Friday, October 7, 2016

VIỆT NAM HÔM NAY

Bún cháo chửi”: Người Hà Nội nghiện “gia vị” nhục?

Nhà văn Võ Thị Hảo
2016-10-03

Đặc sản Hà Nội?

Theo VTC14, 29.9.2016: “Mới đây, đầu bếp nổi tiếng người Mỹ Anthony Bourdain - người từng ăn bún chả với Tổng thống Obama - đã không giấu nổi sự ngạc nhiên khi lần đầu tiên đến ăn ở quán bún chửi Ngô Sỹ Liên. Ông đã đưa trải nghiệm lạ lùng của mình vào chương trình Parts Unknown, vừa phát sóng trên kênh CNN cách đây ít ngày”.
Trong chương trình truyền hình đó, đầu bếp này được một cô gái Hà Nội đưa đến giới thiệu món “bún chửi”(BC) ở phố Ngô Sĩ Liên và nói rằng đó là quán ăn yêu thích nhất của cô.
Ông Mỹ không cảm nhận được tiếng chửi và sự nhục mạ khách của người bán hàng thì đã đành. Nhưng điều đáng ngạc nhiên là thay vì bất bình với thái độ bất lịch sự, bạo lực của người bán bún – vì chửi và miệt thị người khác đương nhiên là một dạng bạo lực - cô gái lại đồng tình, biện hộ cho người “đàn bà chửi” đó, coi như một đặc sản văn hóa ẩm thực VN.
Chương trình truyền hình nói trên quay trong bối cảnh quán có đông người ăn. Bà chủ quán thấy ông Mỹ và truyền hình quay thì dịu giọng hơn mọi ngày, nhưng chỉ trong khoảnh khắc đó, bà ta cũng đã kịp làm nhục một cô gái trẻ khác trước đám đông.
Cô gái không có lỗi gì. Cô ăn mặc và nói năng lịch sự. Cô chỉ hỏi mua một bán bún có mọc(thịt nạc giã nhuyễn viên thành viên, thường các quán bán bún đều có).
Chỉ thế thôi mà bà chủ quán đã tạt vào mặt cô những lời mỉa mai, xua đuổi cô trước mặt đám đông, trước cả ông đầu bếp Mỹ và ống kính truyền hình, trong khi những khách hàng khác thản nhiên xì xụp, chăm chú vào bát bún, coi việc chửi là chuyện đương nhiên.
Ông người Mỹ không biết tiếng Việt thì đã đành. Nhưng khách ăn thì thấm thía tận ruột gan những cầu chửi bằng tiếng mẹ đẻ chứ không thể biện hộ rằng không hiểu.
Khách ăn lần đầu bị chửi hoặc biết sẽ bị chửi mà vẫn ăn thì chứng tỏ những người ăn đó đã chấp nhận và gián tiếp cổ vũ tính bạo lực và lưu manh. Việc này càng được phổ biến rộng, chấp nhận rộng rãi thì càng gây hại cho xã hội và động chạm đến nhân phẩm con người.
Vì sự chấp nhận đương nhiên, ngày càng nhiều quán và dịch vụ các loại kèm “gia vị chửi- gia vị nhục” với khách hàng. Với thông tin BC lên CNN thì e rằng món BC phát triển thêm rầm rộ và khách hàng đi đâu cũng dễ được ăn kèm thứ “gia vị xú uế” đó.
Điều này tưởng vô hại, nhưng thực ra tiềm ẩn những nguy cơ sâu xa.

Mùi xú uế của “gia vị nhục”

Khi ta chấp nhận, thậm chí vui chịu bị kẻ khác chửi bới xúc phạm chỉ để mua được miếng ăn ngon, vậy ta có công bằng với chính mình không?
Xót xa thay là trong đám đông đó không thấy một tiếng nói chính trực nào lên tiếng bênh vực cô gái bị nhục mạ và cảnh báo chủ quán BC như nghĩa vụ của một con người cần làm khi thấy một người khác bị xúc phạm. Và ngay cả việc họ phải ăn trong tiếng chửi, dù là chửi người khác- thì cũng đã là bị xúc phạm lớn.
Lẽ nào họ không nhận ra chủ quán đã thêm vào món ăn của họ một thứ “đặc sản” VN: “gia vị nhục”! Khách ăn có quyền từ chối gia vị nhục. Nhưng không, họ vẫn ăn ngon. Vì sao? Họ đã nhờn trước mùi xú uế của thứ “gia vị nhục”, coi đó là chuyện vặt, là đương nhiên và còn thú vị. Coi thế thì họ mới ăn tiếp và còn đến ăn tiếp lần sau.
Chuyện BC và những món hàng bán kèm chửi mắng Hà Nội không thể là chuyện đùa được nữa rồi. Khi chửi và văng tục đã trở thành đương nhiên, ngay cả trong nhiều người có trình độ văn hóa và quan chức!
Sinh ra làm người, ai cũng có nhân phẩm, ai cũng cần được tôn trọng. Văng tục và chửi người khác là muốn nô lệ hóa tha nhân, đồng thời cũng hạ thấp nhân phẩm của chính mình. Ai cũng biết, mắng mỏ, đay nghiến, văng tục vào mặt người khác là một cách giao tiếp bất lịch sự, áp đặt và bạo lực.
Văng tục, chửi bới tố cáo đẳng cấp văn hóa của chủ nhân. Một xã hội lành mạnh không tạo cơ hội và đồng lõa với những cách hành xử bạo lực kế cả trong hành động, lời nói cùng cung cách giao tiếp.
Trong hiện tượng tồn tại kéo dài “bún chửi cháo chửi” ở Hà Nội, chúng ta không thể không thấy đau buồn thay cho thủ đô tự nhận mình là văn hiến nhưng nhà chức trách cũng như người dân đã không làm gì đủ để chấm dứt tình trạng đó.

Não trạng nô lệ

Không vặt vãnh chút nào vì tất cả những biểu hiện này xuất hiện từ căn nguyên sâu xa của não trạng nô lệ.
Chỉ có trong xã hội này, thì bạo lực từ miệng của một người đàn bà bán hàng tầm thường đã được nhân lên, quảng cáo thành một phương cách, một thương hiệu bán hàng.
Qua hiện tượng này, ta có thể lý giải về sự thường xuyên dùng bạo lực với phụ nữ, người già và trẻ em cùng những người yếu hơn mình của người VN.
Tại sao ngoài xã hội nhiều cướp giết hiếp. Tại sao cơ quan công quyền luôn nêu gương xấu, dùng đủ mọi hình thức bạo lực với dân để kiếm chác không giới hạn, cũng như tâm lý chấp nhận bạo lực chỉ vì ngại dây dưa với một kẻ ngoa ngoắt hoặc sợ hãi trước cường quyền của người VN?
Gần một thế kỷ cướp được và vận hành thể chế, nhà cầm quyền độc tài cộng sản đã rất thành công trong việc biến não trạng của người dân VN tự trọng thành não trạng sợ hãi và nô lệ. Và những nô lệ luôn khổ sở, không có lối thoát thì tìm cách tận dụng mọi vị thế để bắt nạt kẻ khác. Và để đổi chác lấy một miếng an toàn, người ta lại ngoan ngoãn chấp nhận làm nô lệ.
Não trạng nô lệ, thấm vào máu người VN, từng đường gân thớ thịt thể hiện trong mỗi hành xử của con người, đã là lá chắn bền chắc cho những kẻ độc tài.
Não trạng đó khiến cho cả trăm người, ngàn người, ngày này qua ngày khác lũ lượt nhịn nhục trước một vài người bán đồ ăn tầm thường. Vậy ta lấy đâu ra dũng khí phản đối những chà đạp lớn hơn lên quyền con người từ các thế lực mạnh hơn?
Vì thế, VN hiếm những người chính trực. Người chính trực luôn giữ mình tự trọng và ngay thẳng không chỉ trước cường quyền, mà còn trong tất cả mọi tình huống hàng ngày. Người chính trực tự thấy mình có đủ bổn phận vào dũng khí để bênh vực người khác khi họ gặp bất công.
Tâm lý dễ dàng chấp nhận bạo lực ở VN, sẵn sàng “nuốt gia vị nhục” để đổi lấy những chút lợi ích tầm thường, ấy là tâm lý nô lệ. Tâm lý này đã là mảnh đất màu mỡ nuôi đau thương lâu dài cho người VN và khiến người VN hăm hở tự hại chính mình.
Khi không thể làm gì trước những bất công xẩy ra với mình, những người nô lệ có khuynh hướng bắt nạt những kẻ lệ thuộc mình bằng bạo lực vật chất và tinh thần.
Vô số người VN dồn sự phẫn uất với nhà cầm quyền và những kẻ tham nhũng, cướp bóc của họ vào trong tiếng chửi thề, văng tục để họ khỏi nổ tung ra vì căm giận.
Họ cho rằng mình không thể làm gì nhà cầm quyền. Họ được cộng sản truyền đời báo kiếp cho sự sợ hãi chính trị và coi chính trị là lĩnh vực thường dân không được quyền bàn tới. Họ xả tức giận vào những tiếng chửi và văng tục, với những ai mà họ biết rằng không chấp hoặc không làm hại họ.
Và thế là năng lượng tốt của con người: biết phẫn nộ trước bất công -  đã được biến hóa thành năng lượng xấu: hạ nhục kẻ vô tội khác để xả phẫn uất. Khi xả phẫn uất không đúng thủ phạm, thì thủ phạm được yên ổn, được khuyến khích.
Đó là vòng luẩn quẩn của não trạng nô lệ.

Nhận biết và khước từ “gia vị xú uế”

Một vài người bán hàng chỉ vì nấu được bát cháo miếng bún ngon mà cũng tận dụng vị thế để nô dịch người khác dễ dàng vậy sao? Một phần là lỗi ở chúng ta. Và chúng ta cười nhăn nhở trước tiếng chửi và thâm tâm còn bắt chước vì thấy nô dịch người khác dễ quá, tội gì không chửi trước, chửi bậy bạ bất kỳ đâu, bất kỳ ai để giành ưu thế.
Chúng ta phải đòi lại quyền được tôn trọng, quyền làm người chính trực.
Vì sao chúng ta úp mặt vào miếng ăn , sụp soạp húp khoái trá trong tiếng chửi?! Ta xứng đáng được tôn trọng và không bất kỳ ai được xúc phạm ta. Ăn trong tiếng chửi mà thấy ngon ư? Khứu giác và vị giác người VN vì sao đổ đốn thế này?!
Con người bình thường phải cảm nhận ngay được mùi tanh lợm xú uế đã đổ vào bát ăn qua tiếng chửi và phải hắt cái bát ăn đó đi, thậm chí phải đưa kẻ chửi, kẻ dám nhục mạ khách hàng ra chịu trách nhiệm trước pháp luật.
Khốn khổ quá! Từ bao giờ mà người VN đã trở thành như vậy? Vậy còn lĩnh vực nào ở VN không bị nô dịch hóa? Vì sao nô lệ hóa người VN dễ dàng đến thế?
Nếu chúng ta không dám tỏ thái độ phản đối một kẻ bán hàng tầm thường dám nhục mạ ta, thì sao ta còn dám đòi quyền con người và tự do của ta, còn nói gì đến việc bênh vực người khác trước hoạn nạn và bảo vệ đất nước?
Cải tạo não trạng nô lệ, giành lại quyền làm người chính trực là để cứu lấy người VN. Đó là một việc làm cấp bách, cần bền bỉ, lâu dài, cần thể hiện, cần kiểm soát mình để khước từ nhai nuốt “gia vị nhục” trong mọi trường hợp.
VTH

Bún chả Hương Liên ngày càng đông khách

RFA
2016-09-23
Tiệm bún chả Hương Liên ở Hà Nội ngày càng đông khách sau chuyến thăm của Tổng thống Barack Obama. Ảnh chụp hôm 12/9/2016.
Tiệm bún chả Hương Liên ở Hà Nội ngày càng đông khách sau chuyến thăm của Tổng thống Barack Obama. Ảnh chụp hôm 12/9/2016.
AFP photo 

Nghề chạm khắc dấu, triện ở Hà Nội

Nhóm phóng viên tường trình từ Việt Nam
2013-11-20
Những nghệ nhân chạm khắc tại vỉa hè Hà nội
Những nghệ nhân chạm khắc tại vỉa hè Hà nội
RFA
Nghe bài này
Những người Hà Nội hoài cổ vẫn còn đâu đó giữa Hà Nội với một chút tiếc nuối về một thuở tàu điện leng keng, một không gian Hà Nội chầm chậm, mặt hồ liễu rũ, lòng người thanh tân, nếp sống thanh lịch…
Những nét đẹp ấy đã tan biến cùng sương khói thời gian, thay vào đó là một Hà Nội pha tạp nhiều giọng nói, nhiều kiểu sống mới lạ và đặc biệt là nhiều hành vi ứng xử khiến cho người gốc Hà Nội phải chau mày và buồn tiếc một thời đã qua. Sự hiện hữu những người ngồi khắc con dấu, khắc triện ở phố Hàng Quạt, giữa Hà Nội Ba mươi sáu phố phường, trong một ý nghĩa nào đó, giống như ấn chứng về vẻ đẹp Hà Nội xưa.
Nét đẹp Hà Nội xưa
Ở số 6, Hàng Quạt, Hà Nội, người ta vẫn không quên hình ảnh một vị thầy giáo mắt đeo kính cận, dáng người phúc hậu, tính tình cởi mở, hòa nhã.. . ngồi cặm cụi chạm khắc từng thớ gỗ. Thầy Phạm Ngọc Toàn, nói ông là thầy giáo cũng đúng vì ông từng thế, mà bảo ông là nghệ nhân chạm khắc cũng không sai. Là chủ cửa hàng Phúc Lợi, chuyên làm khuôn bánh, khuôn oản, khuôn xôi và những con dấu, con triện.
Một không gian nhỏ, vừa đủ hai người ngồi trong một căn xếp nhỏ cũng vừa đủ treo một số khuôn bánh in, khuôn xôi, khuôn oản các loại, một thầy, một trò, trước mặt hai người là một chiếc làn đựng những con triện, con dấu bằng gỗ thị, gỗ lekima với nhiều hình ảnh sinh động như mười hai con giáp, bộ lân long qui phụng, tháp Rùa hồ Gươm, tháp Bút Hồ Gươm, Hồ Tây, những bộ truyện tranh ngộ nghĩnh dành cho tuổi đồng dao.
Anh Phạm Ngọc Toàn kể về công việc của mình:
“Năm nay chú gần 60 rồi, trước đây thì chú đi học, đi dạy học, nhưng sau đói quá, không ăn thua sau về làm cái này. Chú ngồi đây từ năm 1993, nhưng mà cái chất nghề thì đã từ bé rồi. Một ngày, ví dụ như những hình phức tạp thì cũng được 3 – 4 cái, còn những hình này có thể nhiều hơn, (hình những chiếc hoa đơn giản, hình 12 con giáp…) hình này theo thói quen rồi, chứ còn cái này mình nghĩ, nó sinh động như hai đứa đi xe máy, hai đứa chèo thuyền… thì được độ 3 – 4 cái. Nghề này là nghề gia truyền, cũng mấy đời rồi, có ông tổ nghề, ở Hà Tây cũ. Cái trò này hay lắm mà cái này vào Hội An là 150 ngàn đồng luôn!”
Ở số 6, Hàng Quạt, Hà Nội, người ta vẫn không quên hình ảnh một vị thầy giáo mắt đeo kính cận, dáng người phúc hậu, tính tình cởi mở, hòa nhã...ngồi cặm cụi chạm khắc từng thớ gỗ. Thầy Phạm Ngọc Toàn, nói ông là thầy giáo cũng đúng...mà bảo ông là nghệ nhân chạm khắc cũng không sai
Với anh Toàn, dường như công việc của anh không dừng ở ý nghĩa kiếm sống thường nhật và động cơ làm giàu bằng nghề này hoàn toàn không nặng, dường như phía sau những ngày cặm cụi gọt giũa, cắt tỉa hình thù con chữ, từng con mèo, on khỉ, on rồng… người làm công việc này đã ký thác một chút Hà Nội xưa kiêu hãnh, lãng mạn và nồng ấm trong đường nét, thớ gỗ. Có lẽ chính vì thế mà khi khắc xong giùm chúng tôi vài con dấu, thấy đẹp quá, chúng tôi có nhã ý tặng thêm anh một chút tiền uống cà phê, anh Toàn vui vẻ từ chối và nói với chúng tôi rằng niềm vui của anh nằm ở chỗ chúng tôi thấy thích, thấy quí trọng những nét tinh xảo trên con dấu, con triện chứ không phải ở khoản tiền nhiều hơn bình thường.

Các loại khuôn bánh in. RFA
Các loại khuôn bánh in. RFA RFA
Vì lẽ, một người Hà Nội đích thực rất coi trọng công lao động của người khác, nó quí như chính công sức của mình. Lấy tiền vừa đủ với công sức của mình cũng có nghĩa là biết quí trọng người khác đã lao động khổ nhọc biết nhường nào để kiếm ra đồng tiền. Và có một điều nữa là những ai biết quí trọng cái tên của mình cũng đồng nghĩa với chuyện biết quí trọng danh dự, chữ Tín và chữ Nhân của mình, đôi khi, việc tự tìm thợ khắc một con dấu để in vào uốn sách, ghi dấu khoảnh khắc và mang nó theo suốt đời có ý nghĩa hơn rất nhiều so với chuyện đạt được một địa vị nào đó, để ai đó mang con dấu đến cho mình đóng, xong việc, con dấu ấy lại vứt đi và người ta chẳng biết tìm đâu ra người đóng dấu khi nhiệm kì đã qua… Đó cũng là một triết lý vui của một người Hà Nội thâm trầm.
Lưu giữ nét xưa
Một khách du lịch tên Thời, người Đà Nẵng, cảm động chia sẻ với chúng tôi rằng khi đến phố Hàng Quạt, nhìn những khuôn bánh in lưu dấu một thuở xa xưa, thời mà kinh tế đất nước còn nghèo nàn, lạ hậu nhưng lòng người thơm thảo, sống nghĩa tình ấm áp với nhau, thời mà cuối năm, mẹ anh đi rang nếp, rang gạo, rang đậu xanh, còn gọi là đi chấy ngũ cốc, mang về xay thành bột, rồi tối đến hong bột trên mái nhà hoặc trên chiế ghế cao trước hiên để sương tháng chạp quyện vào, làm cho bột trở nên dẽo thơm, sau đó trộn với đường bát cạo mỏng, vo bột cho đủ dẽo rồi in thành từng hiếc bánh đủ các hình hài, từ đàn gà, đàn lợn cho đến nàng tiên, chú cuội…
Cơn gió thị trường cuốn xô mọi thứ, nhưng đâu đó, một chút trầm lặng, một chút thanh khiết và một hút kiêu sa của những nghệ nhân có thu nhập thấp nhưng lại có đời sống tinh thần phong phú, nhẹ nhàng và hào sản lại làm cho Hà Nội trở nên huyền nhiệm, cổ độ và thấp thoáng dấu xưa của một thiên đường đã mất
Bánh in được hong trên lửa than cho dòn, thơm và được cất kĩ trong hộp lót giấy trắng, đợi ngày cúng chạp, buổi giao thừa hoặc ngày đầu năm mới mang ra mời người già nhâm nhi uống nước trà, mời trẻ nhỏ chút quà đầu năm… Cái không khí ấy tuy đạm bạc nhưng rất đỗi hồn vía, mang mang âm hưởng của bốn mùa và lòng người, hân hoan sắc xuân nhưng cũng sâu lắng tâm hồn đất đồng khói rạ, nao nao tuổi đời và ý niệm thời gian. Dường như những cảm giác ấy đã mất hẳn trong thời kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Thay vào đó là một thị trường xô bồ, cái Tết cũng cập rập, nhiều toan tính, mất đi sự tĩnh lặng, sâu thẳm cuối năm. Thế rồi, giữa Hà Nội hiện đại, tốc độ và hào nhoáng, bắt gặp những chiếc khuôn bánh bằng gỗ, ký ức xưa lại ùa về.
Một khách du lịch khác tên Phượng, chia sẻ với chúng tôi rằng lần nào đi Hà Nội, chị cũng cố gắng ghé lại phố Hàng Quạt để khắc một con dấu mang tên người thân hoặc bạn bè làm quà kỉ niệm. Cũng có người rất quí món quà này, cũng có người nhận vì nễ mích lòng, bởi vì trong thời kinh tế thị trường, tặng nhau một con dấu có đôi khi không được coi trọng bằng tặng một tờ vé số. Thế nhưng, dẫu sao chị cũng tin rằng những món quà tặng chứa tình cảm và sự hoài cổ của chị một ngày nào đó sẽ gợi nhắc điều gì đó về tuổi thơ đã qua của những bạn bè thân.
Đặc biệt, chị Phượng lấy làm hạnh phúc khi chị mang về tặng mẹ một chiếc khuôn bánh in có hình lân, long, qui, phụng. Mẹ của chị rất thích món quà này bởi nó gợi nhắc kỉ niệm ngày xưa cha chị đã tặng cho mẹ chị hồi mới quen nhau, món quà ấy đã bị thất lạc trong những năm gia đình chị chạy trốn, vượt biên mà không thành.
Những chiếc khuôn gỗ được chạm khắc ông phu với giá tiền xấp xỉ một trăm ngàn đồng, những con dấu mang tên chủ nhân của nó với giá chưa tới 50 ngàn đồng, giữa một Hà Nội xa hoa, số tiền kiếm được của người thợ chỉ xấp xỉ một trăm ngàn đồng đến hai trăm ngàn đồng mỗi ngày, trong một góc phố nhỏ, chỗ ngồi cũng nhỏ, nhưng lại chứa cái bao la của thời gian, ký ức và tâm hồn con người.
Có thể, không phải ai làm nghề khắc dấu, khắc triện và làm khuôn bánh cũng quan niệm giống như anh Toàn, bởi cơn gió thị trường cuốn xô mọi thứ, nhưng đâu đó, một chút trầm lặng, một chút thanh khiết và một hút kiêu sa của những nghệ nhân có thu nhập thấp nhưng lại có đời sống tinh thần phong phú, nhẹ nhàng và hào sản lại làm cho Hà Nội trở nên huyền nhiệm, cổ độ và thấp thoáng dấu xưa của một thiên đường đã mất!
Nhóm phóng viên tường trình từ Việt Nam.
 http://www.rfa.org/vietnamese/reportfromvn/wood-seal-caver-hanoi-11202013075248.html

Những người bán nước ở Hà Nội

Nhóm phóng viên tường trình từ VN
2013-10-25
Một người bán nước sấu, nước trà ở Chùa Trấn Quốc Hà Nội, ảnh chụp trước đây.
Một người bán nước sấu, nước trà ở Chùa Trấn Quốc Hà Nội, ảnh chụp trước đây.
RFA


Giữ một Hà Nội xưa

Họ là những người bán nước được hiểu theo nghĩa đen cùng đời sống chật vật, vất vả, đội mưa chịu rét để bán mươi ly nước sấu, vài quả cóc dầm hay vài ngao thuốc lào, vài bát chè xanh để sống qua ngày. Trong hương vị ly nước của họ thấp thoáng bóng dáng của một Hà Nội xưa và tiếng leng keng tàu điện cùng năm cửa ô của một thời xa vắng. Cuộc đời lao động vất vả của họ chứa đầy thi vị của một người Hà Nội lịch lãm, chịu thương chịu khó và giàu lòng tự trọng. Điều ấy bây giờ tưởng như đã quá hiếm ở xứ sở này.
Bà Hương, một người bán nước sấu lâu năm bên bờ hồ Tây kể với chúng tôi rằng trước 1980, bà là một công chức nhà nước, nhưng sau đó không lâu, bà cảm thấy mệt mỏi với kiểu làm việc lương ba đồng ba cọc mà phải đội trên đạp dưới, người có chữ, trí thức phải chịu nhẫn nhục để làm những việc lặt vặt trong văn phòng, còn kẻ học hành chưa vỡ chữ thì lại làm quan to, sai khiến lung tung, kệnh cỡm, hợm hĩnh… Bà thấy mất niềm tin, hết muốn làm việc, bỏ ngang việc, cũng chẳng cần xin xỏ gì và cũng chẳng cần cầm lấy một đồng chế độ nào, nghĩa là bà trắng tay khi thôi việc. Sau đó, bà nghĩ đến chuyện hái những quả sấu trên các con phố Hà Nội để ngâm nước, bỏ mối cho nhiều người cùng bán với bà.
Hôm nào đắt hàng thì bán hết lọ này, hôm nào ế ẩm, vắng khách thì 3 ngày mới hết. Hết một lọ thì lãi được khoảng 70 ngàn đồng, khoảng 15-16 ly.
-Bà An
Vài năm sau, mối nước sấu của bà Hương càng lúc càng đắt khách, nước sấu trở lại thời thịnh vượng của nó. Vì khi nói về Hà Nội, không thể không nói về những bờ hồ cùng ly nước sấu chua ngọt, dịu và mát lạnh. Cuối cùng, người ta kéo nhau ra bán nước sấu, kéo nhau đi hái sấu về ngâm và phong trào bán nước sấu nổi lên, cái thời nhẹ nhàng, đằm thắm của ly nước sấu ven hồ bị mất dấu, thay vào đó là sự chộn rộn, chợ búa của nước sấu Hà Nội bây giờ. Tuy vậy, bà Hương và một số người bạn từng bán nước sấu lâu năm của bà vẫn cố gắng giữ riêng cho mình một phong cách riêng, giữ nét Hà Thành một thuở.
Cái nét Hà Thành một thuở được bà An, năm nay 60 tuổi, bạn của bà Hương giải thích đó là không chém khách, dù là khách thập phương hay là khách đồng hương thì vẫn phải làm sao cho khách thấy yêu Hà Nội mà tìm đến, mặc dù bà An không làm việc trong ngành văn hóa Hà Nội, nhưng bà vẫn ý thức được rằng trách nhiệm giữ một Hà Nội đẹp, thanh lịch và đáng yêu thuộc về bà, nó không phải của riêng ai, đó là chưa nói đến các quan chức, có lẽ họ bận bịu với hối lộ, tham nhũng, gái gú gì đó nên họ không bận tâm đến Hà Nội xưa, còn với những người bán nước sấu như bà, Hà Nội xưa là một thiên đường.

Thiên đường và địa ngục

nguoi-ba-nnuoc-sau-o-Ha-Noi-250.jpg
Quán nước sấu, nước trà ở Chùa Trấn Quốc Hà Nội, ảnh chụp trước đây. RFA PHOTO.
Cái thiên đường Hà Nội xưa mà bà An muồn nói đó là nét vui hiện ra trên gương mặt của khách mỗi khi họ ngồi uống nước sấu, ăn kẹo vừng, ngắm phố và vui vẻ vì giá nước rẻ, ngon, cảm giác vui giúp họ thấy người Hà Nội thân thiện và đáng yêu, sẽ còn quay trở lại thăm Hà Nội. Nhưng, cái thiên đường đáng yêu đó đôi khi thoáng qua trong chốc lát rồi vụt tắt bởi âm thanh chát chúa của còi hụ xe công an và những tiếng quát tháo, những gương mặt dữ dằn. Đã nhiều lần bà An gạt nước mặt lội xuống hồ để sục sạo tìm vớt mấy chiếc hủ, chiếc mẹt bán hàng vì nó bị công an vứt tất cả xuống đó.
Bà An buồn rầu nói: “Hôm nào đắt hàng thì bán hết lọ này, hôm nào ế ẩm, vắng khách thì 3 ngày mới hết. Hết một lọ thì lãi được khoảng 70 ngàn đồng, khoảng 15-16 ly. Thế thôi, vì những ai chụp ảnh thì họ mới ra đây còn họ ngồi hết ở hai bên cửa chùa. Bác ngồi xa ở đằng này thì bán rẻ hơn một chút, để người ta nhớ nhiều lần người ta sẽ tới. Kể cả học sinh hoặc những người đi du lịch, một năm họ đi du lịch một lần, hoặc hai, ba năm người ta đi một lần, người ta nhớ mình người ta về thôi. Có cái đặc điểm là như thế. Mình bớt đi một miếng thì người ta nhớ tới mình thôi. Năm nay bán khó khăn lắm! Nói chung thì bên hàng kia họ bán cũng được, họ có người nhà làm công an, nó không bị bắt mấy, nó có bị bắt cũng chỉ là bắt cho người chung quanh không nói gì còn về thì nó lại lấy được đồ về, không như mình…!”
Bên hàng kia họ bán cũng được, họ có người nhà làm công an, nó không bị bắt mấy, nó có bị bắt cũng chỉ là bắt cho người chung quanh không nói gì còn về thì nó lại lấy được đồ về.
-Bà An
Bà An nói thêm rằng với cái nghề bán nước sấu, kẹo vừng mỗi ngày chỉ kiếm được từ 50 ngàn đồng đến 100 ngàn đồng của bà, đôi khi cũng cần có thế lực. Như bà, chẳng có thế lực nào giúp đỡ nên vất vả vô cùng, phải ngồi ở góc khuất, không dám mời chào khách, bán với giá bằng nửa người ta, nước sấu cũng ngon và chất lượng, sạch sẽ hơn nhưng chẳng kiếm đủ sống. Vì những người ngồi ngay trước cổng chùa Trấn Quốc, cách bà không bao xa đều có công an che chở, chỉ cần bà mời chào một tiếng thì bị công an dẹp ngay, bởi bà làm chướng tai gai mắt những người kia, mà họ đều có người nhà làm công an.
Không những thế, có lần, bà An cảm thấy không thể sống nổi vì bị rượt đuổi thường xuyên, phải chuyển sang bán chè đậu, gánh đi dọc các con phố mà bán, nhưng cũng không yên, hễ đã bị công an chiếu rồi thì đằng nào cũng không thoát. Riết rồi thành mệt mỏi, chán chường và liều lĩnh, bây giờ, bà An cảm thấy không sợ công an nữa, nếu cần, họ cứ ném, cứ đổ của bà đi rồi bà sẽ sắm gánh hàng khác mà bán. Vì bà luôn tin rằng người Hà Nội lịch lãm một thời vẫn còn rất nhiều ở Hà Nội, họ sẽ lên tiếng bảo vệ những người lao động nghèo khổ như bà.
Bà An kể thêm: “Có lần bỏ nghề thì đi bán rau, bán rau không có chỗ ngồi đâu. Sau công an đuổi quá thì bỏ không bán rau, thế là về mới nấu chè đỗ đen gánh rong. Mới đầu cũng không có chỗ ngồi đâu. Gánh rong đi bán chè, một nồi đỗ đen, một ngồi đỗ xanh một gánh. Sau đó có mấy bà đi tập thể dục buổi sáng họ nhìn thấy họ bảo mai bà ra đây mà ngồi, chứ gánh rong không gánh nổi đâu. Đó là chưa kể lâu lâu nó đổ nguyên gánh chè của mình xuống hồ, nó bảo thế xem mai có gánh nữa không? Mấy đứa này (những người ngồi bán được công an bảo kê) nó biếu tiền công an để bắt mình.”
Hà Nội vào Đông, những người đàn bà ngồi thu lu ở một góc phố nào đó hay ở bờ hồ lạnh lẽo bán nước kiếm sống qua ngày, cuộc sống chật vật, được chăng hay chớ của họ lại mang âm hưởng gì đó rất Hà Nội. Những tiếng rao, những tiếng mời chào của họ như khảm vào Hà Nội một thanh âm khác cất lên từ những bi thảm kiếp người. Một kiếp người cần lao giữa lòng thủ đô!
Nhóm phóng viên tường trình từ Việt Nam.
 http://www.rfa.org/vietnamese/vietnam/xa-hoi/softdrink-street-vendors-in-hn-10252013151526.html

Dân nhập cư kiếm sống tại Hà Nội

Nhóm phóng viên tường trình từ VN
2014-09-15
Dân nhập cư bán hoa mùa Tết ở Hà Nội.
Dân nhập cư bán hoa mùa Tết ở Hà Nội.
AFP photo


Hà Nội mùa Thu, những hàng cây vặn mình trút lá, mặt hồ liễu rũ, bầy sâm cầm xưa không bay về nữa, nhưng cái nếp ngàn năm Thăng Long vẫn phảng phất đâu đó trong gió mùa. Người dân Hà Nội bắt đầu lục lọi áo len năm cũ, mua sắm áo gió để dạo phố. Hà Nội trở nên trầm mặc và sâu lắng hơn, con người trở nên im lặng. Và đâu đó giữa lòng Hà Nội, có những góc khuất, những cuộc đời nhỏ bé với mùa thu nhỏ bé và buồn đến nao lòng!
Dân oan kiếm sống để khiếu kiện
Một thiếu nữ nghèo tên Hương, bán hoa quả dạo ở quận Cầu Giấy, Hà Nội, chia sẻ:“Cái ngày mưa thì có vẻ người mua ít hơn. Nhưng đợt này Hà Nội mưa cũng không quá to, năm nay có vẻ hệ thống thoát nước tốt hơn thì phải, mấy năm trước nước ngập nổi lềnh bềnh nhưng năm nay không có. Người ta ở đây mấy mươi năm rồi mọi thứ nó thành cái nếp, mưa thì họ có cách của mưa. Giống như mấy đợt trước thì nó ngập lụt rất nhiều, tất cả mọi người vất vả hơn. Như năm trước em ở trong một căn nhà cũng ngập vào mùa mưa, nước cỡ thế này là ngập lềnh bềnh rồi, nhưng năm nay không ngập.”
Theo Hương, đa phần người bán hàng rong ở thành phố Hà Nội đều có hoàn cảnh khó khăn, sống xa quê và là dân oan, có người ở tít tận Thái Nguyên, Lào Cai hoặc Nghệ An, Hà Tỉnh ra thủ đô sống vật vạ qua ngày đoạn tháng bằng gánh hàng rong, xe hàng rong để tồn tại vì nhiều lý do, trong đó có lý do chờ ngày nhà nước giải oan về vấn đề đất đai bị lạm chiếm, gia đình rơi vào khủng hoảng ở quê nhà.
Thế nhưng đã có rất nhiều người rời quê lên thủ đô với niềm hy vọng rằng đến được đây, sẽ tiếp cận được các quan chức cấp cao, quan chức chính phủ để kêu oan, để họ lắng nghe tiếng nói oan ức của mình để rồi từ năm này sang năm nọ, hết ăn ngủ vật vạ chờ nộp đơn lại phải đi lượm rác, đi bốc vác thuê, rồi cuối cùng, họ trở thành những người vô gia cư giữa lòng Hà Nội lúc nào không hay.
Họ quen dần với đời sống sáng buôn thúng bán mẹt, chiều mua vài cọng rau, vài con tép khô, lưng lon gạo để nấu cơm qua bữa, gốc cây, gầm cầu, góc khuất trong công viên hoặc những đoạn lề đường vắng người trở thành nhà bếp, chỗ ăn và sau bữa ăn, đây là chỗ họ có thể lăn ra ngủ để quên đi sự đời, quên đi một ngày nhọc nhằn và đau khổ. Cứ như thế, ngày qua ngày, họ trở thành những người buôn bán kiếm sống và niềm hy vọng được kêu oan cũng nguội dần theo năm tháng. Cũng không còn gì để về quê, họ nghiễm nhiên làm người vô gia cư giữa thủ đô ngàn năm văn hiến.
Cũng theo Hương, hiện tại, nơi cô tá túc là một căn phòng tuềnh toàng rộng chưa đây tám mét vuông vốn là một nhà kho cũ của một gia đình người Hà Nội, vì thương tình cô và một số người phải vật vạ ngoài hành lang, lề đường, chủ nhà đã đánh tiếng mời cô và mấy người kia cùng tá túc qua đêm. Vì đây là một nhà kho và chẳng có giường chiếu gì, cứ tối về, mọi người trải một tấm bạt lăn ra ngủ chứ không dám trải chiếu.
Hỏi ra, Hương giải thích thêm là trải tấm bạt ít nguy hiểm cho chủ nhà bởi vì họ bí mật giúp đỡ cho cô và những người kia, chứ nếu đăng ký tạm trú, sẽ rất khó, chính vì vậy, mọi người trải bạt ra ngủ, nếu ngoài cổng có ai gõ cửa, thấy có biến động bất thường thì mọi người được báo động và lẻn ra ngõ sau, đi theo một con đường tương đối kín đáo để ra ngoài, xem như chủ nhà và khách đều không bị quấy rầy vì đã cho người tá túc bất hợp pháp.
Hương và những người bạn dân oan đi bán hàng rong đã tá túc ở đây gần ba năm nay, cũng nhờ người chủ nhà tốt bụng mà mọi người có chỗ để trú mưa, trú nắng.
Dân hàng rong thời khó
Một người bán hàng rong khác tên Nguyên, chia sẻ thêm:“Vì cái nghề này ngày nắng ngày mưa cũng không quan trọng. Làm thuê có nhiều việc để làm thuê, như mình đứng ở chợ người, chợ trời. Nhưng lao động ở bên xây dựng thì mùa mưa không có việc phải đi làm công việc khác thôi.”
024_132902-400.jpg
Tiểu thương vận chuyển hàng hóa giữa Trung Quốc và Việt nam qua cửa khẩu Lạng Sơn. AFP photo Tiểu thương vận chuyển hàng hóa giữa Trung Quốc và Việt nam qua cửa khẩu Lạng Sơn. AFP photo
Theo ông Nguyên, rất nhiều người bán hàng rong có thâm niên hơn ba mươi năm nay ở Hà Nội, buổi sáng họ đạp chiếc xe cọc cạch đi mua hàng như hoa tươi, trái cây, bông bí, đọt bí, các loại bánh cho trẻ nít, xôi, chè… để đến những địa điểm quen thuộc ngồi bán. Và trong gánh hàng rong, xe hàng rong của họ chứa cả một thế giới nghèo ở dưới quê, có người nuôi con ăn học đến đại học cũng nhờ hàng rong, có người nuôi mẹ già, nuôi chồng bị bệnh hoặc nuôi các con nhỏ đều dựa vào hàng rong.
Riêng ông Nguyên với thâm niên hơn mười năm bán hàng trái cây ở Hà Nội, ông phải thừa nhận người Hà Nội chuộng trái cây hơn bất kì nơi nào khác, nếu như người miền Nam có thói quen ăn hoa như hoa điên điển, hoa bèo, hoa súng, người miền Trung lại quen ăn cây như các loại rau cải thì người miền Bắc, đặc biệt là người Hà Nội có thói quen ăn củ quả. Và cũng nhờ vào thói quen này mà nghề bán trái cây dạo của ông chưa bao giờ thất nghiệp, chỉ có những ngày mệt và mùa mưa thì ế ẩm hơn đôi chút nhưng vẫn sống được.
Thế nhưng trong thời gian gần đây, do tình hình kinh tế nói chung, khách hàng mua trái cây của ông cũng có giảm đi ít nhiều. Nếu như trước đây người ta sẵn sàng vung tay mua ngay ba ký táo, hoặc vài ký nhãn thì bây giờ, có vẻ như họ lựa chọn, cân nhắc cẩn thận và cuối cùng chỉ mua từ một đến hai ký. Theo nhận định của ông Nguyên là do tình hình kinh tế đang ngày càng xấu đi nên sức mua sắm cũng giảm hẳn. Ngay ở thủ đô còn thế, huống gì những nới khác, có lẽ sức mua còn tệ hơn nhiều.
Nếu như trước đây, chuyện mỗi ngày kiếm được từ một trăm đến một trăm rưỡi ngàn đồng không khó lắm đối với ông Nguyên thì hiện tại, kiếm được một trăm ngàn đồng mỗi ngày là cả một sự may mắn lớn đối với người bán hàng rong, trong đó có ông Nguyên. Thậm chí, có ngày ông chỉ kiếm được chưa đầy ba chục ngàn đồng, chỉ đủ để mua một ký gạo, nửa lạng cá cơm khô, một bó rau muống và còn dư vài ngàn đồng để tích lũy phòng khi trái gió trở trời.
Dường như những người bán hàng dạo, hàng rong ở Hà Nội đều có cuộc sống kham khổ, tủi buồn giống nhau và cũng có ước mơ con cái thành đạt để đổi đời tựa giống nhau, nếu không muốn nói thêm là thấp cổ bé miệng, số tiền kiếm được cũng nhỏ như nhau và trên hết là họ giống như hiện thân của những kiếp cần lao rơi rớt giữa chợ đời, giữa phố thị sầm uất, phồn thịnh và xa hoa vào bậc nhất đất nước.
 http://www.rfa.org/vietnamese/reportfromvn/migrants-in-hanoi-earn-their-living-ttvn-09152014102353.html

No comments: