Friday, October 7, 2016

NGUYỄN VĂN NGOAN * XA CAM


Nguyễn Văn Ngoan – Đồn Điền Xa Cam

Đã có 62 lần xem
Phỏng theo Annuaire des plantation de Caoutchouc de l’indochine 1 sep 1923.
(http://entreprises-coloniales.fr/inde-indochine/Terres-Rouges.pdf)
Nguyễn văn Ngoan
(Map of French Rubber Plantations – 1931) Bản đồ này ghi chú sai vì Plantation de Xa Trach nằm hướng Đông (bên phải) QL3S.P.T.R (Societe des plantations des Terres-Rouges) có ba đồn điền ở Hớn Quản, Thủ Dầu Một (Tỉnh Bình Long): Xa Trạch, Xa Cam và Quản Lợi. Sau này Quản Lợi là Khu trung tâm  (Map of French Rubber Plantations – 1931) Bản đồ này ghi chú sai vì Plantation de Xa Trach nằm hướng Đông (bên phải) QL3
1
Xa Trạch: Cạnh QL 13, cách Sài Gòn 105 Km, với tổng diện tích 2.081 ha; Diện tích cây trồng: 1.030 ha. Sau bảy năm trồng trọt và chăm sóc đến năm 1914 thu được 77.679 kg ,Mỗi năm mỗi gia tăng tới năm 1922 là 323.480 kg.
Đồn điền Xa Cam gồm có các đồn điền: Xa Cam, Bình Phú, Phú Lố và An Lộc (An Lộc thời VNCH là xã Thanh Lương, Quận An Lộc, Bình Long).
Năm 1919 thu hoạch lần đầu được 53.448 kg và mỗi năm mỗi gia tăng tới năm 1922 là 340.745 kg mủ khô cạo từ 1.112 ha cây cao su.
Đồn Điền Xa Cam, Bình Phú, Phố Lố, An Lộc tô màu vàng
Xa cam nằm cạnh QL 13, cách Sài Gòn 107 Km, thuộc Hớn Quản, Thủ Dầu Một. Công nhân được tuyển mộ từ Bắc phần và dân bản sứ. Ngoài trồng cây cao su còn chăn nuôi được 90 con (có lẽ là con bò vì vừa dùng sức kéo mủ cao su vừa cung cấp thịt cho công nhân). Đồng thời xây cất được một nhà máy, một lò sấy, ba nhà xông, 4 nhà ở và một số máy bơm nước, bệnh viện.
Bài viết này xoay quanh về đồn điền Xa Cam:
I/ Cảm nghĩ và nhận xét về các bức ảnh.
II/  Đồn điền này mang lại cho đời sống phu cạo mủ cao su như thế nào về các lãnh vực: đời sống, giáo dục, y tế, giải trí, ..vv
I/ Cảm nghĩ về các bức ảnh cũ
A/ Toàn cảnh đồn điền cao su Xa Cam (PL183)
1- Tiếc rằng không tìm được không ảnh và hình đồn điền cao su Xa Cam sau 1960-1972 để so sánh với bức hình cũ. Quan sát tấm hình này, lằn ranh cao su hướng đường chân trời, thấy giống với lằn ranh sau này chạy từ nhà Chef qua nghĩa địa tới sở Nhì (tấm hình hướng Tây-Nam, Xa Cát lệch về hướng Tây nhiều hơn).
Hướng Bắc giáp Hưng Chiến và Quận An Lộc (bìa lô bên phải hình). Bên trái hình (hướng Nam) có tán cây, có thể là cây cao su. Ranh cao su từ chỗ chụp hình tới nhà Chủ sau này (Ủy Ban Liên Hợp Quân Sự bốn bên ở phía sau nhà Chủ sau hiệp Định Paris). Dính chút lằn xe của mép đường cho phép ta đoán, hình này chụp từ bìa lô dốc Xa cam.
Francois’ original French language site:http://belleindochine.free.fr/Caoutchouc.htm
Nhìn cảnh thật là hoang vu, tĩnh lặng. Người công nhân cao su đánh đổi sức lao động của mình để đổi lấy chén cơm, manh áo. Theo dòng mủ trắng cùng nổi trôi theo vận nước, mong thế hệ sau sẽ tươi sáng hơn, từ thế hệ này tới thế hệ khác, bậc cha ông cứ nghĩ vậy. Thế mà con cháu chẳng sáng sủa là bao. Khai hoang vùng núi rừng, nước độc muỗi mòng. Bao nhiêu người công nhân phải bỏ mạng vì sốt rét, bị đánh đập. Còn người Pháp phải bỏ bao nhiêu tiền của và nghiên cứu, lập kế hoạch và điều hành tạo ra một đồn điền cao su mới, mà bảy tám năm sau mới thu hoạch mủ. Không những về cách khai phá đất hoang mà còn kiểu mẫu của một công ty sau này. Người bản xứ cần phải học hỏi.
– Hồi nhỏ xíu, có lần nghe cha mẹ nói. Chánh Phủ cho gia đình nào muốn trở về Bắc thì về. Cả làng xôn xao bàn tán. Ôi nỗi nhớ quê, ai mà không muốn về. Bởi làng Xa Cam phần đông là người Bắc, có nhiều lý do bỏ Bắc mà vào đây. Đã đi rồi không mấy người trở về. Có một hai gia đình dọn dẹp khăn gói ra đi. Sau này lớn, tôi ngộ ra có lẽ do việc thi hành Hiệp định Genève 1954.
– Rồi một ngày, bọn nhóc đang đứng chơi. Có xe loa phóng thanh, làm kinh động cả làng. Bọn con nít chạy theo sau xe phóng thanh và bu quanh khi xe đậu lại. Tiếng loa vang vang lập đi lập lại về cuộc trưng cầu dân ý ngày 23-10-1955 do thủ tướng Ngô Đình Diệm tổ chức để truất phế cựu hoàng Bảo Đại.
Ngôi nhà công nhân ở Đồn Điền Quản Lợi, giống Xa cam.
Ngôi nhà công nhân ở Đồn Điền Quản Lợi, giống Xa cam.
Ngôi làng nhỏ ngày ấy, với tôi thật đẹp. Đường vào làng có những hàng phượng vĩ, hoa đỏ nở rộ mỗi độ hè về. Có tiếng ve kêu, có tiếng gió khẽ lay ngọn cây dương chạy theo bờ suối, nước róc rách chảy và tiếng khóc của trẻ thơ. Mỗi một nhà gạch của công nhân cách khoảng nhau năm mươi mét. Chung quanh nhà là hàng rào dâm bụt được cắt tỉa mỗi tháng, chạy theo con đường từ nhà này qua nhà khác, rộng bốn mét. Trong nhà người công nhân, hai bên thường kê giường ngủ (có lẽ những cái giường này của đồn điền cấp). Gian giữa là bàn thờ và bàn ghế để tiếp khách. Thường thường, nhà nào cũng làm thêm một cái chái ở phía sau làm nhà bếp, vì nhà bếp thì ở hơi xa (cái bếp vuông vức, lợp ngói, xây tường, ngăn vách chia làm ba bếp cho ba gia đình). Đồ vật trong nhà chỉ bấy nhiêu dành cho cái mặc, cái ăn, cái ngủ của con người. Trong vườn trồng một hai cây mít, xoài mọi, vú sữa… Bất tiện vì thiếu nhà cầu.
– Ngôi nhà của các thầy thì rộng lớn hơn và xinh đẹp hơn. Có phòng khách, có phòng ngủ, có nhà bếp, có nhà cầu, nước máy, điện. Vì vậy, con thầy và con công nhân có phần khác biệt. Thường nhà các thầy cây trái cũng trông nhiều hơn nhà công nhân, có cam, có mận, sầu riêng, me…)
2- Đồn điền cao su Xa Cam trước năm 1972 có khoảng 500 nóc nhà; khu nhà máy của đồn điền, khu chợ, sân tennis, nhà hội họp giải trí, nhà giữ con nít, trường tiểu học, đình thờ thần.
– Đồn điền Xa Cam là Xã Thanh Bình, Quận An Lộc, Tỉnh Bình Long (sắc lệnh số 143-NV ngày 22-10-1956 do TTVNCH ký về việc thành lập Tỉnh Bình Long)
Xã Thanh Bình có các ấp: ấp Bình Hòa, ấp Bình Thuận, ấp Bình Tây, ấp Suối Chà, ấp Bình Ninh (người dân tộc) và ấp Bình Phú (trong làng trồng toàn cây vú sữa)
Dân số không biết.
3- Căn cứ vào Nghị Quyết của Chính Phủ Hà Nội ngày 11-8-2009, số: 35/NQ-CP thủ tướng ký thì đồn điền Xa Cam ngày nay là xã Thanh Bình, phường Hưng Chiến, thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước.
Thành lập phường Hưng Chiến thuộc thị xã Bình Long trên cơ sở điều chỉnh 113,61 ha diện tích tự nhiên và 4.320 nhân khẩu của thị trấn An Lộc; 606,18 ha diện tích tự nhiên và 3.573 nhân khẩu của xã An Phú; 1.601,32 ha diện tích tự nhiên và 5.222 nhân khẩu của xã Thanh Bình.
Phường Hưng Chiến có 2.321,11 ha diện tích tự nhiên và 13.115 nhân khẩu.
Địa giới hành chính phường Hưng Chiến: Đông giáp phường Phú Đức, thị xã Bình Long và xã Thanh Bình, huyện Hớn Quản; Tây giáp xã Minh Tâm và xã Minh Đức, huyện Hớn Quản; Nam giáp xã Thanh Bình, huyện Hớn Quản; Bắc giáp phường An Lộc.
B/ Nhà Công Nhân.
1
Đây là khu nhà ở của công nhân, có thấy người mẹ và hai đứa con. Một Chiếc xe hai ông chủ, người tài xế và một căn nhà thoáng hiện người nơi cửa ra vào. Có thể ngày xưa, khi chưa xây cất từng căn hộ nhỏ cho mỗi gia đình, người công nhân cùng sống, nghỉ ngơi trong những cái nhà lớn như trong hình. Có thể có những bữa ăn tập thể; vì sau này còn thấy những nồi gang lớn và lò bếp đun bằng củi. Cảnh trong hình vắng vẻ. Có lẽ tất cả công nhân đều đã ra lô cao su. (Đúng không vậy!!!!)
C/ Dọn đất ươm cây Cao Su
1
Nhìn hình khu đất ươm cao su, có khoảng 100 công nhân đang dọn đất. Đầu đội nón lá chẳng khác mấy người công nhân thuở nay. Màu đất đỏ, xới nhuyễn thành từng luống. Một con mương thoát nước. Có lẽ mưa vừa tạnh còn đọng nước dưới lòng mương hay ở nơi đất thấp, nước từ mạch chảy ra. Nhìn hình ảnh này, chợt nhớ đến sau 1975, vườn ươm cao su cũng lên luống theo kiểu này.
(…. Những năm 1960-1970, tôi còn nhỏ lắm, làm dân tạm thời ba chục (một ngày công là 30 đồng). Mẹ tôi dậy nấu cơm tự lúc nào. Còi nhà máy hụ lúc 5 giờ, mẹ đánh thức tôi dậy ăn cơm. Cà men cơm, nước mang theo ăn trưa. Tiếng kẻng ở sân điểm “Suối Mô” điểm 5 giờ 30 sáng. Có khi là chiếc xà-bách, cây cuốc, hay dao xà-gạc, tôi mang theo rời khỏi nhà đi làm.
Tiếng thùng khua trên vai người phu cạo mủ, va chạm vào nhau xôn xao khắp ngõ, xen lẫn tiếng cười, tiếng nói. Nơi sân điểm đã lố nhố người đứng hai bên, chờ xe hãng tới chở. Tôi vội vàng leo lên xe. Kiếm chỗ đứng trên đầu xe, có chỗ bám an toàn khi xe chạy. Bửng xe cao khoảng nửa thước, công nhân kẻ đứng người ngồi trong lòng xe, bám chặt vào nhau khi qua cua, cười đùa, nghiêng ngả, vui vẻ.
Xe chạy tới Bình Phú, mặt trời nhú lên từ hướng An Lộc tự lúc nào. Ánh nắng quyện sương mờ tỏa khắp đầu cành, kẽ lá. Màu đất đỏ khu trồng cao su mới. Những con đê cao gần bằng người lớn chia từng ngăn, mục đích giữ đất màu chống xoi mòn, chạy ngoằn ngoèo cách khoảng đều nhau, mút tầm mắt. Những cây nọc cắm thẳng cách khoảng đều nhau, hàng nọc này cách hàng nọc kia khá xa. Mỗi cây nọc là một gốc cao su. Có hàng đã đào hố vuông, rồi lấp đất, cắm cây nọc lại để sau này trồng. Khu trồng mới, cạnh lô cao su đang cạo. Giữa lô cao su và khu rừng le là một con đường đất đỏ rộng mà quân đội Hoa Kỳ đang làm, chạy thẳng tới Tống Lê Chân. Làng Bình Phú nằm dưới thung lũng .
Cơn mưa đầu mùa đêm qua, đất mềm, đỏ thẫm. Đám dân ba chục chia từng toán, mỗi toán một lối giữa hai hàng nọc. Dùng cuốc hay xà bách làm chừng năm rãnh cách khoảng một thước, chạy song song với nhau. Tôi lấy hạt đậu mắc cở rải đều những rãnh này rồi chân lấp đất lại. (Tôi quên tên này, thân dây có gai lá nhỏ như lá mắc cở mọc rất mạnh, dùng diệt cỏ và giữ đất màu). Lúi cúi làm tới ba giờ chiều là xong một ngày công (có một tiếng nghỉ trưa), rồi chờ xe chở về nhà.
Có những ngày tôi được làm ở chòi ươm hột cao su. Chòi lợp bằng lá, vách tre. Bên trong chòi là hai dãy đất ươm bằng cát, hột cao su được đặt xuống cát (hơi già phân nửa hạt cao su). Dùng vòi sen tưới lướt qua vừa đủ nước, vài tiếng sau lại tưới sao cho độ ẩm đều. Bên ngoài chòi thì ươm hột cao su giống trong giỏ bằng tre, đổ đất. Dùng để trồng dặm vào những cây chết sau này. Ngày xưa, họ ghép cây ngay tại vườn ươm.
Khi hạt cao su có bộ rễ vừa vững và mầm vừa nhú lên ước chừng vài cm, sau cơn mưa mang ra trồng mỗi cây nọc là bốn cây (mỗi góc một cây). Cây cao su con được nuôi dưỡng bằng cuống lá mầm, được che nắng bằng lá dừa cuốn tròn, kết bằng que tre xiên dài chừng một tấc, lớn hơn cây tăm một chút, một đầu que cắm xuống đất. Mục đích trồng lần này chủ yếu có gốc ghép sau này.
Hình từ heveaplant.htm. (minh họa vì không phải vùng đất đỏ)
Hình từ heveaplant.htm.
(minh họa vì không phải vùng đất đỏ)
Cây cao su gặp mưa, nắng, chăm sóc làm cỏ hàng cây, phạt chồi. Đợi mùa mưa năm sau mới ghép. Khi ghép thành công, cưa vạt trên mắt tháp, bôi mỡ bò, chồi non từ mắt tháp nhú ra. Chỉ chọn một chồi mạnh nhất, vươn thẳng.
Từ lúc chiếc lá đầu tiên xuất hiện, cứ mỗi lần cây tăng trưởng vươn cao, đánh dấu những lá trên ngọn có màu nâu tím. Mùa mưa năm thứ ba, cây nọc tre bây giờ không còn, thay vào là ba gốc ghép cây cao su lớn. Gốc to bằng bắp đùi, thân cây cỡ cánh tay. Trong ba cây chọn một cây nào thẳng tốt nhất thì để lại, còn hai cây kia chặt bỏ. Ba hay bốn năm sau thì bắt đầu cạo lấy mủ.
Khu vực trồng mới có nhiều mướp mọc hoang (giống mướp của người dân tộc). Mọc vào mùa mưa xen lẫn với cỏ, chồi. Nếu có trái thì hái trái, còn không thì hái đọt mướp về xào tỏi ngon tuyệt. Ngoài ra, còn có cây chùm bao, lá lộc vừng, lá bứa, lá giang đều có thể ăn được. Những lúc đi phát chồi, có khi thấy con thỏ vụt chạy rất nhanh, có khi gặp nai hay heo rừng…
D/ Nhà máy
Plantation de Xacam. Intetieur de l’usine
Plantation de Xacam. Intetieur de l’usine
Nhìn nhà máy mủ nước Xa Cam những năm 1923, cột kèo đều bằng gổ. Nếu thay cột kèo bằng sắt thì giống hệt nhà máy mủ đồn điền Xa Cam những năm 1960-1970. Tôi mường tượng, hai bên đường mương là những cái hồ nhỏ bằng nhôm cách đều nhau. Giữa hai hàng hồ nhỏ là cái máng, dẫn nước mủ vào hồ từ hồ lớn. Khi mủ đã đầy hồ, dùng ròng rọc hạ những tấm nhôm được cắm từ sáng vào trong hồ mủ (tấm nhôm cách đều, tạo những mặt phẳng song song và đều nhau, hai đầu tấm nhôm so le).
Sáng hôm sau thì mủ đông, người công nhân nhổ những tấm nhôm này ra, vớt mủ vào một cái máng có nước, đùa mủ tới máy cán, rồi cắt ra từng miếng phơi trên sào bằng tre.
2
Chân đùa mủ tới máy cán mủ
Máy cán mủ
Cắt mủ rồi phơi trên sào.
Chiếc xe gác đầy những cây sào mủ, có bánh bằng sắt lăn trên hai con đường rầy, dùng sức người đẩy vào “nhà xông”, đóng kín cửa lại. Lò đốt bằng củi dưới đường hầm, hơi nóng từ lò tỏa vào “nhà xông”, mủ từ từ khô lại biến thành màu vàng nâu. Mủ khô từ “nhà xông” được đưa tới nhà mủ khô, xếp lại và đóng thành bành, rồi vận chuyễn về Sài Gòn.
* Hai hình dưới không phải ở đồn điền Xa Cam, chỉ dùng để dẩn giải, không rõ nguồn.
II/ Đời sống công nhân ở đồn điền Xa cam. (1960-1970)
  1. Đời sống
– Mỗi gia đình công nhân sống trên mảnh đất vuông dài 50m, có căn nhà nhỏ. Người phu cạo một ngày công được trả khoảng 47 đồng. Các con được hưởng trợ cấp gạo cho tới tuổi đi làm, nếu còn đi học thì vẫn còn tiếp tục. Một tháng trả lương hai lần: Kỳ vay và kỳ lương, tiền thưởng do cạo ra mủ nhiều, phần cây chăm sóc tốt. Tùy theo ngành nghề mà số lương khác nhau: cai, đội, thầy, thợ…
Một tuần làm sáu ngày, một ngày làm tám tiếng. Còn làm khoán thì xong việc thì về.
(…Sau năm 1975, người công nhân cạo mủ ra phần cây từ 12 giờ đêm, có khi một hai giờ chiều mới về tới nhà (cây cạo một hai giờ sáng, trút mủ xong rồi cạo lại). Lô cao su luôn có bảo vệ đi canh, sợ người công nhân lấy mủ mang bán. Khai thác năm mười năm thì cây hư đem bán củi. Còn đất, có khi trồng cao su lại, có khi hữu hóa cho cá nhân. Vì vậy, sau này có rất nhiều ông chủ vườn cao su là vậy…)
Những gia đình đông con, còn nhỏ bao giờ cũng dư gạo. Gia đình con cái lớn, trong nhà nuôi thêm một hay hai con heo, con gà thường thiếu gạo phải vay gạo hàng xóm. Người công nhân thật thà, chất phác, đối xử với nhau chân tình. Đi đâu vắng nhà chỉ cần khép cửa là được. Tệ nạn trộm cắp ít khi xảy ra. Nhớ những năm 1966, Quốc lộ 13 bị đắp mô. Đoàn xe chở gạo của đồn điền không chạy được, người công nhân thiếu gạo, xôn xao, chạy vay khắp nơi, thiếu gạo qua hàng xóm vay. Khi lãnh gạo thì trả lại, vay bao nhiêu trả bấy nhiêu, không có lời. Không xoay xở vay, mua gạo trong làng được, chạy ra chợ Bình Long, gạo khan hiếm và mắc. Từ đó đời sống người công nhân bất ổn, đất bằng nổi sóng…
(Hình dưới minh họa đoàn xe đồn điền cao su chờ giải tỏa đường, mìn bẫy)
1
  1. Tôn giáo và văn hóa
Đa số là dân mộ phu từ miền Bắc. Ra đi vào tuổi thanh xuân, ít học. Sống chung đụng với dân bản xứ, lấy vợ, lấy chồng rồi sinh con. Còn giữ nét phong tục tập quán của người dân xứ Bắc.
Đất lành chim đậu, qua sự giao tiếp hàng ngày, uống cùng nguồn nước, hòa cùng cỏ cây. Nên người dân Bình Long khi trò truyện có người nói: “Nghe tiếng nói là biết dân Bình Long”. Tục cưới hỏi tùy theo tôn giáo, tập tục nhưng phóng khoáng, dễ dãi hơn. Công nhân theo đạo thờ cúng ông bà, đạo Công Giáo, đạo Phật. Trong làng có một cái đình, cái miếu, nhà thờ, sau này có thêm cái chùa.
Công nhân xứ Bắc đến đồn điền Xa Cam từ những thập niên 1920 và dân Bắc di cư năm 1954. Đa số những người Bắc di cư năm 1954 đều theo đạo Công Giáo. Ngày chủ nhật, tiếng chuông nhà thờ văng vẳng, giáo dân trong làng từ khắp ngõ, hướng về nhà thờ tạo hình ảnh rất đẹp, êm ả ở đồn điền. Nhớ Giáng Sinh năm nào giáo dân dựng hang Bê-Lem, trong núi giả cao mười mấy thước, có nai, có thiên thần, có pháo bông, có tiếng đọc kinh. Giáng sinh năm ấy người dân đồn điền Xa Cam khó quên được.
“Tháng tám giỗ cha, tháng ba giỗ mẹ”. Đình nơi cử hành lễ Đức Thánh Trần Hưng Đạo ngày 20-8 hàng năm (Hưng Đạo Vương đời nhà Trần, ông đã chỉ huy đẩy lùi ba cuộc tấn công của quân Mông Cổ ở thế Kỷ 13). Có rước kiệu, có những chiếc thuyền do những người thợ mã mướn từ nơi khác về làm, có lên đồng (mũi giáo nhọn xuyên qua má), có tế lễ, có hầu bóng.
Miếu thờ bà Thánh Mẫu, cử hành lễ vào tháng ba. Dân làng tới cầu nguyện các vị thần linh (thường thờ Bà) mong cho dân làng có cuộc sống thanh bình, an cư, lạc nghiệp .
Đình ở đồn diền Xa Cam 1967-1968
Chùa nhỏ được dựng vào khoảng những năm 1965-1966, nền xi-Măng, vách gỗ, lợp tôn. Hàng đêm là nơi sinh hoạt của gia đình Phật Tử.
1
  1. Về giáo dục
Trường tiểu học do đồn điền xây cất có ba lớp. Lúc đầu có hai phòng, xây rộng rãi, thoáng mát và một phòng mái tranh, vách tre, ở phía sau có cây xoài mọi. Sau này xây thêm một phòng học. Trường dạy từ lớp năm tới lớp ba. Mỗi lớp phân làm hai dạng giỏi khá và kém. Giỏi, khá được lên lớp vào tựu trường năm tới. Học xong lớp ba thì chuyển ra Bình Long học. Thầy giáo là “Dì Phước”. Tất cả trẻ đều xin vào học, không có lệ phí.
Học sinh từ Bình Phú, Phố Lố, An Lộc tới học. Sáng mang cơm nước cùng với bệnh nhân theo xe “malade”. Tới Xa Cam, học sinh xuống xe còn xe tiếp tục chở bệnh nhân tới nhà thương Quản Lợi. Buổi chiều thì xe “Malade” rước bệnh nhân và học sinh về nhà.
Ngoài ra, còn có lớp vỡ lòng tư nhân do Thầy 63 bị cụt một chân dạy tại nhà. Bọn trẻ nghe tới tên thầy là xanh mặt. Sau này có thêm lớp dạy tư của thầy giáo Chuẩn.
Song song với trường lớp của hãng và tư nhân thì trường tiểu học công lập đã thành hình với đội ngũ giáo học bổ túc được đào luyện từ trường sư phạm và được hoãn dịch. Tiền nguyệt liễm cho năm học nhẹ nhàng .
1
  1. Y tế
Vào những năm mới khai hoang đất trồng Cao Su, có rất nhiều muỗi, rắn rít.
Vừa làm việc cực khổ, công nhân thường mắc bệnh lao phổi, sốt rét, cảm sốt. Tỷ lệ người chết vì căn bệnh sốt rét và bệnh phổi rất cao. Nhờ sự nghiên cứu của viện Pasteur Sài Gòn cùng việc lấp những vũng nước đọng nơi ẩm thấp để phòng ngừa, từ từ số người bệnh sốt rét giảm dần.
Đồn điền Xa cam thời trước có một bệnh viện lớn ở trong làng chăm sóc bệnh nhân. Công nhân và gia đình đều được điều trị miễn phí. Về sau tất cả nhân viên bệnh viện đều chuyển về bệnh viện Quản Lợi, đồn điền Xa Cam chỉ còn một trạm nhỏ do một thầy thuốc chịu trách nhiệm.
  1. Đường xá
Từ ngã ba Xa Cam, con đường trải nhựa xuống dốc rộng rãi, hai bên là những hàng cao su thẳng tắp, xanh ngát, mát mẻ. Qua khỏi lô cao su là tới mấy cây chà là. Khu nhà máy nằm ngay trước mắt. Những cây dương vươn thẳng lên cao, làn khói trắng tỏa ra từ ống khói, tiếng xe hơi hòa cùng tiếng máy phát điện vang đều.
Hệ thống đường xá, cầu cống rất tốt. Mùa mưa nước thoát rất nhanh, không gây lụt lội. Đường đất vào mùa nắng, xe chạy bụi đỏ bay ngập trời, phủ đầy trên cây cối, bay vào nhà. Bởi vậy đồn điền phải cho xe tưới nước trên mặt đường.
Sau năm 1995, tấm bảng Xa Cam phá bỏ từ năm nào không biết
Con đường nhựa chạy vào cổng nhà máy, ra tới cổng ngoài hợp cùng con đường vòng đất đá đi xuống làng. Đường chạy thẳng tới Bình Phú, Phố Lố, An Lộc (xã Thanh Lương). Nếu tới bìa lô cao su cua trái đi Xa Cát. Ngoài con đường chính, những con đường trong làng, vào mùa nắng xe hơi đều đi được. Một hai năm lại ủi đường, sửa lại. Lưu thông trên đường thường là xe đạp, xe Goebel, xe Sachs sau này bảnh nhất là Honda Dame, Honda 67.., xe lam chở khách.
1
Hình trên: Con đường vào làng chạy vòng theo hàng rào nhà máy, hàng phượng.Một bên là nhà Kho, nhà để xe và dãy nhà các thầy.Đường xá rất thuận tiện cho việc chuyên chở, di chuyển.
Từ sau năm 1975, đường từ ngã ba Xa Cam vào làng đã hư. Có những lúc, con đường xưa rộng như thế mà chì còn vỏn vẹn hơn nửa thước! Hai bên đường, mưa lũ phá thành mương sâu hơn đầu người. Có lần, người dân trong làng đi ra Bình Long; khi về, đạp xe đạp qua đoạn này, sau cơn mưa, trời tối, người và xe đạp rơi xuống hố mà không sao leo lên được. Đứng dưới hố sâu, kêu la mãi mới có người nghe. Dân làng xúm lại kéo người và xe đạp lên…
  1. Vệ sinh công cộng
Rác từ các nhà công nhân được gom đống bên đường của mỗi nhà, xe “Bình Bịch” kéo remorque phía sau, người công nhân hốt rác vào remorque rồi đem đi đổ.
Những nhà cầu công cộng (toilette) làm dọc theo suối thì không hợp vệ sinh và cảnh quan, làm mất đi vẻ đẹp của đồn điền.
  1. Về giải trí.
Khoảng 8-9 giờ đêm, ngọn đèn dầu lớn nhà nhà đã tắt. Cảnh vật lặng như tờ, điểm vài tiếng chó sủa khuya. Nếu trời có trăng, ngoài trời thật đẹp. Thỉnh thoảng có những gánh hát cải lương như đoàn “Nam Thanh Thu Ba”… tới đồn điền trình diễn ở hội trường một tuần, bán vé thu tiền, không khí về đêm trở nên nhộn nhịp vui vẻ.
Hàng tháng xe chiếu phim đồn điền Quản Lợi vào chiếu một lần; trời nắng thì chiếu ngoài trời, mưa gió ở trong hội trường. Bọn trẻ rất mê phim cao bồi và Tarzan. Ngoài ra, ty thông tin Bình Long thỉnh thoảng vào chiếu phim thời sự .
Không những vậy, nam thanh nữ tú trong đồn điền, thỉnh thoảng tổ chức đêm văn nghệ giúp vui cho công nhân bằng những vở kịch vui, hát, múa ca. Những màn “tự biên tự diễn” bất ngờ, thú vị.
  1. Nhà giữ trẻ
Người công nhân có con còn nhỏ được mang tới nhà giữ trẻ, trẻ nhỏ được chăm sóc kỹ. Sáng gởi, chiều đón con về.
  1. Thể thao
Hàng năm, đồn điền cao su cấp giày đá banh, vớ, áo cho công nhân. Xe cắt cỏ tới cắt cỏ sân banh hàng tháng. Tổ chức đấu giao hữu hay tranh cúp. Phương tiện di chuyển đã có xe hãng.
Đội banh Phố Lố có thời là đội banh giỏi với tiền đạo như anh Bao với cú lừa và sút banh tuyệt. Đôi banh An Lộc có anh Đông, Đoài. Thủ thành Xa cam có anh Điện, Đực. Hậu vệ đội banh Quản Lợi có anh Thành.. Xa Trạch, Xa Cát, xa- cô -deux…. Lâu ngày quên bẳng hết rồi!
Tệ nhất là sân banh ở Bình Long, chỉ toàn là đất; mưa thì trơn, lỡ té thì chân tay trầy trụa. Đá xong một trận banh, chân tay toàn vết thương.
  1. Chợ
Xa cam có mấy căn tiệm bán tạp hóa, phần đông là người Hoa. Lồng chợ thì bỏ không. Chủ nhật hàng tuần có xe chở công nhân đi chợ Bình Long. Đường từ Xa cam ra chợ khoảng 2km. Đường gần, công nhân thường đi chợ bằng xe đạp. Ngoài ra còn có vài bà bán hàng ăn vặt, bánh da lợn, củ khoai, bánh cam, kẹo đậu phộng v.v…
Kỳ lương dân từ Bình Phú, Bình Ninh (dân tộc) tới lãnh lương, các con buôn vào bầy bán đầy trên lề đường trước cổng nhà máy Xa Cam.
*
*     *
Nhẩm tính, đồn tiền Xa Cam từ ngày thành lập cho tới bây giờ, đã hơn 100 năm. Nhưng lại ngắn ngủi, vì tới năm 1972 thì ngưng hoạt động, chủ nhân phải bỏ của chạy lấy người (trận chiến An Lộc 1972). Tài liệu người Pháp để lại đa số là những báo cáo về tái chánh, năng xuất hằng năm… Nhưng vốn ngoại ngữ ít ỏi, tài liệu tiếng Việt thì thiếu; người công nhân lại là những người ít học, không ghi chép. Nhất là bị chiến tranh xóa không còn dấu tích gì.
Thật là khó khăn khi viết về đồn điền Xa Cam, nhiều điều chưa biết được chính xác. Dù cố gắng cũng không tránh khỏi thiếu sót. Mong các cao nhân cùng góp sức cho Xa Cam, Đất Hớn Quản có một nguồn gốc lịch sử rõ ràng để lại cho con cháu mai sau.
Nguyễn Văn Ngoan
(Trích Biên Khảo Tỉnh Bình Long)

No comments: