Saturday, October 15, 2016

SƠN TRUNG * CÁC PHẠM TRÙ TRIẾT HỌC


CÁC PHẠM TRÙ TRIẾT HỌC 
SƠN TRUNG


Các triết gia khi phân tích các sự vật đều nhận thấy rằng có những cặp đôi xem ra mâu thuẫn nhau nhưng chúng cũng có tương tác, tương tùy và kết hợp với nhau.

Âm dương trong kinh Dịch chính là một cặp phạm trù. Lão Tử trong Đạo Đức Kinh đã nêu lên những cặp phạm trù: hữu vô, nan dị, trường đoản,cao hạ ... (1)

Trong triết học Tây phương, người ta nhận định rằng từ đời cổ đến nay, có ba triết gia chú trọng về các cặp phạm trù. Đó là
Các phạm trù của Aristotle
Các phạm trù của Immanuel Kant
Các phạm trù của Georg Hegel

Marx và Engels  theo Hégel mà nói về các cặp phạm trù.

I. PHẠM TRÙ TRONG TRIẾT LÝ PHẬT GIÁO
Thời Đức Phật tại thế, Ấn Độ có nhiều triết phái tranh luận về triết lý. Đức Phật không thích tranh luận về những vấn đề viễn vông, không ich lợi cho nhân sinh và đạo Pháp. Các vị Bà La môn cực đoan tranh luận với nhau và họ cũng đến hỏi đức Phật về các vấn đề trên:

-"Thế giới là thường còn, thế giới là vô thường, thế giới là hữu biên, thế giới là vô biên; sinh mạng này và thân này là một, sinh mạng này và thân này là khác; Như Lai có tồn tại sau khi chết, Như Lai không có tồn tại sau khi chết, Như Lai có tồn tại và không có tồn tại sau khi chết. Như Lai không có tồn tại và không không tồn tại sau khi chết". (Trung Bộ Kinh II, 63. Tiểu kinh Màlunkyà)

Hoặc họ  bàn cãi về chủ trương một phần Thường trú luận, một phần Vô thường luận, chấp bản ngã và thế giới là thường còn đối với một hạng hữu tình và vô thường đối với một hạng hữu tình khác, với bốn luận chấp (Trường Bộ Kinh I, Kinh Phåm Võng, Trong phẩm thứ hai).


Phật không muốn tham gia vào những tranh luận đó nhất là những đề tài mâu thuẫn với nhau. Ngài nói:

"Tất cả là có", này Kaccàyana, là một cực đoan. "Tất cả là không có" là cực đoan thứ hai. Xa lìa hai cực đoan ấy, này Kaccàyana, Như Lai thuyết pháp theo trung đạo. (Tương Ưng 2, XV. Kaccàyanagotta)


Này các Tỷ-kheo, các Ông có thể nói: "Thế nào là các hành và các hành này là của ai?" Hay này các Tỷ-kheo, các Ông có thể nói: "Các hành và người có các hành này khác", hai câu hỏi ấy đồng nghĩa, chỉ có văn sai khác. Này các Tỷ-kheo, chỗ nào có (tà) kiến: "Sinh mạng và thân thể là một", chỗ ấy, này các Tỷ-kheo, không có Phạm hạnh trú. Này các Tỷ-kheo, chỗ nào có (tà) kiến: "Sinh mạng và thân thể là khác", chỗ ấy, này các Tỷ-kheo, không có Phạm hạnh trú. Này các Tỷ-kheo, từ bỏ hai cực đoan ấy, Như Lai thuyết pháp theo trung đạo, nói rằng: "Do duyên vô minh, có các hành"


(Tương Ưng II, Chuong I, TươngƯng Nhân Duyên)

Các đệ tử cua Đức Phật cũng trình bày với Đức Phật những thắc mắc siêu hình nhưng đức Phật không trả lời,Ngài dạy:


Này Malunkyaputta, đời sống Phạm hạnh không thể nói là tùy thuộc với quan điểm "Thế giới là hữu biên". Này Malunkyaputta, đời sống Phạm hạnh không thể nói là tùy thuộc với quan điểm "Thế giới là vô biên". Này Malunkyaputta, dầu cho có quan điểm "Thế giới là hữu biên", hay dầu cho có quan điểm "Thế giới là vô biên", thời vẫn có sanh, có già, có chết, có sầu, bi, khổ, ưu, não mà Ta giảng dạy sự đoạn trừ ngay trong hiện tại. . . ..

Và này Malunkyaputta, điều gì Ta không trả lời? "Thế giới là thường còn", này Malunkyaputta là điều Ta không trả lời. "Thế giới là vô thường" là điều Ta không trả lời. "Thế giới là hữu biên" là điều Ta không trả lời. "Thế giới là vô biên" là điều Ta không trả lời. "Sinh mạng này và thân này là một" là điều Ta không trả lời. "Sinh mạng này và thân này khác" là điều Ta không trả lời. "Như Lai có tồn tại sau khi chết" là điều Ta không trả lời. "Như Lai không có tồn tại sau khi chết" là điều Ta không trả lời. "Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết" là điều Ta không trả lời. "Như Lai không có tồn tại và không không tồn tại sau khi chết" là điều Ta không trả lời.

Và này Malunkyaputta, vì sao điều ấy Ta không trả lời? Này Malunkyaputta, vì điều ấy không liên hệ đến mục đích, điều ấy không phải là căn bản Phạm hạnh, điều ấy không đưa đến yểm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn, cho nên điều ấy Ta không trả lời.

Và này Malunkyaputta, điều gì Ta trả lời? "ñây là khổ", này Malunkyaputta là điều Ta trả lời". "ñây là khổ tập" là điều Ta trả lời. "ñây là khổ diệt" là điều Ta trả lời. "ñây là con đường đưa đến khổ diệt" là điều Ta trả lời. (TRUNG BỘ 2, 63. Tiểu kinh Màlunkyà)



Qua đoạn kinh văn trên, ta thấy đức Phật không trả lời các vấn đề triết học phức tạp của đương thời, bi vì Ngài không chú trọng lý thuyết, Ngài chú trọng dạy đệ tử hành động, chú trọng tu tập, thực hành con đường diệt khổ.


Tư tưởng của Ngài không lập dị, khác đời. Tư tưởng của Ngài cũng là tư tưởng của những bậc thiện trí thức:
Này các Tỷ-kheo, cái gì người có trí ở đời chấp nhận là "không", Ta cũng nói là "không". Này các Tỷ-kheo, cái gì người có trí ở đời chấp nhận là "có", Ta cũng nói là "có".

(Tương Ưng III, Tập III- Thiên Uẩn [22] Chương I Tương Ưng Uẩn (f)V. Phẩm Hoa)



Đương thời, đức Phật chỉ trích những kẻ đề cao không tánh, luôn luôn nói ''không'' trong khi họ có nhiều thứ:
Ở đây, này Visàkhà, có hạng Sa-môn tên là Niganthà,. . trong ngày Uposatha, họ khích lệ đệ tử như sau: "Này các Ông, hãy quăng bỏ tất cả áo quần và nói như sau: "Ta không có bất cứ vật gì, bất cứ ở đâu, bất cứ chỗ nào. Bất cứ vật gì, bất cứ ở đâu, bất cứ chỗ nào, không có cái gì là của ta. " Nhưng cha và mẹ của người ấy biết người ấy là con của mình. Và người ấy biết họ là cha mẹ của mình. Vợ và con người ấy biết người ấy là chồng, là cha của mình, và người ấy biết họ là vợ, là con của mình. Các người nô tỳ làm công biết người ấy là chủ của họ. Và người ấy biết họ là nô tỳ, là nhân viên của mình. Như vậy, trong thời gian đáng phải khích lệ đúng với sự thật, trong thời gian ấy, lại được khích lệ bằng điều nói láo. (Tăng Chi Bô I, Chương III, Ba pháp. Phẩm nhỏ, 234-235)



Thật vậy, đức Phật không tham gia vào những cuộc tranh luận giữa thường kiến và đoạn kiến. Ngài không đề cập đến Hữu và Không, hoặc chủ trương ‘’tất cả là có’’ hay ‘’tất cả là không’’. Ngài nói:

Bậc hiền không tìm đến,
 Cả Hữu và Phi Hữu (Tiểu Bộ Kinh I, Kinh Tập, 432)


Mặc dầu không tham dự vào các cuộc tranh luận với các giáo phái đương thời, đức Phật đã bày tỏ quan điểm của Ngài về thế giới. Ngài chú trongvề vô thường và luân hồi.


1. Vô thường:
Đức Phật không phủ nhận hiện hữu của sự vật nhưng Ngài cho rằng vạn vật vô thường, nghĩa là vạn vật hiện hữu trong một thời gian, không gian nào đó rồi sẽ thay đỗi theo quy luật sinh, lão bệnh, tử hoặc sinh thành hoại diệt. Thân thể ta, tánh mạng ta, tài sản ta, tuổi xanh của ta, tự ngã của ta, sắc, thọ, tưởng, hành thức của ta cũng phai màu, nhạt sắc và biến hoại. Tư tưởng này giống tư tưởng biến dịch của Khổng môn và Lão giáo. Heraclitus cũng nhận định vũ trụ là vô thường " ‘’Không bao giờ ta tắm hai lần trong một dòng sông"



Đó là một sự thật, mà sự thật thì không bi quan, chủ quan. Sự thật này rất hiển nhiên nhưng không phải ai cũng hiểu được. Người ta muốn giàu bền, trẻ mãi, khoẻ mãi. Rồi già đến, bệnh đến, thất bại, chia lìa, mất tài sản., mất địa vị, con người sinh ra đau khổ. Đức Phật nhấn mạnh điều này là để thức tỉnh người đời chìm đắm trong chấp hữu để rồi đau khổ, bệnh tật. Do đó đức Phật đã dạy ngũ uẩn là vô thường:

Này các Tỷ-kheo, biết sắc là vô thường, biến hoại, ly tham, đoạn diệt; vị ấy thấy tất cả sắc xưa và nay là vô thường, khổ, chịu sự biến hoại. Do thấy như thật với chánh trí tuệ như vậy, sầu, bi, khổ, ưu, não được đoạn tận. . . Này các Tỷ-kheo, biết thọ là vô thường, biến hoại, ly tham, đoạn diệt, vị ấy thấy tất cả thọ xưa và nay là vô thường, khổ, chịu sự biến hoại. Do thấy như thật với chánh trí tuệ như vậy, các sầu, bi, khổ, ưu, não được đoạn tận. Do chúng được đoạn tận, vị ấy không bị ưu, não. Do không bị ưu, não, vị ấy sống an lạc. Do sống an lạc, vị Tỷ-kheo được gọi là vị đã lắng dịu mọi tướng phần, nhứt hướng Niết-bàn .(Tương Ưngg III, V. V. Phẩm Tự Mình Làm Hòn đảo.)



Ngài luôn dạy về vô thường, vô ngã như đoạn kinh sau:
Có thể có, này Tỷ-kheo, ở đây, có người không có (tà) kiến như sau: "ñây là thế giới, đây là tự ngã, sau khi chết, tôi sẽ thường còn, thường hằng, thường trú, không biến chuyển, tôi sẽ trú như thế này cho đến mãi mãi". Người này nghe Như Lai hay đệ tử Như Lai thuyết pháp để bạt trừ tất cả kiến xứ, cố chấp, thiên chấp, thiên kiến, tùy miên, sự tịnh chi mọi hành động, sự từ bỏ mọi sanh y, sự diệt trừ khát ái để đưa đến ly tham, đoạn diệt, Niết-bàn. Vị ấy không nghĩ như sau: "Chắc chắn ta sẽ bị đoạn diệt, chắc chắn ta sẽ bị hoại diệt, chắc chắn ta sẽ không tồn tại". Vị ấy không sầu muộn, than vãn, khóc lóc; vị ấy không đấm ngực, không đi đến bất tỉnh. Này các Tỷ-kheo, như vậy là có cái không thực có ở trong, không gây ra lo âu, phiền muộn. (Trung bộ Kinh I, Kinh xà du).



2. Luân hồi:
Con người và súc sanh ở thế gian này, cùng chư thần linh ở cõi trời, ma quỷ và vong linh trong địa ngục đều luân hồi. Luân hồi tức vô thường, nhưng luân hồi là vô tận nếu chúng sinh không chứng đạt Niết Bàn. Luân hồi là có thực ở trong thế giới hữu hình và vô hình theo quan điểm của Phật giáo. Trọng điểm của đạo Phật là luân hồi cho nên Đức Phật đã nói nhiều về luân hồi:

Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỷ-kheo, khởi điểm không thể nêu rõ đối với sự lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc.
Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, cái gì là nhiều hơn, sữa mẹ mà các Ông đã uống trong khi các Ông lưu chuyển luân hồi trong một thời gian dài, hay là nước trong bốn biển?
- Bạch Thế Tôn, theo như lời Thế Tôn thuyết pháp, chúng con hiểu rằng cái này là nhiều hơn, tức là sữa mẹ mà chúng con đã uống trong khi chúng con lưu chuyển luân hồi trong một thời gian dài chớ không phải nước trong bốn biển! (Tương Ưng II, Tập II - Thiên Nhân Duyên[15] Chương IV.Tương Ưng Vô Thỉ .I. Phẩm Thứ Nhất, 211)



Những đoạn kinh trên cho thấy rằng đức Phật nhận định đúng thực trạng và bản chất của sự vật chứ không phải lúc nào Ngài cũng nói không. Đức Phật nhấn mạnh vô thường và luân hồi, và sự an lạc, bất diệt chỉ tồn tại ở Niết Bàn. Có hai thế giới: một thế giới vô thường, luân hồi, và một thế giới an lạc của Niết Bàn do sống đạo hạnh, tu tập thiền định và trí tuệ.Sự thực luân hồi có ngay trong cuộc sống. Sinh,lão, bệnh ,tử là luân hồi. Sinh trưởng trụ diệt là luân hồi. Cây trưởng thành sinh chồi nẩy lộc là luân hồi...
Cái nhìn của đức Phật là cái nhìn biến động của biện chứng pháp. Lý luận của Ngài giống cách lý luận của Lão Tử Đạo Đức Kinh và tinh thần của Bất nhị pháp môn. Ngài nói:

-Sự thể là vậy, này Ananda, tánh già nằm trong tuổi trẻ; tánh bệnh ở trong sức khỏe; tánh chết ở trong sự sống. Như vậy, màu da không còn thanh tịnh, trong sáng, tay chân rã rời, nhăn nheo, thân còm về phía trước, và các căn đang bị đổi khác, nhãn căn, nhĩ căn, tỷ căn, thiệt căn, thân căn. (Tương Ưng V. Chương IV.Tương Ưng Căn (b) V. Phẩm Về Già. 229)
-Phàm pháp gì đã sanh rồi phải diệt. (Trường Bộ III, Kinh Đại Bổn, 42)
-Không có cái gì sanh mà không già và chết. ( Tương Ưng Bộ Kinh I, Kinh Kosala, 86)


Sau khi đức Phật tịch diệt, các ngài Long Thọ (Nagarjuna- khoảng từ 150 tới 200 năm sau Công Nguyên ), Mã Minh (aśvaghosha, zh. 馬鳴, sinh khoảng năm 80 CN – mất khoảng năm 150 CN). Hai vị này là hai tổ phái Đại Thừa Phật giáo chú trọng thuyết không tánh (Sunyata).Tác phẩm của Ngài Long Thọ rất nhiều nhưng quan trọng nhất là ở bộ Trung Luận (Madhyamaka Sàstra), là cơ sở chủ yếu của Triết học Trung Quán (Madhyamaka philosophy) và Kinh Bát Nhã Ba La Mật Đa (Prajnaparamita Sutras) . Ngài Mã Minh nổi danh với tác phẩm Đại thừa khởi tín luận (sa. mahāyānaśraddhotpāda-śāstra).

Tánh Không ấy, do vậy, ở ngoài tất cả ngã tính như thường, đoạn; sinh, diệt; khứ, lai; nhất, dị; tốt, xấu; toàn, bất toàn; v.v... như hai bài kệ đầu của Trung Quán Luận đã nói:

1. "Bất sanh diệc bất diệt,
Bất thường diệc bất đoạn,
Bất nhất diệc bất dị,
Bất lai diệc bất xuất"

2. "Năng thuyết thị nhân duyên
Thiện diệt chư hý luận
Ngã khể thủ lễ Phật
Chư thuyết trung đệ nhất"


(Không sanh cũng không diệt,
Không thường cũng không đoạn,
Không đồng nhất cũng không dị biệt,
Không đến cũng không đi.


Nói rõ thuyết nhân duyên ấy,
Khéo dập tắt các hý luận.
Con cúi đầu lễ Phật
Bậc thuyết giảng đệ nhất trong các bậc thuyết giảng)

Thật ra ngài Long Thọ nêu lên thuyết Tánh không cũng chỉ là quảng diễn thuyết Vô thường. Vô thường thì nay có mai không cho nên tất cả là không. Thuyết này cũng khuyên răn người đời chớ tham luyến. Không tánh thật ra chủ trương Hữu Vô là hai mặt của một sự vật.

Ngài Long Thọ trong Trung Luận cũng như Kinh Dịch cho rằng Hữu và Không kết hợp chặt chẽ:
Dĩ hữu không nghĩa cố, nhất thiết pháp đắc thành. 
Nhược không vô nghĩa giả, nhất thiết tác bất thành.

以有空義故一切法得成

若空無義者一切 則不成.



Bàn về Trung Luận, Trần Trọng Kim viết:
Hữu và Không, Không với Hữu không khác nhau. Hữu là Hữu của Không, Không là không của Hữu. Hữu, Không hai cái toàn nhiên hỗn hợp với nhau. Thấy rõ chỗ ấy là Trung Đạo, là không chấp hữu, chấp không. (Phât Giáo, 112)
Bát Nhã Ba La Mật Tâm Kinh có đoạn:
Sắc bất dị không, không bất dị sắc.
Sắc tức thị không, không tức thị sắc.


色不異空,空不異色

色卽是空, 空卽是色



(Săc chẳng khác không, không chẳng khác sắc.
 Sắc ấy là không, không ấy sắc)

Huệ Năng rất giỏi về tánh Không. Ngài nói:

Thiện trí thức. Đừng nghe ta nói không mà chấp không. Cần thiết là đừng chấp không. Vi nếu dùng Không Tâm ngồi tịnh thì mắc vào cái không vô ký. Thiện Trí thức!Thế giới hư không bao hàm các sắc tướng vạn vật, nào nhật nguyệt, tinh tú, núi sông, đất bằng, suối nguồn, khe rạch, cỏ cây, rừng rú, ngườI dữ, ngườI lành, pháp ác, pháp thiện, thiên đường, địa ngục cho đến các biển lớn và núi Tu Di đều ở trong hư không đo cả. Tánh không của con người cũng như vậy (Pháp Bảo Đàn Kinh, 64-65)



Thật vậy, cái mà ta thấy là không không có nghĩa là không có gì. Không gian có nhiều chất khí và nhiều lực do đó mà chim bay và phi cơ có thể qua lại, lên xuống. Trong bát nước trong mà đức Phật thấy có nhiều sinh vật nhỏ sinh sống. Một miếng gỗ không phải là im lặng mà có nhiều tế bào Thành phần nhỏ nhất của vật chất là nguyên tử. Và nguyên tử còn có những phần tử nhỏ khác nữa đang hoạt động.
 Nhiều học giả và Phật tử đều chấp không và chấp hữu, nhất là chấp không. Cách lý luận của Bất nhị pháp môn hay thuyết Tánh không có thể gây ra hiểm lầm cho rằng Thế giới vô nghĩa, cuộc sống phi lý, không Phật, không Thánh Thần, không Niết Bàn, không địa ngục, không kiếp trước, không đời sau. Hết đời này sẽ là tro bụi.



Tư tưởng bi quan đó sẽ gây ra những tai hại cho bản thân và xã hội. Thật ra tính không (Sunyata) là trung đạo, cũng như Kinh Dịch nói rằng trong âm có dương, trong dương có âm, âm cần dương, dương bổ túc cho âm. Hữu và Không cũng vậy. Đức Phật dạy trung đạo, không chấp hữu và chấp không. Chấp hữu thì sinh tham luyến, chấp không thì bi quan, vì cuối cùng sẽ chỉ thấy ru`ng râ?m tối tam, hoặc ngõ cụt không lối về. ‘’Đức Phât chủ truong trung đạo.Ng ài khuyên ta n ên tr ánh xa các cực đoan, nhìn đời một cách toàn diện không chấp không cũng như chấp hữu..

  Không và  Vô vi với Phật và Lão mang một ý nghĩa tích cực.




II. CÁC PHẠM TRÙ TRONG TRIẾT HỌC MARX


Marx đã kế thừa tư tưởng về phương pháp biện chứng của Georg Wilhelm Friedrich Hegel và lý luận về chủ nghĩa duy vật của Ludwig Andreas von Feuerbach và phát triển nên phương pháp luận này. Các nhà triết học Marx-Lenin cho rằng phương pháp duy vật biện chứng là cơ sở triết học cho hệ tư tưởng của họ.

Triết học Marx có những cặp phạm trù như:

-Cái riêng -cái chung

-Nguyên nhân- Kết quả

-Tất nhiên- Ngẫu nhiên

-Nội dung -Hình thức

-Bản chất -Hiện tượng

-Khả năng -Hiện thực...

Chủ nghĩa Marx là Duy vật chủ nghĩa, nghĩa là thiên về vật chất, coi thường tinh thần, văn hóa, luân lý đạo đức..

Trong triết học, chủ nghĩa duy vật là một hình thức của chủ nghĩa duy vật lí (physicalism) với quan niệm rằng thứ duy nhất có thể được thực sự coi là tồn tại là vật chất; rằng, về căn bản, mọi sự vật đều có cấu tạo từ vật chất và mọi hiện tượng đều là kết quả của các tương tác vật chất. Khoa học sử dụng một giả thuyết, đôi khi được gọi là thuyết tự nhiên phương pháp luận, rằng mọi sự kiện quan sát được trong thiên nhiên được giải thích chỉ bằng các nguyên nhân tự nhiên mà không cần giả thiết về sự tồn tại hoặc không-tồn tại của cái siêu nhiên. Với vai trò một học thuyết, chủ nghĩa duy vật thuộc về lớp bản thể học nhất nguyên. Như vậy, nó khác với các học thuyết bản thể học dựa trên thuyết nhị nguyên hay thuyết đa nguyên. Xét các giải thích đặc biệt cho thực tại hiện tượng, chủ nghĩa duy vật đứng ở vị trí đối lập hoàn toàn với chủ nghĩa duy tâm.(Wikipedia)

Mặc dù có nhiều trường triết học và nhiều sắc thái khác nhau, mọi triết lý được cho rằng thuộc về 2 phạm trù chính, mà đối ngược với nhau: Chủ nghĩa duy vật và Chủ nghĩa duy tâm. Mệnh đề cơ bản của hai phạm trù này liên quan tới bản chất của thực tế, và sự khác biệt căn bản là câu trả lời của hai câu hỏi cơ bản: "Hiện thực bao gồm những gì?" và "Nó hình thành như thế nào?" Đối với chủ nghĩa duy tâm thì linh hồn hoặc trí óc hoặc các ý tưởng là cơ bản, vật chất là thứ hai. Đối với chủ nghĩa duy vật thì vật chất là cơ bản còn trí óc hay linh hồn là thứ nhì, là sản phẩm của vật chất với vật chất.


Tuy Duy vật chống Duy Tâm, nhưng rồi Duy vật cũng phải thừa nhận giá trị tinh thần, ý thức. Karl Marx, nhất là Lenin mạnh miệng đề cao giá trị tinh thần.


Do thực tại khách quan luôn luôn biến động vận động nên nhận thức của nó cũng luôn luôn biến đổi theo, nhưng xét đến cùng thì vật chất bao giờ cũng quyết định ý thức. Nhưng ý thức đã ra đời thì nó có tác động lại vật chất. Với tính độc lập tương đối của mình ý thức tác động trở lại vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người.

Chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng về bản chất, ý thức là sự phản ánh khách quan vào trong bộ óc con người một cách năng động, sáng tạo.

“Ngay từ đầu, ý thức đã là một sản phẩm xã hội, và vẫn như vậy đến chừng nào con người còn tồn tại

” Các MácEngels[2]

Trong cuộc đấu tranh, bút chiến về quan hệ vật chất và ý thức Ph.Ăng-ghen đã bảo vệ quan điểm của Các Mác và phê phán lại rằng khi đấu tranh với những người theo chủ nghĩa duy tâm, Mác buộc phải nhấn mạnh vào cái nguyên lý chủ yếu mà họ phủ nhận, nhưng không có nghĩa là hạ thấp vai trò của ý thức, tinh thần. Chỉ có chủ nghĩa duy vật tầm thường, không biện chứng mới phủ nhận, coi nhẹ tác động của tinh thần mà thôi.[3]

"Ý thức con người không chỉ phản ánh thế giới khách quan mà còn tạo ra thế giới khách quan" -(Lênin.Wikipedia)


Theo Lênin thì nếu coi tư tưởng (ý thức) là có tính vật chất tức là một bước sai lầm đến chỗ lẫn lộn chủ nghĩa duy vật với chủ nghĩa duy tâm.(4)

Lê nin cũng nói rằng : Sự đối lập giữa vật chất và ý thức chỉ có ý nghĩa tuyệt đối trong những phạm vi hết sức hạn chế, trong trường hợp này chỉ giới hạn trong vấn đề nhận thức luận cơ bản là thừa nhận cái gì có trước và sau? Ngoài giới hạn đó thì không còn nghi ngờ gì nữa đằng sau sự đối lập đó là tương đối.[5]


Triết học Marx có nhiều mâu thuẫn, lúc thì coi nhẹ ý thức, lúc thì đề cao ý thức. Cuối cùng thì họ cũng như phái Duy Tâm cho là thức rất quan trọng. Dù Marx nói vật chất có trước tinh thần, nhưng cuối cùng tinh thần tác động trở lại ý thức. Chuyện nhỏ như thế mà học phái Marx làm ra vẻ quan trọng, đánh trống thổi kèn ầm ỉ.

Sau này, các đảng viên cộng sản chỉ chuyên tụng khúc đầu" vật chất có trước, tinh thần có sau" để đề cao vô sản,xưng tụng dân lao động mà khinh miệt trí thức. Nếu họ nói" tinh thần tác động đến vật chất" hóa ra vật chất thấp kém hơn tinh thần, hóa ra cái nhãn hiệu Duy vật mất hết giá trị.
Hơn nữa, khi nói các cặp phạm trù mâu thuẫn nhưng chúng cũng có kết hợp. Tại sao Marx lại chủ trương đấu tranh giai cấp mà không nói đến hòa hợp? Ông chỉ đưa chứng cớ vu vơ để biệnn luận cho chủ nghĩa độc tài tàn bạo, phản dân chủ, gây chiến tranh toàn cầu.   Cuộc đấu tranh là không có thực và vô lý vì từ 1917, chỉ có Anh quốc là có chủ nghĩa tư bản. Tư bản không có thì vô sản cũng không có. Nhưng vì che giấu, ngụy biện, lừa bịp, nói một đằng làm một nẻo mà vô số người đi theo cộng sản. Thực tế chỉ các nước nghèo, bị đô hộ mới theo cộng sản, còn các nước tư bản, rất it người theo cộng sản .Cộng sản chời cờ gian bạc lận mà nổi đình đám , âu cũng số kiép dân nghèo Á Phi và Nam Mỹ!


______

CHU THICH

(1). 有無相生、難易相成、長短相 形,高下相傾、音聲相和、前後相隨。

hữu vô tương sinh, nan dị tương thành, trường đoản tương hình, cao hạ tương khuynh, âm thanh tương hoà, tiền hậu tương tuỳ.Có” và “Không” sinh lẫn nhau; “Dễ” và “Khó” tạo nên lẫn nhau; “Ngắn” và “Dài” làm rõ lẫn nhau; “Cao” và “Thấp” dựa vào nhau; “Âm” và “Thanh” hòa lẫn nhau; “Trước” và “Sau” theo nhau.(Đạo Đức Kinh, ch.II)

(2). Biện chứng của tự nhiên, Engels, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia-Sự thật, Hà Nội, năm 1971, trang 251-252

(3)Triết học Mác - Lenin, chương trình cao cấp, tập II, Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 1994, trang 50 .

(4). VI. Lê nin: Toàn tập, tập 18, Nhà xuất bản Tiến bộ, Matcova, 1980, trang 300

(5). Lê nin: Toàn tập, tập 18, Nhà xuất bản tiến bộ, Matcova, năm 1980, trang 173


Posted by sontrung at 8:12 AM No comments:

No comments: