Thursday, June 23, 2016

TIẾN SĨ RUPERT NEUDECK

 

Rupert Neudeck (sinh ngày 14.5.1939 tại thành phố tự do Danzig (ngày nay là Gdańsk, Ba Lan, mất 31.5.2016) là nhà báo và người theo chủ nghĩa nhân đạo người Đức, nổi tiếng về việc làm nhân đạo, cứu vớt hàng chục ngàn thuyền nhân Việt Nam trên Biển Đông năm 1979 bằng tàu Cap Anamur. Ông là người sáng lập Komitee Cap Anamur/Deutsche Notärzte e.V. (Ủy ban Cap Anamur/Bác sĩ cấp cứu Đức) và là chủ tịch tổ chức Grünhelme (Mũ bảo hiểm xanh lá cây).

Rupert Neudeck tại Frankfurt năm 2007

Cuộc đời và Sự nghiệp


Thủ bút của Rupert Neudeck
Sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai chấm dứt, gia đình ông bị trục xuất về Đức. Ông lớn lên và học tập ở Tây Đức. Năm 1958, sau khi tốt nghiệp bậc trung học, ông học ngôn ngữ và văn minh Đức, triết học, xã hội họcthần học Công giáo. Năm 1961. ông ngưng học để gia nhập Dòng Tên, nhưng ít năm sau ông ra khỏi Dòng và tiếp tục học. Năm 1972, ông đậu bằng tiến sĩ triết học với bản luận án Politische Ethik bei Jean-Paul Sartre und Albert Camus (Đạo đức chính trị của Jean-Paul Sartre và Albert Camus).
Ông bắt đầu làm nhà báo cho đài phát thanh Công giáo ở Köln, và từ năm 1976 làm nhà báo tự do. Năm 1977, ông làm biên tập viên chính trị cho đài phát thanh Deutschlandfunk [1].
Năm 1979 vợ chồng Rupert Neudeck và nhà văn đoạt giải Nobel Heinrich Böll – cùng một nhóm bạn – đã thành lập Ủy ban "Ein Schiff für Vietnam" (Một tàu cho Việt Nam) và thuê tàu Cap Anamur làm nhiệm vụ cứu các thuyền nhân Việt Nam vượt biển tỵ nạn. Năm 1982, tổ chức "Komitee Cap Anamur/Deutsche Notärzte e. V." được thành lập, theo tên tàu Cap Anamur. Những tàu này đã vớt 10.375 thuyền nhân Việt Nam từ 226 ghe thuyền trên Biển Đông, đưa sang tỵ nạn ở Đức. Ông đã xuất hiện trong cuộc phỏng vấn trên băng video Paris by Night 77 - dịp kỷ niệm 30 năm Sài gòn thất thủ – nói về việc làm của tàu cứu nạn Cap Anamur.
Cho tới năm 1998, ông là thành viên Ban điều hành tổ chức Cap Anamur, sau đó ông làm phát ngôn viên của tổ chức này.
Tháng 4 năm 2003 ông là người đồng sáng lập tổ chức hòa bình quốc tế Grünhelme eV (Mũ bảo hiểm xanh lá cây)[1] nhằm giúp xây dựng lại những trường học, làng mạc trong các vùng bị chiến tranh tàn phá như ở Iraq, Afghanistan vv...[2].
Từ năm 2002 Neudeck đã nhiều lần tới thăm Israel và vùng lãnh thổ Palestine để tìm hiểu hàng rào ngăn cách mà Israel đã dựng lên, cùng hiện trạng sinh sống của người PalestineBờ Tây. Năm 2005 ông đã xuất bản quyển "Ich will nicht mehr schweigen. Recht und Gerechtigkeit in Palästina" (Tôi sẽ không im lặng nữa. Luật pháp và Công lý ở Palestine) nhằm bênh vực những người Palestine, và bị Hội hữu nghị Đức-Israel chỉ trích dữ dội[3].
Tháng 6 năm 2010 Neudeck chỉ trích chính sách của Israel về cấp giấy phép xây dựng và việc phá nhà ở Bờ Tây, nhân dịp ông nhận thông báo của chính quyền Israel cảnh báo có thể phá bỏ ngôi nhà gọi là "Vocational Training Centre" của Tổ chức Grünhelme eV nằm ở giữa BethlehemHebron. Theo Neudeck thì những người Palestine trong khu vực này (vùng C, gồm khoảng 60% khu vực Bờ Tây) ít có cơ hội xin được giấy phép xây dựng nhà ở, trong khi người Israel chiếm đóng xây nhà ở đây ngày càng nhiều[4].
Rupert Neudeck công khai ủng hộ việc tự do biểu tình phản kháng, thay vì sợ hãi[5].

Đời tư

Năm 1970 ông kết hôn với Christel Neudeck. Họ có 2 con gái và 1 con trai.[6]

Giải thưởng và Vinh dự





  • 1978 – Cavaliere-Orden (Huân chương Hiệp sĩ) của Cộng hòa Somalia
  • 1985 – Theodor-Heuss-Medaille (Huy chương Theodor-Heuss)
  • 1991 – Bruno-Kreisky-Menschenrechtspreis (Giải Nhân quyền Bruno-Kreisky)
  • 1998 – Erich-Kästner-Preis (Giải Erich-Kästner) của Dresden
  • 1999 – Frankfurter Walter-Dirks-Preis (Giải Walter và Marianne-Dirks) của Frankfurt
  • 2003 – Marion Dönhoff Preis (Giải Marion Dönhoff)
  • 2005 – Ehrendoktorwürde der Westfälische Wilhelms-Universität Münster (Tiến sĩ danh dự Đại học Münster)
  • 2006 – Europäischer Sozialpreis (Giải Xã hội châu Âu)
  • 2007 – Steiger Award (Giải Steiger) (Bochum)
  • 2007 – Verdienstorden des Landes Nordrhein-Westfalen (Huân chương công trạng của bang Nordrhein-Westfalen)
  • 2011 – Ehrendoktorwürde der Universität Prizren (Tiến sĩ danh dự Đại học Prizren) (Kosovo)
  • 2012 – Ritter der Ehrenlegion (Bắc Đẩu Bội tinh hạng Chavalier)[7]
  • Rupert Neudeck được bầu chọn vào danh sách Unsere Besten.

  • Thư mục

    • Vertrieben – verjagt. Das Schicksal der Kurden. 1992, ISBN 3-499-20653-6.
    • Abenteuer Humanität. Mit der „Cap Anamur" unterwegs. 1998, ISBN 3-87868-129-1.
    • Reise ans Ende der legalen Welt. Die Nuba-Berge des südlichen Sudan. 2001, ISBN 3-8258-5602-X.
    • Die Menschenretter von Cap Anamur. 2002, 2. Auflage C. H. Beck, München 2003, ISBN 3-406-48879-X.
    • Jenseits von Kabul. 2003, ISBN 3-406-50952-5.
    • Die Flüchtlinge kommen. Warum sich unsere Asylpolitik ändern muss. 2005, ISBN 3-7205-2573-2.
    • Grünhelme. Bleiben, wenn andere gehen. 2005, ISBN 3-7831-2437-9.
    • Eine bessere Welt ist möglich. 2005, ISBN 3-570-50069-1.
    • Ich will nicht mehr schweigen. Recht und Gerechtigkeit in Palästina. 2005, ISBN 3-937389-73-3.
    • Abenteuer Menschlichkeit. 2007, ISBN 978-3-462-03774-6.
    • Die Kraft Afrikas – Warum der Kontinent nicht verloren ist. C. H. Beck, München 2010, ISBN 978-3-406-59857-9.
    • Mutbürger – Gelebter Widerstand. Zwölf Beispiele. Publik-Forum Edition Oberursel 2011, ISBN 3-88095-215-9.
    • đồng tác giả: Nach dem Krieg. Vor dem Frieden. 2003, ISBN 3-451-28255-0.
    • Tiến sĩ Rupert Neudeck, ân nhân của thuyền nhân Việt, qua đời tại Đức

      dom1.jpg
      Chân dung tiến sĩ Rupert Neudeck trong lễ tưởng niệm 14/6/2016.
      Hình do ông Nguyễn Hữu Huấn gửi RFA 
      Trên trang sử tị nạn cũng như trong lòng bao thuyền nhân Việt đi tìm tự do sau 30 tháng Tư 1975, hình ảnh  tiến sĩ Rupert Neudeck và hình ảnh những chiếc tàu cứu mạng Cap Anamur không bao giờ có thể phai mờ trong ký ức.
      Ngày 31 tháng Năm vừa qua, tiến sĩ Rupert Neudeck, người đã vận động với chính phủ Đức để có được 4 chiếc tàu mang tên Cap Anamur lướt sóng ra khơi cứu người vượt biển Việt Nam trong thập niên 75 cho đến 85, đã qua đời tại thành phố quê nhà của ông ở Troisdorf nước Đức, hưởng thọ 77 tuổi.


      Trái tim nhân ái

      Có thể xuôi tay nhắm mắt ở tuổi 77 là hãy còn quá sớm, thế nhưng với rất nhiều người Việt thì con người phi thường ấy, tiến sĩ Rupert Neudeck, dù đã lìa đời nhưng khoảng trống để lại thì quá đầy, bởi nhờ ông mà từ 1979 đến 1986 đã có 11.300 người già trẻ lớn bé được những chiếc tàu của Ủy Ban Cap Anamur vớt từ biển cả mênh mông đưa về bến bờ an toàn hạnh phúc.
      Tôi rất cảm phục ông Neudeck, một người sống rất giản dị và sống rất bình thường. Từ hồi còn trẻ, ông bị ám ảnh nhất là trong thời gian ông mới năm hay sáu tuổi thì đã phải đi lánh nạn cộng sản Nga. Thông cảm được nỗi đau khổ của người tị nạn, những nạn nhân của chiến tranh, nghèo đói hay chủng tộc mà ông xả thân ra làm. Khó có thể tưởng tượng được một con người đã hy sinh toàn bộ cuộc sống của mình cho tha nhân. 

      Là người Công Giáo thuần thành, ông lấy tấm gương một người Samaritain nhân hậu trong Thánh  kinh là xả thân cứu người. Khi cứu người thoạt đầu ông bị biết bao nhiêu chống đối, thậm chí có những người quá khích đã ném phân vào nhà ông, nhưng ông vẫn chịu đựng và làm đủ mọi cách. Đầu tiên ông thành  lập ủy ban có tên là Ủy Ban Một Con Tàu Cho Việt Nam, chỉ để chuyên cứu với những thuyền nhân Việt Nam đang thập tử nhất sinh trên biển cả. Cuối cùng ông đã cứu được 11.300 sinh mạng thuyền nhân Việt Nam. Từ đó ông tiếp tục cho đến ngày ông mất. 

      Những người mời ông đi thuyết trình hay đi nói chuyện đều đề nghị trả tiền vé máy bay hay tiền khách sạn thì ông đều từ chối hết, ông yêu cầu lấy tiền đó để vào quĩ cứu giúp người nghèo. Tôi tin chắc rằng đại đa số người tị nạn, không được tàu Cap Anamur vớt hay được tàu Cap Anamur vớt, khi biết về ông đều tỏ ra kính phục.
      Bên Công Giáo nhiều người gọi ông là Thiên Thần của Chúa gởi đến cho nhân loại, người bên Phật Giáo thì gọi ông là một vị Bồ Tát đã xả thân cứu người không phân biệt chủng tộc, màu da, xu hướng chính trị.
      Bên Công Giáo nhiều người gọi ông là Thiên Thần của Chúa gởi đến cho nhân loại, người bên Phật Giáo thì gọi ông là một vị Bồ Tát đã xả thân cứu người không phân biệt chủng tộc, màu da, xu hướng chính trị.
      - Ông Nguyễn Hữu Huấn
      Những nơi nguy hiểm nhất mà không người nào thèm đến để cứu giúp thì ông đến một mình. Thí dụ cuộc kháng chiến của Afghanistan chống lại sự xâm lăng của Liên Xô trong thập niên 80 thì ông tự một thân một mình ra đi, hòa nhập vào đoàn người tị nạn ở Afghanistan để cứu những người Afghanistan đó. Ông đã một lần bị máy bay trực thăng của Nga bắn nhưng rất may ông thoát chết.
      Đó là lời ông Nguyễn Hữu Huấn, thành viên trong Ủy Ban Cap Anamur ở Hamburg,  từng được tàu Cap Anamur vớt, sau trở lại làm việc trên những chuyến tàu ra khơi cứu người mà tiến sĩ Rupert Nudeck vận động thành lập:


      Đầu năm 1980 tôi đi vượt biển lần thứ ba, ghe của tôi bị hải tặc cướp 2 lần. Khi ghe lênh đênh ngoài biển và không còn dầu nhớt nữa, máy đã bị hư thì chúng tôi được tàu Cap Anamur cứu. Lúc đó cảm giác như là được sống lại. Nhìn thấy con tàu đồ sộ còn cái ghe của mình quá nhỏ thì chúng tôi rất bàng hoàng, có thể nói là được một lần nữa tái sinh. Tôi được chính phủ của tiểu bang Hamburg cho đi học tiếng Đức trong vòng 11 tháng. Cuối năm 81 tôi bắt đầu trở thành thành viên của Ủy Ban Cap Anamur, tôi đi liên tục trong 5 năm rưỡi. 


      Ông Nguyễn Đình Phúc, có người anh cả được tàu Cap Anamur vớt hồi năm 1980:
      Ngày 9 tháng  Tám năm 1979, con tàu Cap Anamur bắt đầu khởi hành từ Hamburg. Chuyến cuối cùng thì tàu cũng cập cảng Hamburg tháng Tám năm 1986. Cộng đồng người Việt tị nạn toàn nước Đức nói chung và tại Hamburg nói riêng chân thành cảm ơn ông Neudeck và dân tộc Đức đã mở lòng nhân đạo, cứu vớt và nhận cho thuyền nhân Việt Nam được cư ngụ tại nước Đức.
      Theo cựu thuyền nhân Lê Ngọc Tùng, đang sinh sống tại Hamburg, nếu không có tiến sĩ Rupert Neudeck và những chiếc tàu Cap Anamur đi vớt người vượt biển từ 1979 đến 1986 thì:


      Thống kê cho biết khoảng 200.000 người Việt Nam đã đi tìm tự do đã chết giữa biển. Nếu không có con tàu Cap Anamur thì chắc chắn số người chết giữa biển vì hải tặc, bị sóng cuốn, bị thiếu lương thực ... sẽ là rất nhiều. Cap Amamur là con tàu tình thương đã vớt tổng cộng 11.300 người tất cả. Và 11.300 người người này sau đó còn bảo lãnh thân nhân từ Việt Nam sang nữa để có cuộc sống tự do.
      Vì được tài trợ bởi chính phủ và người dân Tây Đức lúc bấy giờ, 4  chiếc tàu của Ủy Ban Cap Anamur được trang bị như một bệnh xá di động, hoàn tất ngoạn mục sứ mạng vớt người trên biển cho đến khi chấm dứt năm 1987:

      Ủy Ban Cap Anamur lấy mỗi con tàu đều là tên Cap Anamur hết. Bốn con tàu đi liên tiếp nhau chứ không phải đi vớt một lần 4 chiếc. Tôi được chuyến Cap Anamur số 1 vớt.  Tàu Cap Anamur số 1 từ 1979 đến 1982 chia thành 29 chuyến thì đã vớt được 199 chiếc ghe. Cho đến khi chấm dứt vào năm 1987 là tàu Cap Anamur số 4.
      Sau khi các trại tị nạn tại các nước Đông Nam Á loan báo đóng cửa và không nhận thuyền nhân vào nữa, những con tàu Cap Anamur 5 và Cap Anamur 6 đã không vớt người mà chỉ dẫn dắt và cứu hộ những chiếc ghe vượt biển, tìm cách đưa họ an toàn vào trại tị nạn mà thôi.

      Tang lễ đơn giản

      dom2.jpg-400.jpg

      Các linh mục người Việt ở Đức chuẩn bị lễ đồng tế. Hình do ông Nguyễn Hữu Huấn cung cấp RFA.


      Ngày 8 tháng  Sáu 2016 vừa qua, tang lễ chỉ được cử hành đơn giản trong vòng gia tộc thể theo ý nguyện của người quá cố. Là người thân thiết với gia đình qua nhiều năm làm việc cùng tiến sĩ Rupert Neudeck và Ủy Ban Cap Anamur, cũng là người Việt duy nhất có mặt tại  ngày vĩnh biệt, ông Nguyễn Hữu Huấn chia sẻ:

      Gia đình từ vợ đến con cháu chỉ muốn mai táng ông một cách âm thầm thì vợ chồng tôi may mắn được tham dự. Tôi chưa thấy tang lễ nào đơn sơ như vậy bởi vì bà  làm theo ý nguyện của ông là không hoa, không nến, không kèn không trống và chính những người con người thân khiêng quan tài của ông đến nơi an nghỉ cuối cùng. Hiện tại ngày hôm nay trước mộ của ông chỉ vỏn vẹn có cây Thánh giá và vái ba cây cỏ dại và chính ông bà muốn như vậy. 

      Trái với vẻ bình lặng đơn sơ của tang lễ ở Troisdorf, lễ tưởng niệm tiến sĩ Rupert Neudeck, cha đẻ những con tàu tình thương Cap Anamur, hàng ngàn người Việt đã đổ về thành phố Koln để chào kính vị ân nhân, vị anh hùng không cùng máu mủ ruột thịt với mình:
      Buổi tưởng niệm ngày 14 tháng Sáu vừa qua là Tòa Tổng Giám Mục ở Giáo phận Koln( Cologne)  tổ chức và Đức Hồng Y đúng chủ lễ. Trong ngày đó chỉ có một bức hình thật lớn để trên Cung Thánh và một bó hoa của nhà thờ.
      Bà Neudeck nói bà không mời bất cứ một chính trị gia hay là những người nổi tiếng trên nước Đức mà riêng người Việt Nam thì bà mời đến. Đó là ý nguyện của bà và gia đình.
      - Ông Nguyễn Hữu Huấn
      Bà Neudeck nói bà không mời bất cứ một chính trị gia hay là những người nổi tiếng trên nước Đức mà riêng người Việt Nam thì bà mời đến. Đó là ý nguyện của bà và gia đình.
      Đó là một buổi lễ tưởng niệm long trọng, cảm động, ngập tràn nước mắt của thuyền nhân. Chủ lễ buổi tưởng niệm  là Đức Hồng Y Giáo Phân Koln cùng 12 linh mục người Đức gốc Việt:
      Mười hai linh mục Việt Nam là những người được tàu Cao Anamur cứu vớt hồi trước, được phép làm lễ đồng tế chung với Đức Hồng Y trên bàn thờ. 


      Trong khi đó thì người Việt Nam kéo đến, theo báo chí là đến khoảng hơn một ngàn rưỡi người đến nỗi không còn chỗ ngồi. Thật tình ngày đó tôi thấy người Việt Nam người ta sụt sùi người ta khóc. Thậm chí trong khi làm lễ và sau khi làm lễ người Việt Nam mình kéo nhau đến tạ ơn ông Neudeck, cứ xếp hàng mà quì lạy trước chân dung ông Neudeck. Người ta cứ hỏi là muốn viếng mộ ông rồi muốn thắp nhang ở đó. Nhiều người theo kiểu Việt Nam mình là muốn đưa phong bì cho tang gia nhưng bà Neudeck không nhận, nói là xin chuyển vô hai hội thiện nguyện đi giúp người của ông Neudeck. 

      Điều bất ngờ là không chỉ người Việt mà người bản xứ cũng đến quá đông, ông Nguyễn Hữu Huấn nói:
      Không ngờ người Đức đến quá đông, kể cả những người nổi tiếng, mặc dù bà Neudeck không chính thức mời. Thí dụ cựu thống đốc tiểu bang rồi cựu phó thủ tướng, cựu chủ tịch quốc hội rồi một số chủ tịch những đảng chính trị cũng đến nữa. Chúng tôi là người tổ chức chung với gia đình cho nên cái khó khăn là không biết làm sao mà sắp xếp chỗ ngồi cho họ cho đàng hoàng thì cũng chỉ biết cách xin những người Việt Nam nhường chỗ cho họ mà thôi.
      Rồi lại còn thêm hầu hết những người đã từng ở trên tàu để đi vớt người thời thập niên 80, những người thiện nguyện của Ủy Ban Cap Anamur  hồi trước là bác sĩ, là y tá  đều đến hết. 

      Cũng nên nhắc lại hồi tháng Tám 2014,  đại hội  35 năm tàu Cap Anamur, thay vì vẫn diễn ra tại quê nhà Troisdorf của tiến sĩ Rupert Neudeck, nơi một chiếc ghe của người vượt biển được kéo về trưng bày tại đó, thì lần tổ chức 35 năm Cap Anamur này được dời qua cảng Hamburg với cả ngàn người Việt khắp nơi trên nước Đức về tham dự:
      Có hai lý do giải thích sự thay đổi này, thứ nhất là tại cảng Hamburg cách đây 5 năm một tấm bia biểu tượng người tị nạn đã được dựng lên nhằm đánh dấu nơi xuất phát mà cũng là nơi trở về của các con tàu định mệnh Cap Anamur.

      Thứ hai chính là yêu cầu của tiến sĩ Rupert Neudeck, người sang lập Ủy Ban Cap Anamur, nói rằng sức khỏe của ông ngày một kém vì thế đây có thể là lần cuối cùng và ông mong muốn tổ chức ngày kỷ niệm 35 Cap Anamur tại Hamburg.
      Không ai ngờ đến lần kỷ niệm 37 năm Cap Anamur thì tiến sĩ Rupert Neudeck đã  lặng lẽ và  thanh thản  bay vào đại dương mênh mông trong sự nuối tiếc nghẹn ngào của những thuyền nhân vì ông mà được sống.
      Một nén hương lòng thắp muộn cho vị đại ân nhân của người vượt biển Việt Nam.
      http://www.rfa.org/vietnamese/programs/OverseasVietnamese/the-grand-savior-of-vns-boat-people-died-tt-06232016134146.html


      Lá thư của Bà Neudeck gởi người Việt Nam

      Các bạn Việt Nam thân mến!

      tôi chân thành cám ơn các bạn về những lời cầu nguyện, những phát biểu phân ưu sâu sắc, những vinh dự, mà các bạn đã dành cho chồng tôi – Rupert Neudeck. Các bạn vẫn luôn duy trì bảo tồn nền văn hóa Việt Nam của các bạn và các bạn cũng là những người đã mang lại sự phong phú tuyệt vời cho xã hội Đức này. Điều này có lẽ/hy vọng rằng sẽ tạo cho con người có được sự can đảm để nhìn ra được những việc phải làm không phải với sự sợ hãi, mà với lòng tự tin qua những người tỵ nạn mới đang đến với chúng ta.

      Tôi xin các bạn thông cảm cho chúng tôi, khi chúng tôi đã mai táng Rupert chỉ trong vòng gia đình cùng với một số rất ít bạn bè thân cận nhất. Những đứa con và những đứa cháu nội ngoại của chúng tôi đã mất đi một người cha, mất đi một người ông. Tất cả đã phải được tiễn biệt cha/ông mình trong vòng nhỏ bé rất riêng tư của gia đình. Con cháu ngoại Lotto vừa được 3 tuổi cứ muốn hóa phép để ông ngoại nó sống lại, nhưng nó không tìm ra được chiếc đũa thần.

      Chúng tôi phải cố gắng thực hiện việc mà Đức Hồng Y Woelki đã yêu cầu chúng tôi, đó là : phải tiếp tục con đường của Rupert đã theo đuổi. Ông Navid Kermani (trong buổi lễ tưởng niệm) cũng phát biểu rằng, tất cả chúng ta bây giờ cần phải cố gắng làm việc hơn nữa. Tôi chắc chắn một điều rằng, từ một nơì nào đó Rupert cũng đồng hành và phù hộ chúng tôi.

      Tôi tin rằng, đoạn Thánh Vịnh số 23 được trích ra từ Kinh Thánh (Cựu Ước) là những lời an ủi không chỉ dành cho những người Thiện Chúa Giáo mà thôi và đó cũng là lời cầu nguyện của chúng tôi bên giường của Rupert trong giờ lâm chung, mà tôi muốn trích ra đây :

      Chúa là mục tử chăn dắt tôi,
      tôi chẳng thiếu thốn gì.
      Người cho tôi nghỉ ngơi trên đồng cỏ xanh tươi
      và Người đưa tôi đến bến nước thanh bình.
      Người phù giúp linh hồn tôi;
      Người dẫn dắt tôi đi trên đường chính nẻo ngay,
      vì danh Người.
      Dù tôi phải bước đi trong thung lũng tối tăm,
      tôi chẳng sợ tai họa nào,
      vì Người vẫn ở bên tôi.
      Cây côn và cây gậy của Người làm tôi được vững tâm.
      Người dọn bàn tiệc cho tôi
      trước mắt những kẻ thù nghịch tôi.
      Người xức đầu trên đầu tôi,
      Người đổ tràn đầy ly tôi.
      Lòng nhân hậu và tình thương của Người sẽ theo tôi suốt cuộc đời
      và tôi sẽ được ở trong Nhà Chúa cho đến lâu dài Người bạn của các bạn

      Christel Neudeck
      Thứ năm, ngày 16 tháng 6 năm 2016, 16:52 giờ

      TƯỞNG NIỆM ÔNG NEUDECK, BỒ TÁT CỦA LÒNG NHÂN ÁI




    Tưởng Niệm Ân Ông Ruper Neudeck

    Khi ông Neudeck mới sinh thì người cười ông khóc
    Phút sau cùng thì người khóc ông cười

    Người mừng vui khi ông mở mắt chào đời
    Còn người khóc vậy thời thương tiếc
    Tiếc hiền nhân phút cuối cùng giã biệt
    Lưu lại đời bao công nghiệp trọng mang
    Gương hy sinh lòng đạo đức vẹn toàn
    Ngày tạ thế tuổi tên còn vang tiếng

    Ông mỉm cười bởi ông tròn toại nguyện

    Khi lìa đời bao kẻ luyến tiếc thương

    Ngàn thuyền nhân lòng dào dạt vấn vương

    Ân cứu tử thuyền lênh đênh biển cả

    Được vượt thoát và bình yên nơi xứ lạ

    Xem Đức là quê hương mới thứ hai

    Sống an thân, ổn định tháng năm dài

    Lòng ghi tạc đã nhờ ông cứu mạng

    Hay tin ông đã ra đi thanh thản

    Biết bao người, tưởng niệm khắc ghi ân

    Kẻ tâm hương, người đưa đến đến mộ phần

    Cầu ông được sinh miền vĩnh phúc


    (Thích Thiện Minh)




    Suốt đêm qua con chập chờn thao thức không ngủ được, lòng trông mong cho trời mau đến sáng để được trở về chùa cùng chư Tôn đức Tăng Ni và quí đồng hương làm lễ truy điệu cho ông Rupert Neudeck; „vị Bồ Tát của lòng từ ái „


    Không biết tại sao cả tuần nay bầu trời lúc nào cũng ảm đạm, âm u, vần vũ như đau buồn thương tiếc cho một con người được vạn người kính trọng với lòng biết ơn và được gọi với rất nhiều quí danh: „Kẻ chài lưới người“ (Menschenfischer), Samaritanô nhân hậu thương người. Riêng con, với lòng kính ngưỡng Ông con luôn gọi Ông là „BỒ TÁT CỦA LÒNG TỪ Ái“, một con người có trí lực dũng mãnh, lòng từ bi cao hạnh như Mẹ Hiền Quán Thế Âm đã xông pha giữa trùng dương xung trận đạp những ngọn sóng ba đào để cứu vớt hàng ngàn sinh linh Việt Nam trên đường vượt thoát bạo tàn CS.


    Con đến chùa lúc 10 giờ, hôm nay Phật Tử tề tựu về đông đủ, mọi người nét mặt đều trầm tư và ít nói, chắc rằng tất cả đều hướng lòng về ông Neudeck, người đã cứu vớt thuyền nhân qua khỏi cảnh hiểm luân để được bình an và hôm nay mọi người đã và đang sống nơi bến bờ tự do tìm cầu hạnh phúc.


    Sư Diệu Hạnh bước vào khệ nệ bưng 1 chồng khay, con tiếp tay bưng hộ Sư, Sư nói con đặt ở chánh điện rồi châm những ngọn đèn cầy đặt vào trong mâm để lát nữa khi tụng kinh cầu siêu cho ông Neudeck xong, mỗi Phật tử chúng ta sẽ cầm ngọn đèn đó tiến đến bàn thờ thành tâm cầu nguyện cho hương linh Ông được cao siêu thánh quả. Điều vô cùng ý nghĩa là ngôi chùa Phật Giáo, tín đồ Phật giáo lại thiết tha chân thành cầu nguyện cho người nằm xuống là con Chiên của Chúa Kito được an lành trong giấc ngủ bình yên…


    Con châm từng ngọn đèn để trên mâm, lòng đầy xúc động, mỗi ngọn đèn vừa được thắp sáng, con liên tưởng đến những sinh linh chết oan ức trong lòng biển cả, liên tưởng đến những đồng bào ruột thịt của con được ông cứu vớt trong hoàn cảnh thập tử nhất sinh. Hình ảnh ông Neudeck in đậm nét trong con, khi con được xem cuộc phóng sự của đài WRD chiếu: „Mission Menschen retten! Dr. Rupert Neudeck und die Cap Anamur“, trông hình ảnh Ông đặt tay vào trước ngực mắt đăm chiêu nhìn về Đại Dương xa xôi theo một hướng đầy lo âu. Ông thấy từ xa xa chấm nhỏ, rồi hiện dần con thuyền mong manh, lòng Ông trào dâng như muốn đem cả con tim và khối óc của mình để cứu người dân Việt,; Ông nghĩ làm sao phải có chiếc tàu, „Phải! Phải cứu vớt! đó là truyền thống dân tộc Đức phải cứu người nguy khốn trong bất cứ trường hợp nào, không phân biệt nạn nhân đó là ai? Khuynh tả hay hữu? không biết họ bên nào? Người nước nào? lòng bi mẫn của Ông chẳng khác gì lòng Đại Từ Đại Đại Bi của Chư Phật Bồ Tát, „vô duyên đại từ, đồng thể đại bi“, 1 tình thương yêu không bờ bến. Ông đã hết sức đi vận động bạn bè, dân chúng và chính quyền, nhằm cứu vớt những thuyền nhân đang trong cảnh ba đào, nhấp nhô sóng cả, những nạn nhân đang lúc đói, khát, lạnh và con thuyền bé nhỏ ôi rất mong manh sắp làm mồi cho cá mập.. Và rồi, với tâm nguyện và tình yêu thương yêu đồng loại, con tàu của Ông bà Neudeck đã được thành hình vào ngày 9.8.1979 với sự giúp sức của nhà văn hào Heinrich Böll cùng các thân hữu mang tên CAP ANAMUR để vượt trùng khơi cứu vớt tất cả 11.448 thuyền nhân Việt Nam


    Hình ảnh năm ngoái con gặp Ông ở Troisdorf, Ông đến với chúng con như một người thân thương trong gia đình, hiền hòa, bình dị, Ông đã khen ngợi đàn con cháu của thuyền nhân, cho dù ly cư biệt tổ, rời nơi chôn nhau cắt rốn, xa Quê Hương, nhưng hầu như thế hệ trẻ đã biết vươn lên, biết sống học tập nên người và thành đạt cũng như không quên cội nguồn Việt Nam, điều này đã làm Ông rất hãnh diện, vì hầu như đa phần đều thành tài để góp phần xây dựng cho đất nước Đức, 1 sự đền ơn rất xứng đáng nơi đất khách được xem như là Quê Hương thứ hai.


    Niềm vui chưa trọn vẹn thì tiếp theo nỗi xót xa của bản thân con và bà con người Việt khi nghe tin Ông lâm bệnh trầm kha, nghĩ tới hình ảnh trong những tháng cuối cùng của cuộc đời Ông; biết rằng cuộc đời có hợp, có tan, hoa nở rồi tàn, trăng tròn lại khuyết bởi cuộc đời là vô thường lòng con càng thêm chạnh lòng chua xót


    Trong ngày Đại Hội Công Giáo mọi người đã quyên được hơn 44.000Euro, lòng con hân hoan và luôn nghĩ, hy vọng rằng Ông sẽ vui và bệnh tình của Ông sẽ thuyên giảm khi Ông nhận biết được đây là tấm lòng của người Dân Việt luôn mang nặng những ân tình, và hôm Phật Đản, con đã xin phép thầy Trụ Trì dự định mùa Vu Lan sẽ làm 1 buổi lạc quyên cho chương trình của Ông Neudeck..Thầy đã hứa khả. Giờ đây nghe tin Ông qua đời, tất cả chúng con người Việt ly Hương đều bàng hoàng xúc động!


    Trước khi vào buổi truy điệu cho Ông Rupert Neudeck, thầy Trụ Trì nhắc lại những ngày tang thương sau 1975 mà cây cột đèn có chân cũng muốn đi, người dân Việt không thích sống dưới chế độ Cộng Sản, độc đoán, độc tài, phi nhân bản nên đã tìm đường vượt thoát, họ đánh đổi mạng sống với sóng to, với biển cả, trải qua những ngày lênh đênh trên mặt Đại Dương hùng vĩ, thân người bé nhỏ, sức chịu đựng mỏi mòn hiểm nguy chẳng khác gì ngàn cân treo sợi tóc, bất chấp mối lo toan bị cướp của, giết người, hãm hiếp từ bọn hải tặc hung đồ, cho đến bọn CS rượt đuổi, lường gạt, quên cả sự sợ hãi giữa biển khơi mênh mông, con thuyền như chiếc lá có thể bất cứ lúc nào làm mồi cho cá mập để tìm ánh sáng tự do.


    Buổi lễ bắt đầu, tất cả chúng con đều chấp tay vang vang theo lời kinh tụng của Chư Vị Đại Đức Tăng Ni, hướng lòng về Ông Neudeck. Cầu cho Ông được về cõi vĩnh hằng, chúng con, mỗi Phật tử cầm ngọn nến tiến về bàn thờ Ông Neudeck, hình Ông được để trên chiếc thuyền rất trang trọng, tấm hình Ông tươi cười như reo hò với đám trẻ thuyền nhân Việt Nam, mắt Ông ngời sáng, như tìm được đàn con yêu trở về giữa lòng Đại Dương trùng ngát, tay Ông dang rộng như đón tất cả vào lòng mình, con xúc động làm sao! Khi tỏ lòng túc kinh tưởng vong đến con thuyền Bát Nhã của Ông đã đưa hàng ngàn sinh linh cập đến bến bờ tự do Đức Quốc


    Trong buổi lễ trụy điệu, anh Phu đã nói lên tất cả lòng biết ơn của thuyền nhân đối vói Ông, ơn cứu tử như người Cha thứ hai mà không ai quên được, anh Phu đã nói lên nhũng đặc tính bình dị của Ông, mọi người vô cùng xúc cảm


    Con may mắn không là thuyền nhân, nhưng lòng con luôn nhớ ơn người đã cưu mang một phần cho Dân Tộc mình, để tỏ lòng biết ơn Ông có đã nhờ nhà thơ Hoàng Phong Linh, một Người luôn gánh kiếp nạn, đi cùng khổ đau với Dân Tộc viết bài thơ Tri Ân cho Ông Neudeck, Thầy Trụ Trì đã hoan hỷ cho con đọc bài thơ trước Di Ảnh Ông:



    NGUYỆN LỜI TIỄN BIỆT ÂN NHÂN(Nhận được tin Tiến Sĩ RUPERT NEUDECK, Thuyền Trưởng
    Cap-Anamur, đã qua đời ngày 31.5.2016 tại Đức Quốc, xin
    kính gửi lòng ghi ơn chân thành).

    Võ Đại Tôn (Úc Châu).


    Giữa trùng khơi cuồng phong sóng nổi
    Mẹ ôm mặt khóc quỳ lạy van Trời.
    Đàn con run rẩy, kiệt sức tàn hơi,
    Tự Do đâu ? - Bến bờ loang vết máu.

    Hải tặc vây quanh, cười vang thảo khấu,

    Nghìn thân em, vùi dập xác bèo trôi.

    NGƯỜI xót đau, lòng thông cảm phận Đời

    Trời Đông Âu cùng thời chung kiếp nạn.

    Bức tường Bá-Linh cũng hằn sâu vết đạn

    Bao oan hồn mong thoát cảnh điêu linh.

    Tàu ANAMUR, nhân loại chung Tình

    Mong chia sẻ Yêu Thương thành bến đậu.

    Bập bềnh nổi trôi, biển Đông tìm dấu

    Bóng thuyền nhân, tay chung níu chia lòng.

    Trời biển mênh mông, mỏi mắt chờ mong

    Trong giông bão, NGƯỜI vẫn neo tàu đợi.

    Hơn Mười Ngàn sinh linh, trước sau đã tới

    Bờ Tự Do, dựng lại cuộc đời !

    Rồi hôm nay, thanh thoát giữa mây trời

    NGƯỜI ngoảnh lại, nhìn đàn em vui sống.

    Chúng tôi đây, tưởng Đời là ác Mộng

    Nhưng nhờ NGƯỜI, thoát được đáy trùng dương.

    Xin trao Tình, tròn Ân Nghĩa tâm hương

    Mong báo đáp một đời NGƯỜI nhân hậu.

    Tên của NGƯỜI, biển-trời hằng ghi dấu,

    Lòng Thuyền Nhân xin cúi nguyện Ân Tình

    Theo chân NGƯỜI, vì Lẽ Sống Sinh Linh.


    Võ Đại Tôn.

    1.6.2016


    · Tiến Sĩ RUPERT NEUDECK, cũng là ký giả chuyên nghiệp, sinh

    tại Ba Lan (14.5.1939), qua đời tại Đức Quốc (31.5.2016), là

    Thuyền Trưởng Cap-Anamur đã cứu vớt hơn 10.000 thuyền

    nhân Việt Nam trên biển Đông.



    Buổi lễ tưởng niệm được kết thúc trong niềm xúc cảm, Thầy Trụ Trì cảm ơn các Phật Tử đã quy tựu về chùa để dâng lời cầu nguyện cho Vị Ân Nhân Rupert Neudeck đã cứu vớt hơn 11.000 thuyền nhân. Sư DH rơm rớm nước mắt „buồn quá con ơi! Gia đình Sư mang ân Ông Neudeck nhiều lắm, không có Ông chắc Sư không còn sống tới ngày nay.


    Chúng con vô cùng cám ơn Chư Vị Tăng Ni đã tổ chức buổi lễ truy điệu Vị Ân Nhân Tiến Sĩ Rubert Neudeck rất trang trọng để cho chúng con có cơ hội tụ tập về chùa để dâng lời cầu nguyện cho Ông


    Vâng! Thưa Ông Neudeck, vị BỒ TÁT CỦA LÒNG TỪ ÁI, Ông đã cứu vớt hơn 11.00 người con của Mẹ Việt Nam, chúng con không bao giờ quên ân Ông, Ông sống mãi trong chúng con, trong lòng Người dân Việt. Mai này tới ngàn sau, trang sử Việt Nam sẽ còn mãi ghi khắc tên Ông, chúng con sẽ cố gắng dạy cho đàn con cháu chúng con noi gương thánh thiện của Ông để thành người hữu dụng, có đôi mắt trong bàn tay để theo gương Ông cứu giúp cho những người lâm nạn, cứu giúp trong mọi hoàn cảnh không phân biệt màu da, chủng tộc, tôn giáo, và đảng phái


    Một lần nữa, chúng con người dân Việt xin cảm bội ân Ông, xin tri ân nước Đức, đồng thời tri ân tất cả những quốc gia trên thế giới đã cưu mang người Việt Tỵ Nạn chúng con


    Lòng từ của Ông như một nhà giáo đã trao truyền lại cho hậu thế noi theo.


    Vừa rồi con đi xem đêm văn nghệ „hãy là những ngọn gió đổi thay“ do Voice thực hiện nhằm gây quỹ giúp cho những nhà đấu tranh nhân bản cho VN, cho người tị nạn; con được biết năm rồi, 85 người tị nạn VN đã được Canada nhận, hiện còn 28 người ở trại tị nạn Bangkok đang chờ sự giúp đỡ để được can thiệp định cư sau 27 năm chờ đợi, thời gian quá dài cho những đồng bào ruột thịt của con! Con vô cùng xúc động khi được biết có những người trẻ như anh Trịnh Hội khi anh tâm tình: „Trịnh Hội làm công việc thiện nguyện đã 20 năm từ khi TH 21 tuổi, vì TH nhận thức được, TH mang ơn quốc gia đã cưu mang TH trên đường đến bến bờ tự do“


    Tạm Biệt Ông! Tạm Biệt Ông để rồi chúng con sẽ gặp lại Ông trong từng giây, từng phút trong Phật tánh của con người, rồi đây nước Việt Nam của chúng con sẽ đòi lại được quyền Tự Do và Công Lý, chúng con những người con ly hương sẽ trở về lại Quê nhà, mang theo hình ảnh Ông Vị Bồ Tát của lòng Nhân Ái , xây dựng Công Lý trên Tình Thương và bình đẳng của con người

    Diệu Tâm

    No comments: