Wednesday, June 8, 2016

VIỆT NAM! VIỆT NAM!

 

Món ngon Quảng Bình dân dã mà lạ miệng

A- A A+ ‹Đọc›
Thích tắt quảng cáo hãy nhấn nút
Vùng đất đầy nắng và gió Quảng Bình không chỉ sở hữu bờ biển Nhật Lệ đẹp tuyệt, hay những hang động nổi danh thế giới, ẩm thực nơi này còn níu chân du khách bởi nhiều món ngon dân dã mà lạ miệng.

Món ngon Quảng Bình dân dã mà lạ miệng
ảnh minh họa
Bánh bột lọc
Đây là một trong những loại bánh nổi tiếng rất được ưa thích ở Quảng Bình. Món ăn dùng loại tôm nhỏ ở cửa sông làm nhân, tạo độ đậm ngọt vừa miệng. Vỏ bánh làm từ tinh bột sắn luộc lên rồi nhồi nhân. Cắn miếng bánh đầu tiên, người ăn cảm nhận sự dẻo dai ngay từ phần vỏ bánh, tiếp đến phần nhân tôm đậm đà có chút mộc nhĩ lật xật trong miệng. Đừng quên chấm bánh với món nước mắm ớt đỏ au hấp dẫn. Vị đậm của bánh hòa cùng ớt và nước mắm tạo nên hương vị khó quên. Quán mệ Xuân ở ngay trung tâm thành phố Đồng Hới là địa chỉ quen thuộc của người dân nơi này.

Ram rán giòn


Nếu người miền Bắc có nem rán, thì Quảng Bình lại có ram rán giòn. Điểm khác biệt của chúng chính ở lớp vỏ ngoài giòn rụm. Lớp vỏ của ram làm từ bột ngô hay bột gạo đỏ. Độ dày khá lớn lên khi cuốn bánh, người ta phải tấm qua nước. Khi rán, ram sẽ giòn tan và có màu cánh gián bắt mắt. Ngoài chấm với nước mắm ớt, người Quảng Bình thường ăn ram rán với cháo bánh canh để thay quẩy nóng như ngoài miền Bắc.

Lẩu cá khoai


Nếu như trước kia, cá khoai từng là món thực phẩm dành cho người ít tiền, thì nay nó đã trở thành đặc sản ưa thích của nhiều người. Lẩu cá khoai là món phổ biến ở nhiều quán hàng tại thành phố Đồng Hới. Món ăn thường thưởng thức vào dịp đông lạnh mới đúng điệu.
Cách chế biến cá khoai cũng khác so với những loại cá khác. Sau khi làm sạch ruột, bỏ đầu, cá khoai được cắt khúc hoặc để cả con nếu là loại nhỏ, rồi ướp chút gia vị cho ngấm. Nồi nước lẩu mang vị cua cay với nước cốt me, khế chua, dưa cải, nấm. Khi nước sôi, thực khách nhúng cá tới chín rồi vướt ra thưởng thức khi còn nóng. Cá vừa chín tới, không nát, từng miếng như tan ngay khi cho vào miệng.

Khoai deo


Từ món dân dã như khoai lang, người Quảng Bình đã chế biến thành món đặc sản nổi tiếng chỉ có ở vùng đất này: khoai deo. Người ta sẽ chọn loại khoai lang đỏ trồng trên đất thịt, luộc chín tới rồi thái lát.
Tận dụng sẵn cái nắng chói chang đất Quảng, người ta mang những lát khoai lang ra phơi. Dưới trời nắng to, khoai được phơi khô từ 7-10 ngày, tới khi bề mặt se lại, từng lát có màu cánh gián, lúc ăn có vị dẻo và độ ngọt. Thưởng thức khoai deo phải từ tốn không nóng vội. Bạn hãy nhai chậm rãi để cảm nhận vị ngọt bùi từng lát khoai dẻo thơm. Có thể mua khoai deo ở các chợ truyền thống như chợ Đồng Hới, chợ Hoàn Lão, chợ Ba Đồn, chợ Quán Hàu…

Cháo canh


Người ta thường hình dung về cháo như một món ăn nấu từ gạo và có độ sệt. Nhưng cháo canh Quảng Bình lại giống với món phở hay mì hơn cả. Món ăn dùng sợi bánh canh được làm thủ công nên khá mềm và dai. Nước dùng được minh bằng xương và hải sản nên ngọt đậm tự nhiên. Tuy theo khẩu vị mỗi người, bạn có thể gọi loại cá lóc, tôm nõn, hay thịt nạc xào. Món cháo canh thường được ăn kèm rau cải xanh thái mỏng điểm vài lát ớt. Ngoài ra, người Quảng Bình có thói quen ăn cháo canh cùng ram rán g

Nghệ sĩ Bạch Tuyết - Từng ba lần tự tử

A- A A+ ‹Đọc›

Thích tắt quảng cáo hãy nhấn nút
“Người nổi tiếng như người lướt ván, phải có kỹ thuật thăng bằng để có thể lướt trên ngọn sóng, xuyên vào lòng con sóng, nếu không biết cách giữ thăng bằng tất phải té, bị hất khỏi ván thôi. Và tôi cũng phải học cách giữ thăng bằng khi đứng trên ván”. Tiến sĩ, NSƯT Bạch Tuyết đã chiêm nghiệm như thế về cuộc đời nhiều thành công nhưng cũng đầy sóng gió của mình.

Nghệ sỹ Bạch Tuyết
Nghệ sỹ Bạch Tuyết
Ba lần biếng… sống
- Mới theo nghề đã trở thành đào chánh, chưa đầy 5 năm đã gặt hái được tất cả vinh quang với những giải thưởng danh giá nhất, được gọi bằng mỹ danh “cải lương chi bảo”, được săn đón, chèo kéo với cát sê cao ngất - hiếm người được đời ưu ái như chị…?
- Trong đời tôi, bất hạnh lớn nhất là mất mẹ sớm, từ năm mới 8 tuổi. Nhưng đấy cũng là đại hạnh vì nhờ sự bất hạnh đó mà tôi nhận ra cuộc đời là phù du, mới có đó rồi sẽ mất đó, không có gì là bất biến, là tồn tại vĩnh viễn cả. Vì thế tôi tiếp nhận những thành công, những vinh quang, những lời tán tụng, khen ngợi với sự tỉnh táo, với tâm lý bình thản, cân bằng. Ngày trước, trong đoàn hát, đào kép chánh ít khi chơi với vệ sĩ, vũ nữ (diễn viên quần chúng) nhưng tôi lại chơi thân và học hỏi được nhiều điều từ những nhân vật âm thầm, lặng lẽ ấy…

- Có nghĩa chị không gặp khó khăn khi đối mặt với áp lực của một người đứng trên đỉnh vinh quang?
- Khi nổi tiếng thì cả cuộc đời phải sống với áp lực, phải sẵn sàng chịu mọi tai bay họa gởi thôi, đó là quy luật. Có cái này thì phải mất cái kia. Bạn nổi tiếng, được nhiều người yêu mến, ngưỡng mộ, kiếm được nhiều tiền… thì ngược lại bạn cũng có thể đánh mất những điều quý giá như cuộc sống bình thường, thời gian bên gia đình, bạn bè, những niềm vui riêng…
Tôi hiểu ra điều này là nhờ triết học Phật giáo: không có gì là toàn bích, thiện - ác phải song song tồn tại. Tuy nhiên đó là chuyện về sau chứ hồi trẻ tránh sao khỏi khủng hoảng. Tôi rất thông cảm với làn sóng tự tử của những diễn viên, ca sĩ Hàn Quốc, Nhật Bản hiện nay vì tôi đã từng trải qua, trong 10 năm đầu của sự nghiệp tôi đã tự tử đến ba lần.

- Ba lần tự tử? Tại sao?
- Lúc đó tôi cảm giác mình như cái hỏa tiễn vậy, phóng nhanh quá mà bệ phóng không chắc thì vừa bay lên là bệ nổ tan tành, không có chỗ về nữa. Mặc dù đã làm việc như một cái máy 24/24 nhưng khi bạn quá nổi tiếng thì xã hội lại đòi hỏi ở bạn tới những 48 tiếng và bạn như bị đốt cháy trong cái khoảng thời gian ảo đó.
Chỉ có công việc, không có bạn bè. Và thế là không nghĩ ngợi gì sâu xa hết, tôi thấy thế giới này mệt quá, mình làm biếng quá nên muốn nằm xuống và ngủ thôi. Mà trời run rủi sao cả ba lần tôi tìm đến cái chết thì bạn bè đều phát hiện được mà cứu sống. Nghĩ lại thấy mình quá may mắn và thực sự biết ơn họ.

- Vậy lý do gì khiến chị quyết định không chết nữa?
- Ba lần tự tử mà không chết tôi thấy chắc số mình chưa chết được thì phải nghĩ cách sống thôi, mình không tính được thì thôi để ông trời tính vậy. Người nổi tiếng như người lướt ván, phải có kỹ thuật thăng bằng để có thể lướt trên ngọn sóng, xuyên vào lòng con sóng, nếu không biết cách giữ thăng bằng tất phải té, bị hất khỏi ván thôi. Và tôi cũng phải học cách giữ thăng bằng khi đứng trên ván.

Chuyện về những người đàn ông
- Đến tận hôm nay, những khán giả mộ điệu cải lương vẫn dành nhiều tình cảm cho cặp “sóng thần” Hùng Cường - Bạch Tuyết. Giữa anh chị có chuyện “tuồng giả tình thật” không?
- Ngày đó, những vở tuồng tôi hát với anh Hùng Cường tạo hiệu ứng khán giả rất tốt, khán giả đến lớp lớp như … sóng thần vậy nên báo giới mới gọi là cặp “sóng thần” Hùng Cường - Bạch Tuyết. Hùng Cường là một người cực kỳ giỏi. Trước khi đến với cải lương anh ấy là ngôi sao tân nhạc, là tài tử điện ảnh. Khi hát cùng anh thì tôi cũng được cả khán giả của anh biết đến và yêu thích, và anh cũng là cơ sở để tôi bước qua điện ảnh.
Đó là một con người tài hoa, có tri thức, đam mê nghề, hết sức nghiêm túc. Với một người như vậy, lại làm việc chung thì không cớ gì lại không đem lòng yêu mến được. Nhưng con người tôi lạ lắm. Tôi nhớ có lần nói với anh ấy: “Em rất thương anh, quý anh. Mọi khán giả yêu anh, muốn được gần gũi anh, muốn được anh yêu. Em lại được anh yêu trong nghệ thuật, em muốn mãi giữ những cảm xúc đẹp, thanh khiết này trong tuồng để dâng hiến cho khán giả”.

Phải đấu tranh nội tâm và kiềm chế dữ lắm chứ. Rất may là không có chuyện gì xảy ra nếu không chưa chắc cảm xúc và hình ảnh của chúng tôi trong nhau lại đẹp như thế.

- Chị không tự tin về mình sao?
- Anh Hùng Cường rất thương tôi và cũng hỏi không hiểu sao tôi lại cứng rắn như thế, nhiều lần chúng tôi “choảng” nhau mà. Tôi cười nói: “Bồ ông toàn người đẹp mà có ai ông yêu quá sáu tháng đâu. Tui đã không yêu thì thôi, chứ dính rồi thì tôi yêu hết mình. Tui mà yêu ông thiệt rồi lỡ bị ông bỏ chắc chết quá” (cười). Cái duyên của tôi không gắn với người trong nghề mà lại xuất hiện ở bên ngoài.

- Chẳng hạn như trên sân cỏ, cựu danh thủ Phạm Huỳnh Tam Lang trong một bài báo đã tiết lộ như bị “sét đánh” khi lần đầu nhìn thấy chị...


- Anh ấy chưa bao giờ nói với tôi vụ này cả (cười). Lần đầu gặp tôi chưa biết nhiều về anh ấy, chỉ nghe người trong đoàn nói đấy là một cầu thủ rất lừng lẫy thôi. Ấn tượng ban đầu của tôi đấy là một con người lịch lãm, tài hoa và rất lành. Đến hôm nay vẫn vậy dù xuất hiện ở đâu, ở vị trí nào anh ấy cũng được mọi người yêu mến và ngưỡng mộ.
Thời gian đó, cũng không thiếu những đại gia, những người quyền quý theo đuổi nhưng ở cái tuổi ngồi cửa sổ thấy mình thay đổi được cả thế giới, tôi có những suy nghĩ rất khác: nếu lập gia đình thì tôi sẽ chọn một người tốt, đàng hoàng, không cần nhiều tiền, cả hai sẽ cùng gầy dựng.
Nghề đào hát của mình dữ dội, bấp bênh quá, sáng nay ngủ dậy thấy bài báo đẩy mình lên tận mây xanh, vài bữa sau đã đạp mình xuống địa ngục, một nghề chứa quá nhiều sự bất ổn, cuộc sống không bình thường, tôi cần một người bạn đời bình thường “đầu đội trời, chân đụng đất”. Sau lần gặp gỡ với Tam Lang, tôi nghĩ nhiều về anh ấy và khi anh ấy cầu hôn thì tôi nhận lời ngay. Đó thực sự là một đám cưới đẹp trong mắt mọi người.

- Nhưng cuộc hôn nhân ấy lại không ổn định như chị nghĩ?
- Tôi chỉ thấy đời sống của anh ấy ổn định hơn mình thôi và đấy cũng là sai lầm. Cuộc sống và nghề nghiệp của hai chúng tôi quá khác biệt. 4, 5 giờ sáng anh ấy đã đi tập, rồi về trại, những trận đấu lớn thì phải cắm trại. Mình sáng đi tập tuồng, chiều đi thu đĩa, tối đi hát, khuya vẫn còn đóng phim. Nhiều khi về chỉ nhìn nhau rồi lại đi tiếp.
Mình đi lưu diễn ngoài Trung thì chồng đá trong Sài Gòn, mình về Sài Gòn hát thì chồng đi nước ngoài đá. Vợ chồng mà hai đứa cứ như đầu sông, cuối sông vậy, dù có yêu thương nhau thì cũng khó mà chịu đựng mãi tình trạng này. Hơn nữa, bác sĩ nói tôi không thể có con.
Tam Lang lại là người con rất có hiếu. Sau 3 năm, chúng tôi chia tay xem như cũng tạo cơ hội cho cả hai. Anh ấy có thể có một gia đình bình thường, một người vợ hiền hết lòng với chồng mà có thể phát triển sự nghiệp hơn nữa.
Chuyện của chúng tôi diễn ra rất lặng lẽ nên đến hôm nay nhiều người gặp tôi còn hỏi Tam Lang khỏe không mà (cười). Trong đời tôi, có hai người đàn ông mà tôi phải học. Đó là ba tôi, người luôn hiểu và hết lòng ủng hộ con cái. Và Tam Lang, người không sính coi hát nhưng yêu con người thật của tôi chứ không phải vì tôi là nghệ sĩ.

- Cuối cùng chị cũng đã tìm được hạnh phúc?
- Tôi đến với người chồng sau như một sự tình cờ, có thể xem như chuyện đại gia với ngôi sao vậy. Với người bạn này, tôi có lòng biết ơn và tin cậy vì nhờ anh ấy mà tôi đi trọn được con đường học vấn. Anh ấy là một tấm gương, là động lực củng cố quyết tâm học tập của tôi. Sống với một người chồng tri thức đầy quá (anh ấy có 2 bằng tiến sĩ), nếu mình thiếu thì cũng vừa thôi...
Và bất ngờ hơn nữa là cuộc hôn nhân này đã cho tôi một đứa con. Con trai tôi hiện đang làm việc cho một công ty lớn của Mỹ. Cháu sưu tầm những trích đoạn cải lương xưa thành băng để nghe trong xe, bạn bè hỏi thì cháu trả lời là “kinh của Việt Nam”.

- Chị hài lòng với những gì mình đã đạt được?
- Tôi hài lòng là đối với cải lương tôi vẫn là một người cần mẫn. Cuộc sống này giống như tuồng hát vậy, lên sân khấu tập cả tháng trời, mở màn ra hát là xong, cũ mèm rồi, nếu đem nó theo nữa thì còn gì là mới, tập tuồng khác thôi. Quan điểm của tôi sống và làm việc mới tồn tại. Bản thân mình không là gì cả cái quan trọng là công việc, sự làm việc của mình kìa.
Tin tức nguồn: http://www.xaluan.com/modules.php?name=News&file=article&sid=207419#ixzz4B31IY2LH
doc tin tuc xaluan.com

Nhớ Về Cầu Thủ Phạm Huỳnh Tam Lang

TS.Trần Văn Đạt



Anh Phạm Huỳnh Tam Lang là người đồng hương với tôi và cả hai cùng lên Sài Gòn học tại trường Trung Học Petrus Trương Vĩnh Ký năm 1955. Chúng tôi học cùng lớp Đệ Tam B2 (lớp 10) thì anh rời bỏ trường vì đam mê nghề bóng đá. 52 năm sau, tôi gặp lại anh tại nhà góc đường Nguyễn Hoàng & Cộng Hòa và nghe anh tâm sự rất nhiều về bóng đá, nhứt là cuộc chiến thắng vẻ vang giải vô địch Merdeka ở Malaysia năm 1966. Nhân giỗ Anh – ngày 2 tháng 6 – tôi viết ít lời để tưởng nhớ về một người bạn rất đặc biệt, mê chơi banh hơn ham học.


Vào hậu bán thế kỷ 20, đất Gò Công được nổi tiếng nhiều với ca sĩ Phương Dung “Con nhạn trắng Gò Công” và Cầu thủ vàng Tam Lang. Anh Phạm Huỳnh Tam Lang là cựu cầu thủ của đội tuyển quốc gia Việt Nam Công Hòa và cựu Huấn luyện viên của Câu lạc bộ bóng đá Cảng Sài Gòn. Anh là một cầu thủ trung vệ xuất sắc của làng bóng đá Việt Nam và Á Châu . Anh nổi tiếng là người trong sạch, luôn đề cao đạo đức của người cầu thủ và phàn nàn về phẩm chất xuống dốc trong giới bóng đá hiện nay! Thời vàng son của Phạm Huỳnh Tam Lang là lúc anh làm Thủ quân của đội tuyển Việt Nam đọat chức vô địch cúp Merdeka năm 1966 và chuyện tình lãng mạn một thời với cô đào “cải lương chi bảo” Bạch Tuyết trong Đệ nhứt Cộng Hòa Việt Nam.





Hình 1:Tam Lang với cúp Merdeka, 1966
Tiểu sử


Tam Lang sinh ngày 14-2-1942 tại Gò Công, con của một gia đình trung lưu sống ở Thị xã Gò Công và mồ côi cha lúc còn 3 tuổi. Năm 1955, Tam Lang trúng tuyển vào học trường Trung học Petrus Trương Vĩnh Ký (nay trường Lê Hồng Phong) ở Sài gòn, vì lúc đó chưa có trường Trung học công lập tại tỉnh nhà. Anh đam mê môn bóng đá từ thuở nhỏ. Khi lên Sài Gòn học, anh được Ông Nguyễn Văn Tư, một người có tên tuổi trong làng bóng đá Sài Gòn, hướng dẫn tập luyện chung với đội banh AJS (Association de la Jeunesse sportive) nổi tiếng bấy giờ. Sáng đi học chiều chơi banh và thi đấu cho đội tuyển trường Trung học Petrus Ký.


Năm 1957, Tam Lang được tuyển vào Đội tuyển học sinh trường Trung học Petrus Trương Vĩnh Ký, chơi banh cho đội Ngôi Sao Chợ Lớn lúc mới 15 tuổi.


Năm 1960, anh được chính thức tuyển vào đội banh thiếu niên quốc gia, cùng với Võ Bá Hùng, Phạm Văn Lắm, Nguyễn Văn Ngôn, Quan Kim Phụng… và sau đó là đội tuyển Miền Nam (1). Đó cũng là lúc Tam Lang chia tay với các đồng môn cuối niên học lớp Đệ Tam B2 (lớp 10 bây giờ) của trường Petrus Ký. Do quá ham mê nghệ thuật nhồi bóng trên thảm cỏ xanh, anh rời ghế nhà trường sớm hơn các bạn học cùng lớp.


Năm 1964, Anh thi đấu xuất thần trong trận thắng Israel 2-0 ngay trên sân đối phương ở lượt về vòng loại Thế Vận Hội – Olympic 1964 (1). Trước năm 1975, Tam Lang nổi tiếng trong các đội banh Cảnh Sát Đô Thành, Việt Nam Thương Tín, AJS và Cảng Sài Gòn. Anh sớm lấy vị trí trong đội hình chính thức và dần giữ vai thủ quân của đội tuyển miền Nam Việt Nam.


Trong một trận cầu giao hữu giữa đội banh Đệ Tam trường Trương Vĩnh Ký và đội học sinh Trung học Gò Công tại sân vận động tỉnh nhà, Tam Lang là học sinh Petrus Ký nhưng anh đá cho đội học sinh đất Gò. Tam Lang có lối chạy thần tốc và mạnh mẽ, từ vị trí trung vệ anh đưa banh lướt nhanh qua nhiều cầu thủ và thẳng tiến đến thành goal địch mau lẹ, ít ai theo kịp hoặc khó khăn ngăn cản anh. Lần đó, đội học sinh Đệ Tam Petrus Ký thua đậm! Trong giải Merdeka năm 1966, anh được giới truyền thông Malaysia khen ngợi là “Mũi tên vàng” của đội bóng VN, rất đúng với tài năng hiếm có của anh.
Sự nghiệp bóng đá


Có lẽ hào quang rực rỡ nhứt trong nghề bóng đá của Tam Lang là lúc đội banh tham dự và thắng vẻ vang cúp Merdeka ở Kualur Lumpur, Malaysia. Cùng năm đó, anh và Đỗ Thới Vinh được mời vào đội tuyển Ngôi Sao Châu Á (2) Xin nhắc lại giải vô địch Merdeka là một giải đấu bóng tròn danh tiếng, được thành lập năm 1957 để chào mừng Ngày Quốc Khánh của Malaysia, gồm những đội banh mạnh nhứt của châu Á. Các nước được mời tham gia là một danh dự lớn.


Tam Lang kể “Năm 1960, khi mới 18 tuổi, tôi được gọi vào đội tuyển miền Nam. Sớm chiếm được vị trí trong đội hình chính thức, nhưng chiếc băng đội trưởng thì chẳng bao giờ tôi nghĩ đến. Năm 1966, đùng một cái, trước giờ bay sang Malaysia, HLV Weigang họp đội và đề nghị bầu chọn đội trưởng mới thay cho tiền vệ nổi tiếng Nguyễn Ngọc Thanh. Cũng chẳng biết vì sao ngày ấy anh em lại tín nhiệm và dồn phiếu cho tôi giữ vai thủ quân (2).”


Cũng vào thời điểm này, mối tình của anh và Bạch Tuyết (Hình 2) bắt đầu khởi sắc trong chiều hướng tích cực. Trước đó, anh và vài người bạn như Lắm rỗ (Hải Quan) trong giới bóng đá thường đến hậu trường Rạp Quốc Thanh làm quen với Bạch Tuyết, Ngọc Giàu và vài cô đào khác. Trước 3 ngày đội banh lên đường sang Malaysia dự giải Merdeka, cả đòan bổng nhận được vé mời xem xuất hát của đòan Cải lương Dạ Lý Hương trình diễn tại rạp Quốc Thanh trên đường Võ Tánh (nay là Nguyễn Trãi). Trước giờ mở màn, Đại diện đoàn hát nói vài lời phi lộ và chúc đội bóng đá lên đường thành công rực rỡ, đem chuông đi đánh xứ người vẻ vang. Ngay sau đó, cô đào Bạch Tuyết xuất hiện từ cánh gà tiến đến gắn huy hiệu và choàng vòng hoa cho thủ quân Tam Lang với lời chúc tốt đẹp. Tam Lang kể: “lúc đó tôi như bị Bạch Tuyết thu hút hết hồn vía rồi”.


Năm 1966, đội banh Việt Nam Cộng Hòa vào chung kết với đội Miến Điện, oanh liệt thắng 1-0 đọat cúp vô địch Merdeka và mang vinh dự về đất nước. Tất cả Miền Nam lúc đó bừng sống trong bầu không khí sôi động vui mừng. Mọi người khi gặp nhau đều bàn chuyện cúp Merkeda, cầu thủ Tam Lang, Vinh, Thanh … Khi trở về nước, đoàn bóng đá được đón tiếp trọng thể từ sân bay Tân Sơn Nhứt đến phố Sài Gòn. Anh kể trong niềm hân hoan: “Chúng tôi mỗi người đứng trên một xe jeep mui trần diễn hành từ sân bay Tân Sơn Nhứt qua các phố đến Tòa Đô Chánh, với sự hoan nghênh chào đón của hàng ngàn người. Các cầu thủ còn được các mạnh thường quân và Tổng Cuộc Túc cầu tặng mỗi người một tấm lắc vàng ròng để kỷ niệm và ghi nhận thành tích lớn.” Từ đó, tên tuổi của Tam Lang đạt đến đỉnh cao không những trong nước mà còn ở Châu Á.


Với chiến thắng vẻ vang đó, tình yêu của anh và Bạch Tuyết như được chất xúc tác nuôi dưỡng, bùng phát ngày càng lớn hơn. Cuộc hẹn hò của họ kéo dài hơn. Anh bắt đầu đưa rước Bạch Tuyết mỗi đêm và thỉnh thoảng cũng có những cơn ghen si tình không kiềm chế được. Cuối cùng hai người tổ chức một đám cưới đơn giản ở Thủ Đức để ra mắt hai họ và bạn bè vào đầu năm 1967. Nhưng sau đó, do nghề nghiệp và cuộc sống quá khác biệt, nhứt là hai người không có con dù muốn lắm, nên phải chia tay nhau năm 1970. Tam Lang tâm sự anh quá mệt mỏi với công việc đưa đón hàng đêm đến một hai giờ sáng mới về tới nhà, vì Bạch Tuyết sau mỗi buổi hát xong, phải ở lại thay đổi quần áo, điểm trang và gặp gỡ trò chuyện với khán giả ngưỡng mộ đang chờ đón ở hậu trường.


Ít năm sau, Bạch Tuyết có chồng khác và có một cháu trai với Charles Đức, Tiến sĩ Kinh tế, quốc tịch Pháp (mất 2010); còn Tam Lang lúc làm việc ở Ngân hàng Việt Nam Thương Tín gặp cô Nguyễn Thị Minh Hồng rồi cưới làm vợ và có một cháu gái tên Anh Thư hiện làm việc trong ngành dược ở Úc Châu. Hai gia đình vẫn còn thân thiết và liên lạc nhau khi có cơ hội. Bạch Tuyết thú nhận trong một cuộc phỏng vấn: “Trong đời tôi, có hai người đàn ông mà tôi phải học. Đó là ba tôi, người luôn hiểu và hết lòng ủng hộ con cái. Và Tam Lang, người không sính coi hát nhưng yêu con người thật của tôi chứ không phải vì tôi là nghệ sĩ.”(4)


Tam Lang không những thành công là một cầu thủ bóng đá xuất sắc, còn là một Huấn luyện viên giỏi, tay nghề cao, rất nổi tiếng trong nước. Anh còn được giới truyền thông kính nể, thường gọi là “Tượng đài” Phạm Hùynh Tam Lang.


Sau 1975, anh quyết định ở lại quê hương vì nghĩ rằng nghề bóng đá của anh khó phát triển ở hải ngọai; vã lại, anh còn phải chăm sóc bà mẹ già yếu. Năm 2002, anh đi du lịch nước Mỹ trong 6 tuần lễ để thăm viếng bà con, bạn bè và đến nhiều thành phố như Atlantic city, Philidelphia, Virginia, Texas, San Francisco, San Jose, Santa Ana… Anh cũng đã đi thăm con gái ở bang Brisbane, Úc Châu trong hơn 3 tháng.


Năm 1981, sự nghiệp của Tam Lang bắt đầu chuyển hướng. Anh được chọn đi tu nghiệp huấn luyện viên bóng đá quốc tế (HLV) ở CHDC Đức. Khi hoàn tất khóa huấn luyện hơn hai năm, anh được cấp bằng hạng ưu. Sau khi trở về nước, anh giữ chức HLV Trưởng Cảng Sài Gòn và đã giúp đội banh này nổi tiếng, có một thời oanh liệt trong nước, giành bốn chức vô địch (1986, 1993-1994, 1997, 2001-2002) cùng hai danh hiệu vô địch Cúp quốc gia (1992, 2000) và nhiều cúp khác ở Sài Gòn và cấp tỉnh (3). Anh cũng được đề cử làm phụ tá HLV người nước ngòai và giữ nhiều chức HLV cùng đội tuyển trong các giải SEA GamesTiger Cup. Chẳng hạn, năm 1997 Tam Lang chính thức giữ vai trò HLV phó đội tuyển quốc gia dưới thời Colin Murphy (HCĐ SEA Games 1997), Alfred Riedl (HCB Tiger Cup 1998, HCB SEA Games 1999, Tiger Cup 2000) rồi Dido (SEA Games 2001).


3. Giai đọan nghỉ hưu


Năm 2003, với tuổi đời 61 anh từ giã chức vụ HLV Cảng Sài Gòn, về làm cố vấn cho đội thanh niên Thành Phố của ông bầu Quách Thành Lai ở Trung tâm thể thao Thành Long (Đa Phước, Bình Chánh) trong chương trình đào tạo năng khiếu bóng đá Thành Phố. Ngoài ra, anh còn đóng góp chất xám trong các cuộc huấn luyện, cố vấn và giảng dạy các đội bóng trong nước, Tam Lang bảo “Dù ở đâu cứ nghe tiếng la hét trên sân cỏ là vui rồi!” Anh tâm sự muốn đào tạo một thế hệ cầu thủ trẻ giỏi để mong một ngày nào đó mang về đất nước thêm nhiều huy chương vàng. Nhưng lực bất tòng tâm!


Vào lứa tuổi thất thập cổ lai hi, phong độ ngày nào của Tam Lang đã suy giảm với tướng đi gập ghềnh do bệnh khớp xương thời kỳ khá nặng và trí nhớ cũng kém dần; nhưng tánh tình anh không thay đổi, vẫn điềm đạm, lời nói tuy không còn sang sảng ngày nào, nhưng nhỏ nhẹ khiêm nhường. Gương mặt anh luôn biểu hiện nét hiền hòa, hiếu khách, thỉnh thỏang tự trách mình lúc trẻ ham vui, thường không thể từ chối lời mời rượu của bạn bè nên bệnh Gout không trị dứt. Với ngày qua, bệnh trở nên nhiều hơn, các khớp xương bàn tay, cổ tay bị sưng to, làm cánh tay mặt ít nhiều đổi dạng và anh cảm thấy không thỏai mái trong người (Hình 4, 8-2011). Anh sống yên lặng trong một chung cư ở góc đường Trần Phú (Nguyễn Hòang cũ) và Nguyễn Văn Cừ (đường Cộng Hòa cũ) và qua đời do đột quỵ tại Bệnh viện Chợ Rẫy, Sài Gòn ngày 2-6-2014, hưởng thọ 72 tuổi.


Anh Phạm Huỳnh Tam Lang đã gắn bó cả đời với sự nghiệp bóng đá sân cỏ trong 15 năm dưới chế độ Việt Nam Cộng Hòa và tiếp tục hơn 3 thập niên sau đó. Ở đâu anh cũng được mọi người kể cả giới chuyên môn và người hâm mộ kính trọng. Anh đã tạo dấu ấn đặc thù trong nền bóng đá Việt Nam qua nửa thế kỷ nhân sinh.
  1. Sĩ Huyên. 2006. Phạm Huỳnh Tam Lang – ký ức một thời vang bóng. Việt Báo (Theo Tuổi Trẻ), Thứ ba, 10 Tháng mười 2006.

Đồ tể xứ HUẾ sắp đi gặp bác.


.KHI ĐỒ TỂ LÂM BỆNH NẶNG
Bảng Đỏ
Ông Hoàng Phủ Ngọc Tường – một nhà văn nổi tiếng của chế độ cộng sản hiện đã lâm bệnh nặng do bị tai biến hô hấp.
Báo Tuổi Trẻ dẫn lời gia đình cho hay, tình trạng bệnh của ông Tường hiện nay là rất nặng.
Cơn tai biến đã xảy ra chỉ 1 tuần sau khi ông này được gia đình đưa từ Sài Gòn về lại Huế - nơi ông Tường bị cáo buộc là thủ phạm gây ra cuộc thảm sát kinh hoàng do quân đội cộng sản gây ra vào dịp tết Mậu Thân năm 1968.

                   Thảm sát Mậu Thân 1968 tại Huế

http://farm8.staticflickr.com/7054/6913272279_58a4676a7a_b.jpg

Tết Mậu Thân 68 CS chiếm Huế 26 ngày. CSBV & Nhóm SV tranh đấu nằm vùng theo CS cho treo các tấm Banner :
   " Tinh thần Cách Mạng 1-11- 63 BẤT DIỆT "

Cùng thời điểm này, Tạp Chí Văn Chương Da Màu đã cho đăng một bài phỏng vấn đặc biệt, trong đó Hoàng Phủ Ngọc Tường phủ nhận vai trò liên quan trong cuộc thảm sát Mậu Thân 68.
“Mình không có giết ai trong chiến tranh” ông Tường khẳng định trong bài phỏng vấn vừa được công bố sau 7 năm.
Tại thời điểm quân đội cộng sản ra tay thảm sát dân thường vô tội, Hoàng Phủ Ngọc Tường nói rằng ông ta không có mặt tại Huế:
“Họ dự định sau khi vụ Mậu Thân thành công thì sẽ đưa chúng tôi về ra mắt công chúng. Nhưng cuộc tiến công bị chặn lại vì phía Mỹ và Việt Nam Cộng hòa phản kích dữ dội quá…”
“Vì việc không thành nên tôi không được đưa về Huế để ra mắt quần chúng.”


Đồ Tể Hoàng Phủ Ngọc Tường

Đối với người dân Huế, đặc biệt là người nhà của những nạn nhân vô tội, đây chỉ là những lời dối trá và chạy tội của Hoàng Phủ Ngọc Tường lúc cuối đời.
Đồ tể
Trong một cuộc phỏng vấn vào ngày 29/2/1982, Hoàng Phủ Ngọc Tường lại khẳng định đã có mặt tại Huế vào tết Mậu Thân năm 1968.
Video cho thấy, ông này nhiều lần nhấn mạnh vai trò của mình như một ‘chứng nhân’ tham gia công việc ‘thi hành bản án cách mạng’ đối với những thường dân.
Ông này còn kể rõ tường tận như: “Tôi đã đi trên những đường hẻm mà ban đêm tưởng là bùn, tôi mở ra bấm đèn lên thì toàn là máu... Nhất là những ngày cuối cùng khi chúng tôi rút ra...”
Sau 25 ngày kinh hoàng, quân đội cộng sản đã dùng nhiều biện pháp man rợ để giết hại khoảng 6 ngàn người dân Huế vô tội.
Hoàng Phủ Ngọc Tường cùng em trai mình là Hoàng Phủ Ngọc Phan, cùng với Nguyễn Đắc Xuân… bị coi là những đồ tể gây ra vụ thảm sát.
Tuy nhiên, trong cuộc phỏng vấn đăng trên Da Màu, ông Tường lại nói rằng bản thân ông này ‘không chứng kiến’ những vụ giết người tại Huế:
“Còn những vụ giết người hàng loạt, tôi chỉ nghe nói chứ không chứng kiến, nhưng tôi biết là mình không thể hành động như thế” , Hoàng Phủ Ngọc Tường nói.
Chối tội
Sau năm 1975, cũng như nhiều nhân vật đi theo ‘mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam’, Hoàng Phủ Ngọc Tường gần như bị chế độ CSVN loại bỏ. Đến năm 1987 thì ông này lại làm đơn xin gia nhập đảng.
Trong bài phỏng vấn, ông Tường nói rằng đã ‘thôi sinh hoạt đảng’ 3 năm sau đó – tức năm 1990, nhưng không có giấy tờ chính thức.
Năm 1989, ông này bị tai biến mạch máu não, liệt nửa người và phải ngồi xe lăn. Sau đó, được gia đình chuyển vào Sài Gòn sinh sống.
Trong suốt những năm tháng cuối đời, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã luôn tìm cách chạy tội cho cá nhân và đồng bọn của ông ta trong cuộc thảm sát Mậu Thân 68. Trong khi đó, chế độ CSVN vẫn tiếp tục dùng sự kiện này để ăn mừng trên xác những người dân vô tội, thậm chí chúng còn trơ trẽn dùng cả bộ máy tuyên truyền nhằm đổ lỗi cho ‘Mỹ-Nguỵ’ đã gây ra cuộc thảm sát.


Ở đời, con người thì ai cũng có lúc sẽ phải trở về với cát bụi. Tuy nhiên, sẽ thật là một điều bất công nếu Hoàng Phủ Ngọc Tường được chết.
Không phải vì hận thù hay muốn trả thù, cá nhân tôi cho rằng Hoàng Phủ Ngọc Tường và đồng bọn ông ta cần phải sống cho đến ngày công lý được thực thi.
Ngược lại, muốn được nhắm mắt ra đi, thì đây là cơ hội cuối cùng để Hoàng Phủ Ngọc Tường nói ra sự thật, xem như một lời tạ lỗi cuối cùng trước khi lìa đời.
Bảng Đỏ

No comments: