Wednesday, September 28, 2016

THÁI BÁ TÂN * NHỮNG TRUYỆN NGẮN

   

THÁI BÁ TÂN


NHỮNG TRUYỆN NGẮN CHỈ LỚN BẰNG LÒNG BÀN TAY






LỜI MÀO ĐẦU CỦA TÁC GIẢ






Tôi mượn đầu đề này của nhà văn Nhật nổi tiếng Yasunari Kawabata. Ông cũng có một chùm truyện ngắn với tên gọi như vậy. Cách đây ba chục năm chính tôi dịch và in báo một số truyện trong chùm ấy, nay thất lạc chẳng nhớ gì. Chỉ mang máng nhớ một truyện nói về người đàn bà nọ mang thai những mấy năm mới đẻ. Thì ra bà ta gắng chịu đến khi chiến tranh kết thúc mới dám cho con ra đời để tránh họa binh đao. Truyện khác về một người đàn ông từ xa về đến nhà thì vợ đã chết, người xám ngoét, nhăn nhúm. Suốt nhiều giờ liền ông ta dùng đôi tay khỏe mạnh của mình xoa bóp cơ thể vợ cho đến khi da thịt căng ra, đỏ hồng. Và bà đã mỉm cười với ông. Cả hai truyện đều rất ngắn, đúng chỉ bằng lòng bàn tay như tên gọi, nhưng ấn tượng để lại thật sâu sắc, trong khi suốt đời mình có lẽ tôi đã đọc đến cả núi sách, phần lớn thường dài mà đọng lại trong trí nhớ chẳng được bao nhiêu.


Vả lại thời gian gần đây do tuổi tác, tôi đọc nhiều các tác phẩm triết lý của người xưa. Các bậc thánh hiền như Khổng Tử, Lão Tử, Mạnh Tử hoặc Trang Tử đều rất kiệm lời. Nhiều khi cả triết lý vĩ đại chỉ nằm trong mấy chữ. “Tri giả bất ngôn, Ngôn giả bất tri” (Nói là không biết. Biết thì không nói) của Lão Tử là một thí dụ. Thơ Đường luật và thơ ngũ ngôn xưa cũng vậy. Cách nói của người xưa là không nói, mà chỉ gợi ý để người đọc tự suy ngẫm, tự tìm ra ý và cái triết lý sâu xa tác giả muốn nói.


Có người ví văn chương vốn dĩ như con đường bằng phẳng đã trải nhựa, đáng lẽ theo đó mà đi thì nhân danh cái mới, chúng ta cứ thi nhau phá phách đâm ngược rẽ xuôi, đào chỗ này, đắp chỗ kia, đến mức làm méo mó cả văn chương. Tất nhiên không ai phủ nhận những tìm tòi, sáng tạo chân chính để khỏi phải dẫm chân tại chỗ. Nhưng những gì đã định hình và được mọi người chấp nhận là chuẩn mực thì nên chăng cứ thế mà chấp nhận. Cái mới nằm ở nội dung, không nhất thiết ở hình thức và cách diễn đạt nội dung đó. Suy cho cùng, như Khổng Tử nói, văn dĩ tải đạo. Mà đạo thì giản dị, rạch ròi và luôn đi thẳng. Tôi nghĩ bộ com-lê chững chạc và chiếc cà vạt khiêm tốn cả thế giới đang mặc còn tồn tại lâu, và sẽ ngớ ngẩn nếu ai đó tìm cách làm một cuộc cách mang lớn nhằm thay đổi chúng.


Nhiều truyện ngắn của ta hiện nay, trong đó có truyện của tôi, công bằng mà nói, có thể rút ngắn từ một vài chục trang xuống vài ba trang hoặc thậm chí ít hơn mà vẫn truyền tải hết ý. Chưa chừng hiệu quả còn lớn hơn. Đấy là chưa nói việc bây giờ thời đại tin học với nếp sống công nghiệp bận rộn, hơi đâu người ta chịu nghe mình rông dài này nọ. Cá nhân tôi cũng luôn thích đọc những truyện ngắn và không muốn tác giả hiểu hộ cho mình.


Đó là lý do khiến tôi thử viết chùm truyện này. Những truyện chỉ lớn bằng lòng bàn tay. Còn việc chúng có được như tôi mong muốn hay không thì lại là chuyện khác.






1. NHỮNG NỐT NHẠC ĐEN TRẮNG






Căn phòng nằm trên tầng cao nhất một chung cư mới xây ở Vũng Tàu, nên dẫu xa bờ vẫn có thể nhìn thấy biển, nhưng lúc này biển chẳng có gì để nhìn vì trời đang mưa.


Trong phòng có ba người. Nửa nằm nửa ngồi trên chiếc đi-văng là một ông già gầy khô, tóc trắng, hai bàn tay nhăn nheo đặt lên đầu gối, với những chiếc ngón dài như ngón tay Chúa trong tranh của El Greco. Ông ngồi như thế đã lâu, hoàn toàn bất động. Đôi mắt cũng bất động nhưng không nhắm. Có vẻ ông đang ngủ thiếp. Nhiều người già vẫn hay ngủ thiếp cách ấy.


Hai người kia là anh con chưa đến bốn mươi, béo mập và mút hai đầu như chiếc bánh mỳ căng phồng, tóc húi cua lởm chởm, và đứa con gái mười tuổi dài ngoẵng như nhiều đứa khác ở cái tuổi ấy. Nó đang học đàn với bố. Những ngón tay nhỏ và ngắn lóng ngóng lướt trên phím đàn pianô. Thỉnh thoáng gặp chỗ khó, nó ngừng đàn ngước nhìn bố vẻ xin lỗi. Anh kia nói điều gì đấy rồi ngồi yên chờ con chơi tiếp. Khác với vẻ ngoài đồ sộ, thậm chí hơi dữ dằn, anh ta có giọng nói nhỏ nhẹ. Cả cách nói cũng nhỏ nhẹ.


Cách đây nửa tháng, đang đêm, ông bố gọi điện từ Hà Nội vào:


- Lúc nãy con thổi bài Hành Khúc của Verdi à?


Anh con giật mình:


- Vâng, làm sao bố biết ạ?


Ông bố không đáp, mãi lúc sau mới nói:


- Nó làm bố nhức đau nhói trong ngực.


Đó là bản Hành khúc Thắng lợi Ai Cập trong vở ôpera Aida nổi tiếng của Verdi. Anh vốn là nhạc công của Dàn nhạc Giao hưởng Hà Nội, chơi kèn trompet. Cũng ở dàn nhạc này, trước bố anh chơi đàn viôlông bè một, sau mắc chứng suy tim nên thôi.


Nghe bố nói thế anh thấy lo. Ông là người rất nhạy cảm, anh biết, nhưng ở cách hàng ngàn cây số mà nghe được con thổi kèn, lại còn đau trong ngực thì quả có cái gì đấy không ổn. Mấy ngày sau, thấy bố lại gọi điện kêu đau đầu khi anh thổi một bài nhạc buồn chuyển thể của Sô-panh, anh lập tức bay ra Hà Nội đưa ông vào ở cùng, dù vẫn như trước, ông thích sống một mình.


- Con bé tập pianô có làm phiền bố không ạ? - anh hỏi. Từ hôm có bố trong nhà, anh không thổi kèn nữa.


- Không, - ông đáp. - Ngược lại, còn thích.


Thế là hôm nay tự ông vào phòng cháu rồi ngồi bất động trên ghế suốt từ nãy đến giờ.


Anh con đang nhẹ nhàng giải thích tính chất một đoạn nhạc khó:


- Con chơi đúng nốt, đúng nhịp đấy, nhưng chưa có nhạc. Nhạc là hồn, là tình cảm, con biết rồi mà. Như chỗ này chẳng hạn, - anh cúi xuống dí ngón tay quả chuối vào mấy dòng nhạc. - Phải dịu dàng hơn, đặc biệt các phím đen. Phím đen không chỉ có màu sắc mà tình cảm cũng khác phím trắng. Biết nói thế nào được nhỉ?... Như ngày và đêm vậy, như niềm vui và nỗi buồn…


- Con không thích phím đêm, - cô bé lí nhí đáp.


- Nhưng đó là cuộc sống. Có ngày phải có đêm. Có vui ắt có buồn. Rốt cục bản nhạc cuộc đời nào cũng chỉ hai nốt đen trắng ấy, và chúng đang ở trong tay con. Con phải xử lý chúng cho đúng, phải làm sao để thành dòng chảy, mượt mà và tương phản. Đằng này con chơi khô khan, các nốt nhạc cứ như va vào nhau rơi tung tóe xuống đất. Con không thấy thế à? Nào chơi lại bố nghe.


Dẫu chưa lĩnh hội hết những lời triết lý kia của bố, cô bé ngoan ngoãn chơi lại cả bản nhạc, nét mặt căng thẳng như người lớn. Cả lần này nó vẫn chưa kết hợp nhuần nhuyễn được các nốt trắng đen ngày đêm, hạnh phúc và nỗi buồn ấy. Và chúng vẫn tiếp tục “va vào nhau rơi tung tóe xuống đất” như bố nó nói.


Lúc này bên ngoài mưa ngớt tự lúc nào. Thậm chí mặt trời chui khỏi đám mây, chiếu những tia nắng ẩm ướt vào phòng, làm các nốt nhạc đen trắng rơi vãi trong đó bỗng ánh lên rực rỡ.


Hai bố con học xong ra khỏi phòng từ lâu, ông già vẫn ngồi yên. Cuối cùng ông gượng dậy, đi về phía chiếc đàn rồi bò lổm ngổm trên sàn gỗ, cố nhặt những nốt nhạc rơi của đứa cháu. Thỉnh thoảng ông giơ một vài nốt lên soi dưới ánh mặt trời.


*


Tối ấy, khi vào phòng mời ông xuống ăn cơm, người ta thấy ông già đã chết, trên chiếc đi-văng vẫn ngồi. Hôm sau, khi lượm bố vào quan tài, anh con dùng hết sức mới gỡ được hai bàn tay nắm chặt của ông. Từ đấy hai dòng kim cương đen nhánh chảy ra, lấp lánh như những vì sao giữa sàn nhà sẫm tối.


Mãi sau này, khi lên mười bảy tuổi và chuẩn bị đi New York theo học pianô tại Nhạc viện Julliard, cô cháu “không thích phím đêm” của ông tình cờ thấy trong va-li một gói lớn những viên kim cương trắng muốt được gói cẩn thận trong tấm vải cũ bằng nỉ người ta thường dùng để phủ lên đàn viôlông.


Hà Nội, 30. 5. 2011






2. ĐỨA CON MẶT TRỜI


Một buổi chiều đẹp trời sau tiết lập xuân.


Cô gái ngồi ngắm mặt trời ngoài lan can. Phía trên là dàn mướp đang ra nụ, có nụ đã kịp lớn thành những chiếc chuông xinh xinh màu xanh. Con chó nhỏ nằm thiu thiu ngủ dưới chân. Bên cạnh là cuộn len lớn màu hồng vì cô đang đan chiếc mũ nhỏ xíu cho đứa con sắp ra đời. Chiếc mũ bé tí mà đan cả tuần nay chưa xong.


Trước mặt là một thung lũng rộng, lúa mới bén đòng xanh ngắt. Đáng lẽ từ lan can nhìn ra phải thấy một con suối nhỏ nước lấp lánh. Hôm nay sương xuống sớm nên giờ chỉ là một vệt mờ đùng đục. Chiếc đĩa mặt trời đỏ rực, to và tròn vành vạnh treo lơ lửng trên vệt mờ ấy. Cô gái ngừng đan, nhìn nó hồi lâu không chớp mắt, và cũng không thấy chói. Mỗi lần đứa con quẫy đạp, cô đưa cả hai tay nhẹ nhàng xoa xoa chiếc bụng của mình, cũng to và tròn không kém.


Anh chồng suốt buổi hý huáy chữa cái gì đấy dưới bếp, bây giờ bước ra ngoài, giơ cả hai bàn tay còn lem bẩn che mắt khi nhìn về hướng mặt trời. Phía ấy, tức chỗ vợ anh ngồi trên bậc lan can khá cao, bây giờ chìm trong ráng hồng của mặt trời sắp lặn. Anh có cảm giác cả một vùng trời đang bốc cháy. Vợ anh cũng cháy trong đám lửa hoàng hôn ấy. Bao quanh người cô là một đường viền lửa màu vàng vàng, xanh xanh, đặc biệt trên nửa quả cầu chiếc bụng chửa căng tròn.


Từ chỗ đang đứng, anh thấy mặt trời chầm chậm đi xuống, đúng chỗ bụng vợ anh. Chiếc đĩa mặt trời đỏ rực đang bị hình cầu bụng bà chửa nuốt dần, nuốt dần cho đến khi chỉ còn lại một vành cung rất mảnh. Cuối cùng vành cung ấy cũng biến mất, và đám lửa hoàng hôn vụt tắt.


Anh hoảng hốt chạy lại gần vợ. Lúc này cô không còn tựa lưng vào cột lan can, mà nằm ngửa trên chiếc chõng tre, mắt nhắm nghiền, chiếc bụng chữa đã to giờ càng to hơn và trông chẳng đẹp mắt chút nào.


- Em không sao chứ? - anh hỏi.


- Không. - Cô đáp, với vẻ mệt mỏi của một người đang hạnh phúc.


Anh ngồi xuống cạnh:


- Lúc nãy anh thấy em như đang bốc cháy. Mà rồi, kỳ lạ thật, cứ như mặt trời chui tọt vào bụng em ấy…


- Thì đúng thế thật mà.


Cô gái mỉm cười, rồi cầm tay chồng nhẹ nhàng đặt lên bụng mình.


- Nóng quá! - anh nói. - Hay đang có mặt trời trong ấy thật? Em nói mặt trời chui vào bụng em?


Cô gái gật đầu. Anh chồng lặng im không biết nói gì thêm.


- Và em sẽ sinh cho anh một đứa con mặt trời.


Lại gật đầu. Rồi quá mệt mỏi, cô ngủ thiếp.


Anh chồng ngồi bên canh cho vợ ngủ, hai tay âu yếm xoa xoa đứa con mặt trời của mình. Và hồi hộp chờ bình minh…


Hà Nội, 6 tháng Sáu, 2011






3. THẦN VỆ NỮ


Chiến tranh nào cũng để lại những kỷ niệm đau buồn, nhưng với tôi, đau buồn nhất là chuyện một cô gái trong làng đi thanh niên xung phong, giữa chừng quay về với cả hai cánh tay bị mảnh bom chém đứt. Tay trái sát vai, tay phải cụt đến khuỷu, hệt như tượng Vệ Nữ người ta tìm thấy trên đảo Milos ngày nào.


Bề ngoài cô không được như nữ thần sắc đẹp Hy Lạp cổ đại, tất nhiên, nhưng trời ban cho cô dáng người thanh thoát, khuôn mặt ưa nhìn, chiếc mũi nhỏ thon thẳng, đặc biệt đôi mắt sâu và buồn. Đôi mắt ấy bây giờ càng buồn gấp bội.


Cô sống với bà mẹ già. Mấy năm sau mẹ mất, cô còn lại một mình. Và rồi cô có bầu và bị đem ra chửi mắng, tra khảo mấy đêm liền ở đình làng. Anh trưởng thôn làm chủ tọa, có cả người của chính quyền xã về dự.


Cô gần như bị ruồng rẫy khi một mực không chịu khai ai là thủ phạm, đặc biệt từ phía các cô, bà có người thân đang ở ngoài mặt trận. Cái làng tôi nó thế: nghèo kiết xác nhưng luôn cổ hủ và độc ác.


Khi cô sinh con, tôi đã không còn ở làng. Tôi không biết cô sống và nuôi con thế nào, nhưng cô vẫn sống, và đứa con vẫn lớn lên khỏe mạnh bình thường. Nó, một thằng con trai, càng lớn càng giống anh trưởng thôn làm chủ tọa các buổi đấu tố mẹ nó. Kể ra từ lâu người ta đã biết bố nó là ai. Thời ấy làng chẳng còn ai là đàn ông, trừ mấy cụ già và đám trẻ mới lớn còn ham đánh nhau và chơi khăng. Mà anh ta, cái anh trưởng thôn ấy, vợ mới chết mấy năm và cũng đang sống một mình. Vậy sao anh ta còn làm khổ người bị chính mình gây tai họa? Sao cô không tố cáo hắn? Hay họ ngầm thỏa thuận với nhau điều gì? Tôi không biết. Chắc nhiều người nữa trong làng cũng không biết, và câu chuyện dừng ở đấy.


Một lần, cách đây đã lâu, tôi về quê và ngạc nhiên khi biết tin thằng bé, lúc ấy mười lăm tuổi, đã chuyển sang ở hắn với bố nó. Dẫu không còn là trưởng thôn, nhưng anh ta vẫn chạy chọt làm được giấy khai sinh mới cho nó, thay họ mẹ bằng họ bố.


Vậy là cô thanh niên xung phong cụt cả hai tay, nay đã là một bà già, vẫn lủi thủi một mình như ngày nào. Và việc bà sẽ chết trong cô đơn cũng là điều chắc chắn.


Một câu chuyện không có hậu. Đúng thế. Chính nó cũng làm tôi ấm ức, khó chịu. Cuộc sống thường vẫn vậy - phức tạp và oan trái hơn nó được miêu tả trong sách vở. Vì là chuyện có thật ở làng tôi, tôi chỉ còn biết chép lại nó như tôi được biết, không thêm bớt điều gì, dẫu nhiều khi nhớ đến cô gái tội nghiệp ấy, không hiểu sao tôi hay vẩn vơ nghĩ về Vệ Nữ, nữ thần sắc đẹp được cả thế giới ngưỡng mộ.


Hà Nội, 09 tháng Sáu, 2011.






4. CON NGỰA CÒM






- Nhà nó ra thắng ngựa cho tôi đi chở hàng!


Hắn cao giọng bảo vợ rồi ngồi xuống chiếc chõng tre, tu một hơi hết cả bát nước vối. Bao giờ hắn cũng nói với vợ bằng cái vẻ oai vệ như vậy, dù hắn chỉ là thằng đàn ông gầy nhom, nhút nhát nhất xóm, đến mức ai cũng có thể bắt nạt được. Thực ra hắn cũng nhút nhát cả với vợ, nhưng vợ hắn là người biết điều nên cứ ngơ cho hắn gỡ lại thể diện trong nhà. Mà trong nhà thì quan trọng nhất là con ngựa và hắn, nguồn thu nhập cho một bầy con lít nhít cùng bà vợ luôn bận bịu chửa đẻ và cho con bú.


Như chủ, con ngựa cũng nhó thó và gầy, thậm chí còn gầy hơn vì ngựa không mặc áo nên trơ hết xương sườn. Như chủ, nó cũng đói ăn và thường phải tự kiếm cái nhét vào bụng bằng cách gặm cỏ bên vệ đường hoặc đâu đó trong khi chủ nó ngồi uống nước và nhá kẹo cu-đơ trong quán. Hắn luôn thưởng cho mình thú vui ấy mỗi lẫn chở xong hàng và được người ta trả tiền.


Hôm nay, một bà lão nhờ hắn chở mấy thứ đồ đạc cũ sang làng bên cho con gái vì biết mình sắp chết, mà chết thì theo phong tục ở đây, mọi cái thuộc về bà sẽ bị đem đốt hết. Xong việc, bà lão nổi hứng cho hắn luôn mấy nghìn tiền lẻ còn thừa, nên ngoài nước và kẹo, lần này hắn hút luôn hai điếu Thăng Long và ăn một chiếc bánh chưng loại nhỏ, dẫu không phải không do dự vì tiếc tiền. Con ngựa còm cũng được hắn cho tự do kiếm ăn lâu hơn lệ thường. Hắn ngả ngốn tựa lưng trên chiếc ghế tre ọp ẹp trong quán mụ Bốn, ra chiều hài lòng lắm. Bên ngoài trời nắng chói chang vì đang giữa trưa.


Bỗng có tiếng ai đó quát tháo rất to, giọng đàn ông giận dữ. Một chốc sau thì hắn thấy con ngựa còm của hắn chạy lại, máu lênh láng một bên hông. Đuổi theo nó là môt gã đàn ông to béo đầu bạc, tay cầm con dao thái thịt lấp lánh dưới ánh mặt trời. Lão đầu bạc đuổi kịp con ngựa, vung tay chém thêm nhát nữa vào mông trái nó. Con ngựa lảo đảo một chút nhưng không ngã, rồi nó bỏ chạy, để lại phía sau những giọt máu nhanh chóng khô đặc trên mặt đường cát bụi.


- Tại sao ông chém ngựa tôi? - hắn chạy lại, cao giọng hỏi.


- Vì nó vào vườn ăn rau nhà tao. - Lão đầu bạc vừa hổn hển thở, vừa đáp. Lão làm nghề rèn, tháng trước vừa bị công an xã gọi lên vì tội chém vợ. - Ngựa mày à? Cút đi, không tao chém cả mày bây giờ!


Chắc vì quá phẫn uất, hắn quên mất cái tính nhút nhát cố hữu và thân thể gầy còm của mình. Không những không cút đi, hắn còn văng chửi độc địa và làm một việc ngu ngốc khác là ưỡn bộ ngực đầy xương sườn của trước kẻ thù.


Lão đầu bạc nhìn hắn, nhếch mép mỉa mai. Lão giơ cao con dao, nhưng suy nghĩ một lát, không chém, mà chỉ tống một quả đấm trời giáng vào mặt hắn.


Phải đến cả chục phút sau hắn mới gượng dậy được. Khi tìm thấy con ngựa, hắn chẳng thèm nghĩ đến chiếc xe mà cứ thế cuốc bộ, dẫn nó về nhà dưới trời nắng gắt. Suốt dọc đường, vừa đi hắn vừa tấm tức khóc, đôi khi hu hu thành tiếng nghe rất buồn cười. Máu vẫn ri rỉ trên lưng con ngựa khốn khổ. Ruồi nhặng bám đầy quanh những vết chém trên lưng. Hình như nó cũng khóc. Đôi mắt vốn kèm nhèm giờ gần như bị che kín bởi ghèn bẩn và nước mắt. Là con vật, nó không thể hiểu vì sao người ta nỡ chém nó khi nó vẫn ăn thứ lá xanh xanh như mọi ngày. Lá cỏ hay lá khoai lang thì khác gì nhau? Đến thằng chủ của nó cũng không hiểu nổi điều đó.


Vậy là cả nhà hắn mất kế sinh nhai. Những vết chém sâu trên cổ và bên hông khiến con ngựa không thể tiếp tục kéo xe chở hàng như trước. Ba tuần sau, nó chết vì nhiễm trùng. Thằng chủ nó vẫn nằm bẹp trong nhà.


Một sáng nọ, vừa bảnh mắt, hắn quát bảo vợ hắn:


- Nhà nó chuẩn bị cho tôi con dao! Con to và sắc nhất ấy!


- Để làm gì?


- Không hỏi!


Rồi hắn hằm hằm cầm dao đi về phía khu làng có lão to béo đầu bạc.


Hà Nội, 16. 6. 2011





5. NGƯỜI KHÔNG MÀU






Với tâm trạng mệt mỏi, chán đời của một người lao lực và gặp nhiều thất bại ở thành phố, ông trở về làng quê nhỏ bé của mình, nơi ông không có nhiều kỷ niệm và cũng chẳng đa tình nặng nghĩa, ngoài việc trót sinh ra ở đấy. Còn chết thì vợ con đã mua sẵn một lô đất trong nghĩa trang thành phố. Vậy sao ông về? Chẳng vì lý do gì đặc biệt. Đơn giản không biết đi đâu nữa thì về. Vài chục năm gần đây thỉnh thoảng ông vẫn làm thế.


Ở mãi trong nhà anh cháu cũng chán, ông thơ thẩn ra dạo ngoài đồng Chùa. Nó vẫn thế, như cái thời ông chăn trâu, chơi khăng ở đây. Nhưng ngôi chùa mà nó mang tên không còn nữa vì bị người đập lấy gỗ xây trụ sở ủy ban xã.


Đồng Chùa là một gò đất cao và rộng, xưa nay chỉ là chỗ cho trẻ làng chăn trâu bò, hoặc chơi các trò trẻ con của chúng. Giờ có máy làm ruộng, trâu bò ít nên cỏ mọc nhiều và dày. Ông ngả mình nằm xuống thảm cỏ và lơ đãng nhìn lên trời.


Hôm ấy là một chiều thu thật đẹp. Nắng hoe vàng sắp tắt. Cao trên trời là những làn mây nhẹ, mỏng tang, có vẻ như đang chuyển động, mà cũng như luôn đứng yên một chỗ. Mây chỗ trắng, chỗ vàng, chỗ đỏ rực như máu. Chỗ không có mây là bầu trời màu nước nhàn nhạt. Bao quanh ông là màu xanh ngắt của đồng lúa, bãi cỏ và rặng cây phía làng Mồ.


Nằm giữa cái thế giới nông thôn đầy màu sắc ấy, ông thấy thấy mình thật buồn tẻ và nhạt nhẽo. Ông, một người không màu. Không màu như cái thành phố xám xịt của ông, nơi không trăng, không bầu trời, hoặc giả có cũng chẳng ai ngước lên nhìn.


- Bác mới về làng chơi ấy à?


Chợt ai đấy lên tiếng hỏi, ngay bên cạnh.


Ông nhỏm dậy:


- Vâng, hôm qua. Chào bác.


Đó là lão Hoạch, một lực điền da đen trũi, tóc xù điểm bạc, bạn học trường làng thời xa xưa và cùng tuổi, tức đã ngót nghét sáu mươi. Lão vừa đi làm đồng về, chiếc cuốc trên vai còn chưa khô bùn. Nghe nói nhà lão là một trong số ít gia đình trong làng còn đói ăn, Dẫu vậy, lão là người xởi lởi và vui tính. Không hiểu sao lần nào về làng, ông cũng gặp lão.


- Công việc bác dạo này thế nào.


- Vẫn thế, - ông đáp.


- Người ta bảo bác làm cái nghề viết lách gì đó trên tỉnh?


- Đúng. Nghề phịa chuyện, viết nhăng nhít ấy mà…


- Và người ta trả tiền cho cái chuyện phịa nhăng nhít ấy như bác nói?


- Đôi khi.


- Thế thì chán lắm nhỉ?


- Chán.


Lão Hoạch nghĩ một lúc rồi nói:


- Sao bác không về làng làm ruộng như tôi? Vất vả nhưng mà vui.


- Tôi đã già, vả lại, cũng không biết làm ruộng.


- Lo gì, về đây tôi dạy cho.


Nói chuyện thêm một lúc, lão bỏ về. Do đi ngược mặt trời hoàng hôn lúc ấy đã xuống thấp và đang treo lơ lửng trên đỉnh núi Mụa, toàn thân lão được chiếu đỏ rực. Cả chiếc cuốc bẩn trên vai cũng đỏ như thế.


“Cuộc đời kể cũng buồn cười, ông nghĩ. Lão Hoạch suốt đời đầu tắt mặt tối trên ruộng không kiểm đủ bát cơm ăn. Mình thì viết phịa nhảm nhí lừa người ta lại thừa ăn. Nhưng người lão ấy đỏ rực như lửa, ông chép miệng, mà mình thì chẳng có màu gì. Người không màu!”


Ông lại nằm xuống, bâng quơ nhìn lên trời. Vì sắp lặn và mặt trời đã trở thành chiếc mâm đỏ khổng lồ nên bầu trời có nhiều màu sắc đậm và tương phản hơn. Gió mát hiu hiu thổi. Một lúc sau ông mơ màng thiếp đi. Trong cảm giác nửa tỉnh nửa mơ ấy, ông thấy mình được từ từ nâng lên cao, trong tư thế nằm ngửa, và bắt đầu chậm chậm chu du trên bầu trời. Trong chuyến bay lâng lâng thích thú đó, ông ngạc nhiên thấy mình bắt đầu có màu, đủ màu sắc rực rỡ của hoàng hôn, tùy thuộc lúc đó ông đang bay qua đám mây nào. Cuối cùng, ông trở lại mặt đất khi trời tối hẳn, và lại thành người như cũ - không màu.


Thậm chí không cả màu đen, khi ông lầm lụi bước về làng.


Hà Nội, 21.6.2011






6. CHIẾN TRANH






Ba mươi năm trôi qua kể từ ngày chiến tranh kết thúc.


Một sáng nọ ông cụ ngủ dậy, bảo vợ.:


- Tôi đi bà nhé?


Bà cụ, cũng già và ốm yếu như chồng, lúc ấy đang hý húi đun nước dưới bếp, đáp:


- Ừ thì ông đi, một khi không thể không đừng được. Đi mà đưa nó về.


Nó là con trai duy nhất của họ, chết trong trận nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968 ở Quảng Trị. Khi chuẩn bị xong xuôi mọi thứ cho chồng, gồm chiếc ba lô cũ từ thời chống Pháp, nắm cơm và ít tiền, bà cụ nói thêm:


- Ông đi, xong việc rồi ta nghỉ.


- Ừ.


Ông cụ đáp, bước ra khỏi nhà, thong thả đi về phía hướng ga Mỹ Lý rồi từ đó lên tàu chợ đến Quảng Trị để bốc mộ con mang về quê an táng, một việc muốn đã lâu nay mới làm được.


Tôi là cháu gọi cụ bằng bác, lúc ấy đang về quê nghỉ phép. Tôi xin được đi cùng nhưng cụ không chịu.


Mười ngày sau, cụ quay về. Tôi gặp cụ ở ga Mỹ Lý vì đang có việc phải vào Vinh. Chiếc ba lô cũ trên vai bây giờ căng phồng. Anh con trai duy nhất của cụ đang ở trong đó.


Buổi chiều. Trời có vẻ sắp mưa. Tôi đứng lặng, nhìn theo bác tôi lầm lũi bước đi về làng. Mái đầu bạc, thân hình gầy gò, cái lưng còng giờ còng thêm vì anh con to lớn hai mươi tuổi trên vai.


Và tôi nghĩ về chiến tranh cùng những điều khủng khiếp nó gây ra. Và rằng cả tôi, nay là một ông già tóc bạc ngoài sáu mươi, do số phận dun dủi, có thể cũng hy sinh trong cuộc chiến tranh ấy, và cũng được bố tôi cõng trên lưng như thế đi suốt chiều dài đất nước, suốt cả cuộc đời đau khổ của mình.


Một tháng sau khi chôn cất anh con vào nghĩa trang dòng họ, cả hai bác tôi qua đời. Không ốm đau và gần như cùng một lúc.


“Ông đi, xong việc rồi ta nghỉ”.


Hà Nội, 22.6.2011






7. ĐÊM Ở TÂY NINH






Khi tôi đến thị trấn N., Tây Ninh, thì trời đã khuya. Hơn thế lại đang mưa. Mưa to kèm theo gió giật. Vất vả lắm tôi mới tìm được một nhà trọ bẩn thỉu, tồi tàn gần bến xe luôn chật ních người. Sau chiến tranh, đất nước còn nghèo, người dân càng nghèo hơn, nên các nhu cầu tiện nghi và vệ sinh đều được châm chước.


Người ta dẫn tôi lên môt căn phòng khoảng mười mét vuông với chiếc giường một trải chiếu ni-lông và chiếc màn mắc sẵn. Không có phòng vệ sinh riêng, mà tôi cũng chẳng cần. Quá mệt mỏi, tôi nằm vật xuống giường, định bụng ngủ một giấc để mai có sức đi tiếp sang Căm-pu-chia.


Vừa thiếp đi một chốc, tôi đã bị đánh thức bởi tiếng trẻ con khóc. Nghe giọng, có vẻ còn bé và ở đâu đây rất gần. Hình như ngay phòng bên. Đứa bé khóc gay gắt. Tôi ngạc nhiên khi nghe dỗ nó không phải phụ nữ mà một giọng đàn ông ồm ồm. Không hiểu sao nó khóc mãi không nín, và người đàn ông vẫn kiên nhẫn, dịu dàng dỗ nó. Có cái gì đấy nghe cảm động, chua xót trong giọng ru ồm ồm, bất lực và vụng về ấy.


Thế là mất hết hy vọng được ngủ tiếp. Khoảng ba mươi phút sau, tôi gõ cửa bước vào phòng anh ta, chẳng biết cụ thể để làm gì.


Trước mắt tôi là một người đàn ông to lớn, to lớn đến kinh ngạc, đang ôm đứa bé trên đôi cánh tay trần cũng rất to lớn của mình. Đó là một bé gái khoảng bảy, tám tháng tuổi, mặt tái ngắt vì khóc lâu.


- Chắc nó đói? - tôi hỏi.


- Không, - anh nói, có vẻ không ngạc nhiên khi thấy tôi xuất hiện. Lúc nãy trên ô tô tôi mới cho ăn xong.


- Hay nó ốm?


- Cũng không. Ban đêm nó vẫn khóc như vậy vì nhớ mẹ. - Chắc đoán tôi muốn hỏi mẹ nó đâu, anh nói tiếp: - Mẹ cháu mới bị bắt giam ở đây. Mai tôi đưa cháu vào trại. Hy vọng người ta cho gặp. Chả là vợ tôi trước làm việc cho sứ quán Mỹ ở Sài Gòn, nay người ta bắt đi cải tạo.


Đứa bé vẫn khóc như bị ma ám.


- Hay tôi bế giùm anh một chốc?


- Vâng, có thể lạ hơi nó nín cũng nên. - Anh đáp rồi đặt đứa bé lên hai tay chìa sẵn của tôi.


Dẫu không bằng anh, tất nhiên, nhưng lúc ấy tôi mới ba mươi và cũng không thuộc loại bé nhỏ. Con bé nằm lọt thỏm trong tay tôi, nhẹ như không trọng lượng. Nó vẫn tiếp tục khóc, mặc cho hai người đàn ông to lớn, khỏe mạnh là tôi và bố nó, tìm mọi cách ru dỗ mà không được. Có thể nó sẽ nín ngay nếu được mẹ hay người đàn bà nào đó bế vào lòng, thậm chí không cần cho bú. Sao thế nhỉ? Sao người ta nỡ bắt mẹ nó đi khi nó còn bé tí như vậy?


Cuối cùng, lúc ấy đã gần sáng, nó cũng thiếp đi vì mệt.


Tôi trở lại phòng mình, với cảm giác nặng nề khó tả, cảm giác của một người lớn bất lực không biết và không thể làm gì để giúp một sinh linh bé nhỏ đang cần giúp đỡ.


Ừ, và cả cái chuyện người ta bắt giam mẹ nó nữa.


Hà Nội, 23.6.2011






8. ÔNG GIÀ VÀ BÔNG CÚC NHỎ






Ba tháng trước, khi thong thả dạo trên hè phố Lê Duẩn, dọc theo công viên Thống Nhất, tình cờ ông chứng kiến cảnh một đứa bé bò ra đường ray xe lửa phía bên kia đường từ một ngôi nhà nào đó ngay bên cạnh, đúng lúc có đoàn tàu khách đang rầm rầm chạy đến. Tàu kéo còi ầm ĩ. Đứa bé dừng lại trên tấm bê tông giữa hai đường ray, ngẩng chiếc đầu trần lơ thơ tóc. Hình như nó cười.


Ông đứng lặng, miệng há hốc nhưng không thể kêu lên một tiếng nào, và ngất ngã, đầu va vào gốc cây bên cạnh. Khi tỉnh dậy ở bệnh viện ông mới biết đứa bé đã được một người nhảy ra cứu khi đoàn tàu chỉ còn cách khoảng mươi mét.


Cú ngã nhẹ tưởng như bình thường, vậy mà ông phải nằm một chỗ từ bấy đến nay. Ra viện, ông ngạc nhiên thấy mình như người khác hẳn, vừa đặc biệt nhạy cảm lại vừa như u mê, đờ đẫn.


Bây giờ ông đang ngồi sưởi nắng trong sân chùa Kim Liên bên Hồ Tây, chính xác hơn, một mẩu nhỏ của Hồ Tây, nơi cùng lúc bị mấy tòa nhà khách sạn nhiều tầng bằng nhôm kính chen nhau đổ bóng xuống nước. Ông khó chịu với chúng, khó chịu luôn cả mẩu hồ nhỏ sót lại ấy.


Hôm nay hình như rằm nên chùa đông khách. Ông thường ra ngồi ở chùa này vì nó đẹp và cái chính là gần nhà. Ra ngồi một vài tiếng rồi về chứ chưa bao giờ ông thắp cho nó một nén hương.


Sau gần nửa giờ ngủ gật dưới nắng trong trạng thái u mê mới lạ vừa có sau tai nạn, ông chợt tỉnh khi ai đó đi ngang vô tình đá phải chân. Trạng thái u mê ấy bắt đầu nhường chỗ cho sự phấn khích và nhạy cảm khác thường. Cái ông phát hiện đầu tiên là không thấy hoa đại, cả hoa trên cây lẫn hoa rụng dưới đất. Đại nở theo mùa nên chắc chấn nhiều ngày không có hoa, nhưng chỉ hôm nay ông mới nhận thấy điều đó. Và nó làm ông buồn, cứ như bị ai ăn cắp cái gì đấy. Chùa mà không hoa đại thì chẳng còn là chùa, đáng ngạc nhiên nữa là dường như không ai chú ý đến điều ấy.


Vẫn như mọi ngày, khá đông người đang lầm rầm cúng khấn trước bàn thờ Phật. Một chuyện bình thường. Cái khác thường là hôm nay ông thấy có gì không ổn. Người ta khúm núm, luôn miệng cầu xin gì đó, cầu xin thành tâm và rất lâu trước Phật. Thế mà Phật vẫn làm ngơ, lặng im và vô cảm.


“Vậy Phật là người hay là gỗ?”, ông nhíu mày khẽ thốt lên thành tiếng.


Ông nhíu mày cả với việc nhiều cô gái trẻ đẹp, ăn diện hợp mốt cứ lăng xăng trước những ông già bằng gỗ ấy. Trước đây chắc ông thấy cảnh này không ít, nhưng sao bây giờ mới chú ý và khó chịu với nó? Chắc tại cái đầu của ông, tại giờ nó trở nên quá nhạy cảm.


Ông buồn bã bỏ về nhà, tới cổng chùa chợt dừng lại trước một người ăn xin cụt cả hai chân đang ngồi giữa nắng với chiếc chậu nhựa nhỏ méo mó trước mặt. Trong chậu chưa có đồng tiền nào.


Đó là một ông già trạc tuổi ông, tức gần bảy mươi, mặt nhăn nheo cáu bẩn và mái tóc bạc bù xù. Ông già ngước đôi mắt ươn ướt nhìn ông, nhìn cả nhiều người lúc ấy đang đi ngang nhưng không ai để ý. Ông cho tay vào túi thì chợt nhớ để quên chiếc ví ở nhà.


Với cảm giác như có lỗi, ông đứng thêm một lúc xem có ai cho ông kia đồng nào không. Người vẫn lũ lượt vào ra nhưng tịnh không một ai dừng lại, thậm chí nhìn cũng không. Họ là người hay là gỗ? - ông thở dài rồi bỏ đi tiếp.


Lên đến đường Yên Phụ, ông ngồi xuống nghỉ trên một trong những chiếc cột xi măng bên mép. Trời còn sớm nhưng nắng đã gắt và ngột ngạt. Sự ngột ngạt ấy gia tăng bởi số lượng người xe qua lại đông đúc.


Từ phía Nghi Tàm có hai cô đang chở hoa đi tới. Trước kia người ta gánh hoặc chở bằng xe đạp. Bây giờ bằng xe máy Hôn-đa. Cả hai cô còn trẻ và khá xinh, vừa đi vừa chuyện trò điều gì đấy rất vui. Khi ngang qua chỗ ông ngồi, xe một cô gặp xóc, làm một bông cúc rơi xuống đất.


Bông cúc nhỏ, còn tười và ướt, nằm giữa mặt đường nhựa. Đúng lúc ấy, một chiếc xe tải khổng lồ chở vật liệu cho công trường xây dựng bên cạnh đang từ từ đi lại. Thật lạ lùng, ông thấy bông hoa tội nghiệp đang run lên, vẫy vẫy những cánh hoa kêu cứu. Hơn thế, hình như ông còn nghe cả tiếng kêu cứu ấy.


Chiếc xe khổng lồ vẫn tiến lại gần, rất gần. Bất chợt, ông chạy ra đường, giơ cao hai tay ra hiệu dừng lại. Chiếc xe phanh két, nhưng đã quá muộn. Bông hoa bé nhỏ bị đè nát dưới chiếc bánh khổng lồ của nó.


Còn ông, ông lại ngất ngã trên mặt đường, chỉ cách chiếc xe tải mấy mét.


Tiếc lần, này do trái tim nhạy cảm hơn, ông ngất và không bao giờ tỉnh lại.


Hà Nội, 1.7.2011






9. ÔNG VÀNG, ÔNG TÂY VÀ ÔNG TƯƠI MÁT






Trong tù, họ kết thành bộ ba, được mọi người gọi là Ông Vàng, Ông Tây và Ông Tươi Mát.


Lúc ấy họ còn trẻ và chuyện xẩy ra vào những năm đầu sau chiến tranh.


Ông Vàng bị tù do nghe nhạc vàng của chế độ cũ, tòa tuyên năm năm vì tội “truyền bá văn hóa độc hại”. Tội này do hàng xóm ông tố lên công an phường sau một xích mích nhỏ về bờ rào giữa hai nhà.


Ông Tây lãnh mười năm về tội “hủ hóa”. Lớp trẻ ngày nay chắc không hiểu từ này, nhưng thời ấy đó là một từ rất nặng nề, kết tội những người có quan hệ nam nữ bất chính. Ông là du học sinh Việt Nam ở Ba Lan, học giỏi, cao to và rất đẹp trai. Ông bị bắt và được hai công an sứ quán áp giải về tận Hà Nội, vì yêu một cô gái bản xứ học cùng lớp mắt xanh tóc vàng. Điều này có lẽ thanh niên bây giờ cũng không hiểu nổi. Những năm ấy sinh viên Việt Nam ở nước ngoài bị cấm không được xem phim tư bản, không nhảy đầm, cả đứng xem cũng không. Còn yêu người nước ngoài thì thuộc hàng trọng tội. Mãi sau này, khi con gái nhà lãnh đạo cao cấp nhất Việt Nam yêu và lấy một anh người Nga, tội này mới được giảm nhẹ, giảm chứ không phải bỏ hẳn.


Còn ông Tươi Mát nguyên là một đảng viên gộc, cán bộ phường, phụ trách văn hóa. Thế mà ông sa đọa đến mức lén lút xem một đoạn phim tươi mát của chế độ Sài Gòn cũ, chiếu cảnh mấy cô gái Mỹ đồi trụy tắm, không có tí vải nào trên người. Tòa để ngoài tai lời thanh minh rằng cuốn phim ấy được ông bạn cán bộ văn hóa huyện cho mượn “xem để biết bọn đế quốc hư hỏng thế nào”. “Cán bộ cấp huyện mới đủ thẩm quyền và bản lĩnh chính trị xem những phim loại này”, tòa phán. Hơn thế, lúc bị bắt, người ta còn khám thấy trong túi ông chiếc bút bi mà khi cầm ngược lên, chất lỏng bên trong rút xuống, để lộ hình một phụ nữ lõa thể. Năm năm tù cải tạo! Cũng với tội “truyền bá văn hóa độc hại”.


Nhờ vụ con lãnh đạo lấy tây, Ông Tây được trả tự do sớm năm năm, vậy là cả ba ra tù cùng năm, gần như cùng một lúc. Tuy nhiên, khoảng mười năm sau, khi đất nước đổi mới và có vẻ dễ thở hơn, cả ba ông lại bị bắt vì có ý định thành lập Hội những người bị tù oan. Mới có ý định thôi, nhưng riêng bản nháp cái ý định ấy cũng đủ mỗi ông ngồi bóc lịch thêm ba năm nữa, lần này với tội “hoạt động lật đổ nhà nước”.


Ra tù, họ vẫn chơi thân, giao du với nhau từ bấy đến nay khi, tự lúc nào không biết, họ đã là những ông già. Nơi họ thường gặp mặt là quán cà phê “Nắng chiều” của Ông Vàng, ngay bên bờ Hồ Tây. Họ đến để ngắm nắng chiều trên hồ, đàm đạo chuyện nhân tình thế thái, và đặc biệt là để nghe nhạc vàng. Nghe to mà không sợ bị bắt. Nếu còn trẻ, chắc họ có thể tha hồ xem cả phim “tươi mát”.


Quán do vợ ông quản. Bà vốn là ca sĩ của một đoàn văn công thủ đô, nổi tiếng xinh đẹp và bản lĩnh. Khi chồng bị tù, thằng trưởng đoàn mò đến tán tỉnh và nói xấu chồng trước mặt bà. Hắn đã lãnh một cái tát thật kêu vào mặt. Rồi bà bỏ nghề đi bán bún riêu dạo trên phố. Chắc thằng kia có bạn bên công an nên gánh bún bà luôn bị gây khó dễ, nhiều lần còn bị hất đổ ra đường. Ấy vậy mà bà vẫn sống được nhờ gánh bún ấy, đủ tiền thăm nuôi chồng rồi dần dần mua được cái quán cà phê này, nhỏ thôi, nhưng đông khách và phần lớn là người có tuổi.


Hôm nay ba ông gặp nhau vào buổi trưa, khi quán không có người khách nào. Mặt nước Hồ Tây như đứng lặng vì trời lặng gió. Có cảm giác cái nóng hầm hập không phải từ con đường rải nhựa phía trên đổ xuống, mà từ phía hồ.


Như mọi lần, bà chủ lặng lẽ cung phụng ba ông cà phê và thuốc lá, với nét mặt nhẫn nhục pha chút ngưỡng mộ, nhất là đối với Ông Tây. Từ ngày ông cùng cô gái Ba Lan nhảy lầu từ tầng ba ký túc xá tự tử để bảo vệ tình yêu, ông chẳng yêu ai nữa và luôn sống một mình. Cô người yêu chết, ông gãy một chân và bị bắt về nước như đã nói. Ông vẫn xinh đẹp, có thể nói là người đàn ông đẹp trai nhất bà từng gặp. Ông là thần tượng và linh hồn của cả bộ ba, nếu không kể bà. Dạo này bà đoán như các ông đang âm mưu chuyện gì đó. Ông Tươi Mát luôn cặp kè chiếc vi tính bé xíu mà ông bảo con trai cho. Không ngờ ông cựu cán bộ phường, cựu đảng viên gộc ấy giờ lại giỏi món internet. Ông lấy từ mạng xuống những bài báo nào đó, rồi cả ba cùng đọc và thậm thụt bàn tán. Tuần trước Ông Vàng bảo bà lên Hàng Bài mua hộ ba chiếc áo sơ mi màu đỏ có in hình sao vàng trước ngực, loại tây ba lô thường mặc. Bà lặng lẽ mua mà không hỏi để làm gì. Hai hôm sau, khoảng chín giờ đêm, bà thấy xe công an chở cả ba về quán. Hỏi thì nói vì tham gia biểu tình chống Trung Quốc gây hấn ở Biển Đông bị bắt lên đồn. Công an tịch thu cả ba chiếc áo ấy, cảnh cáo lần sau không được biểu tình nữa. Họ vừa ra khỏi nhà, Ông Vàng bảo vợ mai mua ba chiếc nữa. Sáu cũng được, ông nói thêm.


- Vậy là ta ký? - Cuối cùng, ông Tây ngước lên, hỏi.


- Ký. - Ông Vàng và Ông Tươi Mát gật đầu.


- Lần này có vẻ gay đấy. Không khéo lại bị bắt.


- Có thể. Nhưng chúng ta không muốn thêm một người nữa bị bắt oan ức. Người ấy nói đúng điều ta nghĩ, đúng nguyện vọng của mọi người và không làm gì trái pháp luật.


- Ừ, bắt anh ta thật quá đáng. Lại còn cái phiên tòa vụng về kia nữa…


- Các ông định ký tên bản Kiến nghi trả tự do cho ông luật sư đòi dân chủ đấy à? - Bà chủ quán bỗng xen vào.


- Vâng. Sao bà biết? Bà không sợ lần nữa chúng tôi bị bỏ tù à?


- Sợ. - Bà đáp. - Nhưng việc phải làm thì cứ làm. Sợ cũng làm. Có gì, tôi thăm nuôi. Cho cả ba.


Rồi bà thong thả mang đến cho ba ông ba ly cà phê khác.


Hà Nội, 6.7.2011






10. THỬ THÁCH






Sư thầy Thích Trí Phạn mới được bổ về đây làm trụ trì chùa Thiếu Lâm, khi vị sư già tám mười tuổi trông coi nó gần hết cuộc đời mình viên tịch.


Chùa nhỏ, không mấy nổi tiếng, lại nằm chót vót trên đỉnh núi Mụa, phía dưới là con sông Cà Lân và một thung lũng rất rộng. Dẫu cảnh đẹp, lại thiêng nữa - nghe nói xưa đây là ngôi chùa riêng của một thương gia người Tàu nhờ xây nó mà làm ăn rất phát đạt, - nhưng hiếm khi có khách lễ cúng hay vãn cảnh chùa này, chủ yếu do người ta ngại leo cao.


Sư thầy còn trẻ, khoảng ba lăm, bốn mươi gì đó, với cái đầu tròn cân đối cạo trọc bóng loáng và khuôn mặt hiền hậu, da trắng pha chút bầu bĩnh như con gái. Cả cách đi lại, ăn nói của sư cũng nhẹ nhàng. Người ta có thể ngạc nhiên khi thấy bê n nửa vai trần dưới chiếc áo cà sa màu vàng của sư có hình xăm chiếc mỏ neo và một con rắn quấn quanh nó. Nhỏ thôi, mà cũng hơi mờ nên chắc không ai chú ý lâu. Mà nếu chú ý có lẽ cũng nghĩ nó là kết quả một trò chơi nghịch ngợm thời nhỏ.


Ngày đầu tiên đến chùa Thiếu Lâm, sư thầy Thích Trí Phạn rất ngạc nhiên, thậm chí hơi bố rối, khi thấy trong chùa chỉ có duy nhất một người là ni-cô Đàm Liên, chưa đến ba mươi tuổi và xinh đẹp. Bộ quần áo màu nâu giản dị, chiếc đầu trọc và nét buồn buồn cố hữu của những người như cô không dấu được vẻ đẹp trời cho ấy. Tuy nhiên sư thầy vẫn giữ được vẻ măt bình thản thường ngày. Ở nhà Phật hơn mười năm, sư đã gạt khỏi tâm trí và thể xác mình mọi vướng víu của đời tục.


Vậy là hai người đàn ông và đàn bà còn trẻ, hai người con của Phật, sống tách biệt trong ngôi cùa nhỏ trên núi. Mọi việc diễn ra bình thường. Sư thầy trụ trì suốt ngày đọc sách, tụng kinh niệm Phật, thi thoảng ra ngoài tưới nước cho mấy bui hoa quanh chùa. Cô gái trẻ xuất gia nhập thiền lo chăm sóc mấy luống rau và phần việc ăn uống của hai người. Họ hầu như không nói chuyện với nhau, trừ những lúc thật cần thiết. Nhìn thẳng vào mặt nhau cũng không. Âm thanh duy nhất nghe thấy ở đây là tiếng gió thổi xạc xào trong tán cây, tiếng chim hót và tiếng mõ tụng kinh đều đều.


*


Một sáng nọ người ta phát hiện thấy xác hai người dưới chân núi Mụa, thân thể bị dập nát do rơi hoặc nhảy từ trên đỉnh núi xuống. Đó là sư thầy Thích Trí Phạn và ni-cô Đàm Liên.


Đến trưa thì Đại Đức Thích Tuệ Nhỡn nghe tin liền đến. Ngài là vị chức sắc cao nhất trong vùng, từ ngôi chùa cổ Pháp Tâm ngoài thị trấn. Với nét mặt gần như vô cảm, ngài lặng lẽ đọc mấy chữ nắn nót ghi lại trên tờ giấy trắng được xé từ một cuốn vở: “Chúng con xin đền tội bằng cái chết của mình vì đã làm ô uế nơi cửa Phật”. Sau đó, ngài cho khâm lượm thi thể hai người và đưa ra một quyết định khó khăn có thể sau này ngài sẽ bị quở trách là chôn họ trong khuôn viên chùa Thiếu Lâm.


“Tội nghiêp!”, ngài thốt thành tiếng khi còn lại một mình trong phòng. “Họ đã không vượt qua được thử thách của Phật”.


Ngài nói Phật nhưng hàm ý cả chính mình, vì hơn ai hết, ngài biết sư thầy Thích Trí Phạn vốn xưa là một tay giang hồ, thủ lĩnh giang hồ, các bãi vàng trên miền sơn cước, còn ni-cô Đàm Liên từng là hoa khôi, sinh viên năm cuối một học viện Tài chính ở Sài Gòn, do thất tình mà xuống tóc đi tu.


Hà Nội, 11.7. 2011






11. VÔ CẢM






Hôm nọ, chuyện gẫu với nhau, có ông bạn già chợt bảo tôi:


“Cái truyện ‘Đoạn dây thừng’ của ông được đấy. Ông lão nhân vật bảo bà hàng xén muốn mua một đoạn dây thừng để thắt cổ mà bà ta chẳng mảy may xúc động…”


“Còn khuyên nước sông Hồng đang lên, ra cầu Chương Dương tự tử chẳng tốt hơn ư?” tôi đáp.


“Vô cảm đến thế là cùng! Chuyện thật à?”


“Không. Tôi phịa. Như một lời cảnh báo về cái nguy cơ vô cảm của người đời ông vừa nói. Hy vọng trong cuộc sống thực không bao giờ có chuyện như thế…”


“Có, có đấy!” Kinh khủng nữa là khác!”


Ông bạn già vội nói như chạm đúng chỗ ngứa. Rồi ông kể tôi nghe một câu chuyện “rùng rợn” ông vừa chứng kiến.


Số là cách đây không lâu ông có việc về Phú Thọ quê ông. Một tối ông ra quán rượu bên sông Thao. Quán nằm ngay trên bờ dốc, sâu phía dưới là dòng nước chảy xiết vì đang là mùa lũ. Cạnh đấy có chiếc cầu xi măng mới xây, loại cầu nhỏ liên tỉnh nhưng khá cao. Bà chủ quán cho biết từ khi xây cầu đến nay chưa đầy một năm đã có mười người tự tử ở đây, cả người lân cận lẫn người từ xa, phần nhiều do thua đề, vỡ hụi. Thanh niên thất tình cũng có, nhưng ít thôi. Ngẫu nhiên đúng tối đó lại có một vụ nữa xẩy ra. Lúc ấy khoảng chín giờ, trời tối và se lạnh. Bỗng nghe “ùm” một tiếng từ phía cầu. “Lại thêm một người nữa chết!” bà chủ quán chép miệng. Trong quán có ba người đàn ông đang uống rượu. Nghe thế, một ông nói: “Dạo này lắm người muốn chết thế!” Ông thứ hai: “Thì để chúng chết, can gì đến bác. Uống đi!” Lát sau, ông thứ ba hỏi, một cách thật thà và thản nhiên: “Giờ chắc chìm rồi nhỉ?”


“Ông nghe rõ đấy chứ?”, ông bạn già nói như quát vào tôi. “Giờ chắc chìm rồi nhỉ? Cứ như khúc gỗ hay cái bọc giẻ không bằng. Ông có thấy kinh khủng không?”


“Kinh khủng”.


“Và thay cho việc thản nhiên hỏi một câu kinh khủng như thế, họ có thể kêu cứu, nếu không tự mình nhảy xuống cứu. Một mạng người chứ đâu phải chuyện nhỏ”.


“Đúng thế, tôi đáp, rồi ngước lên nhìn bạn, khẽ hỏi: “Còn ông? Sao ông không làm điều ông vừa nói?”


Ông bạn già đớ người một chốc, không biết đáp thế nào.


“Tôi không biết bơi.”


“Có thể ba ông kia cũng không biết bơi thì sao?”


“Có thể. Vả lại tôi già rồi.”


“Già đến mức không kêu cứu được?”


Thay cho lời đáp, ông bạn tôi hỏi, vẻ tức giận:


“Ông lên án tôi đấy à?”


“Không. Tôi chỉ muốn nói cái vô cảm ấy có cả trong ông. Cả trong tôi nữa. Ông không kêu mọi người đến cứu con người xấu số đó. Còn tôi, tôi kể chuyện đoạn dây thừng ấy như kể bao nhiêu chuyện khác trong cuộc đời viết văn của tôi. Một cách thản nhiên và, có thể nói, cũng “vô cảm” như ông vừa nói ông không biết bơi”.


Hà Nội, 12.7.2011






12. MA ÁM






Đêm trời tối. Lại lất phất mưa phùn. Thằng bé vừa đi vừa khóc. Gió táp mưa lên mặt nó, chảy thành dòng vào mắt và miệng. Nó đi chầm chậm, lưng cúi thấp vì nghĩ thế sẽ đỡ lạnh và quan trọng hơn là giữ cho chiếc bọc nó đang ôm khỏi ướt. Trong bọc có năm con mèo con mà nó bị bắt phải đem đi vứt xuống sông Cà Lờ. Những chú mèo bé nhỏ tội nghiệp mà nó rất yêu.


Năm ấy mất mùa. Cả nhà đói. Lại đúng lúc con Mướp đẻ, mà những năm con chứ không phải ba như thông thường trước đó. Đến người còn không có cái ăn, nói gì mèo, nên suốt ngày nghe chúng kêu khóc thật tội. Con Mướp tốt giống, đẹp mã mỗi năm đẻ ba bốn lần và thường chưa đầy tháng đã có người đến mua hết, thành ra gia đình cũng có chút thu nhập. Giờ cho không không ai lấy.


Được một tuần thì ông bố, một người hiền lanh nhưng rất nghiêm khắc và cương quyết, bắt nó phải làm cái việc nhẫn tâm này. Nó chứ không phải hai đứa em gái ngu ngốc và hay khóc. Mẹ nó chết mấy năm trước vì bệnh uốn ván. Lý do là đêm trước con Mướp đã ăn vụng mấy củ khoai luộc để dành cho cả nhà ngày hôm sau. Thằng bé không tin điều ấy vì đêm nào nó cũng ôm mấy con mèo con nằm ngủ và không hề thấy mẹ chúng mang chút thức ăn nào về. Nó biết nhưng không dám cãi, và đành lủi thủi ôm bọc mèo ra sông. Đến nơi, nó hồi lâu hôn hít từng con rồi vừa khóc vừa thả chúng xuống dòng nước đen ngòm phía dưới. Nó giận bố độc ác, gần như xem là kẻ thù. Trong đầu óc non nớt của nó thậm chí còn lởn vởn ý nghĩ giết bố. Nhưng vốn nhút nhát và sợ bố, nó lặng lẽ chui vào ngủ trong ổ rơm, đêm nay không còn cái cảm giác ấm áp của lũ mèo trong vòng tay.


Đến bữa ăn trưa, bố nó hồ hởi khoe vừa được ông bạn làng bên trả công cày thuê bằng nửa cân thịt thỏ.


“Ngon lắm, các con ăn đi!”, ông nói, còn mình thì cầm đũa nhìn ba đứa trẻ háo hức chúi đầu vào nồi thịt và ăn ngấu nghiến. Đôi mắt ông ươn ướt.


Bỗng con Út, tám tuổi, ngừng ăn nói:


“Con biết đây không phải thịt thỏ mà thịt mèo. Từ sáng đến giờ con không thấy con Mướp đâu cả!”


“Phải thế không bố?” thằng bé nhìn thẳng vào mắt bố, hỏi.


Bố nó không đáp, chỉ cúi đầu buồn bã.


Thế là thằng bé bỏ bắt đũa xuống mâm, ù chạy khỏi nhà và không bao giờ quay lại.


*


Thằng bé ấy bây giờ là một ông già. Ông vừa kể xong câu chuyện buồn của mình và đang ngồi trước mặt tôi.


“Thực ra mười năm sau tôi quay lại. Lúc này bố tôi đã chết, chủ yếu vì tôi, một đứa con hư, đã nỡ đối xử với ông như vậy. Lúc đầu tôi vào Vinh, sau sợ người ta nhìn thấy nên bỏ ra Hà Nội, kiếm sống bằng đủ mọi cách lương thiện và không lương thiện. Tôi từng bị ngồi tù hai lần vì tội ăn cắp. Giờ tay không vẫn hoàn tay không. Không cả gia đình, con cái. Nghĩa là tôi cũng giết cả chính mình chứ không riêng bố. Tất cả chỉ vì mấy con mèo ấy…”


Ông ngồi im hồi lâu rồi chợt ngước lên hỏi tôi:


“Bác đã bao giờ đem con mình vứt xuống sông chưa, hay thậm chí ăn thịt nó?”


“Chưa, tất nhiên. Sao bác có thể hỏi một câu như vậy?”


“Để bác hình dung lúc ấy tôi đau đớn và giận bố tôi thế nào. Ông là người tốt, rất thương yêu chúng tôi, nhưng tôi không thể làm khác. Tại đầu óc tôi quá nhạy cảm. Cả ngu dốt nữa. Cứ như bị ma ám ấy!”


Chia tay ông, tôi bâng khuâng nhìn theo. Và thay cho hình bóng một ông già nhỏ bé, gầy khô, lưng còng, tôi nhìn thấy một đứa bé đang vừa khóc vừa lầm lũi bước đi giữa đêm trời tối, mưa lất phất, tay ôm chiếc bọc vải với năm con mèo con mà nó phải vứt xuống sông Cà Lờ. Những con mèo tội nghiệp nó rất yêu, nhưng vô tình đã làm hỏng cả cuộc đời nó.


Hà Nội, 13. 7. 2011






13. ĐỨA CON TRAI






Thời bao cấp đói khổ nhiều cặp vợ chồng trẻ không dám sinh con thứ hai. Nay về già sống một mình, họ lấy làm ân hận. Không đơn thuần về mắt tình cảm hoặc kinh tế, mà còn có cái gì đấy lớn hơn thế.


Ông Bàn là một trường hợp tương tự. Thời ấy, vợ không đi làm, là công chức quèn lương tháng không mua nổi vài yến gạo, nên khi nghe vợ bảo có thai, ông hốt hoảng thật sự. “Nhà mình đã có một đứa, không biết có nuôi nấng, học hành tử tế được không, bây giờ có đứa nữa biết làm sao?” Đêm ấy ông tâm sự với vợ.


Trong nhà, ông luôn là người quyết định mọi chuyện. Không do gia trưởng hay là người duy nhất kiếm tiền, mà vì ông chỉn chu, thông minh và biết lo toan. Thành ra, dẫu ông không gợi ý trực tiếp, mấy ngày sau bà vợ nhờ ông đèo đến bệnh viện phá cái thai ấy, với hy vọng sau cuộc sống tốt hơn sẽ tính. Tuy nhiên, phải mất hai mươi năm cái cuộc sống tốt hơn ấy mới đến, khi đã quá muộn để nghĩ đến đứa con thứ hai.


“Đó là một thằng con trai, bà nói, giữ được thì hay quá. Nhà có nếp, có tẻ”.


“Sao bà biết là con trai?”


“Là mẹ, tôi phải biết. Ông không thích con trai à?”


“Thích. Nhiều đêm còn mơ thấy nó.”


“Thế à? Tôi cũng vậy.”


Họ tránh không nói lâu đề tài này nên chuyển sang chuyện khác, chuyện cô con gái lấy chồng tận Sài Gòn không chịu đưa con về thăm ông bà đã đành, còn hiếm khi gọi điện cho cho họ.


“Con gái là con người ta…” bà chép miệng rồi bỏ đi, chắc tìm gặp mấy bà hàng xóm cùng cảnh ngộ để chuyện gẫu và than vãn.


Lúc ấy đã xế chiều. Qua cánh cửa để mở, những tia nắng muộn rực rỡ chiếu chếch lên chiếc ghế xếp bằng gỗ ông đang nằm. Như nhiều ông già to béo khác, ông lười hoạt động. Cả suy nghĩ cũng lười nốt. Dạo này ông thấy người sụp hẳn. Có cái gì đấy như đang vỡ ra bên trong. Không lẽ cái chết? Chắc không, vì ông còn trẻ và mạnh khỏe, ít ra bề ngoài. Vậy thì là cái gì? Ông tự hỏi, dù từ lâu đã biết câu trả lời. Đó là sự dằn vặt đau đớn rằng ông, chính ông đã không cho đứa con của mình ra đời, con trai. Ông đã giết nó từ khi còn trong bụng mẹ. Dẫu chua xót, nhưng ông phải thừa nhận điều đó. Thời trẻ người ta xem nạo, phá thai là chuyện bình thường, nhưng về già, cô đơn và đau ốm, chuyện này được nhìn nhận dưới một góc độ khác hẳn, cực đoan và ảm đạm hơn. Dạo này ông hay mất ngủ vì những trăn trở ấy. Thực ra ông chưa bao giờ mơ thấy con. Đêm đêm, mắt mở to trừng trừng nhìn vào bóng tối, ông nhìn thấy con ông, một chàng trai cao lớn mặc bộ quần áo đỏ rực đến đứng bên cạnh. Chỉ lặng im đứng nhìn ông với đôi mắt buồn buồn. Cảm giác như thật, khiến ông nhiều lần ngồi bật dậy, với tay định chạm vào con, nhưng lần nào con ông cũng nhanh chóng biến mất. Sao lúc nào nó cũng mặc quần áo màu đỏ? Máu! Màu của máu! Máu con mình! Máu mình…Ông lấy hai tay ôm mặt để khỏi nhìn thấy cái màu đỏ kinh khủng ấy.


Hình như mặt trời đã lặn. Bà vợ vẫn chưa về. Đang lúc ông Bàn nhỏm dậy cho đỡ mỏi và cũng để nhâm nhi chéỉntà nguội thì có ai đấy từ ngoài bước vào. Ngước lên, ông sững sờ thấy đang đứng trước mặt mình là một thanh niên mặc quần áo màu đỏ, khuôn mặt và thậm chí cả mái tóc cũng đỏ. Sau phút ngỡ ngàng ban đầu, ông bước lại gần, đưa hai tay ôm người anh, khẽ hỏi:


“Con đấy à?”


Chàng trai gật đầu, vẻ mặt bất động và rất buồn.


Ông Bàn ngạc nhiên khi thấy anh không biến mất như mọi lần. Hơn thế, lần này không phải tưởng tượng mà thật. Cái thật ấy ông cảm thấy qua làn vải màu đỏ lành lạnh, ẩm ướt, qua sự hiện diện bằng xương bằng thịt của con ông.


“Bố xin lỗi…” Ông lí nhí nói rồi âu yếm đưa bàn tay phải chạm vào mái tóc và khuôn mặt màu đỏ của con. Lạnh và ướt. Ông có cảm giác như cả người con ông được làm bằng sáp chưa khô hẳn.


Chàng trai vẫn không nói gì, lặng lẽ đón nhận sự âu yếm của bố.


“Con tha lối cho bố mẹ chứ?” Ông Bàn ngước nhìn con với vẻ cầu khẩn.


Vẫn với nét mặt buồn buồn, chàng trai khẽ gật đầu rồi đặt một bàn tay lên vai ông. Nhẹ lắm, hầu như không trọng lượng, thế mà ông choáng váng, suýt ngã khuỵu dưới sức nặng của nó. Khi ông định thần lạ thì chàng trai đã biến mất từ bao giờ.


Đúng lúc ấy, bà vợ ông về.


“Sao ông đứng như trời trồng giữa nhà vậy?” bà hỏi. “Nhìn kìa, đôi tay ông…”


Ông Bàn giơ hai tay trước mặt. Chúng dính đầy máu.


Hà Nội, 21. 7. 2011






14. MẶT NẠ






Nhà đông người, nhưng không ồn ĩ, vì người ta đang tập trung trước giờ hấp hối của một trong những người thân của họ. Hơn thế, người hấp hối lại danh giá, nổi bất nhất và là niềm tự hào xưa nay của cả dòng họ. Một ông quan. Quan xưa đã ghê gớm, quan cách mạng bây giờ còn ghê gớm hơn.


Với nét mặt đau buồn hoặc cố gượng đau buồn, người ta khe khẽ trao đổi với nhau đôi câu thường thấy trong những trường hợp thế này. Những lời hỏi thăm, an ủi chiếu lệ. Những cái chép miệng, thậm chí cả những giọt nước mắt.


Bà vợ và cô con gái đã lớn của người hấp hối luôn đi lại trong căn phòng chật cứng, mời nước, mời thuốc và thi thoảng nói đôi lời, cũng rất chiếu lệ.


Người hấp hối nằm ở phòng bên, trên chiếc giường rộng trải vải trắng toát. Trong phòng không có ai vì bác sĩ yêu cầu để ông được yên tĩnh, dẫu chỉ một chốc.


Đó là một người đàn ông da ngăm đen, khá gầy nếu xét qua đôi tay và đôi chân trần lộ ra dưới lớp vải. Nhưng nếu nhìn mặt thì đó là một người có khuôn mặt đầy đặn, hồng hào, có thể nói rất ưa nhìn, dẫu ít nhiều xa lạ. Nhìn nó, người ta chẳng biết nó đang khen hay chê mình, đang cười, dửng dưng hay thậm chí đang khóc. Thành ra, khuôn mặt đầy đặn có vẻ cởi mở ấy rốt cục vẫn kín mít và vô cảm. Ông còn trẻ, chưa đến sáu mươi nhưng đã là một cán bộ cấp cao, rất cao, và chắc chắn sẽ còn lên cao nữa nếu không bị căn bệnh ung thư quái ác này cản đường.


Khuôn mặt mở mà kín đáo, thân thiện mà vô cảm ấy của ông giữ vai trò quyets định trên con đường thăng tiến.


Ở phòng ngoài, bà mẹ bảo cô con gái:


“Con vào với bố đi. Đừng để bố một mình”.


Cô gái, một sinh viên năm cuối trường Ngoại Giao, lẳng lặng làm theo lời mẹ. Vừa mở cửa, cô chợt nghe có tiếng gì đấy rơi, kêu đánh keng giữa sàn nhà đá cẩm thạch. Trên giường, người hấp hối nằm đầu ngoẹo sang một bên. Cái vật rơi ấy chắc từ người ông. Cô vội chạy lại và thấy bố đã chết. Đúng lúc định kêu lên gọi mẹ thì cô phát hiện thấy một điều rất khác thường.


Đó là khuôn mặt bố cô. Nó không còn hồng hào, dễ mến và đầy đặn như vốn có. Thay vào đó là một khuôn mặt xa lạ, xấu, gian hiểm, gầy và đen xạm như đôi chân và tay. Cô ngạc nhiên không tin vào mắt mình, đến mức không biết phải làm gì. Bất chợt cô nhìn xuống sàn nhà và thấy cái gì đấy mỏng, bằng kim loại. Mặt nạ! Chiếc mặt nạ bố cô vẫn đeo suốt đời mình. Có lẽ giờ chết không cần nữa, nó mới rơi xuống. Cô cúi xuống cầm nó trên tay, không phải không thoáng lo sợ và ghê tởm.


Lưỡng lự một chốc, cô sửa đầu bố nằm thẳng rồi vội vàng đặt nó lên mặt ông. Khuôn mặt ông lại ửng hồng, cởi mở và đôn hậu. Nó nhìn cô với vẻ hài lòng.


Trong tiếng khóc thút thít, tiếng chia buồn và tiếng những bước chân cuống quít, người ta liệm người chết vào quan tài. Tiếp đến là dòng người xếp hàng để nói lời vĩnh biệt, bày tỏ lòng thương xót và kính trọng với chiếc mặt nạ nằm sau ô kính nhỏ.


Hà Nội, 18.7.1011






15. HOA SEN BỒ TÁT






Họ hay gặp nhau ở hồ Kim Đài, trong hồ có nhiều bèo tây và sen. Có thể vì thế mà mỗi lần nhớ cô, anh hay nghĩ về hoa sen, đặc biệt những bông hồng hồng sắp nở. Cũng có thể vì đôi má cô có màu hồng như thế. Cả cặp vú non, nhòn nhọn dưới lớp vải lụa mỏng cũng gợi anh nghĩ đến một cái gì đấy đẹp, tinh khiết và thơm. Cái ấy chỉ có thể là hoa sen.


Chuyện xẩy ra đã lâu. Cô là cô gái quê lên thủ đô học đại học. Anh là con nhà danh giá, giàu có mười đời sinh sống ở đất này. Rồi họ yêu nhau, như phần nhiều những cặp trai gái khác yêu nhau - không quá hời hợt mà cũng chẳng mấy say đắm, nhưng chân thành.


Một tối nọ, ngồi trên chiếc ghế đá ven hồ thưởng thức làn gió mát từ phía sông Hồng thổi tới và hương sen dìu dịu từ hồ bay lên, cô bảo anh cô đã có thai.


Vốn được quá nuông chiều cả từ phía gia đình lẫn bè bạn, anh có cảm giác như mình bị xúc phạm khi phải rơi vào một tình huống thụ động và đột ngột như vậy. Giữa lúc lúng túng không biết nói gì, làm gì, anh đã buột miệng thốt ra một câu ngu ngốc mà vì nó ân hận cả đời:


“Thế à? Em có chắc là con anh không?”


Cô nhìn anh, đôi mắt mở to đầy kinh ngạc và đau đớn, rồi ù bỏ chạy. Còn anh, như bị trói vào ghế, vẫn ngồi yên, ngồi đến tận sáng hôm sau. Khi anh đến ký túc xá tìm người yêu với ý định xin lỗi và nhanh chóng tổ chức lễ cưới, người ta nói cô đã xin thôi học, bỏ đi đâu không rõ. Từ bấy đến nay hai mươi lăm năm đã trôi qua, và anh chưa gặp lại cô lần nào.


Hồ Kim Đài ngày nay không còn như xưa. Nhỏ hơn nhiều, có đường đi lát đá bao quanh. Chính giữa hồ không hiểu sao người ta dựng chiếc lầu nhỏ tám mái bằng ngói sành màu xanh thẫm. Trong lầu, cao trên bệ đá hoa cương là tượng Quan Âm Bồ Tát tọa trên đài sen màu trắng. Dưới hồ sen vẫn nở, nhưng toàn màu hồng.


Anh, bây giờ đã là một người đàn ông tóc hoa râm, vẫn thỉnh thoảng ra ngồi bên hồ. Ngồi đúng chỗ ngày xưa, nơi anh và cô gái của anh đã ngồi vào cái đêm cuối cùng định mệnh ấy, dẫu bây giờ chiếc ghế đá không còn. Ông sống một mình không vợ con, gia tài bố mẹ để lại tiêu tán hết vào những chuyến đi dài ngày tìm kiếm người yêu. Ông đã thật sự hối hận và đau khổ vì câu nói ngớ ngẩn, không suy nghĩ đó. Lo lắng cho số phận cô gái, và cả đứa con của mình, ông tìm kiếm họ khắp nơi nhưng không thấy.


Mười giờ đêm. Đèn chiếu sáng quanh hồ phụt tắt do đang trong tháng tiết kiệm điện. Dây đèn trang trí màu đỏ trong lầu vẫn sáng, không hiểu từ nguồn nào. Cả bức tượng và đài sen có màu hồng nhạt như những bông sen dưới hồ ban ngày. Ông vẫn ngồi yên, nghĩ về màu hồng đôi má và cả đôi vú nhỏ, nhọn của người yêu năm nào. Hình như đã khuya. Chỉ còn lại một đôi bạn trẻ ngồi bên chiếc ghế cách đấy không xa. Bất giác ông thở dài, thầm mong họ không lặp lại bi kịch của ông.


“Anh xin lỗi. Xin mẹ con em hãy tha thứ cho anh”.


Ông nói với bức tượng Quan Âm Bồ Tát trên đài sen màu hồng giữa hồ. Nếu có thể, ông đã lội nước đến quỳ trước nó mà nói. Rồi ông thành kính chắp tay trước ngực:


“Xin Bồ Tát lòng lành giúp con!... Hãy ban ơn giúp con!...”


Bất chợt, bức tượng Bồ Tát động đậy. Ngài từ từ bước lại, đặt ông lên bàn tay của mình rồi bay đi.


*


Sáng hôm sau, ông tỉnh dậy gần một ngôi chùa lạ.


Trước mắt ông là một ni-cô trẻ, mặc bộ quần áo nhà chùa màu nâu còn mới. Không hỏi, không mời, cô gái lặng lẽ đưa ông vào chùa.


Chùa ở lưng chừng núi, lọt thỏm giữa những tán cây xanh. Phía dưới lác đác mấy ngôi nhà tồi tàn được dựng theo kiểu rất lạ ông chưa thấy bao giờ. Điều này khiến ông nghĩ ông đang ở một nơi nào đấy rất xa. Trước chùa có chiếc bể lớn bằng xi măng giả làm ao, lơ thơ mấy bông sen đang nở như ở hồ Kim Đài. Bất giác nhìn xuống nước, ông thấy mình với khuôn mặt phờ phạc ốm yếu, mái tóc xù, cái lưng gù gù dẫu chưa già và bộ quần áo nhàu nát.


Trụ trì là một sư thầy trạc tuổi ông nhưng trông trẻ hơn nhiều. Bà có khuôn mặt đẹp, đôn hậu đến mức thánh thiện nhưng vô cảm. Bà hồi lâu nhìn ông cũng với vẻ lạnh lùng, vô cảm ấy. Ông không lấy thế làm buồn vì biết người tu hành thường có vẻ ngoài như vậy, dù họ tốt bụng.


Thay cho câu cảm ơn bình thường, ông nhắc lại hai tiếng “mô phật” của sư thầy khi bà mang tới đĩa khoai luộc và bát nước. Bà lặng lẽ nhìn ông ăn. Nhìn ông còn có một người nữa, đó là Bồ Tát. Ngài đang ngự trên một đài sen bằng đá cẩm thạch màu trắng như ở hồ Kim Đài, ngay gần ông nhưng chắc mải ăn nên ông không nhìn thấy. Ông cũng không nhận thấy khuôn mặt thánh thiện của sư thầy trụ trì có màu hồng hồng trông giống một bông chưa nở. Bông sen Bồ Tát.


Ăn xong, ông tựa lưng vào chiếc tràng kỷ gỗ rồi thiếp lúc nào không biết.


Lát sau, cô gái bước vào:


“Ông ấy đâu rồi mẹ?”


“Bồ Tát đưa ông ấy về rồi”, sư thầy trụ trì đáp.


“Trông ông ấy tội nghiệp quá”.


“Ừ, tội nghiệp. Bố con đấy”.


Hồi lâu, cô gái mới lên tiếng, giọng bình thản.:


“Sao mẹ không giữ ông ấy lại?”


“Chưa phải lúc. Vì bố con không thấy mẹ đã khóc. Bố con chưa đau khổ đến mức có thế thấy người khác khóc mà không cần nước mắt hay thay đổi nét mặt”.


Hà Nội, 25. 7. 2011





16. CHUYỆN LÀNG VÀ NGƯỜI LÀNG






Hồi cải cách ruộng đất năm 1956 tôi còn nhỏ, nhưng cũng đủ lớn để chứng kiến khá nhiều chuyện xẩy ra trong làng. Mãi đến giờ tôi vẫn không sao quên nổi cái không khí điên khùng, kỳ cục những ngày ấy. Cả làng như đang trong cơn lên đồng tập thể. Đêm nào cũng họp hành và đấu tố. Hàng xóm đấu hàng xóm, thằng ở đấu ông chủ, có cả trường hợp anh em đấu nhau hay thậm chí con cái đấu cha mẹ. Toàn những mày tao chi tớ, nhổ nước bọt, chỉ tay dí mặt trông mà khiếp. Ban ngày thì cả làng kéo nhau đi xem xử bắn bọn “gián điệp” và “cường hào gian ác”. Làng mình không hoặc chưa có thì xem ở làng khác.


Nổi bật nhất là lễ rước “quả thực”, tức là lễ rước khắp làng những của cải, đồ đạc tịch thu của địa chủ trước khi chia cho dân làng. Vui lắm, thích lắm. Nhưng địa chủ thì ít, lại chủ yếu thuộc diện qui chụp theo chỉ tiêu trên giao xuống, nên cũng chẳng có nhiều để chia. Thế mà ai cũng hỉ hả ra mặt. Tự dưng không đâu người ta cho mình cái này cái nọ, hỏi làm sao không vui? Nhà tôi thuộc diện bần cố nông nên cũng được một cái chum và nửa con trâu, chung với ông bác. Bố mẹ tôi cũng hỉ hả lắm, dù tôi biết hai cụ chưa bao giờ phải đi ở hay làm thuê cuốc mướn cho tên địa chủ nào. Qua vụ này, tôi đâm ra ghét mấy ông bà nông dân tham lam, tráo trở.


Chỉ đạo toàn bộ cuộc lên đồng tập thể kéo dài cả tháng ấy là hai ông Đội, một từ Vinh, một từ tận trung ương về. Ông trung ương là người làng, có tên Hoạt, nghe nói ông tự xung phong, chứ cỡ ông không ai xuống cấp xã. Ông này trạc ba mươi lăm, bốn mươi tuổi, người vạm vỡ, ít nói và có thói quen chốc chốc lại ngúc ngắc đầu như đang cố xua một con ruồi vô hình.


Để nêu gương cách mạng, ông chọn ở nhà lão Thọt theo phương châm ba cùng, là cùng ăn, cùng ở và cùng làm việc, mặc dù ông chỉ về ngủ vào lúc đêm khuya, trên cái giường duy nhất trong nhà. Lão Thọt thì ngủ trong ổ rơm dưới bếp, thường có tôi ngủ cùng vì lão có cả một kho truyện ma để kể. Bù lại, ban ngày tôi nhổ tóc bạc và bắt rận cho lão. Không hiểu sao người ta gọi Thọt khi lão đi đứng bình thường như mọi người. Lão còn khỏe mạnh dù đã hơn sáu mươi, trước từng đi lính sang Dijon bên Pháp. Nhưng lão mù, mà cũng mới đây thôi, sau một lần đau mắt và được ông thầy lang làng bên chữa bằng cách đắp hai con nhái đã nướng chín lên mắt.


Mấy ngày sau khi Đội về, đêm nằm lão bảo tôi:


“Chúng nó bắt đầu ăn thịt nhau đấy mày ạ?”


“Sao phải ăn thịt nhau?” tôi hỏi.


“Rồi mày xem. Bọn này chẳng hay ho gì đâu”.


“Bọn nào ạ?”


“Bọn Đội. Bọn chó chết. Nhất là thằng Lan”.


Lan là tên anh Đội thứ hai. Hắn còn trẻ nhưng rất hống hách, chuyên xúi người ta đấu nhau, và là thằng đầu têu đánh dã man những người bị qui oan. Đã thế hắn còn tham ăn và háu gái. Người ta thấy hắn bắt gà vịt và sờ mông, bóp vú đàn bà giữa ban ngày ban mặt mà chẳng ai dám nói gì. So với hắn, ông Hoạt còn tử tế hơn nhiều, dẫu vì ông khối người phải khốn khổ.


Một tối nọ cô Bích, cháu đằng ngoại của lão Thọt, tấm tức chạy đến bảo lão cô bị hắn đè ra hiếp, dọa nếu không chịu, cả nhà cô sẽ bị qui địa chủ, tức là bị xử bắn. Lão Thọt nghe không nói một lời nào. Đêm ấy tôi nghe lão nghiến răng kèn kẹt mãi. Tối hôm sau, lúc ấy đã khuya, lão chui vào ổ rơm, ôm chặt tôi rồi thì thầm:


“Tao giết hắn rồi!”


“Giết ai?” tôi ngạc nhiên hỏi.


“Thằng chó chết ấy chứ còn ai nữa. Chém một phát đứt ngang cuống họng. Ngoài đíếm canh”.


“Nhưng bác mù…”


“Mù ít thôi. Tao giả vờ đấy. Cấm mà bép xép với ai đấy nhé! Tao giết!”


Khỏi phải nói cả làng bị một phen điêu đứng thế nào. Người ta khám từng nhà, tra khảo từng người. Có hẳn một đoàn công an từ huyện về mà cuối cùng vẫn không tìm ra thủ phạm giết thằng Lan. Tất nhiên không ai nghi ngờ lão Thọt, vì lão mù.


Dần dần mọi chuyện cũng lắng xuống. Tiếp đến là sửa sai và làng lại đi vào nếp cũ. Ông Hoạt quay ra Hà Nội với công việc xưa nay của mình trong ngành an ninh. Ông thăng quan tiến chức nhanh chóng và chẳng bao lâu trở thành người danh giá nhất làng, đặc biệt khi ông về thăm quê bằng ô tô con, chiếc đài bé xíu đeo bên hông. Ở thủ đô, lần nào gặp mặt đồng hương xã nhân năm mới ông cũng có mặt, và đương nhiên ngồi ở chỗ nổi bật nhất, được trọng vọng nhất. Tôi cũng nhiều lần bắt tay, nói chuyện với ông, dẫu không mấy thân mật vì chênh lệch tuổi tác và nghề nghiệp. Tôi tặng ông một vài cuốn sách tôi viết, và ngạc nhiên khi biết ông đọc chúng. Thậm chí đọc kỹ, có lần còn gọi điện nhận xét. Hình như ông thích tôi, tôi không biết vì sao, nhưng có cảm giác như thế. Một lần vui miệng, ông nói ông đã cứu tôi khỏi bị công an bắt.


“Ngày mới về nước, cậu viết mấy bài thơ ủy mị, kêu khổ. Chúng nó đưa vào sổ đen, định bắt nhưng tớ đỡ cho, bảo người cùng làng và thằng ấy tốt nên mới thôi”.


Tôi cảm ơn ông và chẳng biết nói gì thêm. Tôi có biết mình bị theo dõi, nhưng bị bắt và đi tù như một số văn nghệ sỹ lúc ấy thì quả thật không ngờ tới. Mà rồi tôi chỉ mới tập tạnh vào nghề chứ đâu đã thành danh như bây giờ.


Một hôm, cách đây khoảng ba năm, ông gọi điện cho tôi và nói, giọng quan trọng:


“Cậu đến ngay nhà tớ, có việc muốn nhờ!”


Đến nơi, tôi ngạc nhiên thấy ông đang đứng chờ trước cổng nhà, mặc bộ quân phục đại lễ, huân huy chương đầy ngực. Ông vội chui vào xe và nói như ra lệnh:


“Lên Chèm! Khoan hẵng hỏi. Tớ sẽ chỉ đường.” Ông vẫn chưa quên cái giọng nói chuyện với cấp dưới khi ở cơ quan, dù đã về hưu gần hai chục năm nay, và tôi là người làng ông đang nhờ giúp đỡ.


Tôi lặng lẽ làm theo, tò mò muốn biết chuyện gì đang xẩy ra.


Cuối cùng, ông bảo tôi dừng xe bên sông Hồng, cách đền Ông Trọng không xa. Lúc ấy đã sáu giờ và mặt trời đang tắt dần ở phía Tây. Tôi bước theo ông đi xuống mép sông, vẫn hoàn toàn chưa biết ông định làm gì. Ở tuổi tám mươi, trông ông còn khỏe và cao lớn. Cái đầu vẫn thỉnh thoảng lắc lắc như xưa. Thế mà nghe nói như ông đang bệnh nặng.


Chỗ sông này nước xuáy, ăn lõm vào bờ khá sâu. Ông đứng lên tảng đá lớn sát bờ, ra hiệu tôi lại gần và nói, cũng bằng cái giọng ra lệnh lúc nãy:


“Hãy nhìn cho kỹ những gì tớ sắp làm…”


“Bác định làm gì?” tôi hỏi, không dấu nổi sự ngạc nhiên và sợ ông nhảy xuống sông tự tử.


“Cậu sẽ biết ngay đây. Tớ chỉ cần cậu như một người làm chứng”.


Rồi ông thong thả cởi từng chiếc huân, huy chương trên bộ quần áo đại lễ màu trắng, vứt mạnh xuống dòng nước chảy xiết. Khoảng dăm chiếc, và tôi chẳng biết đó là huân, huy chương gì.


“Xong. Ta về! Coi như cậu đã trả ơn tớ không cho công an bắt ngày nào.”


“Vì sao bác làm thế?” tôi hỏi khi đã ngồi trên xe.


“Vì tớ sắp chết”. Biết tôi đang ngạc nhiên, ông nói tiếp: “Mà trước khi chết ai cũng muốn lòng mình thanh thản”.


“Vâng, nhưng chuyện này liên quan gì đến mấy chiếc huân chương?”


“Tại chỗ nước xuáy kia, sau khi cướp chính quyền năm bốn lăm, tớ đã giết một lãnh tụ đảng Việt Quốc. Bắt cóc giữa đường, cho vào bao tải rồi ném úm xuống đó. Ban đêm, tất nhiên, và cùng hai đồng chí khác của Nha cảnh sát cách mạng”.


Tôi ngồi im, chẳng biết nói gì.


“Và người ta tặng huân chương cho tớ về việc ấy”, ông hạ giọng, vẻ chua chát.


Im lặng một lúc, tôi nói, cốt để an ủi ông:


“Cái thời nó thế thì phải thế. Vả lại, đấy là nhiệm vụ cách mạng giao.”


“Đành vậy, nhưng dẫu sao… Nếu là tớ, cậu có thể chết thảnh thơi được không?”


“Không”.


Khi xe về gần đến nhà, tôi hỏi:


“Sao bác không bảo con cháu làm cái việc bác nhờ tôi hôm nay?”


“Cái bọn hời hợt, hãnh tiến ấy, nhờ để chúng phá à? Chúng chỉ có một niềm tự hào duy nhất là con cháu cán bộ cách mạng lão thành”.


Một tháng sau ông chết ở bệnh viện K, suýt đươc an táng trong nghĩa trang Mai Dịch. Tất nhiên các đài, báo trung ương đều đưa tin, long trọng và cảm động.


Hà Nội, 29. 7. 2011






17. ĐÒ ƠI






Buổi chiều, trời thấp và nhiều mây. Mưa phùn bàng bạc, ẩm lạnh. Chiếc lò gạch giữa đồng giờ chỉ là một khối mờ mờ không rõ nét. Vùng này gần biển nên lắm sương mù, cả những ngày nơi khác trời quang mây tạnh.


Dòng sông Cấm cũng biến mất trong màn sương bàng bạc ấy, dù nó nằm đâu đó không xa trước mặt.


Tiếng gọi “đò ơi” chắc phải vất vả lắm mới vượt qua được khoảng cách từ người gọi đến người nghe.


Phía dưới làng Vĩnh Lợi khoảng cây số có bến đò Ngự. Bến đò có từ ngày xa xưa, thời chiến tranh rộ lên khá mạnh vì nhu cầu vận chuyển hàng và người ra tiền tuyến, thậm chí có cả chiếc phà con, giờ hết chiến tranh, nó trở lại như cũ, buồn buồn và ngái ngủ.


Chèo đò chở khách sang sông là cô Lành, con bà Thắm ở làng Mít bên kia sông, một cô gái ít nói, có nét mặt xạm nắng và khô ráp như chiếc đò của cô. Nhưng cô xinh, ít ra là ưa nhìn.


Anh giáo làng Trần Văn An cứ cách một ngày đi đò của cô một lần. Anh người làng Vĩnh Lợi và là giáo viên trường tiểu học ở đó, nhưng bà con bên ngoại lại ở làng Mít. Thực ra anh không có nhu cầu thăm viếng họ hàng nhiều đến thế. Anh đi đò là cốt được nhìn thấy cô Lành. Hình như anh mê cô từ lần đầu mới gặp, khi ngồi trên mép thuyền ngắm nhìn khuôn mặt trái xoan lấm tấm mồ hôi và các đường cong mềm mại trên cơ thể trẻ trung của cô. Vì dút dát và hay xấu hổ, anh không nhìn lên ngực cô, nhưng vẫn đoán biết đôi vú của cô cũng rất đẹp. Thậm chí anh còn hình dung chúng khi cô tắm.


Vì tính dút dát và hay xấu hổ ấy, ba tháng dài trôi qua mà anh giáo làng không dám, mà cũng không biết, bày tỏ tình cảm của mình thế nào. Tháng thứ tư thì người ta xây chiếc cầu xi măng bắc qua sông, và cô Lành hết việc. Tháng thứ năm cô lấy chồng, lấy một anh vừa đi lao động xuất khẩu bên Trung Đông về. Chính mắt anh nhìn thấy hôm cưới chú rể chở cô dâu về làng mình, cách làng Vĩnh Lợi hai làng nữa về phía Tây, trên chiếc xe Suziki đít vuông anh ta mới mua. Loại xe này trên thành phố người ta hay dùng để chở thịt lợn. Theo sau là rất nhiều xe máy của hai họ.


Vậy là cô Lành đi lấy chồng, bỏ lại đằng sau bến đò Ngự cùng chiếc thuyền không và một anh giáo làng đã buồn càng thêm buồn. Chiếc cầu xi măng bị anh ghét oan. Không đâu anh ghét cả cái nước Nhật chi tiền tài trợ xây nó. Họ ngoại nhà anh bên làng Mít thì ngạc nhiên thấy anh lạnh nhạt hẳn, và chỉ sang thăm họ một năm vài lần vào dịp giỗ chạp. Những ngày xấu trời, vùng này vẫn nhiều mây mù như xưa. Chiếc lò gạch bị phá bỏ từ lâu trong một đợt ra quân bảo vệ môi trường do xã đoàn phát động. Bến đò bây giờ cỏ dại mọc gần kín, là chỗ thuận lợi cho trai gái làng đêm đêm tìm đến tình tự hay làm chuyện bậy bạ. Anh giáo làng Trần Văn An cũng đến đấy, nhưng vào ban ngày, và chỉ một mình. Anh thường ngồi rất lâu, có hôm không đâu cất tiếng gọi “đò ơi” nghe khá ai oán.





Nhiều năm trôi qua.


Một hôm, có một người đàn bà đến gặp anh, lúc này đã là hiệu trưởng trường Trung Học Cơ Sở Nam Diễn Châu 3. Người ấy đến theo yêu cầu của cô chủ nhiệm vì một chuyện nào đấy của cậu con trai bà.


“Chào cô Lành”, ông hiệu trưởng nói vì ngay cái nhìn đầu tiên đã nhận ra bà.


Việc cậu con không có gì quan trọng và được giải quyết nhanh chóng.


Ông hơi lạ khi thấy khách có ý dùng dằng chưa muốn về.


“Cô và gia đình, mọi chuyện ổn thỏa cả chứ?”, ông hỏi.


“Cảm ơn thầy. Mọi chuyện đều tốt. Còn thầy?”


“Tôi à?... Tôi thì vẫn thế”. Dù đã cố giữ bình thản, giọng ông vẫn hơi chùng xuống và thoáng buồn. Nói “vẫn thế” là hàm ý ông sống độc thân và vẫn chưa quên mối tình ngày nào.


Bất chợt, trái với sự dút dát thường ngày, ông nói:


“Ngày xưa tôi yêu bà đấy. Yêu lắm, nhưng bà không biết”.


“Tôi biết”.


“Bà biết?”


“Vâng. Và tôi đã chờ…”


Ông hiệu trưởng đứng lặng, chẳng biết nói gì thêm.


Đêm ấy ông lại ra ngồi bên bến đò xưa. Ngồi rất lâu, nhưng lạ là không một lần gọi “đò ơi”.


Hai tháng sau, ông xin chuyển công tác lên Kỳ Sơn, một huyện miền núi mà cánh giáo viên ai cũng sợ.


Hà Nội, 5. 8. 2011






18. NHỮNG NGÔI SAO SÁNG






Ngày nhỏ đọc truyện Tam Quốc, tôi thấy mỗi lần có vị tướng tài hay ông quân sư giỏi nào đấy chết là một ngôi sao lớn lóe lên rồi vụt tắt, để lại vệt sáng lớn trên bầu trời. “Ngôi sao to bằng chiếc đấu” - người ta viết như vậy. Nghĩa là những vị tài giỏi ấy không chỉ được người mà cả trời đất yêu quí.


Cũng ngày nhỏ, một lần tôi được bọn bạn có bố mẹ theo đạo dẫn đi xem lễ Giáng Sinh ở nhà thờ làng trên. Chúng dẫn tôi đến một góc vườn nhà thờ được trang trí bằng đèn nhiều màu. Trong chiếc nôi giữa đám cỏ khô là một đứa bé bằng gỗ quét sơn hồng - Chúa Jesus. Chúng bảo tôi Chúa được sinh trong máng cỏ chuồng ngựa, và đúng lúc Ngài ra đời, một ngôi sao lớn xuất hiện trên bầu trời, theo đó ba nhà thông thái phương Đông đã tìm đến tặng quà cho mẹ con Ngài. Cạnh máng cỏ lúc ấy có chiếc đèn lồng năm cánh dán giấy bóng màu xanh, tượng trưng cho ngôi sao ấy. Tôi hỏi vì sao khi Chúa sinh lại xuất hiện ngôi sao? Chúng bảo đó là bằng chứng Ngài được yêu mến và mong đợi.


Vậy là rõ: Những ai được người khác yêu mến khi sinh hoặc chết đều được trời đánh dấu bằng những ngôi sao sáng. Tôi đã nghĩ và tin như vậy.


Tôi có một người ông rất khác thường, nhiều người cho là gàn dỏ, nhưng tôi thì rất yêu. Ông cao lớn, trực tính, ăn to nói lớn và rất tốt bụng. Ngày bé tôi nghịch thường bị bố đánh, và ông luôn che chở cho tôi. Ông hay đưa tôi đi chơi xa, kể đủ thứ chuyện thú vị ông biết hay tự phịa ra. Đêm tôi chui vào ổ rơm ngủ với ông nhiều hơn ngủ ở nhà. Cuối năm 1959 ông tôi mất. Khỏi nói tôi buồn và thương nhớ ông thế nào. Đêm hôm ấy tôi ra đồng Rục, đứng trên gò đất cao nhìn như dán khắp bầu trời xem có ngôi sao nào lóe sáng không


Cuối cùng tôi đã nhìn thấy nó, vào lúc gần sáng. Một ngôi sao đổi ngôi rất sáng ở phía chân trời. Vậy là ông tôi là người tốt, được yêu mến và khi chết đã biến thành sao. Không bằng ngôi sao lớn như chiếc đấu của Khổng Minh, nhưng là một ngôi sao đẹp.


Ba mươi năm sau tôi lấy vợ và sinh con đầu lòng, con gái. Hôm ấy bầu trời đen kịt vì đang có mưa, nhưng khi ngước nhìn lên, tôi nghĩ tôi đã nhìn thấy sau lớp mây dày đặc một ngôi sao lấp lánh, đẹp như ngôi sao báo hiệu sự ra đời của Chúa.


Lại ba mươi năm nữa trôi qua, cách đây hai tháng, tôi có cháu ngoại. Hôm ấy vợ chồng tôi ở Vũng Tàu. Tôi đưa vợ tôi lên tầng cao nhất của tòa nhà hai mươi hai tầng nơi con tôi sống. Cao trên đầu chúng tôi là cả một trời sao tuyệt đẹp. Ngôi nào cũng xanh, nhấp nháy và trẻ trung đến lạ kỳ. Hơn thế, cũng hôm ấy, giờ phút ấy, người ta đang bắn pháo hoa ở Đà Nẵng, có thể một phần để chào mừng sự ra đời của cháu tôi.


“Cả trời sao đẹp thế này là để chào đón cháu mình ra đời đấy”, tôi nói.


Vợ tôi không hiểu, nhưng có vẻ xúc động bởi lời nói bóng bẩy, lãng mạn ấy. Bà đứng lặng. Trong đôi mắt ngước nhìn lên lấp lánh hai giọt nước mắt. Hai ngôi sao.


Còn tôi, tôi nóng lòng chờ cháu chóng lớn để kể cho nó nghe về ngôi sao của cụ nó, mẹ nó và cả của nó. Tôi thầm hứa với cháu rằng tôi sẽ cố sống tốt, thật tốt, để một ngày nào đó, có lẽ cũng không còn xa, khi tôi chết, nó, mẹ nó, bà nó và nhiều người khác sẽ thấy một ngôi sao, có thể không lớn lắm, nhưng xanh, đẹp, lóe sáng trên bầu trời như ngôi sao của ông tôi ngày xưa.


Cũng có nghĩa rằng tôi, một người tốt, khi chết, được hóa thành sao.


Hà Nội 7. 8. 2011






19. SƯỞI NẮNG






Tôi ngồi sau bàn viết ngoài hiên, dưới bóng dàn mướp đang ra hoa, lơ đãng nhìn đồng lúa xanh trải dài trước mặt.


Có vẻ như đã hết đông. Hết cả những ngày sương mù ẩm ướt. Một dây mướp sà xuống như chìa những bàn tay lá xanh và ấm.


Con Cún sưởi nắng trong góc sân, lười đến mức không thèm dậy ve vẩy đuôi mừng khi tôi ra chơi với nó.


Vậy là thêm một mùa xuân nữa đến. Cây cối, đất trời đang sống lại. Vạn vật cựa mình chào đón những tia nắng vàng khô. Thế mà tôi, không hiểu sao tôi vẫn thấy có cái gì đó ẩm ướt, ủ ê trong lòng. Cái buồn không tên. Sự mệt mỏi không tên. Cái gì đó làm tôi không hài lòng với bản thân mình. Cái gì? Nhiều cái lắm, mà cũng chẳng có cái gì cả. Tôi tự nguyện dấn thân và con đường văn chương vất vả. Đọc đến mụ người, viết đến mụ người, mà nói chung chỉ toàn chuyện đâu đâu chẳng mấy ích lợi cho đời và cả cho tôi. Thì đây, không ai bắt mà tôi cứ ngồi lì bên bàn, hàng giờ liền chưa được chữ nào nên vẫn trân trân nhìn phía trước như người mất hồn.


Trên con đường đất đỏ từ làng xuống đồng Rục, một người đàn bà quảy gánh đi làm. Một bên là thằng bé lên ba. Bên kia là cái cuốc, ấm nước, bữa cơm trưa cho hai mẹ con và thêm cái gì đó để đủ nặng, gánh không lệch. Đó là cô Mến, con dâu bà Hạnh, vừa bị chồng say rượu đánh hôm qua. Cô một mình đi trồng ruộng khoai vốn đã quá ngày. Nghe nói cả xóm, nhà cô duy nhất còn thiếu ăn. Con nhà nghèo ngoan. Thằng bé không khóc, lại còn bi bô nói hát. Chốc chốc thấy vướng, nó vứt chiếc nón rách trên đầu, và mẹ nó phải dừng lại nhặt lên, bắt đội.


“Lại đọc sách à?”


Bà hàng xóm to béo xuất hiện lúc nào, tay ôm bó chăn lớn đứng ở sân nhà bên.


“Vâng. Tôi thì còn làm được gì nữa ngoài đọc sách?” tôi đáp.


“Sống như ông chán bỏ mẹ”.


“Ừ”.


“Thì vứt sách mà đi chơi. Trên phố vừa mở quán karaoke to lắm. Có cả các em út nữa đấy”. Bà nói, tự nhiên cười khúc khích, với tay treo chiếc chăn lên dây thép rồi lấy gậy đập đập, bụi bay mù mịt. “Trời với chả đất. Cả mấy tháng sụt sùi, đến người cũng ẩm mốc chứ nói gì đến chăn”.


“Đến người cũng ẩm mốc”. Cái bà này nói hay thật. Hay định ám chỉ mình?


Một lát sau, tôi xách ghế, đầu trần ra ngồi phơi nắng giữa sân. Bên kia bờ rào là chiếc chăn ẩm xỉn màu.


Mặt trời mớ quá con sào nhưng đã bắt đầu nắng gắt. Kệ. Tôi cứ ngồi, mấy lần xù tóc đế nắng xuyên qua đầu, sưởi ấm những ý nghĩ ẩm mốc bên trong.


Có lẽ đã hơn một giờ. Chắc vì nóng, con Cún chạy vào nhà từ lúc nào.


“Ông làm gì mà ngồi chang giữa nắng thế này?” vợ tôi đi chợ về, ngạc nhiên hỏi.


“Tôi sưởi nắng.”


“Sưởi nắng giữa trưa? Và phải xù đầu xù tóc thế kia?”


“Thì tôi sưởi cả ý nghĩ trông đầu nữa”.


“Ông điên vừa vừa thôi”.


Đấy là câu vợ tôi vẫn nói khi thấy chồng làm điều gì đấy kỳ cục. Không ác ý hay châm chọc, lâu dần thành quen, tôi coi như chuyện bình thường, thậm chí là lời mắng yêu.


Tôi nhìn theo, chợt thấy hôm nay hôm nay vợ diện áo đep, dù chẳng đi đâu. Hay hôm nào cũng diện mà mình không thấy? Dẫu có đẫy ra, nhưng bà ấy vẫn giữ được những nét đẹp của thời con gái. Tự nhiên thấy thương vợ. Một mình phải lo toan bao nhiêu việc trong nhà, lai còn phải chịu đựng một ông chồng to béo ngồi lù lù bên bàn suốt ngày và không bao giờ đụng tay làm gì. Được, lát nữa mình sẽ vào giúp bà ấy nhặt rau! Chắc phải ngạc nhiên lắm, và lại mắng “ông điên vừa vừa thôi”.


Không văn chương gì hết. Hôm nay nghỉ. Mai kia cũng nghỉ!


Chiếc chăn bà hàng xóm có thể chưa khô, nhưng ý nghĩ của tôi hình như đã ấm hơn, thậm chí có đôi chút le lói.


Lát sau, với cái đầu tỉnh táo của một người vừa qua cơn sốt li bì, tôi bỏ vào nhà nhặt rau cho vợ, vừa đi vừa nghĩ ngày mai sẽ bảo cô Mến gửi thằng bé bác trông cho, kẻo chang nắng nó ốm thì chết.


10. 8. 2011






20. LÀNG VÔ THẦN





Sau bốn mươi lăm năm xa xứ, ông trở về thăm làng lần đầu. Nghe nói ông là Việt kiều Mỹ rất giàu và đang có ý định làm từ thiện lớn nên người ta rất quan tâm và chào đón thái quá, đôi khi khiến ông thấy bất tiện.


Ngay trong buổi tiếp đầu tiên do trưởng thôn tổ chức, có cả bí thư chi bộ và đại diện thanh niên, phụ nữ, ông bí thư đảng nói không úp mở:


“Trước làng ta có Chùa Mít. Chắc bác còn nhớ? Chiến tranh phá mất rồi. Mà đền chùa là cái mặt văn hóa của làng. Giờ có điều kiện xây lại thì tốt quá.”


Ông còn nhớ không ư? Vì nó mà ông phải xa làng chừng ấy năm. Số là thời ấy, tức giữa những năm sáu mươi, ông là bí thư xã đoàn. Một hôm, người ta đi họp trên huyện về, giao cho thanh niên phá Chùa Mít. “Làng đã lên hợp tác xã, ruộng đất và tư liệu sản xuất trở thành của chung. Nay đến lượt xây dựng văn hóa mới. Nhà nước vô sản. Làng phải là làng vô thần. Không thể để cái chùa mê tín dị đoan ấy đứng mãi thế được!” “Nhưng đó là chỗ lễ bái, tín ngưỡng của dân làng?” ông rụt rè lên tiếng. “Vả lại, có để cũng chẳng hại gì”. “Không được. Đồng chí nói thế là chưa quán triệt tinh thần của trên. Người cộng sản vô thần, nên không thờ bất kỳ ai ngoài các lãnh tụ của mình!”


Một tuần sau ông lên đường vào Nam, dù không thuộc diện nhập ngũ vì là cán bộ cốt cán và là con một trong gia đình. Trước đó mấy ngày người ta bắt đầu đập phá Chùa Mít, có cả lễ ra quân và cờ trống rầm rộ. Ở mặt trận Tây Nam năm 1972 ông bị quân Sài Gòn bắt nhưng trốn được qua Cămpuchia, rồi Thái Lan và năm 76 thì được sang Mỹ định cư. Trước khi có thư từ Mỹ về, mọi người trong làng nghĩ ông đã chết, nhưng do không xác định được cụ thể, người ta không coi ông là liệt sĩ, giờ thì đương nhiên là một tên đào ngũ phản bội. Còn nay đổi mới, trong con mắt của mọi người, ông là Việt Kiều yêu nước.


Bố mẹ chết từ lâu, bà con thân thích hầu như chẳng còn ai nên ông ở trong nhà nghỉ mới xây của xã bên, rất gần làng. Ở đấy cậu nhân viên nháy mắt bảo ông có cần gì nữa không. Mấy ngày sau ông còn nghe nói làng có dịch vụ tươi mát, đến mùa gặt mới phải thanh toán. Bằng thóc.


Làng ông bây giờ quả nhiều cái mới. No đủ hơn. Nhiều nhà ngói, thậm chí có vài nhà hai ba tầng, bắt chước kiểu biệt thự Pháp nhưng quét vôi màu lòe loẹt. Đường làng và các ngõ ngách đều đổ xi măng. Đình làng xưa cổ kính giờ được thay bằng Nhà Văn Hóa mái bằng lợp fibrô xi măng. Trên nền Chùa Mít đầu làng cỏ mọc um tùm, lổn nhổn những phiến đá lớn người ta không bê đi được. Có cả một khối đá tròn, phần sót lại của bức tượng Phật, nay làm nơi ngồi tình tự của đám thanh niên mới lớn. Dân làng bây giờ cũng khác lắm. Khác cả cách ăn mặc, đi đứng và ăn nói. Có vẻ như hiện đại hơn, tốt hơn, thế mà ông vẫn thấy trơ trơ thế nào, cứ như thiếu một cái gì đó.


Ở thêm mấy ngày nữa, ông hiểu cái đó là gì. Khuôn mặt của làng. Thì ngay từ đầu người ta chẳng bảo ông: “Đền chùa là cái mặt văn hóa của làng” đó sao? Chính xác hơn là thiếu hồn. Các tấm áp phích to và những câu khẩu hiệu chính trị viết cũng như nói không lấp nổi sự trống vắng tâm linh mà bây giờ đã không còn chỗ thể hiện. Trước kia ngày rằm, ngày đầu tháng người ta vào chùa thắp hương, sắm lễ. Giờ chỗ lui tới là quán rượu của mụ Bốn, người kiêm cả nghề ghi số đề cho mấy đại gia ngoài phố huyện.


Ông đi một vòng quanh làng với tâm trạng buồn buồn khó tả, rồi mỏi chân, ngồi xuống tảng đá, phần còn lại của Đức Phật trên nền Chùa Mít.


Mặt trời sắp lặn. Một chiếc Công Nông đang lại gần, kêu tành tạch từng tràng như tiếng súng đại liên. Kế đến là chiếc xe tải loại lớn chạy về phía xã trên. Mấy bà đi làm về, chiếc gánh tòng teng trên vai. Trai làng phóng xe máy vù vù.


Vậy là cái chủ trương xây làng vô sản đã không thành. Nhưng làng vô thần thì thành. Không chỉ không thờ Phật, giờ người ta cũng chẳng thờ các lãnh tụ cộng sản, không cần biết ai, sợ ai ngoài cái dạ dày của mình. Thêm một cái “vô” nữa là vô danh. Trước xã ông có bảy làng với bảy cái tên dung dị dễ thương từ xa xưa, sau khi thành lập hợp tác xã, chúng được thay bằng các con số đội sản xuất. Làng ông được gọi là Đội Bảy. Hợp tác xã giải tán cả chục năm nay mà cái tên khô khốc, vô hồn ấy vẫn còn đến ngày nay.





Ông ngồi lặng người hồi lâu như thế giữa nền Chùa Mit ở làng Đội Bảy của ông. Giờ người ta xin ông tiền dựng lại nó, tức là để phục lại phần nào thần linh và “mê tín dị đoan”, cái người ta một thời dứt khoát phá bỏ và đẩy ông ra nơi súng đạn. Nhưng liệu có chùa rồi, những cái ấy có trở lại không, khi tư tưởng vô thần và những người nghĩ ra chúng vẫn còn?


Trời tối lúc nào không biết. Có ai đó đang lại gần. Ông giáo Hoàn. Ông đang dắt con nghé con từ Đồng Chùa về. Ông giáo trạc tuổi ông, về hưu đã lâu và trước cùng học trường làng. Hôm mới về hai người đã gặp nhau và nói chuyện một lúc. Ông này thời cải cách có bố bị treo cổ oan.


“Vẫn chưa quyết định nên giúp làng xây lại chùa không à?” ông giáo hỏi như đoán được ý nghĩ ông.


“Theo ông thì thế nào?”


“Thì kệ nó. Ai phá, người ấy phải xây lại”.


“Nhưng họ biết lấy đâu ra tiền?”


“Đó là việc của họ. Rồi có ngày người ta sẽ bắt họ chịu trách nhiệm về chuyện này. Không người thì thần linh, mà cũng chẳng lâu nữa đâu. Một lũ ngu dốt và độc ác!”


Ông giáo về hưu nói một cách giận dữ. Rồi ông hạ giọng nói thêm:


“Nếu bác định giúp làng thì làm ơn sửa lại trường cấp một. Bảy tám chục đứa trẻ bị nhét vào môt phòng tranh tre và dột nát như bác thấy. Chứ không thì cái làng này chẳng mấy chốc mà thành vô học.”


Hai hôm sau ông lên đường về Mỹ, để lại phía sau khu ngôi làng của ông - vô danh, vô thần và gần như vô học. Có thể cả vô đạo đức và văn hóa nữa, dẫu hai đầu làng có hai tấm biến rất to “Làng văn hóa mới”, và nhà nào trong làng cũng có tờ giấy chứng nhận “Gia đình văn hóa”.


“Thì ra cái ‘văn hóa mới’ là tập hợp tất cả các cái ‘vô’ ấy lại,” ông nghĩ và khẽ rùng mình.


23. 8. 2011






21. DI SẢN VĂN HÓA






Một nhà nghiên cứu văn hóa bất ngờ phát hiện thấy ở đền nọ một sự thật không mấy thú vị. Thì ra suốt hai trăm năm qua ngôi đền này (vì những lý do dễ hiểu tôi xin phép không nói tên, kể cả tên những người liên quan) đã thờ một nhân vật không xứng đáng, thậm chí còn là người xấu, kẻ đã khôn khéo leo lên bục thờ nhờ mưu mô xảo quyệt. Ngày xưa những chuyện như thế vẫn xẩy ra, một số vua triều Nguyễn còn có luật trị nghiêm tội này.


Vậy là bao đời nay hàng ngày khách thập phương háo hức kéo đến dâng hương lễ, cung phụng, tôn vinh hắn và nhờ hắn ban ơn giúp đỡ. Còn hắn thì nghiễm nhiên ngồi trên bệ thờ được sơn son thếp vàng, tôn nghiêm, thánh thiện ngang hàng các vị anh hùng dân tộc.


“Ông không nhầm đấy chứ?” tôi hỏi nhà nghiên cứu văn hóa kia, cũng là một người bạn của tôi.


“Không. Tôi đã bỏ ra ba tháng tìm đọc hàng đống tài liệu mới khám phá được vụ này. Hắn là một tên quan xảo quyệt, đầy quyền lực của triều vua Tự Đức. Quyền lực và sự xảo quyệt ấy của hắn từng làm nhiều trung thần thiệt mạng, giúp hắn dựng nên chùa này để thờ chính hắn và một chùa nữa thờ bố mẹ hắn. Nhưng chùa ấy đã bị phá thời cải cách ruộng đất.”


“Thì bây giờ ta phá nốt chùa này,” tôi hăng hái nói.


“Không được,” bạn tôi tỏ ý thất vọng.


“Vì sao?”


“Vì cái thời phá chùa đập tượng qua rồi. Xã hội văn minh không bao giờ làm những việc tương tự.”


“Nhưng đây là chùa rổm, tượng rổm. Hắn đã và đang lừa dối biết bao người.”


“Đúng thế. Thời gian đã kịp biến cái rổm ấy thành di sản văn hóa. Mà di sản văn hóa thì không thể phá được. Hơn thế, nó lại được xếp hạng, thuộc diện cấm xâm phạm.”


“Các ông xếp hạng ấy có biết không?”


“Chắc không. Mà có biết cũng chẳng làm gì được.”


“Cả những người trông coi ngôi đền?”


“Tất nhiên.”


“Vậy ông bỏ công khám phá cái sự thật này làm gì?”


“Chẳng làm gì cả. Cùng lắm chỉ để biết người đời dễ bị lường gạt thế nào.”


Tôi im lặng, tấm tức không biết nói gì thêm. Nhận ra điều đó, anh bạn tôi hạ giọng, với giáng vẻ một nhà hiền triết:


“Cái gì trót đưa lên bàn thờ thì cứ giữ nguyên ở đó. Không phải mọi cái được tôn thờ đều thiêng liêng. Vả lại, người ta đến đây thực chất không vì thằng kia. Thậm chí không biết và cũng chẵng muốn biết hắn là ai.”


Mấy hôm sau có việc đi ngang, hai chúng tôi lại rẽ vào đền. Như một người mộ đạo thực thụ, bạn tôi, nhà nghiên cứu văn hóa có công khám phá điều giả dối ấy, đã thắp một nén hương, kính cẩn cắm trước bức tượng gỗ tên gian thần. Còn thằng kia, bằng cái nhìn ban ơn và nụ cười giả dối cũng được sơn son thếp vàng, từ trên cao khinh khỉnh nhìn xuống lũ chúng sinh thông minh quá mà thành ngu ngốc đang xun xoe khúm núm trước hắn.






22. KHI ĐI VỀ PHÍA MẶT TRỜI …






Như thường lệ, tôi dậy sớm, ngồi vào bàn viết.


Cũng như thường lệ, câu chữ không chịu xuất hiện, một cảm giác buồn khó tả dần dần xâm chiếm người tôi.


Trời chưa sáng hẳn. Rời rạc vài tiếng chó sủa từ phía làng Hạ bên kia sông. Nhà bên, lão Bảy đang mở chuồng trâu đi bừa sớm thửa ruộng ngoài đồng Rục. Tối qua nước lên, người ta kịp tranh thủ bơm vào ruộng.


Qua ô cửa sổ, vành trăng gầy đang nhìn tôi như có điều gì muốn nói. Trăng cũng buồn, và lạnh. Thứ ánh sáng ẩm ướt và nhờn nhợt ấy dinh dính trên đầu ngón tay.


Tôi ngồi lặng, trân trân nhìn phía trước, liên tục hút hết điếu thuốc này đến điếu thuốc khác.


Không hiểu sao dạo này đầu óc tôi như mụ mị hẳn. Một truyện ngắn bé tí viết mãi không xong. Một truyện bình thường, tôi cũng cố viết bằng những câu chữ bình thường, giản dị, tươi sáng, thế mà câu chữ nào cũng nhạt nhẽo, u ám. Ở cái tuổi hơn sáu mươi, tất nhiên không còn trẻ, nhưng chưa hẳn đã già vì hàng ngày tôi còn đi dạy học kiếm tiền và lái ô tô vù vù về quê vào những ngày cuối tuần thế này. Tôi dứt khoát không chịu tham gia câu lạc bộ những người lớn tuổi, không theo các cụ tập những bài thái cực quyền như múa trông rất buồn cười. Tuy nhiên, sâu trong lòng, tôi biết mình thực sự đã mệt mỏi sau chừng ấy năm đọc và viết liên tục. Cái cơ thể to béo chín mươi cân như muốn dính chặt vào chiếc ghế. Cũng vì sức nặng ấy, tư tưởng và ý nghĩ, mà bây giờ đã ít hơn rất nhiều, không còn, hay thậm chí, không mơ ước bay xa, bay cao. Tôi mệt và muốn được nghỉ. Phải chăng do đã đi kha khá trên con đường văn chương của mình, giờ là lúc tôi có quyền dừng lại, sưởi ấm trong thứ hào quang, cứ cho đó là hào quang, những gì mình đạt được?


Có hai người đang đi về phía Cầu Tre. Từ lâu nó được thay bằng chiếc cầu xi măng khá vững chắc, nhưng dân làng vẫn tiếp tục gọi theo tên cũ.


Đó là cậu Nhất, con bà Hương, và người yêu của cậu, cô Loan, con ông Mậu. Hôm trước họp làng, thấy nói năm nay Nhất và một cậu nữa nhập ngũ.


Mặt trời nhô lên từ lúc nào. Loáng thoáng mấy con cò trắng chao lượn trên đồng. Đứng bên cầu, đôi bạn trẻ dùng dằng mãi không chịu chia tay. Nước sông mùa này đục, nhưng chắc cũng đủ trong để soi bóng hai người. Cuối cùng, cậu Nhất quay người bước đi, gần như chạy. Cô Loan tần ngần đứng thêm lát nữa rồi quay về làng. Một cảnh điền viên giản dị và cảm động. Hệt như trong lời một bài hát xưa tôi còn nhớ: Họ để lại phía sau/ Một dòng sông nước đục/ Và ba bốn nhịp cầu/ Nối những ngày hạnh phúc.


Từ cửa sổ nhìn theo, tôi bất giác thở dài, và lần nữa lại thấy buồn. Buồn vì không được xa ai, không ai tiễn và cũng không có lý do gì để đau khổ. Một cái buồn vẩn vơ, có thể nói vớ vẩn.


Đêm qua. Mặt trời mọc. Lão Bảy cùng con trâu đi bừa. Cậu Nhất lên đường nhập ngũ. Cô Loan quay lại với công việc thường ngày của mình. Nghĩa là cả thế giới này đang vận động như vẫn thế nghìn vạn năm nay. Còn tôi, cái lão già chưa già, vẫn ngồi yên một chỗ và tự dằn vặt mình bằng cái buồn vu vơ, vớ vẩn.


Không được! Tôi đứng dậy, vươn vai, vặn mình mấy cái rồi bước ra khỏi nhà. Hóa ra trời không u ám như tôi tưởng. Có vẻ mùa đông, mùa ẩm ướt đã hết.


Khi hít sâu bầu không khí trong lành của buổi sáng, bất chợt tôi nhớ ai đấy đã nói câu này:


“Khi đi về hướng mặt trời, bạn để lại bóng tối sau lưng, và đêm đến, trên đầu bạn sẽ là một bầu trời sao tuyệt đẹp”.


Chí lý thật. Ai nói nhỉ?


24. 8. 2011






23. CHÓ CỨ SỦA, VÀ TRĂNG SAO CỨ SÁNG






Lại nói chuyện những ngày Cải cách Ruộng Đất kinh khủng ấy.


Một hôm, ăn tối xong, tôi thấy ông tôi đến bảo đi ngay có việc. Giọng ông bỗng nhiên khản đặc, phải cố lắm mới nghe được.


“Đi đâu ông?” tôi hỏi.


“Ra Đồng Chùa cho mát”.


“Nhưng hôm nay không nóng!”


“Sẽ nóng đấy. Rồi chốc nữa cháu biết”.


Điều này thì tôi biết, là ý ông tôi nói tối nay người ta tổ chức đấu tố Lão Hội. Suốt ngày hôm nay loa rao khắp xóm. Lão Hội là em Lão Cương, bảy mươi tuổi, một người thuộc diện ‘địa chủ kháng chiến’ vì có con trai đang làm to trong quân đội cách mạng, nghe đâu đến chức tá hay thậm chí được phong anh hùng. Lão Cương thì người ta để yên, nhưng em lão thì bị đấu tố, chuẩn bị qui lên thành địa chủ, dù lão chỉ là anh nông phu cày sâu cuốc bẫm, khác chăng do biết lo toan nên không đói. Suốt cả tuần người ta rậm rịch chuẩn bị việc này. Cán bộ Đội bỏ nhiều giờ dạy người đấu kỹ càng từng lời nói, cử chỉ và cách khóc, cách nhảy chồm chồm trước mặt lão. Nếu buổi đấu tố diễn ra suôn sẻ, mà chắc chắn là suôn sẻ, tên lão sẽ được đưa vào danh sách địa chủ của làng để gửi lên huyện, coi như hoàn thành chỉ tiêu trên giao.


Hai ông cháu tôi ra đến Đồng Chùa thì trăng vừa lên. Trăng non và mờ mờ như ngái ngủ. Phía dưới một chút là Kênh Nhà Lê, nơi ban đêm thường có người làng xuống mò tôm cá, và dẫu ít hơn trước nhưng thỉnh thoảng vẫn có thuyền đi qua, chở cam quýt từ Hà Tĩnh ra Thanh Hóa và chở lúa gạo, hải sản lúc quay vào.


Ồng tôi nằm xuống một gò đất cao rồi khoan khoái thở dài, nói:


“Sướng!”


Rồi ông cởi hết cúc áo, phanh bụng, bảo tôi:


“Cháu cũng nằm xuống đi”.


Cao trên đầu chúng tôi là cả một trời sao thật đẹp. Những chấm nhỏ li ti lấp lánh thức suốt năm canh, yên bình, lặng lẽ dọi ánh sáng huyền diệu của mình xuống thế giới trần gian của những con người, cũng bé nhỏ, li ti nhưng chẳng bình yên chút nào. Từ phía Kênh có tiếng hát đều đều, mỏi mệt của mấy anh chị nhà thuyền vọng lại. Kể cũng lạ rằng giữa những ngày sôi sục, điên loạn này mà vẫn có người hát được, dẫu những tiếng hát buồn.


Phía làng, chó bắt đầu sủa rộ. Nghĩa là người của Đội đang đi từng nhà giục dân làng ra sân đình tham gia hoặc xem đấu tố. Háo hức nhất là bọn trẻ con, dù không biết chuyện gì đang xẩy ra. Ngoài tiếng chó còn có cả tiếng trống và tiếng chiếc mõ làng bằng gỗ hình con cá, treo ở điếm canh đầu làng.


Cuối cùng mớ âm thanh ấy hỗn độn, chói tai ấy cũng lắng xuống, và tôi biết cuộc đấu tố đã bắt đầu. Những tiếng kể khổ ngoa ngắt, tiếng chửi rủa, vu cáo, tiếng những cái tát vào mặt người bị đấu, tiếng cán bộ đứng bên gà lời khi người đấu quên, và tất nhiên cả tiếng kèn kẹt nghiến răng chịu đựng của khổ chủ không thể bay xa đến Đồng Chùa nơi chúng tôi đang nằm. Trước đó tôi đã mấy lần chứng kiến những cảnh như thế.


Tôi quay sang bảo ông:


“Ông ơi, cháu sợ.”


“Ông biết. Vì thế ông mới đưa cháu ra đây. Trẻ con không nên biết những trò ấy!”


Rồi ông chỉ tay lên trời, nói:


“Cháu nhìn kìa, cả một trời sao thật đẹp. Kệ những chuyện xẩy ra trong làng. Cháu ngắm chúng đi, đẹp không? Mà bao đời nay đã thế và vẫn mãi mãi như thế.”


Tôi nghe lời ông, lơ đãng nhìn lên bầu trời đầy sao. Vâng, chúng đẹp thật, nhưng vẫn là những ngôi sao bình thường tôi thấy nhiều lần và không mấy quan tâm. Nhưng tôi cũng lờ mờ hiểu được cái triết lý giản dị mà ông tôi muốn cho cháu biết, rằng cái xấu, cái ác luôn tồn tại, nhưng chỉ nhất thời, còn cái tốt, cái đẹp thì trường tồn mãi mãi. Hoặc có thế nói một cách nôm na: Chó cứ sủa, và trăng sao cứ sáng!


“Hôm kia, thằng Lan bảo ông phải đấu tố lão Hội, nhưng ông không chịu.” ông tôi chợt nói, giọng mơ màng.


Lan là tên anh cán bộ Đội cải cách được cử về phụ trách làng tôi.


“Tố gì ạ?”


“Hắn bảo tố lão bóc lột, đánh đập ông, đại loại như thế”.


“Nhưng có đúng như vậy không?”


“Bậy. Lão hiền như cục đất. Còn nhiều lần giúp nhà ta khi thiếu đói đấy”.


“Thế sao người ta phải đấu tố bác Hội?”


“Thì bảo chúng điên mà lị. Nên ông phải ăn uống mấy thứ linh tinh cho cổ họng khản đặc thế này, bảo bị ốm không làm cách mạng được. May chúng tin mà tha cho, không khéo bị qui địa chủ thì khốn”.


Một tuần sau lão Hội bị xử bắn, vì ngoài tội địa chủ cường hào gian ác, lão còn một tội khác nghiêm trọng hơn là tội làm gián điệp cho đế quốc. Số là khi khám nhà, người ta phát hiện thấy dưới mái hiên một cuốn sách chữ Tây, cuốn Từ Điển Tiếng Pháp, do ông em sĩ quan cách mạng để lại. Đó là bằng chứng không thể chối cãi được.






*


Suốt nhiều năm, thậm chí cả bây giờ, tôi vẫn chưa hết băn khuăn sao người ta có thể nghĩ ra hay du nhập những trò bất nhân, ngu xuẩn đến thế. Những trò ấy phần lớn bắt nguồn từ nước Trung Hoa cộng sản, và được các đồng chí Việt Nam làm theo, tự nguyện hoặc do ép buộc.


Nhưng rốt cục, ông tôi đã đúng. Vào đêm đấu tố và cả đêm lão Hội bị xử bắn trăng và sao vẫn sáng. Những đêm sau đó cũng vậy, khi có chủ trương sửa sai từ Trung Ương gửi về. Trăng và sao vẫn sáng, vẫn đẹp cả những thời điểm về sau, khi con người và đất nước đau thương này của chúng ta phải chứng kiến nhiều điều oan trái khác.


Tháng Chín năm 1967, đi xe lửa từ Hà Nội sang Matscơva học tập, chúng tôi bị kẹt lại nhiều lần ở Trung Quốc do hai phái kình địch đánh nhau. Tôi nhớ ở Vũ Hán, lúc ấy ban đêm, nhìn qua ô cửa sổ bé nhỏ, tôi thấy cảnh các Hồng Vệ Binh bắt bớ, đánh đập người dân của họ. Bên ngoài là ánh đêm bàng bạc, và tôi biết cao trên đầu, những vì sao vẫn không ngừng nhấp nháy, dọi những tia sáng lung linh, huyền diệu của mình xuống trái đất nhỏ bé và đầy đau khổ này.


Tóm lại, chó cứ sủa và trăng sao cứ sáng!


31. 8. 2011






24. TÌNH MUỘN






Một ngày sau khi chiến dịch Điện Biên kết thúc, họ hẹn sẽ gặp nhau và tổ chức lễ cưới ở Hà Nội.


“Gia đình anh sang Pháp hết rồi. Có thể giờ không còn nhà, nhưng em cứ đến Hồ Gươm, chỗ Nhà hàng Phú Gia ấy. Em nhớ chưa: Hồ Gươm, Nhà hàng Phú Gia? Thế nào em cũng gặp anh ở đó”.


Chàng trai nói với người yêu như thế khi theo đồng đội tiến về phía đồng bằng. Anh là chiến sĩ Vệ Quốc quân, người Hà Nội gốc. Cô là giao liên trung đoàn, người Thái, nổi tiếng dũng cảm và xinh đẹp. Họ yêu nhau đã mấy tháng, yêu công khai, thậm chí còn được ông già trung đoàn trưởng khó tính đồng ý. Khi chia tay, cô đưa cho anh tấm khăn thêu màu đỏ, cô giữ một cái tương tự. Đôi khăn thêu là vật không thể thiếu trong lễ cưới dân tộc cô.


Năm mươi năm trôi qua, họ vẫn chưa gặp nhau. Một lần tắm suối, cô bị nước lũ về đột ngột cuốn mất, không tìm thấy xác.


Từ ấy đến nay, đất nước thêm mấy cuộc chiến tranh. Nhân dân thêm mấy lần lầm than, đói khổ. Cả khu phố cổ Hà Nội cũng thay đổi nhiều, gần như khác hẳn. Nhưng Hồ gươm thì vẫn còn. Con phố có Nhà hàng Phú Gia vẫn còn, dẫu bản thân nhà hàng ấy bị phá bỏ từ lâu. Đối diện với nó, phía bên kia đường, gần hồ vẫn còn chiếc ghế sắt cũ kỹ sót lại từ thời Pháp.


Cũng suốt mấy chục năm nay có một người luôn ngồi trên chiếc ghế ấy. Buổi sáng từ tám đến mười một giờ, chiều từ hai đến sáu giờ. Mọi người biết thế và luôn nhường nó cho ông.


Đó là một ông cụ đầu tóc bạc phơ, dáng người gầy gầy. Lúc nào ông cũng ngồi yên, trân trân nhìn ra mặt hồ. Chiếc ba-toong khảm xà cừ một bên, bên kia là chiếc mũ phớt sờn cũ ông đội quanh năm, bất kể mùa đông hay mùa hè.


Hôm nay trời chớm lạnh. Có vẻ như thời tiết sắp thay đổi vì một bên vai, nơi có viên đạn chưa lấy ra, bắt đầu đau âm ỉ. Đã gần sáu giờ. Hồ Gươm vẫn thế, như hôm qua và nhiều ngày trước đó. Lãng mạn, thanh bình và buồn buồn. Suốt đời ông chỉ sống với nó và những kỷ niệm xa xưa của mình.


Đúng giờ, khi ông định đứng dậy đi về nhà thì có một người bước lại rồi nhẹ nhàng ngồi xuống ghế, sát bên ông.


“Vàng à?” ông quay sang, cầm lấy bàn tay người ấy.


Đó là một cô gái trẻ, rất trẻ, ăn mặc theo kiểu miền núi.


“Vâng, em đây”.


“Em bắt anh chờ lâu quá”.


“Em không thể đến sớm hơn được. - cô nói, giọng nghẹn ngào - Nhưng bây giờ em


đang ở bên anh, và chúng ta sẽ không bao giờ xa nhau nữa.”


“Ừ, đúng thế. Không bao giờ xa nhau nữa, - ông đáp. - Còn bây giờ để anh đưa em đi một vòng quanh Hà Nội. Quê chồng mà”.


Ông lẩy bẩy chống gậy đứng dậy. Cô Vàng rút ra từ ngực một tấm khăn thêu. Ông cũng móc túi trong áo vét một chiếc tương tự.


“Lát nữa ta vào nhà thờ làm lễ cưới. Nhà thờ Lớn, ngay gần đây thôi”, ông nói.


“Vâng. Và em sẽ nhập đạo theo anh”, cô Vàng nhỏ nhẹ đáp rồi đưa hai tay vuốt ve khuôn mặt nhăn nheo của người yêu. “Em yêu anh lắm lắm! Không yêu như thế, em không thể về đây với anh được đâu”.


“Anh cũng rất yêu em, - ông nói. - Năm mươi năm qua ngày nào anh cũng ra chờ em ở đây”.


Suốt đêm ấy đôi uyên ương không ngủ. Họ khoác tay nhau đi giữa phố phường Hà Nội. Chàng, một ông già tám mươi, lưng hơi gù với vết thương bên vai đang nhức nhối, hào hứng giơ ba - toong chỉ cho người yêu xem các danh lam thắng cảnh thủ đô. Còn nàng, hai mươi tuổi và rất tươi trẻ, thì háo hức như đứa con nít, mở to mắt uống từng lời của chàng. Nàng nắm chặt tay người yêu, vừa để có cảm giác gần gũi, cũng vừa đỡ để chàng không ngã. Ở quán kem bên hồ, nàng ăn một lúc ba chiếc. Và cười. Chàng không ăn vì sợ cảm, chỉ nhìn nàng. Và cũng cười. Cả hai tràn trề hạnh phúc.


Sáng hôm sau, người trông coi Nhà Thờ Lớn Hà Nội ngạc nhiên khi thấy có người chết ở trong phòng nguyện của nhà thờ, dù tất cả các cửa vẫn đóng.


Đó là một ông già gầy yếu, tóc bạc. Ông chết trong tư thế đang quỳ trước Chúa, mặt rạng ngời hạnh phúc. Cạnh ông, phía phải, có một lớp tro mỏng màu xám như tro người ta đốt vàng mã. Lạ nữa, cái tư thế ông chết và hiện trường xung quanh cho thấy ở đây vừa diễn ra một nghi lễ trang trọng, Có vẻ như hôn lễ, vì trên một ngón tay phải của ông có chiếc nhẫn cưới kim cương còn mới.


PS.


Thời gian gần đây ở Hà Nội xuất hiện ngày càng nhiều lời đồn về một cặp uyên ương không cân xứng, một rất già và một rất trẻ. Cặp này đêm khuya thường khoác tay nhau dạo quanh các quanh phố, đặc biệt những hôm trời lạnh và mưa phùn lất phất. Như mọi lời đồn khác, có thế điều ấy đúng, có thể không. Không quan trọng. Vả lại, thủ đô chúng ta có thêm một thiên tình muộn đẹp và lãng mạn như thế thì càng tốt chứ sao? Nếu ngẫu nhiên gặp họ, các bạn có thể yên tâm rằng họ chính là hai nhân vật trong câu chuyện này, một câu chuyện tôi cam đoan có thật vì tôi biết ông già ấy, thỉnh thoảng còn ngồi trò chuyện với cụ bên Hồ Gươm. Tôi cũng có mặt hôm chôn cất cụ ở nghĩa trang Giáo xứ N.V. Hơn thế, cũng hôm ấy tôi nhìn thấy một người lạ mà không hiểu sao không ai chú ý. Đó là cô Vàng. Khác với mọi người, cô không có vẻ mặt đau buồn mà ngược lại. Cô lặng lẽ đứng một bên, sốt ruột chờ người ta hoàn tất các thủ tục an táng cần phải có đối với một con chiên ngoan đạo.


Và tôi hiểu: Cô đến đón người yêu của mình để, như họ đã ước hẹn, “từ nay không bao giờ xa nhau nữa”.


6. 9. 2011






25. NHÂN QUẢ






Lão sống một mình trong túp lều ngay sát Cầu Sắt. Suốt đời lão chỉ làm một nghề là mài dao kéo cho cả vùng Nho Lâm rộng lớn này, và cũng nổi tiếng cả vùng nhờ cái nghề ấy. Chắc phải có một bí quyết hay đồ nghề đặc biệt nào đó nên các con dao lão mài sắc ngọt một cách khác thường. Vả lại, lão kỹ tính và làm cẩn thận lắm. Chiếc dao nhỏ lão mài miết cả tiếng đồng hồ, bao giờ xong cũng lấy một sợi tóc đặt lên lưỡi dao, thổi một cái đứt đôi mới giao cho khách.


Vợ lão chết từ lâu. Cậu con trai duy nhất lấy vợ, ở rể ở huyện trên, nghe nói “chuột sa chĩnh gạo” nhưng không bao giờ thăm hỏi hay giúp đỡ gì bố. Trước còn khỏe, lão quảy chiếc gánh toòng teng đi khắp vùng. Mấy năm gần đây vì già, vì cả đôi chân phù thũng, lão chỉ quanh quẩn trong làng hoặc ngồi ở nhà, ai cần thì mang dao kéo tới. Bây giờ đồ Trung Quốc nhiều và rẻ nên thậm chí cả ở nông thôn, người ta cũng ít mài, mà mua cái mới. Thành ra việc không nhiều, tức là cái ăn cũng không nhiều. Có hôm lão phải ôm bụng đói đi ngủ. Đáng ra ở tuổi lão, tức là tám mươi trở lên, theo chế độ gần đây của nhà nước, lão phải được trợ cấp mấy chục nghìn đồng một tháng, nhưng do lão không có giấy khai sinh nên đành chịu. Thỉnh thoảng dân làng thương tình, người cho cân gạo, kẻ mấy quả trứng, hay mang những chiếc dao còn sắc đến nhờ lão mài. Có người còn cất công tìm gặp con trai lão. Anh ta hứa sẽ về đưa bố lên ở với mình nhưng mãi chẳng thấy tăm hơi đâu.


Một hôm tôi đến nhà lão và ngồi với lão cả buổi chiều.


Lão nằm thu lu trên chiếc giường tre ọp ẹp, trùm kín đầu chiếc chăn chiên sờn cũ, dù trời không lạnh. Biết tôi đến, lão ngồi dậy ngay.


“Ông giáo quí hóa quá, lúc nào cũng cho quà”, lão nói khi tôi bày ra bàn mấy bắp ngô luộc, xị rượu và ít đồ nhắm.


“Tôi đến nhờ bác mài cho con dao”, tôi cười đáp.


“Tôi biết”, lão cũng cười, miệng méo xệch, một dòng nước đục rỉ ra từ khóe miệng, trông thật tội.


“Dạo này bác có vẻ yếu hơn trước”.


“Ừ ừ. Tại đôi chân khốn khổ này. Cả ho nữa.”


Lão cùng tôi làm vài ly nhỏ rồi bắt tay vào mài con dao của tôi, vốn còn rất sắc. Thế mà gần ba mươi phút sau lão mới chịu dừng tay, sau khi vừa mài vừa dấp dấp chất gì đó lên lưỡi dao, chốc chốc dừng lại làm hớp rượu.


“Ông giáo xem này!” lão bảo tôi rồi nhổ sợi tóc bạc trên đầu, đặt lên lưỡi dao. Sợi tóc đứt đôi.


“Sắc quá!” tôi thốt lên.


“Cũng thường thôi,” lão nói, không phải không pha chút tự hào. “Tôi có một con còn sắc hơn nhiều”.


Nói rồi, lão lấy dưới gầm giường ra một con dao được bọc trong lớp giấy xi-măng bẩn. Nó dài, mỏng như một thanh kiếm Nhật, đầu nhọn và sáng loáng.


“Tôi lấy từ xác một tên lính Nhật hồi năm bốn tư đấy. Nó bị du kích giết ở Phủ Diễn. Đúng là cái bọn lùn ấy làm cái gì cũng tốt.” Lão nói rồi bất chợt thở dài: “Có điều chẳng biết dùng nó làm gì.”


Lão lấy tờ giấy quét lên lưỡi dao nhiều lần, quét đến đâu, các vụn giấy rơi đến đấy. Tôi nhìn mà thấy sờ sợ. Lát sau tôi chuyển đề tài:


“Bác đau ốm thế này, sao anh con không về nhỉ?” Lão im không nói gì. “Mà rồi chính quyền mãi không làm cho bác cái trợ cấp người già. Bác tám mươi tuổi rồi mà”.


“Đúng thế. Tôi sinh ngày mồng Một tháng Năm năm 30, khi bố tôi bị Pháp bắn chết vì tham gia đình công ở Bến Thủy, Vinh.” Tợp thêm chén rượu, lão nói tiếp, mắt rơm rớm: “Nhân quả đấy bác ạ. Cả chuyện thằng con bất hiếu cũng nhân quả nốt!”


Tôi nhìn lão vẻ không hiểu.


“Suốt đời tôi mài dao cho đời. Mà dao thì không chỉ cắt thái mà còn đâm chém. Tức là tôi tham gia vào tội ác. Giờ thì tôi phải chịu cảnh này.”


“Bác nghĩ quẩn rồi. Nghề của bác vô hại, nếu không muốn nói có ích cho đời”, tôi an ủi lão.


“Không. Đêm đêm chúng vẫn đến đấy. Cái bọn trâu bò, lợn gà bị giết ấy mà. Cả người nữa. Thời kháng chiến, thời cải cách ruộng đất tôi mài dao kiếm cho du kích. Bây giờ bọn Việt gian, địa chủ cường hào đến bắt đền tôi, nhiều lắm. Đêm nào cũng đến. Chúng bảo chúng bị oan. Tội tôi đáng chết. Nhân nào quả ấy thôi, ông giáo ạ”.






*


Cách một ngày, tôi lại đến, thấy lão chết, nằm trên giường, cuống họng bị cắt, tay phải lão còn giữ chặt chiếc kiếm Nhật sáng loáng.


12. 9. 2011






26. ĐIỀU KHÔNG HIỂU NỔI






Thực ra chẳng có gì đáng nói về hắn, một thanh niên nông thôn chất phác, ngờ nghệch ở một nước Nam Âu cũng chất phác, ngờ nghệch như hắn.


Năm bốn mươi mốt thế kỷ trước, hắn sung lính để tránh khỏi chết đói, mà lại sung lính cho phe Trục Phát Xít. Ba năm sau hắn bị quân Pháp bắt làm tù binh. Chiến tranh kết thúc, cũng vì miếng ăn, thay cho việc trở về quê hương, hắn tình nguyện làm lính lê-dương sang Việt Nam.


Vừa chân ướt chân ráo đến mảnh đất nhiệt đới này, hắn bị tống vào chiến trường Khu Năm và chẳng bao lâu sau bị Việt Minh bắt trong một trận càn. Ở với Việt Minh, lúc đầu hắn sợ, sau quen dần và cuối cùng thì thấy thích. Thích những con người nhỏ bé, hiền lành. Thích cái không khí yên ả ở căn cứ. Thích cái tiếng Việt kỳ lạ nhưng hay hay mà hắn học rất tấn tới. Rồi hắn quyết định ở lại với họ, chiến đấu trong hàng ngũ của họ. Trước kia cũng như lúc này, hắn chẳng bao giờ có khái niệm chính nghĩa hay phi nghĩa. Lý tưởng lại càng không. Hắn nghĩ đơn giản đã cầm súng thì phải bắn, bắn thật mạnh vào phía bên kia, nếu không sẽ bị bắn lại và tiêu diệt.


Như những anh phổi bò khác, hắn chiến đấu dũng cảm, nhiều lần lập chiến công, được đề bạt làm tiểu đội trưởng, trung đội trưởng. Rồi người ta bảo hắn vào Đảng. Hắn hỏi: Đảng là gì? Người ta bảo thế này, thế này. Thế là hắn thành đảng viên, chẳng hiểu và cũng chẳng mấy quan tâm đến lý tưởng của nó.


Năm năm mươi tư, chiến tranh kết thúc, hắn cùng đơn vị tập kết ra Bắc. Khác với những người cùng cảnh ngộ, hắn không về nước mà ở lại Việt Nam, sống và làm việc như một người Việt Nam bình thường. Từ lâu hắn đã mang tên Việt, tên Tây xưa chỉ còn trong giấy tờ và ký ức. Theo phân công, hắn làm khá nhiều nghề, từ thợ xây cầu đến lái máy cày, thậm chí cả đóng phim. Lao động nặng nhọc và sinh hoạt kham khổ chẳng là gì với hắn vì hắn vốn xuất thân nghèo hèn. Có điều bây giờ, sống hòa bình ở thủ đô, đầu óc chậm chạp của hắn bắt đầu lờ mờ thấy có gì đấy không ổn với cái đảng hắn tham gia. Hắn ghét và luôn tìm mọi cách trốn các buổi sinh hoạt chi bộ, cả trước kia cũng vậy. May người ta thấy hắn hiền lành, gốc gác Tây nên cũng châm chước phần nào.


Ở Hà Nội, hắn hay lui tới Khâm Thiên, phố ả đào nổi tiếng trước giải phóng. Một hôm, mặt ngời ngời hạnh phúc, hắn báo với bạn bè hắn sắp lấy vợ, lấy một cô đào hát ở đấy. Thời đó đào hát cũng na ná như đĩ điếm bây giờ. Trong khi lặng lẽ chuẩn bị cho lễ cưới của mình, hắn không biết người ta đang điều tra nhân thân cô vợ tương lai của hắn. Cuối cùng, hắn được ông bí thư đảng bộ xí nghiệp nơi hắn đang làm việc mời lên gặp.


“Đồng chí không được lấy cô L. làm vợ!” ông này nói.


“Vì sao?” hắn hỏi.


“Vì đồng chí là đảng viên...”


“Thì sao?”


“Quy định của đảng không cho phép đảng viên kết hôn với những người thuộc tầng lớp không tương xứng. Trong trường hợp của đồng chí là lấy đĩ điếm”.


Dẫu đã Việt hóa khá nhiều, nhưng chất bộc trực của người Âu vẫn còn, hắn phải vất vả lắm mới không đấm và mặt ông kia vì sự xúc phạm ghê gớm ấy. “Đ. m. cái quy định của mày!” hắn nghĩ. Hắn cũng rất giỏi chửi thề những lúc tức giận.


“Nhưng bây giờ chế độ mới, cô ấy không hành nghề nữa, nếu trước kia cô ấy từng làm nghề này”.


“Không được.”


“Thì tôi cưới, coi như cứu cô ấy khỏi bùn nhơ...”


“Không được.”


“Vậy tôi phải ra khỏi đảng mới được lấy cô ấy?”


“Cũng không được”.


“Vì sao?”


“Vì cán bộ nhà nước không được lấy người ngoài biên chế”.


Đấy là một cú đòn rất mạnh đánh vào hắn, một người đang yêu và quyết tâm bảo vê tình yêu của mình. Đầu óc chậm chạp của hắn không thể nào hiểu nổi vì sao lại có những qui định kỳ cục như thế.


Một tuần sau, hắn trả thẻ đảng và bỏ việc. Ba tháng sau nữa, hắn đưa “con đĩ” của mình về nước.






*


Nhiều năm đã trôi qua kể từ ngày ấy. Thỉnh thoảng báo chí trong nước lại có bài viết về hắn, một chiến sĩ quốc tế trung kiên, tình nguyện tham gia cuộc đấu tranh chính nghĩa của dân tộc. Hắn được tặng huân, huy chương, được lãnh đạo nhà nước tiếp và mời sang Việt Nam tham dự các dịp lễ long trọng.


Tôi, tác giả truyện này, cũng nhờ những bài báo ấy mới biết đến hắn, từ giờ xin được gọi là ông. Năm 1994, nhân một chuyến công tác, tôi cất công tìm đến nhà ông tận châu Âu xa xôi. Ông sống trong một chung cư cao tầng. Tôi đứng phía dưới, bấm chuông chờ gần ba mươi phút không thấy ai xuống đưa lên nên đành bỏ đi. Mấy tháng sau, gặp ông trong một khách sạn nhỏ ở phố Mai Hắc Đế, ông bảo tôi khi xuống đến nơi thì không thấy ai nữa. Chả là ông đã già, chân lại đau nên đi đứng chậm chạp.


Chuyện trò với nhau cả buổi trong khách sạn, ông đã kể tôi nghe câu chuyện cuộc đời mình.


“Vợ tôi là một người đàn bà tuyệt vời!” Ông nói khi nhớ lại chuyện vợ chồng ông phải vất vả thế nào những ngày đầu về nước. “Bà ấy không hé răng kêu ca một lời. Một sự chịu đựng nhẫn nhục và dịu dàng tôi nghĩ chỉ phụ nữ Việt Nam mới có. Nhờ bà ấy mà cả khu phố chúng tôi ai cũng yêu quí Việt Nam!”


Ông cũng hào hứng kể lại những kỷ niệm xưa. Tôi chăm chú lắng nghe, thầm xấu hổ nghĩ mình người Việt mà có lẽ không yêu đất nước mình bằng ông già người Tây này.


“Nếu phải làm lại từ đầu, tôi vẫn sẽ làm như mình đã làm!” ông nói chắc như đinh đóng cột khi chia tay tôi.


“Tiếc lần này bà nhà tôi không thể về cùng. Một người đàn bà tuyệt vời! Thế mà người ta nhất quyết không cho tôi lấy bà ấy! Kỳ thật.” Rồi ông quay sang hỏi tôi: “Ông, người Việt, ông có hiểu nổi không?”


“Không,” tôi đáp. “Và cả nhiều điều khác nữa.”


Ông thở dài:


“Ừ, cả nhiều điều khác nữa”.


14. 9. 2011






27. TỘI NGHIỆP CON BÉ






Nó còi cọc và nhỏ xíu. Nhìn nó, người ta có thể đoán mười tuổi hoặc năm mươi. Thực ra nó mới lên chín, với đôi mắt sáng của đứa bé đói ăn và lớp da nhăn xám của cụ già ốm yếu. Hơn thế, đôi chân khẳng khiu của nó phải gánh cái bướu khá to trên lưng. Thành ra khi đi, dẫu cố đứng thẳng, nó vẫn khiến ta nghĩ tới hình ảnh một bà già lưng còng. Chỉ thiếu chiếc gậy chống.


Bị chiếc bướu lớn ấy đè lên người quá lâu, thời gian gần đây nó cảm thấy có cái gì đau nhói trong ngực, đến mức bà mẹ khốn khổ của nó phải đưa con đến bệnh viện. Bố nó chết từ lâu và hai mẹ con xưa nay sinh sống nhờ vào bãi rác thành phố.


Trung âm thành phố không có bãi rác nên cả hai phải sống nhờ những bát cháo từ thiện do mấy người hảo tâm mang đến vào buổi sáng. Buổi tối họ ăn cháo ở một bệnh viện khác cách đấy không xa. Trưa thì nhịn.


Ở bệnh viện, do không có tiền, không có phong bao cho bác sĩ nên mãi một tuần sau nó mới được khám. Mà việc này cũng hoàn toàn ngẫu nhiên, đơn giản là nó gặp may. Số là hôm ấy ngẫu nhiên ông giám đốc bệnh viện đi ngang, hỏi chuyện mẹ con nó. Vốn người tốt, ông cho nó nhập viện mà không cần tiền hay bất kỳ giấy tờ gì. Hơn thế, ông còn tự mình khám bệnh cho nó.


Ông khám rất lâu, sử dụng đủ các loại máy móc hiện đại. Cuối cùng ông nói:


“Phải mổ”.


Nhưng liền sau đấy, ông nhíu mày bảo mẹ nó:


“Có điều cháu yếu quá. Gầy quá. Chị cố gắng cho cháu ăn thật nhiều chóng béo, tôi sẽ mổ”.


Hệt như anh đồ tể bảo chủ nhà vỗ béo con lợn cho anh ta làm thịt.


Tất nhiên ông giám đốc không hề có cái ý nghĩ độc ác ấy. Như những người tốt bụng và có tài khác, ông không quá lựa lời khi nói. Hơn thế, ông có tính hay quên. Ông quên câu chuyện vừa mới làm ông cảm động, rằng họ phải sống bằng những bát cháo từ thiện, thế thì họ lấy đâu ra tiền bồi dưỡng cho nó chóng béo để ông mổ?


Việc chữa bệnh có vẻ diễn biến thuận lợi. Chỉ còn một vấn đề nhỏ là làm sao béo lên. Một tí thôi cũng được. Không béo là không mổ. Mà không mổ thì đau lắm, có thể chết.


Từ đó bà mẹ chỉ ăn mỗi bữa nửa bát cháo. Nửa kia nhường cho con. Bà còn luôn tay xoa bóp người nó, hy vọng làm thế da thịt nó sẽ giãn ra, tức là béo hơn, hay trông có vẻ béo hơn. Còn con bé thì hăm hở nuốt hết các loại thuốc bệnh viện phát cho theo lệnh của ông giám đốc, như thể chúng là những chất béo bổ nó đang cần.


Cũng từ đó hai mẹ con luôn nhìn những người béo với con mắt thèm thuồng.


Một tuần sau, ông giám đốc bệnh viện lại đến. Ông nhìn con bé, lắc đầu:


“Cháu cố gắng ăn nhiều vào nhé!”


Con bé lễ phép đáp:


“Dạ, vâng ạ”.


Mẹ nó thì rơm rớm nước mắt.


Ngay hôm ấy, bà mẹ khốn khổ bắt đầu đi nhặt ve chai. Buổi tối thì con bé lẻn ra đường bán vé số, vì ban ngày nó phải nằm trên giường bệnh như mọi bệnh nhân khác. Một ông già làm nghề này nhường cho nó nửa tập vé mình có, bảo bán được bao nhiêu sẽ chi hỏa hồng bấy nhiêu. Một cách kiếm tiền lý tưởng không cần vốn.


*


Kia, nó kia. Nó đang đứng co ro dưới ánh sáng vàng vọt của ngọn đèn đường trên con phố nhỏ cạnh bệnh viện. Không biết đây đã là đêm thứ mấy trong nổ lực bền bỉ của nó nhằm béo thêm một chút.


Đêm nay trời trở lạnh, hình như sắp mưa. Nó đứng bất động với tập vé trăng trắng trên cánh tay đang chìa ra phía trước. Không thấy nó mời khách mua. Cũng có thể nó mời nhưng giọng yếu quá nên không nghe thấy.


Chưa đến mười giờ và phố vẫn đông. Hết người này đến người khác đi qua, nhưng không một ai chú ý đến nó. Toàn những người béo tốt. Nhìn họ, nó chợt nảy một ý nghĩ thật buồn cười, rằng giá có bà tiên nào đó hóa phép cắt một cân thịt của họ, đắp lên người nó thì tốt biết bao. Không, có lẽ phải hai, ba hay dăm cân mới đủ.


Mười một giờ, trời bắt đầu mưa. Nó lạnh. Lại đói nữa. Phải về thôi. Nhưng hôm nay chưa bán được vé nào. Chờ chút nữa, biết đâu ai đấy sẽ mua, có thể mua một lúc cả tập. Thế là nó cứ nán lại, nán lại mãi.


Nó ho. Tự nhiên ho rũ rượi. Tay chân run lẩy bẩy.


Có ba thằng choai choai đi ngang, cười nói ầm ĩ. Một đứa dừng lại, cúi nhặt một hòn đá, đặt vào lòng bàn tay con bé rồi đi tiếp.


*


Sáng hôm sau người ta thấy nó đã chết, nằm còng queo bên đường. Cả người nó ướt sũng vì mưa. Mái tóc bẩn bù xù còn dính những giọt nước long lanh dưới ánh mặt trời mới mọc, trông như những ngôi sao đang nhấp nháy.


Tội nghiệp con bé. Vậy là cuối cùng nó vẫn chưa đủ béo để lên bàn mổ của ông giám đốc bệnh viện.


16. 9. 2011





28. QUAN LỚN HOÀNG THẠCH






Một cô gái trẻ, con nhà giàu, vướng tình với một thư sinh, có bầu, bị người tình bỏ rơi và bố mẹ đuổi ra khỏi nhà. Cô ở nhờ một người bạn, chờ đứa con ra đời. Trước khi nhảy xuống sông quyên sinh, cô đem đứa bé đặt trong vườn chùa Diệu Pháp.


Chùa ít người. Không may lúc ấy cả hai thầy trò sư trụ trì đi sang chùa bên có việc.


Đứa bé nằm một mình trên nền đất ẩm lạnh hơn một giờ. Kiến bắt đầu bu lại, những con kiến to và háu đói. Chúng bám đầy người nó, chui cả vào chiếc miệng bé nhỏ đang khóc.


Đúng lúc ấy, Mực, con chó to lớn của nhà chùa, chạy ra, tha nó vào nhà. Nó kiên nhẫn liếm hết bầy kiến trên cơ thể con bé. Vậy là con bé được cứu sống, sau này thành sư trụ trì chùa Diệu Pháp.


Khi con Mực chết già, bố mẹ cô gái xấu số kia chi tiền chôn cất nó long trọng. Họ còn thuê thợ tạc một bức tượng chó bằng đá, đem về đặt trước sân nhà mình, quanh năm hương khói chu đáo để tỏ lòng tri ân với nó. Con chó đá được gọi là Hoàng Thạch, sau tôn thành Quan Lớn Hoàng Thạch, tức là Quan Lớn Chó Đá.


Quan ở đây vậy là đã bốn đời kể từ ngày cô bé kia được cứu sống. Quan thiêng lắm. Gần một trăm năm qua biết bao nhiêu câu chuyện về sự thiêng ấy của Ngài truyền tụng trong dân chúng. Ít nhất có ba tên trộm từng bị Ngài cắn đứt cổ. Nhiều đứa trẻ ngã suýt chết khi dám ngỗ nghịch trèo lên lưng Ngài. Cụ cố gia đình này tuyên bố cụ đỗ Thám Hoa là nhờ Ngài, vì hôm lên đường lều chõng ra kinh, Ngài đã sủa mừng và ve vẩy cái đuôi bằng đá của mình. Ai không tin có thể đọc gia phả nhà cụ, nơi cụ ghi lại chi tiết sự kiện đó. Rồi quan chó thành thần của cả làng, cả khu vực rộng lớn xung quanh. Ngoài ngày rằm, ngày mồng một coi như đương nhiên phải cúng lễ như ở nhà chùa, ngày thường, ai có công chuyện cũng đến cầu xin Ngài. Nếu không, sớm muộn tai họa sẽ đến. Ai cũng tin là thế, và không ai muốn hay dám làm trái.


Đến đời thứ tư, tức là đời chúng ta đang sống, gia đình cụ cố đã không còn giữ được nếp gia phong xưa đáng kính, dù vẫn khá giả nhờ sự bảo trợ của Quan Lớn Hoàng Thạch. Anh cháu đích tôn đi học Tây về tỏ ý hơi khó chịu về sự hiện diện của Ngài, đặc biệt cảnh lễ bái đông đúc của dân từ khắp nơi kéo đến. Tuy vậy, anh ta không dám làm điều gì thất lễ, vì cái uy của Ngài lớn lắm.


Một hôm, hoàn toàn xuất phát từ ý định tốt, anh ta bảo cô vợ mới cưới của mình:


“Có lẽ Ngài sống một mình cũng buồn. Sao ta không thuê tạc thêm một tượng quan Bà cho Ngài?”


“Anh nói đúng.” Cô vợ đáp. “Vạn vật sống có đôi. Quan và thần linh cũng vậy. Vả lại, có thêm bức tượng nữa, nhà sẽ cân đối hơn”.


Nói là làm. Một tuần sau Quan Bà được khiêng về. Đó là tượng một con chó cái cũng to lớn không kém, được đẽo gọt công phu rất đẹp nhờ công nghệ hiện đại, và trông rất nữ tính.


Mọi việc vẫn diễn ra bình thường, dù khách đến lễ có ngạc nhiên chút ít, nhưng thỉnh thoảng vẫn thắp nén hương hay đặt bó hoa lên tượng Quan Bà. Điều khác thường là từ khi có tượng mới, đêm đêm vợ chồng anh chủ nghe như ngoài sân có ai đấy đang vật lộn rất dữ, nhưng vì sợ, họ không dám ra xem chuyện gì đang xẩy ra.


Khác thường hơn nữa là một sáng nọ tỉnh dậy, họ thấy một bầy chó con bằng đá lúc nhúc ngoài sân. Quan Lớn Hoàng Thạch vẫn uy nghi như Ngai vốn có, nhưng Quan Bà thì có vẻ mệt mỏi, sự mệt mỏi hạnh phúc thường thấy ở những người đàn bà mới sinh con.


Từ đấy Quan Chó không thiêng nữa. Người tới cúng viếng cũng thưa dần. Lũ trẻ lại hỗn láo với Ngài. Chúng đập vỡ một bên tai mà Ngài bất lực chẳng làm được gì chúng.


Vậy là cái ý định tốt đẹp đầy tính nhân văn của anh Tây học đã làm hại Quan Lớn Hoàng Thạch, khiến Ngài rơi ngã từ cõi thần linh thiêng liêng xuống đời trần dung tục. Hóa ra, như người, đôi khi thần cũng khó vượt qua được sự cám dỗ của đàn bà.


16. 9. 2011






29. NGƯỜI ĐOẠT GIẢI NOBEL TOÁN HỌC






Hồi học đại học ở Liên Xô, tôi chơi thân với một cậu khá kỳ quặc. Chơi vì cùng đồng hương Nghệ An và cả vì sự kỳ quặc ấy. Từ nhỏ toi vốn không ưa những gì bình thường, nhàm chán.


Hắn là sinh viên một trường danh tiếng ở Matscơva, thông minh và học giỏi. Giỏi với nghĩa xuất sắc thật sự chứ không phải loại khá hơn bình thường. Ngay năm thứ hai, hắn đã có hai bài báo được đăng trên một tạp chí chuyên ngành quốc tế về sinh học, là môn hắn được gửi sang đây để học. Tuy nhiên, đam mê thực sự của hắn, đam mê suốt đời, lại là toán. Thành ra thành tích sinh học của hắn chỉ dừng lại ở hai bài báo ấy và cái bằng phó tiến sĩ hắn nhận được không mấy khó khăn khi về nước.


Hắn mày mò tự học toán và chắc cũng đạt được điều gì đó, nhưng là người ngoại đạo nên tôi không thể đánh giá.


Một hôm đến chơi, hắn bảo tôi với vẻ rất tự tin:


“Tớ sẽ đoạt giả Nobel Toán học!”


“Nobel không có giải dành cho môn toán,” tôi đáp.


“Tớ biết. Rồi người ta sẽ lập cái giải ấy cho tớ.” Hắn nói, cũng rất tự tin. “Toán là môn khoa học mẹ của tất cả các môn khác. Chỉ tại lão Nobel nhỏ nhen không lập giải này vì vợ lão có bồ là một nhà toán học mà thôi.”


Lần sau gặp, hắn lại nói:


“Cậu dịch thơ được đấy. Phải thừa nhận nhiều bài rất hay. Sao cậu không phấn đấu đoạt giải Nobel về dịch thuật?”


“Xưa nay chưa ai đoạt cái giải ấy. Mà nó cũng chẳng có”.


“Thì người ta sẽ lập nó cho cậu, nếu cậu dịch thực sự hay”.


“Tớ là người bình thường, dịch dọt cho vui chứ Nobel nỗi gì! Khéo người ta cười cho thối mũi,” tôi đáp, rất chân thành.


Thế mà hắn xửng cồ, cái thằng kỳ quặc ấy. Hắn quát vào mặt tôi:


“Cậu tầm thường chứ không phải bình thường. Sống mà không mơ ước, không hoài bão thì sống làm đếch gì! Dịch dọt làm đếch gì!”


“Nhưng tớ phải biết sức mình...” tôi yếu ớt chống đỡ.


“Làm sao biết được sức mình khi chưa thử thách? Nói chuyện với cậu chán bỏ mẹ!”


Rồi hắn lại ngồi vào bàn làm việc, hý húi với môn toán của mình, ra ý đuổi tôi về, chỉ vì tội không muốn nhận giải Nobel dịch thuật.


Về nước, thỉnh thoảng chúng tôi vẫn gặp nhau. Sự kỳ cục, cực đoan của hắn không giảm mà còn tăng, và nhiều lần tôi vẫn bị hắn mắng té tát như trước. Công bằng mà nói thì tôi bị hắn mắng oan. Tôi chỉ bình thường chứ không tầm thường. Như anh nông dân lo cày sâu cuốc bẫm để thu hoạch thật nhiều thóc, tôi cố dịch thật nhiều, cặm cụi ngày đêm viết lách, gọt dũa từng câu, từng ý đến mức hài lòng mới thôi. Tôi không thi vị hóa mà cũng chẳng coi thường cái nghề mình đã chọn, không mảy may mơ ước các giải thưởng này nọ, trong nước chứ chưa nói đến giải Nobel. Nghĩa là tôi cũng tử tế, dám sống chết với nghề, và cũng có hoài bão đấy chứ!


Hắn được phân về làm việc ở một viện nghiên cứu sinh học, đúng chuyên môn đã học. Hắn giỏi đến mức được người ta phân một mình một căn hộ ở khu tập thể Kim Liên, là điều hiếm xảy ra thời đó. Hơn thế, hắn được quyền cả tháng không đến viện ngày nào. Độ sáu tháng một lần hắn ôm một tập dày các nghiên cứu của hắn nộp lãnh đạo viện. Mọi người, kể cả chuyên gia đầu ngành đọc không hiểu gì, nhưng chẳng dám bác, đành gửi sang Liên Xô nhờ thẩm định hộ. Tôi cũng nhiều lần phải khốn khổ ngồi nghe hắn thuyết trình hàng giờ các công trình nghiên cứu cao siêu mà tôi hoàn toàn mù tịt ấy.


Như trước, đam mê của hắn vẫn là toán, và hắn vẫn không ngừng say mê nghiên cứu để đoạt cái giải Nobel hắn mơ ước.


Một hôm, đang đi trên đường, tôi bị ai đó gọi to chặn lại. Thì ra là hắn. Đã mấy năm chúng tôi không gặp nhau, nhưng quả tình tôi không ngờ hắn thay đổi đến thế. Trước mặt tôi là một ông già nhếch nhác, ăn mặc luộm thuộm và cáu bẩn.


“Cậu đãi tớ một chầu bia đi!” Hắn nói với vẻ hống hách như ra lệnh. “Lâu lắm chưa được ăn bữa nào ra hồn.”


Chúng tôi vào một quán bia gần đó. Thú thật tôi không thể cầm lòng khi nhìn hắn ăn một cách ngấu nghiến các món dọn ra và liên tục tu hết cốc bia này đến cốc khác. Chỉ những người phải nhịn đói lâu ngày mới có kiểu ăn như vậy.


Ăn uống no nê, hắn bắt đầu hăng hái nói một thôi một hồi những việc hắn đã và đang làm. Vất vả lắm tôi mới lái được câu chuyện sang hướng tôi muốn, tức là chuyện gì đã xẩy ra với hắn những năm vừa rồi. Thì ra hắn bị đuổi việc vì, theo lời hắn, “tớ đếch thèm bận tâm mấy cái chuyện sinh học vớ vẩn ấy nữa. Để dành thời gian cho toán.” Rồi hắn quay lại với đề tài hắn yêu thích, thao thao bất tuyêt, đôi mắt đỏ ngầu và tinh sáng một cách khác thường. Thỉnh thoảng bọt mép sùi ra hai bên khóe miệng. Dẫu chua xót, tôi vẫn phải tự bảo mình rằng hắn đã phát điên, chí ít thì tâm thần nặng. Kiểu “phát rồ vì ngộ chữ” như dân gian vẫn nói.


Sau đó tôi đều đặn đến thăm hắn tại căn hộ nhỏ ở Kim Liên. Quả thật tôi không biết hắn sống thế nào và ăn uống những gì. Lần nào đến, tôi cũng thấy hắn đang cắm cúi làm việc bên chiếc bàn sờn cũ. Thường thì hắn vừa ăn những gì tôi mang tới, vừa mắng tôi cái tội không chịu phấn đấu để lấy cái giải Nobel về dịch thuật. Hắn xem việc tôi đến thăm hắn là chuyện đương nhiên, và chưa một lần cảm ơn tôi. Dần dần tôi học được cách kiên nhẫn ngồi nghe hắn nói về các công trình của hắn mà tôi hoàn toàn không hiểu. Tôi thực sự thương xót, ái ngại cho hắn, một người sống có niềm tin và sự đam mê mãnh liệt. Không loại trừ khả năng chính nhờ niềm tin và sự đam mê ấy, hắn mới có thể tiếp tục sống và làm việc hết năm này đến năm khác trong điều kiện cùng cực như vậy.


Tuy nhiên, cái phải đến cuối cùng đã đến. Hắn chết cách đây mười năm trong căn phòng đơn độc, giữa một đống lớn giấy tờ bề bộn và chắc với cái dạ dày trống rỗng. Do không có ai thân thích ở Hà Nội, ông hàng xóm gọi điện cho tôi khi phát hiện hắn chết.


Ông nói:


“Tội nghiệp bác ấy.”


“Vâng. Tiếc ông ấy không sống được đến ngày nhận giải Nobel”.


Tôi đáp, trong thâm tâm thực sự coi hắn đã nhận được cái giải cao quí ấy. Từ ấy đến nay tôi luôn nhớ đến hắn như một người đoạt giải Nobel toán học.


Sau cái chết của hắn, tôi hay ngẫm nghĩ về bản thân, và vẫn chưa dứt khoát xếp mình vào hạng người nào - bình thường hay tầm thường như hắn nói.


28. 9. 2011






30. AI?






Vào năm ấy, ở mặt trận ấy, hai nghìn người lính trẻ được lệnh xuống đồng bằng tham chiến. Sau một đêm, chỉ ba mươi người sống sót trở về!


Nhiều năm qua tôi luôn bị ám ảnh bởi con số khủng khiếp này trong một câu khô khan và thuần túy mang tính thông tin. Chính xác đó là câu thơ trong bài “Ai? Tôi!” của nhà thơ Chế Lan Viên khi ông viết về chiến dịch Mậu Thân. Tác giả nêu câu hỏi: “Ai chịu trách nhiệm về cái chết 2000 người đó?” Và chính ông tự trả lời mình: “Tôi! Tôi/ người viết những câu thơ cổ võ/ Ca tụng người không tiếc mạng mình trong mọi cuộc xung phong”.


Một tâm hồn nhạy cảm! Một nhân cách lớn! (Anh Chế Lan Viên ơi, em đây, Thái Bá Tân đây. Cảm ơn anh đã nói hộ lòng em. Em còn giữ tập thơ anh tặng ngày nào.)


Đằng sau những con số này là những con số khác còn khủng khiếp hơn: Một triệu người lính cách mạng và hai triệu dân thường Việt Nam đã hy sinh trong cái ta thường gọi là “cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc”.


Như nhà thơ, tôi cũng bị ám ảnh bởi câu hỏi của ông: Ai chịu trách nhiệm về cái chết của 2000 người đó? Không phải tôi, tất nhiên, vì tôi là người bình thường và chỉ nhờ ngẫu nhiên mới không bị gộp vào con số đó. Tôi không ra lệnh, không đưa ra các quyết sách lớn về đại cục. Tuy nhiên, nói thế không có nghĩa tôi hoàn toàn vô tội. Không, tôi vẫn phải chịu một phần trách nhiệm vì đơn giản tôi là một công dân và đã để đất nước mình rơi vào hoàn cảnh như vậy. Một công dân tốt còn biết đau về cái chết của đồng bào.


Câu hỏi tiếp: Liêu có đáng phải hy sinh ghê gớm như thế để “giải phóng dân tộc” không, mà rồi, giải phóng khỏi ai? Khỏi những đồng bào Việt Nam khác ở bên kia chiến tuyến?


Một câu hỏi nữa: Ba mươi người sống sót trong số 2000 người ấy bây giờ thế nào, và họ nghĩ gì về sự trận đánh ấy của họ mà đài báo ta lúc ấy gọi là “thắng lợi, nhưng ta phải chịu một số thương vong nhất định”?


Khá vất vả, cuối cùng tôi cũng tìm được một người, ngay trong huyện Diễn Châu quê tôi. Điều này lần nữa làm tôi giật mình: Sao lúc nào, ở đâu có đánh nhau ác liệt nhất và nhiều người chết nhất cũng có mặt những người lính nông dân Nghệ Tĩnh của tôi? Có thể chỉ ngẫu nhiên, nhưng vẫn giật mình.


Đó là một lão nông trạc tuổi tôi, trên sáu mươi chút ít, nhưng trông hom hem với một chân thọt và một tay hơi khuỳnh khuỳnh.


“Chuyện từ đời tám hoánh nào, hơi đâu mà nhớ đến. Mà cũng chẳng còn lúc nào rỗi để nhớ”. Ông nói khi tôi gợi chuyện. “Con cháu một bầy, toàn ăn hại. Lại thêm trận lụt vừa rồi ngập hết lúa như bác thấy.”


“Bác có cảm giác thế nào khi sống sót trở về rừng?”


“May! Còn thế nào nữa. May thoát chết như bác nói. Nhờ giả vờ chết mà sống đấy.”


“Sau đó thì sao?”


“Thì đánh nhau tiếp. Trong số ba mươi người sống sót lần ấy, nghe nói chỉ năm người trở về nhà khi chiến tranh kết thúc. Trong đó có tôi. Cũng nhờ may rủi thôi”.


Tôi lặng người, chẳng biết nói gì thêm.


“Sự hy sinh của các bác thật to lớn.” Tôi lên tiếng khi thấy im lặng mãi bất tiện. “Các bác là những người anh hùng, dũng cảm, dám xã thân vì nước...”


“Anh hùng, dũng cảm cái đếch gì. Người ta bảo đi lính thì đi. Bảo xung phong thì xung phong. Không xung phong, không dũng cảm mà được à? Không bị địch bắn chết thì cũng bị đồng đội đằng sau bắn vào lưng!”


Mấy thằng nhỏ thấy có khách, xúm lại hóng hớt. Ông chúng quát:


“Chúng mày biến! Mai kia thằng Tàu nó đánh, sẽ đến lượt chúng mày! Không thoát được đâu!”


Cuộc gặp này để lại trong tôi một ấn tượng nặng nề.


Tôi cũng may. May chưa bao giờ viết thơ cổ vũ người khác ra trận. May không phải là một trong ba mươi người sống sót ấy, chính xác hơn, năm người. Nếu không tôi sẽ đau khổ lắm. Chả là đời trót cho tôi cái chữ nên hay suy luận và mặc cảm. May nữa là tôi không bao giờ phải bắn vào lưng đồng đội nếu họ không xung phong, và ngược lại. May! Và tôi cảm ơn số phận điều ấy.


Nhưng tôi cũng có con cháu, và như ông ấy nói, mai kia thằng Tàu đánh mình, sẽ đến lượt chúng. Nghĩ mà sợ. Sợ và buồn. Vì lão nông kia, tôi và con cháu của tôi không có sự lựa chọn nào khác. Vì chúng tôi, vì tất cả chúng ta, đơn giản chỉ là những con tốt vô danh trên bàn cờ của các nhà lãnh đạo đất nước.


Mong sao cho họ biết thương dân và có những quyết định sáng suốt.


1. 11. 2011






31. LẠI NÓI VỀ CHIẾN TRANH






Một cô thanh niên xung phong bị phát hiện đang lén lút làm cái việc “tự sướng” bên con suối nhỏ sâu trong rừng.


Suốt ba đêm liền, từ sau bữa ăn tối cho đến gần sáng, cô bị đồng chí của mình, toàn nữ, kiểm điểm gay gắt và không ngớt lời sỉ vả. “Ghê tởm, thật ghê tởm!” “Một biểu hiện suy đồi đạo đức!” Một hành động bêu xấu hình ảnh người chiến sĩ cách mạng, đi ngược với lý tưởng và lối sống cách mạng tốt đẹp!” “Xử bắn con đĩ tư sản thối nát ấy đi!”. Vân vân.


Sang ngày thứ tư, không chờ đồng đội xử bắn, “con đĩ tư sản thối nát” ấy đã treo cổ tự tử trên cành cây bị bom chặt đứt một nữa.


Chủ trì và cũng lớn tiếng sỉ vả nhất trong ba đêm đấu tố ấy là cô Duyên. Đơn giản vì cô là đội trưởng đội thanh niên xung phong ấy. Duyên là người làng tôi, thậm chí suýt thành chị dâu, nếu anh trai con ông bác tôi không hy sinh ở Quảng Trị năm 68. Tự cô kể tôi nghe chuyện này khi hết chiến tranh trở về nhà.


“Tội nghiệp nó! Người ta bảo thì bọn chị phải làm thế chứ thương lắm!” cô nói, rơm rớm nước mắt. “Khối đứa như nó. Chị biết”.


“Cả chị?” tôi hỏi.


Ngập ngừng một lúc, chị nói, giọng thách thức:


“Thì sao? Chị không là người chắc? Cả bầy con gái thui thủi một mình trong rừng không một mống đàn ông suốt mấy năm trời! Đơn vị chị thì không, nhưng nghe nói ở Đrao, Tây Nguyên, có mấy chục đứa phát cuồng, lúc ôm nhau cười mãi không thôi, lúc xé hết quần áo kéo chạy tồng ngồng gữa rừng như những con điên.


Mắt chị lại rưng rưng.


Về làng được bốn năm, do lỡ thì, và cũng do chẳng còn đàn ông nào nữa mà lấy, chị Duyên xuống tóc đi tu, ở ngay Chùa Mít bên sông Bùng. Vợ chồng bác tôi thương lắm, nhưng chẳng can ngăn. Trong thâm tâm hai cụ vẫn coi chị là con dâu. Có người nói chị bị ai đó trên tỉnh lừa tình. Chuyện này thì tôi không rõ, mà cũng chẳng quan trọng. Tôi chỉ thấy ngỡ ngàng, thậm chí đau nhói trong ngực khi hình dung chị dâu hụt của tôi, - một người xinh đẹp, yêu đời, từng nhiều năm làm đội trưởng đội văn nghệ xã, - lại tự nguyện giam mình trong ngôi chùa hiu quạnh, đổ nát, với bộ quần áo màu nâu nhà Phật. Mấy ngày sau, tôi đến tìm chị, định hỏi cho ra chuyện, nhưng tôi đã không vào chùa khi đứng từ xa nhìn thấy chị đang thẫn thờ đưa chổi quét đi quét lại cái sân vốn đã sạch.





Lặng lẽ ra về, tôi cố lý giải mà không lý giải nỗi cái gì đã biến một cô gái tươi vui, hồn nhiên, tràn trề hạnh phúc và xứng đáng được hưởng hạnh phúc thành một người yếm thế, bất hạnh như vậy.


Chiến tranh? Phải chăng đây là cái giá của chiến tranh?


Bẵng đi nhiều năm, tôi lại vào chùa Mít.


Nó vẫn thế. Hai cây nhãn trước chùa vẫn thế, và vẫn thế, chúng không chịu cho quả.


Đang vắng người, tôi vào thẳng phòng riêng sư trụ trì, sư thầy Đàm Duyên. Sư thầy chứ không phải sư cô như ngày nào.


“Chào chị Duyên,” tôi lên tiếng, không hiểu sao còn cố tình nói to.


“Mô phật. Xin xưng hô với kẻ tu hành này theo đúng cách của nhà phật. Chào chú.”


Đứng chắp tay trước mặt tôi, đầu hơi cúi, là một bà già nhỏ bé, khô đét và không còn tí dấu vết nào của cô Duyên ngày xưa cũng như sư cô Đàm Duyên sau đó tôi gặp. Nét mặt bà không chỉ vô cảm mà bất động như được nặn bằng sáp. Cái đầu trọc bóng loáng cũng có lớp sáp nhờn nhợt ấy.


Bất giác, tôi chợt nghĩ: “Nếu không trọc, không biết tóc chị sẽ bạc đến đâu?”


“Chị khỏe chứ?”


“Mô phật.”


“Người ta nói nay mai chùa Mít bị đập bỏ để xây đường lớn lên Đô Lương và sang Lào?”


“Mô phật,” và chị khẽ cúi đầu.


“Thế chị và mọi người đi đâu?”


Sư thầy Đàm Duyên không đáp. Chất sáp trên mặt và cái đầu trọc của bà càng trở nên rõ nét hơn. Hình như bà đang khóc, dù đôi mắt sâu vô hồn vẫn ráo hoảnh.


Lát sau tôi bỏ về, vô cớ hậm hực với ngôi chùa tội nghiệp sắp bị phá bỏ, với hai cây nhãn xum xuê mà không chịu cho quả. Với cả chính tôi vì mãi vẫn lấn cấn tìm lời giải thích cho số phận chị dâu mình và những người như chị.


Chiến tranh! Ừ, chiến tranh! Tiên sư thằng chiến tranh!


Tôi thấy có cái gì nghèn nghẹn trong cuống họng, muốn văng tục chửi ai đó, đập phá cái gì đó mà không được. Chửi cái thằng gây ra chiến tranh chẳng hạn. Tiên sư thằng gây ra chiến tranh!


Đừng nói với tôi về chiến tranh bảo vệ tổ quốc và chính nghĩa. Tôi đã đủ khôn lớn để hiểu rằng cái cuộc chiến tranh ấy, nếu quả là bảo vệ tổ quốc và chính nghĩa như người ta nói, cũng chẳng là gì nếu nó là thủ phạm của hàng triệu cái chết dân Việt, hàng chục triệu cuộc chia ly đau đớn, thủ phạm của một sự đảo lộn triệt để các giá trị truyền thống dân tộc. Nó trở thành nhảm nhí khi vì nó các cô gái của chúng ta phải “tự sướng” và tự treo cổ, khi một người trẻ trung, tươi vui và tràn trề nhựa sống như chị Duyên của tôi phải biến thành một hình sáp vô hồn.


“Ừ, mà nếu không cạo đầu, tóc của chị sẽ bạc đến đâu nhỉ?”


14. 11. 2011





32. CÔ GÁI MÙ






Đó là một cô gái xinh đẹp, nhỏ nhắn, với chiếc cổ trắng thon dài, mái tóc xoăn tự nhiên có màu nâu vàng nhạt, chắc cũng tự nhiên. Khuôn mặt cô hao hao giống Đức mẹ Đồng trinh ta thường thấy trong nhà thờ. Ở cô toát lên một sự hiền dịu và sạch sẽ đến mức thánh thiện.


Chỉ tiếc cô mù. Cũng có thể vì mù, không phải chứng kiến bao cảnh bẩn thỉu của cuộc đời nên cô có được sự hiền dịu và sạch sẽ thánh thiện ấy.


Tiếc nữa là cô nghèo, và phải tự kiếm sống nuôi mình.


Hàng ngày, từ sáu giờ sáng người ta đã thấy cô ngồi bán hoa bên cột đèn điện ở góc một con phố nhỏ yên tĩnh. Con chó bé xíu màu vàng dắt cô đi về hàng ngày ngồi bên, hếch mõm, nghiêng đầu nhìn mỗi lần có khách dừng lại mua hoa. Nó khôn lắm, chăm chăm nhìn khách đếm tiền, và biết sủa hai tiếng chép chép khi khách quên hay chậm thanh toán.


Khu phố này nghèo, người dân lam lũ, nhưng vì hoa rẻ và chắc muốn giúp cô gái mù dễ thương nên người ta vẫn mua hoa của cô. Nhiều người cẩn thận chọn hoa, trả tiền xong lại lặng lẽ đặt vào chỗ cũ. Cô gái không nhìn thấy, chỉ mỉm cười cảm ơn. Con chó thì biết, nhưng nó im, ngoe nguẩy cái đuôi ngắn tũn. Cây cột điện bê tông đầy giấy dán quảng cáo và những dòng chữ bậy bạ đỡ trơ trẽn hơn nhờ nó. Nhờ chủ nó, người dân ở đây, trong đó có vợ chồng tôi, hình như cảm thấy đời đẹp hơn và ấm áp hơn chút ít


Mọi việc cứ thế đều đều diễn ra, lặng lẽ, bình dị và quen thuộc.


Bỗng một hôm không thấy cô gái mù bán hoa cùng con chó nhỏ của cô. Hôm sau mọi người nhốn nháo bàn tán. Hôm sau nữa thì cả phố xếp hàng đưa tang cô. Cô gái xinh đẹp, tội nghiệp ấy đã bị ai đó cưỡng hiếp rồi giết chết, vứt xác xuống hồ Thanh Nhàn ngay giữa trung tâm thành phố.


Vợ chồng tôi theo đám đông cùng lặng lẽ đưa tiễn cô. Mọi người cúi mặt bước đi, xấu hổ với cảm giác bất lực không bảo vệ được cô khỏi cái ác đang ẩn nấp đâu đó ngay trong cộng đồng mình. Sao người ta nỡ cướp đi mạng sống của một thiên thần vô hại như cô? Sao người ta nỡ tước đi của chúng tôi một trong số những bông hoa hiếm hoi mang chút hơi ấm cho cuộc đời lạnh lẽo này?


Không còn cô, con phố trở nên vắng hẳn. Hình như rác bụi cũng nhiều hơn.


Không còn cô, con chó nhỏ trở thành chó hoang, để lại cây cột đèn bê tông một mình không bạn. Nó sẽ phải tự vật lộn kiếm sống, cạnh tranh với những con chó hoang như nó nhưng lọc lõi và độc ác hơn. Hơn nữa, nó còn phải luyện chạy thật nhanh, nhìn thật rõ để khộng bị người ta bắt làm thịt. Tội nghiệp nó. Nếu biết suy nghĩ và viết văn như tôi, liệu nó sẽ nghĩ và viết gì nhỉ?


Ai đó đặt chiếc bàn thờ nhỏ bằng gỗ ọp ẹp lên chỗ cô gái mù vẫn hàng ngày thường ngồi bán hoa. Trước nén hương nghi ngút khói là hoa, rất nhiều hoa màu trắng.


Cô trao cho đời những bông hoa đẹp đủ màu, giờ nhận được chỉ toàn hoa màu trắng.


16. 11. 2011





33. VIÊM ĐAU TÂM THẦN



Tạp chí Văn Học Nước Ngoài số 5 năm 2005 có truyện ngắn “Chú bé Do Thái” của Rudolf Leonhard. Nhân vật chính là Jacob, chín tuổi, bị một ông thầy có tư tưởng kỳ thị chủng tộc bắt hát một bài có câu: “Hãy để dòng máu Do Thái phun trào khi ta đâm mạnh lưỡi dao vào chúng. Lúc đó ta sẽ nói hôm nay trời đẹp sao!” Cậu phải hát hàng ngày cùng cả lớp, mà hát to, hát rõ từng tiếng, nhất là chú, vì chú là người Do Thái.


Chuyện xẩy ra ở nước Đức ngày Hitle mới cầm quyền. Lưỡi dao chọc vào người, dòng máu phun ra và ngày đẹp trời ấy đã làm chú bé hoảng sợ đến mức mê sảng và phát ốm. Bố mẹ phải đưa chú sang Pháp lánh nạn phát-xít. Một thời gian sau chú có vẻ bình tĩnh trở lại. Thế mà một đêm khuya nọ cả nhà chú và hàng xóm chợt thức giấc vì chú chồm dậy hát: “Hãy để dòng máu Do Thái phun trào khi ta đâm mạnh lưỡi dao vào chúng. Lúc đó ta sẽ nói hôm nay trời đẹp sao!” Chú hát đi, hát lại mãi một câu ấy và không thể ngừng được. “Con không muốn, nhưng nó cứ đầy ắp trong đầu và tự tuôn ra”, chú mếu máo. Rồi chú lại ốm, còn nặng hơn trước và miệng vẫn không ngừng hát. Bác sĩ khám, nói chú mắc chứng bệnh “viêm đâu tâm thần”.


Một truyện ngắn gây ấn tượng mạnh, và nó làm tôi nhớ lại một trường hợp gần như tương tự ở Việt Nam. Chuyện có thật và xẩy ra với một người ở làng tôi.


*


Đó là một sinh viên mới du học ở nước ngoài về, đúng vào những ngày đầu đất nước vừa thống nhất. Anh có dáng người lẻo khẻo, da xanh mướt, mái tóc xoăn tự nhiên trùm lút gáy và cặp kính cận dày cộm. Nghe nói anh học văn hay triết học gì đấy bên Tiệp.


Rủi cho anh, và cả cho tôi nữa, vì tôi cũng về quê lần ấy, mới đặt chân đến cổng làng thì trời bắt đầu mưa to, mưa liên tục suốt ba ngày. Sau đó là lụt lớn, và làng bị cô lập hoàn toàn. Tức là không ai ra và cũng chẳng ai vào được làng, trừ đi thuyền mủng. Và trong suốt bảy ngày ấy cộng với ba ngày trời mưa, chiếc loa phóng thanh mới được huyện phát cạnh nhà anh ra rả nói suốt từ sang đến tối, chính xác là từ năm giờ đến mười rưỡi đêm. Trời ơi, mà nó nói to, to kinh khủng. Cái loa nói về chiến thắng lẫy lừng của dân tộc, về niềm vui đất nước thống nhất, về cơn lụt lịch sử, về số lượng bò và lợn chết trôi. Nội dung giống hệt nhau hoặc na ná như nhau, đại khái giống câu “Hãy để dòng máu Do Thái phun trào khi ta đâm mạnh lưỡi dao vào chúng. Lúc đó ta sẽ nói hôm nay trời đẹp sao!” của chú bé Jacob.


Ngay tối đầu tiên anh đến gặp tôi, nhăn nhó:


“Cái loa nó ông ổng thế cả ngày thì chết mất!”


“Phải chịu thôi. Bao nhiêu năm thế rồi. Và sẽ còn nhiều năm nữa.”


“Nhưng nó ở ngay trên đầu nhà tớ. Mà quanh đi quẩn lại cũng chỉ mấy bài, mấy lời thông báo ấy. Chết mất!”


Tôi cũng khổ sở không kém. Có điều nghe mãi thành quen. Không quen cũng phải quen. Cũng có thể da tôi dày hơn và thần kinh vững hơn. Chỉ duy nhất một điều không thể quen được, là câu hỏi tại sao người ta lại cho lắp cái hệ thống loa đài này để tra tấn người dân, tất cả mọi người dân trên cả nước? Hầu như nhà nào cũng có một cái đài thu thanh được mang từ miền Nam ra, bán nhiều và khá rẻ. Có gì cần thông báo thì cho người vác loa đi a-lô a-lô như xưa nếu ở nông thôn. Ở thành phố thì ông tổ trưởng đến từng nhà báo. Tiếc là người ta không nghĩ thế, và các loa phóng thanh vẫn ông ổng hàng ngày ở mọi ngóc ngách của đất nước. Hay người ta giữ nó như một nét đặc trưng của lối sống cộng sản?


Mờ sang hôm sau, anh lại đến, mặt bơ phờ vì suốt đêm không ngủ:


“Tớ chết mất!”


“Không chết được đâu. Gắng mà chịu.” Tôi đáp, nửa đùa nửa thật. “Ở Hà Nội cậu không phải nghe nó à?”


“Không. Tớ mới về nước, chưa phân công công tác nên ở nhờ nhà ông bác làm to ở khu Ba Đình. Ở đấy không thấy có loa kiểu này.”


‘Rồi cậu sẽ phải nghe. Hàng ngày. Không thoát được đâu. Trừ phi chết, hoặc vượt biên ra nước ngoài.”


“Thật à?” Anh nhìn tôi ngơ ngác, hai mắt lộ vẻ sợ hãi.


Ngày thứ tư, anh bảo tôi


“Ta ra Hà Nội đi.”


“Cách nào?”


“Thuê thuyền xuống ga Mỹ Lý rồi lên tàu.”


“Nhưng đường sắp ngập có đi được đâu. Đường bộ lại càng ngập.”


“Ừ nhỉ. Nhưng phải làm một cái gì đó. Tớ không thể chịu thêm được nữa. Đến phát điên mất. Mà có lẽ đã điên rồi. Mấy đêm nay tớ không ngủ chút nào. Thần kinh yếu mà.”


“Thì cậu bắt chước tớ, bơ nó đi, coi như chẳng có.”


“Tớ không làm được. Thử rồi. Cả khi nó tắt, cái loa ấy vẫn không thôi ám ảnh tớ. Không để yên một phút nào.”


Anh còn nói một lúc nữa, đại khái như lời chú Jacob: “Con không muốn, nhưng nó cứ đầy ắp trong đầu và tự tuôn ra.”


Tám giờ tối hôm ấy làng có sự cố. Đang nói hát ra rả như thường ngày, bỗng chiếc loa im bặt. Tiếp đến là một sự yên tĩnh ngỡ ngàng đến không tin là thật. Thậm chí có người thấy hụt hẫng.


Lát sau thì cả làng biết là theo yêu cầu của anh, ông bố đã trèo lên cắt đứt dây điện của chiếc loa. Chưa đầy ba mươi phút sau nó lại kêu, hình như còn to hơn. Ông bố anh suýt bị làng bắt bồi thường thiệt hại, sau xét hai sợi dây điện bị cắt chẳng đáng bao nhiêu, vả lại nối lại được nên thôi. Nhưng ông bị trưởng thôn khiển trách nặng về những lời thóa mạ chính sách tuyên truyền của đảng. Ông còn dọa nếu lập lại, sẽ cho mời công an xã.


Nước rút, anh ra ngay Hà Nội, còn tôi thì ở lại, chờ được nhà nước gọi đi làm.


“Kinh khủng quá! Không kheo tớ chết mất,” anh nói khi chia tay. Trông anh đáng ngại thật - đôi mắt sâu không có vẻ lờ đờ của người thiếu ngủ mà ngược lại rất sáng. Sáng một cách bất bình thường và đáng ngờ. Nhưng tôi vẫn cười:


“Chết thế nào được.”


*


Thế mà anh chết thật.


Vế sống với ông bác ở khu Ba Đình dành cho các quan chức to không có loa công cộng, mấy tháng sau anh trở lại bình thường. Sau đó anh được phân về làm việc ở một viện nghiên cứu và sống trong khu tập thể của viện, nơi chiếc loa cộng cộng là kẻ tra tấn hàng ngày không kém gì ở làng.


Và anh đã phát điên.


Một thời gian sau nữa thì bị một chiếc xe tải cán chết ở Như Quỳnh, khi anh trốn nhà thương điên đi lang thang như thường lệ.


Nếu được khám và có bác sĩ giỏi khám, chắc người ta sẽ ghi vào bệnh án của anh: “Viêm đau tâm thần”, như trường hợp của chú bé Jacob.


Còn tôi, có thể cả các bạn, tôi không chết nhưng cũng bị bệnh vì chiếc loa công cộng khủng khiếp ấy. Tôi căm thù nó, căm thù tận xương tủy mà chẳng làm gì được. Khi viết những dòng này, nó đang kêu ông ổng ngoài phố, về đảng vĩ đại, nhân dân anh hùng và về thiên đường cộng sản. May chỉ mỗi ngày hai lần vào sáng sớm và buổi chiều trước lúc ăn cơm.


Tôi tự chẩn đoán: Mình đang mắc bệnh “viêm đau tinh thần.”


Tự nhiên nhớ đến Hitler và Goebel, bậc thầy nhồi sọ của hắn.






Hà Nội, 1. 5. 2012








34. MÙI HOÀNG HÔN





Lái xe từ Hát Lót về Hà Nội, đến Mai Châu, ông ghé thăm một người bạn.


“Bố cháu xuống Ủy Ban, chập tối mới có nhà ạ”. Một con bé khoảng mười tuổi, người dài ngoẵng vừa nói, vừa mút mút cây kem nửa xanh nửa đỏ.


Tức là còn hơn tiếng nữa.


“Bảo bố cháu có bác Hoạt Hà Nội ghé chơi. Bác ấy đang đi dạo ngoài đồi”.


Ông không “đi dạo”, mà nửa nằm nửa ngồi dưới bóng một cây to râm mát, lơ đãng đưa mát bao quát cả khoảng không rộng phía dưới. Ở thành phố chật chội lâu ngày, được buổi thế này ông thấy vui thích, thậm chí người như mềm ra.


Một chiều trung du điển hình. Nắng nhạt, gió hây hây và màu xanh rờn của đồi núi. Con đường đất ngoằn ngoèo từ thung lũng đi lên như vết son đỏ, hai bên có loại bụi rậm gì đó ông không biết tên, hoa trắng và xốp như những quả bóng bàn. Xa xa phía dưới là một vệt xanh kéo dài, chắc có con suối và mùa này đang cạn nước.


Treo lửng lơ phía trên là mặt trời hoàng hôn, không đỏ mà vàng như trái cam mới hái.


Có hai anh chị còn trẻ đi đâu về. Chị ăn bận kiểu người Thái với bộ váy màu xanh chàm, đầu che chiếc ô Tàu vải lụa hồng. Chàng thì mặc như người Kinh, có phần hơi nhếch nhác. Chiếc mũ cối còn mới chẳng ăn nhập tí nào, trông lấc cấc. Rõ ràng hắn đang tán cô nàng, mà tán theo cách rất dân dã. Chốc chốc hắn vỗ vào mông hay chạm ngực nàng. Tất nhiên nàng đẩy ra nhưng không kiên quyết lắm. Để làm lành, hắn ngắt mấy bông hoa bóng bàn, dúi vào tay nàng. Và nàng nhận. Ngang qua chỗ ông, thấy có người, họ mới chịu nghiêm chỉnh đi đứng bình thường.


Tự nhiên ông mỉm cười một mình.


Sau đó ông thầy một cô bé gánh nước từ dưới suối lên. Hai chiếc xô nhựa cũng bé xíu như người nó. Chiếc đỏ trước, chiếc xanh sau. Còn nó ở giữa thì màu đen. Khi nó đến gần, ông phát hiện thêm một màu nữa. Màu hoe vàng của mái tóc. Không phải nhuộm, tất nhiên, mà do nắng sém.


“Cháu cho ông ngụm nước được không?” Ông lên tiếng hỏi, dù không khát.


Nó đặt đôi xô xuống đất, mặt lấm tấm mồ hôi.


Thấy ông lúng túng không biết uống bằng cách nào, nó nói:


“Ông vúc hai tay. Hay úp mặt xuống mà uống cũng được.”


“Nhưng ông sợ làm bẩn nước của cháu.”


Nó lắc đầu:


“Bọn cháu ở nhà toàn uống thế.”


Ông vục mặt xuống chiếc xô màu đỏ. Tưởng không khát, thế mà ông uống khá nhiều, và uống lâu. Ngon tuyệt. Có cảm giác như ông không uống nước mà uống một cái gì đấy thật tốt lành, thật sạch sẽ ở thành phố của ông không có. Cái gì nhỉ? Cái giản dị, chân chất theo bản năng của con người, kiểu tán gái thì vỗ vào mông, hay uống nước thì vục mặt xuống xô? Cái bản năng mà cố ý hay vô tình bị ta vùi lấp trong cuộc sống hiện đại tưởng văn minh mà thực ra cũng chẳng văn minh lắm?


Cuối cùng ông ngẩng mặt, khà một tiếng khoan khoái. Cái cảm giác thích thú vẫn đầy ắp trên đầu và lưỡi. Cảm giác lâng lâng như khi người ta bất chợt thấy mình thoát tục, thoát khỏi cuộc sống xã hội ước lệ để trở về với thiên nhiên và thành một phần của thiên nhiên. Như bằng chứng của sự thoát tục ấy, ông nghĩ mình đang ngửi thấy mùi của hoàng hôn - nhạn nhạt và buốn. Cả mùi của mái tóc con bé nữa - khen khét và mặn. Người ta chẳng bảo loài vật có khướu giác nhạy hơn con người nhiều lần đấy ư?


Con bé có nét mặt xinh và dễ thương. Được rửa ráy sạch sẽ, không chang nắng hàng ngày và mặc những bộ quần áo xinh đẹp như búp bê, nó sẽ là một thiên thần. Và ông thầm hình dung từ hai xương vai gầy nhô cao sau chiếc áo vải đen bạc màu của nó từ từ nhú lên đôi cánh trắng như cánh chim câu. Ông những muốn ôm ghì lấy nó, nhấc lên cao.


“Cháu phải gánh nước hàng ngày thế này à?” Cuối cùng ông hỏi.


“Vâng ạ. Mỗi ngày hai lần sáng và chiều. Mỗi lần hai gánh.”


“Sao một mình cháu phải gánh?”


“Vì bà ngoại cháu mù, không đi được.”


“Còn bố mẹ?”


“Mẹ cháu bị bán sang Trung Quốc đã lâu.”


Ông khựng lại một lúc rồi hỏi tiếp:


“Còn bố?”


“Bố cháu buôn ma túy bị tù. Năm năm rồi.”


Nó nói thản nhiên, thậm chí không thay đổi nét mặt. Còn ông thì thấy nghèn nghẹn trong cuống họng.


“Vì sao cháu biết?”


“Cả bản nói thế ạ. Và người ta gọi cháu là “con ma túy”.


“Thế cháu có biết ma túy là gì không?”


“Không,” nó đáp cộc lốc, rồi nhấc gánh nước đi tiếp.


Hai mắt cay cay, ông đứng lặng nhìn theo thiên thần của mình.


Và buồn, vì không còn ngửi thấy mùi hoàng hôn và mùi mái tóc khét của nó.






Hà Nội, 3. 5. 2012










35. KHÔNG NƯỚC, KHÔNG TRĂNG






Ni-cô Chiyono học Thiền với thầy Bukko ở chùa Engaku. Trong một thời gian dài cô chăm chỉ thiền định mà không gặt hái được kết quả gì.


Một đêm trăng nọ, ni-cô đi lấy nước trong cái gàu cũ được néo bằng một thanh tre. Thanh tre gãy, chiếc gàu rơi, nước đổ lênh láng.


Đúng lúc ấy cô giác ngộ, và thấy tâm thức mình được giải phóng.


Sau đấy ni-cô đã viết một bài thơ thế này về sự kiện đó:





Tôi cố giữ chiếc gàu nước ấy.


Nhưng thanh tre gãy,


Chiếc gàu rơi.


Không còn nước trong gàu.


Không còn trăng trong nước.






Được một ông bạn già giới thiệu, thời gian gần đây tôi mê đọc các bài nói chuyện về Thiền của Osho. Câu chuyện trên về sự giác ngộ của ni-cô Chiyono mở đầu cho cuốn “Bài nói về các câu chuyện Thiền” cùng tên của ông, “Không nước, không trăng.”


“Không nước, không trăng, cậu hiểu chứ?” ông bạn tôi sôi nổi nói. “Và ni-cô Chiyono đã giác ngộ, tâm thức được giải phóng đúng vào cái lúc không nước không trăng ấy...”


“Vì sao?”


“Vì thanh tre mục gãy làm chiếc gàu rơi xuống đất. Gàu rơi thì nước đổ. Nước đổ thì ánh trăng soi trong đó cũng không còn. Gàu và nước là lối tư duy dựa vào những gì mắt thấy tai nghe và sờ mó được. Lối tư duy sáo mòn, cũ kỹ của người đời, của tôi, của ông. Và nó chỉ cho ta thấy cái ảo là ánh trăng hời hợt trên bề mặt của nó.”


“Nhưng cái trăng soi mặt nước ấy cũng đẹp lắm. Và vô hại.”


“Đúng. Người ta tưởng thế, và đó mới thực sư là điều đáng lo ngài. Vì nó mà ni-cô Chiyono chăm chỉ thiền định mãi vẫn không gặt hái được kết quả gì. Vì nó mà tớ và cậu suốt ngày quẩn quanh than với thở như những lão già dở hơi. Suốt đời bám lấy cái trăng và nước ấy, mà trăng thì mờ, mà nước thì đục...”


Câu chuyện của Osho và những lời bạn nói khiến tôi suy nghĩ rất lung.


Quen nhau từ lâu, tôi đoán ông này đang có chuyện gì đó bức xúc lắm.


Một tuần sau ông lại đến. Vừa bước vào nhà, ông nói luôn:


“Cái gàu nước của tớ đổ rồi!”


Tôi chăm chú nhìn ông, chờ nghe tiếp.


“Tớ đã viết đơn xin ra khỏi đảng. Đơn đàng hoàng chứ không phải lẳng lặng bỏ sinh hoạt như khối đứa bây giờ.”


“Vậy nay không nước, không trăng, cậu có cái gì?”


“Tự do.”


Rồi ông nói thêm:


“Tức là tất cả!”.






Hà Nội, 4. 5. 2012






36. NHỤC






Hay tin, ông bỏ cả việc đang làm giở ở Sài Gòn, vội vàng bay ra Hà Nội.


Vừa đặt va-li xuống nền nhà, ông cao giọng hỏi vợ:


“Làm sao mà người ta trả lễ?”


“Vì con ông làm công an.”


“Công an thì sao mà trả lễ?”


“Ông đi mà hỏi người ta ấy.”


“Nhưng trước đồng ý, người ta đã biết nó là công an rồi cơ mà?”


“Tôi biết đâu đấy. Sao ông cáu với tôi?”


“Nhục!”


*


Con trai ông và con gái gia đình ông giáo phố bên học cùng nhau từ bé rồi yêu nhau và định lấy nhau. Cả hai đều ngoan, lại môn đăng hộ đối, tưởng chẳng còn gì nữa phải bàn. Thế mà khi nghe tin con ông vào Học viện công an, gia đình ông giáo có ý ngãng ra. May hai đứa yêu nhau thực sự nên cuối cùng cũng xuôi xuôi, và tuần trước họ đã đồng ý cho làm lễ dạm hỏi. Thế mà bây giờ... Trả thì trả, thành phố này thiếu gì con gái! ông nghĩ. Đành là thế, nhưng ông thấy bị sĩ nhục. Một gia đình như ông, với một thằng con hiền lành, tử tế như con ông mà bị trả lễ thì thật nhục. Hàng xóm sẽ khối anh được dịp đơm đặt.


Tối đến, ông gọi riêng con trai ra một chỗ, hỏi chuyện.


“Lý bảo bố mẹ cô ấy lần này làm căng, dứt khoát không chịu.” Anh con nói.


“Vì sao?”


Anh ta im một lúc mới đáp:


“Vì có ai đó nhìn thấy con hôm công an dẹp vụ cưỡng chế đất ở Cống Bầu.”


“Con ở đấy thật à?”


“Vâng.”


“Tưởng con lính văn phòng không phải làm những việc đó...”


“Bây giờ cần là người ta điều hết.”


“Thế con làm gì ở đấy?”


Anh con ngước mắt nhìn bố, vẻ ngạc nhiên:


“Làm những việc công an phải làm với bọn phản động. Bọn bị các thế lực thù địch kích động làm loạn...”


Đến lượt ông bố dướn mắt ngạc nhiên:


“Con có đánh người ta không? Thậm chí nổ súng?”


“Con thì không, vì chưa cần.”


“Còn nếu cần?”


Anh con không trả lời.


“Hôm dẹp mấy vụ biểu tình chống Tàu con có tham gia không?


“Có.”


“Có đánh ai không?”


“Không. Chỉ xô đẩy. Mà bố hỏi kỹ thế làm gì nhỉ? Đấy là việc của con. Nhiệm vụ của chúng con là bảo vệ đảng, bảo vệ đất nước, bảo vệ nhân dân.” Anh con thậm chí cao giọng, là việc xưa nay ông chưa từng thấy, vì nó vốn là đứa hiền và ngoan nhất nhà.


Rồi anh ta nói thêm:


“Trước bố đi bộ đội, cũng để bảo vệ đảng, bảo vệ đất nước và nhân dân như con bây giờ thôi. Việc bố xưa bố làm. Việc con nay con làm. Thế cả.”


Ông thấy vương vướng trong cuống họng.


“Không, khác hẳn. Xưa bố đánh giặc, đánh Mỹ. Nay chúng mày đánh nhân dân. Xưa nhà nước lấy đất người giàu chia cho người nghèo. Giờ thì ngược lại.”


Ông định nói thế. Thậm chí định tát và mặt thằng con của mình, nhưng nghĩ thế nào, ông im lặng bỏ vào phòng mình.


*


Ông nằm ngửa, mắt nhìn trân trân lên trần nhà.


Vậy là con ông đã thay đổi. Trong nhà với bố mẹ có thể nó vẫn như xưa, nhưng ra ngoài thì đã khác. Mà chỉ sau mấy năm học ở trường cảnh sát. Người ta đã dạy cho nó những gì nhỉ? Chắc các ông thầy ở đấy phải giỏi lắm mới thuyết phục được nó tin mấy ông bà nông dân chân đất mắt toét và mấy vị trí thức già yêu nước là phản động để xô đẩy và đánh họ. Hay đạp vào mặt họ. Hay thậm chí có thể bắn họ. Lúc nãy nó chẳng bảo “chưa cần” đấy thôi.


Láo! Nhục!


Hôm sau, ông nhẹ nhàng bảo vợ:


“Thôi, bà ạ. Người ta đã muốn thế thì mình cũng im đi cho xong. Chắc họ phải có lý do của họ. Nhục cũng phải chịu chứ biết làm thế nào.”


Bà vợ ông chỉ hiểu chữ “nhục’ theo nghĩa bẽ bàng với hàng xóm chứ không biết ông hàm ý cái nhục khác còn lớn hơn.






37. CÒN GÌ NỮA KHÔNG?






Một lần, khi thuyết pháp ở làng nọ, bỗng có người chạy lại nhổ vào mặt Đức Phật rồi buông lời thóa mạ.


Các đệ tử định can ngăn nhưng Ngài giơ tay ra hiệu đừng, rồi ôn tồn hỏi người kia:


“Còn gì nữa không?”


Câu nói ấy sau này được nhiều người nhắc lại khi chuyện liên quan đến sự nhẫn nhục. Phật hỏi “Còn gì nữa không?” vì Ngài nghĩ có thể người ấy còn điều ấm ức chưa nói hết. Thì để cho anh ta nói hết.


Sừng sờ trước thái độ nhẫn nhục ấy của Phật, người kia không nói gì thêm, hôm sau đến cúi rạp trước Ngài xin tha tội. Phật nói:


“Trong một ngày có nhiều nước chảy qua sông Hằng. Ta không còn là ta của ngày hôm qua. Cả ông cũng vậy. Hôm qua ông phỉ nhổ, hôm nay ông xin tha lỗi. Cả người nhổ và người bị nhổ đã đổi khác. Mọi vật cũng đổi khác, chỉ trong một ngày ngắn ngủi. Vậy hãy đứng dậy, mong ông từ nay chỉ bình tĩnh dùng lời bày tỏ lòng mình.”


Rồi Ngài lại hỏi:


“Còn gì nữa không?”


*


Đúng mười một giờ, giờ lên giường, chuông điện thoại di động kêu. Ông cầm máy.


“Tôi cảnh cáo ông: Già rồi nên nghỉ ngơi vui vầy với con cháu. Ngứa nghề thì viết thơ trẻ con như xưa nay vẫn viết. Và thôi đi cái cái trò bài tung bài lên mạng chửi đảng, chửi chế độ!”


“Dạ, xin hỏi ông là ai ạ?”


“Không cần biết.” Im lặng.


“Tôi không chửi đảng, chửi chế độ. Tôi chỉ nói lên suy nghĩ của mình. Một cách trung thực và có trách nhiệm. Tôi ký tên thật tất cả các bài mình viết, còn ghi cả địa chỉ nhà riêng và điện thoại.” Ông đáp, có ý trách người gọi điện không chịu nói tên.


“Những bài báo phản động! Ăn phải bã nước ngoài rồi làm phản động, hại dân, hại nước!”


Người kia, giọng trong và trẻ, còn tuôn ra một thôi những lời buộc tội gay gắt, đôi lúc tục tĩu và hăm dọa.


Khi thấy anh ta ngừng, ông nhẹ nhàng nói:


“Tôi vẫn nghe. Còn gì nữa không?”


Đầu dây bên kia tắt máy.


Ba hôm sau, khi ông đăng một bài ngắn trên mang “lề trái”, người kia lại gọi điện, vẫn đúng mười một giờ đêm, và anh ta nhắc lại gần toàn bộ những gì đã nói lần trước, nhưng lời lẽ bớt căng thẳng hơn.


Ông vẫn kiên nhẫn lắng nghe, cuối cùng nhắc lại cái câu nói ấy của Phật:


“Anh còn muốn nói gì nữa không?”


Đến lần thứ năm, anh ta chỉ nói:


“Dẫu sao tôi nghĩ bác nên thôi đi thì hơn. Đỡ phiền cho mình, và cho cả người khác.”


Ông hiểu “người khác” là anh ta. Anh ta được giao nhiệm vụ này. Rồi ông nhẹ nhàng nói:


“Tôi tôn trọng anh, và đã lắng nghe những gì anh muốn nói. Giờ anh có muốn nghe tôi không?”


“Bác nói đi.”


“Thực ra tôi không nói. Tôi chỉ muốn đọc anh nghe một bài thơ nới về Đức Phật. Anh có vội không?”


“Không. Bác đọc đi.”


Và ông đọc một truyện thơ ông tìm thấy trên mạng cách đây không lâu:






Một ngày nọ, Đức Phật


Đi qua một ngôi làng


Có một người thô lỗ


Sỉ nhục Ngài sỗ sàng.






Anh ta còn trẻ tuổi,


Ăn nói như người điên,


Bảo Ngài cũng ngu dốt


Như người khác, tuy nhiên,






Do rất giỏi lừa phỉnh


Nên người ta tin Ngài.


Tóm lại, toàn nhảm nhí,


Không đáng lọt vào tai.






Đức Phật nghe, bình thản


Trước lời nhục mạ này.


Bất chợt, Ngài khẽ hỏi:


“Xin anh nói tôi hay.






Nếu anh tặng ai đó,


Thí dụ, chiếc áo dài,


Nhưng người ấy không nhận,


Thì nó là của ai?”






Anh kia hơi bối rối,


Nhìn Đức Phật, và rồi


Liền đáp: “Món quà ấy


Tất nhiên là của tôi!”






Đức Phật cười thân mật:


“Anh nói đúng, vậy thì


Những lời anh vừa nói


Là của anh, nhận đi.






Anh mắng tôi thậm tệ,


Tôi không nhận, làm thinh,


Nghĩa là anh thực sự


Đang mắng bản thân mình.






Ở đời, anh bạn ạ,


Đừng gây ra cho người


Những gì mình không muốn.


Được thế, sẽ tuyệt vời.






Anh thù hận người khác,


Tức là thù hận anh.


Chính anh sẽ đau khổ,


Vì anh làm hại mình.”






“Cảm ơn.” Anh kia nghe xong nói, rồi tắt máy.


Ông vẫn tiếp tục viết bài cho các báo mạng “lề trái”. Chỉ nêu vấn đề, phân tích sự kiện với những lập luận xác đáng và không một từ mang tính thóa mạ, theo đúng phong cách xưa nay ông vẫn viết.


Người gọi điện thoại giấu tên không gọi cho ông lần nào nữa.


Mãi gần đây ông mới nhận được tin nhắn của anh ta với vẻn vẹn ba chữ: “Xin lỗi bác”.










38. BẦY SÂU VÀ QUẢ TÁO THỐI






Hôm nọ, ông bạn trung tá cùng quê tôi viết trong truyện “Người Việt xấu xí” lại đến chơi.


Mỗi lần ông đến là tôi nghĩ chắc có chuyện ông muốn “tâm sự. Ngày nhỏ, ông phịa chuyện ông bác giấu thóc khiến ông này bị cán bộ cải cách bắn chết. Lại còn dám bảo bố mẹ bóc lột tá điền, nên bị đánh một trận thừa sống thiếu chết phải trốn biệt, đến bố chết cũng không dám vác mặt về làng. Chính ông tự nhận mình là “người Việt xấu xí” nhất, tức là đốn mạt nhất trong số những người Việt đốn mạt.


Khác mọi lần, hôm nay ông chào tôi bằng tiếng cười hề hề:


“Khá lắm. Ông chửi được đấy!”


“Tôi không hiểu,” tôi đáp, vẻ dè chừng. “Tôi chửi? Chửi ai?”


“Còn giả vờ không hiểu! Chửi cái bọn quan chức cầm quyền đục khoét dân như những con sâu nung núc cỡ bự. Bà Dương Thu Hương nói thế phải không nhỉ? Ừ đúng, bà ấy nói thế. Còn ông thì kín đáo hơn nhưng cũng chua cay không kém...”


“Lại càng không hiểu.”


“Thật ư? Đây, không chửi thì là gì?”


Rồi ông lấy ra một tờ giấy, và đọc to như đọc quân lệnh cho lính:






Đức Phật bảo đệ tử:


“Hãy nhìn kia, bầy sâu


Đang ăn quả táo thối.


Mà cắn xé, tranh nhau.






Chúng tưởng chúng hạnh phúc


Ăn thứ nhơ bẩn này.


Ta, người thường, thấy chúng


Là loài đáng thương thay.






Còn những người giác ngộ


Thì thấy người vô minh


Như sâu ăn táo thối,


Rất hài lòng với mình.”






“Thì ra là thế,” tôi nói. “Đó là một bài trong tập thơ tôi viết về Phật và Đạo Phật, 350 trang, đang in sắp xong, định ít bữa nữa tặng ông. Nhưng nó chẳng liên quan gì đến những điều ông nói. Đây thuần túy là bài thơ răn đời của Phật để nhắc mọi người thoát khỏi chốn u minh...”


“Đúng, nhưng ông mượn nó để chửi chúng.”


“Chửi thế nào?”


“Lại còn hỏi. Bọn quan cách mạng bây giờ là bầy sâu tranh nhau ăn táo thối. Còn quả táo thối ấy chính là đất nước ta hiện nay. Mà chúng sắp ăn hết rồi. Chúng ta sắp toi rồi...”


“Là ông suy diễn vậy.”


“Suy diễn thế nào? Trong bài viết của mình, “lề phải” hẳn hoi nhé, ông cứ tưng tửng, tưng tửng, không nói thế mà nói thế, và người ta hiểu thế. Ông thâm và gian lắm. Nhưng chửi là đúng. Cái bọn sâu ấy thì phải tru di chứ nói gì chửi.”


Chờ ông hạ nhiệt, tôi nói:


“Ông còn lạ gì tôi. Nói hiền cũng được mà hèn cũng được. Suốt đời tôi có chửi ai đâu. Chửi cái chế độ này như ông nói lại càng không, vì ông thừa biết tôi được thế này cũng nhờ nó. Thay cho đi chiến trường tôi được gửi ra nước ngoài học. Sau làm cái nghề văn thơ, dịch giả. Dịch giả mà ăn thật như có đứa nói. Không ai đánh tôi, tôi chẳng bị oan khiên gì. Thế thì sao tôi còn chửi? Cái đạo của người tử tế không cho phép vừa được ăn lại còn được chửi...”


“Nghĩa là ông bênh vực chúng, cái bọn sâu tham nhũng ấy?”


“Không, ngược lại. Tôi căm ghét chúng như căm ghét mọi sự xấu xa khác, nhưng...”


“Nhưng sao?”


“Nhưng nói thật, tôi thấy thương hại chúng, thậm chí nói thương cũng được, nếu ông muốn.”


Ông dướn mắt nhìn tôi ngạc nhiên, nhưng không nói gì.


“Ông đã bao giờ tự hỏi cái bọn sâu ấy, trước khi thành sâu chúng là gì chưa? Là người, đúng không? Như tôi, như ông. Có đứa còn tốt hơn. Vì sao? Vì rơi vào quả táo thối thì chúng phải thành sâu để ăn nó. Đó là qui luật. Mà khi cả bầy ăn thì một con hay hai con không muốn cũng phải ăn. Cũng qui luật nốt. Vậy vấn đề ở chỗ là đừng có quả táo thối ấy. Nghĩa là phải có cái gì đó giữ cho nó không thối. Táo không thối thì không có sâu. Chắc ông còn nhớ vụ cái Hồng làng ta mấy năm trước. Trước kia trong lớp nó chẳng hơn đứt chúng tôi à? Lớp trưởng nhé, bí thư chi đoàn, đẹp gái, giỏi văn nghệ nhé... Rồi sao? Rồi xong đại học nó phấn đấu vào đảng, được đề bạt lên trưởng phòng, rồi người ta giao cho nó chức giám đốc cái công ty nghệ thuật của nó. Rồi nó đút tiền để trúng thầu xây dựng tượng đài và phải ăn bớt xi măng và đồng, ăn bớt nhiều, để bù cho khoản hối lộ ấy và đút túi phần dư thừa. Rồi nó vào tù. Thế đấy. Nôm na là nó rơi vào quả táo thối, lúc đầu còn là người, hay nửa người, sau thành sâu như những con sâu khác trong đó. Vậy thì ai đáng trách hơn, con sâu hay kẻ làm quả táo thối?”


Tôi dừng lại chiêu một ngụm nước, có ý chờ ông phản bác, nhưng ông vẫn ngồi im.


“Tất nhiên nó cũng có lỗi vì cái thói thích làm sâu ăn bẩn của nó,” tôi hạ giọng, nói tiếp. “Bắt đầu từ cái việc “phấn đấu vào đảng” mà thực chất là để có cơ hội ngoi lên làm sâu chứ lý tưởng gì. Ông quân đội thì một nhẽ, chứ tôi không tham đường quan trường, không vào đảng nên không có cơ hội thành sâu. Chứ dính vào, ai dám chắc mình sạch được mãi. Tóm lại, cái chính và là nguyên nhân của mọi vấn đề là cái môi trường ấy. Phải làm cho nó trong sạch, lúc đầu cố đỡ bẩn, rồi sạch hơn, cuối cùng hoàn toàn sạch. Nghĩa là phải xóa bỏ cái ấy, cái bây giờ người ta hay gọi là lỗi... lỗi gì nhỉ?”


“Lỗi hệ thống.”


“Đúng. Lỗi hệ thống. Cơ chế. Và nó chi phối mọi cái dưới nó...”


Tôi ngồi im, thú thật cũng hơi mệt vì ít khi nói dài, nói căng thẳng về một vấn đề nghiêm túc như thế.


Cuối cùng ông lên tiếng:


“Vì vậy mà ông yêu lũ sâu đó?”


“Không, chỉ thương hại. Kể ra nếu yêu được như Phật cũng chẳng sao.”


Rồi tôi nói với ông dạo này do đọc nhiều, viết nhiều về Phật nên thấm tư tưởng của Ngài, và rằng tôi đang cố yêu tất cả mọi người, thậm chí cả những chú công an đòi hối lộ vi phạm luật giao thông. Việc ấy làm tôi bớt căng thẳng.


Ông nghe, không nói gì, chỉ cười. Kiểu cười mỉa, tôi biết.


“Vậy làm cách nào để xóa cái lỗi hệ thống, cơ chế đó?”


“Phật nói chỉ tình thương yêu mới chiến thắng được cái ác,” tôi đáp một cách lấp lửng.


Ông lại cười mỉa. Cười tôi thơ ngây, tất nhiên, nhưng quả thật tôi nghĩ như thế.


“Phật còn dạy phải biết kiềm chế sự tức giận của mình, vì nó không mang lại gì ngoài tai họa,” tôi nói tiếp. “Mà rồi, nghịch lý là ở chỗ chính những con sâu hệ quả của hệ thống, ít ra những con bự, chứ chẳng phải ai khác, có thể xóa bỏ được cái hệ thống ấy. Không phải những người đứng ngoài la hét, nguyền rủa. Chúng từng là người, và khi phải chịu những tác động nội tại hay bên ngoài nào đó, có thể chúng quay lại thành người. Đừng quên chúng cũng từng như ta hay tốt hơn ta. Cõi người nhiều tầng nhiều lớp lắm. Lớp ngoài chưa hẳn phản ánh đúng bản chất lớp trong.”


Nụ cười mỉa biến mất trên môi, ông hỏi tôi với giọng rất nghiêm túc:


“Vậy rốt cục ông viết câu chuyện ấy của Phật để làm gì?”


“Để chúng ta thấy dưới con mắt của Ngài, chúng ta đang sống tầm thường thế nào trong sự vô minh của mình. Thấy để cố gắng thoát ra khỏi nó. Còn hiểu theo cách suy diễn của ông thì ông đã nói rồi. Tức là cái bọn quan chức sâu mọt đang đục khoét đất nước mà ta phải lên án, phải làm cho chúng tỉnh lại, với hy vọng có thể một ngày nào đó tự chúng xóa bỏ cái cơ chế đẻ ra chúng. Và cũng để những người còn u mê nhận diện bộ mặt thật của chúng hiện nay. Đại khái như vậy.”


“Dạo này tôi thấy ông thay đổi nhiều lắm,” ông thở dài khi đứng dậy ra về. “Hy vọng theo hướng tốt hơn.”


“Ừ, hy vọng thế,” tôi đáp.


*


Ba ngày sau ông gọi điện nhắc tôi tặng ông một cuốn thơ Phật. Sau đó, như sực nhớ điều gì, ông nói thêm:


“Mà hôm nào tôi và ông vào Trại giam Thanh Hóa thăm cái Hồng xem nó thế nào.”










BẦY SÂU VÀ QUẢ TÁO THỐI






Lúc ấy đã xế chiều.


Hai ông già, một gầy một béo, ghé vào quán nước để nói chuyện “nhân tình thế thái”, tức là chuyện chính trị.


Dạo này đâu người ta cũng thấy các ông già nói chuyện chính trị. Mà nói to, không thèm thậm thụt như trước.


Ông gầy lấy ra một tờ giấy, thích thú đặt nó lên bàn rồi nói:


“Ông đọc đi.”






BẦY SÂU VÀ QUẢ TÁO THỐI



Đức Phật bảo đệ tử:


“Hãy nhìn kia, bầy sâu


Đang ăn quả táo thối.


Mà cắn xé, tranh nhau.






Chúng tưởng chúng hạnh phúc


Ăn thứ nhơ bẩn này.


Ta, người thường, thấy chúng


Là loài đáng thương thay.






Còn những người giác ngộ


Thì thấy người vô minh


Như sâu ăn táo thối,


Rất hài lòng với mình.”






Ông béo đọc xong, ngước lên hỏi:


“Thì sao?”


“Thì nó nói đúng phóc chứ sao?”


“Nói gì?”


Ông gầy không trả lời thẳng vào câu hỏi của bạn:


“Đây là bài thơ trên một tờ báo chính thống. Để bàn về cái nhân, cái đức, cái gì gì đấy của Phật. Không quan trọng. Quan trọng là nó nói đúng thực trạng của ta hiện nay. Tôi biết lão tác giả này. Lão thâm lắm. Là ông quan văn ăn lương nhà nước nên lão phải mượn cổ nói kim, mượn người nói ta. Cũng phải thông cảm cho lão.”


Ông béo gật gù:


“Đúng là bọn quan tham nhũng đang đục khoét đất nước như bầy sâu tranh nhau ăn quả áo thối. Vấn đề ở chỗ là có quả táo thối trước để sâu đến ăn hay ngược lại, vì sâu ăn mà quả táo thành thối. Táo chín, tự rơi xuống đất cũng có thể thành thối.”


“Thế ông nghĩ sao?”


“Ở một nước bình thường thì đa phần táo rụng mà thối. Còn nước ta thì do sâu ăn.”


Ông gầy thở dài:


“Mà bọn chúng tranh nhau ăn kinh lắm. Sắp hết quả táo rồi. Đất nước ta sắp toi rồi.”


Ông béo cũng thở dài theo.


Im lặng một lúc, ông gầy lại nói:


“Tôi đọc kỹ bài thơ, thấy Phật nói đúng. Cứ như Ngài đang nói về ta ấy.”


Ông béo cầm tờ giấy đọc lần nữa, rồi hỏi:


“Ông có thương hại chúng không?”


“Không. Chỉ Phật mới có thể yêu hết mọi người. Với Ngài, không có người xấu, chỉ có người tốt và chưa tốt. Tôi thì tôi nghĩ phải giết chúng. Giết hết!”


“Thời buổi sâu nhiều người ít, giết thế nào xuể.”


“Thì phải làm sao cho người nhiều sâu ít.”


“Làm cách nào?”


“Phật chẳng đã nhắc đến hai chữ “giác ngộ” đó sao? Không ít người thậm chí giờ còn chưa nhận thấy chúng là sâu. Phải làm cho họ “giác ngộ để thấy bộ mặt thật của chúng.”


“Đành thế, nhưng khó.”


“Ừ, khó.”


Rồi cả hai ông gãi tai, gần như cùng một lúc.


Bất chợt, ông béo nói, giọng hồ hởi:


“Tôi nghĩ lại rồi. Về việc sâu trước hay táo thối trước ấy mà, tôi cho rằng ở ta nhất định phải do táo thối trước. Ý tôi muốn nói tới môi trường xã hội, hay cơ chế, hệ thống gì đó như bây giờ người ta hay nói. Nó bị lỗi, bị thối nên mới đẻ ra lắm sâu thế. Những con sâu vốn dĩ cũng là người bình thường như ta, có con còn tốt hơn. Thế mà thành sâu. Sâu cũng ba bảy loại. Loại sâu hoàn toàn, loại nửa người nửa sâu hay sâu một phần, người ba phần. Nhưng chung qui vẫn là sâu, vì trong một quả táo đã thối thì không thành sâu cũng khó. Hoặc cái miệng ăn, cái tay vơ là sâu, còn cái đầu, cái tâm thức vẫn sót lại đôi chút chất người...”


Đến lượt ông gầy hồ hởi:


“Bác nói thế làm tôi chợt nảy ý này. Có thể làm cho người nhiều sâu ít bằng cách khơi gợi, khuyến khích, hoặc nếu được thì bắt sâu trở lại làm người, nhất là những con sâu bự. Từ người thành sâu được thì cũng có thể từ sâu lại thành người được chứ sao.”


“Miễn là có điều kiện cần và đủ,” ông béo chêm vào.


“Đúng. Bài thơ này về lời Phật dạy cũng góp phần tạo nên điều kiện ấy. Và rồi chính những con sâu quay lại làm người ấy sẽ tự mình chữa cái “lỗi hệ thống” kia, và làm cho quả táo không thối nữa. Đừng quên trước khi thành sâu chúng cũng từng là người, và trong chừng mực nào đó, chúng cũng là nạn nhân của cái “ hệ thống” được áp đặt từ trước.”


“Ông nói cứ ngon ơ. Chúng không dễ gì muốn trở lại thành người đâu.”


“Có thể. Nhưng hiện giờ tôi nghĩ đó là điều khả thi hơn cả, nếu không muốn nói duy nhất.”


Khi đứng dậy ra về, ông béo nói một câu không ăn nhập mấy với những điều vừa tranh luận:


“Giá bây giờ có Phật sống lại nhỉ?”






Hà Nội, 30. 4. 2012






39. MẶT NẠ - 2






Hôm ấy trời mưa lất phất.


Khách đến vào lúc nửa đêm. Hắn không gõ mà đấm mạnh vào cửa ba lần, như một ám hiệu.


Chủ nhà, một lão loắt choắt khoảng năm mươi, vội vã chạy ra.


“Đại ca mới về ạ.”


Khách không đáp, khinh khỉnh bước vào rồi vứt chiếc túi vải cáu bẩn xuống ghế.


“Một chai gì đấy thật mạnh. Loại to.”


Hắn ném mình xuống chiếc xô-pha mềm, tựa đầu lên thành ghế.


Mặt hắn sần sùi, đen xạm và đông cứng như miếng thịt trâu vừa lấy từ tủ đá ra, với những chấm nước li ti trên đó. Thoạt nhìn, người ta nghĩ hắn mới ba mươi, mà cũng có thể đã sáu mươi. Một khuôn mặt vô hồn và dữ dằn. Một chiếc mặt nạ.


Tu một hơi gần hết cả chai rượu lớn, hắn quát:


“Dìu tao vào ngủ.”


Lão chủ ngoan ngoãn làm theo. Lão sợ hắn. Quá sợ. Từ nãy đến giờ lão nhẫn nhục đứng cạnh chờ lệnh.


Xong, lão nhẹ nhàng khép cửa rồi quay ra, ngồi xuống ghế, thừ mặt.


Khách vốn là cậu chủ trước đây của lão. Con nhà giàu, gia giáo. Một hôm, cãi nhau gì đó với bố, hắn bỏ đi làm giang hồ đâu đó tận miền ngược. Sau hắn mang lão đi cùng, mua ngôi nhà ở thành phố bắt lão trông, và chỉ thỉnh thoảng mới về.


Lão không biết hắn làm gì và ở đâu. Nhưng luôn có nhiều tiền, tính tình hay thay đổi và ngày càng khắc nghiệt. Không thể tin nổi trước hắn từng là một cậu học sinh ngoan ngoãn, thông thạo tiếng Pháp và biết chơi đàn piano.


Nửa giờ sau, lão bê chiếc chăn mỏng, rón rén đẩy cửa vào phòng chủ vì trời đang rét.


Bất chợt, chiếc chăn tuột khỏi tay. Lão đứng há hốc mồm vì kinh ngạc.


Cậu chủ lão đang ngủ say bên mép giường, một chân thõng xuống đất. Lăn lóc dưới đất là mấy các mặt nạ. Lão đếm, năm. Cùng cỡ nhưng khác màu và khác cả vẻ diễn đạt. Có lẽ chất liệu cũng khác. Cái thì dữ dằn độc ác. Cái lãnh đạm khinh khi. Cái lõi đời, sắc sảo. Một cái bình thường với hai nốt ruồi lớn bên mũi. Cuối cùng là một cái màu hồng. Mỏng và nhẹ hơn. Đó là khuôn mặt một đứa trẻ, hồn nhiên và thơ ngây. Cậu chủ của lão ngày còn bé.


Còn giờ thì hắn nằm trên giường, mặt ngửa lên trần. Không phải mặt, mà là một tấm thịt dẹt và nhẵn thín, với ba bốn vết tròn mờ mờ là mắt, mũi và miệng.


Định thần trở lại, lão rón rén nhặt chiếc mặt nạ trẻ con, ốp lên mặt hắn.


Rồi lặng lẽ đi ra.






Hà Nội 25. 2. 2013
















No comments: