữa trước thì tuyên bố vớt được nấy ăn nấy, người ta mới hụp lặn xuống nước lụt mà khở (gở) từng bông lúa. Nay lại giở trò giảm tỷ lệ!
Tôi vỗ về:
- Thôi! Lụt thì lụt cả làng, em ạ! Em nói xem, so với tổng sản phải nộp, nhà ta thiếu bao nhiêu?
- Một tạ mười hai cân, em đã trình bày với anh Nhà đội trưởng rồi. Thực tế mò được hạt nào đã ăn hết hạt nấy. Mấy lâu nay bán được đồng rau nào mua ăn, không bán được thì nhịn. Đã nói khất rồi. Không cho khất, thì nhà đấy có dỡ được, đến mà dỡ.
- Phải mềm mỏng, em ạ! Khéo bán khéo mua thua người khéo nói! Gia đình mình, con cái mình còn ăn đời ở kiếp nơi đây.
Vợ tôi rền rĩ như sắp khóc:
- Chả nhẽ kiếm liều thuốc chuột, cho vào nồi cháo, ăn hết cả nhà cho sướng cái đời...
Ngồi sưởi ở bếp rất lâu, vỏ cao su cháy tàn, đã vạc hai ba đống than, mà chẳng ai muốn nói với ai câu nào nữa. Bà cụ ngồi lâu, mỏi và chán chuyện bỏ đi nằm. Thằng Học làm toán xong, lấy cho bà nồi than, rồi cũng rúc xuống bếp. Hắn đi bốc rơm lót ổ ngay cạnh bếp, lấy ván chắn rồi trải chiếu, ôm chăn ra nằm.
- Ngủ đây mà ấm, bố ạ!Trong giường thằng Út Văn khóc í óe. Hắn lại đái lạnh đít rồi. Mẹ nó vào quả không sai. Nó được ôm ra bếp sưởi, nằm gọn trong lòng mẹ. Gần một tuổi mà nó còn bắt nhá cơm bón và bú thì hơn con bê non. Lại nhai tòm tọp thế đó! Tôi đùa với con để nó cười sằng sặc cho dịu cơn lo buồn.
Gần mười hai giờ khuya, cả nhà đi nằm. Tôi ngủ với hai thằng oắt trong ổ rơm dưới bếp.Có điều gì đó bồn chồn và nơm nớp...
Bỗng tiếng kẻng gõ giục giã liên hồi. Kẻng khắp xã: từ đội 1 đến đội 15, như một sự bùng nổ dây chuyền. Tiếng loa phóng thanh mở hết cỡ đọc bản tin, kế hoạch huy động lương thực của tỉnh và chỉ thị của tỉnh ủy về công tác lương thực. Hoàng Văn Nhân, đội trưởng đội 12, đọc trên loa danh sách những nhà thiếu thóc chưa giao nộp cho hợp tác xã. Đèn đóm soi rừng rực ở các ngã đường. Chó sủa ơi là chó sủa. Cũng cái loa phóng thanh ấy, có tiếng ông chủ tịch xã gọi cán bộ về đội 12 hội ý. Ông trưởng công an xã Nguyễn Đình Định gào rát cổ trên loa, giọng giật giội gọi lực lượng dân quân, công an tăng cường về chi viện cho đội 12, tạo đà cho đội hoàn thành chỉ tiêu huy động. Tôi rùng mình nghĩ đội tôi là đội trọng điểm, nên cán bộ xã, hợp tác xã, vón cục cả về đây. Họ sẽ gõ cho ra chục tấn thóc còn tồn sổ.
Gần một giờ sáng, công an, dân quân đã ập đến các nhà nợ thóc. Tiếng chó sủa vang, tiếng lợn kêu èng ẹch như bị chọc tiết ở các nhà gần quanh, làm thằng Út Văn khóc thét lên, ôm riết lấy mẹ. Thằng Thức cũng im thin thít, nằm co trong lòng tôi không dám cựa. Bên nhà ông Ái, láng giềng cách vườn nhà tôi một hàng rào, công an và dân quân đang lùng sục. Tiếng ông bà Ái kêu xin và tiếng quát lác, tôi nghe rõ mồn một.
- Cứ bắt lấy cái xe đạp! Phích, xô, bắt ráo!
Ở cổng nhà tôi đã có bước chân rình rịch, con chó mực đang có chửa bị quất, kêu ử ử.
Cạch cạch cạch.
- Chị cò Lộc, mở cửa ra!
Tiếng thằng bé trong buồng khóc thét. Thằng Thức đang ôm tôi, nghe em khóc cũng òa khóc toáng lên. Thằng Học mười hai tuổi đã học lớp tám rồi, mà cũng níu lưng tôi run bắn. Nghe tiếng quát lần thứ hai, từ nhà bếp, tôi chạy lên. Một luồng đèn pin soi giữa mặt làm tôi lóa mắt, phải lấy tay che.
- Có chuyện gì đấy, các bạn trẻ ơi?
- Thu thóc, thu thóc chứ còn gì, ông đừng hỏi vờ.
Vợ tôi đã mở toang cửa, tay ôm thằng bé ngất lịm. Một anh, hai anh... bốn anh bạn trẻ ùa vào nhà. Anh đi đầu cao to, tóc cắt tăng gô, mặc áo bông thùng thình, soi đèn pin rồi đánh diêm châm cái đèn hoa kỳ ở bàn thờ. Có lẽ Tâm "hộ pháp" là người này. Phải, tôi đã thấy anh ta đứng chân hộ vệ giữa, trong một cuộc đá bóng với xã khác. Tay anh cầm cái choòng sắt cỡ ngón tay cái. Vợ tôi mời họ ngồi ghế. Bà cụ đang ốm ở giường bên cũng cố ngóc dậy, run rẩy chào.
Theo danh sách đội báo, chị còn thiếu hơn tạ thóc. Yêu cầu chị đem nộp ngay!
Bà cụ tôi đáp thay con dâu:
- Các bác các anh ơi! Có còn cái gì mà nộp. Các anh và các bác không thấy đàn con hắn đói xanh đói trong đi à? Các bác không thấy tôi cũng phát phù phát nề, vàng cây úa lá đây à?
- Chúng tôi không hỏi mụ nghe chưa?Cả bốn người cùng soi đèn pin khắp nhà trong, nhà ngoài, dưới bếp, bên chái. Hai người tuông soi cả trong vườn rau. Vợ tôi mếu máo:
- Làm gì có lúa để ngoài ấy. Các anh xéo nát cả rau.
Tôi chạy ra trụ sở đội, định tìm cán bộ trình bày. Chủ tịch Phê, bạn dạy học với tôi ngày trước, đi bộ đội về giải nghệ, vào cấp ủy, đang đứng đấy. Thấy thế tôi mừng quýnh. Lại thấy cả Phùng Gia Miện anh họ tôi, làm bí thư đảng ủy cũng có mặt, tôi càng yên trí. Nhưng thấy tôi họ quay đi lảng tránh.
Anh Miện bảo nhỏ tôi:
- Chú về động viên gia đình thanh toán bằng đủ, nhà mình là cán bộ. Không có thóc thì nộp bằng tiền. Lãnh đạo đã nhất trí cho nộp cả bằng tiền rồi đó.
Tôi đang định nói: "Đã không có thóc thì làm cóc gì có tiền", nhưng anh họ tôi đã dịu giọng:
- Ở đội trên, hắn bắt cả anh Thiện, anh ruột tôi, mà tôi cũng phải điếc đi..."Mất mùa màng, lợi ích thứ ba của người lao động phải hy sinh cho lợi ích của nhà nước". Đồng chí bí thư tỉnh ủy đã chỉ thị thế, chú biết rồi đó.Lúc ấy ở trụ sở, công an, dân quân đã khuân về nào xe đạp, bàn ghế, tủ, chum vại, thùng tôn, lợn gà... để ngổn ngang ra tận ngõ. Tên chủ nhà thiếu thóc đề chữ bằng phấn trắng vào các đồ vật: Ông Ất, ông Do Khả, ông Hưng, ông Hồng, ông Khính (mẹ đẻ cô Hoa, mẹ vợ chú Được phó chủ nhiệm)... Mấy con bò bị bắt cột gần đó sợ đèn, sợ đám đông cứ lồng lên, chực bút mũi. Chúng xoay vòng quanh, mgửa lên mặt kêu "hấp bồ", "hấp bồ"...
Tôi loạng choạng đi về nhà, thấy người ta đang còn soi đèn tìm rất kỹ. Tôi nói:
- Các người anh em soi tìm gì cho mất công. Nhà tôi xin khất đến mai, tìm cái bán chác, nộp tiền bằng đủ.Anh đầu tốp nháy nháy mắt ra hiệu.
- Đêm nay là đêm nay! Mai chúng tôi mất thưởng ai chịu cho?
- Bắt cái xe đạp ni, bay!Hai ba anh chạy lại. Tôi từ tốn ngăn họ:
- Các đàn anh ơi! Tôi không làm ruộng sản mà. Đây là xe đạp nhà nước cấp cho tôi để tôi đi công tác. Các vị bắt cái này không được đâu.
- Nếu chúng tôi cứ bắt thì sao?Tôi loáng nghĩ được một mẹo. Rút cái "thẻ hội viên Hội văn nghệ tỉnh" ra, tôi nói:
- Tôi phản đối! Tôi là "nhà báo"! Tôi sẽ kiện lên tận ông Đồng.
Nước cờ của tôi không ngờ lại có hiệu quả. Họ im lặng. Hẳn họ đã biết tên tôi dưới những bài đăng nào chăng.
Chợt vị "hộ pháp" nhìn chằm chằm vào cỗ quan tài để dưới gầm bàn thờ, rồi đi lại, vừa gõ vừa hỏi:
- Cái gì trong này, chị Lộc?
Im lặng...
- Cái gì trong này, chị nói mau?
Vợ tôi ấp úng. Tôi muốn tắc thở.
- Có cái gì đâu...
Mấy vị hăm hở lại, đạp lật nghiêng một cái. Nắp văn thiên bung ra, lúa chảy rào rào. Cả toán reo lên như một hiệp đào vàng trúng vỉa:
- A! Lúa! A lúa! Lúa! Anh em ơi. Ghê thật! Thế mà giả nghèo giả khổ.
Mẹ tôi chống gậy vái dài:
- Van các anh! Cắn rơm cắn cỏ tôi lạy các anh! Lúa của tôi. Đó là tạ lúa hai đứa con gái hắn mua góp lại cho, để hôm sau tôi chết, bà con thương mà chạy đến để ăn lưng cơm sốt.Thực ra là của hai bà chị trong đó mỗi người có mười cân thôi. Ba mươi chín cân tiêu chuẩn hai tháng vừa qua tôi lấy về, còn lại là hơn bốn mươi cân, vợ tôi đong để dành "hôm sau" cho bà.
Bà cụ nói như rên rẩm:
- Đã bảo xay phứa đi cho con nó ăn không nghe. Cứ bóp mồm bóp miệng, để dành làm chi. Sống chả thấy đâu nữa là!
Một tay râu tóc lồm xồm hỏi:
- Chị có gánh đi hay không thì bảo?
Một tay khác tôi hơi quen mặt, đến trước vợ tôi lạy lia lịa:
- Thôi em xin bà chị. Em đi làm ở đây thế này, nhưng lại có bọn khác đến chỗ em làm ác y hệt. Nhà em cũng thiếu mà. Chị không gánh, để cánh này bê cả hòm ra, chị phải chịu hai chục công là ít, chưa nói phạt tiền.
Họ xúm vào khiêng bàn thờ ra, để lôi hòm lúa. Bất đồ hai thằng Học và Thức từ bếp tuôn lên, ôm lấy tay chân chư vị, van rối rít.
- Cháu van các chú! Các chú đừng lấy lúa này đi. Lâu nay các cháu phải nhịn để dành bữa sau cúng cỗ bà, làm ma bà!
- Buông ra đi! Ô hay, đồ con nít!
Bà cụ loạng choạng đi lại, giơ gậy cản:
- Các ông không thương trẻ, thì các ông thương lấy thân già, để lấy phúc đức cho con cháu.
Vì họ đá vấp gậy, lại yếu như con căng cắc lột, bà cụ ngã chỏng queo như chiếc ghế đổ.
- Ối Đảng ôi là Đảng ôi! Chính phủ ôi... Trông xuống mà coi...
Tôi xốc mẹ lên giường, bịt mồm cụ lại:
- Mẹ! Mẹ không được la như thế! Đây không phải Đảng! Đảng ta không làm thế. Đảng không chủ trương thế này!
Tôi nói vậy và ngoặp hai hàm răng vào cổ tay mình để kìm giữ cái gì cứ chực tung ra. Hai vợ chồng xúc hết lúa ra thúng bì. Dặn thằng Học trông em, ngó bà, tôi cùng vợ hì hục gánh thóc ra trụ sở nộp...
Đoạn cuối này tôi dành cho anh Quang.
Lê Trung Quang ơi! Anh có thể giấu cái bi kịch của gia đình anh, nhưng tôi không còn có thể che giấu nỗi đau của nhân dân bất hạnh. Dù sự tiết lộ này có làm mất cái chức huyện ủy viên của anh, thì tôi cũng thấy cứ phải nói ra. Chuyện thật của nhà anh đây: lúa vay ăn còn nợ bảy tạ, con Lâm, thằng Sơn phải đi mò hến từng bữa, chị ấy nấu bánh đúc đi các làng đổi lúa. Anh mà nói ra, người ta cho là anh bêu riếu. Việc thật ở nhà tôi đêm 26 tháng 11 năm 1983, người ngoài cuộc hẳn cho là mình bịa. Cho đến nay, mỗi khi nghĩ đến, tôi cứ thảng thốt hỏi mình: "Cái đêm hôm ấy... đêm gì?"

Phùng Gia Lộc - Cuối năm 1987

MAI THẢO * NGƯỜI ĐIÊN DƯỚI CHÂN SƯỜN ĐỒI



            Người điên dưới chân sườn Tam Đảo

Thế là, giữa một buổi sáng Sài Gòn rực rỡ, tin dữ mà gia đình tôi chờ đợi thấp thỏm suốt mười năm ở bên này vĩ tuyến, đã từ bên kia vĩ tuyến mười bảy bay sang. Bà ngoại tôi, người cuối cùng của dòng họ Nguyễn còn ở lại miền Bắc đã tạ thế.

Hung tin thu gom trong mấy dòng bưu thiếp lời lẽ mơ hồ, ngày giờ và chi tiết cái chết nghìn trùng cách trở không được nói đến tường tận, nhưng tôi, tôi biết bà ngoại đã nằm xuống ở đâu, cặp mắt nhân hậu một đời nhỏ lệ xót thương kẻ khác ấy đã khép lại dưới vòm trời nào, thước đất nào đã được bà lựa chọn gửi nắm xương tàn của một tuổi già cô độc.

Thửa ruộng nhỏ nằm dưới chân một sườn đồi trọc. Đất đỏ rờ rỡ màu máu. Thửa ruộng có một thân cây lớn nghiêng bóng, kế liền với một con đường sỏi đá và cỏ bồng hoang vu, trên đầu là những đám mây trung du và đám mây của một vòm trời trung du trắng xốp như bông nõn ấy nổi chìm ở bên này và bên kia một vùng rậm rì xanh đặc là hai sườn Tam Đảo.

Từ đỉnh núi, đổ xuống một ngọn thác trắng phau nhìn xa như một sợi chỉ bạc. Từ cuối con đường hoang, vang lên tiếng vó ngựa lộc cộc về chiều. Từ những xóm xa lọt vọng vào thị xã tiếng chầy giã gạo ba trăng. Tự miền cao phả về cái hơi thở âm u của núi rừng Việt Bắc. Tự miền dưới thổi lên cái hương thơm đầm ấm của lúa mạ đồng bằng. Người ta khiêng quan tài bà từ căn nhà rêu phong cổ cũ đi ra, cách hàng nghìn cây số tôi cũng hình dung thấy rõ ràng như vậy, đám táng kéo dài trên con đường lả lay cỏ bồng, chiếc quan tài in lên nền trời Tam Đảo, và nó được hạ huyệt trong thửa ruộng đó, không thể trên một thức đất nghĩa địa nào khác. Bởi vì bà tôi, nếu đã ở lại, nếu đã chối từ vượt tuyến cũng chỉ để được nằm xuống bên cạnh đứa con xấu số của bà là bác Cả Đoàn. Bác Cả được chôn ở thửa ruộng ấy, mấy giờ sau khi bác chết, cái thân thể trần truồng lỗ chỗ vừa đúng 17 vết đạn liên thanh.


*


Câu chuyện xảy ra cách đây đã mười lăm năm. Nhưng thảm kịch của người bác điên loạn, còn xảy ra lâu hơn nữa về trước, từ khi tôi còn nhỏ dại. Tôi kể lại dưới đây. Vì cái chết của người bác điên rồ là một trong những hiện tượng lạ lùng không bao giờ tôi giải thích được.

Mãi mãi tôi còn nhớ tới những chuyến về thăm quê ngoại đó, chuyến xe hàng cũ kỹ nổ máy từ tối đất nơi chân sóng rì rào của một xóm đạo vùng biển ỳ ạch chuyển mình trên những con đường liên tỉnh trải đá xanh hun hút. Những dốc đò rồi những bến phà. Dưới vành trời hắt hiu của mùa đông miền Bắc, chiếc xe cũ kiên nhẫn nuốt dần từng cây số trắng, thả lùi những xóm làng chài lưới về sau, tiến dần vào một vùng rừng núi cằn cỗi. Ngọn Tam Đảo hiện ra trong sương chiều, đỉnh núi chìm nhòe trong lớp mây xám loãng như một chiếc khăn choàng đánh đai lấy nó. Rồi là niềm vui náo nức tràn trề trong gió rừng đổ xuống khi chiếc xe trườn vào thị xã Vĩnh Yên le lói ánh đèn. Chiếc xe kéo thả mẹ con tôi xuống một căn nhà cuối tỉnh lỵ.

Cha tôi đánh điện tín từ hôm trước. Và bà tôi ngồi đó, trước thềm cửa, chờ đón chúng tôi. Bà chít khăn mỏ quạ, mặc áo bông ngắn. Mỗi năm bà mỗi già, nhưng ánh vui mừng cảm động của đôi mắt vẫn ngời lên, lấp lánh, khi tôi tự xe nhảy cẫng xuống, và mặc mẹ tôi quát mắng không được lôi bà như thế, tôi kéo bà sềnh sệch vào nhà. Bữa cơm, tôi ngồi chồm chỗm trên lòng bà, vòi quấy đủ thứ. Bà nấu chè và làm mứt dừa ngon vô cùng. Chè bà cốt, màu mật đặc quánh, mùi gừng thơm cay phảng phất trong mùi hương gạo nếp bùi ngậy. Dừa mật Vĩnh Yên nổi tiếng miền Bắc, bà nấu thành một thứ mứt dẻo quyện, trong suốt, đỏ thắm, đựng đầy trong một vò thủy tinh lớn. Những ngày về thăm bà ngoại, dạ dày tôi căng phình, đuôi mép lúc nào cũng nhuếch nhoáng màu đường màu mật. Vui thú không bút nào tả xiết. Thức dậy sau một đêm ngủ vùi vì chuyến đi mệt nhọc, buổi sáng tôi chạy ra đầu nhà, và cặp mắt của đứa nhỏ chỉ quen nhìn bãi cát và sóng biển trong tôi đã ngó nhìn đến độ bàng hoàng ngây ngất ngọn Tam Đảo hiện hình chất ngất trong buổi sáng trung du yên tĩnh, ngọn núi đứng đó, sừng sững trước mắt như một hình ảnh thần linh hoang đường, với cả một thế giới kỳ lạ, bí mật của nó ẩn kín ở sườn núi bên kia.


*


Chính là một trong những chuyến về Vĩnh Yên thăm ông bà ngoại mà tôi biết đến sự hiện hữu của bác Cả Đoàn. Lần thứ nhất ngó thấy bác, tôi đứng đờ người, mặt tái nhợt vì khiếp hãi. Đang nhảy nhót chung quanh cái bể non bộ ở khoảng sân sau, tiếng gõ loong coong làm nhịp cho một giọng hát ê a lạ tai ở căn buồng sát hông nhà bếp làm tôi ngừng nhảy, tò mò tiến lại.

Qua khung cửa khép hờ, tôi nhìn thấy một người đàn ông. Râu ria và đầu tóc người ấy xồm xoàm như một con thú. Người ấy khoác một tấm bao bố trên vai, đóng khố ngồi khoanh chân trên nền đất nhớp nhúa của căn buồng không có đồ đạc gì ngoài một tấm phản mộc. Hai chân người ấy bị xích chặt. Cái xích quấn nhiều vòng chung quanh mắt cá, đầu xích cột chặt vào một cái cọc gỗ chôn nghiêng.

Cảnh tượng người đàn ông gần như lõa thể bị cùm xích đột ngột hiện ra làm tôi rợn người, nín thở, trái tim đậm thình thình trong lồng ngực. Người đàn ông chưa nhìn thấy tôi. Hắn vẫn ngồi nguyên trong dáng điệu cũ, mắt nhắm nghiền, hai tay cầm hai mảnh que nhỏ loong coong lên đít một cái ống bơ sữa bò lật úp, miệng ê a như một thầy bùa đang tụng niệm.

Hắn cứ ê a và cứ nhắm nghiền mắt mà gõ loong coong không ngừng trên nắp ống bơ như thế một hồi lâu, thần trí như đắm chìm hoàn toàn vào một thế giới mơ hồ nào đó. Tôi tròn xoe mắt, nhìn ngắm không chớp. Tôi không biết người đàn ông cởi trần bị xích chân và đang ê a hát nhảm ấy là ai. Tại sao hắn ở trong nhà bà ngoại tôi? Tại sao hắn bị cùm xích như thế? Ông tôi, bà tôi, mẹ tôi, không một ai nói chuyện cho tôi về hắn, về sự hiện hữu của hắn trong căn nhà này, dù chỉ một lần.

Bỗng dưng, một tiếng động làm người đàn ông bừng tỉnh. Hắn mở choàng mắt, ngừng hát ngừng gõ. Thấy tôi đứng đó, hắn trợn mắt nhìn rồi thình lình hắn chỉ thẳng chiếc que vào mặt tôi, và cười nhe hàm răng trắng ởn. Tôi chỉ kịp rú lên khiếp hãi rồi quay đầu, cắm cổ chạy bay lên nhà trên.

Tôi còn nhớ khi tôi vừa thở vừa kể chuyện cho bà tôi về người đàn ông nhìn thấy dưới căn buồng hông bếp, bà tôi và mẹ tôi đã đưa mắt nhìn nhau, cái nhìn trao đổi ấy cực kỳ buồn rầu và chua xót.

Tôi níu áo bà, hỏi dồn:

“Ai thế, bà ngoại?”

Mẹ tôi trừng mắt mắng át:

“Trẻ con biết gì mà hỏi. Cấm mày không được xuống đó nữa, nghe không?”

Thấy tôi phụng phịu sắp khóc, bà ngoại kéo tôi vào lòng, vuốt tóc. Bà nói, giọng nghẹn ngào nước mắt lưng tròng:

“Cháu nó biết gì mà mắng nó! Bác Cả Đoàn đấy cháu ạ! Mẹ bảo cháu phải nghe, cháu đừng lảng vảng xuống gần chỗ bác Cả nữa nhé!”

“Tại sao thế bà ngoại?”

Bà tôi ngập ngừng nói:

“Vì bác ấy điên”.

Mãi mấy năm về sau, khi lớn khôn hơn, tôi mới được mẹ tôi nói chuyện về bác Cả Đoàn. Bác là con trưởng và là người con trai độc nhất của ông bà tôi. Theo lời mẹ tôi thuật lại, bác thông minh và hiền từ vô cùng. Ông bà tôi cho bác ra Hà Nội học, đến khi đỗ bằng cao đẳng tiểu học, bác Cả ở luôn ngoài Hà Nội, làm thư ký cho một hãng buôn lớn, thỉnh thoảng mới về Vĩnh Yên thăm ông bà tôi, thường thường là vào cuối mùa gặt để làm giúp ông tôi sổ sách về thóc lúa thu hoạch được. Gia sản của ông tôi ước chừng vài ba chục mẫu ruộng ở các miền kế cận thị xã, những thửa ruộng nằm rải rác trong những thung lũng, những chân đồi trước mặt ngọn Tam Đảo. Đường sá miền trung du gập ghềnh núi đồi cheo leo, đó chỉ là một hệ thống thiên nhiên của những lối mòn đổ xuống thung này vắt qua lũng khác, xe cộ không thể đi tới, nên mỗi lần đi thăm ruộng ông tôi vẫn phải dùng ngựa. Ông tôi có một con ngựa hồng, khi nào không cưỡi vẫn thả rông cho ăn cỏ ở khoảng đồi thấp sau nhà.

Năm đó – năm xảy ra bất hạnh – bác Cả từ Hà Nội về giữa lúc ông tôi bị đau nặng. Thế là bác Cả sáng sáng cưỡi ngựa đi thăm ruộng thay cha. Buổi sáng hôm đó, bác cũng cưỡi ngựa phóng nước kiệu ra khỏi nhà đi thăm mấy thửa ruộng gặt dở trong thung như thường lệ.

Đến nơi, bác thả ngựa cho ăn cỏ ở một bóng cây, chạy xuống chuyện trò vui vẻ với đám thợ gặt. Sự tình cờ tai hại là thửa ruộng ấy sát liền với thửa ruộng của một điền chủ khác, người này hôm ấy cũng cưỡi ngựa đến thăm ruộng mình và cũng thả ngựa cho ăn cỏ dưới cùng một bóng cây. Một lát sau, những tiếng hí vang lên. Tiếng móng đập loạn xạ. Hai con ngựa đá nhau dữ dội. Hoặc là bác Cả không biết khi hai con ngựa đá nhau như thế là cực kỳ nguy hiểm, hoặc là bác sợ con ngựa của ông bị thương – không biết – chỉ biết bác chạy lao tới, kéo con ngựa của ông tôi ra, và liền bị nó đá hậu một đá trúng giữa khoảng bụng dưới. Bác thét lên một tiếng đau đớn rồi ngã vật xuống, ngất đi.

Khi đám thợ gặt khiêng bác về nhà, ai cũng tưởng bác bị ngựa đá chết. Rờ tim, còn đập thoi thóp, nhưng bác vẫn mê man không hồi tỉnh lại được. Bà ngoại tôi cuống cuồng, kêu thóc thảm thiết. Phương kế nào cũng không làm bác tỉnh lại. Cho đến khi một người hàng xóm mách bà tôi cho bác uống mật gấu. Chất mật gấu có một tác dụng kích thích cực kỳ mãnh liệt. Chỉ mười lăm phút sau, bác Cả cựa mình và mở mắt.

Có điều là thương con quá độ, muốn cứu con mau chóng, bà tôi đã đổ vào miệng bác quá nhiều mật gấu. Sau tai nạn, bác khỏe mạnh như người thường. Nhưng một năm sau, chất mật gấu bắt đầu phá phách cơ thể và thần trí: bác Cả Đoàn phát điên. Bà tôi đau đớn ra tận Hà Nội đón đứa con điên loại về Vĩnh Yên, nhất định không chịu để người ta đưa bác vào nhà thương Vôi, là nhà thương người điên ở miền Bắc thời bấy giờ.

Sự buồn thảm như một đám mây đen tối đổ dồn vào mái nhà êm ấm, biến nó thành địa ngục và nhà mồ. Ông tôi giết con ngựa phản chủ, suốt ngày ngồi lặng lẽ trên góc phản, khuôn mặt u uất rắn lạnh như chưa thôi đau đớn trước một thất đức tiền kiếp nào đó, bây giờ hiện thân thành trừng phạt mà người phải gánh chịu qua chứng điên loạn của người con. Bà tôi thì cả ngày vật vã khóc lóc. Nhà có người điên nên bạn bè thân thuộc cũng xa lánh dần dần. Sự thật là ông tôi đóng kín cửa không chịu tiếp ai, trong nỗi đau âm thầm có pha lẫn một niềm tủi hổ mà sống người để bụng, chết người mang theo, vĩnh viễn không bao giờ xóa bỏ được.

Căn nhà chứa lúa dưới hông bếp không dùng làm gì nữa – ông tôi đã bán rẻ hết ruộng đất sau tai họa – biến thành cái thế giới lưu đầy bé nhỏ cho bác Cả sống với những hình ảnh quái dị nhảy múa trước mắt, nơi sự tỉnh táo sáng suốt chỉ còn là những vùng thư thái thu hẹp như những giọt nắng thoi thóp cuối cùng của một vòm trời bão giông. Căn bệnh không thuyên giảm, ngày một trầm trọng thêm mãi cho đến khi mọi phương sách cứu chữa tuyệt vọng đều uổng công.

Mấy tháng đầu, cơn điên chập chờn trong một trạng thái mất trí hiền lành. Bác Cả cười khóc rồi lăn ra ngủ. Bác ngủ suốt ngày suốt đêm, đầu ghếch lên một góc tường, tay chân co quắp, như một con chó ốm. Sau, chứng bệnh nặng dần. Cái thế giới bệnh hoạn ngột ngạt nung nấu biến con vật hiền lành thiêm thiếp thành một con thú dữ tợn, mỗi lần nổi cơn là một lần đập phá gào thét khủng khiếp. Tóc bạc mọc dài ra, râu ria xồm xoàm. Rớt rãi sùi trắng hai bên mép. Con mắt trợn trừng đỏ rực màu máu. Đêm đêm tiếng gầm rú của người điên vang động khắp khu phố, như lan xa tới vách Tam Đảo và vang trở lại, gợi trong nó cái âm thanh rùng rợn của một con hổ vằn tử thương tru rống từ một đáy rừng sương.

Một buổi chiều nóng nực, bác Cả phát cơn điên đã chạy lên nhà đập phá loạn xạ. Rồi vớ được một gióng cửa gỗ lim, bác thẳng cánh quất xuống đầu ông tôi máu chảy lênh láng. Từ đó, mặc dù bà tôi phản đối, ông tôi cho xích bác lại. Người điên khỏe lạ lùng. Cái dây xích lớn thế, cái cọc đóng sâu vào nền đất như thế mà nhiều lần bác thét rồi vươn tay nhổ phăng cọc, cứ trần truồng ôm xích mà chạy túa ra đường. Bác vừa chạy vừa hò hét, cứ nhắm hướng Tam Đảo tiến vào. Phải hàng chục người trai tráng trong phố mới chế ngự được bác sau một cuộc vật lộn dữ dội.

Người độc nhất mà bác còn nể sợ là bà tôi. Đang gào thét, chửi rủa, đập phá, chỉ cần bà tôi đến ngó bác bằng cái nhìn đẫm lệ và dịu dàng nói: “Cả, làm gì thế con?” là bác im ngay, bác từ từ ngồi xuống, cái nhìn nem nép cúi gằm như một đứa nhỏ phạm tội. Tình thương đó của bà tôi là dòng ánh sáng duy nhất còn chiếu soi được vào vùng tối đặc mê mẩn, là trận mưa duy nhất còn đổ xuống và thấm lắng được vào thần trí bác như một vùng đất đai khô cằn, làm nở lên những bông hoa. Nhưng tình thương đó chỉ là một liều thuốc an thần chốc lát. Căn buồng chứa thóc ngày trước ở hông bếp là một địa ngục vĩnh viễn giam cầm bác Cả tôi trong cái thế giới cô độc của kẻ mất trí, cái thế giới rùng rợn của người điên.


*


Từ ngày biết rõ chuyện bác Cả như thế, tôi vẫn được mẹ tôi hằng năm cho về thăm bà ngoại. Tôi sợ, nên chỉ quanh quẩn trên nhà, đôi khi lảng vảng xuống khoảng sân sau cũng chỉ dám đứng ngó bác thấp thoáng trong căn buồng mờ tối từ xa. Cho đến khi cuộc chiến tranh đột ngột bùng nổ, cắt đứt đường về thăm quê ngoại. Hai năm trôi qua như thế, rồi là một tin buồn từ ngọn Tam Đảo vượt qua nghìn trùng cách trở xuống với gia đình tôi ở dưới biển: ông ngoại tôi tạ thế. Mẹ tôi khóc ngất, thương cha chết một phần, thương người mẹ già một thân một mình lủi thủi kéo lê cái tuổi già buồn thảm dưới bóng núi xa đến mười phần.

Tôi còn nhớ năm đó là một mùa đông cực kỳ buốt lạnh. Sau một đêm bàn bạc, cha tôi bằng lòng để mẹ tôi tìm đường lên Vĩnh Yên đón bà ngoại xuống ở với gia đình tôi. Mọi đường giao thông trên bộ đã bị gián đoạn hết, phải chuyển vận bằng thuyền. Vì chuyến đi nguy hiểm gian lao, tôi phải năn nỉ vòi vĩnh mãi mới được mẹ tôi cho phép đi theo. Ngày đi đêm nghỉ, chiếc thuyền nan ngược dòng, vượt nhánh sông này tới nhánh sông khác, len lỏi qua các mặt trận, tránh xa những vùng súng đạn, ròng rã đúng vào nửa tháng mới tới được cái bến đá hẻo lánh dưới chân ngọn Tam Đảo.

Bấy giờ, từ mạn cầu Đuống tràn ngược lên qua Hương Canh, Phúc Yên, cánh quân mở đường của Pháp đã tiến dần đến thị xã. Chúng tôi đặt chân vào căn nhà rêu phong cổ cũ đúng ngày bà ngoại tôi đang sửa soạn tản cư vào núi. Đứa trẻ đã lớn, đã biết nhận xét ở tôi, chuyến cuối cùng về thăm quê ngoại đó, thu vào tầm mắt nó những hình ảnh cực kỳ buồn thảm. Bà tôi đã già, già lắm. Bà vẫn đội cái khăn mỏ quạ, mặc cái áo bông ngắn như cũ, nhưng ánh lửa nhân hậu sưởi ấm những tháng ngày thơ dại của tôi đã tắt trong cặp mắt nhòe mờ, khuôn mặt tươi cười thuở nào chỉ còn là một vùng héo hon đầy những nếp nhăn, in hằn những đường rãnh nước mắt không thôi chảy ròng từ ngày đứa con trai độc nhất bị ngựa đá thành điên. Cùng với tiếng súng của một thời loạn lạc ầm ĩ dội tới từ đầu thị xã, buổi tối mùa đông dầy đặc khí núi thổi lùa từng đợt lạnh căm căm vào căn nhà le lói ánh đèn, nơi mẹ tôi và bà tôi ngồi thao thức bên đống hành lý gói buộc sẵn sàng trong đêm dài kinh hoàng, chờ buổi sáng tới để chạy ẩn vào hang núi. Những tiếng thở dài não nuột phát ra từ hai cái bóng âm thầm. Bỗng mẹ tôi hỏi:

“Còn bác Cả”.

“Mẹ cũng chưa biết tính sao đây, bà ngoại vừa khóc vừa nói. Nó điên loạn như thế cùm xích bao nhiêu năm rồi, bây giờ tháo xích đưa nó đi theo, biết nó chịu đi không? Nó nổi cơn lên thì làm thế nào chứ! Mà để nó ở lại thì thà mẹ ở lại đây cho lính Tây nó bắn chết còn hơn”.

“Hồi này bệnh tình anh con ra sao? Mẹ tôi hỏi”.

Bà tôi gạt nước mắt nhìn xuống phía nhà bếp:

“Mỗi ngày một nặng thêm. Trước nó còn chịu nghe mẹ, bây giờ mê loạn hoàn toàn rồi, bảo gì cũng không chịu nghe nữa”.

Tôi cứ nằm nghe tiếng đại bác ầm ì và tiếng nói chuyện rì rầm như thế rồi ngủ đi trên gối bà lúc nào không hay. Khi mẹ tôi lay vai đánh thức dậy, trời đã tảng sáng. Tiếng súng lớn vọng tới trong đêm giờ đã biến thành tiếng liên thanh tặc tặc réo réo từng hồi, thật gần, rõ mồn một, tưởng như đã nghe thấy tiếng giầy đinh, tiếng sì sồ của quân Pháp ở ngay đầu phố.

Mẹ tôi và bà đeo khăn gói lên vai hấp tấp đi xuống căn buồng bên hông nhà bếp. Phút quyết liệt đã tới. Bà tôi mở cánh cửa gỗ, mẹ tôi rón rén đi theo, cùng tiến vào chỗ bác Cả Đoàn nằm. Tôi nín thở, đứng nép sau lưng bà. Cái bao bố rách tơi tả phủ lên một thân hình gầy đét đến xương, bác Cả nằm nghiêng, quay mặt vào tường, sợi dây xích đen nhảy căng thẳng từ cổ chân bác tới đầu cọc. Mùi cứt đái xông lên nồng nặc khiến tôi nôn ọe bịt vội mũi lại. Cái ống bơ và hai thanh tre, thú tiêu khiển và cũng là bạn bè độc nhất suốt một đời của người điên – tôi nhìn thấy ở nguyên chỗ cũ, dưới chân bác. Bác nằm, nhưng không ngủ. Tiếng nôn ọe của tôi làm bác bất thần quay ra và ngồi vụt dậy. Tôi hoảng hốt không giữ được tiếng thét sợ hãi. Mọi người chờ đợi những tràng dài quát tháo nguyền rủa nổi lên. Nhưng không, bác lùi vội lại một bước như con thú dữ thu mình, tròn xoe mắt, nhìn bà tôi không chớp. Mẹ tôi gạt nước mắt đứng yên. Bà tôi ngồi xuống. Bằng một giọng nói hết sức dịu dàng, rành rọt từng tiếng một, bà tôi cắt nghĩa cho bác là quân Pháp đã tràn vào thị xã, chúng tôi phải bỏ nhà tản cư vào núi và xuống đây đem bác đi theo.

“Con bằng lòng đi theo mẹ không?”

Bác Cả nín thinh, rồi cái nhìn vụt chuyển thẳng từ bà tôi tới tôi khiến tôi thất thần lạnh toát người đi.

“Con giai em con đó, mẹ con nó lặn lội từ dưới bể lên thăm con đó”.

Bà ngoại quay lại tôi:

“Cháu chào bác Cả đi. Bác yêu cháu lắm. Cháu chào bác đi”.

Tôi nhợt người, ấp úng mãi mới nói được với người điên:

“Lạy bác ạ!”

Bác vẫn nín thinh trong dáng điệu thủ thế cũ. Bà tôi ngồi xích lại gần bác, nghẹn ngào:

“Con thế này, sống cũng như chết rồi, mẹ chẳng muốn đưa con ra khỏi chỗ này làm gì, nhưng Tây nó đến, mẹ bỏ con lại không đành, con nghe lời mẹ, con đừng giận dữ, con đi theo mẹ nhé!”

Bác vẫn nín thinh và nhìn ngó trừng trừng. Bà tôi ngọt ngào dỗ:

“Bây giờ mẹ cởi xích cho con”.

Miệng nói bà tôi thò tay vào chân bác. Bác Cả rút phắt chân lại. Dây xích căng thẳng, tiếng kêu loảng xoảng trong căn buồng tối nhờ nhờ. Nhưng tình thế nguy ngập không thể chùng chình được nữa.

“Mẹ cứ cởi xích cho con rồi con có giết chết mẹ, giết chết em, giết chết ngay lập tức, mẹ cũng đành, nhưng mẹ không thể bỏ con ở lại một mình được, mẹ phải cứu con, mẹ phải đưa con đi, mẹ con ta sống chết phải có nhau”.

Bà tôi vừa khóc sướt mướt, vừa mếu máo tra cái chìa vào ổ khóa. Rồi mẹ tôi và tôi cũng ôm mặt khóc theo. Tiếng khóc vang đầy căn buồng hòa lẫn với tiếng đạn liên thanh tặc tặc nổi dậy, mỗi phút một gần thêm mãi. Vòng xích cuối cùng đã tháo hết, bác Cả như một con thú dữ bị gông cùm bao nhiêu năm qua vừa được thả lỏng. Giây phút cực kỳ căng thẳng. Chúng tôi cứng người, chờ bác chồm dậy, thét lớn, vung xích quật xuống.

Nhưng lạ lùng, nhưng kinh ngạc xiết bao! Bác Cả từ từ đứng dậy. Và trong một dáng điệu hết sức từ tốn, đĩnh đạc, bác tiến lại trước mẹ tôi, giơ cánh tay trần khẳng khiu đặt lên vai mẹ tôi, cử chỉ thân mật âu yếm của một người anh đối với người em gái lâu ngày mới gặp:

“Cô Hai đấy ư? Bây giờ cô chú xuống làm ăn dưới biển ư? Chú ấy vẫn mạnh đấy chứ?”

Sự kinh ngạc làm mẹ tôi mãi mãi mới trả lời được hai tiếng ngắn cộc:

“Vâng ạ”.

Mà không riêng gì người, bà tôi và tôi đều cùng sững sờ trong kinh ngạc tột điểm. Bao nhiêu năm điên loạn, thốt nhiên, trong giây phút thập tử nhất sinh này, bác Cả đã tỉnh dậy, như tỉnh dậy sau một giấc ngủ bằn bặt, như sống lại sau một cái chết dài.

“Ông mất rồi, tôi bệnh hoạn như thế này, bà già yếu không còn ai nương tựa, chỉ còn mình cô chú. Cô chú thay tôi chăm sóc bà nhé!”

Mẹ tôi giàn giụa nước mắt gật đầu.

Bác Cả quay lại, mỉm cười tiến đến trước mặt tôi, cái bao bố kéo lệt xệt trên nền đất.

“Tên cháu là gì?”

Phút đó tôi vẫn khiếp hãi, nhưng sự khiếp hãi không còn như trước nữa. Tôi nhìn cái khuôn mặt râu ria xồm xoàm, nhớp nhúa, tiều tụy nhưng đầy những nét đẹp cân đối, tôi nhìn cái thân hình giơ xương, cái mái tóc màu tro phủ xuống kín gáy, rồi tôi nuốt nước bọt, cố gắng chế ngự sự hồi hộp, dõng dạc trả lời bác:

“Thưa bác, tên cháu là Đăng”.

Bác Cả nhoẻn miệng cười, xoa đầu tôi, nhắc đi nhắc lại:

“Tốt lắm, tốt lắm, tốt lắm”.

Cuối cùng, bác quay sang bà ngoại mà nỗi mừng vui xúc động mãnh liệt vừa bật thành tiếng khóc nức nở.

“Con không điên nữa đâu. Bây giờ con không điên đâu. Mẹ đừng sợ, mẹ đừng khóc nữa”.

Qua khung cửa, trời bật sáng rõ. Cùng với ngày vừa lên, tiếng giầy đinh rầm rập, tiếng xì xồ quát tháo lạ tai của toán lính Pháp hung dữ nhất tề nổi lên ở đầu phố.

Bác Cả lắng tai nghe ngóng. Mắt bác sáng quắc. Bác nhảy vọt một bước ra sân, vơ lấy cái gióng cửa dựng ở bên thành bể non bộ, cái gậy mà trong một cơn điên ngày nào bác đã đánh ông tôi chết ngất. Theo tiếng gọi của bác chúng tôi líu ríu ra khỏi nhà, lếch thếch chạy ngược về phía chân núi. Ngọn Tam Đảo mờ mờ trong sương sớm. Ra đến đầu tỉnh chúng tôi đặt chân vào con đường dẫn lên đồi còn ướt đẫm sương. Chúng tôi vừa chạy vừa thở hổn hển, chân cẳng run bắn muốn ríu lại, muốn té quỵ, vì ở phía sau lưng những tiếng đạn, tiếng giầy, tiếng xì xồ vẫn đuổi theo rất gấp. Những đám người chạy cùng với chúng tôi khi nhìn thấy bác Cả, mình đeo khố tải, tay cầm gậy lớn, đều kêu lên thất thanh: “Người điên! Người điên!” và chạy tán loạn về phía khác. Tôi chạy tưởng chừng sắp muốn đứt hơi. Bà tôi mấy lần lảo đảo chỉ muốn ngã sấp xuống. Bác Cả đi tập hậu, cứ kéo lết bết cái bao tải như thế, vừa chạy vừa ngoái cổ lại. Trên con đường vắng tanh, lởm chởm, chỉ còn bốn bà cháu chúng tôi cuống cuồng, lếch thếch trước những tràng đạn đuổi theo veo véo trên đầu.

Bỗng tiếng bác Cả cất lên:

“Chúng nó! Chúng nó!”

Chúng tôi rú lên, cùng ngoái cổ nhìn lại. Thấp thoáng ở xa xa, đầu con đường đầu tỉnh, những đầu lưỡi lê nhấp nhổm, sáng loáng. Cùng lúc đó, bà tôi kiệt sức, ngã vật xuống. Bác Cả chạy đến, xốc bà ngoại dậy. Bà tôi vừa khóc vừa thở:

“Thôi đành là mẹ con ta chết ở đây. Mẹ không chạy nổi nữa, con ơi!”

Tôi thấy bác Cả đẩy bà ngoại cho mẹ tôi đỡ lấy, bác nghển cổ nhìn tứ phía, rồi bác chỉ tay cho mẹ tôi nhìn thấy một con đường nhỏ chạy tắt xuống thung lũng um tùm.

“Cô đưa bà và cháu chạy xuống dưới kia”.

Mẹ tôi còn ngơ ngác do dự bác đã giục hối hả:

“Mau lên. Chạy xuống ẩn dưới đó đi”.

“Còn bác?”

Bác Cả lần lượt nhìn cả ba chúng tôi bằng một cái nhìn lạ lùng, một cái nhìn chứa chan, nồng nàn, như gửi vào đó tất cả những thương yêu một đời, rồi bác mỉm cười nói:

“Tôi chạy theo sau mà. Mau lên, trời ơi, mau lên”.

Mẹ tôi quẳng vội khăn gói, một tay dìu bà, một tay dắt con, cắm đầu chạy xuống con đường nhỏ. Đạn nổ đinh tai nhức óc. Chạy tới một vùng cỏ dại cao ngang tầm người, mẹ tôi vấp kéo theo bà tôi và tôi cùng ngã xuống.

Nhìn lên, mẹ tôi kêu lên một tiếng sợ hãi. Thì ra bác Cả không chạy theo chúng tôi, mà từ con đường cao, bác chạy sang phía bên kia, bác chạy thẳng lên đỉnh đồi.

Suốt đời, tôi còn nhớ thân đến cái cảnh tượng lạ lùng, kinh dị đó. Thân hình bác Cả nổi lên nền núi xanh thấp thoáng nắng sớm, cái khổ tải lất phất như một cánh bướm, như không phải là bác đang chạy mà đang là là bay. Điều kỳ dị là bác chạy dềnh dàng, chuệnh choạng, chân nam đá chân xiêu, như người sau rượu. Điều kỳ dị nữa là bác vừa chạy như thế, vừa vung tít cái gậy trên đầu, vừa ngoái cổ lại, gật gù như vẫy như gọi bọn lính đuổi theo, miệng thì ca hát ê a, tiếng ca hát ê a tôi đã từng nghe thấy trong những cơn điên của bác.

Bà tôi và mẹ tôi cùng thét lên:

“Trời ơi! Lại nổi cơn điên rồi”.

Nhưng không phải thế đâu. Bác Cả không điên. Bác Cả chỉ đang cứu chúng tôi thoát khỏi ba cái chết thảm khốc. Sau này, càng nghĩ càng nhớ đến cái nhìn cuối cùng của bác, cái nhìn chan chứa yêu thương không nói, tôi càng tin là đúng, là chỉ có thể như thế, là lần duy nhất trong đời, điên đã tỉnh rồi, đã giả bộ múa hát điên điên dại dại, để dụ quân Pháp về một hướng khác, đánh lạc đường chúng đuổi theo chúng tôi.

Và bác đã thành công, toán lính đuổi tới chỗ bà tôi ngã, đứng khựng lại trước cảnh tượng kỳ quái đang diễn ra trước mắt chúng trên ngọn đồi trọc. Tới đỉnh đồi, bác Cả quay lại, hoa chân múa tay, miệng vẫn hò hát, như thách thức đám lính đuổi theo. Một tràng đạn xé tan không khí. Từ đám cỏ hồng, tôi thấy bác Cả lảo đảo, cái gậy trong tay bác hạ xuống, bác loạng choạng đi trở xuống, tay ôm ngực. Một tràng đạn thứ hai nổi lên. Bác Cả ngã vật xuống. Quân Pháp chụm đầu bàn tán, ý chừng còn thảng thốt trước sự xuất hiện quái đản của người khùng. Rồi chúng quay trở lại, kéo nhau về thị xã.

Chúng tôi thoát chết.

Khi bà tôi lên tới đỉnh đồi và nức nở quỳ xuống, bác Cả đã tắt thở từ lâu. Con mắt một nửa đời người vẩn đục màu máu điên loạn chỉ còn là một khối đồng tử bất động. Cái bao tải phủ ngang thân thể bác như một màn vải liệm. Chiếc gậy lớn vẫn cầm lăm lăm trong tay. Bác Cả nằm nghiêng nghiêng, nét mặt hiền hòa, cái nhìn ngước lên như hướng tới đỉnh núi Tam Đảo cao ngất bây giờ đã rực rỡ dưới nắng.

Bà tôi vuốt mắt cho bác. Buổi trưa hôm đó bà tôi xõa tóc, đi theo xác con đến tận bờ huyệt đào ngay trong thửa ruộng chân đồi, dưới bóng cây, nơi khi xưa, bác Cả Đoàn đã bị con ngựa hồng của ông tôi đá một phát vào bụng dưới thành điên.

***

Trở về căn nhà rêu phong cũ, bà tôi quét dọn lại căn buồng chứa lúa ngang hông nhà bếp, dọn giường chiếu xuống đó, sống những ngày già yếu cuối cùng của đời bà ngay trên thước đất nơi bác Cả bị xiềng xích ngày trước. Chỉ còn một thân một mình nhưng bà tôi nhất định ở lại nơi này, trong căn buồng của người con điên, và bỏ luôn ý định xuống miền biển, sống với gia đình chúng tôi, mẹ tôi năn nỉ thế nào, khóc xin đến mấy cũng không lay chuyển được. Ngày sắp di cư vào Nam, cả thầy mẹ tôi cùng lên Vĩnh Yên, đón bà cùng đi. Nhưng bà tôi không chịu. Và bà đã ở lại. Bà bảo mẹ tôi:

“Mẹ già rồi, không đi đâu nữa. Mẹ ở lại chờ chết trong căn buồng này là nơi thằng Cả nó đã sống, đêm đêm mẹ vẫn mơ thấy nó hiện hồn về”.

Trên cái bàn thờ nhỏ của bác Cả Đoàn được thiết lập ở một góc buồng, bà tôi dựng cái gậy bác Cả còn cầm ở trong tay cho đến lúc chết. Và trên bàn thờ, dưới ánh khói hương, là cái ống bơ sắt cũ và đôi gậy tre là những dấu tích cuối cùng của một cuộc đời điên loạn.


*


Bây giờ bà tôi đã chết. Tấm bưu thiếp ngắn ngủi từ bên kia vĩ tuyến không nói rõ bà tôi nằm xuống ở đâu, trút hơi thở cuối cùng trên thước đất nào. Nhưng tôi, tôi nhìn thấy rõ ràng cái chết nghìn trùng cách trở ấy. Người bà ngoại nhân hậu vì quá thương con, cho con uống quá nhiều mật gấu đến nỗi thành điên, đã khép mắt trong căn buồng ấy, nơi mãi mãi phảng phất tiếng ê a lạ tai và tiếng đũa gõ loong coong đêm ngày trên nắp cái ống bơ lật úp của người điên đã chết cho những người thân yêu được sống. Phải, bà ngoại tôi chỉ có thể chết trong căn buồng ấy. Không thể chỗ khác. Và người ta cũng chỉ có thể chôn cất bà ở chỗ ấy, cho người mẹ già được ngủ giấc ngủ nghìn đời với người con điên trong thửa ruộng dưới chân đồi nhìn lên một sườn Tam Đảo. Không thể ở chỗ khác.

Có một điều là: sau bao nhiêu năm, tôi vẫn ngạc nhiên và vẫn tự hỏi về cái hiện tượng lạ lùng là sự thức tỉnh sáng suốt cuối cùng và đột ngột của bác Cả Đoàn. Tiếng súng đạn đinh tai nhức óc đã làm bác chợt tỉnh cơn điên loạn triền miên? Hay là vì những giọt nước mắt hãi hùng của chúng tôi trong buổi sáng thập tử nhất sinh đó? Hay vì tôi, vì cái khuôn mặt thơ dại của đứa cháu vô tội? Không biết. Có thể là vì những nguyên nhân huyền bí, siêu hình nào đó đã cấu tạo thành linh hồn và sự thật dị thường không khám phá nổi, niềm bí mật nghìn đời ẩn giấu của thế giới người điên.

Chỉ biết rằng, buổi sáng hôm đó, trước cái chết đến gần, bác Cả Đoàn đã tỉnh dậy. Và nhờ sự sáng suốt độc nhất, chốc lát, của cuộc đời điên loạn ấy mà tôi còn được sống đến ngày nay.

HOÀNG HOA KHÔI * ĐỆ TỨ QUỐC TẾ

HỒ SƠ ĐỆ TỨ QUỐC TẾ VIỆT NAM 84
quốc!!! Nay kể lại chuyện cố nhân, tôi đã đốt nén hương hướng lên anh linh chiến sĩ cách mạng
khấn vái!
Tới đây, tôi cũng nhớ tới công lao của mấy bà "Mẹ chiến sĩ", đêm tối, canh khuya, dầu
khó khăn mấy, có con chiến sĩ ở mặt trận về, hoặc đi công tác về, cũng lo nấu nướng cho con ăn.
Tất cả chiến sĩ giành độc lập đều là con. Nay thì mặt không ráo lệ, hoặc không còn lệ mà khóc!
Viết đã dài. Tôi phải dứt. Và trước khi chấm dứt, tôi muốn đọc bài viết của Nguyễn Thúc
Lang, vừa bạn học của Thâu vừa bạn của tôi:
HAI CHUYẾN ĐI
Trung tuần tháng 8 năm 1939, hay tin Thâu nằm điều trị tại Nhà thương Chợ Rẫy, tôi có
đến thăm Thâu và Thâu cho tôi hay Thâu đã được Thống đốc Nam Kỳ chấp thuận cấp cho Thâu
giấy thông hành (passeport) qua Bỉ quốc trị bịnh. Thâu nói: "Nhà cầm quyền viện lẽ rằng quyết
định trục xuất Thâu khỏi nước Pháp năm 1930 vẫn còn hiệu lực nên chỉ cho Thâu qua nước
Bỉ". Thâu nói thêm: "Khi qua đến nơi rồi, Thâu sẽ quyền biến, từ Bỉ quốc Thâu có thể tìm cách
qua Pháp hay nước nào khác tùy ý". Thâu hứa khi nào biết chắc ngày ra đi sẽ tin cho tôi biết.
Vài ba ngày sau, Thâu nhắn tôi đến nhà hàng Tân đại lục (Sánh Tai Luk) là tiệm cơm
Tây tại từng dưới tửu lầu ngày nay mang hiệu "Arc en Ciel", đường Jaccaréo (nay là đường Tản
Đà). Khi tôi đến nơi thì Thâu và Dương Văn Giáo đã có mặt. Buổi tiệc hôm đó chúng tôi chỉ có
ba người, ba anh em đã thân thiện với nhau từ lâu tuy không đồng chí hướng. Thâu nói hai ngày
nữa Thâu sẽ đáp tàu qua Âu châu, khi cấp giấy thông hành sở mật thám có buộc điều kiện là
Thâu không được cho ai biết ngày ra đi và anh em không được tiễn đưa Thâu tại bến tàu.
Bữa cơm này là một tiệc tiễn hành, tôi không ngờ lần này là lần chót của tôi gặp Dương
Văn Giáo và Tạ Thu Thâu.
Một thời gian sau, có người bạn cho tôi biết: Thâu đáp tàu nào không rõ, nhưng khi tàu
ghé Tân Gia Ba (Singapore) là nhằm ngày 1.9.2939, Đệ nhị Thế chiến đã bùng nổ bên trời Âu,
Thâu bị bắt buộc trở lại Saigon. Hình như biện pháp này không phải chỉ áp dụng cho một mình
cá nhân Thâu. Chuyến tàu mà Thâu đã đáp từ Saigon bị tạm giữ tại Tân Gia Ba để chờ đợi ngày
nào được tiếp tục hành trình qua Âu châu. Đó là một quyết định của hải quân Anh quốc: vì Đức
quốc vừa khai chiến, chưa biết đường biển chỗ nào tàu bè hàng hải có thể qua lại được. Hành
khách người Âu có thể chờ tại Tân Gia Ba, nhưng hành khách người Á đều bị bắt buộc trở lại
xuất xứ.
Riêng đối với Tạ Thu Thâu, phải chăng đó là một duyên kiếp: 1930 bị trục xuất từ Pháp
quốc, 1939 bị giải hồi từ Tân Gia Ba; con dân Việt Nam phải sống trên đất Việt, phải gởi nắm
xương tàn dưới lòng đất mẹ.
1939-1940, thời cuộc biến chuyển, tất cả đều bị đảo lộn. Quân đội Nhựt chiếm Đông
Dương, quân đội Đức chiếm nước Pháp. Như đã nói trong chương I, Tạ Thu Thâu cũng như
Nguyễn An Ninh và các nhà cách mạng, các người Việt "làm chánh trị" đều bị bắt.
Tháng 4 năm 1940, Tạ Thu Thâu bị đày ra Côn Đảo.
1945, thời cuộc càng biến đổi dữ dội, mau chóng:
Ngày 9 tháng 3, Nhựt đảo chánh Pháp,
Ngày 25 tháng 8, Việt Minh nắm chánh quyền.
Tạ Thu Thâu từ Nam ra Bắc, rồi từ Bắc trở về Nam.
Trên con đường thiên lý, tại "Cánh Đồng Dương" bờ biển Mỹ Khê, ác nghiệt thay! Nhà
Cách mạng Tạ Thu Thâu là nạn nhơn số một của một cuộc Cách Mạng đầy máu lửa.
*
Theo dư luận của đại chúng, một nhân tài như Tạ Thu Thâu có đức tánh cao khiết, có
tấm lòng thương nước nồng nhiệt, thay vì hướng về một lý thuyết Ngoại lai, để bị "kẹt" trong một
cuộc đối nghịch viễn vong không liên quan đến đại cuộc của nước nhà, mà chỉ luôn luôn theo con
đường quốc gia dân tộc thì may mắn cho đất nước biết bao! Thời thế tạo anh hùng, nhưng anh
hùng cũng có thể tạo thời thế!
HỒ SƠ ĐỆ TỨ QUỐC TẾ VIỆT NAM 85
Đọc xong lời Thúc Lang, tôi nhỏ lệ trên giấy, nhớ bạn, nhớ chiến sĩ ái quốc, nhớ bao
nhiêu nhà ái quốc bị Cộng sản Đệ tam sát hại!
Rồi tôi khóc òa khi đọc bạn Điền Nguyên Nguyễn Văn Đính:
KHÓC NHÀ CÁCH MẠNG TẠ THU THÂU
(Thác lời Bà Nguyễn Thị Ánh, góa phụ Tạ Thu Thâu)
Khóc Tạ Thu Thâu: Anh chưa chết!
Anh chưa chết, nghĩa là Anh còn sống
Trong lòng Em, Anh sống mãi với thời gian
Tạ Thu Thâu! Tạ Thu Thâu!
Vốn tiên phong "ngạo khí hoành sương"
Anh chưa chết
Nhưng người ta đồn Anh đã chết!
Em muốn tin
Rằng Anh đã chết
Một lần đi
Cho ráo hết lệ hoài nghi
Cho tiếng khóc biệt ly... sầu cao ngất
Cho tiếng nấc được tự do lên cao vút
Cho nước mắt được trào lên đưa trôi bớt
Những băn khoăn
Rạn nứt nát buồng tim
Những băn khoăn
Từ tháng chín bốn lăm (09/1945)
Từ Quảng Ngãi
Bay tin về: "Thâu đã chết"!...
Trong lòng Em, Anh chưa chết!
Chưa chết thì
Em chưa vứt hết mọi niềm tin
Tin rồi đây
Sẽ rạng rỡ ánh bình minh
Cho dân tộc
Cho lòng trung trinh trắng đợi.
Saigon ngày 19.08.1969
Điền Nguyên Nguyễn Văn Đính
(Cát Nhân Trần Kim Quan sao lục gởi tới Rennes 18.01.1987) 1
Rồi tôi cũng:
KHÓC TẠ THU THÂU
Thu tàn lá rụng gió kêu sầu
Nhớ bạn người to sắc diện âu
Diễn thuyết thao thao lời hấp dẫn
Luận bàn sắc bén ý cao sâu
Đồng bào ca ngợi ưng tôn thủ (thủ lãnh)
"Ác hữu" rình mò muốn lấy đầu
Bị hại đường về qua Quảng Ngãi
Để người thương khóc Tạ Thu Thâu
1- Bài này do bạn Cát Nhân Trần Kim Quan chuyển đạt với sự thương nhớ Tạ Thu Thâu.
HỒ SƠ ĐỆ TỨ QUỐC TẾ VIỆT NAM 86
Tôi khóc Tạ Thu Thâu và ngậm ngùi nhớ hai bạn Nguyễn Thúc Lang và Nguyễn Văn
Đính đã quá cố tại Saigon sau biến cố 1975.
Rennes Mãnh thu
Quí Dậu1
1- Bài này đã soạn từ mấy thu trước. nay sắp xếp lại cho đăng báo để nhớ bạn và sắp xếp mà còn lộn xộn vì cái tuổi cao
niên. Mong bạn đọc lượng giải cho.
87
MỘT NHẬN ĐỊNH VỀ
TRẦN ĐỨC THẢO
(Hoàng Khoa Khôi)
Nhân đọc bài "Cái chết lần thứ hai của triết gia Trần Đức Thảo" đăng trong tạp chí "Thế
kỷ 21" (Hoa Kỳ) và "Trăm con" (Canada), thấy tác giả Phạm Trọng Chánh có nói đến tên tôi để
viện dẫn ông Thảo không phải là người trốt-kít, tôi xin phép được góp thêm một vài ý kiến:
1. Ông Thảo không những không phải là trốt-kít mà ông còn là người đã từng đối lập
triệt để với trốt-kít trong những năm 1947-1951.
Năm 1947, trong bài "Vấn đề Việt Nam dưới con mắt phái trốt-kít" đăng trên tạp chí
"Thời mới" (Temps Moderne) của Jean Paul Sartre, Trần Đức Thảo cực lực bác bỏ quan niệm của
trốt-kít về tính chất của cuộc cách mạng Việt Nam. Theo ông, cách mạng Việt Nam không thể tái
diễn theo mô hình cách mạng Nga năm 1917. Không những ở Việt Nam mà bất kể xứ nào ở Đông
phương đều không thể có cách mạng vô sản. Ông tán thành Việt Minh đã biết "ngừng cuộc đấu
tranh giai cấp" và tán thành đảng Cộng sản Việt Nam đã biết "tự động giải thể". Ông viết: "Từ
Ma-rốc đến Nam-dương... không có một đảng Cộng sản nào đáng kể. Lời kêu gọi vô sản Việt
Nam, nếu làm cách mạng sẽ mất đi trong bãi sa mạc... Nếu vô sản Việt Nam nắm chính quyền,
hành động của họ cũng chỉ là tượng trưng, nhất là họ sẽ bị đè bẹp ngay".
Đối với Trần Đức Thảo, cuộc cách mạng Việt Nam muốn đi đến thành công, phải là cuộc
"cách mạng tiểu tư sản, do giai cấp tiểu tư sản lãnh đạo". Ông trách cứ trốt-kít đã "khinh thường
một cuộc cách mạng tiểu tư sản [Việt Nam] như thế, kết cục là ủng hộ gián tiếp những mưu mô
của thực dân". Ám chỉ trốt-kít, ông nói: "Rõ ràng cái bản năng đế quốc cũ đã lộ ra dưới cái mặt
nạ cách mạng" (coi bản dịch tiếng Việt đăng trên tạp chí "Văn hóa Liên hiệp" số 15-7-1949).
Tôi nhắc lại giai đoạn này để chứng thực sự cách biệt tư tưởng giữa ông Thảo và trốt-kít
là sự cách biệt sâu rộng, trên những vấn đề căn bản. Tuy thế, đảng Cộng sản Việt Nam vẫn cứ
tiếp tục chụp cho ông cái mũ trốt-kít, rồi viện cớ đó để trù dập ông một cách vô lý.
2. Năm 1951, sau khi đảng Cộng sản Đông Dương tái lập dưới hình thức đảng Lao động
Việt Nam và sau khi Mao Trạch Đông giành được chính quyền ở Trung Quốc, quan niệm của ông
Thảo hoàn toàn đổi ngược. Trong cuốn "Triết lý đã đi đến đâu?" do Nhà xuất bản Minh Tân ở
Paris ấn hành, ông khẳng định cách mạng ở Việt Nam cũng như Trung Quốc "biểu lộ đặc biệt ý
nghĩa một cuộc cách mạng vô sản". Theo quan niệm mới này của ông Thảo, cách mạng vô sản
không những thành công ở Việt Nam và Trung Quốc mà sẽ thành công ở các xứ Đông phương.
Ông viện lẽ: "Tư tưởng Đông phương, từ xưa tới nay, không phân ly vật thể và tinh thần, tự nhiên
và ý niệm, vậy hiểu một cách dễ dàng phương pháp duy vật biện chứng" của chủ nghĩa mác-xít.
Ngược lại, trái với Karl Marx, ông phủ nhận cách mạng vô sản ở Âu Tây. Bởi vì, theo ông, "tư
tưởng Âu Tây đã từ lâu đi vào con đường trụy lạc", "hoàn toàn hư nát", "chủ nghĩa mác-xít tương
phản với hình thức văn minh Âu Tây". Đề cao cách mạng vô sản Đông phương, ông viết: "Đông
phương thực hiện chủ nghĩa mác-xít, đã thành một khối dân chủ thống nhất 700 triệu người, từ
Đông Âu đến Thái Bình Dương, sống một đời chứa chan hi vọng..."
Karl Marx đặt cơ sở lý luận của mình trên căn bản của sự phát triển kinh tế và sự tiến bộ
kỹ thuật và khoa học, những yếu tố cơ bản tạo điều kiện cho sự thành công cách mạng vô sản và
cho sự xây dựng chủ nghĩa xã hội. Cho nên lúc sinh thời, Marx không đề cập vấn đề cách mạng
vô sản ở Đông phương. Đến thời Lenin, tư bản chủ nghĩa trở thành đế quốc chủ nghĩa, mặc dầu
 Báo "Thông luận" (Pháp) số 64, tháng 10-1993.
HỒ SƠ ĐỆ TỨ QUỐC TẾ VIỆT NAM 88
chủ trương cách mạng vô sản ở Nga nhưng toàn bộ chiến lược cơ bản của Lenin là đặt hi vọng
vào sự bùng nổ cách mạng ở các xứ tiền tiến châu Âu (như Đức, Pháp, Anh v.v...). Trần Đức
Thảo coi "tư tưởng" là yếu tố chủ yếu của sự biến đổi các chế độ xã hội. Cho nên ông đã đi đến
kết luận "chỉ có Đông phương mới thực hiện được chủ nghĩa mác-xít". Nếu cần phải đánh giá
đúng mức quan niệm của ông Thảo, ta có thể nói đó là quan niệm duy tâm của các trường phái
duy tâm chủ nghĩa. Ông Thảo gần gụi với chủ nghĩa duy ý chí của Mao hơn là chủ nghĩa duy vật
và khoa học của Marx.
3. Từ năm 1947 đến 1951, sự thay đổi tư tưởng của ông Thảo là một điều khó hiểu.
Thoạt nhìn, tưởng như ông có lập trường khác biệt với đảng Cộng sản Việt Nam. Nhận xét kỹ, tư
tưởng ông gắn liền với đường lối "từng giai đoạn" của đảng này.
Đảng Cộng sản Việt Nam phân chia cách mạng làm hai giai đoạn. Giai đoạn đầu là "cách
mạng tư sản" (ông Thảo gọi là "cách mạng tiểu tư sản"). Giai đoạn thứ hai là cách mạng vô sản.
Những gì đảng coi là chiến thuật, sách lược v.v..., ông Thảo nêu thành nguyên lý và chân lý.
Riêng có một điều ông hiểu sai là khi ông nói "cách mạng tiểu tư sản do giai cấp tiểu tư sản lãnh
đạo". Thực tế, do đảng Cộng sản, mệnh danh thay mặt cho giai cấp vô sản, lãnh đạo.
Viết cuốn "Triết lý đã đi đến đâu?", ông Thảo nhằm đưa vai trò của Stalin và Mao lên
hàng những người kế nghiệp chính đáng của chủ nghĩa mác-xít. Thái độ này cũng là thái độ của
đảng Cộng sản Việt Nam (đảng đã ghi "tư tưởng" Mao vào Hiến pháp, văn phẩm của ông Hồ Chí
Minh, trong giai đoạn này, đều mang dấu ấn của chủ nghĩa mao-ít).
Thế nhưng tại sao đảng vẫn gắn cho ông Thảo cái nhãn hiệu "trốt-kít"? Đây là một "thủ
thuật" mang tính tâm lý mà đảng đã từng sử dụng rất có hiệu quả. Ban lãnh đạo đảng thừa biết
ông Thảo không phải là trốt-kít, nhưng họ vẫn đem cái gông đó tròng vào cổ ông, vì họ vẫn
không tha thứ một số hành động của ông mà họ coi là xung khắc với đường lối của đảng. Cái hồ
sơ lý lịch của ông họ đã nắm giữ, từ lúc ông nhập đảng! Thứ nhất, năm 1944-1946, ông đã cộng
tác với trốt-kít ở Pháp, thành lập Tổng Ủy ban Đại diện Việt kiều (Délégation Générale des
Indochinois en France) thay mặt cho 20.000 Việt kiều ở Pháp. (Tổ chức này không những đứng
ngoài vòng của đảng Cộng sản Pháp (PCF), mà còn có những hành động đối nghịch...). Thứ hai,
vào năm 1946, ông Thảo bất đồng ý kiến với Hiệp định Sơ bộ ngày 6-3 và ông đã tuyên bố công
khai chống cuộc đổ bộ của quân đội Leclerc ở Việt Nam. (Thái độ này chống với đường lối của
đảng Cộng sản Việt Nam, nhưng lại giống thái độ của trốt-kít). Thứ ba, năm 1956, ông Thảo đã
cộng tác với nhóm "Nhân văn Giai phẩm", phê bình đảng, đòi dân chủ. Bằng ấy chứng cớ cũng
đủ cho đảng không thể tin cậy vào lòng trung thành của ông. Họ buộc ông phải hoàn toàn nhắm
mắt theo đảng. Cái "tội" của ông là chỉ nhắm mắt một nửa.
Trù dập ông Thảo bằng cách gắn cho ông cái nhãn hiệu "trốt-kít", đảng còn nhắm mục
đích cảnh cáo đội ngũ trí thức của đảng, chớ có dại mà theo gương ông Thảo. Hai chữ "trốt-kít"
tạo ra tâm lý cho mọi người sợ nó. Vì nó đồng nghĩa với "gián điệp", "Việt gian", "tay sai cho
thực dân, đế quốc", nếu không phải là "sát nhân", "giết hại đồng bào"! Hai chữ "trốt-kít" treo
lửng lơ trên đầu ông Thảo, như cái lưỡi kiếm Damoclès, gây cho cân não ông một mối lo sợ
thường xuyên. Kết quả, có lúc ông Thảo nhìn đâu cũng thấy gián điệp và trốt-kít. Hồi ông vừa
qua Pháp, một người cựu đại biểu công binh (lính thợ Việt Nam), bạn cũ của ông, gặp ông hỏi
đang viết sách gì, được ông trả lời: "Có viết gì được nhiều đâu, bọn trốt-kít nó phá quá!" Ông bạn
cựu công binh hỏi lại: "Anh cho biết trốt-kít đó là ai?" Ông nói: "Bọn Althuser chứ còn ai". Hai
chữ "trốt-kít" đã ám ảnh ông Thảo đến nỗi ông đã nhầm lẫn Althuser với trốt-kít! (Althuser là
triết gia, cựu đảng viên của đảng Cộng sản Pháp - PCF).
4. Vào cuối đời mình, ông Thảo đã biểu lộ sự cố gắng sửa đổi một số sai lầm, đặc biệt về
sự nhận định vai trò lịch sử của Stalin và Mao. Đối với Stalin, ông đã thanh toán bằng cuốn sách
nhan đề "Triết lý của Stalin", trong đó, ông hạ bệ Stalin như một người thiển cận, không am hiểu
gì về thuyết biện chứng của chủ nghĩa mác-xít. Đối với Mao, ông viết một loạt bài đả kích nhà
triết lý Althuser mà ông coi là môn đồ của Mao và chủ nghĩa mao-ít. Một điều đáng chú ý: ông
HỒ SƠ ĐỆ TỨ QUỐC TẾ VIỆT NAM 89
cũng như ông Nguyễn Khắc Viện, sửa sai nhưng không bao giờ tự phê bình là mình đã sai và vì
sao đã sai? Hai ông hình như cho rằng sự sai lầm của các ông là do lỗi của đảng!
Thái độ chỉ trích Stalin và Mao của ông Thảo gây thêm sự nghi ngờ của đảng đối với
ông. Cứ cái đà ấy, biết đâu, một ngày kia ông lại chẳng đụng đến Hồ Chí Minh, thần tượng của
đảng! Trong đám trí thức có óc phê bình như ông Thảo, nhiều người đều biết Hồ Chí Minh từ
1950 đến 1965, đã viết bài hoặc có lời tuyên bố đặt Mao ngang hàng với Karl Marx và coi Mao là
nhà lý thuyết bậc nhất, không ai có thể thay thế nổi. Nói đến Stalin, nói đến Mao mà không nói
đến Hồ Chí Minh, đó là một điều còn thiếu sót trong quá trình tiến triển của ông Thảo!
Theo lời kể lại của những bạn bè xung quanh ông Thảo, đảng vẫn cảnh giác, đề phòng
những việc ông làm, những bài ông viết tại quán trọ Le Verrier. Thậm chí nhiều người còn đặt
nghi vấn về cái chết bất ngờ và nhanh chóng của ông.
Hết thời hạn hộ chiếu, đảng đòi ông phải về nước, không muốn ông ở lại Paris thêm một
ngày nào nữa. Ông cưỡng lại không chịu về. Bạn bè ông phải lập hội quyên tiền giúp cho ông
sống. Tóm lại, đảng vẫn nghi ngờ ông. Đảng chỉ được yên tâm khi ông đã nhắm mắt.
5. Trong bài "Cái chết lần thứ hai của triết gia Trần Đức Thảo", ông Phạm Trọng Chánh
ghi cái chết lần thứ nhất của ông Thảo vào năm 1968, nghĩa là sau vụ án "Nhân văn Giai phẩm"
(1956). Theo tôi, cái chết lần thứ nhất của Trần Đức Thảo phải kể từ năm 1951, năm ông viết
cuốn "Triết lý đã đi đến đâu?", nhầm lẫn chủ nghĩa mao-ít và xta-lin-nít với chủ nghĩa mác-xít.
Bắt đầu từ năm ấy, ông đã dấn mình vào một thế giới - thế giới xta-lin-nít - xa lạ với bản chất con
người ông. Những ai đã quen biết ông Thảo, những năm 1944 - 1946, khi ông còn là một thanh
niên ngụ tại nhà số 10 phố Sorbonne, quân 5 (Paris), đều biết ông là người "kiêu hãnh" (fier), tự
tin, tự trọng. Ông không kiêng sợ ai và không ai làm ông phải khâm phục. Con người ngang tàng
và thông minh ấy đã bị bộ máy xta-lin-nít bẻ gãy, nghiền nát. Con người ấy đã phải sống khuất
phục hàng chục năm, dưới một chế độ đầy quyền lực, tôn ti trật tự, sùng bái lãnh tụ. Hỏi làm sao
chịu đựng nổi lâu ngày mà không công phẫn, thỉnh thoảng ông đã cất lên tiếng nói. Nhưng sau
mỗi lần, tiếng nói của ông bị đập tan. Không những thế, người ta còn bắt ông thú nhận những tội
lỗi mà ông không làm. Người ta đã áp lực bạn bè ông viện ra những bằng chứng bịa đặt, tố cáo
ông như một tội phạm. Trong vụ "Nhân văn Giai phẩm", đảng sai ông đúng, nhưng ông đã phải
"xin lỗi trước đảng và trước nhân dân". Trong việc cộng tác với trốt-kít để huy động phong trào
Việt kiều ở Pháp chống chế độ thực dân, ông đúng đảng sai, nhưng đảng đã ghi vào hồ sơ lý lịch
của ông: "Thỏa hiệp với bọn trốt-kít phản động, tay sai của đế quốc!" Có hiểu bản chất con người
ông Thảo mới hình dung được những đau khổ của ông, đứng trước những oan trái mà ông đã âm
thầm gánh chịu. Những oan trái đó, ông đã mang theo cho đến khi trút hơi thở cuối cùng.
Cái chết lần thứ hai của ông Thảo, theo tôi, là khi đảng gắn trên quan tài ông tấm huy
chương, ngụ ý đảng thưởng công cho "con người yêu quí, trung thành của đảng". Còn sự chua
chát nào hơn đối với hương hồn một người như ông! Khi ông còn sống, đảng đã bội bạc, vùi dập
ông. Khi ông chết, đảng vẫn không tha mà còn tìm cách "chiếm lãnh" (récupérer) con người ông,
làm lợi khí tuyên truyền cho đảng.
6. Tôi được biết ông Thảo trong thời gian 1944 - 1946, khi chúng tôi cộng tác với nhau,
gây dựng phong trào Tổng Ủy ban Đại diện Việt kiều tại Pháp. Chúng tôi cùng ở xóm La Tinh
(Paris 5), nhà tôi cách nhà ông Thảo chừng 5 phút đi bộ. Chúng tôi gặp nhau luôn, coi nhau là
bạn. Năm 1946, ông Hồ Chí Minh qua Pháp, lôi kéo trí thức quốc gia rời bỏ sự đoàn kết với trốtkít.
Từ ngày ấy, ông Thảo và tôi chia tay nhau. Ông đứng về lập trường của Stalin và Mao, chống
trốt-kít. Tôi bênh vực trốt-kít, chống chủ nghĩa mao-ít và xta-lin-nít. Trong những năm 1947-
1951, tôi có viết nhiều bài đăng trên mặt báo "Vô sản" và "Tiếng thợ" công khai tranh luận với
ông Thảo. Với sự hăng say của tuổi trẻ thời đó, phía trốt-kít cũng như phía ông Thảo, đôi khi đã
dùng những chữ, những câu "quá lời"! Nhưng nội dung vẫn giữ được phong cách một cuộc đấu
tranh tư tưởng và chính trị. Về phần tôi, tôi không bao giờ coi ông là "kẻ thù" (ennemi) mà chỉ coi
HỒ SƠ ĐỆ TỨ QUỐC TẾ VIỆT NAM 90
là người đối lập (adversaire). Truyền thống phong trào lao động coi sự bất đồng tư tưởng là
thường. Chỉ tới thời đại Stalin, nó mới bị coi là tội ác, cần phải diệt trừ!
Đối với tôi, về mặt tư tưởng, ông Thảo sau này không còn là ông Thảo thời xưa nữa.
Nhưng, trước cũng như sau, tôi vẫn tôn trọng ông là người đã từ bỏ công danh ở Pháp, can đảm
trở về quê hương, với hoài bão đem tài năng cống hiến cho cuộc giải phóng dân tộc.
Ngày đám tang ông, tôi có mặt ở nghĩa địa Père Lachaise, giữa đám bạn bè cũ của ông.
Tôi không giữ nổi cảm xúc khi nhớ lại quãng đời chông gai của ông mà tôi được chứng kiến.
(Paris, tháng 8-1993)
91
Nói chuyện với ông
Hoàng Khoa Khôi, trưởng ban chủ biên dịch
thuật cuốn
"Cuộc cách mạng bị phản bội"
(Vũ Huy Quang thực hiện)
Những nhận định lịch sử cần sòng phẳng & Những suy luận chính trị
cần công khai.
Bản dịch - từ Pháp văn sang Việt văn - cuốn "Cuộc cách mạng bị phản bội" (nhan đề
tiếng Anh là "The Revolution Betrayed - What is The Soviet Union and Where is it
Going?", Pathfinder Press xuất bản ở New York) là một công trình tập thể của những
người trong phong trào Đệ tứ ở Pháp, mà ông Hoàng Khoa Khôi là trưởng ban chủ biên.
Cuốn sách được phát hành ở Mỹ từ giữa năm 1993.
Vốn chưa hề được dịch ra Việt ngữ, "Cuộc cách mạng bị phản bội" là một trước tác
của lãnh tụ Đệ tứ Quốc tế Leon Trotsky (1879 - 1940), viết xong từ tháng 8-1936, nội dung
để "chỉ thẳng vào bộ mặt thật, chứ không nói đến cái mặt nạ"1 của Stalin và của Đệ tam
Quốc tế... Cho nên, đó là một cuốn sách ít được nhắc đến từ đủ mọi phía, cả trong nước
lẫn ngoài nước, cả những người cộng sản và không cộng sản. Tầm quan trọng của cuốn
sách này, theo ông Hoàng Khoa Khôi viết trong "Lời giới thiệu", là "không thể hiểu sự
sụp đổ của Liên Xô nếu không có sự nhận xét minh bạch về quan liêu. Vì một lẽ giản dị:
tệ quan liêu chứ không phải chủ nghĩa mác-xít đã gây nên sự sụp đổ này".
Chúng ta hãy tự đặt mình vào vai trò một người điều tra. Nếu cộng sản lỗi thời, sao
còn những người Đệ tứ? Nếu cộng sản tốt lành, sao nhiều người liều chết ra đi? Nếu tư
bản xấu xa, sao chúng ta đến tị nạn với họ? Nếu người quốc gia thông minh tài trí, sao họ
đánh đâu thua đấy? Sao những cuộc biểu tình chống cộng, tuy không ai phản đối mà chỉ có
một số quá ít người tham gia? Sao các tuyên cáo và các phong trào kháng chiến lại trở
thành bi hài kịch? Sao chúng ta chống chụp mũ... mà chính chúng ta, ai nấy cùng vui vẻ
chụp mũ? Sao chúng ta hèn nhát mà đòi người trong nước "đứng lên"?... Những câu hỏi
này không ai giải đáp giùm cho ai. Khi nói đến việc đòi dân chủ... mỗi người trong chúng
ta đã đủ trưởng thành để tự giải đáp chưa? Có phải, chúng ta cần đối thoại trong tinh
thần... dân chủ hay không? Chúng ta đã biết trao đổi tư tưởng một cách dân chủ chưa?
Cho nên, đôi lúc, chúng tôi nghĩ rằng có lẽ các chữ "cộng sản", "tư bản", "quốc gia",
"quốc tế", "dân chủ", "chuyên chính"... đều cần phải được định nghĩa lại. Lại nữa, nếu
chúng ta đồng ý rằng "giai cấp cường hào mới" ở Việt Nam đã và đang gây ra những trì
trệ, bất công cho tinh thần dân chủ, tinh thần đấu tranh - những từ ngữ đang là thời
trang trên đầu môi, mũi bút mọi người - thì phải chăng, càng chỉ thẳng vào nó từ đủ mọi
phía, càng qui tụ được sức mạnh chống độc tài? Cùng với nhiều sách vở, tư liệu khác của
những người mác-xít thuộc nhóm Đệ tứ như "Tờ trình bí mật của Khrushchev", "Về
phong trào Đệ tứ" v.v..., "Cuộc cách mạng bị phản bội" là một cuốn sách có nội dung phê
phán như thế.
 Báo "Viet Journal" (Hoa Kỳ) số tháng 6-1994.
1- "We intend to show the face and not the mask" (Leon Trotsky, Intr. "The Rev. Betrayed", 1st. Pub. 1937).
HỒ SƠ ĐỆ TỨ QUỐC TẾ VIỆT NAM 92
Bị động viên trong cuộc chiến tranh 1939 - 1940, qua Pháp từ năm 1939 trong lực
lượng Lính thợ (ONS), ông Hoàng Khoa Khôi là một người trong nhóm chủ trương các tạp
chí "Vô sản" (1944), "Tiếng thợ" (1950), "Quan sát" (1963), "Nghiên cứu" (1981),
"Chroniques Vietnamiennes" (1985). Cạnh đó, ông tham gia nhóm dịch thuật các tác
phẩm "Cuộc cách mạng bị phản bội", "Tờ trình bí mật của Khrushchev" (cuốn sách Việt
ngữ đầu tiên ghi lại đầy đủ những nhận định cuối cùng của Lenin về Stalin và Trotsky, mà
đảng Cộng sản Việt Nam không hề công bố) và cũng là người từng bút chiến với các ông
Nguyễn Khắc Viện, Trần Đức Thảo... từ những thập niên 40 và 50, trên các tờ báo Pháp
ngữ và Việt ngữ ở Pháp.
Ông thuộc nhóm Đệ tứ Việt Nam ở Pháp, đã vận động và ký tên cùng 300 trí thức
trong "Bản kêu gọi đòi trả tự do cho Dương Thu Hương" (Liberté pour Dương Thu
Hương) khi nhà văn này bị bắt giữ. Ông cũng đã lên tiếng trên đài RFI về cái chết mờ ám
của Tạ Thu Thâu và là tác giả bài viết "Ai giết Tạ Thu Thâu và những người trốt-kít Việt
Nam?", từng được đăng tải trên báo chí hải ngoại (đăng lại trong tập "Hồ sơ của phong
trào Đệ tứ Việt Nam", tập 1).
Lần đầu tiên sang Mỹ vào lúc đã trên 70 tuổi, ông Hoàng Khoa Khôi đã dành cho
chúng tôi một cuộc tiếp xúc riêng kéo dài 4 giờ, tại Orange County (California).
Cuộc nói chuyện ấy, được ghi lại sau đây, khởi đầu rất từ tốn, chậm rãi, nhưng đã rất
sôi nổi về sau. Thì giờ eo hẹp, nhưng khi dứt cuộc nói chuyện, bất đồng tuy vẫn còn, nhưng
cảm thông đã tăng lên nhiều. Vì tầm vóc của các dữ kiện và các nhận định lịch sử bấy lâu
bị che khuất, vùi lấp..., ông Hoàng Khoa Khôi đồng ý rằng nên phổ biến công khai cuộc
trao đổi ý kiến này, vì "Dân chủ là công khai".
Nội dung cuộc nói chuyện khái lược này đã chú trọng vào các vấn đề độc tài, sùng bái
lãnh tụ, cùng tinh thần đấu tranh cho dân chủ. Tiếp xúc với ông Hoàng Khoa Khôi, chúng
tôi nhấn mạnh quanh bốn câu hỏi chính, liên quan đến chủ nghĩa mác-xít - lê-nin-nít,
Stalin, Hồ Chí Minh, Trotsky... Và đã được nghe ông Hoàng Khoa Khôi giãi bày với những
luận định mới lạ.
Độc giả có thể thấy, ông tự nhận là người mác-xít, lại chống cộng hơn cả những
người chống cộng, dân chủ hơn cả những người tự nhận là "tranh đấu cho dân chủ".
Nhưng những người Đệ tứ như ông, thời nào, ở đâu, lúc nào cũng là thiểu số, vì họ đi
ngược với cường quyền: những con cá bơi ngược dòng. Chỉ sau những kinh qua của thời
gian, người ta mới có thể thấy viễn kiến của họ có giá trị.
Lần đầu tiên gặp ông ở châu Âu, khi bàn chuyện chính trị, ông Hoàng Khoa Khôi đề
nghị chúng tôi xưng hô "anh", "tôi" cho dễ tranh biện. Cuộc nói chuyện lần này ở Mỹ thu
băng dài 4 tiếng đồng hồ, sẽ được ghi lại trong tinh thần bình đẳng, tranh biện ấy. Tuy
chúng tôi đã chuẩn bị trước những điểm chính qua các câu hỏi đặt nêu ra với ông - dẫn
chứng cẩn thận bằng các tài liệu giấy trắng mực đen, của các sách vở Việt ngữ và Anh ngữ
-, kẻ chuẩn bị, người vô tình... thế mà càng đề cập đến những vấn đề khúc mắc, người trả
lời càng hòa nhã, không hề lúng túng, lại thành chủ động. Điều ấy, độc giả có thể dễ dàng
nhận ra.
(Nhóm Đệ tứ sẵn sàng trao đổi ý kiến minh bạch, công khai với độc giả. Muốn có
sách, báo, tài liệu, độc giả liên lạc qua địa chỉ: "Nhóm Đệ tứ Việt Nam, Tủ sách Nghiên
cứu, Chroniques Vietnamiennes, Boite Postale 246, 75224 Paris, Cedex 11, France").

No comments: