Sunday, September 4, 2016

TRIỆU QUYẾT THẮNG * VŨ THƯ HIÊN

Những Cảm Nghĩ Khi Đọc "Đêm Giữa Ban Ngày"

Trường Xuân Triệu Quyết Thắng

Là một bạn đọc "Đêm Giữa Ban Ngày" qua mạng Internet, nay tôi được đọc hai bài phê bình tác phẩm của hai tác giả Nguyễn Hoàng Hạ và Văn Thanh viết gửi báo Đi Tới. Qua hai bài phê bình đó, tôi có ý kiến nhận xét thêm về hồi ký của ông Vũ Thư Hiên, xin được gửi đến tác giả và bạn đọc.
Trước nhất, về giá trị chung của cuốn hồi ký, hai tác giả (Ng.H.H và V.T) đã nói khá đủ. Hai nhà phê bình này đã nêu được phần lớn mặt mạnh và nhược điểm của "Đêm Giữa Ban Ngày". Tuy vậy, khác với hai nhà phê bình trên, tôi có nhận xét riêng như sau:

- Điểm Thứ Nhất. Khi mới đọc phần tự bạch của ông Vũ Thư Hiên ở đầu tác phẩm, tôi đã rất cảm động và tán thưởng ông. Đây không biết có phải là do thấy ông không phải là đảng viên như những người cùng vụ án "Xét Lại Chống Đảng" mà vẫn bị "xử lý nội bộ", chịu án lưu đày khốn cùng nhiều năm trong ngục tù CSVN, là người có văn tài cao hơn, bộc lộ suy nghĩ trung thực hơn, bày tỏ quan điểm sống và đấu tranh cho dân chủ đất nước tha thiết, chân thành hơn những người đi trước ông, như ông Bùi Tín chẳng hạn, mà tôi cảm hoài và trân trọng ông lắm lắm!
Sau nữa, tôi cũng có ý nghĩ chủ quan, rằng chỉ cần đọc phần Tự bạch của ông, tôi đã có thể không đọc nốt 41 chương còn lại mà vẫn có thể tin sự ưu ái mình dành cho ông- một người có nhiều oan khuất nhưng rất tài năng và trung tín, là đúng!
Nhưng, khi đọc hết 41 chương của "Đêm Giữa Ban Ngày", tôi mới thấy mình hụt hẫng vì sự cảm nhận chưa thật đúng với tác giả. Đi tìm sự giải thích cho thắc mắc của mình, tôi đành lục vấn từng sự kiện trong từng chương sách của ông, để mong giữ lại lòng tin yêu đã có khi mới đọc lời Tự bạch của hồi ký.
Điều nhỏ nhặt mà tôi muốn nói ở đây trước nhất, là sự bộc lộ hơi nhiều lần để nhấn mạnh tính dũng cảm, sự bình tĩnh đến mức phi thường của ông Vũ Thư Hiên trước việc ông bị công an mật bắt cóc, hay trong suốt quá trình bị giam giữ, bị hỏi cung, bị cùm kẹp kỷ luật trong xà lim, cũng như cả sự ương bướng không cần thiết trước những câu hỏi, lời nói vô lối của những tên cán bộ chấp pháp cuồng tín, ngu xuẩn như Hồng Ngự, hay tên cục trưởng Cục Quản lý trại giam khi đến thăm ông và ông Phùng Mỹ ở trại Tân Lập... Nếu ở những phần này, ông viết đúng tâm, sinh lý thật sự của người trong hoàn cảnh bị đày đọa, bị đe dọa nguy hiểm tính mạng thì hồi ký cuả ông còn có sức thuyết phục mạnh mẽ hơn nữa, và cũng không tạo ra mặc cảm thiếu tin tưởng cho bạn đọc hồi ký!
Nêu ý kiến này, tôi không chủ quan đòi hỏi ông phải kể ra đủ thứ sợ hãi gì đấy thì mới đáng tin. Mà do xuất phát từ những "cái biết" cuả một người lính (!968-1977) khi lâm trận mạc, để rồi từ cái không may và cả cái may cuả người thoát chết nhiều dịp, chỉ mang thương tích; hay cũng từng đã là một người tù, tuy chỉ sáu tháng ở trong trại tù cuả lính cộng sản; hoặc sau khi chuyển ngành mà vẫn còn dịp bị tạm giam ba ngày trong Quận Công an Hoàn Kiếm, Hà nội vì việc không đâu nhưng cũng giúp cho tôi hiểu được nhà tù dân sự Cộng Sản Việt Nam. Nỗi thấm đó còn được nhân lên nhiều nhiền lần bằng việc tôi cũng đã lên trại tù Tân Lập (năm 1971) để thăm người em thứ ba, khi nó mới mười một tuổi đã bị tập trung cải tạo. Đấy là những "cái biết" bằng thực tế để tôi cảm được thực trạng tâm lý cuả người bị cường quyền bắt giam, bị xét hỏi, bị đọa đày, bị đe dọa mạng sống. Nên khi đọc sách cuả ông, tôi chỉ nhận được những phẩm chất, lòng dũng cảm, sự chịu đựng không có dao động ngả nghiêng, bất ổn tâm, sinh lý trước nguy hiểm, cường quyền thì tôi nêu ra những thắc mắc này.
Do vậy, giá ông kể hết những mặt sau cuả những phẩm chất ấy, thì đấy mới là sự thật dẫn dắt người đọc và làm họ tin tưởng, hưởng ứng tâm sự của mình. Vì, khi đối diện trong hoàn cảnh khốn cùng đó, người "biết sợ" đúng mức sẽ lại sáng suốt để dùng lý trí chế ngự bản năng sợ hãi của mình! Viết hồi ký mà được chính xác như đã nêu, tác phẩm của ông còn sáng chói hơn, dù ông không muốn, nhưng bạn đọc yêu cầu!
- Điểm Thứ hai. Trong hồi ký của mình, ông V.T.H đã cấp cho bạn đọc những bí mật của thâm cung chế độ CSVN, đây là mặt mạnh nhất của ông khi viết hồi ký mà nếu không có nó, cuốn hồi ký của ông chắc cũng chỉ bình thường như muôn vàn hồi ký của những người tù khác! Đây là mặt ích lợi nhất ông đã làm được để góp thêm sự hiểu đúng về lai lịch lem nhem, hành xử lươn lẹo và chỉ đặt lợi ích lên trên hết, đa mưu quỷ kế, ác độc và dâm bạo của những lãnh đạo CSVN cao cấp. Ông đã đưa thêm vào bảo tàng lịch sử những mặt thật của những kẻ đại diện cho đảng CSVN, buộc vào chúng những bằng chứng không thể cãi được trước dư luận, rằng đúng chúng đã tội nhân rất lớn cuả dân tộc và cuả người viết hồi ký!
Ưu điểm tác phẩm của ông lớn như vậy. Nhưng do ông viết rất dàn trải, nên bạn đọc thấy thiếu rất nhiều ở những con người, sự kiện mà ông đề cập trong suốt hồi ký. Nhược điểm này đã làm giảm thiểu đi tinh thần viết sử của ông mà một số bạn đọc đã khen, trong đó ông Du Tử Lê là một người chẳng hạn. Tôi thẳng thắn nhận định phần yếu đó của ông, vì tôi cũng như một số bạn đọc khác đã được nghe những rò rỉ về tiểu sử con người của hai thành phần: lớp cán bộ cao cấp CSVN và các trí thức, văn nghệ sỹ lớn của chế độ miền Bắc, cũng như phía đối lập miền Nam- những tác nhân liên quan đến vận mệnh nước nhà từ 1945-1975, và đến nay (1997).
Nhân đây, nhằm góp thêm cho nhận xét trên, tôi nêu lại chút ít tiểu sử và sự kiện về hai người là ông Phạm văn Đồng và Hồ Chí Minh để cho ông và bạn đọc thấy, sự đầy đủ kiêm chính xác trong tố cáo nó hay đến chừng nào nếu như ông hoàn thiện được thêm như sau:
- Ông Phạm văn Đồng, vốn tên thật là Nguyễn văn Đông, có lai lịch từng là một tay buôn thuốc phiện từ Việt Nam sang Lào, Thái Lan vào những năm còn trẻ, và được gặp ông Hồ trong những năm 20, được giác ngộ cách mạng, sau đó mới trở thành nhà cách mạng, .... (cùng những dữ liệu ông đã viết trong hồi ký)... và được làm Thủ tướng sau này;
- Còn về ông Hồ, thì có một việc mà nhiều người đã biết, là vào cuối năm 1945, ông ta đã thề độc tại nhà cậu ruột của Thượng Tọa Thích Giác Đức ở Hà Nội (vị này hiện đang ở Hoa Kỳ): ..."Từ nay trở đi, nếu tôi không từ bỏ sự hoạt động cho Đệ Tam C.S.Q.T thì tôi sẽ phạm một tội lớn như là: tội ngủ với mẹ đẻ của tôi"..., và sang năm 1947, thì ông Hồ đã cho tay chân giết ông cậu ruột của Thượng Tọa T.G.Đ ở một ngôi chùa tại Ứng Hòa, Hà Đông (theo Thượng tọa Thích Giác Đức, đệ tử của Hòa Thượng Thích Quảng Độ.- Vị cậu ruột nói trên của Thượng Tọa cũng là một hòa thượng và còn là Thầy của Hòa Thượng T.Q.Đ).
Đó là hai mảnh sự thật chỉ là một bằng chứng nhỏ, một ví dụ nhỏ để góp thêm vào bức tranh tố cáo mà những lời kể của ông V.T.H còn thiếu, nếu được tác giả thu thập kỹ lưỡng và viết đủ hơn nữa trong hồi ký thì quả là tuyệt hảo.
Để kết thúc phần nhận xét này, tôi tán thành ý kiến phê bình của ông Nguyễn Hoàng Hạ với cuốn hồi ký: ..."Nhược điểm đó là ở chỗ thiếu chiều sâu, mặc dầu nó có chiều rộng. Vũ Thư Hiên viết về nhiều vấn đề, nhưng không phát triển một đề tài nào cho đủ. Có rất nhiều nhân vật xuất hiện trong sách của ông, nhưng không có nhân vật nào hiện ra một cách đậm nét"...

- Điểm Thứ Ba. Nhận xét về phương diện tư tưởng, lập trường của ông V.T.H khi viết hồi ký là ông đang đứng về phía nào, dân tộc hay thân cộng sản?
Ở phần quan trọng nhất này, muốn hiểu nhân sinh quan, lập trường xưa và nay của ông khi nhìn nhận các vấn đề dân tộc, tôi đã lắng nghe những lời bộc lộ trong tác phẩm, và trước nhất, tôi rất tán thành ở điểm ông đã khẳng định rõ ràng trong "tự bạch": "Trong 9 năm tù tôi chỉ làm được một việc có ích, cho bản thân và cho cả những người mà tôi thương yêu, là giã từ được ảo ảnh về một chủ nghĩa cộng sản được tô vẽ như là thiên đường dưới thế".
Thật là tuyên ngôn đoan chắc và đầy trong sáng khi con người dám đoạn tuyệt với quá khứ- một quá khứ tủi nhục, căm hờn của bản thân, gia đình và dân tộc!
Nhưng, dù cảm thông và trân trọng ông như đã nói, tôi cũng không thể tán thành khi đọc sâu vào hồi ký, ở chương 19, trang 347-348, trong tư cách nhân chứng lịch sử Cách Mạng Tháng Tám, ông viết: ..."Đêm 19.12.1946, nước Việt Nam vừa mới tuyên bố độc lập buộc phải bước vào một cuộc kháng chiến không cân sức. Nước Pháp được Đồng Minh giải phóng chưa kịp hồi sức đã hối hả trở lại Đông Dương mầu mỡ. Cái gọi là quân đội Đồng Minh vào Việt Nam giải giáp quân đội Nhật bại trận đã không ủng hộ chính quyền non trẻ của Việt Nam thì chớ, lại muốn thủ tiêu nó. Quân đội Tưởng Giới Thạch trên miền Bắc giúp Việt Nam Quốc Dân Đảng. Quân Anh-Ấn ở miền Nam mang theo quân Pháp.
Trong hoản cảnh ấy, Hồ Chí Minh đã đi một nước cờ táo bạo- ký Hiệp Định 6.3.1946, thỏa thuận cho các lực lượng viễn chinh Pháp vào thay thế các lực lượng Đồng Minh. Cần phải thoát khỏi các ma đói bên Tàu.... Lấy bọn xâm lược rành rành, đẩy bọn xâm lược dấu mặt ra ngoài, tranh thủ để bước vào cuộc kháng chiến không thể tránh né.
Những lực lượng chống Việt Minh la ó: " Hồ Chí Minh bán nước! Hồ Chí Minh là tay sai cho ngoại bang! "Hồ Chủ Tịch phải thề trước đồng bào rằng ông không bán nước. Bài toán Hồ Chí Minh giải không phải mọi người đều hiểu. Nước Pháp vừa thoát ra khỏi cuộc chiếm đóng của Đức trong Thế chiến còn yếu, còn nghèo, lại ở xa, sẽ là kẻ thù dễ chịu hơn nhiều so với kẻ thù đông đúc ở sát nách";
..."Ông như người thuyền trưởng can trường, bình tĩnh chỉ huy con tàu trong cơn bão"; ..."Tượng đài cho ông, với tư cách nhân vật lịch sử, đã được đúc!"
Hay, ông viết thêm (24, trang 461-462): "Việt Nam Q.D.Đ bắc loa điện ở đường Quan Thánh ra rả suốt ngày chửi Hồ Chí Minh bán nước. Họ giết các chiến sỹ tự vệ thành, cả dân lành, rồi chôn ở trụ sở ở phố Ôn Như Hầu. Họ bắt cóc rồi thủ tiêu ông Trần Đình Long, ông Nguyễn văn Phúc, biệt hiệu Phúc ghẻ"...

Đọc những lời chứng về lịch sử nước nhà giai đoạn năm 1946 của ông tôi trích dẫn trên, bất cứ ai khi đã biết nhìn nhận lịch sử theo quan điểm dân tộc, và vì lợi ích của quốc gia Việt Nam mà đánh giá nó, thì tất cả đều sẽ ngỡ ngàng khi thấy cho đến năm 1997, ông V.T.H vẫn còn nhìn nhận lịch sử đất nước như thời còn bị đảng độc bá tuyên truyền nhồi sọ hồi những năm trước 1975, khi miền Bắc còn bị bưng bít trong cảnh "bế quan toả cảng" vậy. Nếu, gọi đấy là việc chép lại những bài học thuộc lòng thời trung học, thì không có gì là sai khi thấy nhận định lịch sử cuả tác giả rất thiên lệch trong hồi ký!
Để khẳng định cho nhận xét đó, tôi còn thấy trong việc trích dẫn lịch sử Cách mạng tháng Tám, ông V.T.H chỉ đưa  những cứ liệu nhằm dẫn chứng cho người đọc thấy lẽ đúng thuộc về phía đảng, Bác, sai về phía những người quốc gia, những đảng phái đối lập Viêt Nam. Điều này, ông V.T.H đã toát lộ bằng cách không hề đưa ra một hình ảnh, một kỷ niệm nào khả dĩ có thể tạm dựa vào đó để thấy được lẽ đúng trong lý tưởng của những người đối lập, ngoại trừ hai trích đoạn ngắn về chuyện của nhân vật đặc công Nguyễn Xuân Cao, và những người tù thuộc "Nguỵ quân, Nguỵ quyền" thời Pháp không di cư vào Nam, ở lại Bắc và bị bắt tù. Nay, tôi xin lạm bàn về hai chuyện đó:
- Chuyện về lời kể của chiến sĩ đặc công Cao, "anh đã chiến đấu dũng cảm, bắn đến viên đạn cuối cùng và còn cướp súng đối phương, bị nhóm biệt kích quân đội VNCH bắt, nhưng được một đại úy chỉ huy nhóm tha không giết, và còn xưng gọi là người anh hùng rồi đưa về Sài Gòn chiêu hồi; sau vào học ở trường biệt kích Long Thành, được đưa trở ra miền Bắc, anh Cao này đã giết nhóm trưởng và về đầu thú với đảng, bị đảng ngờ, bắt tù; sau anh được tha hay chuyển đi đâu không rõ." Nó cứ lởn vởn cái tính anh hùng cách mạng, dám hy sinh và đầy lòng trung thành với Bác, với đảng của người chiến sĩ quân đội nhân dân Việt Nam lý tưởng- Cao. Và, phản diện là lòng nhân đạo "ngây thơ" của vị đại úy VNCH, cũng như gián tiếp nói về sự thiếu kinh nghiệm, đơn giản trong việc kết luận bản chất đối phương cuả cơ quan Tâm Lý Chiến, hay ngành Quân Báo quân lực VNCH. Còn, với những "Nguỵ quân, Nguỵ quyền" kia, thì cũng chẳng có lý tưởng gì nổi bật ngoài việc họ chỉ là những người phục vụ cho thực dân để kiếm cơm. Bằng cách đưa những trích dẫn rõ ràng về động cơ lý tưởng cho độc lập, tự do dân tộc của những người cộng sản, nhưng kèm theo chỉ có hình ảnh mờ nhạt về cái tầm tầm trong miếng cơm manh áo, hay lý tưởng phản động, lệ thuộc ngoại bang của những người đối lập như tôi thấy, thì ông Vũ Thư Hiên quả là người thâm thúy và kín đáo trong việc viết lách!  
Thế là, từ những nhìn nhận như thuả còn được cắp sách đến dưới mái trường xã hội xã hội chủ nghĩa ấy, ông V.T.H đã làm tuyên truyền cho đảng cho Bác rồi! Đây là điểm sai phạm lớn nhất của tác giả mà tôi thấy trong hồi ký. Những dòng đó, nó đối lập lại những tha thiết chân tình khi ông tự nhận là "Thủ phạm", hay là sự "Sám hối" của người cha với dân tộc, và làm tổn hại tâm sự của ông trong những dòng "Tự bạch" mà ông đã viết như sau: ..."Tôi cũng không thể đóng vai người buộc tội được bởi trong xã hội mà tôi sống, tôi không chỉ đơn thuần là một nạn nhân. Về mặt nào đó, tôi còn là thủ phạm";..."Xin hãy coi coi cuốn sách này là lời sám hối trước đồng bào của cha tôi nay đã không còn. Nó được thực hiện theo theo lời trăn trối của Người" (tr.14).
Cảm động chân thành như thế đấy, còn thiêng liên nữa, bởi lời đó ở tận đáy lòng một người (tác giả) bị đảng ngờ oan và làm cho đau khổ! Nhưng rất đáng tiếc, cũng người đó đã không nhìn thấy quyền tự do yêu nước của những người đối lập, lý tưởng đấu tranh của những đảng phái quốc gia, các tôn giáo trong thời kỳ Cách Mạng Tháng Tám và sau này, để mà cảm thông cho việc họ cũng phải dựa vào một tên đế quốc nào đấy trong lúc "qua sông lụy đò", để mưu cầu thực hiện lý tưởng của họ và cho dân tộc. Hoặc, dù không thông cảm cho việc làm ấy của họ, cứ cho là họ làm tay sai cho Tầu Tưởng, Nhật, Pháp, Mỹ đi, xấu hết đi, thì việc Bác Hồ và đảng CSVN đã nhân danh cái gì khi mà họ phụ thuộc vào Nga-Tàu còn hơn cả đám "tay sai" đã bị đảng tố cáo. Và thậm tệ hơn nữa, ngày nay cả đảng CSVN cũng lại đang xin được làm tay sai cho Tư bản ngoại bang, hòng có Đô-la để mong tồn tại cai trị Dân tộc. Vậy mà ông Vũ Thư Hiên thì cứ "vô tâm" nhắc lại cái tội cũ của người quốc gia, thử hỏi, người đọc sẽ biết đánh giá về ông thế nào cho đúng?
Thiết nghĩ, việc ông V.T.H dựng lại lịch sử đất nước sau nửa thế kỷ dân tộc bị đảng CSVN làm cho đau khổ là chuyện rất cần, nhưng nó chỉ cần nếu như ông làm sáng rõ được sự thật lịch sử mà đảng CSVN đã dấu diếm và cố tình ăn bớt công sức toàn dân trong CM Tháng Tám, kháng chiến chống Pháp thì mới đúng. Đằng này, ông lại làm nhân chứng giả thì tệ quá! Do không thấy được trách nhiệm như vậy, ông sẽ không thể sử dụng vị trí xuất thân đặc biệt cuả mình để trở thành người hoạt động tốt cho công tác đoàn kết Bắc- Nam, cho mối liên kết giữa những người cộng sản cấp tiến, những trí thức tiến bộ miền Bắc cũ theo xu hướng tiến bộ với những người đối lập của Việt Nam Cộng Hòa ở trong nước và ở hải ngoại hiện nay nhằm đẩy mạnh cuộc đấu tranh đòi tự do dân chủ cho nước nhà. Tiện đây, tôi cũng nhắc lại với tác giả cùng bạn đọc, cũng tại "Lời Kết" (tr. 764) ông viết: ..."Năm 1994, Nguyễn Chí Thiện sang Mỹ, từ đó anh đi khắp thế giới để chửi chính quyền Hà Nội. Tôi đọc báo và buồn lòng thấy anh chống Cộng vung vít.... Có điều, như các cụ nói, no mất ngon, giận mất khôn, nên anh mới khai trừ thẳng cánh những người trước kia là cộng sản ra khỏi đám con cháu Lạc Hồng, vĩnh viễn tước của họ cái quyền yêu nước".
Vậy, có phải là tác giả khi viết hồi ký đã tự mâu thuẫn nặng với bản thân không, khi viết ra những lời phê phán về Thi sĩ Nguyễn Chí Thiện ở trên?! Ông phê Thi sĩ mà ông cũng lại phủ nhận công sức, thiệt hại của những con người, những đảng phái quốc gia trong Cách mạng Việt Nam (xem lại trích dẫn chương 19 và 24).
Ở điểm sai nặng nề này của tác giả, tôi không muốn khoáy sâu vào. Mặc dù, đâu đó trong tôi, đã từng có hai dấu hỏi:
1. Tác giả viết vậy là để bảo vệ cho hào quang chiến thắng giặc Pháp, Mỹ... thống nhất đất nước của đảng CSVN, một đảng còn được gọi theo định nghĩa mới của ông, là: "Chủ nghiã CSVN, một chủ nghĩa không có nguồn gốc từ Mác- Lê- Stalin- Mao, chỉ có nguồn gốc từ những con người nhân bản, yêu tự do, dân chủ và độc lập"?
- 2. Làm một việc chuẩn bị về lâu dài cho sự thay tên của đảng CSVN trong thế cờ tương lai đất nước?
Chỉ mong, ông đừng xâu xa như thế!

Điểm Thứ Bốn: Giá trị nhân bản cuả hồi ký, có không, và đâu là phản tác dụng với giá trị đó?
Nhận xét về điểm này, tôi thấy tác giả đã có suy xét nhân đạo để tha thứ tội lỗi cho những tên Thọ, Duẩn, hay sự "vô tâm" cuả các ông Hồ, Chinh, Bằng... Cụ thể, là khi viết về họ, ông dùng lời văn không quá hằn học để kết tội những kẻ thù cũ. Thêm vào, trong tác phẩm ông còn kể những chuyện yêu quý chú cóc trong xà lim; giấc mơ về một miền quê xa đầy cây xanh, ríu ran tiếng chim hót...; song hành là việc ông kể về lòng nhân ái cuả mình qua bộc lộ lý tưởng và hành động đấu tranh cho hạnh phúc cuả dân tộc; hay gần đây, khi sang châu Âu, ông còn đến tận lò thiêu người ở Katowicze, trong trại tập trung Auschwitz- Birkennau để đặt hoa tưởng nhớ những nạn nhân chiến tranh cuả Đức Quốc Xã. Sự chu đáo như thế cho thấy ông nhân bản lắm (cả ông Bùi Tín cũng vậy, Mặt Thật)!
Nhưng ngược lại với những thể hiện nhân bản trên, trong những năm sống ở Sài Gòn, ông VTH chưa kể mình đã ghé qua Biên Hòa, thắp một nén hương cho những người lính bạc phận thua trận ở phía bên kia, trong nghĩa trang Cộng Hòa?
Vậy, cái sự ở xa thì ông làm được, cái sự đáng làm hơn khi ở gần thì ông lại quên. Hay, diễn đạt bằng một câu sinh động cuả ông Hồ khi nhận xét tinh thần quốc tế vô sản cuả "Thọ Tây Ban Nha": "Việc nhà thì nhác, việc chú bác thì siêng" ấy, sẽ làm mất đi bao nhiêu giá trị nhân bản đã có trong ông? Phê bình như vậy, tôi cũng mong ông và bạn đọc khác quan điểm đừng cho tôi là kẻ bới lông tìm vết nhé, vì nó quá rõ ràng lộ ra cái thiếu nhân bản qua lời kể chuyện cuả người viết, nếu như ông VTH không cải chính lại là do mình bị quên!

Thay Lời Kết Luận: Từ những phê bình về mặt mạnh, yếu của hồi ký "Đêm Giữa Ban Ngày" do ông Nguyễn Hoàng Hạ và Văn Thanh viết, tôi mạn phép đi sâu vào giá trị tư tưởng của tác phẩm, chỗ đứng lập trường, lòng nhân bản của tác giả để giới thiệu nhận xét cuả mình. Và, tôi luôn thừa nhận rằng, dù ông V.T.H viết rất "thiền" (lời Ông Bùi Tín), nhưng sức tố cáo của hồi ký đối với chế độ rất là mạnh. Sự công phá mạnh ấy nằm ở những đoạn, những phần nói về lai lịch, tư tưỏng, hành vi, sinh hoạt, cá tính, ý thích, dâm bạo, hoang dại... của những cán bộ cao cấp CSVN mà tôi nghĩ là không cần phải trích lại ở phần nhận xét này.
Mặt hạn chế cuả hồi ký như tôi đã nói, cũng rất lớn ở chỗ ông đã bất công khi không nói về những tổn thất cuả một phần dân tộc, của một nửa đất nước, hay chút ít cho những oan hồn của không biết bao nhiêu thường dân và chíến sĩ quốc gia Việt Nam đã hy sinh, hay bị giết oan trong cuộc xung tranh Quốc- Cộng hồi Cách mạng tháng Tám và kháng chiến chống Pháp, Cải Cách Ruộng Đất, không kể số lớn chết trong cuộc chiến Bắc- Nam sau này.
Sau cùng, mong ông Vũ Thư Hiên sẽ nhìn nhận và thay đổi lại những đánh giá của mình, cả về công lẫn tội của hai phía Quốc Cộng! Được vậy, ông sẽ thực hiện được ước vọng của mình và nhóm dân chủ ở trong nước, cũng như giữ được sự trong sáng ở phần Tự bạch và kết luận hồi ký của ông!
Nếu có gì quá đáng, hay chấp nhất, mong tác giả và bạn đọc thẳng thắn phê phán. Đó là quyền tự do tranh luận cuả mỗi chúng ta

Đức quốc ngày 27.7.1997
Triệu Quyết Thắng.

No comments: