Saturday, September 17, 2016

SƠN TRUNG * DANH TÁNH VÀ ĐỊNH MỆNH



DANH TÁNH VÀ ĐỊNH MỆNH
Sơn Trung





Người Việt Nam ta có nhiền cách đặt tên.
-Đặt tên theo năm sinh: tí, Sửu, Dần, Mão..
-Đặt tên theo hoa quả:Lan Cúc, Mai,Cam, Quít...
-Đặt tên theo một cao vọng:Hùng, Dũng, Liêm, Nhân, Nghĩa, Hiếu, Trung, Phú, Quý, Thông, Minh....

Một số người được cha mẹ đặt tên và đã được trọn ước nguyện hay một phần ước nguyện.
Ngày nay việc thay tên đổi họ rất khó khăn. Còn ngày xưa thời quân chủ và sau này thời búa liềm các ông cộng sản thay tên đổi họ xoành xoạch, lại có hàng tá bí danh. Bác Hồ có cả trăm cái tên giả để thay đổi tùy theo ca tụng hay chửi bới, mục đích là tránh mặt.

Cha mẹ đặt tên tốt nhưng mình không thấy tốt thì đổi tên. Thí dụ Nguyễn Khuyến tên là Nguyễn Văn Thắng nhưng thi cử hoài mà cứ thất bại nên đổi tên là Nguyễn Khuyến. Hoặc vì kiêng tên vua chúa, hoặc sợ miích lòng vua chúa, hoặc theo lệnh vua mà đổi tên, như Nguyễn Ứng Long, thi đỗ tiến sĩ nhưng là rể nhà hoàng tộc nên không được trọng dụng. Đến khi Hồ Quý Ly lên, ông được làm quan cao , Hồ Quý Ly đổi tên là Nguyễn Phi Khanh vì Hồ Quý Ly là vua, không thể có một con rồng thứ hai. Ứng Long không phải là con rồng, là vua mà chỉ là một quan khanh cho nên phải đổi là Phi Khanh.

Một số người mang tên đẹp và đã đạt ước nguyện và lưu danh trong lịch sử như Bùi Hữu Nghĩa, Nguyễn Trung Trực, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Tri Phương, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh...
Một số mang tên đẹp nhưng lại là kẻ bất trung, bất nghĩa, vì danh lợi đi theo kẻ ác, hay bọn xâm lược như Tôn Thọ Tường, Trần Bá Lộc, Hoàng Cao Khải.
Trong đó có những kẻ mang tên tốt nhưng sống và hành động theo nghĩa trái nghịch. Như Saigon khoảng 1960-70, có những ông mang tên đầy ý vị tam cương ngũ thường mà chẳng Thủy Chung, chẳng Trung Tín. Những Huỳnh Tấn Phát, Nguyễn Hữu Thọ, Nguyễn Khắc Viện.. danh tiếng đấy, học thức đấy nhưng chỉ là những con tườu trong Sở Thú.

Có những cái tên đã mang sẵn định mệnh.
Từ xưa đến nay một số người không tin Trời, Phật, Thánh Thần. Họ không tin linh hồn tồn tại sau khi thân xác tan rã. Họ không tin định mệnh. Chết là hết.
Điều này cũng đúng vì thánh thần it khi xuất hiện. Thượng Đế không nói (Thiên hà ngôn tai!) mà các ông giáo chủ tự xưng là đệ tử, là đại tiên tri, sứ giả của Thượng đế . Không phải chỉ một ông. Ông nào cũng thờ Thượng Đế nhưng giáo điều này, giải thích kia lộn tùng xèo! Bói toán không phải lúc nào cũng đúng. Con người làm chủ bản thân, không do ai sắp đặt trước. Nhân quả, nghiệp báo chỉ là không tưởng.

Tuy nhiên bên cạnh phái vô thần có phái hữu thần. Họ tin rằng"Nhất ẩm nhất trác giai do tiền định" mà Ôn Như Hầu đã viết thành thơ trong Cung Oán Ngâm Khúc:
Vẻ chi ăn uống sự thường, 
Cũng còn tiền định khá thương lọ là! 

Một vài sự kiện cho thấy thuật tiên tri đúng. Có nhiều nghệ thuật như xem tướng, gieo quẻ, xem chỉ tay, chữ ký, cơ bút, và đồng bóng đã hiệu nghiệm. Những nhà tiên tri có tài năng rất hiếm.Việc xem tên đoán tương lai lại càng hiếm hoi. Lúc học tại Huế, tôi theo một người bạn đến xem tên tại một người nổi tiếng nhưng ông từ chối tôi. Rất it tên tuổi và định mệnh đuợc thế gian biết đến và truyền tụng.Sau đây là những sự kiện liên quan đến danh tánh và cuộc đời đã được nhiều người nói đến.

I. NGUYỄN TRÃI 阮廌 (1380-1442).

Nguyễn Trãi hiệu là Ức Trai (抑齋), quê ở thôn Chi Ngại, phường Cộng Hoà, thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương, sau dời đến làng Nhị Khê, huyện Thường Tín, Hà Nội.
Thi đỗ Thái học sinh năm 1400, Nguyễn Trãi từng làm quan dưới triều Hồ, nhà Minh xâm lược, cha ông là Nguyễn Phi Khanh đầu hàng . Sau khi nước Đại Ngu rơi vào sự cai trị của nhà Minh, Nguyễn Trãi tham gia vào cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo chống lại ách Minh thuộc. Ông trở thành mưu sĩ của nghĩa quân Lam Sơn trong việc bày tính mưu kế cũng như soạn thảo các văn thư ngoại giao với quân Minh.
Ông vụng về, lộ vẻ tự đề cao mình. Cái khẩu hiệu tuyên truyền "Lê Lợi vi vương, Nguyễn Trãi vi thần" động chạm đến các tướng sĩ. Té ra chỉ có ông làm quan còn cả lũ kia không có giá trị sao?
Tên ông là Trãi,tên một giống thú, theo truyền thuyết có một sừng. Chữ Trãi cũng như trĩ 豸. Còn viết là giải trĩ 解廌 hay 獬豸. Giải trĩ tính trung trực chỉ húc giống không ngay thẳng, nên nhà Hán bắt chước cái ý ấy mà gọi mũ các quan là mũ giải trĩ quan 解廌冠. Cũng viết là giải trĩ quan 解豸冠, giải quan 解冠, giải quan 獬冠. Cũng đọc là trãi.
Vì cái tính quá thẳng mà tục ngữ ta có câu "nói thật mất lòng", cho nên ông phải đặt tự là Ức Trai 抑 齋nghĩa là kiềm chế bớt tính thanh liêm, trung trực, ngay thẳng. Vì ngay thẳng, ông đã chống đối Lương Đăng, một hoạn quan được vua tin cậy. Ông còn công kích bọn quyền thần như Lê Sát, Lê Ngân, Lê Thụ, Lê Vấn... Ông gặp nhiều oán thù và tai họa vì cái tên định mệnh của ông.

II.HỌ TRỊNH
1.Tĩnh Đô vương Trịnh Sâm (1739 - 1782)mất, con ông là Đoan Nam Vương Trịnh Tông (鄭棕), còn có tên khác là Trịnh Khải (鄭楷, 1763 - 1786) là vị chúa thứ 11 của dõng dõi chúa Trịnh, cầm quyền từ năm 1782 tới năm 1786. Trịnh Tông là con trai trưởng của Thánh Tổ Thịnh vương Trịnh Sâm, mẹ là bà Dương Thị Ngọc Hoan. Từ lúc trẻ, ông đã không được cha mình thương yêu và bị Tuyên phi Đặng Thị Huệ tìm cớ hãm hại. Trong vụ án năm Canh Tí, Trịnh Tông bị truất ngôi làm con út, nhường lại chức thế tử cho Trịnh Cán là con của Tuyên phi. Tuy nhiên vào tháng 10 ÂL năm 1782, không lâu sau khi Trịnh Sâm mất, lính tam phủ cùng nhau nổi dậy tôn phò Trịnh Tông lên giữ ngôi chúa mà truất ngôi của Trịnh Cán.

Trong dân gian, Đục, Tông, Cán ..là dụng cụ của thợ mộc, nhưng không có nghĩa gì ở nơi cung vàng điện ngọc. Tên đã không hay, gặp lúc chính trị và nội cung rối ren, (- Trịnh Sâm mê Đặng thị Huệ bỏ trưởng lập thứ; Đặng thị Huệ chiêu đãi Quận công Hoàng Đình Bảo - Có câu cười cợt nội tình chúa Trịnh:
Ba quân có mắt như mờ 
Để cho Huy quận vào rờ chánh cung)!
Dù thế nào đi nữa cái đám con cháu họ Trịnh đã bị nhân dân coi khinh. Họ đã nhìn thấy định mệnh của Trịnh Khải, Trịnh Cán và dòng họ Trịnh nên truyền tụng sấm ngữ:
Đục cùn thì giữ lấy tông,
Đục long cán gãy còn mong nỗi gì!

2. Trịnh Bồng ( 1740?-1791
Cơ nghiệp của họ Trịnh thời Trịnh Khải đã suy yếu. Kiêu binh làm loạn, triều đình bất lực. Phía nam, quân Tây Sơn thế mạnh như nước, vua Thái Đức Nguyễn Nhạc cử em là Nguyễn Huệ cùng tướng cũ của Bắc Hà mới về hàng là Nguyễn Hữu Chỉnh mang quân bắc tiến ra Thăng Long.
Quân Trịnh thường ngày đã chểnh mảng việc phòng bị, gặp phải sức tiến công của quân Tây Sơn đã nhanh chóng tan rã. Quân Tây Sơn với khẩu hiệu "Phù Lê diệt Trịnh", chỉ trong 1 tháng đã chiếm được Thăng Long.
Khi Trịnh Khải bỏ trốn lên Sơn Tây, Trịnh Bồng khi đó đã ngoài 40 tuổi, lánh nạn ở huyện Văn Giang (Hưng Yên). Sau các bộ hạ nhà Trịnh tôn Trịnh Bồng.
Vua Chiêu Thống không bằng lòng, song vì thế yếu không thể ngăn cản được nên bất đắc dĩ phải chấp nhận, nên phong cho Trịnh Bồng làm Nguyên Soái, Tổng Quốc Chính Án Đô Vương.
Chữ Bồng chỉ có ba chữ:
-蓬 bồng :tên một loài cỏ, mùa thu khô héo; Rối bong.; Lều tranh
-芃 bồng : : Bồng bồng 芃芃 tốt um, tốt tươi.; : Ðuôi dài thườn thượt.
-篷 bồng :1 : Mái giắt lá. Ðan phên giắt lá để che mui thuyền gọi là bồng.

Trịnh Bồng nhu nhược.Bị Nguyễn Hữu Chỉnh đánh bại, trốn chạy về xã Dương Xá rồi Quế Võ (Bắc Ninh). Sau đó ông đi Hải Dương - Quảng Yên và Thái Bình mộ quân lương để đánh lại Nguyễn Hữu Chỉnh, nhưng đều bị thất bại.
Trịnh Bồng phải sống lẩn lút ở ven biển và cuối cùng ông bỏ đi tu, tự xưng là Hải Đạt thiền sư, đi khắp vùng Lạng Sơn, Cao Bằng.
Dù ông đặt tên gì đi nữa, cứ xem bản chất ông bất tài, thì cái tên cỏ Bồng hay hình ảnh chiếc thuyền mái lá chính là định mệnh của ông.Ông lấy vương hiệu là Án Đô vương, dân chúng lúc đó nhìn thấy định mệnh ông nên mai mỉa gọi Yến Đô là Đố Yên.

III. HỌ NGUYỄN

Nguyễn Phúc Nguyên 阮福源 ( 1563- 1635) là vị chúa Nguyễn thứ hai ,sau chúa Tiên ( Nguyễn Hoàng ) của Đàng Trong .Thời gian ở ngôi chúa, ông đã xây dựng một vương triều độc lập ở Đàng Trong, từng bước ly khai khỏi chính quyền vua Lê - chúa Trịnh ở Đàng Ngoài.
Chúa Nguyễn Phúc Nguyên được dân chúng gọi là chúa Sãi, chúa Bụt hay Phật chúa. Danh hiệu này do nhân dân đặt cho cũng nói lên tương lai rực rỡ của họ Nguyễn Phúc. Nguyễn Bỉnh Khiêm trước đó một thế kỷ đã nhìn thấy Nguyễn Phúc Nguyên là một bậc thánh của dân tộc ta. Các bản Sấm Trạng Trình có nói đến ông với các ẩn ngữ như
thầy tăng -ông sãi- sĩ . Chữ Nôm đọc là sãi. Như vậy "thầy Nhân thập 仕" (gồm bộ nhân và chữ thập, tượng trưng chữ Sĩ, có thể là ám chỉ Nguyễn Phúc Nguyên. Các bản Sấm ký có nói đến Nguyễn Phúc Nguyên (Hoàng Giang sinh thánh) bản Sở Cuồng nói xa xôi:


335.Dù trai ai chửa biết tường
Nhất thổ thời sĩ Khảm Phương thuở này

Bản Phùng Thượng thư ký nói rõ hơn.
115. Ước gặp ông Lữ Thái công,
Cùng Trương Tử Phòng rạng che.
Giả làm thầy Sãi ông nghè,
............
135. Muôn dân thiên hạ khát khao,
Cá cạn gặp nước ai nào chẳng mong.
Từ ông Phật tử dạy ra,
Hoàng giang chốn ấy ai từng bảo ai.

Bản cơ bút của Liễu Hạnh công chúa dùng hai chữ Thầy tăng với nghĩa là "thằng tây" chỉ Ngô Đình Diệm là thế lực Tây phương:


Thầy Tu mở nước bấy giờ mới hay
Chẳng qua cũng giống Quỉ Tây
Ma tàn Quỉ hết đến ngày Long-Hoa

. Con quay ngả trắng ba que cuộc tàn.
Trời Nam vận ở Viêm bang
Chân nhân đâu đến những phường thầy tăng..
 
IV.KARL MARX

Người ta dùng chữ Pháp để chế riễu chủ nghĩa Cộng sản. Sự so sánh hai danh từ cũng là một cách đoán tương lai. Họ chế riễu chủ nghĩa Marx là chủ nghĩa Marmite, là chủ nghĩa nồi cơm.
(Trần Đĩnh-Đèn Cù. Ch.III, XXXI)
Họ coi cộng sản cũng chỉ là bọn xôi thịt, tồi tệ hơn bọn hương xã ngày xưa! Rõ ràng cộng sản bây giờ thu tiền học phí, viện phí chẳng thương vì vô sản. Bao nhiều năm bóc lột, cướp, các đầu gấu Nga, Tiệp, Hung, Trung Quốc, Việt Nam tư sản đỏ, nắm trong tay tài sản quốc gia, có hàng triệu hàng tỷ Mỹ kim gửi ngân hàng ngoại quốc! Trong tiếng Việt Nam. Mác Lê cũng là những hình ảnh ghê rợn của dao, mác, lưỡi lê... mà thực tế là CCRĐ, tổng tấn công mậu thân 1968 đã làm hàng triệu người khốn khổ.

V. NGUYỄN TẤT THÀNH-NGUYỄN ÁI QUỐC- HỒ CHÍ MINH

Hồ CHí Minh dù là người Việt hay người Hoa cũng là định mệnh của Việt Nam. Chí Minh nghĩa là chính mi...chính mi gây tội ác, chính mi đưa việt nam vào chiến tranh làm thiệt hại khoảng 2triệu người, chính mi đã bán nước, chính mi đã làm phá hoại đất nước và làm suy đồi xã hội Việt Nam

Ở Việt Nam, Hồ có nghĩa là cháo rất lỏng, thường dùng để dán giấy hoặc cho trẻ uống vì không có sữa, hoặc cho người đói uống ( người đói  lâu ngày nếu ăn cháo đặc hay cơm là chết ngay)!
Hồ cũng có nghĩa là Cáo một con thú quỷ quái, gian manh! Hai con ông, một người tên Khiêm, một người tên Cung, giọng Nghệ An đọc là Khơm, Côông. Khi nhà có khách, ba cha con phải dừng tay. Khách về, người cha than: "Thế là bữa ni nhà ta "khôông cơm rồi"!

Cái tên Khiêm Cung rất Nho giáo nhưng tiếng Nghệ An thành Khơm, Công nghĩa là Không cơm! Nhà đế vương mà không cơm thì bách tính lấy gì mà sống?Cái định mệnh Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc, Hồ Chí Minh đã đuợc trước đầy gần một thế đã đưọc Nguyễn VănThới tiên tri trong Kim Cổ Kỳ Quan của ông.
Nguyễn Văn Thới vạch mặt giả trá của ông Hồ: học hành chẳng đi đến đâu, giả dạng bình dân, vô sản, mặc áo cũ, đi dép râu, xưng bác

Nhớ ngồi chiếu lác xưng bác xưng cô
Chẳng phải nam mô giấy chẳng thấy chư dưng
Bây giờ người xưng đam quí đạo
Ngỗ ngang nghịch bạo qui đạo học cho xuôi
Mặc kẻ tới lui mù đui con chuột
Học hành mới thuộc bạch tuột sao.
(Cáo thị, 424-429)

Hồ Chí Minh thật ra là đạo tặc, đứng đầu đảng cướp:"
Tôi nay không phải Nhẩn-Hồ
Thọ tài oán trái làm đồ phi ân
(Thừa nhàn, 1769-1770)

Giận lũ cáo phá xóm làng.
(Kim cổ Kỳ Quan, c.349)

Nghỉ thôi nhiều nỗi cay co
Đêm khuya tuông lụy sầu lo việc đời
Mất mối trời tối rã rời
Lần lần nẻo tắc dò thời đường quanh
Cám phiền phận chị nỗi anh
Nhà trống không thức mà canh mất đồ
Mắc mưu chú Nhẫn chú Hồ ,
Truông mây chiếm cứ giật đồ ăn no
Giàu nghèo chưa chắc đừng lo
Hội nầy nhà ngói của kho chẳng còn
(Thừa nhàn, 275-284)
Một lũ Trịnh Hồ giật đồ ải ải
Tàu man
Bây lại xưng trung tứ tung lũ nịnh.
(Cáo thị, 1733-1735)

Trước ông Ba Thới có Tứ Thánh cũng thấy rõ chân tướng cộng sản. Tứ Thánh khuyên ta nên thận trọng kẻo mắc mưu của kẻ giả danh Ái Quốc:
Tay chuông tay mỏ tu trì.
Tránh mưu ái- quốc tránh vì kế sâu.
TỨ THÁNH * GIẢNG XƯA

Tứ Thánh vạch rõ mặt Hồ Chí Minh giả dạng từ bi, hy sinh hạnh phúc bản thân cho đất nước nhưng sự thật y là con quỷ dâm đãng và khát máu:
Phật rau xuống thế làm quan.
Súng đồng gươm giáo tưng bừng bồn phang.
Phật mà xuống thế làm quan.
Hại làng hại xóm dân gian khó nghèo.
TỨ THÁNH * GIẢNG XƯA

Cái kết quả của Cộng sản Việt Nam rất thê thảm mà trước đây gần thế kỷ đã được các chân nhân báo trước. Tứ Thánh đầu thế kỷ XX đã thấy mặt mũi và tiếng khóc than của cộng sản ngày tàn cuộc:

Thương công chú cộng chan dầm.
Vào sanh ra tử lại lầm kế ai

Cộng sản lầm kế ai?
- Việt Cộng mắc mưu Trung Cộng đánh cho đến thế hệ thứ tư, dù đốt cháy Trường Sơn cũng đánh, Còn cái lai quần cũng đánh, hy sinh con em, mang công mắc nợ, bị bọn đế quốc Trung Cộng cướp nhà, lấn đất, giành biển. Cái khôn của các ông Trí tuệ bậc nhất là bị Trung Cộng cho ăn cứt gà, hy sinh cho Trung Cộng tiến về Nam. Nay thì Trung Cộng đang tiến chiếm Việt Nam, bọn Việt gian cộng sản đã đầu hàng nhưng nhân dân Việt Nam không chịu làm nô lệ,

-Mỹ thi hành kế hoạch" con ngựa thành Troy", cũng là "không thành kế" rút khỏi Thái Bình Dương, rồi lại bơm tiền của cho Trung Cộng để Trung Cộng thấy họ mạnh sinh ra manh tâm cướp biển, tham vọng lật đổ vị trí cường quốc của Mỹ để làm bá chủ thế giới. Việc này làm cho các lân bang tức giân liên kết với Mỹ khi Mỹ tuyên bố xoay trục về châu Á. Việt Cộng cũng như Trung Công kiêu ngạo cho rằng họ đã đánh cho"Mỹ cút ngụy nhào", và đảng cộng sản đã đại thắng lợi! Kiêu ngạo là bản tính cộng sản. Mỹ đã thi hành " khổ nhục kế" gần nửa thế kỷ rồi. Ta hãy chờ xem ngày " ưng lai sư tử thượng /Tứ phương thiên hạ thái bình phong".

VI. BẢO ĐẠI

Khi Bảo Đại lên ngôi, đồng bào Thiên Chúa giáo lo sợ vị vua này cấm đạo vì "Bảo Đại là bãi đạo". Điều này đúng nhưng không do Bảo Đại cấm đạo mà do Cộng sản cấm tự do tín ngưỡng, Phật giáo, Thiên Chúa Giáo, Cao Đài, Hòa Hảo đều bị cộng sản bách hại trong thời vua Bảo Đại cầm quyền. Sự lo sợ này không có bằng cớ chỉ là lo sợ hảo huyền. Trong nôi cung bà Nam Phương làm chủ, ngoài triều đình các đại thần là chân tay của Pháp. Họ làm mọi việc theo chỉ thị của quan Toàn quyền và Khâm sứ. Vua Bảo Đại vô quyền, chỉ có việc ký các sắc phong thần. Hơn nữa bản tính Bảo Đại hiền lành, làm sao có việc tày trời như thế?Tuy nhiên Bảo Đại cũng phạm hai lỗi khác là  bỏ đạo đưc của bậc đế vương và bỏ đạo ông bà.

Ông không tuân thủ đạo quân vương cũng như đạo làm người vì ham, mê cờ bạc, đến nỗi mang công mắc nợ, sống lang lang như một kẻ vô gia cư. Bê tha rất mực đến nỗi vợ con xa lánh ông. Năm 1972, khi đã tiêu pha hết cả tài sản, Bảo Đại sống với Monique Baudot, một phụ nữ Pháp kém Bảo Đại hơn 30 tuổi (Monique Baudot sinh năm 1946), đến năm 1982 thì kết hôn. Bảo Đại nhập đạo Công giáo lấy tên thánh là Jean-Robert. Ông bây giờ thất cơ lỡ vận, sống hèn mọn nhục nhã như một người ăn mày,mang công mắc nợ có thể bị tù, nhờ bà Baudot cứu giúp và phải chiều theo ý bà .

VII. HỒ HỮU TƯỜNG.

Cuộc đời Hồ Hữu Tường lắm gian truân, ngồi tù ra khám thường xuyên. Ông làm chính trị thí nhận lấy thất bại, làm nhà nghiên cứu thì còn non tay, chỉ có ưu điểm là viết tiểu thuyết mặc dầu một số tiểu thuyết của ông bị búa rìu dư luận.

Khi bị giam ở phòng giam tập thể, một người tù hỏi Hồ Hữu Tường:
Bác Tường ơi! Thời Tây, thời Ngô Đình Diệm và cả thời này nữa, thời nào bác cũng đi tù. Bác có hiểu tại sao bác cứ ở tù hoài vậy không ? Hồ Hữu Tường nhìn anh ta, vừa cười, vừa hỏi:
Mày trả lời giùm tao đi, tại sao ? Anh ta nhanh nhẩu trả lời:
Dễ quá mà! Tên bác là " Hữu Tường" nên bác phải "hưởng tù" dài dài! Hồ Hữu Tường cười buồn:
Có thể thằng nầy nói đúng! -https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93_H%E1%BB%AFu_T%C6%B0%E1%BB%9Dng-Đỗ Thái Nhiên. Hồ Hữu Tường. www.dactrung.net/Bai-tr-6592-Ho_Huu_Tuong_nguo

VIII. SƠN CHUNG TIÊN SANH
Sơn Chung tiên sinh, tên là thật là Đỗ Nhật Tân,nguyên quán làng Hữu Bằng, tục gọi là làng Nủa Chợ, thuộc quận Thạch Thất, tỉnh Sơn Tây. Cha mẹ ông thuộc nhà phú hộ. Ông theo cha lo việc canh cửi cho gia đình, tự học chữ Hán và Quốc ngữ. Năm 1945, Việt Minh lên, ông và người con ông tú Phan gặp Tây xin Tây đừng phá hoành phi câu đối của làng. Đêm đó Cộng sản bắt ông và con trai ông tú Phan, Họ giết con trai ông tú Phan và tha ông. Ông sợ quá chạy một mạch về Hà Nội rồi 1954 vào Nam. Ông trúng giải thưởng Văn Chương của Tồng, hạng ba về dịch thuật, Sau ông làm dịch thuật cho phủ Quốc Vụ Khanh.

Tôi gặp ông tại nhà nhạc gia tôi, vốn cùng Sơn Chung tiên sinh là đồng hương. Ông ăn mặc xếnh xoàng, mặt khắc khổ, đi chiếc xe đạp cũ. Sau 1975, ông về quê Sơn Tây. Uỷ ban xã mời ông đi họp,thế là ông vào tù. Trong tù ông gặp một ông già. Ông già đứng ngắm nghía hồi lâu rồi cất tiếng hỏi : Cụ là cụ Tân?...Ông ngước mặt lên nhìn. Thế là hai cha con ôm nhau khóc. Phan Lạc Tiếp về thăm quê, có gặp ông. Ra tù thì ông ốm yếu, không còn hoạt bát như xưa. 

.Ông mất tại quê nhà vào năm 2000, lúc người con trai ông đã được tha tù. Cuộc đời ông sao khốn khổ thế! Ông ra khỏi lồng lại quay vào lồng. Lần này là tự ông nôn nóng. Về làm chỉ? Sao về sớm thế? Sao ông không đợi vài năm nữa cho tình hình dịu xuống ?Sao không nhờ người nhắn vợ con ông vào thăm ông, trước là thỏa lòng mong nhớ, sau là thăm dò tình hình.
Bút hiệu ông là Sơn Chung. Sơn là núi, chỉ một chữ không có chữ nào khác. Còn chữ Chung có nhiều chữ, nhiều nghĩa.

盅 chung : Cái chén nhỏ.
終 chung : hết, chết, kết cục
螽 chung :Một loài sâu
鍾 chung :Cái chén, cái cốc uống rượu, dụng cụ đo lường
鐘 chung :Cái chuông.

Phải chăng ông muốn cái tên Sơn Chung 山 鐘 là tiếng chuông trong núi, nghĩa là ông yêu tiếng chuông chùa, ông thich cảnh thanh tịnh của một người tu hành trên non cao?

Có lẽ Đỗ Nhật Tân đã lấy ý từ cổ thi mà đặt bút hiệu cho ông.
Nhiều tác giả viết về tiếng chuông chùa 山寺鐘聲trong núi. Vương Xương Linh, nhà thơ đời Đường 唐·王昌齡 trong bài Lộ phủ khách đình 潞府客亭 có câu:
“秋月對愁客, 山鐘搖暮天。
Thu nguyệt đối sầu khách
Sơn chung diêu mộ thiên.
( Quán sầu nhìn trăng thu,
Chuông núi khua trời chiều)

Nhà thơ đời Minh là Lý Mộng Dương 明 李夢陽 , trong bài thơ Dã bạc 《野泊》có câu:
: “山鐘天外落, 林火雨中微。”
Sơn chung thiên ngoại lạc, lâm hỏa vũ trungvi
Chuông chùa rơi ngoài trời,
Lửa rừng trong mưa nhỏ.
http://tw.ichacha.net/hy/%E5%B1%B1%E9%90%98.html
Mạnh Hạo Nhiên trong bài Dạ quy Lộc Môn ca (bài ca đêm về Lộc Môn) 夜歸鹿門山歌 có câu:

山寺鳴鐘晝已昏
漁梁渡頭爭渡喧
Sơn tự minh chung trú dĩ hôn,
Ngư Lương độ đầu tranh độ huyên.

Ngày tàn chùa núi tiếng chuông ngân,
Bến Ngư Lương chèo chống quá rộn ràng. 

Vua Trần Nhân Tôn có bài Vũ lâm thu vãn nói về tiếng chuông chùa trong núi

武林秋晚
畫橋倒影蘸溪橫,
一抹斜陽水外明。
寂寂千山紅葉落,
濕雲和露送鐘聲。
Vũ Lâm thu vãn
Tịch tịch thiên sơn hồng diệp lạc,
Thấp vân hoà lộ tống chung thanh.
Nghìn núi lặng tờ, lá đỏ rơi,
Mây ướt giăng như mộng, tiếng chuông xa vẳng.


Phan Lạc Tiếp giải thích hai chữ Sơn Chung  như sau:

Sơn Chung. Sơn là núi. Chung đây là cùng, là tận. Sơn Chung, góc núi. Người ví mình như kẻ sống trong tận cùng góc núi, tự xa lánh cuộc đời, hay ví mình như một thứ trích tiên. Tôi không biết thực ý của ông khi lấy bút hiệu ra sao, vì trong giao tiếp hàng ngày ông không nói.(Phan Lạc Tiếp. "Một Thời Oan Trái")

Chữ Chung 終 có nghĩa xấu, chắc Đỗ Nhật Tân không lấy chữ này. Nhưng Trời đâu có chiều người . Ông muốn tốt nhưng số phận ông lại phải chịu một kết thúc buồn!
Trong các chữ trên chữ 終 chung : hết, chết, kết cục là thích hợp hơn cả, nó nói lên cái kết thúc đau khổ của đời ông:
-Ông kết thúc cuộc đời trong núi vắng
-Ông chết đau khổ trong chốn sơn thâm cùng cốc.
Ông muốn tốt nhưng số phận ông lại phải chịu một kế thúc buồn! Tướng mạo ông và cái bút hiệu Sơn Chung đã đóng giấu ấn cho đời cơ khổ của ông!

IX. CÁC ÔNG THANH CỘNG SẢN
Việt Cộng có nhiều ông Thanh.
Chữ Hán, Thanh có nhiều chữ và nghĩa.

声 thanh :Tục dùng như chữ thanh 聲.
青 thanh : Màu xanh,
圊 thanh : Cái chò (chuồng xí).
清 thanh :Trong, nước không có chút cặn nào gọi là thanh.-: Sạch,
Kết liễu, thanh toán, thanh trừng
聲 thanh : Tiếng.
Các ông này là đại Việt Cộng là bọn gian ác, không trong sạch, thanh cao. Chúng chỉ là cái chuồng xí, và cuối đời bị cộng đảng thanh toán, thanh trừng.
Nhìn chung, cái tên Thanh phần nào mang nghĩa xấu.
Thúy Kiều không mang tên Thanh nhưng chữ Thuý Kiều cũng là một định mệnh.
Thúy có nghĩa là màu xanh .Thúy và Thanh đồng nghĩa.  Kiều là đẹp, nổi bật. Chữ Kiều làm tăng ý nghĩa chữ Thúy. Cuộc đời nàng Kiều cũng nằm trong chữ Thanh:Thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần! Về phía Việt Cộng, một số mang tên Thanh và đã nhận lấy định mệnh đắng cay, tủi nhục đã giành cho họ

Đó là các ông:
-Nguyễn Chí Thanh bị Bác yêu quái của ông đầu độc chết, con là Nguyễn Chí Vịnh điếu đóm Trung Cộng.
-Nguyễn Bá Thanh, người Quảng Đà, năm 2012 được Nguyễn Phú Trọng gọi ra Hà Nội làm Trưởng Ban Nội chính Trung ương để xẻo thịt Nguyễn Tấn Dũng. Tin đồn là ông bị Nguyễn Xuân Phúc đầu độc mà chết.
-Phùng Quang Thanh , quê Vĩnh Phúc , là đại tướng Việt Cộng.
Từ 2006 đến 2014 – dưới thời Bộ trưởng Quốc phòng đương nhiệm của Đại tướng Phùng Quang Thanh, đã có tổng cộng 231 sĩ quan cấp tướng, bao gồm 10 Thượng tướng, 65 Trung tướng và 157 Thiếu tướng được thụ phong. Việt Cộng nói ông bị ung thư, 23-7-2016 về nhà, tình trạng sống chết rất bí hiểm.
-Trần Xuân Thanh sinh tại Hà Nội,nguyên Phó Chủ tịch phụ trách công nghiệp - thương mại Ủy ban nhân dân tỉnh Hậu Giang, đắc cử đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa XIV.Năm 2016, ông Thanh bị Hội đồng bầu cử Quốc gia không công nhận tư cách Đại biểu Quốc hội theo đề nghị của Ủy ban Kiểm tra Trung ương. SAu khi Nguyễn Tấn Dũng rớt đài, Nguyễn Phú Trọng sờ gáy ông, ông đào thoát.Ngày 6 tháng 9 năm 2016, ông Thanh đã gửi đơn xin ra khỏi Đảng đến báo Thanh niên và blog Người Buôn Gió với lý do ra khỏi Đảng là "không còn tin vào sự lãnh đạo của đồng chí Tổng Bí thư", còn bản thân ông đã trốn đi đâu không rõ.

X. HÀ NỘI, SAIGON

Hà Nội là Thăng Long, là đất ngàn năm văn vật. Từ khi Việt Cộng với dân Bình Trị Thiên, Cao Bắc Lạng đã quần tụ tại Hà Nội, gây ra cái tật nói ngọng, cho nên Hà Nội thành Hà Lội. Nay thì dân Hà Nội thành ra dân Hà Lội. Tác giả nào đó đã viết bài Hà Nội những cơn mưa rất hay!


Saigòn nay cũng ngập lụt như Hà Nội. Saigon trước cũng ngập vài nơi như khu lò heo Vissan, Bình Thạnh. Từ khi Việt Cộng chiếm Saigon đổi tên là thành phố Hồ Chí Minh, gọi tắt là Thành Hồ. Cái tên Hà Lội và Thành Hồ quả nhiên là định mệnh!

Sự kiện ngập lụt nàycó nhiều lý do:
-Băng Bắc cực chảy thành nước làm cho mực nước biển dâng cao, các nơi ven biển sẽ trở thành ao hồ, có khi chìm xuống đại dương.
-Các ông cộng sản vì tham, vì ngu dốt đã làm cho sông cạn để chiếm đất. Sông Nhị Hà và Đồng Nai còn đó nhưng đã có biển cắm của chủ nhân nó là các ông gộc tàn phá quê hương!
Sự kiện này được các nhà khoa học báo trước. Một ngày nào quả địa cầu sẽ đổi trục. Canada, Mỹ thành Việt Nam bốn mùa cày cấy và Việt Nam sẽ thành Mỹ, Canada tuyết phủ quanh năm, hoặc bốn mùa mát mẻ như Âu châu.Ông Nguyễn Văn Thới đã thấy ngày đó ở Việt Nam:
Gió hai ngọn xuân nhựt nguyệt thu
Không lạnh không nực chí tu để lời
( KCKQ, 1433-1434)

Có thể tương lai các tỉnh, các xứ gần biển như Hà Nội, Saigon, Hải Nam...sẽ ngập úng. Đầu thế kỷ XX ông Ba Thới cũng đã báo trước :
Đất Bắc-kỳ sau lại ruộng sâu,
Mười phần thác chín khó âu cho người.
(Cổ kim audio 2B; KCKQ, c. 1072-74)

Đất Bắc địa giăng câu đặt lọp,
Ăn cá đồng không cọp ở rừng(KT, 271, 6; câu 233)

Đất Sài gòn giăng câu đặt lọp,
Ăn cá đồng không cọp ở rừng.
(Cáo thị, 777-778)

Nước ta có lắm thánh tài, ý kiến của các bậc tiên tri qua lịch sử đã minh chứmng là đúng. Viễn kiến của các bậc tiên tri cũng khớp với tầm nhìn xa của khoa học.


No comments: