Monday, October 24, 2016

VƯỜN THƠ






Bài thơ của ông Thái bá Tân nhân việc ký giả Nguyễn đắc Kiên bị đuổi việc vì phê phán tổng bí thư   Nguyễn phú Trọng.


Tôi không biết ông Thiệu,
Yêu mến lại càng không,
Nhưng buộc phải thừa nhận
Một thực tế đau lòng,

Rằng ông ấy nói đúng,
Thời còn ở miền Nam:
“Đừng nghe cộng sản nói.
Hãy xem cộng sản làm!”

Tôi sống ở miền Bắc
Sáu mươi lăm năm nay,
Và buộc phải thừa nhận
Một thực tế thế này:

Rằng ta, đảng, chính phủ,
Thường hay nói một đàng
Mà lại làm một nẻo.
Nhiều khi không đàng hoàng.

Đảng, chính phủ luôn nói,
Mà nói hay, nói nhiều,
Rằng sẵn sàng chấp nhận
Những ý kiến trái chiều.

Vậy mà một nhà báo,
Nói ý kiến của mình,
Nói đàng hoàng, chững chạc,
Có lý và có tình,

Liền bị buộc thôi việc.
Ai cũng hiểu vì sao.
Không khéo lại tù tội.
Như thế là thế nào?

Như thế là các vị,
Mặc nhiên thừa nhận mình
Không làm như đã nói,
Gây bức xúc dân tình.

Là một người yêu nước
Là công dân Việt Nam,
Tôi mong đảng đã nói,
Là nhất thiết phải làm.

Vì đó là danh dự,
Niềm tin và tương lai.
Hãy chứng minh ông Thiệu
Nói như thế là sai.

PS


Tôi không biết ông Trọng,
Yêu mến lại càng không,
Nhưng là chỗ người lớn,
Tôi thành thật khuyên ông

Rút cái giấy sa thải
Một nhà báo công minh.
Phần ông, nếu phục thiện,
Cũng nên xem lại mình.

Tôi nhận hưu nhà nước
Cũng đã mấy năm nay.
Hy vọng còn được nhận
Sau bài thơ ngắn này.


409

Đảng lãnh đạo sáng suốt,
Lịch sử thì vẻ vang,
Dân anh hùng, vĩ đại,
Biển bạc và rừng vàng.

Thế mà ta, thật tội,
Chẳng dám mơ cao xa
Thành bác Mỹ, bác Nhật
Bác EU, bác Nga.

Cái dân ta mơ ước,
Ngẫm mà thấy đau lòng,
Mơ được như Miến Điện,
Mà rồi cũng chẳng xong.

Tội mấy bác lãnh đạo,
Nói gì cũng toàn sai,
Bị dân tình la ó,
Nhiều lúc đến khôi hài.

Là vì danh không chính,
Ngôn không thuận được đâu.
Cố mấy cũng không đúng,
Khi đã sai từ đầu


 Bài thơ đã làm bao người đọc xót xa cho Việt Nam !!!
 
THIS IS THE LITTLE YOUNG GIRL LIVING IN THE V.N. COMMUNIST REGIME
Bài thơ đã làm bao người đọc xót xa cho Việt Nam !!
Từ ngày Bác vô đây
Ever since you came

Bài thơ đầy nước mắt của một cô gái đang sống dật dờ tại thị xã Cần Thơ:
Lúc mà các bác chưa có vô đây,
Cháu chưa có mặt trên đất nước này
Má cháu còn đi đến trường mỗi sáng
Đúng tuổi trăng tròn, đôi má hây hây.

Kể từ sau ngày các bác vô đây,
Ông Ngoại bỗng nhiên bị bắt, tù đày
Bà Ngoại nhớ chồng rưng rưng mỗi tối.
Má cháu ưu sầu đánh mất thơ ngây.

Hai năm sau ngày các bác vô đây,
Một sáng mùa Đông sương trắng giăng đầy.
Các bác đến nhà, lưng đeo súng đạn,
Bắt Má đi làm thủy lợi miền Tây.

Một tháng đi làm thủy lợi miền Tây
Má về ốm o, thân xác hao gầy
Má ôm Ngoại khóc, thì thầm kể lể:
Cán bộ hiếp con, có lúc cả bầy!

Rồi cháu ra đời không Ba, có Má
Ngoại vừa nằm xuống nên Má trắng tay
Bán buôn tảo tần Má nuôi cháu lớn
Dù không biết rằng Ba cháu là ai!

Mười tám năm sau ngày bác vô đây
Tài sản, cửa nhà không cánh mà bay
Má cháu qua đời sau cơn bạo bệnh
Còn gì bán nữa? – Ngoài thân cháu đây?

Gần hai mươi năm sau ngày bác vô
Cháu mười sáu tuổi thân xác héo khô
Vậy mà phải bán, lấy tiền mua gạo
Tính ra sáng chiều – chỉ khoảng một tô!
Nguyễn Thành Bửu


"You "  means Ho Chi Minh

Ever Since You Came

(Translated by Anne)


Before you guys arrived in here
I was not even born yet
Mom walked to school each morning
Rosy cheeks, a sweet sixteen

After you came, suddenly one day
Grandpa was persecuted and imprisoned
Every night Grandma shed mournful tears
Mom felt sullen -- her innocence was lost

Two years passed from the day you came
On a wintry morning which shrouded in mist
Armed with guns, you came knocking at our door
And whisked Mom away to a labor camp

After one month, Mom returned home
Nothing but skin and bones
Embracing Grandma, she wept:
They raped me, Ma, gang-raped and all!

And so I was born, a fatherless child
Grandma passed away, leaving Mom penniless
Mom scraped a living to support me
Dad was all the while anybody's guess!

Eighteen years after you came
We went totally broke
Mom died of a terminal illness
Now then, what's left but my own body to trade?

Almost twenty years after you came
At sixteen, my body withered -- hardly a dish
I toiled from dawn to dusk
In return just for a loaf of bread!


Translated by Anne



Saturday, October 1, 2016


«HÀ NỘI QUÊ TÔI» - MỘT TỨ THƠ LẠ, ĐỘC ĐÁO - Nguyễn Khôi


Nguyễn Khôi và Lê Mai


«HÀ NỘI QUÊ TÔI» - MỘT TỨ THƠ LẠ, ĐỘC ĐÁO


« Tạo hóa gây chi cuộc hý trường » ?


Thơ về Thăng Long- Hà Nội xưa nay có cả ngàn bài đáng đọc, nhưng sàng lọc ra qua vết thời gian, Nguyễn Khôi tôi chỉ thích có ba bài ở ba thời điểm lịch sử khác nhau, nhưng đều là người Hà Nội « xịn »:

Bà Huyện Thanh Quan quê ở làng Nghi Tàm (khoảng 1804- 1847), bà học rộng, được vua Minh Mạng triệu vào Huế làm cung trung giáo tập dạy học cho các cung phi, công chúa ; nhà thơ Nguyễn Đình Thi (1924- 2003) quê làng Vũ Thạch (nay là phố Bà Triệu) ; nhà thơ Lê Mai (Lê Văn Hùng) sinh năm 1953 tại Hà Nội, thương binh chống Mỹ hạng nặng, học đại học Sư Phạm, dạy trường PTTH Nguyễn Trãi, quận Ba Đình- Hà Nội. Xét về đẳng cấp, bà Huyện Thanh Quan thuộc tầng lớp quý tộc ; Nguyễn Đình Thi là quan chức văn nghệ, đứng thứ 2 (chỉ dưới ông Tố Hữu);

Lê Mai là dân nghèo thứ thiệt ở Hà Thành hoa lệ như thơ anh viết « tôi là người lao động »- một cậu bé « trèo me trèo sấu » nhất quỷ nhì ma thời bao cấp và chiến tranh khốc liệt. Có lẽ cần nói rõ thêm về nhà thơ Lê Mai này, anh vào hội Nhà văn Hà Nội với tư cách nhà thơ, nhưng lại nổi danh với tiểu thuyết « Tẩu hỏa nhập ma »- 2003 về sự hư nát của ngành giáo dục và truyện ngắn « Quyền được rên »- 2008 về thân phận nhà văn Hoàng Công Khanh, nạn nhân trong vụ « Nhân văn giai phẩm »... Những tác phẩm có lẽ anh thai nghén từ khi dạy môn “Giáo dục công dân”. ...

Nói qua về ba tác giả để ta hiểu thêm vì sao tôi thích ba bài thơ viết về Hà Nội ở ba giai đoạn lịch sử khác nhau:
Bà Huyện Thanh Quan trong « Thăng Long thành hoài cổ » với 2 câu tuyệt bút :
Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo/ Nền cũ lâu đài bóng tịch dương.
Một tứ thơ lưu danh thiên cổ bởi đã nói lên nỗi đoạn trường (đứt ruột) trước cảnh hoang tàn của cố đô xứ Bắc. Ngôn ngữ thơ Hán- Nôm tuyệt xảo đan quyện hồn thơ hiu hắt, cô đơn trước đổi thay phũ phàng của thời cuộc. Một nỗi buồn hoài cổ đậm tính nhân văn, nuối tiếc thời vàng son của Đại Việt (nhà Lê) cũng là sự trở về cội nguồn của dân tộc...

« Người Hà Nội » hào hoa Nguyễn Đình Thi trong bài thơ « Đất nước » (viết từ 1948- 1955) với 7 câu mở đầu mang hồn thơ phơi phới đầy hứng khởi trước sự chuyển mình của dân tộc, đất nước với một niềm tin tất thắng như tan vào từng câu từng chữ :
/ Sáng mắt trong như sáng năm xưa/ Gió thổi mùa thu hương cốm mới/ Tôi nhớ những ngày thu đã xa/ Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội/ Những phố dài xao xác hơi may/ Người ra đi đầu không ngoảnh lại/ Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy.../
3 câu đầu- một khúc hoài niệm... rồi cái hồn thơ, cái tứ lạ kết vào mấy chữ « đầu không ngoảnh lại... lá rơi đầy » thì bút lực ở đây quả là « thần cú » xuất thần, rất thơ là bịn rịn vấn vương như hồn người Hà Nội và chỉ người Hà Nội gốc mới cảm và viết ra như vậy giữa những ngày tiêu thổ kháng chiến...

Đến Lê Mai với « Hà Nội quê tôi » mở đầu anh đã khẳng định « Tôi là người lao động, thế thôi »- Anh có mẹ già nơi phố phường chật hẹp bon chen. Anh có người cha không quản phận nghèo vẫn nuôi con học hành không thua bè kém bạn... Tự bạch cũng chỉ là bình thường, nhưng đặc tả cái « quê xưa » của vua Lý Thái Tổ nơi địa thế rồng chầu hổ phục thì Lê Mai đặc tả rất khác thường:Đất quê tôi không lũ cao nắng hạnChỉ chân trời trên nóc bếp cheo leo

Đó là thời của gác xép/chuồng cọp- nay là chung cư cao tầng của dân tái định cư... gắn với tuổi học trò nghèo trèo me trèo sấu và lớn lên với « Sông Hồng xoáy trong tôi dòng nước mát ».Từ cái điểm tựa lấm lem nghèo khổ đó mà sao với Lê mai « Gió quê tôi đêm ngày vi vu nhắc » : / Giếng Ngọc là của tôi / Văn Miếu là của tôi/ Chùa Diên Hựu là của tôi/ Tháp Bút- đài Nghiên là của tôi/ Hồ Tây là của tôi/ Hồ Gươm là của tôi : Đó là là lẵng hoa thơm như môi con gái... đẹp đến thế sao mang tên Hoàn Kiếm ?/ Đài liệt sĩ vô danh là của tôi/ Và em là của tôi : Sự sống thiêng liêng kết bằng máu thịt người, cho tôi hiểu lẽ đời giản dị !/


Báu vật của đời được phép ví với em... Của tôi, của tôi... còn bao nhiêu tinh hoa, di sản văn hóa ở đất Hà Nội ngàn năm văn hiến tác giả chưa thể kể hết trong thơ, tất tật phải là « của tôi ». Ta chợt hiểu ra thâm ý nhà thơ lúc đầu tự bạch mình là người lao động bình thường, nghèo túng thật không đơn giản, bởi qua thơ anh đã hóa thân thành Nhân Dân, thành Dân Tộc cần lao. Chỉ có Nhân Dân mới là chủ nhân đích thực của mọi giá trị tốt đẹp nhất kết tinh vào văn hiến ngàn năm Thăng Long- Đông Đô- Hà Nội. Và vì thế cái kết cũng giản dị như cuộc đời thi sĩ: /Tôi là người lao động/ Thế thôi/ Nhưng quê tôi, Hà Nội !/ Mạch thơ ào ạt tuôn chảy đến đây kết là khá cộc lốc, hụt hẫng- chưa thể thôi được ? Theo mạch thơ ấy kẻ bình thơ nhân danh những người đọc Hà Nội còn có thể cùng nhà thơ ngẫm suy và tự nhủ :

Chiếu rời đô là của tôi, Hịch tướng sĩ là của tôi, Bình Ngô đại cáo là của tôi, Điện Biên Phủ trên không là của tôi... rồi phở Hà Nội là của tôi, bia hơi Hà Nội là của tôi, cafe vỉa hè là của tôi, bánh cuốn Thanh Trì là của tôi, gốm sứ Bát Tràng là của tôi, của tôi... Sao bây giờ chủ nhân đích thực thì khốn khổ khốn nạn còn lũ đầy tớ thì giầu sụ, phè phỡn, xa hoa thế ? Nhà thơ của Nhân Dân là vậy.

Viết đến đây NK lại nhớ tới bài thơ Liberte’ (Tự Do) của thi hào siêu thực Pháp Paul Eluard (1895- 1952) mà Lê Mai trình diễn thơ « Hà Nội quê tôi » có cái kết cấu, bố cục khá đồng điệu: /Trên quyển vở nhà trường/ Trên án viết thân cây/ Trên cát, trên tuyết/ Ta viết tên em/ Trên sức khỏe phục hồi/ Trên hiểm nguy tan biến/ Trên hy vọng chẳng nhớ nhung/ Ta viết tên em/ Và do phép màu một tiếng/ Ta làm lại cuộc đời/ Ta sinh ra để biết em/ Để gọi tên em (2 chữ)TỰ DO/.


Dẫu biết mọi sự liên tưởng, so sánh đều khập khiễng, nhưng ở góc độ người bình thơ NK tôi không thể không giật mình cầm bút thả chữ. Xưa nay người làm thơ rất mừng gặp được người thơ mới/cái tứ lạ, với cấu trúc độc đáo như bài « Hà Nội quê tôi » ngôn ngữ tinh luyện, câu chữ như nén chặt để rồi thoát xác thành hồn thơ cất cánh « Tấm gương trong mây hất tóc rối trời cho tôi hiểu vì đâu tình yêu người Hà Nội vời vợi mênh mang »... Thơ Lê Mai đẹp và lạ thế đó !...


Nguyễn Khôi

Phố Hàn, 27/9/2016


Nhà thơ Nguyễn Khôi


HÀ NỘI QUÊ TÔI


Tôi là người lao động, thế thôi!
Nhưng quê tôi:
Hà Nội!
Nơi tôi có mẹ già, mảnh đông quê ngát hương đồng nội, thơm phố phường chật chội bon chen
Nơi tôi có người cha không quản phận nghèo hèn, gắng nuôi con không thua bè kém bạn.
Đất quê tôi không lũ cao nắng hạn
Chỉ chân trời trên nóc bếp cheo leo
Tuổi thơ tôi những năm tháng leo trèo
Bắt bọ ngựa,
dính ve,
trèo me,
ném sấu.
Lời rủ rê của lũ ve yêu dấu
Gọi hè về thúc nở những mùa chơi.
Cơm nguội vàng háo hức giục bàng rơi
Sông Hồng xoáy trong tôi dòng nước mát
Gió quê tôi đêm ngày vi vút nhắc:
Giếng Ngọc là của tôi
Giọt nước mắt tổ tông ngàn năm còn nhức nhối trong đời
Cho tôi hiểu vì sao người Hà Nội, huyền thoại rồi còn rời rợi yêu thương.
Văn Miếu là của tôi
Pho sách thơm cha ông tạc để đời, cho tôi hiểu vì sao người Hà Nội đốt trầm trong lúc đọc thơ.
Chùa Diên Hựu là của tôi!
Đóa sen tâm bừng nở ngát cõi người cho tôi hiểu vì sao người Hà Nội cấp gạo thuyền giặc chết khỏi tha hương.
Tháp Bút – Đài Nghiên là của tôi
Tả Thanh Thiên xao xuyến cả cõi trời, cho tôi hiểu vì sao người Hà Nội nâng cốm Vòng trong những lá sen tươi.
Hồ Tây là của tôi!
Tấm gương trong mây hất tóc dỗi trời, cho tôi hiểu tình yêu người Hà Nội vì đâu mà vợi vợi mênh mang.
Hồ Gươm là của tôi !
Lẵng hoa tươi thiên nhiên kết dâng người, thơm như môi con gái, mềm mại như tuổi dậy thì,liễu bên hồ chớp chớp làn mi, đẹp đến thế sao mang tên Hoàn Kiếm ? Lẵng hoa đời nền văn hiến trổ bông.
Đài liệt sĩ vô danh là của tôi !
Sắc xám xanh lánh lạnh ánh sao trời, cho tôi hiểu vì đâu trăng Hà Nội suốt bốn mùa rười rượi thanh thanh.
Nén nhang thắp trong mỗi gia đình là của tôi !
Nén nhang tươi nhức nhối nhỏ kiếp người , cho tôi hiểu vì sao sông Cái đỏ, những nụ đào hé tỏ ánh phù sa.
Và em là của tôi !
Sự sống thiêng liêng kết bằng máu thịt người, cho tôi hiểu mình lẽ đời giản dị ! Báu vật của đời được phép ví với em !
Tôi là người lao động,
thế thôi !
Nhưng quê tôi, Hà Nội!

Lê Mai
Được đăng bởi Phu Đoan
     

Đây Bằng Lăng Một Chiều Lặng Gió ,
Anh Ghé Về Trong Giấc Mộng Bình yên .
Mầu Xanh Của Tre Và Mầu Vàng Của Lúa ,
Ru Anh Vào Cõi Nhớ Của Thời Gian .

Ôi ! Chao Ôi ! Nhớ Sao Là Nhớ ,
Mầu Tím Bằng Lăng Tím Cả Cung Tơ .
Hồn Đi Hoang Lạc Vào Mộng Ảo ,
Chốn Địa Đàng Ấp Ủ Suối Tóc Mơ ...

Anh Trao Em Cánh Hoa Mầu Tím Tím ,
Hết Trọn Tình Anh , Hết Trọn Hồn .
Hoa Tím Bằng Lăng Và Mồng Tơi Tím ,
Em Trao Anh Mộng Thắm Cả Linh Hồn ...

Bằng Lăng Tím , Ôi Bằng Lăng Tím ,
Tím Cả Người Xưa , Tím Nỗi Lòng .
Tim Anh Thổn Thức , Đàn Buông Phím ,
Cò Quê Ngóng Đợi Luống Chờ Mong ...

Hoa Ơi Hoa ! Có Ai Về Nhắn Gởi ,
Gió Mây Trời Với Giấc Mộng Tình Ta .
Yêu Em Muôn Thuở Trong Nỗi Nhớ ,
Mầu Tím Bằng Lăng Nhớ Thiết Tha ...

Trần Trọng Miên .


** Thương Trao Xóm Bằng Lăng & Vườn Cò Bằng Lăng ,
Quận Huyện Thốt Nốt , Cần Thơ , Việt Nam .

CẢM TẠ MIỀN NAM.

Để biết đâu mới là Thiên Đường





Phan Huy, một thi nhân nổi tiếng ở miền Bắc: Phan Huy đã viết môt bài thơ có tựa đề là
“Cảm Tạ miền Nam” rất cảm động. Ngay trong phần mở đầu ông viết:



“Đã từ lâu, tôi có điều muốn nói
Với miền Nam, miền đất mới thân quen
Một lời cảm ơn tha thiết chân tình
Của miền Bắc, xứ ngàn năm văn vật.”



Sau cái gọi giải phóng và thống nhất, ông Huy đã có dịp vào miền Nam và ông đã nhận ra
miền Nam không tồi tệ như bác và đảng đã tuyên truyền và nhồi nhét vào đầu ông và khi đã nhận ra một sự thật phũ phàng, ông Huy đã bật khóc:



Trước mắt tôi, một miền Nam sinh động

“Tôi đã vào một xứ sở thần tiên
Nếp sống văn minh, dân khí dịu hiền
Cơm áo no lành, con người hạnh phúc.
Tôi đã ngạc nhiên với lòng thán phục
Mở mắt to nhìn nửa nước anh em
Mà đảng bảo là bị lũ nguỵ quyền
Áp bức, đoạ đày, đói ăn, khát uống.
Trước mắt tôi, một miền Nam sinh động
Đất nước con người dân chủ, tự do
Tôi đã khóc ròng đứng giữa thủ đô
Giận đảng, giận đoàn bao năm phỉnh gạt.”

Phan Huy cũng không quên mô tả cuộc sống ở miền Bắc cs, nơi ông đã sinh ra và lớn lên,
vô cùng tồi tệ. Đời sống của nhân dân miền Bắc nghèo khó đến nỗi phải kéo cầy thay trâu
và nhân phẩm của nhân dân miền Bắc bị xô đẩy xuống tới mức ngang hàng với bèo dâu:



Xã hội sơ khai, tẩy não, một chiều
“Sinh ra lớn lên sau bức màn sắt
Tôi chẳng biết gì ngoài bác, đảng "kính yêu"
Xã hội sơ khai, tẩy não, một chiều
Con người nói năng như là chim vẹt.
Mở miệng ra là: "Nhờ ơn bác đảng
Chế độ ta ưu việt nhất hành tinh
Đuốc soi đường chủ nghĩa Mac Lenin
Tiến nhanh, tiến mạnh lên thiên đường vô sản.
Hai mươi mốt năm trên đường cách mạng
Xã hội thụt lùi người kéo thay trâu
Cuộc sống xuống thang tính bằng tem phiếu
Nhân phẩm con người chẳng khác bèo dâu.”


Trong phần cuối bài thơ, ông Huy kết luận rằng, ngày 30-04-1975 thật sự không phải là ngày cộng sản miền Bắc “giải phóng” miền Nam thoát khỏi sự kìm kẹp của Mỹ Ngụy, mà ngược lại là ngày miền Nam đã phá màn u tối, đã khai đường chỉ lối, đã khai sáng cho nhân dân miền Bắc thấy được bộ mặt gian trá và độc ác của bè lũ cộng sản, thật sự chúng chỉ là một bầy ác quỷ và ông đã không tiếc lời cảm tạ nhân dân miền Nam:




Giải phóng tháng tư đen


“Cảm tạ miền Nam phá màn u tối
Để tôi được nhìn ánh sáng văn minh
Biết được nhân quyền, tự do dân chủ
Mà đảng từ lâu bưng bít dân mình.


Cảm tạ miền Nam khai đường chỉ lối
Đưa tôi trở về tổ quốc thiêng liêng
Của Hùng Vương, quốc tổ giống Rồng Tiên
Chớ không là Cac Mac và Le nin ngoại tộc.

Cảm tạ miền nam mở lòng khai sáng
Đưa tôi hội nhập cùng thế giới năm châu
Mà trước đây tôi có biết gì đâu
Ngoài Trung cộng và Liên sô đại vĩ

Cảm tạ miền Nam đã một thời làm chiến sĩ
Chống lại cộng nô cuồng vọng xâm lăng
Hầu giúp cả nước thoát bầy ác quỷ
Dù không thành công cũng đã thành danh.”



Trong một bài thơ khác có nhan đề là “Tâm sự một đảng viên” ông Phan Huy đắng cay
bộc lộ rằng, sở dĩ ông theo đảng cộng sản là vì ông quá tin nghe theo lời hồ già dạy bảo:



 

“Rằng đảng ta ưu việt nhất hành tinh

“Rằng đảng ta ưu việt nhất hành tinh
Đường ta đi, chủ nghĩa Mac Lê nin
Là nhân phẩm, là lương tri thời đại.”

Và sở dĩ ông đã xung phong đi cứu miền Nam ruột thịt là vì ông tin vào lời tuyên truyền của hồ già và đảng cs:



Khắp nơi nơi cảnh đói rách cơ hàn
“Rằng tại miền Nam, ngụy quyền bách hại
Dìm nhân dân dưới áp bức bạo tàn
Khắp nơi nơi cảnh đói rách cơ hàn
Đang rên siết kêu than cần giải phóng”


Khi dự tính vào miền Nam thăm viếng một người bà con họ hàng, vì tin vào lời tuyên truyền của bác và đảng là người dân miền Nam đói khổ, nên ông đã chẳng quản đường xa diệu vợi mang theo một mớ gạo mà ông đã phải, dành dụm trong nhiều ngày mới có được, để biếu người bà con đói khổ:


“Chẳng quên mang theo ký gạo để dành
Biếu người bà con trong nầy túng thiếu”
“Đến Sài Gòn, tưởng say men chiến thắng
Nào ngờ đâu sụp đổ cả niềm tin
Khi điêu ngoa, dối trá hiện nguyên hình
Trước thành phố tự do và nhân bản.”


Khi đến và đứng trước nhà người bà con, ông Phan Huy mới nhận ra rằng, mớ gạo mà ông nâng niu mang từ miền Bắc thiên đường cộng sản, với hảo ý để biếu người bà con miền Nam bị Mỹ Ngụy kìm kẹp đói khó là một điều điều “lăng mạ” người bà con này:





Mộng miền Nam

“Tôi tìm đến người bà con trong xóm
Nhà xinh xinh, đời sung túc tiện nghi
Ký gạo đem theo nay đã mốc xì
Tôi vội vã dấu vào trong túi xách.
Anh bà con tôi- một người công chức ngụy
Nét u buồn nhưng cũng cố làm vui
Đem tặng cho tôi một cái đồng hồ
Không người lái, Sei-ko, hai cửa sổ.
Rồi anh nói: "Ngày mai đi cải tạo
Cái đồng hồ tôi cũng chẳng cần chi
Xin tặng anh, mong nhận lấy đem về
Một chút tình người bà con Nam bộ."


Sau khi đã nhận ra đời sống thật sự của toàn dân miền Nam và sự gian trá, phỉnh gạt
của hồ già và đảng cs, ông Huy cảm thấy hổ thẹn với lương tâm nên đã than khóc:



Tác giả Phan Huy


“Trên đường về, đất trời như sụp đổ
Tôi thấy mình tội lỗi với miền Nam
Tôi thấy mình hổ thẹn với lương tâm
Tôi đã khóc, cho mình và đất nước”

 


  Thư Không Niêm Gửi Bạn.
> Trần Văn Lương

> (Thay lời một vị thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa
>
> đang kẹt ở VN gửi người bạn cũ ngày xưa đã vượt biên
> nhưng nay lại viện dẫn đủ mọi lý do để về vui chơi)
>
> Gửi nhờ tập vé số trên tay,
> Chống nạng đến đây để gặp mày.
> Hụt hẫng thấy mày ngồi giữa quán,
> Đang cùng bầy cán bộ vui say.
>
> Không muốn bị mang tiếng quấy rầy,
> Khi lòng đang thất vọng chua cay,
> Nên đành mượn tạm vài trang giấy,
> Viết bậy đôi câu gửi tới mày.
>
> *
>
> Mày hãy cùng tao nhớ lại ngày,
> Cùng mày trong bóng tối chia tay,
> Mày thề rằng nếu Trời cho thoát,
> Mày ắt không quên mối hận này.
>
> Từ đó, trong đau đớn dập vùi,
> Bọn tao mòn mỏi đợi tin vui.
> Ngờ đâu hạnh phúc lùi xa mãi,
> Nghĩ đến quê hương lại ngậm ngùi.
>
> Mày trở về chơi đã lắm lần,
> Lúc thì viện cớ gặp người thân,
> Lúc theo "từ thiện" tìm danh vọng,
> Hí hửng vô tròng bọn ác nhân.
>
> Hàng vạn hàng trăm các hội đoàn,
> Tranh đua làm thiện thật gian nan.
> Hân hoan vì chút hào quang giả,
> Họ đã an nhiên giúp bạo tàn.
>
> Mày cũng lần theo đóm múa may,
> Hết quà lại cáp phát rền tay.
> Tiền Tây, tiền Mỹ xài như rác,
> Lầu các thi nhau mọc dẫy đầy.
>
> Mày biết dân đây được những gì,
> Khi đoàn cứu trợ đã ra đi?
> Đất đai ngập lụt, nhà tan nát,
> Ngơ ngác trên tay một gói mì!
>
> Biết chăng vì những đứa như mày,
> Sự thật quê nhà chẳng chịu hay,
> Hãnh diện ta đây về "cứu viện",
> Nên bầy quỷ đỏ hiện còn đây.
>
> Mày có biết mày đã tiếp tay,
> Nuôi dân cho chúng để rồi nay,
> Chúng càng thêm có đầy phương tiện,
> Để khiến dân ta mãi đọa đày.
>
> Cả bầy chúng vẫn sống xa hoa,
> Xuất ngoại đầu tư, sắm sửa nhà,
> Con cái tiêu ra hàng bạc triệu,
> Đồng tiền đó liệu lấy đâu ra?
>
> Mày so với chúng được bao lăm,
> Tỷ phú tiền Tây chúng cả trăm.
> Của cải một thằng trong Bắc phủ,
> Thừa nuôi dân sống đủ nhiều năm.
>
> Phải chăng vì cật ấm cơm no,
> Mày lại mơ màng chức vị to,
> Nên mới trở cờ o bế giặc,
> Qua sông ngoảnh mặt với con đò?
>
> Tao xót xa nhìn lũ bạn thân,
> Ngày xưa vượt biển lắm gian truân,
> Nay khuân tiền bạc về quê cũ,
> Góp sức nuôi bè lũ hại dân.
>
> Bạn mình giờ lắm kẻ giàu sang,
> Áo gấm xênh xang rộn xóm làng.
> Có đứa vênh vang bằng cấp lớn,
> Hùa theo lũ ngợm chống Cờ Vàng.
>
> Có thằng may mắn lắm đồng ra,
> Thơ thới về đây, bỏ vợ nhà.
> Có đứa làm sui gia với giặc,
> Ra ngoài trở mặt líu lo ca.
>
> Thấy miệng mày thoa mỡ nói năng,
> Lòng tao chua xót chợt hay rằng,
> Xuống thuyền mấy đứa đêm hôm đó,
> Giờ đã "vinh quy" đủ bấy thằng!
>
> Tao tưởng bao năm ở nước ngoài,
> Chúng mày phải biết rõ hơn ai,
> Ngày ngày đọc thấy nhiều tin tức,
> Sao lại vô tâm được thế này?
>
> Lần cuối cho tao nói một lời:
> Nếu còn người trở lại ăn chơi,
> Đua đòi danh lợi, buôn "từ thiện",
> Thì chớ mơ chi chuyện vá trời.
>
> *
>
> Nắng chiều cuốn xác lá trôi,
> Bóng đôi nạng gỗ đơn côi ngược dòng.

No comments: