Saturday, October 29, 2016

SƠN TRUNG * LẬP TRƯỜNG




Người trong một quốc gia, ai cũng chú trọng nhân nghĩa. Bổn phận và đạo đức đi với nhau.
Nguyễn Đình Chiểu viết:
"Trai thì trung hiếu làm đầu"
Khổng tử đặt ra nguyên tắc xây dựng và phục vụ: tu thân, tề gia, trị quốc , bình thiên hạ.

Thời đầu của chính phủ De Gaulle, người Pháp nêu cao khẩu hiệu :"Travail, Famille, Patrie (Cần lao, Gia đình, Tổ quốc). Nhìn chung, đông tây, kim cổ, người ta đều hướng đến gia đình và Tổ quốc.

Trong thời đại chúng ta, nhất là trong khu vực cờ đỏ, hai chữ lập trường rất quan trọng , ai mà bị phê "mất lập trường" là bị hành tội. Nhẹ thì bị phê bình, kiểm thảo, phải đi học tập một thời gian, nặng thì mất chức quyền hoặc tù tội. Thế nhưng tự điển it định nghĩa lập trường là gì .

Tự Điển Đào Duy Anh định nghĩa  Lập trường là cái chỗ mình đứng. Địa vị hoặc thái độ.
Tự điển Hán Việt Trích Dẫn viết :立場 lập trường là Thái độ, quan điểm (quan sát sự vật hoặc phương pháp giải quyết vấn đề nào đó).

Từ điển Việt Anh   lập trường ịch sang tiếng Anh là standpoint; view-point.Từ Điển Tiếng Việt
lập trường:
d. 1 Chỗ đứng và thái độ khi nhận thức và xử lí vấn đề. Trong quá trình thương lượng, lập trường hai bên đã gần nhau. Thay đổi lập trường. 2 Lập trường giai cấp (nói tắt). Lập trường kiên định.
Còn tiếng Pháp là
position
Lập_trường chính_trị : position politique
Lập_trường giai_cấp : position de classe

中文 - Nôm - Tiếng Việt
立場 , lập trường
Chỗ đứng. Chỉ cái địa vị hoặc thái độ.

http://www.1tudien.com/

Trong xã hội, có người có lập trường, có người không có lập trường. Đây là hạng ba phải, gió chiều nào che chiều nấy, nay Sở mai Tần. Hạng có lập trường có hai loại: hạng có lập trường chánh nghĩa và hạng có lập trường phi nghĩa. Có kẻ kiên định lập trường, có kẻ thay thay đổi lập trường.

Trong nước ta những kẻ bỏ tối theo sáng như Nguyễn Hộ,Trần Độ, Nguyễn Kiên Giang, Trần Xuân Bách...Có kẻ bỏ sáng theo tối như Nguyễn Cao Kỳ, Phạm Duy...và vô số "thương nữ, thương nam bất tri vong quốc hận". Tuy nhiên, chúng ta không nên vơ đũa cả nắm vì trong đó có những chiến sĩ về vùng địch làm công tác mật.

Trong sử sách Trung quốc, người ta ca tụng các thánh nhân, danh nhân tài đức, nhưng thực ra họ là những kẻ không có lập trường, chỉ chạy theo danh lợi, bất chấp nhân nghĩa.
I. KHỔNG TỬ 

Trước tiên là việc Khổng tử từ quan rồi bỏ đi chu du thiên hạ. Thuở ấy, vua Tề nước láng giềng muốn làm suy yếu nước Lỗ bèn đem tặng bộ nữ nhạc 80 người khiến vua quan Lỗ say mê nhạc , bỏ triều chính, Khổng Tử bèn bỏ nước ra đi. Không hiểu trước khi đi, Khổng Tử có cố gắng khuyên giải nhà vua không, không thấy tài liệu nào nói việc ông khuyên giải như thế nào. chỉ nói ông âm thầm bỏ ra đi! . Khổng Tử đã được triều đình tôn trọng, vua Lỗ đã ban chức Trủng Tể cho ông, là một chức lớn trong triều đình, tương đương với thừa tướng. Ông làm quan cũng khá lâu, it nhất cũng bốn năm giữ chức Tư Khấu chứ it ỏi gì! Thế mà cuối cùng rủ áo ra đi! Điều này cho thấy Khổng Tử quá lạc quan và có it nhiều tự hào khi nói:"
Nếu có vị vua giao cho ta quyền cai trị trong nước, trong một năm thì quy mô đã khá, trong ba năm thì thành tựu .
"Cổ ngạn có câu:" Nếu có bậc thánh nối nghiệp trị vì được trăm năm thì đủ khiến những kẻ tàn ác hoá thành hiền lành, và triều đình không cần án tử hình nữa. Lời ấy thành thật lắm thay!
"Như có bậc thánh nhân vâng mạng Trời cai trị thiên hạ, thì sau 30 năm, nền chính trị nhân đạo sẽ phổ cập khắp nơi
( Lu
ận Ngữ 13.10; 13-12].

Khổng tử nói rằng: Đời dùng (ta) thì ta hành động, đời bỏ (ta) thì ta ẩn dật. [LN,7.10].
Và ngài cũng nói: "Quân tử thích điều nghĩa, tiểu nhân tham điều lợi."[LN. 4.16].
" Giàu với sang ai chẳng ham muốn? Nhưng giàu sang mà trái đạo thì thì người quân tử chẳng tham. Nghèo với hèn thì ai mà ưa? Nhưng vì đạo mà nghèo hèn thì người quân tử chẳng từ khước. Người mà bỏ lòng nhân thì sao xứng danh quân tử? Người quân tử không bỏ lòng nhân dù chỉ trong khoảng thời gian một bữa ăn. Lúc vội vàng, lúc ngửa nghiêng vẫn giữ lòng nhân.[LN.4.5].

Trong trường này, nước Lỗ đã suy vong, thế mà ngài không ẩn dật, không an bần lạc đạo lại bỏ ra nước ngoài. Ngài đi đâu? Chắc không phải tị thế, tị nhân tị nạn mà là cầu danh lợi ở các bậc vua chúa. Ngài hy vọng các vua chúa sẽ dùng ngài vào chỗ chức trong quyền cao. Ngài tới hầu bà Nam Tử dù bà nổi tiếng dâm đãng. Ngài đưa ra thuyết chính danh để nhảy vào nước Vệ trong khi bà Nam Tử đã gây ra việc cha con giết nhau. Khổng tử mưu đưa công tử Triếp nhưng giải pháp này nếu được công tử Triếp chấp thuận vẫn lại lâm vào cảnh anh em giết nhau, chú cháu tranh nhau, không thực hiện được thuyết chính danh.

Sau khi từ quan, Khổng Tử cũng đã muốn theo gương Quản Trọng đem tài để kiếm lợi, cho nên ông đã toan tính hợp tác với nhiều quyền thần, gian thần như Công Sơn Phất Nhiễu [LN. 17.5], Phật Bật [17.7], nhưng bị các học trò ngăn cản. Ngài tham danh tham lợi nhưng lại muốn che đậy bằng thuyết chính danh và lý tưởng phục vụ đất nước như trong vụ Công Sơn Phất Nhiễu , ngài nói: với Tử Lộ: 
" Người ta mời mình chẳng có lý do chánh đáng sao? Người ta dùng mình, mình há lại không làm cho đất nước ( Lỗ ) thịnh vượng như thời Đông Châu sao?"{17.5}. Đó cũng là lời Ngài nói với Tử Lộ:"Ta có tài nên dùng, há như trái bầu mà người ta treo mà không ăn sao?[17.7].

Than ôi! Số Khổng Tử đến hồi suy dù Ngài chịu đấm ăn xôi cũng không đưọc. Bà Nam Tử và Tề Cảnh Công đều chê Ngài, nếu họ mời thì Ngài cũng sa vào danh lợi như những con người tầm thường khác. !
Ngài hăng hái đi tìm lợi danh, tìm không được thì bi quan. Trước kia ngài nói: ". Mình là người tài giỏi) Người đời không biết đến mình, mình cũng chẳng lấy làm buồn, như vậy chẳng phải là bậc quân tử sao?(LN, 1.1). Nhưng cuối đời thất bại, Khổng tử cũng kêu trời kêu đất : "Ôi đời chẳng biết ta!" [14.36].. Ngài đau khổ vì chim Phượng và Hà Đồ không tái xuất,[LN, 9.8] và Ngài bi quan muốn bỏ đi ở nơi rừng núi hoang vu và man dã [9.14].

II . BÁ DI, THÚC TỀ
Hai ông Bá Di, Thức Tề đươc coi là biểu tương của lòng ái quốc, hành động của tôi trung không thờ hai chúa, người ẩn sĩ ở chốn rừng sâu, thanh cao, trong sạch không thèm hưởng vinh hoa phú quý, không cộng tác với quân thù. Trong Luận Ngữ, Khổng Tử nhiều lần ngợi khen hai ông Bá Di Thúc tề:
.逸民:伯夷、叔齊、虞仲、夷逸、朱張、柳下惠、少連。子曰:「不降其志,不辱其身,伯夷叔齊與?」.Dật dân , Bá Di , Thúc , Ngu Trọng , Di Dật , Chu Trương , Liễu Hạ Huệ , Thiểu Liên . Tử viết , bất hàng kỳ chí , bất nhục kỳ thân , Bá Di Thúc dữ【 ln, chương 18.8】 . ( Đời xưa trong thời Thương, Chu ) những người ẩn dật thì có Bá Di, Thúc Tề, Ngu Trọng, Di Dật, Châu Trương, Liễu Hạ Huệ , Thiếu Liên. Khổng Tử nói:"(Những người này ) không nhụt chí khí, không phải chịu nhục thân chỉ có hai ông Bá Di, Thúc Tề).

Trong Luận Ngữ, Tử Cống hỏi Khổng Tử: "Bá Di, Thúc Tề là người thế nào?"
Khổng tử nói: " Là người hiền đời xưa.(Ch. VII,14)
Trong Côn sơn ca, một bài thơ ca tụng cảnh nhàn, đề cao khí tiết bậc cao nhân ẩn dật, Nguyễn Trãi viết:

君不見董卓黃金盈一塢
元載胡椒八百斛
又不見伯夷與叔齊
首陽餓死不食粟

Quân bất kiến Đổng Trác hoàng kim doanh nhất ổ ?
Nguyên Tải hồ tiêu bát bách hộc ?
Hựu bất kiến Bá Di dữ Thúc Tề
Thú dương ngạ tử bất thực túc ?

(Ngươi thấy không, Đỗng Trác vàng chất thành đống,
Nguyên Tải hồ tiêu chứa mấy kho.
Còn Bá Di, Thúc Tề chết đói ở Thủ Dương không thèm ăn cơm cháo nhà Chu.)

Bá Di , và Thúc Tề là hai anh em ruột, con vua nước Cô Trúc, là một quốc gia chư hầu nhà Thương trong lịch sử Trung Quốc. Khi vua cha sắp mất, truyền ngôi lại cho Bá Di, Bá Di không chịu nhận, Thúc Tề cũng không chịu nhận. Hai ông là người con bất hiếu, người dân bất trung vì không tiếp nối sự nghiệp của cha, phế bỏ công việc phục vụ đất nước.

Nếu không muốn làm vua, tham gia chính trị thì nên chọn người khác làm vua, chứ sao lại bỏ mà đi, tạo ra một lỗ hổng chính trị và gây xáo trộn cho đất nước? Lúc bấy giờ nhà Thương cai trị, vua Trụ tàn ác, thì hai ông lại phải cố gắng đem lại an bình, thịnh trị cho đất nước, sao lại phế nước, bỏ dân mà trốn đi? Họ là con bất hiếu, tôi bất trung, là kẻ đào ngũ!

Sau khi hai ông bỏ đi, người trong nước bèn lập Á Bằng (亞憑) - người em của Bá Di và anh của Thúc Tề lên ngôi. Sau đó hai ông nghe tin Cơ Xương chiêu hiền đãi sĩ, hai ông theo phò tá Tây Bá Cơ Xương. Sau Cơ Xương mất, em là Cơ Phát đem quân đánh vua Tru, hai ông ra trước ngựa mà can gián rằng:
Cha chết không chôn lại gây việc can qua có thể gọi là hiếu không? Là bầy tôi giết vua có thể gọi là nhân không?
Cơ Phát không nghe, thủ hạ Cơ Phát muốn giết hai ông, Khương Tử Nha ngăn lại, sau hai ông bỏ đi . Cơ Phát giết Trụ, thâu phục nước Cô Trúc, lập nhà Chu. Hai ông không ăn thóc nhà Chu , bỏ lên núi Thủ Dương hái rau vi ăn qua bữa. Rau vi không thể nuôi sống được, cuối cùng ông và Thúc Tề đều chết đói tại núi Thú Dương. Trước khi qua đời, Bá Di và Thúc Tề làm bài ca:

Lên núi Tây chừ hái rau vi,
Lấy bạo đổi bạo chừ có hay chi?
Thần Nông, Ngu, Hạ chìm cả rồi,
ta biết nơi nào đi


Hai ông quả là vô trí, hành động mâu thuẫn. Làm vua không muốn lại muốn làm tôi. Đã ẩn dật, đã không thích chính trị sao lại ra phò Vũ Vương, Văn Vương? Đã theo Vũ vương, Văn Vương tất là phải biết Vũ vương, Văn vương muốn diệt Trụ và cai trị nước Cô Trúc của hai ông. Hơn nữa, vua Trụ tàn ác, tại sao lại còn can ngăn việc tiêu diệt Trụ vương? Thế có phải là tôi trung không? Có phải là bậc hiền triết, là kẻ thanh cao không? Hai ông là kẻ lông bông, chẳng yêu nước, chẳng có đạo đức (trung, hiếu), không có lập trường, chỉ là kẻ xuẫn động


III QUẢN TRỌNG


Quản Trọng 管仲 ( 725 TCN - 645 TCN) là một chính trị gia, nhà quân sự và nhà tư tưởng Trung Quốc thời Xuân Thu (685 TCN). Tên ban đầu của ông là Di Ngô (夷吾). Trọng là tên hiệu. Được Bảo Thúc Nha tiến cử, Tề Hoàn Công phong ông làm Tể tướng năm 685 TCN. Ông có câu nói để đời:

"Nhứt niên chi kế mạc như thụ cốc
Thập niên chi kế mạc như thụ mộc
Chung thân chi kế mạc như thụ nhơn
Nhứt thu nhứt hoạch giả, cốc dã
Nhứt thu thập hoạch giả, mộc dã
Nhứt thu bách hoạch giả, nhơn dã"

"Kế một năm, chi bằng trồng lúa
Kế 10 năm, chi bằng trồng cây
Kế trọn đời, chi bằng trồng nguời.
Trồng một, gặt một, ấy là lúa
Trồng một, gặt mười, ấy là cây
Trồng một, gặt trăm, ấy là người"


Thời loạn lạc, một số gia đình,, phe phái ,tôn giáo đều có sự chia rẽ, hoặc xung đột. Như thời chúa Trịnh, Ngô Thời Sĩ theo phe Trịnh Khải, con là Ngô Thời Nhiệm theo phe Đặng Thị Huệ, xử án các bạn bè của Ngô Thời Sĩ cho nên Ngô Thời Sĩ tự tử mà chết.Thời chiến tranh Việt Nam, Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh theo Pháp nhưng con Phạm Quỳnh và con Nguyễn Văn Vĩnh theo Cộng sản. Song thân của Trần Đức Thảo , Nguyễn Mạnh Tường và Trương Như Tảng cũng đau lòng vì có những đứa con thông minh, tài giỏi thế mà chạy theo cộng sản!

Nhưng cũng có những cá nhân, những đoàn thể luôn chạy theo kẻ mạnh, dựa hơi kẻ mạnh để uy hiếp, bóc lột nhân dân. Khi lực lượng bạn thù mạnh ngang nhau, họ chơi cả hai mặt "tài xỉu", nghĩa là họ chia ra hai phe ,kẻ theo phe này, người theo phe kia để cả hai có thể tồn tại, hoặc ít nhất chỉ mất một nửa. Họ chủ trương "bắt cá hai tay", hoặc sẵn sàng đổi trắng thay đen nếu có lợi cho họ bất chấp đạo nghĩa! Và đó cũng là trường hợp Quản Trọng.

Quản Trọng và Bảo Thúc Nha là hai người bạn thân. Quản Trọng theo phò hoàng tử Củ, Bảo Thúc Nha theo phò hoàng tử Tiểu Bạch. Cả hai ước hẹn ai phò chúa nấy nhưng khi đắc thời thì người nọ sẽ kéo người kia cùng về một phe. Lúc bấy giờ nước Tề rất loạn, các hoàng tử đều lánh nạn sang các nước khác để chờ thời cơ. Quản Trọng hộ tống hoàng tử Củ tới nước Lỗ, còn Bao Thúc Nha hộ tống hoàng tử Tiểu Bạch tới nước Lã. Không bao lâu,vua Tề bị giết, hoàng tử Củ và Tiểu Bạch bèn cấp tốc lên đường về nước để giành ngôi.

Khi hai đoàn gặp nhau, Quản Trọng đã bắn một phát tên vào Tiểu Bạch, Tiểu Bạch giả chết rồi vào kinh đô làm vua còn được gọi là Tề Hoàn Công. Khi lên làm vua, Tề Hoàn Công liền bảo nước Lỗ giết hoàng tử Củ và bắt giam Quản Trọng.

Tề Hoàn Công muốn Bao Thúc Nha làm thừa tướng. Bao Thúc Nha từ chối mà đề cử Quản Trọng đang bị giam ở nước Lỗ. Tề Hoàn Công nói rằng: "Người này bắn ta một tên, làm sao có thể dùng hắn được? Đợi hắn về , ta sẽ xé hắn ra trăm nghìn mảnh." Bào Thúc Nha đáp "Dĩ nhiên vì công tử Củ, ông ta đã bắn bệ hạ, bây giờ nếu bệ hạ trọng dụng ông, ông sẽ vì bệ hạ mà đem mũi tên đó bắn cả thiên hạ!"

Tề Hoàn Công rất khâm phục Quản Trọng, hơn nữa ông còn rất thẳng thắn, ông nói với Quản Trọng rằng: "Trẫm có tật hơi thích nữ sắc, điều này có tai hại gì đối với quốc gia không?" Quản Trọng trả lời: "Không, ham mê nữ sắc không gây tai hại gì cho quốc gia, không nghe lời khuyên của những bậc thánh hiền mới có hại cho quốc gia và thiên hạ."

Ông nói cũng đúng, nếu một vị quốc vương không có khuyết điểm gì, thì sẽ không dùng người tốt, quốc vương điều gì cũng biết, mọi người sẽ không còn việc gì để làm nữa!

Bàn về Quản Trọng, Khổng Tử khen ngợi:

Người ấy có công ơn với dân Tề cho nên dân Tề bị Tề Hoàn Công lấy ba trăm mẫu đất Biền phong cho Quản Trọng mà dân chẳng oán than! (Luận Ngữ ,III, 22)

Có ai trong đời bị cướp ruộng đất mà vui vẻ ư? Chẳng qua ngày xưa người ta sợ tù tội nên phải im miệng đó thôi. Ngày nay tại các nước có những trường hợp trưng thu đất đai thì nhà nước phải đền bù xứng đáng chứ không phải như Việt Cộng một thước bán một ngàn đô chỉ trả cho dân một đô, hoặc cướp sạch không đền bù gì cả! Không biết ngày xưa vua chúa hành động như thế nào khi chiếm đất đai của nhân dân?

Trong Luận Ngữ, thiên Bát Dật, Khổng tử cũng chê Quản Trọng không biết lễ nghĩa và tiêu xài hoang phí như xây đài Tam Quy, trong khi ra lệnh cấm các quan kiêm nhiều chức vụ. Trái lại Nguyễn Du ca tụng Quản Trong, khen ngợi đài Tam Quy:

管仲三歸臺
舊臺湮沒草離離
曾以桓公霸一時
郡縣城中空九合
莓苔石上記三歸
在朝巧與君心合
沒世終憐相業卑
喜值聖朝公覆燾
往來臺下雜華夷
Quản Trọng Tam Quy đài
Cựu đài nhân một thảo li li
Tằng dĩ Hoàn Công bá nhất thì

Quận huyện thành trung không cửu hợp
Môi đài thạch thượng kí Tam Quy
Tại Triều xảo dữ quân tâm hợp
Một thế chung liên tướng nghiệp ti
Hỉ trị thánh triêu công phúc đảo
Vãng lai đài hạ tạp Hoa, Di.*


Vịnh Đài Tam Quy của Quản Trọng
Đài cũ ngày xưa cỏ sắc thanh
Giúp Tề bá nghiệp đã nên danh.
Trong thành chín bận đồng minh hội,
Trên đá Tam quy rêu phủ xanh.
Điện tía thênh thang vua quý mến,
Sử xanh dè bỉu nghiệp mong manh.
Thánh hoàng rộng lượng ban ân đức,
Di Hán vui chơi chốn thị thành.


Chê như vậy là Khổng Tử chỉ thấy cái lỗi nhỏ của Quản Trọng mà không thấy cái lỗi to tày đình của Quản Trọng. Khổng Tử chủ trương Trung hiếu, nhân nghĩa mà lại không nói đến hành động bất trung của Quản Trọng. Chỉ có Tử Lộ và Tử Cống là phê phán đúng con người của Quản Trọng.
Trong Luận Ngữ, Tử Lộ hỏi Khổng Tử: Vua Hoàn công giết công tử Củ ( em Hoàn Công vì tranh quyền, bề tôi của công tử Củ có Thiệu Hốt và Quản Trọng). Thiệu Hốt tự tử, còn Quản Trọng không tự tử (sau làm tể tướng cho Hoàn công nữa). Như vậy, bảo (Quản Trọng) là nhân sao được? Tử Cống nói: " Quản Trọng chẳng phải bất nhân sao? Hoàn công giết công tử Củ, chẳng chết theo chúa lại theo phò Hoàn công!

Khổng Tử bênh vực Quản Trọng:
Khổng Tử đáp: "Tề Hoàn công thống nhất chín nước chư hầu mà không dùng binh đao. Đó là do sức Quản Trọng. Thế chẳng đáng là bậc nhân nghĩa sao? .. . Quản Trọng làm tể tướng cho Hoàn Công, giúp Hoàn công thành bá chủ chư hầu. Chính nhờ tài cai trị mà thiên hạ được yên ổn, dân chúng hưởng ân đức. Nếu không có Quản Trọng thì chúng ta phải gióc tóc, vắt vạt áo bên tả như giống mọi rợ. Sao lại như kẻ thất phu vì lòng trung nhỏ hẹp mà tự treo cổ bên ngòi lạch, thành ra đời chẳng ai biết mình sao? (Luận Ngữ, chương XIV)

Khổng Tử bênh vực không đúng vì chiến trận nào, không giết nhiều thì cũng giết it, và đã xâm lược nước người thì sao là nhân được.  Xưa nay bọn thực dân đế quốc xanh và đỏ đi xâm lược nước người thường mượn danh nghĩa thống nhất thiên hạ, truyền bá văn minh, mở rộng nước Trời , giải phón g giai cấp nhưng sự thực lá cướp của  giết người, bắt người làm nô lệ., Quản Trọng phò Tề Hoàn Công thống nhất thiên hạ tức là ông đã phò tá một tên đế quốc xâm lược, sao gọi là nhân! Ông chỉ là kẻ vụ lợi, tham quyền quý công danh, không có lòng trung nghĩa.Hai ông không có lập trường chính trị, đạo đức kiên định, chỉ là chạy theo kẻ mạnh.

IV.KHỔNG MINH

Ai cũng khen ngợi Khổng Minh là kẻ đa mưu túc kế. Đào Duy Từ viết Ngọa Long Cương có đoạn ca ngợi Khổng Minh :

Binh quyền việc những đương tay
Lâm cơ thể thắng, một này địch muôn.
Trên bày Bác Vọng thiêu đồn
Bạch hà dung thuỷ, Hầu Đôn chạy dài.
Bốn cờ biết mấy sức trai,
Có tài thiện chiến, có tài tâm công.
Dạ nghiêm truyền dựa vịnh song,
Mười muôn tên Ngụy nộp cùng Chu Lang.
Hỏa công dâng chước ra hàng,
Gió tàn Xích Bích thổi tàn Ngụy binh
Hoa dung khiến tướng phân doanh.
Gian cùng sớm đã nớp mình vỡ gan


Hội Tao Đàn của Lê Thánh Tông có bài vịnh Gia Cát Lượng:
Chốn Ngọa Long cương chí thú yêu,
Thấy nghiêng vạc Hán phải ra điều.
Khua Ngô vỡ mật tan như ruốc,
Đuổi Ngụy chồn gan giạt tựa bèo.
Trỏ vẫy quạt lông cầm một cán,
Nhiệm màu túi gấm đủ trăm điều.
Sức người rứt đổi thì dường ấy,
Tộ Hán song còn có bấy nhiêu!


Trong văn học dân gian cũng lưu hành giai thoại :

Có một người học trò nhà nghèo, một hôm hết tiền ăn phải đem quần áo đến cầm ở nhà một ông quan. Ông này bảo : - Có thực là học trò thì tôi ra cho vế câu đối này, nếu đối được thì tôi sẽ cấp tiền cho ăn học”.
Rồi ông ta đọc luôn : - Quần tử cố cùng, Quận tử cùng, quân tử cố.
Nghĩa là: Người quân tử bền lòng lúc cùng, người quân tử cùng, người quân tử bền lòng. Người học trò đối ngày rằng : - Khổng Minh cầm túng, Khổng Minh túng, Khổng Minh cầm.

Nghĩa là : Ông Khổng Minh bắt, tha, ông Khổng Minh tha, ông Khổng Minh bắt. Lấy tích “Khổng Minh thất cầm thất túng” bảy lần bắt bảy lần tha Mạnh Hoạch để dùng lượng khoan hồng thuyết phục kẻ địch quy thuận. Ông quan khen phục câu đối vừa có nghĩa đen vừa có nghĩ bóng, vừa đối chữ, vừa đối tiếng (cùng, túng, cầm, cố), bèn cấp tiền cho anh ta ăn học.

Lịch sử Trung Quốc đời Tam quốc khởi đầu do Trần Thọ viết khoảng năm 280, nhan đề là Tam quốc chí, sau có nhiều người viết song quyển Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa của La Quán Trung ra đời khoảng thế kỷ XIV thì rất phổ biến , nội dung ca tụng Khổng Minh hết sức, trong khi các tài liệu khác thì có nhiều ý kiến sai biệt.

Cứ theo Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa của La Quán Trung, chúng ta thấy Khổng Minh là bậc quân sư tài ba nhưng thực tế ông cũng như con người thường khác, có thành có bại, có ưu điểm và cũng có khuyết điểm chứ không phải là thần thánh . Ông là quân sư toàn quyền quyết định mọi sự cho nên những thất bại do các tướng lĩnh, ông vẫn chịu trách nhiệm.(Nguyễn Trãi không có toàn quyền vì trên ông có Lê Văn Linh).

Khổng Minh không sáng suốt, không kiên định lập trường. Ông đã biết thế nước chia ba sao lại còn nghe lời cầu khẩn của Lưu Bị mà xuống núi . Như vậy là ông ưa nịnh hót, không kiên định lập trường của mình là xuất thế tiêu dao. Ông giỏi nhâm độn, há không biết Lưu Bị đến hay sao?Nếu biết trước, tại sao ông không lánh đi, dời đền một địa điểm khác thật xa, thật kín đáo? Dù có gặp Lưu Bị, ông cũng phải giữ lập trường sao lại để vướng trần tục để cuồi cùng thất bại? Tay ông dấy máu mà nào được gì đâu? Như vậy có phải ông tài giỏi, biết quá khứ vị lai, và có tài thần thông biến hóa, di sơn đảo hải? Cuối cùng ông thất bại. Vậy mà dân ta và dân Trung Quốc ca ngợi Khổng Minh mưu thần chước quỷ!

Sau khi Mao Trạch Đông chết, Đặng Tiểu Bình ngang nhiên bãi bỏ con đường Cộng sản lạc hậu của Mao mặc dầu ông vẫn để tượng đài Mác -Lenin -Mao, cờ búa liềm và danh hiệu cộng sản. Ông bỏ kinh tế chỉ huy mà theo kinh tế thị trường và đeo cho nó một phụ đề "kinh tế xã hội định hướng." Ông kêu gọi tư bản đầu tư, thế là ông đã bỏ lập trường Mác Lê Mao mà "trở lại tư bản chủ nghĩa như Mao từng phê phán ông! Đi xa hơn, Giang Trạch Dân chủ trương thuyết ba Đại Diện " tư tư sản và trí thức vào cộng đảng thay vì "Công nông liên minh " của Mao Trạch Đông! Ông còn hợp thức hóa tư hữu là điều mà Marx cấm kị tuyệt đối.
Ôi cái đồng hồ Liên Xô sang Trung Quốc thì thay hết ruột gan, còn đâu lập trường cộng sản, lập trường giai cấp!  Ngay tại Liên Xô, Đông Âu ngày xưa cộng sản đã thành tư bản rồi, các đảng viên cao cấp tạo thành giai cấp mới ( Nomenclatura) tha hồ thủ đắc tài sản nhà nước !Ngoại trưởng Kerry  nhận định rằng Việt Nam nay theo đuổi chủ nghĩa tư bản “cuồng nhiệt.”(1) Nhận định này cũng đúng cho Trung Quốc!



Cộng sản Việt Nam chỉ là  đầy tớ, lính đánh thuê của Nga, Tàu như Lê Duẩn tự thú. Nó không có ý kiến gì, tư tưởng gì, lập trường gì, chủ sai đâu đánh đó, thầy nó làm gì nó bắt chước mà miệng thì kêu gào "không gì quý hơn độc lập tự do"! Ngày đầu chúng mưọn danh chống Pháp, chống Mỹ để nắm quyền, nay thì Trung Cộng xâm lược biển đảo và đất đai, chúng im miệng. Dân phản đối chúng sai công an đàn áp tàn bạo! Đó là di sản của Marx, của vô sản chuyên chính, của chính sách cấm tư hữu vì cấm tư hữu thì cộng sản lại càng cuồng nhiệt say mê tư hữu! Việt Cộng ngày nay ngang nhiên cướp nhà cướp đất của nhân dân để bán cho Trung Cộng, vừa có tiền vừa làm vui lòng chủ nhân!
Nói chung, từ đầu cho đen nay, cộng sản là lũ gian tham, tàn ác, cướp bóc. Những cái nhãn hiệu xã cộng công bình, không giai cấp, không áp bức chỉ là những giả trá.  Lập trường thống nhất của cộng sản là tranh quyền đoạt lợi, trong đầu óc của họ không có nhân nghĩa, bác ái.
Trong đám cộng sản Việt Nam, Hồ Chí Minh là người Trung Quốc, tất nhiên lập trường của y là biến Việt Nam thành châu quận Trung Quốc. Lê Duẫn thì không lập trường , lúc theo Tàu, lúc theo Nga, hóa ra y cũng như đảng Việt Cộng chỉ là lính đánh thuê của Nga, Tàu! Tố Hữu là một kẻ lưu manh, miệng thì ca tụng lãnh tụ , chứng tỏ mình đỏ mà leo lên cao trong hàng ngũ cộng đảng. Khi  ông Hồ bị Duẩn, Thọ kìm kẹp, y theo Duẩn Thọ lấn át ông Hồ. Thế mà khi ông Hồ chết, y khóc thảm thiết.
Lập trường của y là danh lợi.Chủ nghĩa Marx chỉ là cái thang cho y leo lên cao, ngồi chồm hỗm trên đầu cổ nhân dân, nhất là văn nghệ sĩ với chức  "cai văn nghệ "!

Trong đám thi nhân Việt Cộng, người ta nhại thơ Tố Hữu, chế thơ Tố Hữu nhiều nhất.Tố Hữu rất mị dân như trong bài thơ “Bầm ơi,” Tố Hữu tỏ ra thương xót những phụ nữ già ở nông thôn đau khổ khi viết những câu thơ:
“Bầm ơi! Có rét không bầm?
Hiu hiu gió núi, lâm thâm mưa phùn
Bầm ra ruộng cấy bầm run
Chân bước dưới bùn, tay hái mạ non.”
Thì người dân trả lời Tố Hữu bằng những câu thơ mỉa mai, cay độc như sau:
“Bầm ơi! Có rét mặc bầm
Volga con cỡi, gà hầm con sơi.
Con đi vui lắm, Bầm ơi
Xin Bầm cứ ở nhà ngồi nhá khoai!”

Tố Hữu  ca tụng Stalin là người mà dân Nga đã vạch mặt gian ác bằng mấy câu thơ buồn nôn:
“Thương cha, thương mẹ, thương chồng
Tương mình thương một, thương ông thương mười”

Người ta làm ca dao chế riễu cái thói xu nịnh của  y bởi vì y hết ôm chân Liên Xô lại cúi lạy Trung Quốc, hết thờ phụng Trường Chinh lại  điếu đóm Lê Đức Thọ:

Tên Lành ( Tố Hữu) mà dạ chẳng lành,
Đã vin cành táo lại giành cành nho.
Táo tàu của bác Mao cho,
Còn nho Bét Nhép ( Brezhnev) thơm tho anh tài.
Xưa anh nhắm rượu Mao Đài,
Giờ đây đổi gió anh xài Vôt ka ( Vodka)
Ngày mai anh nhắm Săm Pa,
Biết đâu sau nữa chẳng là Sa Kê.
Khen anh đánh dĩ lành nghề,
Bao giờ anh sẽ nằm kề chú Sam?





 Việt Nam thời độc lập, Trần Bình Trọng thà chết để giữ vững lập trường bảo vệ độc lập cho Tổ Quốc. Còn Trần Ich Tắc theo lập trường phản quốc. Đào Duy Từ vào Nam cũng chỉ vì tư lợi!
Khi Pháp đến, Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu, Phan Thanh Giản Thủ khoa Huân,  Phan Đình Phùng, Thành Thái Duy Tân kiên định lập trường chống thực dân xâm lược. Trương Vĩnh Ký, Tôn Thọ Tường, Tổng Đốc Phương, Hoàng Cao Khải theo lập trường bán nước.


Miền Nam ta trong thập niên 60-70 đã xuất hiện nhiều kẻ phản bội. Nhiều ông sư theo cộng sản, nhiều linh mục tận trung với nhà Ngô và Nguyễn Văn Thiệu đã đòi hòa bình, chống Nguyễn Văn Thiệu tham nhũng. Hai ông Tổng thống nuôi trong dinh Độc lập cả tá cộng sản. Đặc biệt gia đình họ Ngô đã bắt tay với cộng sản mà Nguyễn Văn Châu (2) và Bùi Kiến Thành (3) đều thương tiếc Ngô Đình Diệm với nền hòa bình dang dở bởi vì nếu hai ông sống thêm vài năm, bắt tay với cộng sản thì họ Ngô vẫn sống nhăn với độc quyền cai trị miền Nam , (hoặc chia đôi Miền Nam, hoặc ông Diệm là phó chủ tịch nước?) thì miền Nam được giải phóng , được ăn bo bo và học tập cải tạo sớm hơn cả chục năm!

Nhiều người ca tụng LS. Trần Văn Tuyên  lãnh tụ  Quốc Dân đảng , Phó Thủ Tướng  mà liên lạc với Võ Nguyên Giáp, ra tranh cử dân biểu Quốc hội chen vai thúc cánh với bọn cộng sản và thân cộng như Phan xuân Huy, Kiều mộng Thu, Nguyễn ngọc Nghĩa, Hồ văn Minh, Hồ ngọc Nhuận, Đinh văn Đệ ,Hồ văn Kỳ Trân, Võ long Triều ,Nguyễn hữu Chung, Đoàn Mại, Nguyễn hữu Thời, Phan Thiệp, Nguyễn công Hoan, Trần văn Sơn ,Ngô Công Đức, Lý Quý Chung......Ông còn tích cục tham gia màn kịch "ký giả đi ăn mày" với Nguyễn Kiên Giang, Thái Thương Hoàng, Thái Dương, Tô Ngọc . Tô Nguyệt Đình tức Nguyễn Bảo Hóa, nhà thơ – nhà báo - soạn giả Kiên Giang Hà Huy Hà...
Các ông là trí thức, tư sản, là nhà báo sao lại chạy theo Cộng sản phá hoại Miền Nam ? Luật báo chí của Nguyễn Văn Thiệu là khắc nghiệt nhưng dưới chế độ Nguyễn Văn Thiệu, Miền Nam vẫn có một số báo chí, nhà xuất bản tư nhân, còn ở cộng sản, tuyệt nhiên không có tự do báo chí.
Các ông Trần Tấn Quốc  cấm làm báo mà phải đi ăn mày ư? Ông có biệt thự nguy nga, Cộng sản vào cấm báo chí  mà ông đâu có chết đói phải đi ăn mày! Ông theo Cộng sau phải hiến biệt thự của ông để được sang Pháp. Sang Pháp ông có đi ăn mày không?

Thời này nhiều cha chú, thầy bà nổi lên " nối vòng tay lớn " với Việt Cộng, nhưng nổi bật nhất là Thích Vô Hạnh, LM. Trần Hữu Thanh, bác sĩ Nguyễn Thị Thanh, các dân biểu , các nhóm Thái Độ, Lập Trường, Hành Trình, Đối Diện, ... với những nhà văn dấn thân như Phan Nhật Nam, Ngô Thế Vinh, Nguyên Vũ, Thế Uyên,... hay phản chiến như Kinh Dương Vương, Nguỵ Ngữ, Trần Hữu Lục, Thái Luân, Thế Vũ, v.v. - sao không ở lại Việt Nam Thiên đường Cộng sản mà chạy sang Mỹ? Lập trường của họ ở đâu? Trong bọn này đáng kể nhất Ngô  Thế Vinh với tác phẩm :
-Vòng đai xanh, thái độ sài gòn 71, văn nghệ California 87
-Mặt trận ở sài gòn, văn nghệ california 96

Trước tết nguyên đán 1971 Ngô Thế Vinh được ban giám khảo thân cộng  (Thanh Lãng ) ban cho giải thưởng Văn học Nghệ thuật toàn quốc để tuyên dương tinh thần chống Mỹ xâm lược. Sau 1975, anh ta  chọn ở lại với Bác và đảng, không hiểu tại sao  gần đây  lại sang Mỹ!,  Một nhà văn khác là Thế Uyên  ( cháu Nhất Linh ) đã  viết " Nghĩ Trong Một Xã Hội Tan Rã ", Thái Độ xuất bản, 1967, tái bản 1969 đã mạt sát miền Nam, mặt sát những người chống Cộng trong đó có Nhất Linh! Sách này của Thế Uyên cũng là một luận văn, nhằm thay cộng sản phê phán miền Nam tan rã, sụp đổ, đau khổ, , không tự do hạnh phúc như miền Bắc XHCN! Bản này anh ta  nộp cho Cộng sản để lập công nhưng khổ thay  anh ta cũng bị Việt Cộng cho đi học Đại Học trường kỳ!
Một số kêu gọi hòa bình, chống Thiệu tưởng được Việt Cộng ban huân chương không ngờ Việt Cộng  cho họ  cho sống hòa bình trong nhà tù như Tổng giám mục Nguyễn Văn Thuận, LM. Hoàng Quỳnh, bác sĩ Nguyễn Thị Thanh.  Vì được Việt Cộng ưu ái, thế mà LM. Trần Hữu Thanh, Bác sĩ Nguyễn Thị Thanh đã bỏ thiên đường Cộng sản mà sang Mỹ. Một số trong họ sống ở Mỹ, Pháp, Nhật nhưng vẫn giữ lập trường " chống Mỹ phù Cộng", mở miệng là tự hào dân biểu chống Thiệu, và kêu gọi hòa bình hòa giải!
 Một số được tặng danh hiệu " bất đồng chánh kiến" như Bùi Tín, Vũ Thư Hiên, Dương Thu Hương... nhưng họ tung hỏa mù khiến ta không biết lập trường của họ ở đâu !


Ngày nay, quốc gia nguy vong, trước mắt ta có những con đường:
(1). Theo Trung Cộng xâm lược,  đó là lập trưởng phản quốc.
(2). Hô hào Trung Lập. Trung lập là đứng giữa. Ta có thể đứng giữa khi hai bên để cho ta yên. Nếu hai bên lôi kéo, đe dọa ta thì ta bị ngã nghiêng. Nếu họ lôi kéo mạnh, ta có thể bị xé xác. Làm sao mà trung lập được hỡi các ông Hồ Hồ Hữu Tường , Phạm Công Tắc,  Vũ Quốc Thúc? Trên thế giới chỉ có Thụy sĩ được trung lập vì các bên chống đối đều đồng ý cho Thụy Sĩ trung lập. Sau đệ nhị thế chiến, Nerhu chủ trương trung lập nhưng đó là trung lập thân cộng!
Khi Pháp rút khỏi Việt Nam tất nhiên Trung cộng sẽ chiếm Việt Nam. Trong tình trạng đó làm sao Việt Nam trung lập? Nay Trung Cộng cũng chiếm Việt Nam, đám tay sai Trung Cộng, Việt Công hô hào trung lập chống Mỹ. Chống Mỹ nghĩa là thân Tàu, rõ ràng là lập trường bán nước cho Trung Cộng ẩn náu dưới danh trung lập!
(3). Tranh đấu bảo vệ độc lập, xây dựng tự do , dân chủ cho Việt Nam. Như vậy là lập trường yêu nước, và trước mắt là phải chống Trung Cộng xâm lược ,  và Việt Cộng tàn bạo và bán nước!
____

CHÚ THÍCH

(1).http://www.bbc.com/vietnamese/vietnam-37646535
(2). Ông Nguyễn Văn Châu. Nguồn: Nguyễn Văn Châu, Nguyễn Vy Khanh, “Ngô Đình Diệm và nỗ lực hòa bình dang dở”, Nxb Xuân Thu 1989
(3). Tại sao phải giết Tổng thống Ngô Đình Diệm? http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/why-president-ngo-dinh-diem-should-be-killed-ml-10292015135932.html





No comments: