Wednesday, August 17, 2016

THU HỒ * VƯỢT BIÊN





Bút ký của chuyến vượt biên

Thu Hồ


02-81- Cuối tháng hai, sau tết, má có xuống Bến Lức để thăm nhà và mua thêm đồ đặc để bán. Xót xa cho má và Bạch cực khổ thức khuya dậy sớm tảo tần, mua bán; tôi không giúp được gì cho gia đình, ngoài lương hàng tháng cùng với nhu yếu phẩm lảnh ở trường đem về phụ với Quế.

Tôi có nói chuyện với má một vài lần, khi hai mẹ con ngồi bên ngoài nhà bác sĩ Thăng trong lúc chờ đợi, tôi cho má hay là, tôi sẽ đi xuống Lý, có thể có chuyến đi sắp tới. Hai mẹ con nói chuyện bịn rịn, má nhắn nhủ tự lo lấy thân.

Sau khi dạy xong ngay buổi trưa ngày thứ bảy, nhờ cô học trò chở về nhà, tôi rủ Nhân đi Cần Thơ, cô bé không muốn đi, đành đi một mình. Đến Cần Thơ, gặp Phong tại nhà Lý, cháu trai, con chị Sáu của Lý, từ Biên Hòa xuống để ngày mai đi, sao mà xuống đúng lúc quá, bây giờ chợt nhớ, thật là đến đúng lúc! May mắn! Cả hai đi Cà Mau sáng ngày sau.

Tôi đợi ở quán nước, Phong đi báo cho cậu là LTN biết tôi đã đến. Anh ra và sắp xếp chổ ở cho tôi, anh dẫn tôi đến P. người con gái anh quen giới thiệu tôi là em gái.

Ở với P. vài ngày rồi N dẫn tôi đến nhà khác, Dì Hai, ở vài ngày nữa, anh bảo trong lúc chờ Q. trở về nên không ở một nơi hoài người ta để ý. Căn nhà anh luôn lui tới lại ở phía trước mặt của đồn công an, gần chợ Cà Mau. “Chổ nào nguy hiểm nhất lại là nơi an toàn nhất”. Mỗi lần ra ngoài tôi đi với trạng thái e dè; phải đi chợ mua một cái quần đen, về may, cắt lấy bằng tay vì khi xuống Cần Thơ, không ở tư thế vượt biên, chẳng mang theo, hoặc chuẩn bị cho chuyện vượt biên, nên chỉ mang thêm bộ đồ mặc ở trong nhà và bộ đồ tây màu đen đang mặc trên mình cùng một số tiền, tôi mang theo một nửa sau khi bán đi chiếc xe đạp, do chị C. gởi về. Nghèo mà đòi vượt biên! Sẽ bàn là trả vàng hay tiền sau khi đến nơi!

Gặp Q. bạn của N, kỹ sư Thủy Lâm, đã đóng tàu cùng với bạn bè đang hợp đồng chở thủy sản cho nhà nước, người thấp, với cặp mắt láo liên có vẽ lém lĩnh, mánh munh, N thường chọc ghẹo là có cặp mắt của Bác…Tối đó, Q, N và tôi đi ăn để bàn cho chuyến đi, tôi phải tiếp tục đợi chờ, gần đến rồi, lòng tôi nóng như lửa vì bỏ trường đi không có xin phép đã mấy ngày rồi, ở nhà chắc cũng nóng ruột!

Sáng hôm sau đến tìm Q, hắn muốn lấy “cái tôi có” hơn là lấy tiền hay vàng! Tôi không cần phải đưa trước. Tiến thoái lưỡng nan! Tôi đành phải nhắm mắt đưa chân, để đánh đổi một chổ đi trên tàu, mà không biết chuyến đi sẽ như thế nào, có đến nơi hay không. Cầu xin, lạy trời giúp con, thật sự con muốn đi, muốn rời khỏi đất nước này! Tôi thật sự không hối tiếc vì chuyện phải làm, tôi đã làm rồi. Cái muốn cho, tôi đã cho người tôi thương rồi; không còn gì phải nuối tiếc. Một trao đổi, mua bán không hơn không kém!

Lúc chiều, N đến thăm, còn gì buồn tủi hơn, tôi dàn dụa rơi nước mắt, N xót xa đau lòng vì anh không thể giúp gì hơn, vì mọi quyết định do Q.

Trước ngày đi, Q dẫn đến con bé tên Thu, cùng tên với tôi, con của bà K. sẽ đi vào ngày mai. Buổi trưa thấy Q. đi ngang nhà Dì Hai, tay xách hai can dầu, tôi hồi hộp nghĩ là chuyến đi sắp bắt đầu. Buổi chiều Q. đến, hắn dẫn tôi đến gặp vợ hắn cùng đứa con nhỏ, sẽ đi vào sáng ngày mai và chỉ dẫn bến đò, phải ra đó sớm mai.

Sáng sớm ngày sau đó, tôi cùng bé Thu, rời nhà dì Hai trong lúc cả nhà còn ngủ, không một lời giã từ, lẵng lặng dọn dẹp đồ đạc, rời nhà, không một lời cám ơn, thật đáng trách! Đến bến tàu, thấy H. vợ của Q., tôi yên lòng. H ôm con trong lòng ngồi ở đầu mũi đò, tôi và bé T. ngồi ở đằng sau. Ngồi được một lúc, có người đàn bà ngồi kế bên hỏi chuyện, thấy tôi lạ mặt, bà ấy bảo : “ở bến đò, có tụi công an chìm lẩn quẩn, nếu là người lạ mặt, nó sẽ hỏi và chụp bắt đó”. N dạy tôi nói là “đi thăm anh đang làm ở lâm trường”. Tôi thật sự lo sợ trong lòng, không biết Q và N có đón chúng tôi đúng lúc hay không? Thật là ngây thơ, lúc đó cũng đã 24 tuổi rồi, không biết chuẩn bị cho mình thức ăn, nước uống nên đói lả cả ngày, có lẽ nhớ lời dặn là xách đồ ít càng tốt. Một ngày ròng rã trên chuyến đò hẹp nhỏ, xa xôi! Chuyến đi bắt đầu!

Một ngày dài, chuyến đò đã cặp bến Cả Nải (?), tôi thấy Q. trên bờ, lòng mừng không kể xiết, tôi lặng lẽ đi theo Q và vợ hắn, cùng xuống một chiếc ghe ba lá, N cũng có ở trên ghe, tôi thật sự yên lòng.

N lái ghe chở cả bọn trong nhiều giờ, xuôi theo dòng sông Ông Đốc, chạy qua Năm Căn, hai bên đầy những cây mắm, cây đước, vẹt...vắng vẻ, chạy qua những đồn công an, cả bọn phập phòng lo sợ bị gọi vào – Sau này, nghe nói lại họ biết lúc đó Q. chạy ghe qua- cả bọn còn phải chờ đợi thêm ba người đàn ông nữa từ trong lâm trường ra, chúng tôi hồi hộp đợi chờ, thời gian thật chậm chạp trôi qua. Sau cùng, cũng thấy họ xuất hiện, đang lái xuồng ra để đi cùng, (Q lo cho họ vào làm công nhân trong ty kiểm lâm). Trong khi neo ghe ở bải đất bùn đầy cỏ năng mọc, một lớp đất bồi mới cho sau này, những gì mình học và đọc trong sách giờ đây mới biết và thấy tận mắt, được đến tận cùng mũi Cà Mau của đất nước VN, trước khi ra đi. Lòng thật lo âu, bồi hồi cho một chuyến đi “năm ăn, năm thua, xí mạng cùi” sẵn sàng đi tù, sẵn sàng mất việc, có gì về đi buôn với má, miễn đừng chết thôi!

Tất cả đã đầy đủ, N lái ghe trực chỉ ra cửa biển. Trời cũng đã sụp tối và tối dần, loay hoay một lúc lâu mà chưa có dấu hiệu nào của tàu lớn cả; đầy lo âu, hồi hộp lo sợ vô cùng, không thể trở vô, vì có thể bị bắt, đành phải chờ vậy! Cả bọn ai cũng đồng lòng chờ! Rồi nó cũng đến, “một ánh đèn ba chớp, ba tắt” hiện lên, đúng như “mật mã” đã dặn nhau, đành nhắm mắt đáp trả, ai cũng sợ không biết đó có phải là dấu hiệu của đồng bọn mình hay là của công an gài bẩy để bắt những người vượt biên! Thế là cả hai tàu lớn, nhỏ gặp nhau. Ôi! Đúng là người của mình! Ai nấy hân hoan leo qua tàu lớn, tôi tìm một chổ an vị ở ngoài khoan tàu, ngồi một mình lặng lẽ, chưa một lần nói chuyện với ai.

Trời tối đen, trên trời đầy sao, gió mát lạnh, lòng vẫn hồi hộp mong đừng gặp tàu hải quan hay tàu đánh cá quốc doanh. Chẳng lâu, tài công cho biết không xa có một tàu thật lớn, có nhiều ánh đèn sáng trưng, Q và N nghĩ là tàu đánh cá quốc doanh, nên bảo tài công tắt máy để không có tiếng động và khỏi bị rượt bắt…

Trời dần dần sáng, thức giấc, tôi thấy mình trên một chiếc tàu dài 12 mét, rộng khoảng 2.5 mét, chứa được 18 người lớn nhỏ, chơi vơi giữa biển khơi, mênh mông nước xanh đen ngòm. Trên tàu tôi thấy có mía, vài bao củ sắn, sò huyết, tôm khô, hình như đó là do của vợ người tài công dùng để mua bán và có hai cái lu mái vú chứa đựng nước ngọt. Được kể lại là trước khi đi, họ lên tiếng là đi đổi nước ngọt, ai ở gần đó có muốn đổi, sẽ đổi giùm cho. Thế là chiếc tàu ra đi luôn với hai lu nước của người ta! Sau đó, phải dồn nước lại, quăng đi hai cái lu để tàu được nhẹ hơn, mặc dầu tàu đã nổi rất cao trên mặt nước.

Phải hơn mười mấy giờ, con tàu đã ra đến hải phận quốc tế và máy tàu đã bị hư. Tài công và N phải thay bằng máy đuôi tôm –lấy qua từ chiếc ghe trước khi rời VN- chạy bằng dầu, tôi thấy không ổn vì không đúng nhiên liệu. Bọn đàn ông đã căng những chiếc mền, chiếc mùng, làm buồm, nhờ gió thổi con tàu trôi đi!
Trời sáng hẳn, tôi cảm thấy mệt, suốt cả ngày trước và một đêm không có ăn và uống. Tôi ăn vội một củ sắn cho đở đói, thức ăn vào bụng chưa được bao lâu những cơn nôn mữa dồn dập tới, người đầu tiên trên tàu say sóng và sau đó là những người đà bà khác đều bị cả. Trong ba ngày trời, tôi nằm liệt trong cabin tàu ói đến mật xanh không còn gì có thể cho ra nữa. Chỉ có vợ của Q. là không sao cả! Có lẽ, có chuẩn bị thuốc say sóng, nên không bị vật vã, như tôi!

N thỉnh thoảng xuống thăm, an ủi cho tôi phần nào, tôi nhận ra một người quen mặt, đó là K. cùng học Nông Lâm Súc Long An với Sang cả hai học dưới tôi một lớp; quả đất tròn! Trên chiếc tàu nhỏ xíu mà vẫn còn gặp lại người quen! K. đi với một người đàn bà có 3 đứa con nhỏ. Sau này được biết bà ấy là vợ của một thiếu tá, chồng còn đang học cải tạo!

Đến giửa trưa ngày thứ nhất, cả bọn thấy ở chân trời xa tít mù có một điểm đen, di động, Q. quan sát qua ống dòm, cho hay đó là một chiếc tàu! Trong vòng mươi, mười lăm phút tàu đó hiện rõ ra, cả bọn nhốn nháo lên, chết rồi! Đó là tàu đánh cá Thailand, Q. bảo “ bà K. và người vợ của tài công hãy vào trong cabin, kéo cửa lại”. Có 4 người đàn bà trên tàu, luôn cả tôi. Q. và N. bàn tính là làm sao để tàu của Thái ở bên trái của tàu mình, vì K. đang nhắm mũi súng M16 ở hướng ấy. Tôi nhìn qua khe gổ, thấy tàu đánh cá đang chạy song song, bên trái. Bên tàu của họ, có 3 người đàn ông; một tên mặc áo sơ mi quần jean đàng hoàng, đứng ở đầu mũi tàu, 2 tên khác trong cabin, họ mặc chỉ có một quần lót trên người; tôi cảm thấy rụng rời, run sợ, tim đập thình thịch! Tên đứng ở đầu mũi hỏi sang bên tàu chúng tôi “Có cần giúp đỡ gì không?” bằng tiếng Thái, N. vội trả lời “không cần, đi đi”. Thế mà họ bỏ đi! Có lẽ, họ thấy bên tàu này chỉ toàn là đàn ông, tất cả là 8 người, đang đứng ở khoan tàu. Trời ơi! Cảm tạ ơn trời phật đã cho chúng tôi bình yên! Tôi không biết mọi người nghĩ gì, riêng tôi vui mừng khôn xiết.

Đêm lại đến, trời tối đen như mực, chơi vơi giửa biển khơi mênh mông nước, thỉnh thoảng P. cho tôi uống chút nước, ăn chút cháo, nhưng tất cả đều đi tháo ra cả. Chỉ có N và P để mắt lo đến tôi, có lẽ nhưng người kia đều có chuẩn bị thuốc say sóng nên họ không bị vật vã như tôi. N xuống nằm với tôi trong cabin, bên ngoài thỉnh thoảng vang lên lời bậy bạ của ai đó. Một đêm nữa đi qua trong bình yên!

Mãi đến sáng thứ ba, tôi tỉnh táo dần ăn được chút xíu cháo sò huyết do P. nấu, chẳng có gì mà sao vị ngọt ngào, có lẽ quá đói sau những ngày nằm dài trong cabin. Tôi ra ngoài giúp P, nấu cháo cho mọi người, múc nước ở trong khoan đổ ra không nhiều lắm, tàu làm thật tốt còn mới tinh thơm mùi dầu chai nổi trên mặt nước thật cao. Ở đầu lòng khoan tàu, vợ chồng K. trấn thủ ở đó với cây súng M16 mà Q. và N. đã giấu được khi học quân sự để dành cho chuyến vượt biên! Còn vợ tài công, quấn quít với hắn trên mái cabin, rên rỉ khóc tỉ tê trong niềm ấm ức vì ra đi bất chợt không báo cho gia đình biết.

Trong ngày này, chiếc máy đuôi tôm chạy bằng dầu đã không còn cầm cự được nữa, chỉ còn biết nhờ vào sức gió thổi đưa con tàu đi theo hướng của la bàn mà định hướng để vào Mã Lai như dự tính. Vì chúng tôi ra đi vào tháng ba, “bà già đi biển” biển lặng, sóng yên, tôi có cảm tưởng như mình đi picnic ngoài khơi. Thỉnh thoảng còn thấy những bầy cá bơi lội, nhảy bay lên theo con tàu, sao mà êm ắng thế!

Đêm thứ ba, trời vẫn còn tối đen như mực, gió biển thổi mạnh, con tàu chòng chành lắc lư, sóng đánh dồn dập nước tràn vào khoan tàu nhiều hơn những ngày trước. Trong một khoảng xa xăm nào đó, có những đóm lửa, tài công có vẽ hoảng hốt trước những đợt sóng lớn, hắn bảo N đốt lửa lên cầu cứu, N bảo “không được, vì nếu cầu cứu, sợ rằng sẽ có tàu đánh cá của Thái đến, những việc cướp bóc hảm hiếp phần nhiều là vì nhờ vào sự giúp đỡ của họ, họ sẽ qua tàu của mình mà uy hiếp”… Tài công không ghe lời giải thích khuyên can của N, Q và đám đàn ông lại làm thinh, hắn cứ thúc giục lớn tiếng với N, hắn sợ quá rồi! N đành phải nghe theo, tôi nhìn N đốt lửa lò từ cái lò nấu ăn hằng ngày mà lòng hoãng loạn, sợ tàu Thái sẽ đến, chuyện gì sẽ xảy ra cho bọn đàn bà, cho cả nhóm người trên tàu. Chỉ biết cầu nguyện, sao những ngày này tôi cầu nguyện nhiều thế, cầu xin trời phật ở trên cao vời vợi kia nhìn xuống giữa biển khơi mênh mông cần sự cứu giúp, tôi cầu nguyện trong những ngày này nhiều hơn cả hai mươi bốn năm hiện hữu trên cỏi đời, những lần cầu xin tha thiết nhất trong đời!

Thế là trong khoảnh khắc, một chiếc tàu đánh cá chạy đến, bọn đàn bà và trẻ con rút hết vào trong cabin, chỉ còn lại đàn ông; chúng rọi đèn pha qua tàu của chúng tôi và bỏ đi! Cảm tạ ơn trời phật một lần nữa, đã giúp chúng tôi qua khỏi một hiểm họa có thể xảy đến!

Trời sáng dần, sóng biển lắc lư con tàu, đã đánh rơi làm bể cái lò nấu ăn lúc khuya khi đốt lửa cầu cứu, chúng tôi không đói vì chợt nôn nao, nhốn nháo, khi nhìn thấy dấu hiệu của đất liền ở xa xa, không biết đây là đâu, cứ chạy thẳng tới, sóng vẫn đánh dồn dập lên con tàu, có lẽ gần bờ nên sóng nhiều hơn. Cả bọn nhốn nháo lên, niềm hân hoan vô tư khi thấy bờ biển rõ dần. Ai nấy vui vẽ mừng rỡ, bàn bạc với nhau là đem cây súng giao cho cảnh sát, trên tàu còn thức ăn, chúng ta sẽ nấu ăn xong rồi hãy tìm cảnh sát…Ôi! Sao mà vô tư thế! Vậy mà phải vài giờ trôi qua, đáy con tàu đụng bải cát nhưng vẫn còn xa bờ, những người dân trong làng họ đứng đông nghẹt trên bải biển; chúng tôi vui mừng khi thấy những người đàn ông bơi ra ngoài, bọn tôi tưởng họ đón chúng tôi. Tôi và N nhảy ra khỏi tàu, tôi hụt hẫng hoảng sợ vì mực nước biển ngập đến ngực, N vội nắm tay tôi. Tôi chợt nói với N “mình bị cướp cạn rồi, anh ơi!” vì bọn đàn ông của Thái bơi lại gần chúng tôi, họ rút trong mình ra nào là dao, nào là búa. Một tên đến gần, chụp vào túi áo trên ngực tôi, hết hồn! Tôi vội móc ra, chỉ là chai dầu xanh! Lên đến bải, tôi nhìn lại chiếc tàu của nhóm, bây giờ chỉ còn lại cái sườn trơ vơ trống lốc, họ đã nạy lấy những mảnh ván của con tàu một cách thật nhanh chóng không ngờ được. Có lẽ họ tìm vàng! Không biết vợ chồng K. có mất mát gì không? Tôi chỉ tiếc cái túi xách của tôi, có hình của LNT trong bóp tay, tôi mang theo mình. Tôi nghĩ thầm, tôi thật sự đã rời xa VN, thật sự xa mất anh rồi, xa anh nghìn trùng, từ nay!

Tôi và N đến sau cùng, bọn người Thái đứng vây quanh chúng tôi thành một vòng tròn. Họ nói xí xô, xí xào chỉ trỏ con bé của Q. chưa đầy một tuổi gầy gò, èo uột. Q. và N. nói với họ gọi cảnh sát giùm chúng tôi. Bấy giờ, tỉnh táo lại sau khi được những người già, những người đàn bà giúp đở, mang cơm và nước đến cho chúng tôi dùng. Tôi hỏi N đưa tôi đi restroom, trở ra, tôi chợt cười ngất; N hỏi việc gì mà cười vui vậy, mắc cở quá! Tôi bảo rằng cái quần đen đang mặc, may bằng tay ở Cà Mau, xuống nước biển khi lội vào bờ đã rách lủng đáy rồi. Tôi chẳng hay biết gì cả, vậy mà đã ngồi thoải mái, hèn chi cảm thấy mát mẻ quá trời!

02-03-81- Đoàn người chúng tôi phải chờ đợi hơn 2 tiếng đồng hồ vẫn chưa thấy cảnh sát đến. Dân làng ở đây cho biết, nơi đây là một làng đánh cá tên là Huasai, ở phía nam của Tháiland, cách xa Mã Lai đến 500km, theo dự tính là nơi phải đến Thế mà nhờ gió thổi con tàu hư máy tấp vào đất Thái. Họ bắt đầu hỏi chúng tôi có vàng không họ muốn mua!

Cuối cùng cảnh sát cũng đến, đầu tiên tên đại úy người Thái, bảo chúng tôi đứng thành một hàng, hỏi có mang vàng không, hắn muốn mua lại; không ai trả lời, hắn đi xét từng lai áo, từng cổ áo của từng người. Thế là cũng lòi ra những tên cướp cạn không hơn không kém!

Sau cùng, cảnh sát chở chúng tôi về trại, nơi đây là một cái nhà, chung quanh trống trải, không có vách, nền ciment. Làm giấy tờ xong, họ phát cho thức ăn, gạo để nấu ăn trong khi chờ đợi Hồng Thập Tự đến.

Ở đó, đã có 38 người của hai chiếc tàu riêng biệt. Mỗi chiếc đều bị hải tặc tấn công 6 và 9 lần. Trong nhóm đó có gia đình của bà Sáu, vợ một trung tá, đẹp, chồng còn đang học tập, dẫn 4 cô con gái và một cháu trai ra đi; cả nhà đều bị hải tặc hảm hiếp, tội nhất là cô bé mới 14 tuổi nhỏ nhất nhà đã gần ba tuần qua mà vẫn còn đi khấp khểnh đau đớn!

Họ bảo ghe của chúng tôi rất may mắn, chỉ bị cướp cạn, coi chừng tên đại úy cảnh sát,trại trưởng, hắn để ý ai xinh trong đám, nằm ở chổ nào; đêm đến, hắn đi “mò” đó. Đàn bà ngủ một mình coi chừng hắn đó! Tôi nghe mà phát hoảng!
Đêm ấy, tôi kiếm một chổ ở giữa đám để nằm, N đến cùng với tôi! Còn những ai nữa để tôi có thể nương tựa vào lúc này ngoài N và cháu của anh; chung quanh tôi, Q , K và tài công có vợ ở kế bên, còn lại 4 tên đàn ông độc thân tại chổ!

Đêm đầu tiên ngủ ở trên nền đất Thái, tôi có cảm giác nổi trôi bềnh bồng của những ngày trên biển, tôi nằm mơ thấy mình vượt biên cùng với LNT, không là LTN, mặc dầu N đã chăm sóc, lo lắng những ngày qua, mơ thấy đám học trò ở khu nội trú…Tôi đang mơ màng với giấc mộng, chợt nghe tiếng động, tiếng chân của ai đi đến. Lắng nghe, bước chân đến gần, gần hơn, đi qua nơi tôi nằm, ngồi xuống chiếc mùng kế bên. Đó là chổ của vợ chồng bà K. may mắn, có K nằm trong đó, phía bên ngoài! Hắn đứng dậy bỏ đi! Tôi đánh thức N và nhận dạng được hắn nhờ ánh đèn chiếu bên ngoài, à! thì ra là tên đại úy, lúc chiều đã được nói đến.

Những ngày sau đó là những ngày thật an nhàn, chỉ biết đợi chờ HTT đến và Cao Ủy đón về trại tị nạn, từ đó mới có thể đi sớm được. Bọn tôi chia nhau nấu cơm, ăn rồi ngủ và viết thư báo cho gia đình biết là đã đến nơi. Nhóm 38 người đã được đưa về Trại Tị Nạn Songkhla. Chúng tôi, người ở lại được bàn giao công việc của những người ở xung quanh trại nhờ chúng tôi làm. Tôi và bà K có công việc giặt giũ áo quần của một gia đình, một thau quần áo to lớn, nhìn thấy mà rụng rời tay chân, thế mới biết kiếm được đồng tiền quí giá như thế nào, nước mắt và mồ hôi!

Được một tuần, tôi và P. kiếm được một ít tiền bèn rủ N đi chợ. Sau năm 75, nhiều năm chúng tôi không có những thứ tiêu khiển hưởng thụ xa xỉ, thời gian đó không có gạo trắng để ăn, nói gì đến uống Coca Cola. Được chai nước ngọt lạnh ngắt, tôi hút một hơi mạnh, dài, hơi gas xông lên đến tận hốc mũi, tôi có cảm giác muốn nín thở cay cay khó chịu. Bài học đầu tiên tôi tởn đến già! Bây giờ chỉ uống từng ngụm nhỏ thôi. Sợ rồi!

Chúng tôi mua sắm thêm những đồ cần dùng, khi trở về, đi ngang qua đám thanh niên Thái, họ gọi chúng tôi “Yuồn! Yuồn!” trong tiếng gọi đầy giọng miệt thị, khinh khi! Chúng tôi lẳng lặng nhanh chân trở về trại. Đó là lí do chúng tôi không dám ra khỏi trại cảnh sát một mình.

Hôm sau, được rảnh rổi N dẫn tôi đi cùng với Q đến bệnh viện, lấy nước tiểu, tôi không hiểu để làm gì? Trở về tôi hỏi N, anh nói “thấy T có vẽ tròn tròn, anh sợ T có thai, nên dẫn đi check?!!” Ngày sau, tôi cho N biết “đừng lo, T đã có rồi..” N thở phào nhẹ nhỏm vì anh sợ, nếu có gì sẽ rắc rối cho cả hai(?), cho việc đi định cư!

Tuần lễ thứ hai, chúng tôi được hội từ thiện CARE của Mỹ đến ủy lạo; họ nhận gởi thư từ của chúng tôi và cho mọi người một túi xách với áo quần và những đồ cá nhân cần dùng.


Sang tuần lễ thứ ba, chúng tôi được đưa đi Songkhla, sẽ không còn thoải mái bằng những ngày ở tại đây. Giả từ Huasai! Nhóm chúng tôi đến trại, được ban an ninh giử bên ngoài cổng trại; được tiếp đón bằng một màn phỏng vấn lý lịch sơ khởi, trước khi cho vào bên trong. Bước qua cổng, nhìn thấy rừng người đứng đón chào để nhận diện người quen. Tôi nghe có người gọi tên, à gia đình của cô Hai Bé ở cùng phố; đã có người quen. Thời gian này trại thật đông người, không còn chổ cho ghe (không gọi là tàu) của chúng tôi ở trong barrack, phải ngủ tạm ngoài bải biển cho đến khi nào barrack trống.

Buổi trưa ở trại, trời nóng, nắng gay gắt chói chan, phản chiếu ánh cát vàng của bải biển đông, đầy người. Nước biển trong xanh, người lớn bơi lội, trẻ con chơi đùa tung tăng trên cát tận hưởng giây phút yên bình thoải mái với những làn sóng nước ấm mát. Chúng tôi được phát chiếu mùng mền và được giới thiệu về sinh hoạt, điều lệ của trại yêu cầu mọi người phải tuân theo và thay phiên nhau làm vệ sinh để giữ trại được sạch sẽ.

Trại được điều hành bởi ban đại diện trại có trại trưởng, có tất cả ban ngành như trật tự, an ninh, thông tin, thư tín, thông dịch, phân phối thức ăn…có cả chùa và nhà thờ, có trung tâm phụ nữ dành cho phụ nữ đi một mình ở nơi đó. Trung tâm sinh hoạt dành cho thiếu nhi mà những người phục vụ là các anh chị tị nạn của trại.

Ánh nắng chiều nhạt dần, mặt trời xuống tận chân trời, nhường cho bóng đêm chúng tôi sẽ ngủ trên bải biển như mọi người đến trước, vẫn chưa có và còn đợi chổ.

Buổi tối lúc 7pm, giờ phát thanh của ban thông tin, đọc tin tức, thơ, văn nghệ, nhắn tin. Mọi người đem chiếu mền ra bải sửa soạn chổ ngủ. Đến 9pm, tắt đèn, giờ đi ngủ. Ở trại có ban an ninh, nên cảnh sát Thái không vào bên trong trại, nhưng đừng để xảy ra chuyện, nếu có lộn xộn chúng nó ở ngoài cổng vào can thiệp rất phiền, chúng đánh người rất dã man!

Bầu trời tối đen đầy sao, gió mát lành lạnh, tôi thích ngắm nhìn những vì sao, trong những đêm tối trời, hay ngắm ánh trăng vàng vào những đêm trăng tròn. Nhìn mọi người nằm sấp lớp trên bải biển giống như cá mòi trong hộp! May là thời gian này vào mùa khô ráo, không bị mưa nếu có mọi người sẽ khổ sở đến dường nào.

Tôi nằm ngủ trên bải cùng với N nói về những ngày sắp tới, chưa biết sẽ ở trại bao lâu; ngày mai sẽ đi thăm gia đình cô Hai để hỏi thăm tình hình của trại. Ngước nhìn mọi người chìm đắm vào giấc ngủ, có người đã rơi vào giấc mơ ú ớ vang vọng lại, chắc không ít người đã để hồn mình trở về chốn cũ, quê nhà!

Gia đình cô Hai ra đi vào lúc Tết, ở chợ lúc ấy có nhiều người ra đi như Nhuẫn với Trang, tôi nhớ khi nghe các em cho biết tôi thật sốt ruột, nóng lòng muốn đi gặp Lý. Cô Hai cho biết phái đoàn Mỹ trong đó có một người với hổn danh “ông Gà Đá” rất khó vì hầu hết nhiều người bị bác đơn đi Mỹ, thiên hạ kêu rêu vì vậy! Cùng lúc, cho biết pháí đoàn Úc rất chuộng những người trí thức, độc thân được nhận một cách dễ dàng và cấp thêm đất đai cho canh tác (?). Không biết thực hư như thế nào, tôi liền viết thư cho chị C. nói cho chị biết như vậy; được thư chị cho biết là “người ta đã bảo rằng không nơi nào trên thế giới này hơn Mỹ(?)!”

Hai ngày sau, chúng tôi là Q, N và tôi được gọi tên và được đưa ra Songkhla. Tôi thắc mắc không biết việc gì. Tuần tự chúng tôi được gọi tên, được nói chuyện với một người Việt, sau này biết tên là CvH làm cho ban an ninh trại hợp tác với an ninh Thái phỏng vấn, điều tra những ai còn là công nhân viên nhà nước làm việc sau năm 75.

Tôi được H hỏi những câu hỏi về nơi làm việc, ai là ban lảnh đạo, nói thật chi tiết về họ, tên tuổi, sinh hoạt, tính tình, hình dáng…viết ra tất cả, giống như làm bảng tự kiểm, bảng lý lịch vậy! Tôi nghĩ thầm, ra khỏi VN rồi mà vẫn còn làm tự kiểm. Ối gizời ơi! tưởng tra tấn gì thì sợ, chứ bắt viết thì tôi viết cho mà xem. Thế là, chúng tôi mỗi người một phòng riêng vắng vẽ, yên tịnh, tha hồ viết “tự kiểm lý lịch nghề nghiệp bản thân”, từ nơi ăn chốn ở những sinh hoạt nơi làm việc. Bánh, nước uống được đưa vào, có cần đi restroom thì tự nhiên. Sau màn huấn thị, H rời phòng, tôi lấy lại tinh thần rồi đặt bút xuống viết không ngơi nghỉ, những dòng chữ tuôn tràn trên mặt giấy như có dịp được bày tỏ ý nghĩ, cảm tưởng của mình sau 5 năm ở lại trong nước .

Vừa hoàn tất cũng vừa đến giờ ăn trưa, nghỉ đến 2pm chúng tôi được gọi vào làm việc tiếp. Đầu tiên, H chào và cất tiếng khen ngợi bài viết “ chị viết hay lắm đó” để rồi chất vấn lại những gì tôi đã viết. Tra hỏi việc tôi được kết nạp đoàn, tôi bảo với anh ta “Trong lý lịch của tôi ở trường, tôi được xếp vào diện gia đình có người đi Mỹ, ba tôi là giáo viên dạy học suốt cuộc đời của ông, bị mất việc sau đó, tôi không phải là thành phần nồng cốt của họ, nhưng gần ra trường mình không có làm gì xấu, họ phải kết nạp thôi. Sống ở đâu thì theo đó!” CvH không có ý kiến gì cả. Tôi được ra về, Q và N bị đi thêm ngày thứ hai.

Những ngày ở trại sau đó tôi có gặp anh Trí, khoa Nông nghiệp cùng lớp với TTHạnh đến được nhiều tháng, đang điều chỉnh hồ sơ và đợi hôn thê ở Mã Lai sang nhập hộ, cho biết có tin anh Khang cùng khóa Nông Nghiệp , anh Cường. khoa Công Nghiệp đang ở Mã Lai. Một hôm, chúng tôi biết sẽ có ghe mới đến, tôi cũng ra đứng đón để tìm người quen. Họ đến, từng người đi qua tôi nhận ra một người học khoa Công nghiệp, khóa 74, cùng trong đội đá banh với LNT tôi không biết tên. Tôi mong ước được gặp chị T.của tôi ở đây! Chị đã đi cả tháng, ở nhà trông tin.

Thời gian chậm chạp trôi qua, tôi nhận được thư chị C kèm tiền và hình của gia đình chị có cả T. em anh Đ. đã qua được một năm. Chị thật vui mừng khi biết tôi đã qua đến trại, đang xúc tiến hồ sơ bảo lảnh, tôi hơi thất vọng vì chị không đề cập bảo lảnh cậu cháu của N. N đành phải đi theo diện nhà thờ vậy.

Ở trại lâu ngày, tôi biết có rất nhiều chuyện, nhiều hoàn cảnh đau thương, khốn khổ ở trần gian đều có thể xảy ra ở đây. Gia đình tan nát, mất mát vợ chồng con cái với ghe không số một người, không chỉ cho đàn bà con gái mà với đàn ông cũng xảy ra rất nhiều. Có một hôm buổi trưa, tôi ngồi thơ thẩn trên bải biển, thấy có một cô gái từ xa đi lại hỏi thăm về trại. Tôi chỉ dẫn cô, đến chiều tôi biết cô ta bị bắt cóc bởi người đánh cá Thái, cô ta trốn khỏi và tìm đến trại. Mừng cho cô ta!

Được hơn hai tháng ghe chúng tôi được gọi tên lên là bổ túc hồ sơ, tôi không có tên. Tôi bật khóc vì tủi thân hoảng sợ, N sẽ đi và tôi sẽ ở lại một mình khi đứng trốn vào một góc vắng người, tôi buồn quá! Sau khi phỏng vấn xong, N ra tìm gặp tôi với cặp mắt đỏ hoe, anh an ủi rồi sẽ đi mà! Hai tháng sau, tôi cũng có tên chuyển trại cùng với N và P. ôi! Tôi vui mừng không kể xiết.

Chuyến đi dài cả ngày đến trại Panatnikhom, tôi ở một lô khác với N và P và những người đi cùng ghe. Tôi có đến chổ ở và thấy đám đàn ông con trai đầy trong lô, tôi sợ quá, liền nói với lô trưởng tôi sẽ ở với bạn tôi nơi khác. Những ngày ở đây chúng tôi được học một lớp về văn hóa mới khi đến quốc gia thứ ba, những lớp Anh văn do các người ngoại quốc thiện nguyện dạy…

Chuyến đi cho N và P cũng đến, tôi và N thức trắng cả đêm bên nhau, đến sáng cả hai đi nhà thờ nhắm mắt cầu nguyện mà muốn ngủ luôn, hai mí muốn nhíp lại, đầu gật lên xuống, thật mắc cở! Tôi tiển hai cậu cháu, nhìn anh ổn định trong hàng, tôi quay trở về vì không mở mắt nổi; sau này nhận thư anh trách tìm hoài không thấy tôi đâu.

Lúc này, tôi về nhập bọn với nhóm Tin Lành với Sơn, với Khoa, với Thê, chị Cần chị Hương, tôi quen K. và H. cũng vui, đỡ lo buồn. Q. có đến tìm tôi vài lần, hắn muốn tiền và không biết có còn gì nữa không? Tôi làm lơ, anh đã lấy phần đặt cọc rồi, đừng hòng đòi thêm, thỉnh thoảng tôi thấy vợ hắn đi qua chổ tôi ở, có lẽ tìm hắn…Tôi nhớ một hôm, buổi chiều 5pm có lễ chào cờ, S đứng ở cửa sổ liền bỏ vào ngồi xuống vỏng; vừa chấm dứt bài hát quốc ca Thái, tôi thấy tên cảnh sát Thái đi sồng sộc vào lô tôi đang ở. Hắn bắt S. quì xuống tán cho S một bạt tai và xí xô xí xào, người thông dịch cho biết S không chào cờ. Tôi không ngờ hắn thấy. May mắn cho S. hắn tha, hên! nếu gặp thằng hung dữ chúng đấm đá mất dạy lắm.

Trong lô, có cặp vơ chồng trẻ có hai con, đi Úc bạn của Sang, khi biết tôi học Nông lâm súc Long An. Ra trường, Sang về Rạch Giá, từ đó tôi biết tin về LNT đang sống với một người đàn bà ở RG, đó là lý do tôi không trả lời thư anh khi nhận được, lúc ở trại TháiLand.

Lần lượt K đi San Jose, H đi Utah, một tuần lễ sau ngày 30-09-81 tôi cũng có tên đi. Mừng rỡ vô cùng! nếu bị lọt sổ đợt này, tôi sẽ đi qua Galang, Indonesia như Sơn, mặc dầu còn độc thân. Chính sách tị nạn bắt đầu thay đổi, các trại tị nạn ở Thái sẽ đóng cửa vào cuối năm 81.
Giả biệt TháiLand!

Thu Hồ 
 

No comments: