Monday, October 3, 2016

TRẦN HUY BICH * NHƯ PHONG








 
Monday, August 22, 2016

NHÀ BÁO NHƯ PHONG LÊ VĂN TIẾN
TRẦN HUY BICH



VÀI CHI TIẾT CÁ NHÂN

Nhà báo Như Phong Lê Văn Tiến tên thật là Nguyễn Tân Tiến. Trên giấy tờ, nhân vật mang danh hiệu Lê Văn Tiến sinh ngày 1 tháng 2 năm 1923 tại Nam Định. Đây không phải là ngày sinh và nơi sinh thật của ông. Theo ông Nguyễn Ngọc Ấn, người em ít tuổi nhất trong gia đình, song thân các ông chưa sống ở Nam Định bao giờ: nhà báo Như Phong và tất cả các em sinh ra ở Hà Nội. Ông sinh cuối năm 1922, theo âm lịch là năm Nhâm Tuất.
Ông quê ở Từ Châu, gần thị xã Đồng Quan, tỉnh Hà Đông, nhưng gia đình lên sống ở Hà Nội từ những năm đầu của thập niên 1920, trước khi ông ra đời.





GIA ĐÌNH

Ông là con thứ tư trong một gia đình gồm 7 anh em trai. Ba người anh trước ông bị Cộng sản sát hại trong những năm sôi động 1945-1946:
1. Anh trưởng Nguyễn Công Chỉnh: chuyên viên hóa học, trí thức Công giáo, bị Cộng sản hạ sát khi họ tấn công vào nhà thờ Từ Châu năm 1945.
2. Anh thứ hai Nguyễn Huy Tuyết: cựu sinh viên trường Cao đẳng Mỹ thuật, hoạt động trong phong trào Truyền bá Quốc ngữ. Ông là một trong những họa sĩ đầu tiên vẽ tranh Công giáo với sắc thái Việt Nam (Đức Mẹ Maria mặc áo tứ thân ...). Ông cũng là sáng lập viên và cây viết chủ lực của tờ báo Hồn Công giáo. Khi chiến tranh Việt Pháp bùng nổ cuối năm 1946, ông bị Cộng sản bắt giữ và thủ tiêu.

3. Anh thứ ba Nguyễn Quỳnh Giao: tham dự trường lục quân Yên Bái, bị Cộng sản phục kích và hạ sát trên đường di tản sang Trung Hoa cuối năm 1946.

4. Nguyễn Tân Tiến, tức nhà báo Như Phong Lê Văn Tiến.

Sau khi sinh ra ông không bao lâu, thân mẫu ông qua đời. Ít năm sau, thân phụ ông tục huyền và ông có thêm ba người em khác mẹ:
1. Nguyễn Tấn Bình, sinh năm 1929, kém nhà báo Như Phong 7 tuổi, đã qua đời.
2. Nguyễn Tân An, sinh năm 1932.

3. Nguyễn Ngọc Ấn, sinh năm 1934.

NHỮNG HOẠT ĐỘNG ĐẦU TIÊN (1943-1954)

Bắt đầu dùng danh hiệu Lê Văn Tiến từ thời điểm nào. Trong không khí chính trị sôi động ở Việt Nam trong thập niên 1940, sự kiện một thanh niên quan tâm đến đất nước không xuất hiện dưới tên thật mà dùng một lý lịch khác là một chuyện khá thông thường, nhất là với trường hợp một người có ba anh ruột bị Cộng sản sát hại như trường hợp của ông. 







Danh hiệu “Tiến” đã đưa tới bút hiệu “Như Phong” do một câu trong binh thư: “Tiến như phong, chỉ như sơn” (tiến tới tựa như gió, dừng lại tựa như núi). Nhiều người quen biết ông đã nêu nhận xét: vừa năng động vừa thanh thoát, phóng khoáng, ông quả có đặc tính “như gió.” Nhưng với niềm tự tin mạnh mẽ và thái độ ung dung, tự tại, ông cũng có cốt cách “như núi” nữa.
Ông bắt đầu tham gia các hoạt động mang tính cách thông tin, văn hóa từ tháng 9 năm 1943 khi ông 21 tuổi, làm việc cho cơ sở xuất bản Đời Nay do Tự Lực Văn Đoàn thành lập. Sau đó:

-- Tháng 4 năm 1945: ông làm phóng viên cho tuần báo Ngày Nay (bộ mới) do Bác sĩ Nguyễn Tường Bách làm chủ nhiệm và nhà văn Khái Hưng làm chủ bút;
-- Tháng 6 năm 1945: ông làm phóng viên chính cho nhật báo Việt Nam Thời Báo do ông Nguyễn Trọng Trạc làm chủ nhiệm và nhà văn Khái Hưng làm chủ bút.
Theo nhiều người biết ông từ lâu, trong các nhân vật của Tự Lực Văn Đoàn, ông chịu ảnh hưởng của nhà văn Hoàng Đạo Nguyễn Tường Long sâu đậm hơn cả. Ông từng được coi như một thư ký riêng, một người em tinh thần của nhà văn kiêm nhà lập thuyết này.

Tháng 12 năm 1945, ông bị nhà cầm quyền Việt Minh bắt, giam tại Nha Công an ở Hà Nội. Cùng bị bắt với ông có con trai nhà văn Hoàng Đạo là ông Nguyễn Tường Ánh, khi ấy mới 11 tuổi. Bị bắt sau nhưng bị giam cùng phòng với ông có ông Nguyễn Ngọc Linh, sau là Tổng Giám đốc Thông tin miền Nam Việt Nam, khi ấy mới được 15 tuổi. Những ngày bị giam chung này đã để lại nơi ông Nguyễn Ngọc Linh nhiều ấn tượng thật tốt đẹp về ông Như Phong (xin xem bài của ông Linh trong Tuyển tập này) .

Theo nhiều thân hữu biết ông từ lâu, chứng kiến những tàn sát, tương tranh giữa các đảng phái, nhất là giữa hai phe quốc gia – cộng sản trong những năm 1945-1946, ông quyết định sẽ không hoạt động chính trị, nhất là chính trị mang tính cách đảng phái. Ông chuyên tâm vào thông tin, báo chí để giúp người dân hiểu rõ hơn về đất nước và thế giới, nhằm mục đích nâng cao dân trí trong một thời đại nhiều biến cố đang xảy ra ở khắp nơi. Với tôn chỉ “thông tin phải trung thực,” ông chủ trương loan báo sự thật, và cho rằng việc nhìn thấy sự thật sẽ khiến mỗi cá nhân, đoàn thể ... cũng như cả quốc gia, xã hội có thể thay đổi để trở nên tốt đẹp hơn.

Trong giai đoạn đầu của cuộc chiến tranh Việt Pháp (1947-1949), ông tản cư về Phát Diệm, giúp tổ chức tờ báo Tiếng Kêu của giáo khu Phát Diệm, do Linh mục Trần Độc Thư làm chủ nhiệm. Từ năm 1950, ông lên Hà nội, làm Trưởng ban Biên tập của Sở Thông tin Bắc Việt, do ông Nguyễn Trọng Trạc làm Giám đốc. Sau khi đất nước chia đôi năm 1954 ông vào Nam. Nhiệm vụ đầu tiên là Biên tập viên, làm việc cho Việt Nam Thông tấn xã ở Sàigòn.

SÀIGÒN, GIAI ĐOẠN 1954-1963

A. Nhật báo Tự Do


Tháng 11 năm 1954, cùng một số văn nghệ sĩ di cư tên tuổi, ông đứng tên khai sinh nhật báo Tự Do ở Sàigòn. Theo nhà văn Mặc Đỗ trong một cuộc phỏng vấn tại Austin, Texas tháng 10 năm 2012, sau khi di cư vào Nam, ông cùng một số bạn văn (các ông Vũ Khắc Khoan, Nghiêm Xuân Hồng …) đã muốn dựng nên một tờ nhật báo nhằm mục đích giúp chính quyền miền Nam xây dựng một xã hội tự do, dân chủ, không chấp nhận chủ thuyết cùng chế độ Cộng sản. Để xây dựng một xã hội dân chủ, các ông chủ trương “cộng tác, nhưng độc lập đối với chính quyền.” Để có phương tiện lập nên tờ báo, các ông nói chuyện với một người bạn ngoại quốc là Joseph Buttinger (quen biết từ Hà Nội, trước khi di cư), khi ông này đang ở Sàigòn trong tư cách Phó Giám đốc của cơ quan thiện nguyện IRC (International Rescue Committee), nhằm mục đích nghiên cứu việc yểm trợ cuộc định cư của gần một triệu người Việt lìa miền Bắc vào Nam lánh chế độ Cộng sản (Bản thân Joseph Buttinger cũng là một trí thức tị nạn khi nước Áo của ông bị Đức Quốc xã xâm lăng năm 1938. Tổ chức IRC mà ông góp công thành lập và phát triển đã giúp những người dân Âu châu trong những năm loạn lạc của Đệ Nhị thế chiến và ngay sau đó rất nhiều). 


Theo đề nghị của Joseph Buttinger, tổ chức IRC quyết định trợ giúp nhóm trí thức người Việt di cư (do các ông Mặc Đỗ, Vũ Khắc Khoan làm đại diện) một ngân khoản bốn triệu đồng bạc Việt Nam, nhưng chỉ trao ngay một nửa năm 1954, để thành lập một nhật báo lấy tên là Tự Do, nhằm mục đích làm “tiếng nói của người Việt đi tìm tự do,” và cũng để làm phương tiện sinh sống cho một số trí thức, nghệ sĩ, nhà văn, nhà báo … vào Nam lánh Cộng sản năm 1954. Với một ngân khoản lớn như thế, IRC không thể trao trực tiếp cho một nhóm tư nhân mà phải qua chính phủ Việt Nam. Theo nhà văn Mặc Đỗ trong buổi phỏng vấn ấy, số tiền hai triệu đồng được IRC trao cho chính phủ Nam Việt Nam (do Thủ tướng Ngô Đình Diệm lãnh đạo), và được đưa vào một trương mục riêng dành cho nhật báo Tự Do.

Trong giai đoạn đầu, mối liên lạc giữa IRC, chính phủ Việt Nam, và nhóm trí thức xây dựng tờ nhật báo Tự Do tiến triển một cách tốt đẹp. Nhà văn Mặc Đỗ lúc ấy làm Đổng lý Văn phòng Bộ Thông tin, rất tương đắc với vị Bộ trưởng, Bác sĩ Bùi Kiến Tín. Bác sĩ Tín rất được sự tín nhiệm của Thủ tướng Ngô Đình Diệm. Kế hoạch thành lập báo Tự Do với ngân khoản đầu tiên từ IRC chuyển qua chính phủ Việt Nam tới nhóm khởi xướng được đồng thuận một cách nhanh chóng và dễ dàng. Giấy phép xuất bản báo Tự Do do Đổng lý Văn phòng Mặc Đỗ soạn thảo, được Bộ trưởng Bùi Kiến Tín ký một cách mau lẹ.

Vì đang là công chức của chính phủ, các ông Mặc Đỗ, Vũ Khắc Khoan, Nghiêm Xuân Hồng không tiện đứng tên làm Chủ nhiệm. Các vị tìm được một nhà văn độc lập vừa di cư tới Sàigòn: cây viết phóng sự Tam Lang Vũ Đình Chí. Tờ báo cần một Thư ký Tòa soạn và một Quản lý làm việc tại tòa báo toàn thời gian. Hai lựa chọn thích hợp nhất là các ông Như Phong trong chức vụ Thư ký Tòa soạn và Mặc Thu (Lưu Đức Sinh) trong chức vụ Quản lý (nhà báo Như Phong xin từ nhiệm tại Việt Nam Thông tấn xã để nhận nhiệm vụ mới này). Tờ báo cần sự cộng tác của một văn/thi sĩ được nhiều người biết tới và đang sáng tác mạnh. Các vị tìm được nhà thơ Đinh Hùng. Vì thế trên trang nhất, dưới tên báo Tự Do, không ghi danh hiệu của Chủ nhiệm, Chủ bút như các báo khác. Dưới hàng chữ “Tiếng nói của người Việt tự do” là danh hiệu năm người trong nhóm chủ trương: Tam Lang, Mặc Đỗ, Đinh Hùng, Như Phong, Mặc Thu.




Theo nhà văn Mặc Đỗ, hầu hết các bài xã luận của Tự Do trong giai đoạn đầu (mục “Lập trường”) đã do ông hay các ông Vũ Khắc Khoan, Nghiêm Xuân Hồng thay nhau viết (chỉ ký: Tự Do). Đôi khi nhà văn lão thành Tam Lang đóng góp một vài bài. Là một tờ báo nhằm mục đích phục vụ những người di cư từ miền Bắc, Tự Do có một mục đặc biệt, “Sinh hoạt của đồng bào tị nạn,” với những tin canh tác, định cư… Có mục “Tin Miền Bắc,” cung cấp tin từ thế giới Cộng sản, do nhà báo Như Phong phụ trách dưới bút hiệu Cô Thần. Để giúp dân di cư làm quen với miền đất mới, trên Tự Do có mục “Sàigòn muôn mặt” do nhà văn Tam Lang phụ trách, và mục “Sàigòn cũ và mới,” phóng sự điều tra, khảo cứu do nhà văn Văn Quang phụ trách.

 Nhà thơ Đinh Hùng giúp tờ báo phong phú và khởi sắc với mục thơ hài hước “Đàn ngang cung” (giai đoạn đầu) dưới bút hiệu Thần Đăng, và những truyện dài lịch sử “Người đao phủ thành Đại La,” “Kỳ nữ gò Ôn khâu” dưới bút hiệu Hoài Điệp Thứ Lang. Các nhà văn Đỗ Thúc Vịnh , TchyA Đái Đức Tuấn (dưới bút hiệu Mai Nguyệt), và Hiếu Chân (bút hiệu của Nguyễn Hoạt) phụ trách mục “Nói hay đừng,” được rất nhiều người theo dõi. Trên Tự Do những năm đầu còn có những truyện dài “Luyện máu” của Hi Di (bút hiệu của nhà văn Bùi Xuân Uyên), “Tình sơn nữ” của TchyA, “Vực thẳm” của Tạ Quang Khôi. Nhà văn, nhà giáo Tạ Quang Khôi làm việc cho nhật báo Tự Do trong giai đoạn đầu (1954-55). Trong một bài hồi ký phổ biến trên www.voatiengviet.com, ông cho biết Tự Do mua được một máy in riêng, chứng tỏ tờ báo được trợ giúp về phương diện tài chánh.

Sang giai đoạn sau, nhà thơ Đinh Hùng phải dành nhiều thời giờ cho các chương trình văn nghệ tại Đài phát thanh Sàigòn, người phụ trách “Đàn ngang cung” và thỉnh thoảng tiếp tay trong mục “Nói hay đừng” là nhà thơ Hà Thượng Nhân. Cây viết chính cho mục “Nói hay đừng” trong giai đoạn sau là nhà văn Hiếu Chân. Một độc giả mến chuộng Tự Do, gửi bài đóng góp cho “Đàn ngang cung” một cách khá thường xuyên là nhà giáo Bùi Văn Bảo (dưới bút hiệu Bảo Vân).

Tự Do có ảnh hưởng rất đáng kể trong sinh hoạt báo chí của miền Nam trong giai đoạn 1954-1963. Theo giáo sư Đoàn Viết Hoạt, ngay từ khi ông còn ở Trung học, cả gia đình ông đã là độc giả trung thành của nhật báo Tự Do. Nhà báo, nhà kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa nêu nhận xét: “Như Phong đã thổi vào làng báo miền Nam một không khí mới lạ ... Cùng với TchyA Đái Đức Tuấn, Hiếu Chân Nguyễn Hoạt, Hà Thượng Nhân Phạm Xuân Ninh, Đỗ Thúc Vịnh ..., Như Phong Lê Văn Tiến đã tạo ra một phong thái làm báo đầy trí tuệ và nhiệt tình.”

Tuy chung mục đích xây dựng một miền Nam ổn định và thịnh vượng để chuẩn bị đối phó với những đe dọa từ chế độ Cộng sản miền Bắc, mối liên hệ giữa nhóm chủ trương Tự Do với chính quyền càng ngày càng khó khăn, nhất là sau khi Bác sĩ Bùi Kiến Tín không còn là Bộ trưởng Thông Tin và nhà văn Mặc Đỗ không còn là Đổng lý Văn phòng của bộ ấy (năm 1955). Trong khi Tự Do muốn xây dựng một xã hội dân chủ, trong đó những công dân có tinh thần trách nhiệm có quyền phê bình những sai trái của chính phủ nhằm mục đích giúp chính thể trở nên tốt đẹp hơn, thì chính quyền muốn giới hạn tự do của báo chí: các báo phải được kiểm duyệt chặt chẽ. Nhiều bài xã luận hoặc “Nói hay đừng,” “Đàn ngang cung,” cùng nhiều bức hí họa trên Tự Do đã khiến nhiều vị trong chính quyền, kể cả một nữ nhân vật trong đại gia đình của vị nguyên thủ quốc gia phật ý nặng nề. Nhiều sự kiện đưa ra làm chứng cớ để phê phán một số hành động lạm quyền (cả trong giới tu sĩ Công giáo) bị kiểm duyệt cắt bỏ.

Dự liệu trường hợp nhật báo Tự Do có thể bị thu hồi giấy phép, giữa năm 1955, nhóm chủ trương xin xuất bản thêm tuần báo Văn Nghệ Tự Do. Nhà văn Mặc Thu Lưu Đức Sinh đứng tên Chủ nhiệm và nhà văn Hiếu Chân Nguyễn Hoạt đứng tên Tổng Thư ký tòa soạn cho tờ tuần báo này (số đầu phát hành ngày 6 tháng 7 năm 1955). 
 
Báo phát hành song song được hơn 3 tháng thì một sự kiện xảy ra khiến cả Tự Do lẫn Văn Nghệ Tự Do đều bị tịch thu và rút giấy phép. Ba nhân vật quan trọng của nhóm (hai nhà văn Hiếu Chân, Mặc Thu và họa sĩ Phạm Tăng) bị bắt giam và truy tố ra tòa.

Nhân cuộc bầu cử Quốc hội Lập hiến của miền Nam Việt Nam năm 1956, cả nhật báo Tự Do lẫn tuần báo Văn Nghệ Tự Do đều đăng nhiều bài về trách nhiệm các đại diện dân cử, chẳng hạn bài “Đắc cử chưa chắc đã là Nghị” trên Văn Nghệ Tự Do số 11. Bài này, cùng một số bài nêu lên những thắc mắc của người dân trước những điểm thiếu công bằng và hợp lý trong giai đoạn tranh cử, cùng những điểm mờ ám trong một vài trường hợp đắc cử, khiến nhà cầm quyền trút tất cả thịnh nộ lên nhóm Tự Do.

2 giờ khuya ngày Thứ bảy, 28 tháng 4 năm 1956, Bộ Thông Tin dùng điện thoại ra lệnh cho nhà phát hành Thống Nhất đình chỉ phát hành tất cả các tờ Văn Nghệ Tự Do số 13, đã nạp bản và đem tới nhà phát hành trước đó. Ít hôm sau, ông Trần Văn Lắm, Chủ tịch Quốc hội Lập hiến Việt Nam Cộng Hòa, ông Lê Khải Trạch, Đổng lý Văn phòng Bộ Thông Tin, và ông Tỉnh trưởng Gia định, với danh nghĩa Chủ tịch Tố Cộng toàn quốc, cùng đứng tên khởi tố nhóm Tự Do với hai tội danh trầm trọng:

1) Bình luận xuyên tạc, có lợi cho những hành động phản quốc gia,

2) Phá rối cuộc trị an.

Nhà văn Mặc Thu (trong cương vị Chủ nhiệm Văn Nghệ Tự Do), nhà văn Hiếu Chân (trong cương vị Tổng Thư ký) và họa sĩ Phạm Tăng bị bắt, giam ở khám Catinat (thuộc cơ quan An ninh Bộ Nội vụ), chờ ngày ra tòa. Nhà báo Như Phong là nhân vật duy nhất trong nhóm chủ chốt chưa bị bắt trong cơn bão tố này. Ông vừa lo theo dõi tin các thân hữu bị giam hầu tiếp tay với gia đình họ trong việc thăm nuôi, vừa vận động dư luận để chống lại những lời cáo buộc.


Hai nhà văn Hiếu Chân, Mặc Thu và họa sĩ Phạm Tăng

bị đưa từ khám Catinat ra Viện Giảo hình

để đo mặt, lấy dấu tay trước khi bị tống giam

(hình do nhà báo Như Phong chụp, họa sĩ Phạm Tăng cung cấp)

Sự kiện Tự Do, tờ báo được coi như tiếng nói của một số trí thức miền Bắc không chấp nhận chế độ Cộng sản nên đã di cư vào Nam để tiếp tay xây dựng một thể chế dân chủ, bị chính quyền ghép vào tội “có những hành động phản quốc gia” khiến dư luận chấn động. Trong số 667, ra ngày Chủ nhật 1 và Thứ hai 2 tháng 7 năm 1956, báo Dân Chủ của ông Vũ Ngọc Các đưa tin trên trang nhất với hàng tựa chạy suốt trang báo (xin xem phóng ảnh phía sau).

 


Không tán thành thái độ đàn áp một cách quá đáng của chính quyền, ba luật gia danh tiếng của miền Nam lúc ấy, các luật sư Vũ Văn Hiền, Vũ Văn Huyền và Đỗ Mạnh Quát cùng nhận lời bào chữa cho Tự Do không lấy lệ phí. Dựa vào nhiều khiếm khuyết trong thủ tục tố tụng cũng như một số mâu thuẫn trong bản cáo trạng, luật sư Vũ Văn Huyền xin cho các “can phạm” được “tại ngoại hậu cứu” (tạm trả tự do). Ông Chánh án Nguyễn Huy Đẩu, một trí thức và luật gia có uy tín, cũng dành nhiều thiện cảm cho Tự Do. Nhờ thế, sau phiên xử ngày 2 tháng 7 năm 1956, trước các tội danh “bình luận xuyên tạc” và “phản quốc gia,” Tự Do được trắng án. Các ông Mặc Thu, Hiếu Chân, Phạm Tăng không phải trở lại nhà giam. Tuy thế, dưới áp lực của chính quyền, nhóm Tự Do vẫn bị ghép vào tội “bình luận có hại tới việc trị an.” 


Theo họa sĩ Phạm Tăng, các nhà lãnh đạo miền Nam năm 1956 cũng biết rằng Tự Do được nhiều thiện cảm của dư luận, và ý thức được rằng nếu đóng cửa hẳn Tự Do, uy tín của chính phủ sẽ bị tổn hại. Bác sĩ Trần Kim Tuyến, Giám đốc sở Nghiên cứu Chính trị Phủ Tổng thống, đứng ra dàn xếp. Tuần báo Văn Nghệ Tự Do bị rút hẳn giấy phép nhưng nhật báo Tự Do được tái xuất bản với điều kiện phải để nhà giáo Phạm Việt Tuyền, một Tham vụ chuyên môn tại Phủ Tổng thống, có liên hệ thân với bác sĩ Tuyến, đứng tên Chủ nhiệm. Vai trò Quản lý cũng phải giao lại cho ông Kiều Văn Lân, lúc ấy là một sĩ quan an ninh tại sở Nghiên cứu Chính trị Phủ Tổng thống. Nhà báo Như Phong tiếp tục giữ vai trò Tổng Thư ký toà soạn.



Theo nhiều độc giả, sau khi tái xuất bản, Tự Do không còn được sinh động như trước. Tuy vậy, tờ báo vẫn rất được chú ý nhờ một số truyện dài đăng từng kỳ có giá trị: “Tỵ Bái” của Nguyễn Hoạt và “Khói sóng” của Lý Thắng (bút hiệu chỉ dành cho truyện này của nhà báo Như Phong). Tự Do cũng được nhiều người tìm đọc vì loạt bài phóng sự “Thăm dân cho biết sự tình” của ký giả miền Nam Vũ Bình. Theo nhà báo Vũ Văn Hoa, người làm việc cho Tự Do một thời gian đầu thập niên 1960, trong thời gian ông ở đó bên cạnh Chủ nhiệm Phạm Việt Tuyền và Tổng Thư ký Như Phong, tòa soạn còn bình luận gia Trần Việt Sơn và nhà văn Hiếu Chân (Nguyễn Hoạt) làm việc toàn thời gian. Học giả Thu Giang Nguyễn Duy Cần ghé tòa báo buổi chiều để viết bài sau khi xong lớp dạy ở Đại học Văn khoa. Các nhà văn Đỗ Thúc Vịnh, Vi Huyền Đắc và nhà thơ Vũ Hoàng Chương thỉnh thoảng tới bàn chuyện về văn học, nghệ thuật. 


Theo nhà thơ Hà Thượng Nhân, đầu năm 1959, bác sĩ Trần Kim Tuyến mời nhóm lãnh đạo Tự Do tới ăn cơm tại nhà riêng. Trước khi vào bữa ăn, Tổng Thư ký Như Phong hỏi vị đại diện chính quyền: “Chúng ta ủng hộ ông Ngô Đình Diệm vì nước Việt Nam hay vô điều kiện?” Sau khi được trả lời, “Vì nước Việt Nam,” nhà báo Như Phong nói ngay: “Như thế chúng tôi NÊN và CẦN công kích chính phủ để mong chính phủ ngày một khá hơn, phục vụ đất nước ngày một hiệu quả hơn.” Sau đó, nhiều lần trong bữa ăn, ông vạch ra những điểm mà ông cho rằng chính phủ sai lầm. Nhà thơ Hà Thượng Nhân cho biết: bác sĩ Tuyến “ngồi gật gù, trầm ngâm không nói.”
Cũng theo nhà thơ Hà Thượng Nhân, “Linh hồn của Tự Do (trong giai đoạn hai) là Như Phong. Anh là người trẻ nhất, năng nổ nhất, làm việc có kế hoạch nhất.” Chính Tổng Thư ký Như Phong đã khám phá ra và đào luyện nên ký giả Vũ Bình. Nhà văn Bùi Bảo Trúc cũng cho biết ông bắt đầu sự nghiệp cầm bút từ những “Lá thư Tân Tây Lan” viết theo sự gợi ý và hướng dẫn của nhà báo Như Phong. “Và chính Như Phong đã đón bài của tôi gửi về, sửa chữa và cho đăng hàng tuần trong số Chủ nhật của báo Tự Do.” Gần 40 năm sau, tháng 12 năm 2001, nhà văn Bùi Bảo Trúc còn viết: “Mỗi ngày, mở máy computer ra để viết, bao giờ tôi cũng nhớ đến người bạn vong niên này.”

B. Các hoạt động khác

1. Cơ sở xuất bản Tự Do

Cuối năm 1958, nhà báo Như Phong cùng các thân hữu khai sinh thêm Cơ sở Xuất bản Tự Do. Không nhiều vốn và không nhằm mục đích thương mại, cơ sở Tự Do không xuất bản nhiều sách (gần 30 nhan sách trong hơn 4 năm hoạt động [1959-1963], hay trung bình 7 nhan sách mỗi năm). Tuy nhiên, những tác phẩm chọn in đều là những tác phẩm có giá trị, chẳng hạn Hoàng Lê nhất thống chí (của Ngô gia văn phái, nhưng trong bản do Tự Do xuất bản chỉ ghi danh hiệu Ngô Thời Chí), qua bản dịch của Ngô Tất Tố (1958), Phương Đình dư địa chí của Nguyễn Văn Siêu qua bản dịch của Cử nhân Hán học Ngô Mạnh Nghinh (1960), Sàigòn năm xưa của Vương Hồng Sển (1960) ... Cơ sở Tự Do cũng tái bản ba tác phẩm quan trọng của nhà văn Hoàng Đạo: Mười điều tâm niệm (1958), Bùn lầy nước đọng (1959), Trước vành móng ngựa (1959). Tự Do cũng xuất bản nhằm mục đích giới thiệu nhiều tác phẩm giá trị của những nhà văn có tài nhưng vẫn còn được coi là “mới” cho tới lúc đó: Mưa đêm cuối năm của Võ Phiến (1958), Chị em Hải của Nguyễn Đình Toàn (1961), Thử lửa của Thảo Trường (1962)... Tự Do cũng giới thiệu hai tác phẩm quan trọng của một nhà văn trong nhóm: Dì Mơ (1959) và Mùa ảo ảnh (1962) của Đỗ Thúc Vịnh, và một bản dịch mới cho bộ Liêu trai chí dị của Bồ Tùng Linh, bản dịch của Nguyễn Hoạt (1959).


2. Văn Bút Việt Nam

Nhà báo Như Phong và các nhà văn, nhà báo trong nhóm điều hành nhật báo Tự Do đã đóng góp một cách tích cực và giữ những vai trò đáng kể trong việc thành lập nhóm Bút Việt, tiền thân của Văn Bút Việt Nam, một thành phần của Hội Văn Bút Quốc tế (P.E.N. International). Theo nhà văn Nhật Tiến, nguyên Phó Chủ tịch Trung tâm Văn Bút Việt Nam trong nhiều nhiệm kỳ trước 1975, trong cuốn Từ nhóm Bút Việt đến Trung tâm Văn Bút Việt Nam (Garden Grove, CA : Huyền Trân, 2016) , ngày 17-8-1957 tại Sàigòn, 19 văn nghệ sĩ, nhà báo, nhà biên khảo … đã họp và quyết định thành lập “Nhóm Bút Việt.” Trong số này, bốn vị thuộc thành phần cơ hữu của Tự Do: Chủ nhiệm Phạm Việt Tuyền, Tổng Thư ký Như Phong, nhà văn Hiếu Chân Nguyễn Hoạt và họa sĩ Phạm Tăng. Bốn vị nữa cộng tác mật thiết và thường xuyên với Tự Do: các nhà văn Mai Xuyên Đỗ Thúc Vịnh, TchyA Đái Đức Tuấn, kịch tác gia Vi Huyền Đắc và thi sĩ Vũ Hoàng Chương. Địa chỉ đưa ra để xin giấy phép thành lập là địa chỉ báo Tự Do (25 đường Võ Tánh, Sàigòn).

 Trong danh sách “Ban Sáng Lập” với 16 vị được phổ biến sau khi Hội Văn Bút Việt Nam được chính thức thành lập, gồm 8 vị liên quan đến nhật báo Tự Do như đã nói trên. Nhà văn Hiếu Chân Nguyễn Hoạt, một bạn thân của nhà báo Như Phong, là Tổng Thư ký Ban Chấp hành lâm thời (Chủ tịch là nhà văn Đỗ Đức Thu, hai Phó Chủ tịch là nhà biên khảo Vương Hồng Sển và kịch tác gia Vi Huyền Đắc). Trong 5 đại biểu của nhóm Bút Việt được mời tham dự Đại hội Văn Bút Quốc Tế lần thứ 29, họp tại Tokyo, Nhật Bản từ ngày 1 đến 9 tháng 9-1957 (Đỗ Đức Thu, Đái Đức Tuấn, Phạm Việt Tuyền, Hoàng Đình Lượng và Hiếu Chân Nguyễn Hoạt), hai vị là người của nhật báo Tự Do, một vị là cộng tác viên mật thiết. Trong phiên họp ngày 2 tháng 9 năm 1957 tại Tokyo, Đại hội Văn Bút Quốc Tế chính thức thu nhận nhóm Bút Việt của Việt Nam Cộng Hoà là một thành viên. Đây là lần đầu tiên văn giới Việt Nam góp mặt cùng văn hữu quốc tế.

3. Liên hệ với học giới và báo giới các nước

Song song với các hoạt động văn hóa, thông tin trong nước, nhà báo Như Phong còn duy trì mối liên lạc mật thiết với nhiều chuyên gia về Việt Nam của học giới và báo giới quốc tế. Ông có giao tình thân với học giả lỗi lạc Sir Patrick J. Honey của Anh quốc, tác giả uyên bác Robert Shaplen, và nhà báo xuất sắc Sol Sanders cùng của Hoa kỳ. Theo nhà biên khảo Trần Đông Phong, người có liên hệ thân với Bác sĩ Phan Huy Quát và ông Như Phong từ giữa thập niên 1960, rất nhiều chi tiết trong cuốn The Lost Revolution của Robert Shaplen (New York : Harper & Row, 1965) đã do ông Như Phong cung cấp. Ông cũng viết một số tài liệu biên khảo có giá trị bằng Anh ngữ, điển hình là một bài tường thuật và phân tích tình trạng trí thức, văn nghệ sĩ miền Bắc từ 1954 cho đến vụ Nhân văn, Giai phẩm cuối thập niên 1950 (“Intellectuals, writers and artists”). Bài này đã được đăng trên chuyên san nghiên cứu The China Quarterly năm 1962, và về sau in lại với đôi chút sửa chữa trong cuốn North Vietnam Today do học giả Patrick J. Honey làm chủ biên (New York : Praeger, 1962).

Mâu thuẫn giữa chính quyền và Tự Do nặng thêm trong biến cố Phật giáo mùa Hè năm 1963, nhất là sau khi Hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu và văn hào Nhất Linh Nguyễn Tường Tam uống thuốc độc tự tử. Tháng 8 năm 1963 Tự Do bị đóng cửa và truy tố. Tổng Thư ký Như Phong bị bắt, tòa soạn bị niêm phong. Từ tháng 8 tới tháng 11 năm 1963, nhà báo Như Phong bị giam tại Nha An ninh Quân đội, rồi Phòng Nhì Biệt khu Thủ đô, sau cùng là Tổng nha Cảnh sát. Chỉ tới sáng ngày 2 tháng 11-1963, ông mới được trả tự do.

SÀIGÒN, GIAI ĐOẠN 1963-1975

1) Liên hệ với giới tướng lãnh và các chính khách
Sau cuộc đảo chánh 1 tháng 11-1963, nhà báo Như Phong được mời tham dự Hội Đồng Nhân Sĩ, một tập hợp gồm khoảng 60 nhân sĩ, trí thức, chính khách của miền Nam Việt Nam, được triệu tập để giúp ý kiến cho chính phủ. Trong các tranh chấp giữa các tướng lãnh với những đảo chánh, phản đảo chánh, chỉnh lý ... trong suốt năm 1964, uy tín ông tăng thêm. Do kiến thức vững chắc về những vấn đề liên quan tới Cộng sản Việt Nam cũng như do mối giao tiếp rộng rãi trong chính giới dân sự của ông, hầu hết các tướng lãnh tranh quyền đều muốn kéo ông đứng bên phía họ. 

Khi bác sĩ Phan Huy Quát được đề cử lập Nội các đầu năm 1965, với khả năng và tình thân sẵn có, ông có thể tham chánh dễ dàng. Tuy nhiên ông vẫn đứng ngoài, chỉ giúp ý kiến khi cần thiết. Ông Nguyễn Ngọc Linh cho biết ông được Thủ tướng Phan Huy Quát mời làm Giám đốc Việt Tấn xã do sự đề nghị của ông Như Phong. 

 Thủ tướng Phan Huy Quát không thể tiếp tục cộng tác với nhau và quyết định trao quyền lại cho quân đội tháng 6 năm 1965, tư thế của nhà báo Như Phong nổi rõ thêm. Theo ông Nguyễn Ngọc Linh và một số thân hữu khác, ông Như Phong vốn quen thân từ lâu với Luật sư Đinh Trịnh Chính và Đại tá Phạm Văn Liễu, hai người cùng theo học trường Lục quân Yên bái với người anh thứ ba của ông là ông Nguyễn Quỳnh Giao trước kia. Qua ông Chính và Đại tá Liễu, ông có thiện cảm với tướng Nguyễn Chánh Thi. Tuy nhiên, sau khi tướng Thi không dám nhận trọng trách lập chính phủ và tướng Nguyễn Cao Kỳ được quân đội giao cho nhiệm vụ ấy, ông sẵn sàng hỗ trợ tướng Kỳ.

Ông Nguyễn Ngọc Linh cho biết: sau khi được cử làm “Chủ tịch Ủy ban Hành pháp Trung ương,” tướng Kỳ chưa có ý niệm rõ về việc lập chính phủ cũng như về chính sách, lại cũng chưa có ai làm cố vấn trong lãnh vực chính trị, nên đã tới nhà ông Đinh Trịnh Chính, nguyên Bộ trưởng Thông tin trong chính phủ Phan Huy Quát để gặp ông Chính và ông Như Phong, yêu cầu được giúp. Trong “Nội các chiến tranh” của tướng Kỳ, nhiều Bộ trưởng được mời do đề nghị của nhà báo Như Phong. Theo lời tường thuật của ông Linh, “Khi ông Kỳ muốn trong chính phủ có một số người miền Nam thì ông Tiến đưa danh tính của những người tuy không hề quen nhưng được biết là có khả năng. Sau đó gọi điện thoại và đưa xe đi đón, ai đến gặp ông Kỳ là người đó được mời làm Bộ trưởng.” Ông Linh cũng cho biết: theo nhiều nguồn tin, tướng Kỳ muốn ông Như Phong giữ nhiệm vụ “Phụ tá Chủ tịch Ủy ban Hành pháp Trung ương,” tương đương với Bộ trưởng Phủ Thủ tướng, nhưng ông Như Phong từ chối. Theo nhiều thân hữu khác, ông Như Phong đưa lý do “chỉ là nhà báo, không phải chính trị gia” để tránh việc tham chánh. Ông cũng cho biết ông “muốn được việc” chứ “không thích làm quan.” 

Nhà báo Sol Sanders cũng viết: ông Như Phong đã từ chối những đề nghị cầm đầu một bộ, thích ở trong hậu trường làm người cố vấn và phân tích (“he refused offers of a ministry, preferring to remain always in the background as an advisor, an analyst ...”). Nhà báo Đỗ Quý Toàn nêu nhận xét: “Ông chỉ góp ý kiến ... về một danh sách chính phủ với điều kiện chính ông không tham dự để bảo đảm việc đề cử của ông là cốt vì công ích, không phải vì tình riêng.” Tuy nhiên ông nhận lời, và đã thảo hộ các tướng lãnh bản “Hiến Ước Tạm Thời,” tức Hiến pháp tạm thời của miền Nam Việt Nam trong giai đoạn 1965-1967, phác họa cơ cấu tổ chức nhà nước với Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia và Ủy ban Hành pháp Trung ương). Giáo sư Tạ Văn Tài cho biết trong một lần cùng giáo sư Trần Như Tráng đến thăm ông Như Phong tại căn nhà đường Công Lý mùa hè năm 1965, các ông thấy vị “Tham vấn viên của Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia” đang cởi trần, vừa soạn thảo, vừa tự tay đánh máy bản “Hiến Ước Tạm Thời” này. Theo nhà thơ Hà Thượng Nhân, ông Như Phong cũng đã soạn hộ tướng Kỳ bài diễn văn trình diện Nội các, gồm 6 phần, đưa ra một chương trình 19 điểm.

Trong cuốn sách Buddha’s Child : My Fight to Save Vietnam (có thể tạm dịch: Con cầu tự : cuộc chiến đấu để bảo vệ Việt Nam của tôi -- New York : St. Martin Press, 2002), tướng Nguyễn Cao Kỳ viết rằng ông bổ nhiệm ông Như Phong làm Bộ trưởng Bộ Bình định (Pacification). Chi tiết này không chính xác. Theo tất cả các sử liệu, trong giai đoạn từ 19 tháng 6-1965 tới 9 tháng 11-1967, khi tướng Kỳ giữ nhiệm vụ “Chủ tịch Ủy ban Hành pháp Trung ương” (Thủ tướng), miền Nam Việt Nam chỉ có hai nhân vật phụ trách Bộ Bình định và Xây dựng Nông thôn. Người thứ nhất là ông Nguyễn Tất Ứng. Sau khi ông Ứng tử nạn máy bay ngày 16 tháng 9-1965, người được cử lên thay là tướng Nguyễn Đức Thắng. Từ trước tới sau, ông Như Phong chỉ giúp ý tướng Kỳ trong việc lập Nội các, chứ không nhận cho mình bất cứ một chức vụ nào.

Theo nhiều thân hữu, ông Như Phong có một dự án chính trị, và đã không thành công trong dự án này. Trong cuộc bầu cử Thượng viện năm 1967, ông vận dụng những liên hệ có sẵn với các đảng cách mạng, các khuynh hướng tôn giáo và giới chuyên viên trẻ ở miền Nam để lập nên ba liên danh ứng cử cùng lấy danh hiệu “Cây Dừa” (các liên danh “Một Cây Dừa,” “Hai Cây Dừa,” “Ba Cây Dừa”). Theo giáo sư Nguyễn Mạnh Hùng, “Đây là một liên minh chính trị lớn mà chỉ Như Phong ráp lại được vì ông là người thân của mọi phe phái, được các phe phái mến, tin tưởng, và họ biết là ông chỉ nghĩ đến quyền lợi dân tộc chứ không thủ lợi cho chính mình” (tuy vận động lập nên ba liên danh, ông đứng ngoài chứ không tham dự các liên danh ấy). Mỗi liên danh đều có sự góp mặt của giới chuyên viên trẻ (được tín nhiệm ở Sàigòn), Việt Nam Quốc Dân Đảng (ảnh hưởng mạnh ở miền Trung), Cao Đài và Phật Giáo Hòa Hảo (mạnh ở nhiều tỉnh miền Nam).

 Nếu cùng đắc cử, ông hi vọng ba liên danh này sẽ tạo nổi đa số trong Thượng viện, ủng hộ tướng Kỳ thực hiện những thay đổi đáng kể trong chính trường miền Nam Việt Nam trong trường hợp ông Kỳ đắc cử Tổng thống và tiếp tục là một tướng lãnh “sạch.” Nhưng sau khi tướng Kỳ nhường tướng Nguyễn Văn Thiệu làm ứng cử viên Tổng thống trong liên danh duy nhất của quân đội và bằng lòng làm Phó cho tướng Thiệu, cả ba liên danh “Cây Dừa” đều bị loại, hết trông cậy vào sự yểm trợ của quân đội nay đã thuộc tướng Thiệu. Theo ông Nguyễn Ngọc Linh, nhà báo Như Phong coi đây là thất bại chính trị nặng nhất đối với ông.

2) Liên hệ với học giới và ngành truyền thông quốc tế

Cùng với việc quân đội Hoa kỳ sang tham chiến từ giữa năm 1965 trở đi, các báo, các hãng tin ngoại quốc gửi nhiều ký giả tới Việt Nam. Tình trạng chính trị miền Nam sau khi Đệ Nhất Cộng Hòa sụp đổ vô cùng phức tạp. Theo nhận xét của ký giả Phan Lạc Phúc, “đảng phái mọc ra như nấm ... không biết chính, tà, thật, giả ra sao. Người trong nước cũng không biết đằng nào mà lần, huống chi các nhà báo, các hãng tin ngoại quốc.” Trong tình trạng ấy, người thường được các hãng tin, các nhà báo nước ngoài tìm tới để tham vấn là nhà báo Như Phong. Cũng theo ký giả Phan Lạc Phúc, “những đóng góp của Như Phong đối với giới truyền thông nước ngoài đã được coi là nguồn tin đáng tin cậy nhất.”

Theo một số thân hữu có liên hệ gần với nhà báo Như Phong, sau cuộc đảo chính 1-11-1963, rất nhiều lần ông tìm cách tái xuất bản nhật báo Tự Do nhưng không thành công. Tuy vẫn thuận hảo đối với ông, các chính quyền quân nhân từ 1963 về sau không muốn ông điều khiển báo Tự Do trở lại. Với nhiều lý do khác nhau, các đơn ông gửi để xin tái xuất bản báo đã bị từ khước một cách khéo léo. Từ 1969 trở đi, ông cũng có thêm một mối bận: ông được mời làm giảng viên về các vấn đề Bắc Việt tại trường Cao đẳng Quốc phòng. Theo nhiều thân hữu, trong đó có ông Nguyễn Ngọc Linh, ông Như Phong dùng rất nhiều thời giờ trong những năm đầu của thập niên 1970 để hoàn tất bộ trường thiên “Khói sóng.” 

Đầu năm 1972, ông dành nhiều thời giờ giúp một trí thức Hoa kỳ sang nghiên cứu về sinh hoạt chính trị tại Việt Nam. Tiến sĩ John C. Donnell, giáo sư Chính trị học tại Temple University, Philadelphia, người từng viết nhiều bài nghiên cứu về Việt Nam, được Asia Society tại New York tài trợ để sang Việt Nam nghiên cứu về mối liên lạc giữa trung ương và địa phương của các tổ chức chính trị không Cộng sản. Ông Như Phong đã giới thiệu giáo sư Donnell với nhiều nhân sĩ, trí thức, lãnh tụ các đoàn thể chính trị hầu thực hiện các cuộc phỏng vấn. Khi về nước, giáo sư Donnell chủ biên một cuốn sách về sinh hoạt chính trị liên quan tới bầu cử tại Nam Việt Nam: Electoral Politics in South Vietnam (Lexington, Mass. : Lexington Books, 1974). Cuốn này có sự đóng góp bài vở của các giáo sư Nguyễn Ngọc Huy, Tạ Văn Tài, Douglas Pike, Stephen B. Young... Giáo sư Donnell viết một chương quan trọng về những triển vọng cho sự kết hợp chặt chẽ về phương diện chính trị và việc tranh cử (“Prospects for political cohesion and electoral competition”).


3) Những ngày cuối của miền Nam

Theo nhạc sĩ Từ Công Phụng, giữa năm 1974 bà Hoàng Đạo đau nặng vì chứng ung thư tái phát. Theo bác sĩ Trần Ngọc Ninh, vị bác sĩ điều trị trong thời gian này, bà bị một loại bướu thịt ác tính (myosarcoma) ở tay trái. Mỗi lần vào nhà thương trị liệu là một lần cánh tay bị cắt thêm vì ung thư lan. Khi cánh tay bà mất hẳn vào tháng 2-1975, tình hình miền Nam đã trở nên tồi tệ. Nhạc sĩ Phụng nhận thấy “những nét lo lắng hằn lên khuôn mặt của cậu Tiến.”

Đầu tháng 4-1975, khi tình hình miền Nam trở nên hết sức trầm trọng, ông Như Phong khuyên nhạc sĩ Phụng nên tìm cách đưa vợ con ra đi. Trước câu hỏi, “Cậu có dự tính ra đi không?” ông trả lời: “Tôi không đi vì nhiều lý do. Trước mắt là Me đang đau nặng, cần người chăm sóc. Thứ hai là đời sống ở nước ngoài không thích hợp với tôi.” Trước nỗi lo lắng của nhạc sĩ Phụng, “Cậu ở lại thì rất nguy hiểm,” ông thản nhiên mỉm cười: “Không sao. Tôi biết họ (Cộng sản), tôi biết họ rõ lắm nên tôi có thể tìm được một lối sống.”

Nhà thơ Hà Thượng Nhân cho biết: “Những ngày miền Nam sắp mất, Như Phong thường nhịn ăn, gọi là ‘vào thất’.” Khi được hỏi, “Vào thất’ có lợi gì?” ông trả lời: “Tôi chuẩn bị để đi tù.” Bà Đỗ Thúc Vịnh và ông Hà Thượng Nhân cùng cho biết: Tuy không đi, ông Như Phong giục mọi người tìm cách ra đi vì “không thể sống với Cộng sản được đâu!”

Ngày 7 tháng 7 năm 1975, một người bạn ngoại quốc của nhà báo Như Phong, học giả Patrick J. Honey, viết thư than thở với một người bạn Việt ở Mỹ: “I could never get him to leave his beloved Vietnam” (Tôi đã không làm sao kéo được ông ta rời khỏi nước Việt Nam yêu dấu của ông ta). Theo nhà báo, nhà kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa: Tháng 4 năm 1975, nhà báo Như Phong quyết định ở lại Việt Nam “dù có hai vé máy bay để đi Anh và Mỹ.” Ký giả Nguyễn Huỳnh Mai cũng cho biết: “Trước những ngày tháng Tư năm 1975, chú Như Phong đã có nơi hứa hẹn cho chú việc làm và vé máy bay sẵn để qua Anh hoặc Mỹ, nhưng chú đã viết thư cám ơn và từ chối cả hai.”


SAU KHI MIỀN NAM RƠI VÀO TAY CỘNG SẢN

Tính từ 30 tháng 4-1975 đến 11 tháng 4-1994, ngày nhà báo Như Phong rời đất nước Việt Nam để sang Mỹ, ông đã sống dưới quyền những người Cộng sản gần 19 năm. Trong chưa đầy 19 năm ấy, trên 13 năm ông bị giữ trong các nhà tù. Ông bị họ bắt giam hai lần: lần đầu gần 12 năm, từ ngày 4 tháng 4-1976 đến ngày 8 tháng 2-1988, lần thứ hai gần 15 tháng, từ 20 tháng 12-1990 đến ngày 7 tháng 3-1992. Trong lần bị giam nào ông cũng biểu lộ một thái độ ung dung, bất khuất.

Trước hết, ông được sống yên ổn gần một năm. Theo nhạc sĩ Từ Công Phụng, hai tháng sau khi Sàigòn thất thủ, bệnh bà Hoàng Đạo trở nên trầm trọng hơn. “Bà rên la suốt ngày đêm. Cứ khoảng hai tiếng đồng hồ sau khi morphine hết hiệu nghiệm thì bà lại đau. Lúc này thì không còn cơ may chữa trị được nữa.” Bốn tháng sau đó, tức nửa năm sau khi miền Nam sụp đổ, bà từ trần. Cũng theo nhạc sĩ Từ Công Phụng, sau tang lễ, cảnh nhà vô cùng bần bách. “Thỉnh thoảng cậu Tiến hay vắng nhà vài hôm. Dường như cậu đi xuống miền Tây lo việc gì đó mà tôi không rõ.” 

1) Lần bị giam thứ nhất, 1976-1988
Cộng sản tới bắt ông đêm ngày 3 qua ngày 4 tháng 4-1976, trước sự chứng kiến của nhạc sĩ Từ Công Phụng và cô Từ Dung, thứ nữ của ông bà Hoàng Đạo. Bài viết đầy cảm động của nhạc sĩ Từ Công Phụng cho ta nhiều chi tiết hữu ích liên quan đến cuộc bắt bớ này.

Ông bị giam tại sở Công an thành phố, sau đó chuyển qua trại số 4 Phan Đăng Lưu, nơi đây ông gặp sinh viên tranh đấu Đinh Quang Anh Thái. Tới tháng 9 năm 1979, ông bị chuyển qua Chí Hòa. Ông thành bạn đồng tù với giáo sư Đoàn Viết Hoạt trong gần 9 năm tại đây. Trong thời gian ở Chí Hòa, người sinh viên tranh đấu (sau thành ký giả) Đinh Quang Anh Thái có thêm một năm sống với ông, từ đầu năm 1981 đến đầu năm 1982. Ông Thái ôn lại quãng thời gian ấy như sau: “Những tháng ở cùng cậu Tiến thật là khó quên. Xiết bao là kỷ niệm vui buồn ..., nhưng quan trọng hơn cả, tôi học được ở cậu không biết bao nhiêu điều, từ kiến thức uyên bác của cậu cho đến nhân cách sáng ngời của cậu ... Đời sống của cậu trong tù là mẫu mực của một người khí phách, an nhiên tự tại. Không ai có thể bắt gặp nơi cậu một giây phút yếu lòng nào trước kẻ thù. 

Lúc nào bạn tù cũng thấy ở cậu tinh thần an nhiên, chấp nhận mọi nghịch cảnh và lạc quan, tin vào tương lai.” Giáo sư Đoàn Viết Hoạt cho biết: “Tôi học được ở ông tính kiên nhẫn và nhiều đức tính tốt khác ... Dù tuổi tác cách xa nhau hơn một con giáp, chúng tôi vẫn giữ được mối quan hệ tương thân tương kính suốt những ngày ở chung Chí Hòa cũng như cho tới tận hôm nay. Ông là một trong những người mà nếu không ở tù, chắc tôi khó có cơ hội được gần gũi và thân thiết.” Cũng theo giáo sư Đoàn Viết Hoạt, suốt trong thời gian bị giam, ông Như Phong và ông đều tập Yoga một cách đều đặn hầu giữ cho thân thể được khang kiện.

Một biến cố đáng lưu ý xảy ra trong lần bị giam thứ nhất này. Theo ký giả Nguyễn Huỳnh Mai: “Vào tháng 7-1976, chú bị lôi ra sỉ nhục. Chú nói với cán bộ rằng, ‘Lời lẽ đó khiến tôi phát bệnh,’ và làm đơn xin nhịn ăn 7 tuần để chữa bệnh. Khi chú nhịn ăn đến ngày thứ 47, các cai ngục buộc chú vào băng-ca, khiêng ra bệnh xá để vô nước biển và đổ sữa ... Thế là một tên kềm đầu, một tên kềm chân, một tên ngồi trên bụng, còn anh bác sĩ dùng muỗng cạy miệng chú để đổ sữa. Cuộc vật lộn kéo dài từ sáng đến trưa thì nghỉ mệt, rồi cạy tiếp suốt buổi chiều. Vì chú cắn chặt răng nên răng bị mẻ, hai nướu đổ máu và môi bị rách. Sau cùng họ thành công khi thọt được đuôi muỗng vào kẽ răng và nhét thỏi sắt vào giữa hàm răng khiến chú không cắn lại được nữa. Họ luồn ống cao su vào miệng và bơm sữa vào bao tử.” Ký giả Nguyễn Huỳnh Mai cho biết rõ, “Chẳng phải họ ưu ái hoặc mong chú sống làm gì,” và bình luận một cách dí dỏm: “Họ không muốn chấp nhận rằng ‘duy vật biện chứng pháp’ phải thua ‘Đạo Nhịn’.” 

Dưới bút hiệu Tiểu Du, nhà văn Hạ Quyên tìm cách giải thích: “Vốn là một trong vài ba tù nhân được các tổ chức nhân quyền quốc tế chú ý, và trong các kỳ tuyệt thực trước, khi nói ‘nhịn’ là anh Như Phong nhịn thật sự, nhịn suốt thời gian vài ba tuần lễ như anh đã định ... Họ sợ anh nhịn đủ bảy tuần thì sẽ chết trong tù, và họ sẽ không biết trả lời các tổ chức quốc tế ra sao.”
Theo giáo sư Đoàn Viết Hoạt, ông Như Phong được trả tự do ngày 8 tháng 2-1988, một ngày trước khi chính ông cũng được thả.

2) Lần bị giam thứ hai, 1990-1992

Trong lần bị bắt trước, để chịu cảnh giam giữ suốt 12 năm, nhà báo Như Phong chỉ có một tội danh vu vơ là “phản động.” Trong lần bị bắt sau, tội danh của ông cụ thể và ghê gớm hơn nhiều: “gián điệp” và “hoạt động lật đổ chính quyền nhân dân.” Để đi bắt ông, những người cầm quyền huy động một lực lượng khá hùng hậu. Theo cô Thơ Thơ, cháu ngoại nhà văn Hoàng Đạo, “hai xe lính chặn đầu ngõ, hai xe chắn ngang cửa ra vào, công an có đến ba chục người.” Trước cảnh tượng ấy, cũng theo cô Thơ Thơ, ông “vẫn bình tĩnh như không, cứ như đó chỉ là một vở tuồng.”


Theo cáo trạng của Viện Kiểm sát Nhân dân Thành phố HCM, ông bị buộc tội đã “trao đổi những ý kiến có tính cách chính trị” với một người Việt đang định cư ở Mỹ là nhà báo Hồ Văn Đồng (Ông Hồ Văn Đồng cho biết ông và ông Như Phong có tình thân từ 1955. Hai ông cùng bị giam tại Phan Đăng Lưu một thời gian. Sau khi ra tù năm 1988, ông Đồng tìm cách vượt biên và đến Mỹ cuối tháng 3-1989). Ông Như Phong cũng bị buộc tội đã “giao du thân” với giáo sư Đoàn Viết Hoạt và các ông Phạm Đức Khâm, Nguyễn Mậu, những người bị coi là chủ chốt trong nhóm Diễn Đàn Tự Do. (Giáo sư Hoạt cho biết trong những người bị nêu danh kể trên, chỉ có ông và ông Khâm là thực sự dính dáng tới Diễn Đàn Tự Do. Ông chỉ mới gặp ông Nguyễn Mậu có một lần. Ông và ông Khâm cùng không muốn ông Như Phong bị liên lụy với Diễn Đàn Tự Do vì năm ấy, 1990, ông Như Phong đã 68 tuổi. “Chúng tôi thấy ông đã già yếu, nên sợ nếu bị bắt lần này ông không đủ sức khỏe để chịu đựng được nữa”). 

Giáo sư Hoạt và ông Khâm bị bắt trung tuần tháng 11-1990 vì bản tin Diễn Đàn Tự Do. Hơn một tháng sau, ngày 20 tháng 12-1990, ông Như Phong cũng bị bắt. Giáo sư Hoạt cho biết: “Họ vẫn cho rằng ông Như Phong mới là người lãnh đạo, hay ít nhất, cố vấn cho chúng tôi.” Sau sáu tháng bị biệt giam ở trại số 3 Bạch Đằng, các ông bị chuyển qua trại giam số 4 Phan Đăng Lưu. Giáo sư Hoạt cho biết theo bản kết cung của chấp pháp mà ông được đọc cho nghe, Diễn Đàn Tự Do “chỉ là phương tiện truyền thông của một âm mưu phản động lớn” liên quan đến hàng mấy chục người ở cả trong nước lẫn hải ngoại. Ông nhận thấy “rõ ràng là phe bảo thủ trong đảng Cộng sản muốn làm lớn vụ này ... Theo danh từ chuyên môn của Công an thì Diễn Đàn Tự Do được ‘nâng quan điểm,’ trở thành một vụ án ‘điển hình.’ Có nghĩa là sẽ xử rất nặng.” 

Đầu năm 1992, từ ngày rằm tháng giêng âm lịch tức 18 tháng 2 dương lịch, ông Như Phong bắt đầu tuyệt thực. Sau đây là những đoạn chính trong lá đơn ông viết để nêu lý do chuyện tuyệt thực ấy:
“Tôi ký tên dưới đây, Lê Văn Tiến, sinh năm 1923 tại Nam Định, địa chỉ thường trú 67 Đinh Công Tráng, F. Tân Định, Q.1, TP HCM, bị bắt ngày 20 tháng 12 năm 1990 về tội Gián điệp và tội Hoạt động Lật đổ Chính quyền Nhân dân, hiện giam tại Phòng số 3, Khu C 2.


“Làm đơn này xin Ban Lãnh đạo trại giam cho tôi được TĨNH TÂM một thời gian để cầu nguyện cho Tổ quốc và Dân tộc. Thời gian Tĩnh tâm là chín (9) tuần, bắt đầu từ ngày hôm nay, 18.02.1992 tức là Rằm tháng Giêng âm lịch Nhâm Thân, và sẽ chấm dứt sáu mươi ba (63) ngày sau đó. Trong thời gian Tĩnh Tâm này tôi sẽ không dùng một chút thức ăn gì, đặc hoặc lỏng, mà chỉ uống nước từ vòi nước của trại. Việc Nhịn ăn này nhằm giữ cho thể xác được trong sạch, tâm trí được sáng suốt đặng dốc lòng cầu nguyện. Tôi cũng xin nhắc lại rằng đây không phải lần thứ nhất tôi xin được phép Tĩnh tâm và Nhịn ăn trong thời gian bị giam. Lần trước cũng tại trại giam này, hồi tháng 7.1976 khi tôi bị giam tại phòng Biệt giam số 21 khu B, tôi đã làm đơn và đã được phép cho Tĩnh tâm và Nhịn ăn trong thời gian bảy (07) tuần tức là bốn mươi chín (49) ngày. Tôi tin rằng trong hồ sơ lưu trữ tại trại và tại Sở Công an Thành phố còn đầy đủ tài liệu về việc này.


Trong cuộc tĩnh tâm lần này:

- Tôi cầu Anh Linh của Tổ tiên, các Đấng sinh thành Dân tộc này, khai sáng đất nước này, đã từ ngàn đời dẫn dắt cháu con tạo dựng nên nước Việt Nam ngày hôm nay,
- Tôi cầu Khí thiêng Sông núi đã không ngừng hun đúc trí tuệ và lòng dũng cảm cho mọi cộng đồng con dân trên dải đất này từ thế hệ này qua thế hệ khác vượt qua biết bao thiên tai địch họa để Việt Nam còn bền vững đến ngày nay,

Xin hãy soi sáng

- Cho các vị Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam và các vị Lãnh đạo Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, để các vị đó SỚM TỈNH NGỘ mà trả lại cho bảy mươi triệu người Việt Nam chúng tôi QUYỀN SỐNG, QUYỀN LÀM NGƯỜI, QUYỀN MƯU CẦU HẠNH PHÚC với đầy đủ những TỰ DO đã được minh định trong bản TUYÊN NGÔN QUỐC TẾ NHÂN QUYỀN của Liên Hiệp Quốc, bản Tuyên Ngôn mà tất cả các quốc gia hội viên đều đã long trọng cam kết thi hành trọn vẹn, trong đó có nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam;

- Cho bảy mươi triệu đồng bào tôi sớm nhận rõ những QUYỀN của mình mà không ai được phép tước đoạt, trong đó có Quyền được BÃI MIỄN bất cứ một chế độ nào, một hệ thống cai trị nào đã từng tỏ ra không xứng đáng, không đủ năng lực và không lương thiện trong nhiệm vụ mang lại lợi ích cho nhân dân, mà trái lại đã làm ngược hẳn với lòng mong ý muốn của nhân dân và đã bội phản lời thề nguyện của chính tập đoàn lãnh đạo chế độ; đồng thời cho đồng bào sớm nhận rõ TRÁCH NHIỆM của mình, Trách Nhiệm mà không một ai được phép lẩn tránh, trong đó có Trách Nhiệm phải chung lòng hợp sức xây dựng nên một thể chế mới được điều hành bởi những người thay mặt đích thực của nhân dân, do nhân dân tự do lựa chọn, những người có đủ khả năng, lương thiện và thật sự trung thành với sứ mạng mà nhân dân ủy thác cho họ và cũng chính họ tình nguyện nhận lãnh, là mang lại Dân chủ, Tự do, Công bằng và Thịnh vượng cho dân cho nước...” 

Giáo sư Đoàn Viết Hoạt cho biết: “Một buổi chiều tối sau giờ làm việc, anh lao động, một người có thiện cảm với chúng tôi, trở vào buồng giam đưa tôi một lá thư của ông Như Phong gửi. Giở ra xem là bản nháp tờ đơn gửi ban giám thị trại. Chữ ông Như Phong, viết trên giấy hút thuốc rê. Đó là ‘Đơn xin phép Tĩnh tâm và Nhịn ăn’.” Giáo sư Hoạt lo âu: “Trong lần tù trước, ông Tiến cho tôi biết ông đã tập được phương pháp nhịn ăn từ lâu, và có thể nhịn được 7 thất, mỗi thất 7 ngày tức 49 ngày. Nay ông quyết định sẽ nhịn ăn tới 9 thất, tức 63 ngày, không biết ông có chịu nổi không?” Giáo sư Hoạt viết tiếp: “Tôi lo ngại cho ông, nhưng hi vọng quyết tâm của ông sẽ khiến Công an phải suy nghĩ lợi hại để thả ông ra.”

Cuối tháng 2-1992, tin tức về việc ông Như Phong tuyệt thực được bà Minh Thu, trưởng nữ nhà văn Hoàng Đạo, và cô Thơ Thơ, ái nữ của bà, loan báo rộng rãi tới các cơ sở truyền thông và cơ quan tranh đấu nhân quyền quốc tế. Ngày 28 tháng 2-1992, tổ chức bảo vệ nhân quyền Human Rights Watch ra thông cáo báo chí về việc ông Như Phong tuyệt thực, và yêu cầu nhà cầm quyền Việt Nam trả tự do ngay cho ông. Ngày 10 tháng 3-1992, một số dân biểu Hoa kỳ gửi thư cho ông Võ Văn Kiệt, yêu cầu trả ngay tự do cho ông Như Phong.” Giáo sư Hoạt cho biết: “Sau đó không lâu, khoảng giữa tháng 3, tôi được các anh lao động từ khu A khiêng cơm nước sang cho biết ông Lê Văn Tiến đã được thả.” 

Thật ra, ông Như Phong được trả tự do từ ngày 7 tháng 3-1992, 19 ngày sau khi ông bắt đầu tuyệt thực, ba ngày trước khi các dân biểu Mỹ viết thư, và một tuần trước khi giáo sư Đoàn Viết Hoạt biết tin. Với những tội danh ghê gớm như “gián điệp,” “hoạt động lật đổ chính quyền nhân dân,” ông bị giam chưa tới 15 tháng. Trong lần bắt giữ trước, ban giám thị trại còn cố cạy miệng ông để đổ sữa.Trong lần bắt giam này, họ thả ông một cách vội vã khi ông nhịn chưa tới 20 ngày. Một điểm đáng lưu ý là tuy bị những người cầm quyền Cộng sản bắt giam hai lần, cộng trên 13 năm, chưa bao giờ ông được đưa ra xét xử. 

Nhà báo Đỗ Quý Toàn cho biết: “Khí phách của ông được tất cả các bạn tù kính nể. Những người đã thoát trước ông ... đều nói tới tư cách hào hùng, cương nghị của Như Phong, Doãn Quốc Sỹ ... với niềm thán phục.” Theo giáo sư Đoàn Viết Hoạt: “Việc nhịn ăn của ông Như Phong cùng kết quả tốt đẹp của hành động này đã giúp nâng cao tinh thần tù nhân trong trại ... Chúng tôi thấy được thế mạnh của chúng tôi và thế yếu của những kẻ đang giam giữ chúng tôi.‘Lực’ thì họ vẫn còn, nhưng ‘thế’ và ‘thời’ đang vuột dần khỏi sự chi phối của họ ... Viết thư công khai báo nhịn ăn với giọng điệu thách thức chế độ như thế mà không những không bị kỷ luật còn được trả tự do ngay. Đang bị giam giữ trong nhà tù Cộng sản mà được chứng kiến những chuyện như thế, làm sao không lên tinh thần được! Những gì ông Như Phong đã làm giúp chúng tôi ở tù thản nhiên hơn, vững tin hơn.”

Ông Như Phong không có gia đình riêng. Người em tại miền Nam là ông Nguyễn Ngọc Ấn đã ra khỏi nước từ tháng 4-1975. Thăm nom, tiếp tế cho ông trong suốt mười mấy năm bị giam là một số bà con và thân hữu cũng đang sống khó khăn, đầy bất trắc trong một Sàigòn vừa đổi chủ. Hi sinh tới cùng độ, không quản những nguy hiểm có thể tới với bản thân trong việc liên lạc, tiếp tế cho ông là bà Cả Trác và cô Từ Dung, em họ và thứ nữ của bà Hoàng Đạo. Một người thân của gia đình là chú Tư đi cùng bà Cả và cô Từ Dung trong các chuyến thăm nuôi. Tận lực tiếp tay với các vị vừa kể là bà Minh Thu, trưởng nữ nhà văn Hoàng Đạo, hai người con của bà Cả, một người bạn của ông Như Phong là ông Bảy, và một vài người bạn ít tuổi hơn, có tình thân với ông từ những năm đầu của nhật báo Tự Do, đáng kể nhất là ông H.V.T. Tất cả đều đang sống một cách chật vật, có bữa sớm lo bữa tối trong giai đoạn ấy.

Bà cả Trác với con trai, con dâu, cháu nội, và nhà báo Như Phong


sau ngày ông Như Phong được thả

3) Cuộc sống trong mấy năm không bị giam
Có sự khác nhau trong cách sống của ông Như Phong trong hai giai đoạn sau khi ra khỏi nhà giam: giai đoạn 1988-1990 (sau khi ra khỏi nhà giam lần thứ nhất), và giai đoạn 1992-1994 (sau khi ra khỏi nhà giam lần thứ hai).

Nhà giam lần thứ nhất năm 1988, ông vẫn ở Sàigòn (nhà một người cháu họ, 67 Đinh Công Tráng, Tân Định). Ngay năm ấy ông thực hiện một chuyến ra Bắc gặp một số bạn cũ, trong đó có nhiều người theo Việt Minh từ trước năm 1945. Khi trở về, ông ghé thăm ông bà Lê Mạnh Hùng – Phan Lâm Hương (con rể và con gái của bác sĩ Phan Huy Quát, cả hai vợ chồng đều có tình thân với ông), kể lại nỗi thất vọng của những người bạn ấy đối với chính thể Cộng sản. Cũng năm ấy, ông tới dự một buổi họp mặt tại nhà họa sư Nguyễn Gia Trí để tiễn nhà thơ Trần Dạ Từ và nhà văn Nhã Ca rời đất nước Việt Nam lên đường sang Thụy Điển (xin xem các bài của bà Phan Lâm Hương và nhà văn Nhã Ca, phía sau). Năm 1989, với sự tan vỡ của Đế quốc Cộng sản, nhiều cán bộ của chế độ tại Sàigòn tìm tới ông để hỏi han, nhờ phân tích tình hình. 

Một thư ông viết cho một nhân vật Cộng sản khá cao cấp, đề ngày 21 tháng 6-1989, cho ta thấy nhiều phân tích tinh tế về tình hình quốc tế và quốc nội với những dự phóng sắc bén cho tương lai. Theo giáo sư Nguyễn Mạnh Hùng, “khó có thể tưởng tượng được rằng đó là nhận định của một người mới đi tù về sau nhiều năm bị cô lập với thế giới bên ngoài.” Năm 1990, ông tiếp xúc với giáo sư Đoàn Viết Hoạt nhiều lần, hoặc ông mời ông bà Hoạt cùng ông bà Phạm Đức Khâm đi ăn phở, hoặc tới nhà ông bà Hoạt, ít nhất một lần vào ngày 10 tháng 11-1990 để tiễn giáo sư Hoàng Xuân Hào lên đường sang Hoa kỳ. 


Sau khi ra khỏi nhà giam lần thứ hai năm 1992, ít nhất theo bề ngoài, ông sống lặng lẽ và kín đáo hơn. Hai nhà văn Doãn Quốc Sỹ và Phan Nhật Nam cho ta nhiều chi tiết đáng chú ý về cuộc sống của ông Như Phong trong giai đoạn này.
Nhà văn Doãn Quốc Sỹ có một người bạn làm chủ một khu trại chừng 7 mẫu tại Hóc Môn, cách Sàigòn khoảng 20 cây số. Trại trồng mía, chanh, cam, với một khu trồng hoa nhài (lài) để bán cho người ướp trà. Do niềm quý mến, ông bà chủ trại dành riêng cho ông Như Phong một khoảng vườn ít trăm thước vuông để sống ẩn lánh con mắt soi mói của Công an Cộng sản. Trên khoảng đất này, ông Như Phong cho dựng lên một căn nhà lá, chung quanh nuôi nhiều loại phong lan, gây ít luống hồng, một số cây cảnh, và đào một ao nhỏ để trồng sen. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ cho biết: “Vùng này đất phèn nên trồng cây khá vất vả.” Năm ấy, 1992, ông Như Phong đã 70 tuổi.

 
 Căn nhà của ông Như Phong trên trại Hóc Môn năm 1992-1993

Ông bà chủ trại gọi ông Như Phong là “ông Ba cô đơn” vì ông vẫn sống độc thân. Mỗi tuần chừng hai lần, một cô cháu gái tới thu vén nhà cửa cho gọn ghẽ hơn. Thỉnh thoảng tới thăm ông trên trại Hóc Môn này, bên cạnh ông bà Doãn Quốc Sỹ còn nhà văn Phan Nhật Nam ở gần đó, và họa sĩ Đằng Giao cùng vợ là ký giả Chu Vị Thủy (ái nữ nhà văn Chu Tử ) từ Sàigòn lên. 

Với những nhận xét tinh tế của một người viết văn giàu tình cảm và có tài, nhà văn Phan Nhật Nam hé cho ta nhiều chi tiết về một khía cạnh ít người biết: cuộc sống nội tâm của ông Như Phong trong giai đoạn này:
“Trời nắng đổ ngoài hiên ... Ông Ba tháo kính, bình yên ngủ thiêm thiếp. Tôi đi vào ngăn kín đáo nhất của căn nhà. Một bàn thờ đơn giản trên tấm gỗ đóng thẳng góc với bức vách. Hình những người đã chết yên lặng. Có tấm ảnh một người còn trẻ, nhìn nghiêng, mặt hơi cúi xuống—Nhà văn Hoàng Đạo, người lập thuyết của Tự Lực Văn Đoàn đầu thế kỷ. Hóa ra ông Ba cũng chỉ sống-với-những-người-đã-chết, như mình chỉ có tấm ảnh của bà già đi đâu cũng mang theo. Tôi nói thầm vì thấy những chân hương còn mới...”




Tối hôm ấy, sau khi ông bà Doãn Quốc Sỹ và vợ chồng họa sĩ Đằng Giao đã trở về Sàigòn, nhà văn Phan Nhật Nam cho biết tiếp: “Tôi ở lại, ngồi cùng ông Ba cho đến khuya ... Trước khi vào phòng ngủ, ông ngừng ở ngăn nhà ngang đốt nén hương. Động tác lặng lẽ, chậm rãi, thắm thiết, đơn độc...”
Trong giai đoạn này có một sự kiện đáng lưu ý. Năm 1993, khoảng một năm sau khi ra khỏi nhà giam, ông được Asia Watch, phân bộ Á châu của tổ chức Human Rights Watch, vinh danh và trao tặng một giải thưởng về Tự Do Phát Biểu (Free Expression Award).

Cuối năm 1993, nhà văn Hạ Quyên gặp ông ở Sàigòn hai lần. Một lần khi hai người cùng đến thăm bà Trần Thị Thức, hiền nội và chiến hữu của giáo sư Đoàn Viết Hoạt, lúc ấy còn bị giam ở Thanh Cẩm; lần thứ hai ở nhà một người bạn khác. Nhà văn Hạ Quyên cho biết ông lái một chiếc xe mô tô cũ kỹ, “như loại xe của thập niên 1970,” và tuy đã 71 tuổi, vẫn “vui tính, dí dỏm, và trẻ trung” (xin xem bài “Nhớ anh Ba Tốc” của Tiểu Du, phía sau).

CUỘC SỐNG TỪ KHI RA KHỎI VIỆT NAM (tháng 4/1994 – tháng 12/2001)

Ngay từ sau khi ông Như Phong ra khỏi nhà giam lần thứ nhất năm 1988, một số thân hữu của ông đã tìm cách liên lạc với em ông là ông Nguyễn Ngọc Ấn để phối hợp hành động, tạo áp lực cùng hoàn cảnh thuận tiện hầu đưa ông ra khỏi Việt Nam. Nhà báo Sol Sanders với phạm vi giao tiếp rộng rãi; giáo sư Nguyễn Mạnh Hùng qua một người bạn học tại University of Virginia hồi trước, năm 1991 đang phụ trách vấn đề Đông dương tại Bộ Ngoại giao Hoa kỳ; bác sĩ Đường Thiện Đồng cùng hiền nội là bà Trần Thị Như Hảo qua một số dân biểu liên bang tại địa phương ... là một vài trường hợp điển hình cho những cố gắng này. Nhà báo Sol Sanders cho biết: công việc không giản dị. Không phải chỉ vì tính cách tráo trở và tham nhũng của những kẻ cầm quyền, mà còn vì chính ông Như Phong chưa muốn rời đất nước Việt Nam: ông vẫn muốn tìm hiểu thêm về những chuyện nội bộ của tập đoàn lãnh đạo Cộng sản. (“It was not easy. Not only were the Communist authorities duplicitous and corrupt, but Tien ... was still trying to find out what was going inside the Communist leadership”). 

Các cố gắng trên được xúc tiến mạnh hơn sau khi ông bị bắt trở lại. Cuối cùng, nhờ thêm áp lực của các tổ chức bảo vệ nhân quyền (Amnesty International, Human Rights Watch) và Văn Bút Quốc Tế (P.E.N. International), nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam nhân nhượng. Sau khi hoàn tất một số thủ tục cần thiết, ngày 11 tháng 4-1994, nhà báo Như Phong Lê Văn Tiến rời đất nước Việt Nam sang Hoa kỳ.
So với cuộc sống tĩnh lặng trên trại Hóc môn trong các năm 1992-1993 thì cuộc sống của ông từ tháng 4-1994 trở đi sinh động và khởi sắc hơn nhiều.

1) Dự án và thực hiện

Sau khi để ra ít ngày dành cho việc nối lại mối liên lạc với thân quyến và thân hữu các nơi, ông đề cập ngay với một số người thân nhiệm vụ chuẩn bị để xây dựng lại đất nước sau giai đoạn Cộng sản. Một tuần sau khi tới Mỹ, ông thảo luận với mấy người bạn ít tuổi hơn, có tình thân với ông từ những năm đầu của nhật báo Tự Do khoảng 1955-56, việc thành lập một hệ thống thông tin có tầm vóc để cung cấp tin tức và tài liệu có kèm phân tích, bình luận về hiện trạng Việt Nam. Ông muốn xuất bản trước hết một bản tin hàng tháng bằng Anh ngữ với những phân tích có chiều sâu về tình hình đất nước, tương tự China News Analysis (Hongkong : CNA, 1953-1994 ; Taipei : Socio-Cultural Research Center, Fu Jen Univ., 1994-1998) và lấy tên là Vietnam News Analysis. Sau đó là một chuyên san nghiên cứu, mời gọi thêm sự cộng tác bài vở của học giới quan tâm đến Việt Nam, xuất bản mỗi ba tháng, tương tự China Quarterly (London : Contemporary China Institute, London Univ., 1960- ) và lấy tên là Vietnam Quarterly.

Nhà báo Như Phong giữa hai trong mấy người “bạn trẻ” từ giữa thập niên 1950

(Từ trái: Trần Huy Bích, Như Phong, Trần Như Tráng,

Hàng đứng: Bà Trần Như Tráng, cô Từ Dung)
Tuy rất khâm phục ý chí cùng nghị lực của ông, đa số trong nhóm thân hữu ấy nêu nhận xét: việc “không dễ thực hiện.” Muốn cung cấp một cách đều đặn một dịch vụ như thế, hệ thống thông tin cần ít nhất 3, 4 người làm việc toàn thời gian. Bên cạnh khả năng chuyên môn, những người này phải có một kiến thức tạm đủ về các vấn đề của thế giới hiện tại và thông thạo ngoại ngữ (đọc và viết tiếng Việt, tiếng Anh một cách lưu loát, cộng thêm kiến thức về một vài ngôn ngữ khác). Trong số những bạn cũ có tình thân và có thể đóng góp công sức với ông, cũng còn 4, 5 người có khả năng và trình độ như thế. Nhưng họ ở phân tán tại nhiều nơi khá xa nhau và chưa tiện bỏ những công việc ổn định đang có. Muốn thực hiện những bản tin và chuyên san định kỳ như thế, sẽ phải lo cung cấp bài vở đúng kỳ hạn. Không như hồi làm báo Tự Do ông mới trên 30 và nhóm bạn trẻ trên dưới 20, nay ông đã trên 70 và bọn họ đều ở tuổi 60, khó còn thể làm việc miệt mài một cách trường kỳ như trước. Những người bạn trong ngành báo chí ngoại quốc ông tin tưởng có thể mời cộng tác cũng đều đã cao tuổi, về hưu từ lâu, khả năng làm việc không còn như xưa. Trước trở lực của tuổi tác, đa số nhóm thân hữu ông tham khảo đều tỏ ý e dè, cho rằng dự án này “quá nặng,” “quá vất vả,” nhất là đối với ông. 



Thủ bút của nhà báo Như Phong.

Ngày 29-6-1994, hai tháng rưỡi sau khi tới Mỹ, ông viết thư cho một người bạn ở xa.

Trước sự dè dặt của nhóm người thân thứ nhất, ông còn thử nêu ra -- ít nhất một lần nữa – với lớp hậu bối thứ hai. Ký giả Đinh Quang Anh Thái cho biết: “Những người bạn trạc lứa tuổi tôi do tôi đưa đến thăm cậu, khi nghe cậu say sưa như thế chỉ cung kính chứ không tán thành, vì ước mơ của cậu to lớn quá, không dễ gì thực hiện nổi. Có lần khi chỉ có hai cậu cháu, tôi nói với cậu Tiến về suy nghĩ của tôi. Cậu tặc lưỡi rồi nói: “Thì ‘ba tốc’ tí chơi ấy mà’.” Xét một cách công bằng, nếu năm 1994 ông Như Phong trẻ lại 10, 15 tuổi (thời gian mất trong các nhà giam Cộng sản) và tìm được đủ người có khả năng dấn thân, dự án của ông không hẳn là một chuyện “ba tốc.” 


Dễ thực hiện hơn là một đề nghị khác: ông Như Phong đem những hiểu biết về Cộng sản Việt Nam giúp các báo và cơ sở truyền thông Việt ngữ ở ngoài nước, đồng thời, liên lạc lại để gửi bài tới các báo có uy tín quan tâm đến thời cuộc Việt Nam như Far Eastern Economic Review, Asian Wall Street Journal ... Đề nghị này được tất cả tán thành: thực tiễn, hữu ích, và sẽ không làm ông Như Phong quá mệt. Một đề nghị nữa, “nhà báo Như Phong nghỉ một thời gian rồi viết một cuốn hồi ký” bị chính ông bác ngay. Gió Như Phong là loại gió năng động. Đất nước như thế, dân tộc như thế, tập thể cầm quyền còn như thế! Mới có hơn 70 tuổi, nhà báo Như Phong đâu thể ngồi yên mà viết hồi ký được! 

Đối với ông Như Phong, “giúp các báo Việt ngữ” không phải chỉ là một nguồn vui mà còn là một nghĩa vụ. Nhà báo Nguyễn Thượng Hiệp và nhà biên khảo Trần Đông Phong cùng cho biết: ngay trong ngày đầu tiên, vừa tới Mỹ sau một hành trình dài và vất vả từ Việt Nam, ông Như Phong đã hỏi ngay hai ông về tình trạng báo chí Việt ngữ ở ngoài nước, và yêu cầu hai người đưa ông đi thăm các nhật báo Người Việt và Việt Báo. Mấy hôm sau, ông tâm sự với ông Trần Đông Phong: “Cậu không biết tôi thèm nhìn thấy một tờ ‘báo Việt ngữ của mình’ như thế nào sau gần hai mươi năm sống với bọn Cộng sản. Nghe cậu nói bọn họ ra được nhật báo ở đây, tôi mừng vô cùng... Trong bao nhiêu năm qua, niềm mơ ước của tôi là các anh em trẻ có cơ hội tiếp tục làm báo ở xứ người, những tờ báo xứng đáng được gọi là ‘báo’ như tôi thường mong ước, với những nhà báo xứng với chức năng của người cầm bút.”


Như Phong Lê Văn Tiến tại nhà Phạm Phú Minh vào khoảng cuối năm 1996.


Bấy giờ họ là láng giềng của nhau trong khu mobile home
trên đường Bolsa, Westminster, Nam California.
(Hình do Phạm Phú Minh chụp)


Cuối năm 1996, nhà báo Đỗ Quý Toàn cho biết: “Sau khi đến tạm trú ở Mỹ, Như Phong đã giúp đỡ, cộng tác với các báo Việt ngữ bằng ý kiến, tài liệu, các bài thuyết trình, và các bài viết... Ông là kho tài liệu sống của bao nhiêu người hoạt động trong các lãnh vực báo chí, truyền thông khác.” Một số tin đặc biệt từ Việt Nam do Như Phong phát hiện ra, nhiều bài đặc sắc do ông viết ... cũng đã được gửi tới Far Eastern Economic Review, Asian Wall Street Journal, Washington Times ..., và một vài tờ báo nữa từ cuối năm 1994. Một số bạn trẻ tuổi hơn của ông, đang giảng dạy hay làm việc tại một vài Đại học ở Hoa kỳ, tích cực tiếp tay ông trong giai đoạn đầu. Mấy năm sau, một nghĩa nữ hiếu thảo tận lực phụ giúp ông (xin nói thêm về người nghĩa nữ đáng quý này trong ít trang sau).


Năm 1997, Ban Việt ngữ Đài Á Châu Tự Do (Radio Free Asia, RFA) được thành lập. Một trong những việc làm đầu tiên của giáo sư Nguyễn Ngọc Bích, người được giao trách nhiệm điều khiển chương trình, là mời nhà báo Như Phong cộng tác. Ông rất vui nhận vai trò một chuyên viên nghiên cứu kiêm bình luận cho Đài. Từ đó, những bài nhận định hoặc phân tích sâu sắc về tình trạng đất nước, những lời nhận xét dí dỏm về tập đoàn lãnh đạo Cộng sản của “ông Hai Trang” được phát thanh đều đặn về quốc nội cũng như được say mê theo dõi tại quốc ngoại. Ông cũng phối hợp một số chương trình đặc biệt về lịch sử Việt Nam thời gần đây, như loạt bài về cuộc khởi nghĩa Yên bái, về phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh, hoặc loạt bài về cách mạng Việt Nam năm 1945 nhìn từ mọi khía cạnh, quốc gia cũng như cộng sản, trong Nam cũng như ngoài Bắc. Theo ký giả Tâm Việt (bút hiệu của Gs. Nguyễn Ngọc Bích), “sự hiểu biết của ông về phong trào Cộng sản Việt Nam đã giúp cho Đài có những nhận định mà thính giả cho là vô cùng chính xác.” Ông đảm nhận vai trò này một cách tận tụy cho tới những ngày cuối của cuộc đời.

2) Mối quan tâm tới đất nước

Một trong những đóng góp quý báu của nhà báo Như Phong cho các chương trình phát thanh Việt ngữ cũng như cho công cuộc tranh đấu cho nhân quyền và dân chủ ở Việt Nam là các buổi phỏng vấn những tiếng nói của lương tâm, các buổi thảo luận với những nhân vật can đảm ở trong nước nhưng dám lên tiếng cho dân chủ và nhân quyền như Tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang, Trung tướng Trần Độ, Đại tá Phạm Quế Dương, ông Hoàng Minh Chính, nhà văn Dương Thu Hương... Sẵn quen biết các nhân vật ấy từ khi còn ở trong nước, ông đã giúp các đài RFA và VNCR thực hiện được nhiều buổi phỏng vấn và phát thanh giá trị.

Chưa hài lòng với những tài liệu có thể tìm thấy trên đất Mỹ, năm 1997, tuy đã 75 tuổi ông sang Anh để tìm những tài liệu về Việt Nam được lưu giữ tại Anh. Năm 1998 và 2000, ở tuổi 76 và 78, ông hai lần sang Pháp, tới văn khố về Đông dương tại Aix-en-Provence tận miền Nam nước Pháp để tìm các tài liệu về đảng Cộng sản Đông dương và Hồ Chí Minh. Ông phát hiện nhiều tài liệu đáng lưu ý về lãnh tụ Cộng sản này cũng như về nhân vật Tăng Tuyết Minh, người vợ Trung hoa một thời của ông ta trong giai đoạn 1925-1927. 

Do những đóng góp tích cực trong các hoạt động của Giáo hội Phật Giáo Hòa Hảo tại quốc ngoại, ký giả Nguyễn Huỳnh Mai thường được mời tham dự các hội nghị, hội thảo quốc tế về tự do tôn giáo tại Việt Nam. Để chuẩn bị cho các hội nghị ấy, cô thường liên lạc với thân hữu các nơi, mong được giúp ý kiến hoặc tiếp tay trong việc thu góp tài liệu. Cho tới tháng 12 năm 2001, người đầu tiên cô liên lạc, cũng là người thường cung cấp cho cô những ý kiến, tài liệu giá trị nhất, là nhà báo Như Phong. 

Theo nhà báo Đỗ Quý Toàn, sau khi nhà văn Tiêu Dao Bảo Cự bị bắt ở Đà lạt, tổ chức bảo vệ nhân quyền Asia Watch điện thoại tới một người Việt ở Mỹ để biết thêm về Bảo Cự cùng những chi tiết và lý do của chuyện bắt bớ. Người được Asia Watch tham khảo là nhà báo Như Phong. Cũng theo ông Đỗ Quý Toàn, ông Như Phong “tự coi mình có bổn phận giúp các tổ chức tranh đấu cho quyền làm người, nhất là quyền của con người ở Việt Nam.” Rất nhiều năm, Human Rights Watch tham khảo ý kiến ông trước khi quyết định các giải thưởng Hellman-Hammett (dành cho các nhà văn bị đàn áp), và rất tôn trọng những đề nghị của ông.

Rất nhiều người trong cộng đồng Việt Nam ở quốc ngoại đã tích cực đóng góp trong việc vận động cho dự luật Nhân Quyền cho Việt Nam (Vietnam Human Rights Act, H.R. 2833), bản dự luật được thông qua một cách vẻ vang tại Hạ viện Quốc hội Hoa kỳ với đa số tuyệt đối (410 phiếu chống 1) năm 2001. Riêng những “người trong cuộc” tại thủ đô nước Mỹ biết thêm về vai trò quan trọng của nhà báo Như Phong cùng hai nhân vật có liên quan mật thiết với ông trong việc hình thành văn bản cùng việc vận động cho dự luật này. Những nét chính của dự luật do nhà báo Như Phong phác thảo. Bản Anh ngữ đầu tiên là tác phẩm của một nữ ký giả xuất sắc, có liên hệ đặc biệt đối với ông. Bản văn cuối cùng, đúng thể thức một dự luật đệ trình trước Quốc hội Hoa kỳ với những qui định chặt chẽ về hình thức và ngôn từ pháp lý, là tác phẩm của một luật gia trẻ nhưng lỗi lạc của Hoa kỳ, rất quý trọng nhà báo Như Phong. Như chúng ta có thể đoán: ít nhất trong buổi đầu, hai nhân vật trẻ, một Việt một Mỹ, sốt sắng góp sức vào việc hình thành dự luật này do sự động viên tinh thần của nhà báo Như Phong cùng do niềm quý trọng đặc biệt của họ đối với ông.

Bên cạnh việc lên tiếng cho quyền làm người và quyền công dân của người Việt, nhà báo Như Phong còn rất quan tâm đến quyền lợi cùng những mối nguy của đất nước. Ông rất lưu tâm tới những con đập do nhà cầm quyền Hoa lục xây ở thượng nguồn sông Mekong, gây ảnh hưởng tai hại đến các quốc gia ở cuối dòng như Căm bốt và nhất là Việt Nam. Ông theo dõi những chuyến đi nghiên cứu tại chỗ của một người bạn, nhà văn bác sĩ Ngô Thế Vinh, một cách rất chuyên chú. Kỹ sư Phạm Phan Long cho biết ông Như Phong tham dự các sinh hoạt của “Nhóm bạn Cửu long” từ 1995, mới một năm sau khi ông tới Hoa kỳ. Cũng theo kỹ sư Long, ông Như Phong luôn luôn “chú tâm theo dõi những hiểm họa đang xảy đến cho dòng sông,” và đã giúp cho bản Việt ngữ của “Bản Tuyên ngôn sông Mekong năm 1999” sống động và khởi sắc hơn nhiều.

3) Cố gắng và nghị lực

Để đưa được nội dung các buổi điện đàm, phỏng vấn vào chương trình phát thanh, ông phải thạo cách sử dụng các máy thu âm nối với điện thoại. Để truy tìm tin tức, tài liệu và trao đổi ý kiến hầu thực hiện nhiệm vụ một nhà nghiên cứu nghiêm túc khi thế kỷ 20 bước sang 21, ông phải làm quen với computer, Internet và email. Để gửi hình ảnh kèm theo các bài viết một cách mau chóng, ông phải dùng digital camera và scanner. Tới Hoa kỳ năm 1994 khi đã 72 tuổi, sau 19 năm bị cô lập trong các nhà tù nhỏ, nhà tù lớn, ông Như Phong học cách sử dụng các phương tiện và khí cụ truyền thông ấy một cách tích cực và rất nhanh. Một bạn trẻ thuộc thế hệ gọi ông bằng “bác,” kỹ sư Vũ Mạnh Hùng, nêu nhận xét như sau: “Qua Mỹ chỉ trong một thời gian ngắn, bác đã sử dụng thông thạo computer, email, fax, phone recording, digital camera ... trong những công việc bác làm.” 

Một sự kiện nữa chứng tỏ ý chí và nghị lực của nhà báo Như Phong. Tháng 6 năm 2001, ông được Vietnam Center tại Texas Tech University (Lubbock, Texas) mời trình bày một tham luận về Việt Nam. Buổi sáng trước khi lên đường, ông leo lên bắc dàn cho hoa lan trên sân phía sau nhà, chẳng may trượt chân ngã, đầu đập vào thành máy lạnh, ngất đi một lúc khá lâu, ra rất nhiều máu. Tuy thế, sau khi được khâu và băng bó tạm ông vẫn lên đường, không muốn sai lời cam kết với một trung tâm nghiên cứu, cũng như không chịu lỡ cơ hội trình bày trước một cử tọa có trình độ về một đề tài hữu ích liên quan tới đất nước. Sau chuyến đi này ông yếu hơn trước nhiều (ông đã 79 tuổi). 

4) “Mở lòng với tuổi trẻ”
Thật sự quan tâm đến dân, đến nước tự nhiên đưa tới thái độ cởi mở, quý mến dành cho lớp người tới sau. Ôn lại những ngày sống chung trong một căn mobile home trên đường Bolsa trong khu vực Little Sàigòn trong những năm 1996-97, ký giả Đinh Quang Anh Thái cho biết: “Những người bạn tôi thuộc thế hệ con cháu cậu Tiến, ai cũng yêu kính cậu. Họ tìm thấy ở cậu một tâm hồn trẻ trung, sống động, bao dung, hài hòa, một con người uyên bác, sẵn sàng trao truyền mà không hề giấu diếm những kiến thức và kinh nghiệm cho các lớp người sau. Cậu không bảo thủ, không hẹp hòi, không hợm mình, lúc nào cũng mở lòng với tuổi trẻ. Nhiều bạn của tôi quen cậu sau này gắn bó với cậu có phần hơn cả tôi nữa.” Kỹ sư Vũ Mạnh Hùng cho biết: “Tôi không phải là người duy nhất vào hàng tuổi con cháu mà quý mến bác và được bác quý mến như vậy ... 

Không biết có phải vì bác là một trí thức lớn tuổi, vui tính và không có vợ con ràng buộc nên “tự do như gió” mà được nhiều người trẻ quý mến không? Nhưng quả thật tôi chưa hề biết một người khác có thể gây được nhiều cảm tình như vậy nơi những người khác thế hệ, đặc biệt trong đời sống xa quê hương Việt Nam.” Sau khi ông qua đời ít hôm, những dòng hồi tưởng xuất hiện trên một nhật báo địa phương của một người trẻ thuộc thế hệ gọi ông bằng “ông” là cô Thơ Thơ đã khiến nhiều người đọc trào nước mắt. Nếu ông không thành thật hướng về lớp người tới sau với một cái “tâm” thật đẹp và thật bao la, đâu dễ gì gây được nơi họ những tình cảm quý mến sâu đậm đến thế!

5) Niềm vui cuối đời


Mấy năm chót trong cuộc sống, nhà báo lão thành Như Phong tìm được một nghĩa nữ và qua đó, có được một “mái ấm gia đình.” Ông gặp ký giả Ánh Chân (Lan Đài) tại đài Á Châu Tự Do vì công việc bài vở, phát thanh. Theo nhà văn Hạ Quyên, “Lan Đài kể chuyện sau khi gặp nhà báo Như Phong ít lần, cô tự nhiên cảm mến ông như người cha tinh thần, và ông cũng thương mến cô như con gái vậy. Lan Đài đã thuyết phục được ‘ông già’ cho phép cô trông nom ông cho hết quãng đời còn lại, để ông có một mái ấm, một gia đình trở về sau những kỳ lang bạt khắp nơi kiếm tìm tài liệu.” 


Nhà văn Hạ Quyên cho biết: “Lan Đài đối đãi với nhà báo lão thành bằng tấm lòng chân thật, tràn đầy thương kính, khiến cho ai thấy cũng phải cảm động ... Có lẽ từ kiếp trước, hai bố con đã thất lạc nhau, kiếp này mới tìm lại được chăng?” Luật gia trẻ Joseph G. Rees, lúc đó là vị-hôn-phu của Lan Đài, cũng rất quý trọng nhà báo Như Phong. Theo nhà văn Hạ Quyên, “có lẽ nhà báo vui tính, dí dỏm cũng là một sợi dây hồng giúp cho đôi trẻ nhiều lắm trong giao tình của hai người.” Do niềm quý trọng dành cho ông Như Phong cũng như do những tình cảm đằm thắm đối với Lan Đài, Joseph (nay đã thành một nhà ngoại giao quan trọng của Hoa kỳ) đã giúp rất nhiều trong việc dự luật “Nhân Quyền cho Việt Nam” được hình thành và thông qua ở Hạ viện năm 2001 như đã nói trên.


Trong gần tám năm từ khi ra khỏi nước, nhà báo Như Phong đã cư ngụ ở nhiều nơi khác nhau. Trong khoảng ba năm đầu (1994-96), nơi ở chính của ông là miền Nam California. Từ 1997 trở đi, do những liên hệ với đài Á châu Tự do, ông sang miền Đông, sống trong vùng phụ cận Washington, D.C. Nhưng ông di chuyển rất nhiều. Không kể những chuyến đi thăm bà con và thân hữu ở khắp nơi, ông còn sang Anh một lần và sang Pháp hai lần như trên đã nói. Chỉ sau khi về sống trong không khí gia đình với Lan Đài tại căn nhà do Lan Đài mua và xếp đặt, trang trí theo ý ông tại thành phố Alexandria, tiểu bang Virginia (phía Nam Washington, D.C.), cuộc sống của ông mới lại mang tính cách ổn định.

6) Những ngày cuối

Tuy yếu đi nhiều sau chuyến đi Lubbock, Texas đọc tham luận tại Vietnam Center (phải chịu một hành trình dài liền theo chuyện bị ngã và mất nhiều máu ở tuổi 79), nhà báo Như Phong thực sự qua đời do bệnh ung thư phổi. Bệnh được phát hiện mùa hè năm 2001. Ông Nguyễn Ngọc Ấn cho biết khi gặp lại ông Như Phong tại California tháng 6-2001, ông bàng hoàng khi thấy thần sắc anh mình suy kém rất nhiều. Cô Thơ Thơ cho biết thêm, “trông ông sút hẳn đi, tay run lẩy bẩy, hay kêu lạnh, và ăn rất ít.” 

Sau khi trở lại Virginia, sức khỏe ông xuống thêm. Lan Đài tận tâm chăm sóc ông theo sự hướng dẫn của vị thầy thuốc gia đình, bác sĩ Nguyễn Quốc Quân, anh ruột bác sĩ Nguyễn Đan Quế. Do báo riêng cho nhau, thân hữu các nơi biết tin ông Như Phong lâm trọng bệnh và đều rất quan tâm, nhưng ông vẫn làm việc như thường, không muốn nhắc tới chuyện ấy. 

Đầu tháng 12-2001, trước tin Lan Đài sẽ phải đi vắng ít ngày (sang Nhật theo sự chỉ định của Đài Á châu Tự do để theo dõi một hội nghị quốc tế), một người bạn quý trọng ông Như Phong là ông Lâm Ngọc Chiêu bay từ California sang Virginia để săn sóc ông. Một thân hữu vùng Washington, D.C., giáo sư Đặng Đình Khiết, dành rất nhiều thời giờ tới túc trực để chăm nom, tiếp tay với ông Chiêu. Hai ông cũng phải đưa ông Như Phong vào nhà thương làm hóa chất trị liệu. Ông Chiêu cho biết trong thời gian này, rất nhiều điện thoại của thân hữu các nơi gọi tới, hỏi thăm ông Như Phong. 

Giữa tháng 12, bệnh trạng ông trở nên trầm trọng hơn. Với sự hội ý của bác sĩ Quân, hai ông Khiết và Chiêu gọi xe cấp cứu đưa ông Như Phong vào bệnh viện Fairfax. Một trong những nữ y tá tận tâm chăm sóc ông Như Phong trong thời gian ở nhà thương này là cô Lan Anh, ái nữ nhà văn Duy Lam.
Sáng sớm ngày 18 tháng 12, ông Nguyễn Ngọc Ấn từ California bay sang tới nơi. Trưa hôm ấy, thấy ông Như Phong quá đau đớn, các bác sĩ phải dùng một lượng thuốc an thần và gây mê khá mạnh để ông ngủ cho bớt cơn đau. Trước khi dùng thuốc và thiếp đi, ông vẫn vui vẻ trò chuyện với một số thân hữu và thân quyến tới thăm: các giáo sư Nguyễn Ngọc Bích, Đào Thị Hợi, Đoàn Viết Hoạt, Trần Thị Thức, ông bà Nguyễn Huy Long, Trương Anh Thụy, các ông Nguyễn Tường Ánh và Nguyễn Lân (trưởng nam và thứ nam của nhà văn Hoàng Đạo), bác sĩ Nguyễn Tường Giang (thứ nam của nhà văn Thạch Lam) , ông Trần Tử Thanh (con trai Luật sư Trần Văn Tuyên) ... Tới chiều tối, Joseph (vị-hôn-phu của Lan Đài) tới thăm và cho biết Lan Đài đang từ Nhật bay về. Cùng các ông Ấn, Khiết, và Chiêu, Joseph nhập vào toán túc trực bên giường bệnh. 

Ông Như Phong ra đi lúc 9 giờ 36 phút tối ngày 18 tháng 12 năm 2001, giờ miền Đông Hoa kỳ, tức 9 giờ 36 phút sáng ngày 19 tháng 12 theo giờ Việt Nam. Ngay sau khi nhận biết ông đã trút hơi thở cuối cùng, Joseph vội quỳ xuống làm dấu thánh giá và đọc kinh cầu nguyện theo nghi thức Thiên chúa giáo. Giáo sư Đặng Đình Khiết đọc kinh siêu độ theo nghi thức Phật giáo. Tính theo năm sinh thật (Nhâm Tuất 1922), ông ở với thế gian 79 năm. Theo lối tính tuổi ta, ông được 80 tuổi. 

Hôm sau Lan Đài từ Tokyo về tới nơi. Vâng theo di chúc ông Như Phong để lại, “tang lễ cử hành thật đơn giản,” “không đăng cáo phó trên các báo” để khỏi làm phiền tới nhiều người, Lan Đài chỉ gửi “tin báo tử” tới một số bà con và bạn bè thật thân theo một danh sách giới hạn ông lập sẵn từ trước. Tuy thế, do báo tin lẫn cho nhau, rất nhiều thân hữu và nhân vật quan trọng trong cộng đồng Việt Nam vùng Washington, D.C. đã tới Arlington Funeral Home để viếng tiễn ông. 

Ngày cử hành nghi thức vĩnh biệt là Thứ bảy, 22 tháng 12. Hai người thân gần nhất là ông Nguyễn Ngọc Ấn, em ruột, và Lan Đài, nghĩa nữ. Thuộc gia đình Nguyễn Tường có các ông Nguyễn Tường Ánh, Nguyễn Lân, bác sĩ Nguyễn Tường Giang, và anh Nguyễn Tường Kiên, cháu đích tôn nhà văn Hoàng Đạo, con ông Nguyễn Tường Ánh. Phía họ bà Hoàng Đạo có cụ bà Đỗ Thúc Thừa và các con. Các thân hữu gần nhất của nhà báo Như Phong tại địa phương có mặt đầy đủ: các giáo sư Nguyễn Ngọc Bích, Đào Thị Hợi, Đoàn Viết Hoạt, Trần Thị Thức, Đặng Đình Khiết, Nguyễn Mạnh Hùng, Lê Mạnh Hùng, ông bà Nguyễn Huy Long, Trương Anh Thụy, nhà thơ Nguyễn Chí Thiện và bào huynh là Trung tá Nguyễn Công Giân ... 

Trong các thân hữu từ xa, có ông Lâm Ngọc Chiêu và nhà văn Hạ Quyên bay tới từ miền Nam California, ông Vũ Văn Lê bay tới từ Houston, Texas. Với tư cách một người em kết nghĩa, nhà văn Hạ Quyên chít khăn tang. Cũng có sự hiện diện của một số bà con và nhiều nhân vật tai mắt trong cộng đồng Việt Nam vùng Washington, D.C. Sau khi đọc một đoạn trong một tập sách ông Như Phong vẫn hay hỏi tới nhưng tác giả đã không kịp hoàn tất trước khi ông hôn mê, nhà văn Trương Anh Thụy kính cẩn đặt tập bản thảo vào cạnh ông trong linh cữu. Sau những lời vĩnh biệt đầy cảm động, giáo sư Nguyễn Ngọc Bích đọc cặp câu đối mô tả cốt cách ông Như Phong theo nhận thức của một người bạn trẻ có cơ duyên biết ông trên 40 năm từ giữa thập niên 1950:


Tự tại vững thân tùng, đất Lý Thắng chẳng chìm cơn Khói Sóng
Thung dung vươn ý trúc, trời Như Phong nào khuất ánh Tự Do.



HỂ TẮT”
Xúc động trước tin ông qua đời, nhiều nhóm thân hữu tại nhiều địa phương khác nhau tự động tổ chức rất nhiều nghi thức họp mặt để tưởng niệm và cầu nguyện cho ông. Trong suốt khoảng cuối tháng 12-2001 và tháng 1-2002, báo chí Việt ngữ tại hải ngoại đăng rất nhiều bản Phân Ưu cùng nhiều bài tưởng nhớ, vinh danh ông. Các bài ấy xuất hiện rải rác trên báo chí vùng Washington, D.C. (như Hoa Thịnh Đốn Việt Báo), California (như các nhật báo Người Việt, Việt Báo, Thời Luận ... , tuần báo Viet Tide), Houston, Texas (tuần báo Ngày Nay), Minnesota (tuần báo Ngày Nay Minnesota) ... cùng nhiều báo địa phương khác. 


Chủ bút tạp chí Thế Kỷ 21 Phạm Phú Minh phát biểutrong lễ tưởng niệm nhà báo Như Phong Lê Văn Tiến tại trụ sở báo Nguời Việt năm 2001
(hình do Phạm Phú Minh cung cấp)

Tháng 12 năm 2002, để ghi nhớ một năm sau khi ông ra đi, tạp chí Thế kỷ 21 thực hiện một số đặc biệt về ông. Sau khi phổ biến trên các báo, một số tác giả đã nhuận sắc bài viết để chuẩn bị in lại vào một tập sách tưởng niệm. Một số tác giả khác viết và gửi bài sau khi được thông báo sẽ có một Tuyển tập về Như Phong Lê Văn Tiến.

 Một trong những mục đích của tập sách là gom góp để lưu giữ những bài thân hữu các nơi viết về ông. 



Quy tụ trong Tuyển tập về Như Phong Lê Văn Tiến gồm bài của nhiều thân hữu biết ông từ lâu như bà Đỗ Thúc Vịnh, nhà thơ Hà Thượng Nhân, họa sĩ Phạm Tăng, nhà văn Doãn Quốc Sỹ, cựu Đại sứ Bùi Diễm, giáo sư Lê Xuân Khoa, họa sĩ Ngô Bảo, các nhà văn Phan Lạc Phúc, Uyên Thao, các ông Nguyễn Ngọc Linh, Nguyễn Ngọc Phách, Trịnh Đình Thắng, các giáo sư Nguyễn Ngọc Bích, Tạ Văn Tài, Nguyễn Mạnh Hùng, nhà báo Sol Sanders, bác sĩ Ngô Thế Vinh, bà Trần Thị Như Hảo, các nhà văn Nhã Ca, Hạ Quyên, Phan Nhật Nam, Bùi Bảo Trúc, nhà báo Đỗ Quý Toàn, nhà giáo Trần Thị Thức, chuyên viên kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa ... Có liên hệ gia đình hoặc tình thân gần như tình gia đình là cô Từ Dung, bác sĩ Nguyễn Tường Giang, nhạc sĩ Từ Công Phụng, cô Thơ Thơ, bà Phan 


 Lâm Hương, ký giả Nguyễn Huỳnh Mai, kỹ sư Hứa Quốc ... Nói lên phong thái cùng tư cách của ông trong ngục tù Cộng sản là bài của giáo sư Đoàn Viết Hoạt và ký giả Đinh Quang Anh Thái. Những người bạn trong công cuộc tranh đấu cho dân chủ và nhân quyền ở Việt Nam như nhà văn Vũ Thư Hiên, nhà hoạt động nhân quyền Quản Mỹ Lan… Thay mặt những người bạn kết tình thân sau khi ông Như Phong ra khỏi nước năm 1994 là ông Lâm Ngọc Chiêu, các kỹ sư Phạm Phan Long, Vũ Mạnh Hùng, chuyên viên tâm lý học đường Lê Nguyên Phương, và cô Trần Nguyễn Trang-Đài… Hai câu sau đây của nhà thơ Hà Thượng Nhân có thể nói lên phần nào tâm trạng chung của các tác giả, những người đã gặp nhau trong niềm quý trọng ông:




Từ Mai Trần Huy Bích
Email ThisBlogThis!Share to TwitterShare to FacebookShare to Pinterest

 

 

No comments: